Thursday, May 3, 2012

QUỐC HẬN & QUỐC THÙ 30/4 - Nguyễn Phúc Liên

Nguyễn Phúc Liên
Geneva, 30.04.2012

Ngày QUỐC HẬN 30/4 không thể nào có thể xóa đi được bởi vì nó ghi lại một thảm trạng không phải chỉ cho dân Miền Nam thời 1975 còn ở lại hay đã ra đi. Cái thảm trạng này không phải là một biến cố Lịch sử được ghi ở một ngày tháng, mà được khắc sống động vào lòng mỗi người dân Việt, không phải chỉ ở những người lớn tuổi trực tiếp sống thời điểm 1975, mà còn ở lớp hậu sinh sau năm 1975 vẫn chịu hậu quả của thảm trạng 30/4/1975. Ngày QUỐC HẬN 30/4 không phải ở tình trạng thụ động trong lòng một số người ôm mối hận mà than khóc để người ta có thể xóa dần với thời gian. Nhưng ngày QUỐC HẬN 30/4 đang trở thành ngày QUỐC THÙ với ý chí ĐỘNG để sinh tồn của từng lớp người TRẺ Việt Nam đang phải sống dưới một Cơ chế CSVN cướp bóc, hà hiếp dân mình, rồi đem Lãnh thổ và Lãnh hải Tổ Tiên cung hiến cho ngoại bang. Ngày QUỐC HẬN 30/4 được sống mãi trong ý chí QUỐC THÙ mà Tiền Nhân đã un đúc triền miên qua nhiều ngàn năm Lịch sử của Dân Tộc đấu tranh để sinh tồn.

Chúng tôi tìm hiểu hai chữ HẬN và THÙ. Theo VIỆT NAM TỰ ĐIỂN của Lê Văn Đức và Lê Ngọc Trụ xuất bản do Nhà sách Khai Trí năm 1970, thì chữ HẬN và chữ THÙ được định nghĩa như sau:

* HẬN có nghĩa là “Giận, Oán trong lòng “

* THÙ có nghĩa là “Nỗi oán giận ghim trong lòng chờ ngày làm cho lại gan với người đã hại mình hay hại người thân mình “; “Người đã hại mình, cướp giựt tài sản, giết chóc người thân, đồng bào hay cướp nước mình“; “Ghim mối hận trong lòng và tìm dịp hoặc chờ dịp làm cho lại gan đối với kẻ thù.” Hai Soạn giả TỰ ĐIỂN còn trích câu thơ:
    Bà Trưng quê ở châu Phong, Giận người tham bạo, THÙ chồng chẳng quên
Dân tộc Việt Nam, với ý chí đấu tranh để sinh tồn qua giòng Lịch sử không thể ngồi ôm sự đau buồn của ngày 30/4 một cách ủ rũ cam chịu số phận, mà chắc chắn nuôi ý chí BÁO THÙ bằng hành động đối với Cộng sản Việt Nam, một đảng đảng cướp không còn tình người, đã và đang tiếp tục chất chồng lên Dân Tộc những tội ác, đã và đang dâng Lãnh Thổ và Lãnh Hải cho Tầu. Những tội ác đã và đang chất chồng lên Dân Tộc và tội bán nước đã và đang phạm hiện nay tất nhiên không cho phép người Dân Việt, từ lớn tuổi đến hậu duệ, ngồi yên. Dân Việt sẽ vùng lên diệt kẻ thù CSVN. Diệt kẻ thù CSVN ở đây có nghĩa là thi hành CÔNG LÝ cho các Thế Hệ Dân Việt và cho chính Tổ Tiên nữa.

Ngày 30/4 là ngày QUỐC HẬN và mang ý chí đấu tranh của ngày QUỐC THÙ vậy.

Giáo sư Tiến sĩ kink tế Nguyễn Phúc Liên



Monday, April 30, 2012

Tháng Tư Còn Nhớ Mãi - Quang Dương

Quang Dương

Dù đã ba mươi bảy năm trôi qua kể từ ngày đau thương tang tóc phủ trùm lên quê hương dân tộc, nhưng trong lòng người dân Việt nói chung, và đặc biệt người dân miền Nam, có bao giờ quên được những thảm cảnh hãi hùng, những thịt nát xương tan, những máu lửa ngụt trời, những bàng hoàng uất nghẹn và những chuỗi năm dài triền miên tăm tối. Mỗi ngày của tháng Tư hàng năm là mỗi nhắc nhở đậm nét, mỗi khơi dậy trùm khắp về bao nỗi kinh hoàng ghê khiếp, đất thảm trời sầu, đớn đau tủi nhục đã ghi khắc và hằn sâu trong tâm khảm của mọi người. Tháng Tư là tháng tưởng niệm cho mùa quốc hận, cho cái tang chung của dân tộc khi nước mất nhà tan, khi miền Nam Việt Nam tự do cuối cùng bị bức tử, rơi vào tay quân cộng sản miền Bắc vào đúng ngày cuối tháng, ngày 30 tháng Tư năm 1975.

Đã có biết bao nhiêu chiến sĩ quân, cán, chính VNCH, hữu danh hoặc vô danh, anh dũng hy sinh nơi trận địa, trong thành phố, tại thị trấn, nơi xóm làng, ở góc rừng, bìa núi, ven sông… trong lúc chống trả lại sức tấn công lấn chiếm tàn bạo của quân thù. Đã có những vị tướng tuẫn tiết theo thành, thà chết vinh hơn sống nhục. Đã có những người lính cùng nhau tự sát bằng lựu đạn chứ không hàng giặc. Đã có biết bao gia đình dân lành phải tan đàn sẻ nghé, vong gia thất thổ, vợ mất chồng, con lạc mẹ, anh chị em tứ tán trên đường di tản chạy dài từ những tỉnh thành địa đầu giới tuyến miền Trung xuống đến tận miền Nam. Hàng đoàn người di tản thuộc đủ lứa tuổi, gồng gánh mang vác chút tài sản còn mang được, dắt díu nối theo nhau di chuyển bằng tất cả mọi phương tiện, mà nhiều nhất là đi bộ, đã nói lên nỗi kinh hoàng của người dân miền Nam trước viễn ảnh đen tối hãi hùng phải kẹt lại trong vùng quân giặc lấn chiếm. Những nỗi đọa đầy thống khổ, oan khiên tức tưởi của quân dân miền Nam trên đường lánh nạn thật không có bút mực nào tả xiết. Quân thù ngăn chận, cắt đoạn rồi pháo kích, nổ súng bắn xối xả vào đoàn người dân vô tội không một tấc sắt trong tay. Những hình ảnh của hai mẹ con nằm chết sõng xoài trong lúc con còn đang tuổi ẵm ngửa hay những em bé ngây thơ gục ngã bên chén cơm bê bết máu cạnh bờ mương, khe rạch, hay nương đồi vẫn còn lưu dấu đời đời. Đã có bao nhiêu người đến được nơi bình yên? Bao nhiêu người đã chết và bao nhiêu người bị thương, tàn tật một đời? Bao nhiêu người mất tích? Bao nhiêu bé thơ bỗng nhiên thành trẻ mồ côi cả cha lẫn mẹ? Bao nhiêu gia đình chia lìa tan nát? Không có thống kê nào đếm xuể, không có sổ sách nào ghi chép hết. Ai đã ôm mộng bành trướng để gây lên thảm cảnh nghiệt ngã oan khiên? Ai đã khơi sâu thù hận cho xương phơi ngập núi? Ai đã chuốc đẫm oán cừu cho biển máu hồng loang? Tất cả chúng ta đều đã rõ.

Rồi sau cái ngày định mệnh đổi đời oan nghiệt 30 tháng Tư, có biết bao người dân miền Nam tiếp tục phải gánh chịu những đòn thù tàn khốc của kẻ xâm chiếm. Đã có bao nhiêu quân, dân, cán, chính, văn nghệ sĩ, trí thức, doanh gia miền Nam bị lừa đi cải tạo tập trung, thực chất là tù đày dài hạn, ở nơi ma thiêng nước độc. Có bao nhiêu người đã đành phải bỏ thây vùi nông một nấm, hoặc chết mất xác vì bị hành hạ đói khát, lao động khổ sai, bệnh tật không thuốc men cứu chữa, hay bị thủ tiêu bắn bỏ tùy tiện. Những người không bị tập trung cải tạo thì cũng sống đói khổ, vất vưởng nhọc nhằn, thần kinh căng thẳng, nơm nớp lo sợ trong vòng kềm kẹp kiểm soát đến từng móng chân sợi tóc bởi cả một guồng máy công an trị, luồn lách đến từng con hẻm, khu phố. Những luật lệ vô lý, những định đặt tùy tiện bất công của kẻ xâm chiếm đưa ra chỉ để trấn áp, hạ nhục, công khai tịch thu, vơ vét, bóc lột đất đai, phương tiện sản xuất, thành quả của người dân miền Nam. Những chiến dịch và chủ trương đánh tư sản, kiểm kê tài sản, tịch thu văn hoá phẩm, ép dân đi kinh tế mới, quốc doanh, hợp tác xã, làm chủ tập thể, tem phiếu lương thực, đổi tiền… là những công cụ để cướp đoạt tài sản của người dân đến trắng tay và đẩy dân xuống hàng bần hàn đói rách ngang nhau. Mục đích của kẻ xâm chiếm là bần cùng hóa người dân miền Nam để triệt hạ mọi ý tưởng phản kháng và hành động chống đối. Từ đó phẩm giá, nhân cách và đạo đức suy đồi nhanh chóng, trong lúc con người chỉ còn sức chạy vạy, giành giựt, lo toan cho từng miếng cơm manh áo. Những nỗi oán khổ, lầm than, điêu đứng của người dân miền Nam trong giai đoạn này cũng không bút mực ngôn từ nào tả xiết. Đã biết bao người, có trường hợp cả gia đình, phải phẫn uất tự vẫn vì không chịu đựng được nỗi uất ức đau khổ bị tước đoạt hết công lao gây dựng bằng chính mồ hôi nước mắt cả cuộc đời. Sống trong một chế độ phi nhân, hiểm ác, bóc lột, đày đọa, trong một guồng máy cai trị bạo tàn bằng nhà tù, súng đạn như thế thì “cái cột đèn nếu có chân cũng sẽ ra đi” là phải lắm. Nhưng trước khi ra đi, nếu cái cột đèn có cả tay, nó cũng sẽ không thể chịu khoanh tay, trói chân đứng lặng yên mà chịu đựng. Có biết bao vị anh hùng không khuất phục, đã âm thầm hoặc công khai chống lại kẻ thù bằng tiếng nói lương tâm hoặc hành động vũ lực. Đã có bao nhiêu chiến sĩ kháng chiến phục quốc anh dũng hy sinh, bao nhiêu người đã bị tra tấn tù đày dài hạn trong niềm cảm phục lẫn thương tiếc của đồng bào do “mưu sự tại nhân thành sự tại thiên”, do nội gián, hoặc do không đủ lực lượng tương xứng.

Là con người, nhất là con người miền Nam quen cuộc sống tự do, phóng khoáng, rõ ràng và chân thật đâu thể nào chấp nhận sống trong nô lệ gông cùm mất tự do nhân phẩm. Vì thế khi không đủ sức chống lại kẻ thù, đã có hàng triệu lượt người chấp nhận bỏ lại tất cả, liều mạng ra đi vượt biên bằng đường bộ qua ngả Campuchia, Thái Lan hay vượt biển Đông trên những con thuyền mành nhỏ bé mong manh thô sơ cũ kỹ, trang bị tối thiểu hay cũng chẳng trang bị thứ gì, đạp sóng kình nghê, thi gan cùng bão táp sang các vùng đất của các nước tự do. Trong cuộc mạo hiểm đầy gian nan trắc trở, sinh mạng như chỉ mành treo chuông đó đã có hàng mấy trăm ngàn người không may bỏ mình nơi rừng sâu, khe suối hay vùi thây dưới lòng biển cả vì đói khát, bệnh hoạn, vì đạn thù, vì phong ba hay cướp biển. Biết bao cô gái Việt Nam đã bị hải tặc hãm hiếp, giết chết hoặc bắt đi mất tích. Những ai may mắn đặt chân được đến bến bờ tự do cũng không ít người mất vợ mất chồng, mất cha mất mẹ, hay mất con mất cháu, mất người thân trên bước đường đầy máu và nước mắt. Không thống kê nào đếm xuể, không sổ sách nào ghi chép được con số chính xác có bao nhiêu oan hồn uổng tử nơi vực sâu núi thẳm hay nơi ngọn sóng đầu ghềnh. Những tưởng trong dòng lịch sử nhân loại, không một dân tộc nào như dân tộc Việt Nam đã phải chịu đựng thảm cảnh đớn đau, mất mát, tủi nhục vô cùng vô lượng đến như vậy.

Tháng Tư ngậm ngùi nhớ lại những đau thương mất mát để tưởng niệm những chiến sĩ QLVNCH đã vị quốc vong thân trong công cuộc chiến đấu bảo vệ miền Nam Việt Nam, hoặc đã bị bức tử tại những trại tù tập trung cải tạo nơi rừng sâu nước độc. Tháng Tư đau xót cũng để đốt lên nén hương thương nhớ những đồng bào, bạn bè và người thân đã bỏ mình trên bước đường trốn chạy cộng sản hoặc trong lúc vượt biên vuợt biển tìm tự do. Tháng Tư uất hận còn là tháng nhắc nhở chúng ta không bao giờ quên những đồng bào trong nước hãy còn rên xiết đau khổ vì không có tự do, dân chủ và quyền làm người tối thiểu. Dưới chế độ độc tài đảng trị, rõ hơn là độc tài đảng cướp, người dân đen luôn bị đàn áp bóc lột dù đã cam lòng chịu đựng cuộc sống lầm than đói nghèo. Tiếng kêu than vang vọng đất trời của bao người dân nơi quê nhà đã và đang bị bạo quyền cướp nhà cướp đất đã quá to và quá rõ. Trải qua hơn bảy mươi năm kể từ ngày đảng cộng sản Việt Nam reo rắc tang thương máu lửa lên quê hương đất nước có bao giờ người dân được sống trong cảnh an bình no ấm. Chỉ thấy những kẻ cầm quyền độc đảng ăn trên ngồi trốc, càng ngày càng vinh thân phì gia, giàu sang tột đỉnh như những ông hoàng bà chúa, còn đại đa số dân đen thì vẫn chân lấm tay bùn, tha phương cầu thực, đói nghèo lê lết mà cũng không được yên thân. Ngày nay những kẻ tội đồ của dân tộc còn vì lợi ích cá nhân đảng phái, âm mưu cấu kết với nhau đem dâng biển đảo, giang sơn tổ quốc cho giặc ngoại xâm truyền đời phương Bắc. Là người dân Việt, nhìn những cảnh tượng đó ai mà không xót xa ngậm ngùi căm phẫn.

Xin hãy đừng quên tại sao chúng ta phải bỏ nước ra đi lưu vong, sống đời tha hương nơi xứ lạ quê người. Xin hãy còn một chút tự trọng để đừng xử sự như những kẻ vô tâm hoặc tệ hơn nữa như những kẻ bất cố liêm sỉ, mang tiếng là nạn nhân của cộng sản, là nhà văn, nhà giáo, nhà văn hóa mà mau quên đi nỗi nhục nước thù nhà, chỉ biết chạy theo đồng tiền, danh vọng, đàn hát vui chơi vào chính những ngày tưởng niệm đại tang chung của cả dân tộc. Những kẻ đó xét ra phẩm cách còn thua cả những ca viên trong câu thơ xưa: “Thương nữ bất tri vong quốc hận. Cách giang do xướng Hậu Đình Hoa”.

Quốc hận 4/2012
Quang Dương


Bài giảng của Đức cha Vincent Nguyễn Văn Long trong lễ cầu nguyện cho quê hương


VRNs (29.04.2012) - Melbourne, Australia – Lúc 17:00, hôm nay – 29.04.2012 – tại nhà thờ giáo xứ St Margaret Mary, số 51 Mitchell Street, Đức cha Vincent Nguyễn Văn Long, giám mục phụ tá Melbourne, sẽ chủ tế thánh lễ cầu nguyện cho quê hương đất nước, nhân dịp 30.04.

Trong bài giảng soạn trước, do chính Đức cha gởi đến VRNs và cho phép VRNs tuỳ nghi sử dụng, ở đoạn kết, ngài đã viết:

“Ngày 30 tháng 4 không chỉ là một ngày quốc hận hay quốc nạn. Nó là ngày mà chúng ta, nhất là những thế hệ trẻ phải “ôn cố tri tân”. Nó là ngày chúng ta cùng động viên tranh đấu cho một tương lai Việt Nam tươi sáng hơn. Trong tinh thần Phục Sinh, người tín hữu chúng ta nhìn vào biến cố lịch sử đó như là đoạn đường chúng ta phải đi để tiến vào tương lai vinh thắng. Chúng ta phải can trường bước theo con đường mà các anh hùng hào kiệt đã đi trước chúng ta, vững tin vào sự viên mãn của công lý và sự thật trong Chúa Giêsu Kitô, viên đá tảng của niềm tin và niềm hy vọng chúng ta”.

VRNs xin giới thiệu toàn văn bài giảng chiều nay của Đức cha Vincent để quý anh chị em người Việt khắp nơi có cơ hội hiệp thông, và cũng là lời mời gởi đến quý anh chị em ở gần có thể đến tham dự thánh lễ chiều nay.

________

Kính thưa toàn thể quý ông bà anh chị em,

Một lần nữa, ngày 30 tháng 4, ngày ghi sâu trong ký ức của toàn dân Việt Nam như một ngày Quốc Nạn lại trở về với chúng ta, nhất là những người Việt tỵ nạn cộng sản ở khắp nơi trên thế giới. Có nhiều người nói rằng chúng ta không nên nhìn về quá khứ nữa, chúng ta không nên tưởng niệm ngày quốc nạn hay quốc hận nữa mà hãy hướng về tương lai. Có không ít người còn nói rằng: “Việt Nam bây giờ đã đổi mới, chính thể Cộng Sản đã thay đổi với thời đại, đâu còn gì để chúng ta phải ôn lại dĩ vãng xa xưa, hãy bắt tay vào việc xây dựng tương lại của đất nước trong tinh thần hòa hợp hòa giải dân tộc”.

Nhưng làm sao chúng ta có thể tiến về tương lai nếu chúng ta không biết nhận ra những bài học của lịch sử? Có “ôn cố mới biết tri tân”. Tôi thiển nghĩ rằng, không ai thiết tha với vận mệnh của dân tộc Việt Nam có thể làm ngơ trước những bài học của lịch sử. Nếu lịch sử là một dòng sông thì những bế tắc trong chiều dài của nó phải được đả thông cặn kẽ. Lúc đó dòng sông mới được chảy đều và làm tươi mát phì nhiêu cho đất Việt thân yêu; lúc đó chúng ta mới mong có tương lai tươi sáng.

Biến cố 30 tháng 4 năm 1975 đánh dấu một khúc ngoặc quan trọng trong lịch sử Việt Nam cận đại. Nó cũng đánh dấu một bế tắc dẫn đến một sự băng hoại toàn bộ cho cả đất nước và dân tộc Việt Nam. Khi bao nhiêu bom đạn của cuộc chiến ý thức hệ đã gây chết chóc thương tích và tàn phá trên những người dân vô tội; khi bao nhiêu những chiến sĩ bỏ mình nơi chiến trận, phơi thây không một nấm mồ hay chết dần mòn tức tưởi trong các trại cải tạo; khi những phương phế binh bị ruồng bỏ trong một xã hội vô nhân bản; khi cả triệu người phải bỏ nước ra đi, làm nạn nhân trên biển cả trong bao tủi nhục đắng cay; khi cả khối dân Việt tại quốc nội phải sống trong một xã hội hoàn toàn băng hoại, bị cai trị bởi một chính thể đã bị đào thải trong thế giới tiến bộ; khi những người dân lưu vong tại hải ngoại chưa có cơ hội đóng góp vào tiến trình canh tân đất nước. Đây chẳng phải là những mệnh đề của người nhìn dưới lăng kính của kẻ chiến bại hay một nhóm người còn mang đầu óc hận thù chia rẽ. Nhưng đây là những bế tắc của lịch sử mà chỉ khi được khai thông mới mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc.

Kính thưa toàn thể quý vị và nhất là các bạn trẻ,

Hôm nay chúng ta cùng “ôn cố tri tân” trong niềm tin vào tiến trình tất yếu của lịch sử. Lịch sử sẽ đào thải những gì không còn thích hợp. Dù có ngoan cố cưỡng lại, không ai có thể ngăn cản thế lực của lịch sử, cũng như không chính thể nào có thể làm ngược lòng dân mà tồn tại. Hôm nay chúng ta tưởng nhớ đến những nạn nhân trước và sau 30 tháng 4 năm 1975. Chúng ta cùng ôn lại những bài học của lịch sử. Nhưng trên hết, chúng ta hãy góp một bàn tay khai thông những bế tắc hầu cùng với toàn thể dân tộc mở ra một kỷ nguyên mới cho quê hương Việt Nam.

Lời Chúa hôm nay cho chúng ta sự an ủi và niềm tin vào một tương lai tươi sáng, một bình minh mà bóng tối của tà thần sẽ không chế ngự được. Thánh Phêrô đã dùng lời Thánh Vịnh để nói với dân chúng về Đức Kitô rằng “Phiến đá mà người thợ xây loại bỏ đã trở nên tảng đá góc tường”. “Người thợ xây” trong bối cảnh này chính là những con người tượng trưng cho thế lực của bóng tối và tội lỗi. “Người thợ xây” đây là Giuda, là quân dữ, là những kỳ mục, là Philatô, là Cêsarê và đồng thời là tất cả những ai đứng về phía của sự dữ. Họ đã loại bỏ Đức Kitô, tức là loại bỏ ánh sáng và sự sống, công lý và sự thật cùng tất cả những giá trị nhân bản và siêu nhiên. Nhưng Đức Kitô là phiến đá bị họ loại bỏ đã trở nên tảng đá góc tường. Ngài đã chiến thắng trên tà thần và tội lỗi. Chiến thắng của Ngài vượt không gian và thời gian, để rồi những ai đứng về phía công lý và sự thật đều được thông phần vào chiến thắng của Ngài. Quả thế, dù cho thế lực của sự dữ lấn án sự lành, dù cho những kẻ cường bạo giết hại những bậc chí nhân, nhưng chúng ta có thể tin chắc vào sự viên mãn của công lý và sự thật trong Chúa Giêsu Kitô, viên đá tảng của niềm tin và niềm hy vọng chúng ta.

Trong bối cảnh của đất nước chúng ta hôm nay, “người thợ xây” là ai nếu không phải là chế độ phi nhân vong bản; “người thợ xây” là ai nếu không phải là những công cụ đàn áp cưỡng chiếm đất đai của người dân vô tội như công an, cảnh sát cơ động và côn đồ. Và “phiến đá bị họ loại bỏ” là ai nếu không phải là những người đấu tranh cho công lý và sự thật, là người giáo dân Thái Hà với lá cây vạn tuế, là Đồng Chiêm với một cây thánh giá, là Cồn Dầu với một nghĩa trang thiêng liêng, là anh Việt Khang với một bài ca ái quốc,hay là dân oan với chỉ những tiếng kêu than vô vọng. Như Thiên Chúa đã thực hiện qua sự khổ nhục, sự chết và sự sống lại của Đức Kitô, Ngài cũng sẽ thực hiện nơi những ai đứng về phía của công lý và sự thật. Chúng ta hãy vững tin và liên đới với nhau trong cùng một lý tưởng, một giấc mơ, một mục đích là ngày khải hoàn của chân thiện mỹ trên quê hương mến yêu.

“Ta là mục tử nhân lành. Ta hiến mạng sống vì chiên ta”. Lời Chúa trong bài Phúc Âm hôm nay nói lên một chân lý bất hủ là chỉ có tình yêu hiến thân cho người khác mới là lẽ sống của người tín hữu. Sứ mạng của Đức Kitô cũng chính là hiến thân để sự sống viên mãn được thể hiện nơi con người. Hôm nay, một cách đặc biệt, chúng ta tưởng nhớ đến những người con của tổ quốc đã vì nước vong thân. Họ đã chẳng màng danh vọng, vinh quang, phú qúy hay trường thọ. Họ hy sinh chính mạng sống ngay trong tuổi thanh xuân để quê hương có ngày tươi sáng. Chúng ta nghiêng mình kính cẩn trước những gương anh linh của tổ quốc. Chúng ta hãy cùng nhau hướng về mục đích mà chính họ đã làm những viên gạch lót đường: đó là sự sống viên mãn cho tha nhân, sự phục hưng cho dân tộc và sự trường tồn của cơ đồ tổ quốc.

Kính thưa qúy ông bà anh chị em,

Ngày 30 tháng 4 không chỉ là một ngày quốc hận hay quốc nạn. Nó là ngày mà chúng ta, nhất là những thế hệ trẻ phải “ôn cố tri tân”. Nó là ngày chúng ta cùng động viên tranh đấu cho một tương lai Việt Nam tươi sáng hơn. Trong tinh thần Phục Sinh, người tín hữu chúng ta nhìn vào biến cố lịch sử đó như là đoạn đường chúng ta phải đi để tiến vào tương lai vinh thắng. Chúng ta phải can trường bước theo con đường mà các anh hùng hào kiệt đã đi trước chúng ta, vững tin vào sự viên mãn của công lý và sự thật trong Chúa Giêsu Kitô, viên đá tảng của niềm tin và niềm hy vọng chúng ta. Hãy liên kết thành sức mạnh để phá tan xiềng xích của sự bạo tàn, dối trá và gian ác là chế độ cộng sản. Hãy cùng nhau khai thông dòng sông lịch sử để nó được chảy và làm tươi mát phì nhiêu cho đất Việt thân yêu. Xin Thiên Chúa chúc lành và kiện toàn cho mọi hy sinh và nỗ lực của chúng ta, người con dân của tổ quốc trong và ngoài nước đang khát khao và tranh đấu cho công lý. Hãy vững tin tiến về bình minh mới, ngày mùa gặt mới của quê hương, vì “người đi gieo trong đau thương sẽ về giữa vui cười”.

Gm. Vincent Nguyễn Văn Long

Sunday, April 29, 2012

Lịch sử và bằng chứng bán nước cho giặc Tàu của CSVN

Bài phát biểu của ông Nguyễn Thế Phong, Chủ tịch Cộng Đồng Người Việt Tự Do liên bang - Úc Châu, trong ngày biểu tình 30 tháng Tư tại Canberra - 28.04.2012


Muôn đời Trung Hoa dù ở chế độ nào, phong kiến, quân chủ, dân quốc hay cộng sản.. thì lập trường trước sau cũng vẫn theo đuổi hai chiến lược cố hữu, dành cho sự ổn định và an ninh lảnh thổ của đất nước mình: Canh chừng bọn Man Di (Mãn, Mông, Hồi, Tạng, Cao Ly, Nga) ở phía Bắc và ra oai trừng phạt hay nuốt chửng các nước nhỏ ở nam phương (Ðại Việt, Lào, Chiêm Thành, Cao Mên, Thái Lan, Miến Ðiện) . Cuối năm 1949 Mao chiếm được Hoa lục, ngoài bộ mặt son phấn cách mạng vô sản đồng môn đồng chí hào nhoáng bên ngoài nhưng thực chất vẫn theo đuổi chính sách thực dân tự ngàn xưa, là phải tìm đủ mọi cách và cơ hội để Hán hóa và chiếm cho được VN, luôn được người Tàu bao đời coi như một đối thủ mạnh nhất trong vùng.

Ngược lại CSVN, ngay từ lúc còn trong trứng nước vào những năm đầu thập niên 30 của thế kỷ XX cho đến nay, từ Hồ Chí Minh tới Nguyễn Tấn Dũng và hầu hết các chóp bu đảng, vẫn cứ đời đời biết ơn và luôn giữ sự thờ kính với Trung Cộng. Ðiều này cũng không có gì lạ vì hầu hết các cán bộ lớn nhỏ của cộng đảng VN trước khi sang Liên Xô học hỏi kỹ thuật bán nước giết dân tại Ðông Phương Bộ, đều đã trải qua thời gian huấn luyện quân sự và chính trị tại Hoa Lục. Nói cho tận cùng, Tàu đỏ đã nắm hết lý lịch của tập đoàn lảnh đạo CSVN từ HCM tới Nguyễn Tấn Dũng và lấy đó làm con bài lật ngửa trong canh bạc xì phé. Cho nên còn ai trong đảng CSVN dám chống lại chúng để thân bại danh liệt ?

Ngày 11-1-1973 Trung Cộng công khai tuyên bố chủ quyền trên toàn thể các đảo của VN trong biển Ðông. Ngày 26-12-1973 Bắc Kinh bắt đầu thương thuyết việc khai thác dầu-khí tại vịnh Bắc Việt với Ý Ðại Lợi. Tháng 1-1974 giặc Tàu xua hải lục không quân chiếm Hoàng Sa dựa trên công hàm bán nước do Phạm Văn Đồng ký vào ng ày 14-9-1958

Sự suy sụp của đế quốc Liên Xô vào năm 1986 cộng thêm cái chết của Lê Duẩn, đã đưa CSVN vào ngõ cụt về ý thực hệ, kinh tế gần như khánh tận, quân sự bị sa lầy tại Kampuchia.. Nên để cứu đảng, cứu thân, bọn chóp bu tại bắc bộ phủ mới được bầu trong đại hội đảng lần thứ VI (Linh, Hùng, Công, Mười, Kiệt..) qua cố vấn của Chinh, Ðồng, Thọ quyết tâm phấn đấu để sớm được trở lại làm đầy tớ cho Tàu. Trong lúc Trung Cộng vẫn công khai xua quân chiếm thêm nhiều đất đai của ta tại biên giới và các đảo thuộc quần đảo Trường Sa của VN vào ngày 16-3-1988 trước sự phản ứng lấy lệ gần như đầu hàng giặc của chóp bu CSVN.

Từ cuối năm 1989-1990, Ðông Ðức, Ðông Âu và đế quốc Sô Viết tan rã, khối XHCN chỉ còn lại Tàu đỏ, Việt Cộng, Bắc Hàn và Cu Ba. Trước nổi chết gần kề, ngày 10-4-1990 bộ chính trị cộng đảng VN họp khẩn để ‘ nhất trí ‘ quyết tâm bằng mọi giá (kể cả bán nước, bán dân) được theo Tàu để bảo vệ XHCH. Và từ đó tới ngày nay (2-2009), cái giá máu mà dân tộc VN phải đổ ra để CSVN trả nợ cho giặc Tàu là một phần lảnh thổ gồm đất đai, biển, đảo và sự Hán hóa dân tộc Việt của Trung Cộng.

Tháng 1-1285 trước sự xâm lăng lần thứ 2 của Mông Cổ, Ðại Ðế Trần Nhân Tôn đã mời các vị bô lảo khắp nước về hội tại điện Diên Hồng (Thăng Long) để hỏi ý kiến nên ‘hoà hay chiến‘ với giặc.
    - Trước nhục nước nên hoà hay nên chiến ?
    - Thế nước yếu lấy gì lo chiến chinh ?
Tất cả đều trả lời ‘quyết chiến cho dù phải hy sinh tài sản và tính mệnh‘ để bảo vệ non nước Việt. Sau đó người cả nước đều dùng mực thích vào cánh tay hai chữ ‘Sát Thát‘. Nhờ vậy mà nước ta vào thời Trần đã 3 lần chiến thắng giặc Mông Cổ khi chúng sang xâm lăng Ðại việt.

Ngược lại Việt Cộng ngày nay mọi hành động đều lén lút tự chuyện, độc tài quyết đoán. Trong khi đó, trước nhục nước chỉ biết hèn hạ quì lụy cắt đất dâng biên đảo cho Tàu, lập nghĩa trang, xưng tụng đời đời nhớ ơn giặc cướp giết hại đồng bào trong trận chiến biên giới Hoa Việt lần thứ I vào ngày 17-2-1979. Một chế độ bạo ngược tham tàn có một không hai trong dòng Việt sử, thì sớm muộn gì CSVN cũng bị toàn dân giựt xập và tiêu diệt.

Sau ngày 30-4-1975, hằng năm CSVN đều tổ chức ăn mừng ‘chiến thắng Tết Mậu Thân 1968‘ và ‘đại thắng mùa xuân 1975‘. Nhưng tuyệt đối không nhắc tới một chữ về những đau thương trầm thống mà giặc Tàu đã gây cho Nước Việt và Ðồng Bào Việt trong cuộc chiến biên giới Hoa-Việt khởi sự từ ngày 17-2-1979 và kéo dài tới đầu thập niên 1990 mới tạm dứt sau khi toàn bộ chóp bu VC đầu hàng Tàu đỏ. Ðã vậy VC còn công khai khinh thường và hạ nhục cả nước, khi đảng cùng với Trung Cộng rầm rộ tổ chức ăn mừng đã hoàn thành việc cắm mốc biên giói Việt-Trung tại Ải Nam Quan vào ngày 24-2-2009. Biên bản do Nguyễn tấn Dũng ký vào cuối năm 2008 nhưng đã tuyệt tích vì bị đảng ém nhẹm nên người dân không biết đâu mà mò.

Tháng 2-1999 với tư cách tổng bí thư, Lê Khả Phiêu sang chầu thiên triều, nối lại tình đồng chí giữa hai đảng càng thêm thắm thiết. Tiếp theo Phạm Thế Duyệt, Nguyễn tấn Dũng, Nguyễn Minh Triết, Lê Minh Hương, Nguyễn Ðức Bình, Nông Ðức Mạnh, Phan Văn Khải ... cũng sang Tàu để nhận chỉ thị. Ðầu tháng 12-1999 thủ tướng TC Chu Dung Cơ sang kinh lý VN. Ngày 30-12-1999 thỏa hiệp đưòng ranh biên giới Việt-Hoa được ký kết bởi Nguyễn Mạnh Cầm (VC) và Ðường Gia truyền (TC). Nhờ hành động nhượng bộ bán nước trong vụ này (trên bộ lẫn dưới biển), mà Lê Khả Phiêu đã trở thành một trong những tỷ phú đỏ VN như báo chí mới phanh phui vào tháng 2-2009. Tóm lại suốt thời gian Phiêu làm tổng bí thư (1997-2001)CSVN đã cắt đất nhượng biển ký bán một phần lãnh thổ cho TC.

Cũng theo sự tiết lộ từ sau bức màn máu, thì trước khi bầu bán đại hội X, chính thủ tướng Tàu đỏ là Ôn Gia Bảo đã sang VN chỉ thị cho đảng phải cho Dũng làm thủ tướng. Vì vậy chẳng ai ngạc nhiên về sự Dũng ‘bán nước Việt‘ cho giặc Tàu để đền ơn đáp nghĩa chủ. Do đó ngày 15-11-2006 Dũng sang Bắc Kinh chầu để nhận lệnh mở cửa cho Tàu vào VN qua hai ngỏ ‘Côn Minh-Lào Kai-Hà Nội‘ và ‘Nam Ninh-Lạng Sơn-Hà Nội’ cùng toàn bộ bờ biển Bắc Việt. Cùng lúc Dũng gặp Ôn Gia Bảo, thì Nông Ðức Mạng cũng tới triều kiến hoàng đế Hồ Cẩm Ðào vào tháng 8-2006 để nâng quan hệ đồng chí giữa hai đảng thêm thắm nồng.

Tóm lại thành tích của Nguyễn Tấn Dũng qua thời gian làm thủ tướng VC từ 2006-2/2009 là phục vụ quyền lợi cho chủ là TC. Bằng chứng ‘bán nước‘ rõ ràng nhất của Dũng là ‘Ký hoàn tất việc cắm mốc biên giới Việt-Trung ‘vào ngày 31-12-2009, để nhượng bán cho giặc Tàu một phần lảnh thổ của đất nước, trong đó có nhiều vị trí chiến lược quan trọng cũng như các di tích ngàn đời của dân tộc như Ải Nam Quan, Núi Ðất, Thác Bản Giốc, Bãi Tục Lãm.... Ngoài ra còn có hải phận Vịnh Bắc Việt, các đảo lớn nhỏ trong hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Dũng và đồng bọn Mạnh, Triết, Trọng ... giống như Hồ Chí Minh, Phạm Văn Ðồng ngày trước, bất chấp sự ta thán, oán hờn, căm thù và sôi sục máu, trước nổi lầm than của đồng bào, nhục hèn bán nước cho giặc.

Nhưng quan trọng nhất là sự kiện Dũng đã ký lệnh ‘cấm báo chí trong nước không được bàn ra tán vào vụ Trung Cộng tới Quảng Ðức, Lâm Ðồng, Phước Long để khai thác quặng Bau-Xít‘. Ngày 13-1-2009 Dũng đã ký thông báo số 17/TB-VPCP cho Tàu đỏ được thăm dò, khai thác bauxite dùng luyện alumin và nhôm. mặc cho dư luận cả trong và ngoài nước cực lực lên án phản đối với hai lý do ‘tổn hại môi trường, giết chết sông Ðồng Nai và trên hết rước giặc Tàu vào nội địa VN‘.

Kính thưa toàn thể đồng bào,

Hơn 4000 năm qua, Việt-Nam (VN) luôn luôn là cái gai trước mắt, là chướng ngại vật và là cửa ải duy nhất ngăn chặn Trung Quốc (TQ) thực hiện mộng bá chủ vùng Đông Nam Á. Suốt các triều đại trong lịch sử Việt chưa bao giờ chúng ta để mất một tấc đất nào cho TQ. Có chăng chỉ là trong những lúc ta thất thế khi hai nước giao tranh. Thế mà giờ đây, khi cộng đồng nhân loại đã văn minh hơn, khi mà tình giao hảo giữa VN và TQ được Cộng Sản Việt Nam (CSVN) đánh giá là "giao hảo hữu nghị tốt đẹp", thì CSVN lại cam tâm cúi đầu xin dâng phần lãnh thổ, lãnh hải cho TQ để cầu vinh, mong sự bảo trợ cho quyền lãnh đạo độc tôn của họ.

Tháng 12/1999 VN và TQ thông qua Hiệp Định Biên Giới Trên Bộ và Tháng 12/2000 thông qua hai hiệp ước nhượng đất và biển cho Trung Quốc, bạo quyền Hà Nội đã hiện nguyên hình là một bè lũ vô Tổ Quốc, tôn thờ chủ nghĩa ngoại lai và đặt quyền lợi Xã Hội Chủ Nghĩa lên trên cả quyền lợi của Tổ Quốc, Dân Tộc.

Việc bạo quyền CSVN dâng nạp lãnh thổ và lãnh hải của Việt Nam cho Cộng Sản Trung Quốc không chỉ đưa đến những hậu quả vô cùng tai hại và khôn lường cho dân tộc, đất nước VN mà còn cho toàn thể khu vực Đông Nam Á và thế giới tự do nói chung.

Gần đây nhất, hành động bắt bớ, bỏ tù, đàp áp một cách dã man và liên tục những cuộc biểu tình, lên tiếng và cã tác giả của những bài hát yêu nước kêu gọi mọi người đứng lên chống giặc Tàu xâm lược mà tiêu biểu nhất là ca sĩ Việt Khang và bà Bùi Thị Minh Hằng là một bằng chứng không chối cãi về hành vi và thái độ bán nước của CSVN. Một khi đã xem hành động bày tỏ lòng yêu nước của dân là một tội hình sự và coi những lời nhạc kêu gọi cứu quốc là phản động, chống chính quyền, đảng CSVN đã lộ nguyên hình là một bè lủ Thái thú của Tàu không hơn không kém.

Nhục nhã hơn nữa là việc đài truyền hình chính thức của CSVN, gần đây nhất, đã cho phát hình liên tục 2 lần lá cờ Trung Cộng với 6 ngôi sao và tà quyền CSVN bắt trẻ em VN mặc y phục Tàu và cầm cờ 6 sao để chào đón Quan Thầy TC sang viếng thăm VN. Chúng cũng công bố sẽ cho trẻ em tiểu học VN học tiếng Tàu và cho xuất bản những đạo luật của VN sang tiếng Tàu. Còn cần bằng chứng gì thêm nữa để xác quyết việc bán nước của đảng và nhà nước CSVN hôm nay.

Ta vẫn thường được ông bà tổ tiên nhắc nhở: "Không ai thương đất nước VN của chúng ta ngoại trừ chính chúng ta ra". Hơn 4000 năm qua, TQ đã thể hiện bản chất đế quốc và xâm lăng đối với VN. Chúng sẽ không từ bỏ một cơ hội nào để nuốt trọn và đồng hoá nước ta. Giang sơn, đất nước của tổ quốc VN chỉ quý với chúng ta, chứ đối với bọn giặc xâm lăng chỉ là nơi để mà khai thác, càn quét và phá hoại. Nhưng tất cả hiểm họa này đều có thể tránh được, như cha ông chúng ta đã làm trong suốt chiều dài lịch sử Dân Tộc, nếu VN được lãnh đạo bởi người VN yêu nước thật sự.

Than ôi, đất nước của Tổ Tông đang bị một bọn vô Tổ Quốc, vô Thần, vong thân và nô lệ của chủ nghĩa ngoại lai Mác Xít cai trị. Đối với chúng không có tổ quốc VN mà chỉ có Tổ Quốc XHCN nên chúng đã đem đất dâng cho Tàu Cộng. Tội ác này, trời không dung, đất không tha.
Mỗi người VN chúng ta, bao lâu còn hơi thở, bao lâu còn hậu duệ, phải quyết tâm giành lại cho bằng được đất Tổ đã mất dẫu có phải trả bằng xương máu của chính mình để không bị coi là bất Trí, Bất Trung và Bất Dũng với Đất Nước như trong câu nói sau đây của Hàn Phi Tử:
    Đất Nước mất mà không biết là Bất Trí
    Biết mà không làm gì cả là Bất Trung
    Làm mà không liều chết là Bất Dũng.
Do những điều kiện nghiệt ngã về địa dư và lịch sử, mà bao đời VN vẫn coi việc chống giặc Tàu như một thứ tôn giáo trong nhân sinh quan của người Việt. Có thể nói nước Việt tồn tại bao nhiêu năm cũng là bấy nhiêu năm đấu tranh máu lệ với giặc Tàu để giành giựt sự sinh tồn. Chiến tranh đối với dân tộc Việt là cuộc đổ máu vì lý tưởng và bổn phận. Chiến tranh là cơ hội để tồn vong trước sự xâm lược của ngoại bang. Nên đối với giặc Tàu chỉ có chiến tranh ‘ ăn miếng trả miếng ‘ mới làm chúng chùm bước xâm lược VN như lịch sử đã minh chứng. Thế nhưng lẽ phải và quyền lực ở trên đầu súng. Nên chỉ khi nào đảng CSVN bị tiêu diệt, chừng đó đất nước mới có hy vọng đứng dậy chống Tàu để sống còn -/-