Saturday, April 21, 2012

Nhân Ngày 30.4 - Nói chuyện với nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn

Đinh Lâm Thanh

Thưa Anh Nguyễn Ngọc Ngạn.

Nếu Anh là một nhân vật bình thường, ít ai biết đến, dĩ nhiên tôi chẳng có ý kiến gì, nhưng Anh là một nhà văn, một người làm truyền thông (MC đại nhạc hội) nổi tiếng thì một người cầm bút tranh đấu cũng không thể bỏ qua được. Anh trốn thoát chế độ cộng sản cũng như tôi, đã phải trả một giá rất đắt bằng cách đổi mạng sống với công an, với may rủi thời cơ và sống chết với biển cả…thì tôi thiết tưởng, khi nói chuyện với Anh cũng không đến nổi vô ích như phải nói chuyện với đầu gối. Hơn nữa, tôi nghĩ rằng người cầm viết, làm MC thì thường chú tâm đến ý kiến của độc giả cũng như khán giả. Qua các vidéo tân nhạc Thúy Nga Paris tôi thường thấy Anh đem thư độc giả ra ‘bình phẩm’ trên các chương trình do Anh và Nguyễn Cao Kỳ Duyện điều khiển, vậy thư (email) nầy có một mục đích rất đơn giản, không cần Anh đem ra bình phẩm mà để giúp Anh suy nghĩ và nhìn thấy con người thật của Anh rõ ràng hơn.

Vì lý do sinh sống thì Anh hợp tác với ai, làm chuyện gì là quyền tự do của một người đang sống trong một chế độ tự do. Nhưng thưa Anh, người xưa thường nói ‘đánh đĩ mười phương cũng phải chừa một phương để lấy chồng’. Tôi thấy câu nầy thật thích hợp, cần nêu ra đây để nhắn nhủ Anh ! Do đó, tôi muốn đề cập đến việc Anh hợp tác với các nhóm cộng sản nằm vùng để tổ chức ba buổi văn nghệ ‘Mừng Đại Thắng 30.4’ năm nầy tại NaUy, Pháp cũng như Đức trong những ngày 29.4. 30.4 và 01.5.2012. Như vậy có thể nói rằng ‘Cuộc đời Anh đã đánh đĩ mười phương, chỉ còn một phương dành để lấy chồng, nhưng vì tiền, Anh cũng không bỏ sót’. Anh vẫn cạn tàu ráo mán với khối người Việt Quốc Gia hải ngoại ! Họ là những người đã một thời thương yêu, ủng hộ, đùm bọc và nuôi Anh khi Anh bơ vơ đặt chân đến vùng trời tự do. Nhưng rồi trong thời gian cộng tác với Trung Tâm Thúy Nga, Anh bất chấp phản ứng của những người bỏ nước ra đi vì cộng sản…Họ đã đóng góp giúp Anh tiến lên và trở thành một nghệ sĩ nổi tiếng, giàu có. Trong lúc đó Anh lại dùng văn chương và nước bọt để ca tụng chế độ cộng sản và vuốt mặt quay về Việt Nam kiếm tiền tại các đại nhạc hội tổ chức trong nước. Do đó, những người ái mộ đã có thái độ đối với Anh, là một người chồng, người cha vô tình bạc nghĩa đã quên hẳn cái chết đau thương của vợ con, của một nghệ sĩ đã dùng dao đâm vào tim những người đã tạo cho Anh một chỗ đứng xứng đáng trong văn đàn cũng như nghệ thuật ca hát. Anh đã quay lại 180 độ chống lại tập thể người Việt Tỵ Nạn trên thế giới, đó chẳng qua là mắt Anh đã bị mù và đầu Anh đã biến thành bã đậu, vì Anh chỉ biết kiếm tiền cho cái túi tham của một khối thịt biết đi và cái vô liêm sỉ của một người cầm bút !!!

Đã 37 năm, tháng tư là thời gian đau buồn của dân Miền Nam, và 30.4 là ngày đại tang của người Việt Tự Do trong cũng như ngoài nước, nhất là những người đã bỏ xứ ra đi vì không chấp nhận chế độ tàn ác cộng sản. Vài đám nằm vùng tay sai được yểm trợ tài chánh của cộng sản, chúng thường tổ chức hằng năm vào các ngày cuối tháng Tư những buỗi lễ ‘Ghi Ơn’ ‘Vinh Danh’ ‘Tưởng Niệm’ già Hồ hoặc văn nghệ mừng Đại Thắng… không ngoài việc đánh phá, làm phai mờ ý nghĩa ngày Quốc Hận. Nếu bị chống đối, tổ chức không thành công thì chúng cũng tạo được cơ hội gây xáo trộn cộng đồng…Những năm gần đây Anh đã lộ rõ bộ mặt thách thức, đâm vào lưng cộng đồng người Việt tự do hải ngoại. Vậy tội của một người cầm bút và làm truyền thông như Anh thì nặng gấp hàng ngàn lần người lính cầm súng ra trận.

Nhân tiện đây xin hỏi Anh Nguyễn Ngọc Ngạn, không biết Anh còn nhớ không ? Những tiếng kêu gào xé nát con tim, những thân xác vật vã bất tỉnh, những uất ức nghẹn ngào, những dồn nén từ tâm cang Anh cũng như những hình ảnh chết chóc của vợ con anh và những người cùng chung thuyền là động lực đã khơi động tiềm thức trong con người của anh, và chính những dư âm nầy là động lực giúp anh trở thành một nhà văn chống cộng. Nhưng tại sao bây giờ Anh lại phản bội những cái đau đớn tình cảm ruột thịt, những suy tư tiềm tàng trong trí óc và con tim Anh ? Chính những hình ảnh đau thương nầy đã bộc phát lên giấy giúp Anh thành văn sĩ, thoát ra từ hơi thở giúp Anh thành một MC. Anh đã vô tình hay bội bạc quên những ai, những gì đã giúp Anh thành công và đứng vững đến ngày hôm nay trên văn đàn cũng như truyền thông ? Nếu Anh quên thì tôi xin nhắc để Anh nhớ đời:

Đó là ba hình ảnh vợ con anh đã chết trong lòng biển, hành động dã man tàn bạo của chế độ cộng sản và vòng tay thân ái của cộng đồng người Việt Tự Do hải ngoại. Hai hình ảnh vợ con anh và vòng tay ân tình của cộng đồng người Việt Quốc Gia hải ngại là những dấu ấn trọng đại nhất trong cuộc đời tỵ nạn của Anh, nhưng tiếc thay, Anh không nhớ ! Nhưng Anh lại tri ân cái tập đoàn Việt gian cộng sản khốn nạn đã xua gia đình Anh ra biển...và ngày nay Anh quay trở lại ca tụng bọn người mà chính chúng nó đã gán cho anh và gia đình một danh từ bất hủ khi trốn xuống ghe ‘bọn trộm cướp đĩ điếm’ vượt biên qua làm nô lệ cho Mỹ. Và rồi 30.4 năm nay, Anh còn đi qua Châu-Âu hợp tác với thành phần cộng sản nằm vùng để tổ chức ‘Mừng Xuân Đại Thắng 30.4’ đánh dấu ngày giặc vào cướp nước.

Vậy, Anh là người vô liêm sỉ, đã mất linh hồn, mắt thì mù và đầu chỉ toàn là bã đậu. Có đúng không ?

Đinh Lâm Thanh
Paris, 22.4.2012

Friday, April 20, 2012

Để Mãi Mãi Nhớ Ngày 30 Tháng 4 Năm 1975 - Trần Văn Giang

Trần Văn Giang

Ai vui? Ai buồn?

Ngày 30 tháng 4, ngày có “hàng triệu người vui, hàng triệu người buồn” như lời nhận xét của “cựu thủ tướng” cs Võ Văn Kiệt, “người” này cũng giống như một số “người” lãnh đạo csvn khác phải chờ đến mãi buổi xế chiều của cuộc đời thì bỗng dưng phải gió rồi trở giọng “phản động”. Phải chi mấy “người” này tỉnh táo một chút vào lúc đang còn quyền cao chức rộng thì đám dân đen cũng được nhờ (!) và đã nhiều sinh mạng không phải oan thác.

CS vẫn tiếp tục hân hoan vui mừng “nhiệt liệt” hợp ca cái điệp khúc “ngày chiến thắng huy hoàng”, “là một (ngày) thắng lợi vĩ đại nhất, hiển hách nhất trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta.” (sic) (Lời của Đại tướng gốc thợ may Văn Tiến Dũng).

Kỷ niệm chiến thắng, bắn pháo hoa “diễu binh” ăn mừng ngày 30/4, mà ngay bên lề đường còn nhiều đám dân đen xếp hàng kêu oan bị cướp mất đất, bà già run rẩy ăn xin, em bé bỏ học bán vé số… Ăn mừng ngày đánh “Mĩ cút ngụy nhào.” Oái oăm, ngày này cũng là ngày ăn mừng “đổi mới,” trải thảm đỏ mời đón Mỹ trở lại đầu tư vì “đảng ta” vừa mới định hướng kinh tế thị trường XHCN và cảm thấy “bị tư bản bóc lột” là chuyện “tiên tiến, tốt” phải làm trong giai đoạn phát triển kinh tế quốc gia. Ngày này cũng là ngày các lãnh tụ csvn vĩ đại kêu gọi “khúc ruột ngàn dặm” về xây dựng quê hương vì sau mấy chục năm chiến thắng vinh qunag “đảng ta” vẫn chỉ giỏi ở cái mảng phá hoại và tham ô.

Đám chăn trâu, thợ thiến heo, ở đợ, cướp cạn, thất học… đi bộ từ trong rừng ra với áo không lành giầy không vớ “ăn mừng” vì bỗng nhiên một sớm một chiều trở thành tiến sĩ, đại gia, cán bộ cao cấp lèo lái “con thuyền không bến” Việt Nam đến vinh quang vô địch (?)

Ăn mừng vì “thép đã tôi thế đấy” đội ngũ cán bộ lãnh đạo (từ chính quyền trung ương đến cơ sở chính quyền địa phương) thành một lũ vô cảm, dửng dưng trước những đau khỗ quằn quại của đồng loại, coi thường dân, không dám nhận chịu trách nhiệm về những sai trái. Ăn mừng vui vì “tụi nó” cướp của người khác chứ không (chưa) cướp đến của nhà mình?!

Ngược lại, cũng có nhiều người ở cùng chiến tuyến với cs rất buồn vì đã tự “giác ngộ.” Họ nhìn ra là họ đã bỏ phí cả thời xuân xanh, tài sản để chạy theo cs rồi bây giờ sau mấy chục năm ròng mới nhận ra cái ngu xuẩn của mình và ngu xuẩn của chính sách cs; Mặc dù họ mới chợt “phản tỉnh” và tuyên bố “phản động” này nọ nhưng cũng chỉ làm cho có chuyện, làm để lấy tiếng ngu vì cô thế (người quốc gia còn bán tín bán nghi, không buồn để ý đến họ), sức đã mòn, chợ đã chiều… không thay đổi cái quái gì được nữa!

Có những “cựu” cảm tình viên cs, “hùa” viên cs (loại này rất đông đảo – Họ hầu như mù tịt về cs nhưng lại thích làm dáng cs; lọai “Nếu là chim tôi sẽ là bồ câu trắng / Nếu là hoa tôi sẽ là hoa hướng dương / Nếu là người tôi sẽ là người cộng sản… Người quốc gia cỡ phó thường dân thôi cũng hiểu là cs không phải là bồ câu trắng; và cs cũng chẳng có ưa gì hoa hướng dương, hoa hướng âm gì ráo trọi!) thích và mơ tưởng thiên đường bánh vẽ cs; ăn cơm quốc gia thờ ma cs. Đám đông này trước đây rất ồn áo, đã từng nhẩy múa điên cuồng theo nhịp đập trống bịp bợm của cs rồi bây giờ rất buồn; đành phải im lặng vì cái thực tế cs quá bẽ bàng làm họ không thể nói và làm gì hơn để biện minh cho cái sự kiện “bé cái lầm” của mình.

Có những gia đình gồm nhiều thế hệ dù không bao giờ chấp nhận cs nhưng không tìm được lối thoát thân. Họ rất buồn vì phải đón chịu tất cả những trận đòn thù hận, tù đày, bao vây kinh tế… từ mafia cs.

Có trên 3 triệu người tị nạn ở hải ngoại rất buồn, nhìn về ngày 30/4 như một ngày quốc hận, một tháng Tư đen; một ngày đau đớn cay đắng nhiều nước mắt nhất trong suốt 4000 ngàn năm lịch sử dân tộc Việt.

Ai thắng? Ai thua?

Sau một cuộc chiến tranh thì phải có kẻ chiến thắng, người bại trận. Cứ theo như luận điệu như csvn đang “ăn mừng” thì mọi người phải hiểu là “Mĩ và Ngụy đã thua?!” Mà có thiệt vậy không hà?

Hãy nhìn nước (“đế quốc”) Mỹ từ ngày 30/4/1975 cho đến hôm nay. Họ không có tỏ cái vẻ gì là một nước bại trận. Họ vẫn là một cường quốc mà các lãnh đạo csvn lần lượt thay phiên nhau xin đến thăm viếng (sau cấm vận!). Các chuyến thăm viếng của lãnh tụ csvn vẫn được báo lề phải cs tường trình như một niềm hãnh diện “Chủ tịch, Thủ tướng nước ta được Tổng thống Mĩ tiếp đón tại Nhà trắng, tại phòng Bầu dục, tại vườn Hồng… ”. Rõ ràng là các Tổng thống Clinton, Bush đã đến Việt Nam mà vẫn được dân chúng Việt Nam niềm nở háo hức tiếp đón … Họ không hề đến Việt Nam để ký giấy đầu hàng hay xin xỏ csvn bất cứ chuyện gì?!

“Ngụy” (một danh từ có nghĩa xấu mà cs đã gán cho tất cả người dân, chính quyền hay bất cứ sự kiện gì có dính dáng đến “đế quốc Mĩ!”) có thua thiệt không?. Chiến tranh đã chấm dứt nhưng sự tranh đấu của “Ngụy” đâu đã thấy chấm dứt! Thực ra, sự tranh đấu của “Ngụy” mỗi ngày mỗi mạnh hơn; nhất là từ hải ngoại. Cờ vàng vẫn tung bay hiên ngang oai hùng trước công đường thế giới trong khi cờ đỏ cs phải lén lút đi vào cửa sau. Cơ hội “Ngụy quân, Ngụy quyền” trở lại Việt Nam (khi csvn bị giải thể) không còn là chuyện “không tưởng.” Người dân Việt Nam (nhất là dân miền Nam) đâu còn giấu diếm e dè gì khi họ cần tỏ thái độ là “thà sống với Mỹ làm Ngụy như người Nhật, Đức, Nam hàn, Đài loan… vẫn còn hơn là vinh quang cúi đầu dưới “4 cái tốt” và “16 chữ vàng” của kẻ tử thù truyền kiếp TQ. Chẳng thà sống lưu vong làm Ngụy hơn là sống dưới cái nhà tù lớn CSVN lập ra.”

Cs một mặt kêu gọi “hòa giải và hòa hợp dân tộc” mà tại sao mặt khác, bao nhiêu năm trôi qua, vẫn gọi những người “phía bên kia chiến tuyến” là “ngụy quân, ngụy quyền?”. Vẫn gọi Mỹ là “đế quốc tư bản” mà thích gởi con cháu họ sang Mỹ du học để được học… cách bóc lột của đế quốc tư bản?

Ôi cộng sản Việt Nam!!!. Một sự nghịch lý lố bịch cuối cùng còn xót lại trên hành tinh này!

Ai giải phóng ai? Giải phóng cái gì?

Theo tự điển tiếng Việt, chữ “Giải phóng” có nghĩa là “Làm cho thoát khỏi tình trạng bị nô dịch, bị chiếm đóng. Làm cho được tự do; thoát khỏi sự ràng buộc bất hợp lý.”

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, hàng trăm ngàn người dân miền Nam lại bị cưỡng chế nô dịch (đi tù, đi kinh tế mới, bị quản chế, bị cô lập, hoàn toàn mất tự do, mất quyền công dân… ) Người dân miền Nam có cần được cs bắc Việt giải phóng họ hay không? Nếu gọi là “đã được giải phóng” thì đời sống của họ phải khá hơn, tốt đẹp hơn lúc chưa “được giải phóng.” Hãy nhìn, đọc những con số không biết nói dối. Bác sĩ Nguyễn Văn Tuấn – rời Việt Nam năm 1981 sang định cư tại Úc năm 1982 là Giáo sư Đại học New South Wales (Úc) – đã trình bày một cách cụ thể kết quả (bằng số) trước và sau ngày “giải phóng” 30 tháng 4 năm 1975 như sau: (Trích nguyên văn – tuy hơi dài nhưng đáng đọc; đáng đồng tiền bát gạo)

Tính từ ngày 30/4/1975. Nhân dịp đọc một cuốn sách cũ, tôi thấy có vài thông tin về kinh tế của miền nam Việt Nam trước 1975 cũng có ý nghĩa so sánh nào đó …

Về thu nhập bình quân, theo “số liệu kinh tế – GDP” bình quân, ở miền Nam vào thời trước 1975 là 150 USD. Thu nhập này tuy chưa cao mấy thời đó, nhưng cao hơn ở các nước Thái Lan, Bangladesh, Ấn Độ, và Pakistan. Ba mươi sáu năm sau, GDP bình quân đầu người của Việt Nam là khoảng 1100 USD, thua xa Thái Lan (khoảng 4000 USD).

Về giáo dục đại chúng, theo Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng, năm 1973, tỉ lệ dân số biết đọc, biết viết là 70%, rất cao so với các nước Á châu láng giềng hồi đó. Hiện nay, tỉ lệ dân số biết đọc và viết là 90%. Ba mươi sáu năm, chỉ tăng 20%?

Hôm nọ, khi tôi viết rằng thời trước 1975, du học sinh Thái Lan sang đại học miền Nam học, còn bây giờ thì mình sang đó… du học. Chẳng có gì xấu hổ. Người ta giỏi hơn mình thì mình học người ta. Nhưng nói ra sự thật ấy làm tôi nao lòng và buồn về sử đổi đời. Có người từ miền Bắc hỏi tôi có bằng chứng gì giáo dục miền Nam tốt hơn bây giờ? Tôi nói chính tôi là sản phẩm của nền giáo dục thời trước 1975 đây. Còn hàng vạn “sản phẩm” của nền giáo dục trước 1975 đang ở nước ngoài và họ cũng thành danh, thành tài. Đó là một bằng chứng của nền giáo dục trước kia.

Về trình độ của giới cầm quyền, 36 năm sau nước (CHXHCN) ta đã có 50% bộ trưởng có văn bằng tiến sĩ. Thời trước 1975, tôi không có con số chính xác, nhưng chỉ nhớ số bộ trưởng có bằng tiến sĩ chỉ đếm đầu ngón tay. Ngay cả ông Hoàng Đức Nhã với bằng thạc sĩ (MS degree) nhưng được giới báo chí và công chúng nể lắm rồi. Nhưng theo Giáo sư Đặng Phong thì tuy họ học không cao, nhưng trình độ thật thì cao và đáng nể: “Cần phải phân biệt rõ: nền chính trị thối nát (không phải tôi nói, mà người Mỹ và người trong giới chính trị Sài Gòn nói) với bộ máy kinh tế chuyên nghiệp. Những cấp cao nhất, tổng thống, phó tổng thống, thủ tướng… phần lớn là dân võ biền, là lính sang làm chính trị như Thiệu, Kỳ, Khiêm… Nói chung, họ không có mấy kinh nghiệm để điều hành một xã hội dân sự văn minh. Nhưng điều đặc biệt là cấp dưới của họ (bộ trưởng, tổng trưởng…) và các chuyên gia hàng đầu đều là những người có học vấn, kiến thức kinh tế – xã hội rất giỏi để vận hành khối lượng tiền, hàng cực lớn. Bằng chứng là Nam VN khi đó đã có hệ thống ngân hàng, hệ thống thuế, bảo hiểm… trình độ quốc tế, hoạt động toàn cầu. Dân đã xài séc (checks), các công cụ tín dụng, công sở xài máy tính IBM, tổ chức nền kinh tế đã sử dụng các phương tiện hiện đại, mà bây giờ chúng ta mới chập chững tiến vào.”

Ngày xưa (thời VNCH) cũng có tham nhũng, nhưng hình như bản chất hơi khác với thời nay. Ngày xưa, giới quan chức VNCH tham nhũng chủ yếu là ăn chận tiền tài trợ của Mĩ. Thật ra, tham nhũng của VNCH là có lợi cho “cách mạng,” vì lợi dụng đó mà du kích mới có tiếp viện! Tham nhũng thời VNCH theo Gs Đặng Phong là “một nguồn hậu cần quan trọng giúp chúng ta thành người chiến thắng.” Còn ngày nay, cứ như báo chí phản ảnh thì quan chức ăn chận tiền của… dân. Họ cũng ăn chận (hay ăn cắp?) tài nguyên đất nước. Hình thức tham nhũng nào cũng nguy hiểm, nhưng ăn chận tiền dân và tài nguyên quốc gia thì đúng là nguy hiểm và […]. Giáo sư Đặng Phong nói: “Tham nhũng cũng là một cách ra đời tầng lớp hữu sản cho nên đạo lý kém hơn, chụp giật hơn, lưu manh hơn.”

Ngày 30/4 thường được nhắc đến như là một “ngày chiến thắng,” “ngày giải phóng miền Nam.” Đứng trên quan điểm kẻ thắng người thua, thì chắc cũng có lí do để gọi đó là ngày chiến thắng. Nhưng thử hỏi với cả 4 triệu (?) người phải bỏ mạng trong cuộc chiến đó, cộng thêm hàng trăm ngàn bỏ mạng trên biển, và 3 triệu người lưu vong, thì chiến thắng đó có vẻ vang không? Chẳng lẽ ăn mừng chiến thắng trên xác người? Còn giải phóng thì có nghĩa là giải phóng từ nô lệ, gông cùm của bọn đế quốc, nhưng trong thực tế ngày xưa đâu có nô lệ, và bọn đế quốc Mĩ cũng đâu có gông cùm gì; chúng vẫn phát triển giáo dục tốt, hệ thống y tế tốt, kinh tế gia đình khá no ấm, học trò lễ phép, báo chí nói khá thoải mái (diễu cợt ông Thiệu, ông Kỳ liên miên). Do đó, hai chữ “giải phóng” e rằng không thích hợp với thực tế của những con số vừa trình bày. (nguồn Nguyễn Văn Tuấn Blog)
(hết trích)

Như đã trình bày hơi dài giòng, “giải phóng” là thay đổi cái (chế độ chính trị) cũ bằng một cái khác tốt đẹp hơn. Ai cũng biết nhạc sĩ thân cộng Trịnh Công Sơn, sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975 đã lên đài phát thanh Sàigòn kêu gọi “anh em văn nghệ sĩ và học sinh sinh viên miền Nam Việt Nam” như sau:

(Tôi xin ghi lại nguyên văn từ tài liệu audio của “youTube”)
Nguồn: http://www.youtube.com/watch?v=KSnXiyymlKk&feature=related



“Tôi nhạc sĩ Trịnh Công Sơn rất vui mừng và cảm động được gặp và nói chuyện với tất cả anh em văn nghệ sĩ ở miền Nam Việt Nam này (!). Hôm nay (ngày 30 tháng 4 năm 1975) là cái ngày mơ ước của tất cả chúng ta. Đó là ngày mà chúng ta đã giải phóng hoàn toàn đất nước Việt Nam; cũng như những mơ ước của các bạn (?) bấy lâu về sự độc lập, tự do và thống nhất… Hôm nay chúng ta đã đạt được tất cả… Chúng tôi đang ở đài phát thanh Sàigòn… Tôi xin hát lại cái bài Nối vòng tay lớn… Hôm nay thật sự cái vòng tay lớn đã được nối kết… Rừng núi dang tay nối lại biển xa… ta đi vòng tay lớn mãi để nối sơn hà..”(sic)

Cũng “cái ngày hôm nay,” ai đã từng nghe bài “Em còn nhớ hay em đã quên” của con vẹt TCS thì chắc phải nhớ câu hát “Em ra đi nơi này vẫn thế.” Trịnh Công Sơn viết:

“Em ra đi nơi này vẫn thế
Lá vẫn xanh trên con đường nhỏ”

Hay nhỉ? “Nơi này vẫn thế” là thế nào? Tại sao lại có sự mù lòa lạ lùng như vậy? Chuyện “Lá vẫn xanh” là chuyện dễ hiểu, tất nhiên. Bạo quyền và chủ nghĩa cs đâu có tài thánh nào đổi mầu lá cây từ xanh sang đỏ được? “Nơi này vẫn thế” là thế nào? Chỉ một thời gian ngắn sau khi lên đài phát thanh Sài gòn “kêu gọi và hót” “rừng núi dang tay nối lại biển xa…” để “mừng ngày chúng ta giải phóng hoàn toàn đất nước” thì Trịnh Công Sơn đã phải trở ra sống ở Huế và “tham gia” vào những chuyến lao động trồng khoai sắn trên những cánh đồng còn đầy rẫy mìn ở Cồn Thiên, gần vĩ tuyến 17 chứ đâu có còn được các tướng tá của chính phủ Sài gòn che chở cho sống ung dung và tự do đi hát nhạc phản chiến ở Sài gòn…

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, nếu toàn dân miền Nam được sống một cuộc sống “vẫn thế” thì đâu có hàng triệu người dân Việt phải liều mạng vượt biên vượt biển đi tị nạn ở nước ngoài (Ậy! Đến ngay cả cô “Em” nào đó của TCS cũng phải“ra đi” một cách “phản động.”) Người ở lại đã và đang sống một cuộc sống thê thảm nhất trong lịch sử dân tộc chứ đâu có cái chuyện “Nơi này vẫn thế?” Thật là chuyện trơ trẽn! Ốt dột!

Anh là ai? Ai là anh?

Trong chiến tranh, anh (cs) tự cho anh là anh hùng vì anh có can đảm ném lựu đạn, gài bom plastic, pháo kích vào chỗ đông dân lành tự nhiên như “người Hà lội.” Anh tự hào là anh rất giỏi về môn phá hoại cầu cống, đắp mô đường xá. Anh tự hào có can đảm cầm súng bắn, ám sát, thủ tiêu, thảm sát hàng trăm hàng nghìn người không có cái gì để tự vệ Anh vẫn cho anh là anh hùng là vô địch vì anh đã đứng lên, đã thành công trong việc giải phóng dân tộc trong khi các nước láng giềng của anh không cần có lãnh tụ kiệt xuất như HCM và cũng chẳng cần một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc vinh quang như của anh mà dân họ vẫn độc lập ấm no tự do hơn dân tộc anh!…

Sau chiến tranh anh (cs) chứng tỏ anh là một thằng hèn nhất lịch sử. Anh đem đất liền và đảo của tiền nhân dâng nhượng cho TQ rồi anh bảo đó là chuyện nhỏ. Anh không dám phản kháng và anh cũng cấm dân của anh biểu tình lên tiếng bày tỏ phản kháng khi TQ chiếm đất lấn biển. Anh làm ngơ khi dân anh bị TQ tàn sát ở ngoài biển, ở biên giới. Anh làm ngơ để các đối tác TQ đánh đập dân anh ngay ở quanh các vùng nội địa mà anh cho phép họ khai thác tài nguyên quốc gia. Anh rất hèn khi anh cưỡng bức tài sản, đất đai của dân nghèo. Anh rất hèn hạ bịt mồm, đánh xập các tiếng nói oan ức chính đáng của dân.

Chẳng sớm thì muộn, anh sẽ đền tội với dân… Chân lý đó chỉ là vấn đề thời gian. Anh cũng biết thừa là cái bánh xe thời cuộc sẽ phải lăn theo chiều hướng không còn thuận lợi cho chính sách cướp bóc sát nhân của anh… Cho nên trong lúc này, khi còn nắm chút quyền hành, anh cố vơ vét tham nhũng càng nhiều càng tốt và anh dự định xây sẵn một cái ống cống để anh có cơ hội chui, vượt thoát…

Tương lai của các anh có lẽ cũng chẳng sáng sủa gì hơn kết cuộc của con chuột Gaddafi.

Chờ xem…

Trần Văn Giang

Tân Chính Khí Ca - Trần Gia Phụng

 Trần Gia Phụng

Chính khí ca là thi phẩm ca tụng sự tuẫn tiết của Hoàng Diệu khi Pháp đánh chiếm Hà Nội năm 1882. Tuẫn tiết là tự hủy thân xác và chết vì nghĩa lớn, vì lý tưởng mà mình theo đuổi. Nghĩa lớn nhất trong đời người là nghĩa đối với nhân loại, quốc gia, dân tộc. Tuẫn tiết là nét đặc thù của một số nước Đông Á như Việt Nam, Trung Hoa, Nhật Bản. Riêng Việt Nam, nhiều cuộc tuẫn tiết rất anh hùng đã diễn ra trong lịch sử, đặc biệt nhất vào năm 1975, khi chính thể Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ.

1. TUẪN TIẾT QUA CÁC GIAI ĐOẠN LỊCH SỬ

Không kể thời kỳ tiền sử, từ khi Ngô Quyền lập quốc sau chiến thắng Bạch Đằng Giang năm 938 cho đến ngày nay, nước ta trải qua các chế độ quân chủ, quốc gia dân chủ và cộng sản. Nói theo ngôn ngữ chính trị, đó là ba ý thức hệ khác nhau: ý thức hệ quân chủ, ý thức hệ dân chủ và ý thức hệ cộng sản

Thời kỳ quân chủ: Các triều đại quân chủ cai trị nước ta từ thời nhà Ngô (939-965) đến thời nhà Nguyễn (1802-1945). Chế độ quân chủ dựa trên nền tảng Nho giáo, một triết lý chính trị hậu thuẫn mạnh mẽ cho chế độ quân chủ, theo đó vua là trung tâm quyền lực của xã hội, đứng đầu trong xã hội, trên cả cha mẹ (quân, sư, phụ). Đất đai là đất đai của vua. Cuộc sống của người dân do vua quyết định. Trung với nước là trung với vua và ngược lại trung với vua là trung với nước. Trung quân ái quốc là hai khái niệm song hành, hòa quyện nhau, tuy có khi khác nhau tùy hoàn cảnh.

Trong các cuộc tranh chấp quyền lực giữa các thế lực chính trị trong nước, tức tranh chấp nội bộ, ví dụ giữa nhà Trần với nhà Hồ, giữa nhà Lê với nhà Mạc, giữa họ Nguyễn (Tây Sơn) với họ Nguyễn (Phú Xuân), thì tinh thần trung quân được đề cao. Tuy nhiên, trong cuộc tranh đấu chống ngoại xâm, thì tinh thần ái quốc mới là chính. Ví dụ câu nói bất hủ của Trần Bình Trọng: “Ta thà làm quỷ nước Nam, không thà làm vương đất Bắc”; hoặc trong cuộc kháng chiến chống quân Minh, những thanh niên, trí thức nhà Trần bỏ đất Bắc (có nhà hậu Trần), vào Thanh Hóa, gia nhập lực lượng kháng chiến chống quân Minh của Lê Lợi; hoặc vào thế kỷ 18, những quan lại nhà Lê giúp nhà Tây Sơn chống quân Thanh. Nói cho cùng, dưới thời quân chủ, quan niệm trung quân ái quốc vẫn đặt căn bản trên nền tảng dân tộc và lấy đất nước, dân tộc làm gốc.

Thời kỳ quốc gia dân chủ: Pháp bảo hộ nước ta năm 1884. Nền quân chủ thất bại. Dân chúng thất vọng, mất dần niềm tin vào triều đình, tinh thần trung quân bị phai lạt nhưng lòng ái quốc vẫn không giảm. Các cuộc khởi nghĩa chống Pháp tiếp diễn khắp nơi.

Bên cạnh các phong trào võ trang chống Pháp, vào đầu thế kỷ 20, Phan Châu Trinh mở phong trào Duy tân, hô hào cải cách đất nước đồng thời kêu gọi phát huy dân chủ, dân quyền, nhằm tiến đến việc giành độc lập dân tộc. Theo Phan Châu Trinh, “dân đã biết có quyền thì việc khác có thể tính lần được”. Đây là mở đầu tiến trình vận động dân chủ tại nước ta.

Sau đó, tại Hà Nội, Nguyễn Thái Học và nhóm Nam Đồng Thư Xã tiến xa hơn, thành lập Việt Nam Quốc Dân Đảng tối 25 rạng 26-12-1927. Điều lệ đảng ghi rõ: “Mục đích và tôn chỉ của Đảng là làm một cuộc cách mạng quốc gia, dùng võ lực đánh đổ chế độ thực dân phong kiến, để lập nên một nước Việt Nam Độc lập Cộng hòa.” (Hoàng Văn Đào, Việt Nam Quốc Dân Đảng, Sài Gòn 1970, tr. 33.) Nhiều đảng viên VNQDĐ đã hy sinh trong giai đoạn nầy mà cao điểm là Nguyễn Thái Học cùng 12 đồng chí bị Pháp đưa lên máy chém tại Yên Bái ngày 17-6-1930. Mười ba nhân vật nầy là những anh hùng tuẫn tiết đầu tiên cho lý tưởng quốc gia dân tộc sau thời kỳ quân chủ.

Sau vụ Yên Bái, hoạt động của những nhà chính trị theo chủ nghĩa dân tộc bị Pháp đàn áp và gặp nhiều khó khăn một thời gian, cho đến khi Pháp lúng túng trong thế chiến thứ hai và nhà cầm quyền Pháp ở Đông Dương bị Nhật Bản khống chế. Những đảng phái mới và những tên tuổi mới xuất hiện: Trương Tử Anh, Nguyễn Hữu Thanh (Lý Đông A), Nguyễn Tường Tam…

Hồ Chí Minh, mặt trận Việt Minh (VM) và đảng Cộng Sản Đông Dương (CSĐD) cướp chính quyền ngày 2-9-1945, thành lập chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH). Khuynh hướng chính trị dân tộc lại bị CS đàn áp, khủng bố và tiêu diệt. Những người theo đường lối quốc gia dân tộc với lập trường tự do dân chủ bị dồn vào thế tranh đấu sống còn với VMCS. Họ muốn mưu cầu độc lập dân tộc, nhưng ở thế chẳng đặng đừng phải tạm thời liên kết với Pháp, tìm kiếm một giải pháp chính trị để chống cộng, vì hiểm họa cộng sản nguy hiểm hơn cho đất nước, cho tự do dân chủ và cho chính sinh mạng dân tộc.

Giải pháp chính trị đó là sự thành lập chính thể Quốc Gia Việt Nam (QGVN) theo Hiệp định Élysée ngày 8-3-1949, thừa nhận Việt Nam độc lập trong Liên Hiệp Pháp. Chính thể QGVN hoàn toàn đối lập với chính thể VNDCCH do đảng CS điều khiển. Từ đây, vươn lên mạnh mẽ tất cả những khuynh hướng chính trị theo chủ trương dân tộc, tôn trọng dân quyền, dân chủ tự do, chống lại chủ thuyết và chế độ cộng sản độc tài đảng trị theo quốc tế cộng sản.

Hiệp định Genève (20-7-1954) chia hai đất nước Việt Nam ở vĩ tuyến 17 (sông Bến Hải, tỉnh Quảng Trị). Miền Bắc, VNDCCH theo chủ nghĩa CS, do Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản cai trị. Miền Nam là QGVN do cựu hoàng Bảo Đại làm quốc trưởng và Ngô Đình Diệm giữ chức thủ tướng. Ông Diệm thành lập Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) ngày 26-10-1955, theo chính thể dân chủ tự do.

Thời kỳ cộng sản: Tại Nga, sau cuộc cách mạng ngày 7-11-1917, đảng Cộng Sản lên nắm chính quyền. Ổn định xong tình hình trong nước, đảng CS Nga thành lập Cộng Hòa Liên bang Xô Viết (viết tắt là Liên Xô) cuối năm 1922, muốn bành trướng thế lực ra nước ngoài, cạnh tranh với các nước Tây phương, thành lập một đế quốc đỏ kiểu mới do CS thống trị, nên Liên Xô đưa ra chiêu bài giải phóng dân tộc, xúi giục các nước bị đô hộ (thuộc địa) nổi lên giành độc lập, rồi gia nhập khối Liên Xô. Hồ Chí Minh (lúc đó có tên là Nguyễn Ái Quốc), một gián điệp xuất thân từ Học Viện Thợ Thuyền Đông Phương ở Moscow, được gởi qua Á Châu năm 1924 để thi hành sứ mạng nầy.

Trong khi VNQDĐ hoạt động ở trong nước, thì tại Hương Cảng, vâng lệnh Đệ tam Quốc tế Cộng sản (ĐTQTCS), ngày 6-1-1930, Hồ Chí Minh lúc đó có tên là Lý Thụy, đứng ra thành lập đảng Cộng Sản Việt Nam (CSVN), đổi thành đảng Cộng Sản Đông Dương (CSĐD), và ngày thành lập cũng đổi thành 3-2-1930. Đảng CSĐD đổi tên thành đảng Lao Động năm 1951 và đảng Lao Động đổi trở lại thành đảng CSVN năm 1976. Tuy thay đổi nhiều danh xưng, nhưng chung quy đảng CSVN cũng chỉ là một đảng do ĐTQTCS thành lập, thi hành chủ nghĩa CS trên đất nước Việt Nam.

Hồ Chí Minh và đảng CS luôn luôn sử dụng chiêu bài dân tộc để hô hào và quy tụ quần chúng, nhưng tất cả những hoạt động của Hồ Chí Minh và đảng CS chỉ nhắm mục đích duy nhất là phục vụ đảng CS, phục vụ QTCS. Trong Đại hội lần thứ 2 đảng CSĐD từ 11 đến 19-2-1951 tại huyện Chiêm Hóa tỉnh Tuyên Quang, Hồ Chí Minh tuyên bố: “Đảng ta có một chủ nghĩa cách mạng nhất, sáng suốt nhất, đó là chủ nghĩa của ba ông kia kìa: [chỉ Marx, Engels, Lénine]… Với chủ nghĩa như thế, với Ông thày, Ông anh như thế, với lòng trung thành và kiên quyết của nhân dân ta, của Đảng ta, nhất định chúng ta thắng lợi.” (Báo HỌC TẬP – Nội san đảng bộ Liên Khu Bốn (Chỉ lưu hành trong nội bộ), Số 35, năm thứ tư, tháng 4 – 1951, trang 1-8. Nguồn: Talawas, 28-9-2010.)

Sau đó, trên báo Tin Tức (Liên Xô) số đặc biệt ngày 1-7-1951, Hồ Chí Minh nhận rằng VNDCCH là một tiền đồn của chủ nghĩa cộng sản: “Như vậy là ở Đông Nam Á, chúng tôi đã đứng ở tiền đồn của mặt trận dân chủ và hòa bình toàn thế giới chống chủ nghĩa đế quốc và chiến tranh.” (Hồ Chí Minh toàn tập tập 9, 1958-1959, Hà Nội: Nxb. Chính Trị Quốc Gia, 2000, tr. 309.)

Sau năm 1954, Hồ Chí Minh và đảng CS cai trị phía bắc vĩ tuyến 17, áp dụng nền kinh tế chỉ huy, thi hành Cải cách ruộng đất, đàn áp báo chí, thủ tiêu đối lập, đồng thời quyết định tiếp tục xâm lăng miền Nam Việt Nam, đưa ra chiêu bài mới là “chống Mỹ cứu nước”, vừa để bành trưóng quyền lực, vừa để cầm chân và làm cho Hoa Kỳ suy yếu, giúp Liên Xô và Trung Quốc rảnh tay bành trướng ở các nơi khác trong chiến tranh lạnh toàn cầu. Lê Duẫn, lúc đó là bí thư thứ nhất đảng Lao Động (tức đảng Cộng Sản) đã tuyên bố: “Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc.” (Vũ Thư Hiên, Đêm giữa ban ngày, Nxb. Văn Nghệ, California, 1997, tr. 422.)

Nói cách khác, CSVN không xuất phát từ dân tộc, lý thuyết CSVN không đặt căn bản trên nền tảng dân tộc, hoàn toàn mất gốc dân tộc, đặt quyền lợi của đảng CS và Quốc tế Cộng sản lên trên quyền lợi quốc gia, dân tộc. Rõ rệt nhất là lòng yêu nước của người cộng sản biến đổi mục tiêu theo khẩu hiệu do đảng CS đã đặt ra: “Yêu tổ quốc là yêu chủ nghĩa xã hội”. Người CS xem các lãnh tụ ngoại bang còn cao hơn cả cha mẹ mình: “Thương cha, thương mẹ, thương chồng,/Thương mình thương một, thương ông thương mười.” (Tố Hữu). Ngay cả Hồ Chí Minh, người sáng lập đảng CSVN, cho đến khi chết cũng không muốn trở về với cha mẹ, ông bà, tổ tiên, mà chỉ muốn đi gặp các lãnh tụ cộng sản “…Vì vậy tôi để sẵn mấy lời nầy, fòng khi tôi sẽ đi gặp cụ Cac Mac, cụ Lênin và các vị c. m. đàn anh khác…” (Di chúc Hồ Chí Minh).

Do đó, chúng ta không lấy làm lạ nhà cầm quyền CSVN trong nước hiện nay thẳng tay đàn áp các cuộc biểu tình chống Trung Quốc cộng sản xâm lược; bắt giam, hành hạ, tù đày những người tham gia các cuộc biểu tình chỉ vì lòng yêu nước. Những đảng viên CSVN chỉ còn biết có đảng CS và vì quyền lợi của đảng CS. Bảng pa-nô lớn treo ở Hà Nội năm 2010 cho thấy đầy đủ lý tưởng của người cộng sản: CHỈ BIẾT CÒN ĐẢNG, CÒN MÌNH.

2. TUẪN TIẾT NĂM 1975

Hoàn cảnh: Sau năm 1954, Nam Việt Nam theo chính thể QGVN rồi VNCH, tồn tại trong 21 năm và bị Bắc Việt Nam cưỡng chiếm năm 1975. Dù bị hạn chế vì chiến tranh, chính thể Nam Việt Nam luôn luôn tôn trọng nền tự do dân chủ. Trong 21 năm nầy, lãnh đạo QGVN và VNCH ở tất cả các cấp có thể chia thành hai thế hệ kế tiếp nhau. Thứ nhất là thế hệ những người còn lại từ chế độ cũ. Thứ hai là thế hệ những người được đào tạo trong lòng chế độ mới ở trong nước.

Sau 1954 Nam Việt Nam hoàn toàn độc lập, nhưng lúc đầu những cán bộ, công chức chính phủ từ trung ương xuống tới địa phương, kể cả tổng thống Diệm, đều do Pháp đào tạo. Những chuyên viên như kỹ sư, bác sĩ, thậm chí cả những giáo chức đều xuất thân từ các trường Pháp. Các tướng lãnh và sĩ quan cao cấp cũng từ quân đội Pháp. Vì vậy, trong thời Đệ nhất Cộng hòa ở miền Nam Việt Nam, cán bộ và chuyên viên thời kỳ nầy vẫn còn chịu ít nhiều ảnh hưởng của Pháp, dầu không còn người Pháp.

Quốc trưởng Bảo Đại, và nhất là tổng thống Ngô Đình Diệm đã có công xây dựng những cơ sở đào tạo một lớp cán bộ, chuyên viên, cán sự mới cho miền Nam Việt Nam, như các trường sĩ quan Nam Định, Thủ Đức, Đà Lạt, trường Quốc Gia Hành Chánh, các trường chuyên nghiệp, các viện đại học, các trường sư phạm… Từ đây xuất thân một lớp công chức, quân nhân, cán bộ và chuyên viên hoàn toàn mới trong tinh thần quốc gia dân tộc.

Những người tốt nghiệp từ các trường nầy được bổ sung và thay thế dần dần các lớp đàn anh, học hỏi thêm nhiều kinh nghiệm thực tế, rồi sau đó mới thực sự trưởng thành. Từ đầu thập niên 60, hầu như tất cả các ngành, kể cả quân đội, mới có những chuyên viên, những nhà lãnh đạo thực sự tốt nghiệp ở trong nước. Quân đội có những sĩ quan tinh nhuệ gốc từ các trưòng võ bị Nam Định, Thủ Đức, Đà Lạt. Bệnh viện thêm nhiều tân bác sĩ, cán sự y tế xuất thân từ Sài Gòn và Huế. Trường học do các giáo chức từ các trường sư phạm điều hành và giảng dạy. Mọi ngành nghề đều có những cán bộ, công chức lớn lên dưới chính thể Quốc Gia thời quốc trưởng Bảo Đại hoặc chính thể VNCH, được đào tạo ở trong nước, tin tưởng vào giá trị nhân bản và dân tộc, dân chủ của chế độ, làm việc và cọ xát với xã hội, thực sự gắn bó với chính thể, và chiến đấu hết mình nhằm bảo vệ nền tự do dân chủ của miền Nam Việt Nam. Chỉ tiếc một điều là khi thế hệ mới nầy thực sự làm chủ đất nước, chiến đấu vì nền tự do dân chủ của miền Nam Việt Nam, chưa kịp củng cố chế độ thì thời thế thay đổi, bàn cờ thế giới xoay chiều, nên quân dân miền Nam đành buông súng.

Những cuộc tuẫn tiết: Ngày 30-4-1975, trong khi Quốc tế cộng sản hậu thuẫn cho quân đội cộng sản Bắc Việt tấn công miền Nam Việt Nam thì miền Nam Việt Nam bị Đồng minh bỏ rơi. Chính thể VNCH sụp đổ. Rất nhiều người đã tuẫn tiết. Tuẫn tiết ngay ngày 30-4-1975 hay tuẫn tiết âm thầm trong các trại tù cộng sản trên rừng thiêng nước độc. Càng ngày người ta càng phát hiện những anh hùng vô danh tuẫn tiết sau ngày 30-4-1975.

Nhận xét thứ nhất, những người tuẫn tiết là những nhân vật trung nghĩa với chính thể VNCH, can trường, dũng cảm, tinh thần trách nhiệm cao, lấy cái chết để đền nợ nước non, vì tự cảm thấy không đủ sức bảo vệ nền dân chủ tự do son trẻ của miền Nam Việt Nam. Hầu như toàn thể những người tuẫn tiết ngày 30-4-1975 và ở trong các trại tù cộng sản đều thuộc vào thế hệ những người đã được đào tạo dưới chính thể QGVN và VNCH, tận lực chiến đấu để bảo vệ miền Nam Việt Nam, bảo vệ lý tưởng dân tộc, tự do dân chủ của chính thể Cộng hòa ở miền Nam Việt Nam.

Nhìn vào lịch sử, chưa có thời kỳ nào, chưa có chế độ nào sụp đổ mà những người tuẫn tiết nhiều như thời kỳ 1975. Cũng nhìn vào lịch sử, chưa có thời kỳ nào, chưa có chế độ nào mà những người tuẫn tiết đa dạng như thế. Dưới chế độ quân chủ, chỉ có một số ít, rất ít các tướng lãnh và quan lại cao cấp hy sinh vì lòng trung quân ái quốc. Với chủ nghĩa cộng sản, chỉ những thường dân hay binh sĩ cấp nhỏ bị nhồi sọ và bị lừa phỉnh nên đã hy sinh hoặc bị làm vật hy sinh cho đảng CS và cho các lãnh tụ đảng CS. Đàng nầy, chính thể VNCH sụp đổ, không ai bắt họ tuẫn tiết, nhưng họ vẫn nhất quyết hy sinh. Những người tuẫn tiết năm 1975 không phải chỉ có hàng tướng lãnh, mà rất nhiều sĩ quan trung cấp và binh sĩ tuẫn tiết. Còn có một số quân nhân tuẫn tiết tập thể. Những anh hùng nầy tự nguyện tuẫn tiết vì lý tưởng tự do dân chủ VNCH chứ không vì một cá nhân nào cả.

Khi quyết định khởi nghĩa năm 1930, dầu trong thế yếu, Nguyễn Thái Học đã khuyến khích đồng đội: “Không thành công thì thành nhân.” Câu nầy bắt nguồn từ ý nghĩa của thành ngữ chữ Nho: “Sát thân thành nhân”, nghĩa là chịu chết (tự giết mình) để hoàn thành đạo “nhân”, tức đạo làm người, xem đạo làm người lớn hơn thân mình.

Những người tuẫn tiết năm 1975 đúng là những người “sát thân thành nhân”, thực hiện đạo làm người đối với dân tộc, tận trung báo quốc. Chẳng những thế, những anh hùng tuẫn tiết năm 1975 còn tự sát thân để phản đối chế độ CS diệt chủng, phi nhân, báo động cho toàn thể nhân loại nguy cơ CS trên thế giới. Mãi đến hơn 30 năm sau, ngày 25-1-2006, Quốc hội Âu Châu họp tại Strasbourg (Pháp) với đa số áp đảo, 99 phiếu thuận, 42 phiếu chống, mới đưa ra nghị quyết số 1481, lên án chủ nghĩa cộng sản là tội ác chống nhân loại, và các chế độ toàn trị cộng sản đã vi phạm nhân quyền tập thể. Nghị quyết nầy càng làm sáng tỏ và tăng giá trị những anh hùng tuẫn tiết ở miền Nam Việt Nam năm 1975.

Vai trò lịch sử: Chủ nghĩa dân tộc bị người Pháp đàn áp và bị cộng sản quốc tế đánh phá, bắt đầu được phục hồi với dưới các chính thể QGVN và VNCH, lại bị CS chôn vùi lần nữa vào năm 1975.

Những anh hùng tuẫn tiết năm 1975 thuộc thế hệ lớn lên và đào tạo thời QGVN và VNCH, chính là kết quả của nền giáo dục ở miền Nam Việt Nam là nền giáo dục nhân bản, dân tộc và khai phóng, lấy con người làm trọng, theo truyền thống văn hóa dân tộc, không có tính cách giáo điều hay nhồi sọ bất cứ lý thuyết chính trị hay tôn giáo nào.

Những cuộc tuẫn tiết năm 1975 đã làm sáng tỏ hơn nữa chính nghĩa chiến đấu của quân dân miền Nam, để bảo vệ miền Nam tự do, chống lại chủ nghĩa cộng sản quốc tế. Những anh hùng tuẫn tiết đã hy sinh sự sống của họ, nhưng chính những sự tuẫn tiết đó trở thành sự sống vĩnh cửu của VNCH trong lịch sử dân tộc, đồng thời đã thổi một luồng sinh khí mới vào sinh mệnh chính trị VNCH, lưu truyền chính nghĩa VNCH, dầu chính thể VNCH sụp đổ năm 1975.

Chính nhờ thế, cho đến nay, gần bốn chục năm sau, dầu không chính quyền, không lãnh thổ, dòng sống VNCH vẫn tồn tại khắp nơi trên thế giới. Chính nghĩa VNCH dựa trên nền tảng dân tộc là điểm tựa tinh thần cho toàn thể người Việt hải ngoại quy tụ lại với nhau dưới lá Cờ vàng ba sọc đỏ, biểu tượng của chính thể VNCH. Có thể nói, quanh khắp quả địa cầu nầy, Cờ vàng ba sọc đỏ hiên ngang phất phới tung bay khắp bốn phương trời, trong khi lá cờ CSVN, tượng trưng cho chế độ đang cai trị hiện nay ở trong nước, thì núp trong nhà, chỉ ru rú trong các tòa đại sứ hay các tòa lãnh sự mà thôi. Trong lịch sử thế giới, chưa có một hiện tượng nghịch lý nào lạ lùng như thế.

Điểm đáng nói nữa là trong gần bốn chục năm qua, khi làm lễ Kỷ niệm ngày Quốc hận 30-4, đồng bào hải ngoại luôn luôn dâng hương tưởng niệm những anh hùng tuẫn tiết. Anh hồn những anh hùng tuẫn tiết đã hòa nhập vào hồn thiêng sông núi, nuôi dưỡng vững chắc niềm tin vào chính nghĩa dân tộc và tình tự quê hương trong lòng người Việt khắp thế giới.




HONNEUR à nos SOLDATS morts pour la LIBERTÉ
Vinh danh những chiến sĩ của chúng ta đã hy sinh vì tự do.
(Paris 27-4-1975 – Nguồn: Hình Internet)


KẾT LUẬN

Tóm lại, trong thời kỳ quân chủ hay quốc gia dân chủ, người Việt chiến đấu, hy sinh vì quyền lợi dân tộc. Trong thời kỳ cộng sản, người cộng sản cho rằng họ chiến đấu vì quyền lợi dân tộc, nhưng thật sự họ bị tập đoàn lãnh đạo CSVN phỉnh gạt và sử dụng công sức của họ để phục vụ cho quyền lợi của quốc tế CS như Lê Duẫn đã tuyên bố: “Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc.” Ngày nay, QTCS không còn, nhưng CSVN vẫn tiếp tục thần phục Trung Cộng.

Năm 1975, VNCH sụp đổ. Những anh hùng tuẫn tiết năm 1975 đã viết lên một bản chính khí ca mới, bản tân chí khí ca, làm sáng tỏ đại nghĩa dân chủ tự do, nuôi dưỡng tinh thần dân tộc, tạo động lực thúc đẩy toàn dân Việt Nam quyết tâm tiếp tục cuộc tranh đấu, chống chế độ cộng sản độc tài toàn trị lệ thuộc Trung Cộng. Cuộc tranh đấu mới nầy có thể chậm, nhưng chắc chắn sẽ thành công. Việt Nam thân yêu sẽ trở lại tự do, dân chủ và độc lập.

Trần Gia Phụng






Saturday, April 14, 2012

CĐNVTD-NSW_Úc châu: Thông báo Biểu tình tại Canberra



Biểu tình tại Canberra

Ngày thứ Bảy 28/04/2012 trước toà đại sứ Việt Cộng
    Chương trình ngày 28/04/2012:

    6 giờ 30 sáng: Lễ Thượng Kỳ tại công viên Cara-Vale park, Railway Parade, Cabramatta
    11 giờ 30 sáng: Biểu tình trước toà đại sứ Việt Cộng, Canberra
    2 giờ chiều: Lễ Đặt Vòng Hoa & Tưởng Niệm tại Đài Tưởng Niệm Chiến Tranh Việt Nam, Canberra

    Xe buýt đưa đón đồng hương tại:

    Marrickville: 6 giờ sáng trước RSL Club, Marrickville
    Bankstown: 6 giờ 30 sáng trước Phở An, Greenfield Pde, Bankstown
    Cabramatta: 7 giờ sáng trước Thư Viện Cabramatta, Cabramatta