Saturday, June 18, 2011

ĐẢNG CƯỚP - Trần An Bài



Trần An Bài

Mỗi khi năm hết Tết đến, ai cũng có cảm tưởng: Thời gian đi mau quá! Mới hôm nào đây còn nghe tiếng súng nổ vang trời trong dịp Tết Mậu Thân 1968, mà nay đã tròn 40 năm rồi!

Mới ngày nào đây, đồng bào miền Nam Việt Nam (VN) còn miệt mài lo việc nhà việc nước. Vậy mà chỉ trong khoảnh khắc, nước mất nhà tan, họ hốt hoảng tìm đường tị nạn, với những tiếng thở vắn thở dài đầy uất nghẹn!

Mới ngày nào đây, Nguyễn Minh Triết, một anh chàng thất học, giả mạo bằng cấp để gia nhập ngành sĩ quan Cảnh Sát tại Học Viện Canh Sat Quoc Gia, nhưng khi vừa bị phát giác thì chàng bỏ trường, trốn thày, trốn bạn, đi theo Đảng cướp, để rồi ngày hôm nay, thầy của chàng, bạn của chàng phải bỏ nước đi tỵ nạn. Còn chàng thì lọt vào ghế Chủ Tịch Nhà Nước ! Đảng cướp của chàng có tên thật là Đảng Cộng Sản Việt Nam (CSVN). Cuộc đời, thật lắm chuyện trớ trêu !

Tại sao người ta lại gọi Đảng CSVN là Đảng Cướp ? Bởi vì điều 23 Hiến Pháp Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam định rằng: "Tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức, không bị quốc hữu hóa". Có nghĩa rằng tuy mang danh là Cộng Sản, nhưng chế độ Cộng Sản đã bị thế giới khai tử rồi. Thành ra, CSVN bây giờ không còn là Cộng Sản nữa, mà đang bám gót theo tư bản chủ nghĩa. Người dân Việt Nam hiện nay có quyền tư hữu, có quyền làm chủ động sản và bất động sản. Ngày xưa, khi chủ thuyết Cộng Sản còn đang hưng thịnh, Đảng CSVN đã xảo quyệt tịch thu rất nhiều cơ sở của các tôn giáo để hạn chế việc hành đạo và giữ đạo của các tín hữu. Điển hình là đất đai của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam (GHCGVN) đều có bằng khoán chứng minh sở hữu chủ từ bao nhiêu năm nay, trước khi Đảng CSVN nứt mắt chào đời. Vậy mà khi nắm được quyền hành, Đảng này phát động chiến dịch tịch thu các tài sản đó một cách bất hợp pháp, chà đạp lên chính luật lệ mà họ đã viết ra.

Điều 23 Hiến Pháp của CSVN đã xác nhận quyền tư hữu của dân chúng và các tổ chức tư nhân, nhưng Đảng này đã đưa ra nguyên tắc sau đây để che đậy hành vi ăn cướp tài sản của người dân: "Dân là chủ, Nhà Nước quản lý và Đảng lãnh đạo". Tiêu chuẩn gì mà rừng rú, ngược đời như vậy?

Nếu thực sự dân là chủ tài sản thì theo nguyên tắc thông thường, dân có quyền tự quản lý tài sản của mình hoặc nếu ký giấy giao quyền quản lý cho người khác trong một thời gian nhất định nào thì sau khi hết hạn quản lý, sở hữu chủ có quyền thu hồi tài sản. Quản lý có bổn phận phải giao trả tài sản về cho sở hữu chủ ngay khi được yêu cầu.

Trên thực tế, tại Việt Nam, mọi việc đã không diễn tiến một cách hợp tình, hợp lý như vậy. Theo sự lãnh đạo tối cao của Đảng, Nhà Nước tự ý ban cho mình quyền quản lý, bất chấp người dân là chủ có đồng ý hay không.

Giáo Hội Công Giáo VN không hề bao giờ ký giấy hợp pháp trao quyền quản lý đất đai cho Nhà Nước. Như vậy hành vi quản lý này hoàn toàn bất hợp pháp. Hơn thế nữa, đã từ bao nhiêu năm nay, GHCG liên tục, nhưng cương quyết đòi lại những tài sản đã bị Nhà Nước chiếm giữ bất hợp pháp.

Và việc gì phải đến đã đến. Hiện nay, hàng ngàn giáo dân đã nhất loạt đứng lên tại Hà Nội để đòi lại nhà đất của Giáo Hội đã bị Đảng CSVN chiếm đoạt, để chia chác nhau hoặc dùng vào việc bất chính.

Trước tình thế khó xử này, Đảng CSVN đã chống chế một cách rất ấu trĩ: Chính phủ muốn dùng đất đó để xây trường học hay làm nhà cô nhi. Hoàn toàn là ngụy biện ! Nguyên tắc sơ đẳng mà Đảng cần biết là không ai có thể đi ăn cướp ngân hàng để lấy tiền nuôi người nghèo. Không thể dùng cứu cánh để biện minh cho phương tiện. Tài sản đã có chủ phải trả lại cho chủ của nó. Nếu Đảng muốn có cơ sở làm việc công ích thì hãy dùng tài sản của Nhà Nước mà làm. Rất nhiều cơ sở của Nhà Nước đang được sử dụng rất lãng phí. Ví dụ: Cái Lăng ở Ba Đình đang dùng để ướp xác thối của Hồ Chí Minh nên dẹp đi, vì nó hôi thối, trái tự nhiên, phản khoa học và vô tích sự. Với cái mảnh đất mênh mông bát ngát đó, Nhà Nước có thể xây được biết bao nhiêu trường học, bệnh viện hoặc cô nhi viện.

Trên phương diện hình luật, hành vi Đảng chiếm đoạt tải sản của dân đã hội đủ yếu tố của tội ăn cướp và Đảng lãnh đạo cuộc ăn cướp này phải được xếp vào loại Đảng Cướp quy mô nhất trong lịch sử loài người.

Một tên đạo tặc cạy cửa ban đêm, dùng vũ khí hăm dọa khổ chủ để lấy đồ đạc trong nhà. Đó là hành động ăn cướp. Còn Đảng CSVN công khai tước đoạt tài sản của dân chúng giữa ban ngày và chủ nhà đốt nến ban đêm cầu khẩn đòi lại thì Đảng cho đó là hành vi phạm pháp, phá rối trật tự công cộng. Ông cha chúng ta đã để lại một câu ca dao thật chí lý:
    Con ơi, nhớ lấy lời này:
    Giặc đêm là cướp, giặc ngày là quan.
    Đảng CSVN quả đúng vừa là "quan" vừa là "cướp"!
Có bao giờ Đảng Cộng Sản nghĩ rằng nếu "Dân làm chủ, Nhà Nước quản lý và Đảng lãnh đạo" thì vợ của các đồng chí cũng phải do Nhà Nước quản lý, rồi một ngày nào đó, qua sự lãnh đạo tối cao của Đảng, Nhà Nước giao vợ Thủ Tướng cho Chủ Tịch Quốc Hội quản lý, giao vợ Chủ Tịch Nhà Nước cho Chủ Tịch Mặt Trận Tổ Quốc quản lý hoặc giao bà phó Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân cho ông Trưởng Ban Tôn Giáo quản lý. Liệu như vậy có được hay không ? Các "quan" Cộng Sản có đồng ý như vậy hay không ?

Đảng CSVN xưa nay vẫn rêu rao rằng họ đã lãnh đạo nhân dân đánh Pháp, đuổi Mỹ. Thế nhưng tại sao ngay lúc này đây, Trung Cộng ngang nhiên lấn biên giới, cướp Hoàng Sa và Trường Sa của đất nước VN, mà Đảng vẫn câm, Nhà Nước vẫn điếc và Mặt Trận Tổ Quốc vẫn mù. Không ai dám đả động gì tới quan thày Trung Cộng, dù chỉ là một lời phản đối xuông? Phi lý hơn nữa, khi nhân dân và thanh niên yêu nước nổi dậy biểu tình phản đối Trung Cộng thì Đảng lại ra lệnh đàn áp các cuộc biểu tình ấy ? Có gan đánh Pháp, có gan đuổi Mỹ, mà sao không có gan giết Tàu ?

Tại sao lại có sự kiện vô lý như vậy?

Câu trả lời cho vấn nạn trên thật quá rõ ràng: Tất cả những cái mà xưa nay Đảng vẫn huyênh hoang gọi là "thành tích đánh Pháp, đuổi Mỹ" đều là giả dối, bịp bợm hết. Lịch sử chiến tranh Việt Nam đã được giải mã và đã chứng minh rằng Đảng CSVN không bao giờ đủ khả năng đánh Pháp. Chính Trung Cộng đã đem vũ khí và quân đội đánh dùm trận Điện Biên Phủ.

Đảng cũng không đủ sức mạnh đuổi Mỹ khỏi VN, mà chính Trung Cộng đã đuổi dùm cho họ. Chứng cớ là sau khi Kissinger và cựu TT. Nixon viếng thăm Trung Cộng năm 1972 thì chỉ một năm sau, hai quốc gia này đã trả giá xong xuôi cho cuộc bán đứng Miền Nam VN bằng hiệp định Paris 1973. Cũng chính vì thế, ngày nay Trung Cộng chiếm đất đai của VN thì Đảng CSVN đành ngậm đắng nuốt cay, im lặng một cách nhục nhã.

Đảng CSVN đã được Tướng Cướp Trung Cộng vẽ đường chỉ lối cho đi ăn cướp. Nay đến lượt chính thày đi ăn cướp trò thì làm sao trò biết đường nào mà chống trả ?

Hiểu được sự thực này rồi thì ngọn đuốc đòi Công Lý sẽ được mỗi người dân Việt nhen nhúm, mỗi gia đình nhen nhúm, mỗi tôn giáo nhen nhúm, mỗi tổ chức nhen nhúm; miền Bắc đốt lên, miền Trung đốt lên, miền Nam đốt lên, khắp nơi đốt lên. Rồi tới một ngày, cả nước sẽ biến thành một khối lửa hùng vĩ, thiêu rụi hết mọi tàn dư của Đảng CSVN.

Chắc chắn bài kinh Hòa Bình mà giáo dân Hà Nội đang hát hôm nay sẽ là ca khúc Khải Hoàn cho ngày mai. Ngày đó chắc hẳn sẽ không còn xa.

Tiến Sĩ Trần An Bài


Ngày Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa 19-06






Cố vấn Ngô Đình Nhu
6 tháng 8 năm 1960: “Các bạn ra đi hôm nay, là đã vượt ra khỏi tầm bảo vệ của chính phủ. Ra đi, có thể các bạn không hẹn ngày về. Những người con ưu tú của Dân Tộc, đêm nay giã từ Thủ Đô, để lao vào vùng địch, chiến đấu cho tự do và độc lập của Tổ Quốc, cho hòa bình. Vì hẳn các bạn cũng biết, Việt Nam là tiền đồn của thế giới tự do. Các bạn là những Chiến Sĩ Tiên Phong, đi chiến đấu ngay trong lòng địch; để ngăn chặn làn sóng cộng sản xâm nhập vào Nam, tiến đánh hậu phương chúng ta. Đây là một sứ mạng hết sức to lớn, và rất đáng cảm phục.

Thay mặt Tổng Thống, thay mặt chính phủ, tôi trân trọng gởi đến các bạn lời khen ngợi ý chí vô cùng cam đảm của các bạn, lòng yêu nước vô bờ bến của các bạn, khi đơn thương, độc mã dấn thân vào đất địch, để chịu trăm ngàn nguy hiểm, mà không được một sự yểm trợ nào cả. Xin cầu chúc các bạn vượt qua mọi gian lao, nguy hiểm và thành công trong sứ mạng”.













Vinh Danh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa
19-06-2011

teolangthang.blogspot.com

Nhật Lệnh Ngày Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa
19-06-1973
Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu






“Trung thành với Tổ Quốc – Xả thân vì lý tưởng Quốc Gia”



Gửi Súng Cho Tao
Nguyễn Cung Thương

Tao cụt một chân một tay
Nhưng còn một tay
Viết thư giùm cho thằng mù hai mắt
Nghe nói ở xứ người chúng mày "cày" như trâu
Nhưng không quên đồng đội
Chia đôla cho chúng tao, như chia máu ngày nào
Tao cũng sớt cho mấy thằng bạn: phế binh Việt Cộng!
Chúng cũng què đui sứt mẻ như nhau
Bởi đảng của chúng bây giờ là lũ đầu trâu...
Có điều tao không thể hiểu
Bao nhiêu năm qua
Chúng mày cứ mãi dặn dò
Thế giới văn minh, đừng làm gì bạo động
Liệu chúng mày có thể hoà hợp được không
Với lũ kênh kênh hổ báo?
Những con thú cực kỳ giàu có
Mang "thẻ đỏ , tim đen"
Nợ Nga, sợ Tầu, lạy Mỹ
Với quan thầy cung cúc tận tụy
Quay về đàn áp dân đen
Chúng đóng đinh Jesus lần nữa
Bịt Miệng Cha, trói Phật, nhốt Sư quản lý chùa
Chúng tao lết lê trên thành phố Cáo Hồ
Nên biết rõ từng tên đại ác
Trên bàn tiệc máu xương dân tộc
Nhà hàng nào chúng cũng ăn nhậu
Bé gái nào cũng bị chúng mua trinh!
Chúng ta sẽ tỉa từng thằng
Đất nước cần nhiều "quốc táng"
Bớt được mạng thằng Cộng Sản nào
Thì địa ngục xã hội chủ nghĩa này
Còn có chút sáng láng hơn
Hãy gửi tiền cho những nhà tu
Để họ mở cửa nhà tù
Còn chúng tao là chiến sĩ
Hãy gửi về cho chúng tao vũ khí
Thằng cụt tay sẽ chỉ cho thằng mù mắt bấm cò
Thằng còn chân sẽ cõng thằng què quặt
Trận chiến sau cùng này sẽ không có Dương Văn Minh!

Nguyễn Cung Thương
Sàigòn, VN
Nguyễn thị Thảo An

Không biết bắt đầu từ thuở nào có một quy luật hình thành là ở một thể chế chính trị, đều thành lập một lực lượng để bảo vệ mình, lực lượng đó được gọi là quân đội. Quân đội sinh ra từ chế độ và nó cũng vẽ nên những chân dung của chế độ. Chế độ tốt sẽ xây dựng nên một quân đội tốt. Quân đội tốt sẽ không dung dưỡng một chế độ xấu.

Từ hơn hai nghìn năm về trước, người lính Việt Nam với chiếc áo trấn thủ, mang gươm giáo ngàn xưa để gồng gánh trên vai những nhiệm vu giết thù diệt loạn, bảo quốc an dân, giữ gìn cơ nghiệp của tiền nhân. Trải qua bao thăng trầm của đất nước, hình ảnh của người lính thay đổi qua bao thời thế, nhưng trách nhiệm không hề thay đổi.

Người thanh niên tuổi trẻ Việt Nam từ khi bước vào quân trường, khoác vội bộ đồ trận, lưng mang vác ba lô cho tới khi anh đứng nghiêm với lời tuyên thệ Vị Quốc Vong Thân. Người tuổi trẻ đã trở thành người lính. Anh trưởng thành hơn bóng dáng của quê hương. Người lính với chiếc nón sắt xanh đậm tròn tròn như nửa vầng trăng in rõ bóng trên nền trời xanh lơ. Anh đã bước ra, tay ôm súng và chân mang giày trận, anh giẫm mòn nửa vòng đất nước đi canh giữ cho quê hương.

Bắt đầu từ thập niên Sáu Mươi, khi kẻ thù phương Bắc, với xe tăng súng cối, với những chủ thuyết ngoại lai, với những xích cồng nô lệ, đã toan tính nhuộm đỏ quê hương, thì từ đó, người lính đã hiện diện trong tuyến đầu lửa đạn. Anh mang vác hành trang, chiếc ba lô nặng cồng kềnh để chận bước quân thù, để bảo vệ miền Nam.

Ðất nước hai mươi năm chiến tranh, hai mươi năm dài người lính hầu như không ngủ. Hai mươi năm có tới mấy ngàn ngày để anh đi từ sáng tinh mơ, chân giẫm ướt ngọn sương mai trên cỏ. Hai mươi năm có tới mấy ngàn đêm, bóng anh mịt mờ trong núi rừng lạnh giá. Hai mươi năm, anh nghe tiếng đại bác vang trời không nghỉ.

Tiếng mưa bom đạn réo bên mình. Tiếng xe tăng nghiền nát đường quê hương. Hai mươi năm, anh đã đem sinh mạng của mình đặt trên đường bay của đạn. Ðã đem hy vọng cuộc đời đặt trên khẩu súng thân quen. Hay đã đem tình yêu và nỗi nhớ đặt trên đầu điếu thuốc. Hai mươi năm chiến tranh có bao ngày anh được ngủ yên trên chiếc giường ngay ngắn. Có bao đêm anh mơ được trọn giấc bình yên. Hay anh đã sống thân quen với đời gian khổ và đánh bạn với gian nguy.

Anh với đầu đội súng và vai mang ba lô, lội qua những vũng sình lầy nước ngang tầm ngực. Anh đã đi qua những địa danh xa lạ: Ashau , Ia Drang, Kontum, Pleime, nơi giơ bàn tay cũng không thấy được bàn tay. Hay anh truy địch ở bờ sông Thạch Hãn lừng lững sương mai, ở phá Tam Giang sóng vỗ kêu gào hay ở Cổ Thành xứ Huế mù sương. Dài dọc xuống Miền Nam với rừng Tràm, rừng Ðước, đến Ðồng Tháp Mười anh đã nghe muỗi vo ve như sáo thổi.

Anh đã đến những nơi mà anh không tưởng, anh đi diệt địch và anh đã ngã xuống địa danh chẳng quen dấu chân anh. Người lính nằm xuống ở Miền Nam xanh tươi ngọn mạ, ở những vùng trầm se rét Miền Trung, hay ở Miền Ðông xác thân thối rửa Từ Ấp Bắc, Ðồng Xoài, Bình Giả … cho tới Tống Lê Chân, An Lộc, Bình Long, người lính đã căng rộng tấm poncho để che kín bầu trời Miền Nam được yên ấm tự do. Nối gót tiền nhân, người lính, mỗi người lính đã đem 3.8 lít máu tươi, tưới cho thắm tươi hoa lá ruộng đồng, đã đem mỗi một 206 lóng xương khổ nạn của mình cắm trăm nẻo đường quê hương muôn ngã, để cho chính nghĩa quốc gia tự do được tồn tại. Ðể cho người dân quốc gia được sống no ấm ở hậu phương.

Những người dân quốc gia, những người dân quốc gia không hề muốn trở thành dân Cộng Sản, những người quốc gia luôn muốn bỏ chạy khi Cộng Sản tới và núp bóng người lính để được sống an nhàn ở chốn hậu phương. Họ hoàn toàn trao trọng trách bảo vệ quốc gia, ngăn thù dẹp loạn như một thứ công việc và trách nhiệm của người làm nghề lính, như thể không liên quan gì tới họ. Và họ tự trấn an lương tâm rằng người lính sẽ không bao giờ buông súng và sẽ mãi mãi bảo vệ họ tới cùng. Vì thế, họ luôn yên tâm sống ở hậu phương, yên tâm kiếm tiền và tranh đua đời sống xa hoa phè phỡn trên máu xương của người lính.

Và ở hậu phương, người lính đồng nghĩa với nghèo, đời lính tức là đời gian khổ, và tương lai người lính đếm được trên từng ngón tay. Thế nên, người lính về hậu phương, anh ngỡ ngàng và lạc lõng. Bỗng hình như anh cảm thấy mình như người Thượng về Kinh. Như vậy thì người ta tội nghiệp người lính và yêu người lính để thể hiện tình quân nhân cá nước trong sách vở, báo chí và truyền hình.

Người lính bị bắt cóc vào văn chương tiểu thuyết là những người lính giấy, vào văn chương để tự phản bội chính mình, để thoả mãn cho những kẻ trông con bò để vẽ con nai, và ngồi phòng khách để diễn tả chiến trường đỏ lửa. Người lính trên trang giấy ngang tàng và hung bạo, chửi rủa chính phủ, chống chính quyền và ghét cấp chỉ huy, lính la cà trong quán rượu, uống rượu chẳng thấy say, và càng say càng đập phá. Người lính xuất hiện trên sân khấu thì phong lưu và đỏm dáng hay trắng trẻo no tròn. Anh mặc đồ trận mới toanh còn nguyên nếp gấp, ngọt ngào chót lưỡi đầu môi anh ca bài ca mời gọi ái tình, à người yêu của anh lính là những cô mắt ướt môi hồng, áo quần xa hoa lộng lẫy, thề non hẹn biển yêu lính trọn kiếp trong ti vi. Như vậy thì quá mỉa mai cho cái gọi là anh trai tiền tuyến, em gái hậu phương. Trong khi đó, ở ngoài đời những người vợ lính là những người chống giữ thầm lặng ở xã hội hậu phương.

Ðó là những người đàn bà bình dị với tấm áo vải nội hoá rẻ tiền, với đôi guốc vông kẽo kẹt, đóng vai vừa là người mẹ vừa là người cha nuôi con nhỏ dại, gói ghém đời sống bằng lương người chồng lính chỉ vừa đủ mua nửa tháng gạo ăn. Ðó là những người đàn bà tất tả ngược xuôi, lăn lộn thăm chồng ở các Trung Tâm Huấn Luyện, hay ở những nơi tiền đồn xa xôi với vài ổ bánh mì làm quà gặp mặt. Ðó là những người âm thầm và lặng lẽ, chịu đựng và hy sinh để chồng luôn an tâm chống giữ ngoài trận tuyến với đối phương.

Hạnh phúc của họ mong manh và nhỏ bé, bất chợt như tình cờ. Có thể ở một thỏi son nhỏ bé mà người lính mang về để tặng vợ, có thể là một chiếc nón bài thơ, hay chút tình cờ ở một buổi tối người lính chợt ghé nhà thăm vợ. Hạnh phúc ở trong chén trà thơm uống vội, hay ở lúc nhìn đứa con bé nhỏ chào đời tháng trước.

Người vợ lính cũng là những người hằng đêm thức muộn để lắng tai nghe tiếng đại bác thâu đêm, rồi định hướng với lo âu trằn trọc. Ðó là những người đàn bà mà sau mỗi lần đơn vị chồng đụng trận, đi thăm chồng giấu giếm mảnh khăn sô.

Trong nỗi chịu đựng hy sinh, âm thầm và kỳ vĩ, họ vẫn sống và luôn gắng vượt qua để cho người chồng an tâm cầm súng. Ðể anh, người lính, anh mang sự bất công to lớn, sự bạc đãi phũ phàng, anh vẫn đi và vẫn sống, vẫn chiến đấu oai hùng giữa muôn ngàn thù địch.

Ở chiến trường, anh đối diện với kẻ thù hung ác, ở hậu phương anh bị ghét bỏ khinh khi, trên đầu anh có lãnh đạo tồi, sẵn sàng dẫm xác anh để cầu vinh cho họ, đồng minh anh đợi bán anh để cầu lợi an thân.

Những người dân của anh, những người anh hy sinh để bảo vệ từ chối giúp anh truy lùng kẻ địch, và điềm nhiên để anh lọt vào ổ phục kích của địch quân. Những người dân bán rẻ linh hồn cho quỷ, tiếp tay cho địch thác loạn ở hậu phương, đó là những kẻ chủ trương đòi quyền sống, trong đó không bao gồm quyền sống của anh.

Những kẻ để trái tim rung động tiếc thương cho cái chết của kẻ thù nhưng dửng dưng trước sự ngã xuống của anh. A dua, xu thời là bọn báo chí ngoại quốc thiên tả, lệch lạc ngòi bút, ngây thơ nhận định, mù quáng trong định kiến. Tất cả vây quanh anh để tặng cho anh những đòn chí tử. Người lính bi hùng và bi thảm. Anh chống địch mười phương, tận lòng trong đơn độc, anh vẫn hy sinh và chống giữ tới hơi thở cuối cùng.

Ngày Hoà Bình, 28 tháng Giêng năm 1973 hiệp định Paris được ký kết Hoà Bình thật đến trên trang giấy, đến với thế giới tự do. Thế nên, thế giới tự do nâng ly để chúc mừng cho hoà bình của họ và nhận giải Nobel. Nhưng hoà bình đến ở Việt Nam tanh hôi mùi máu, đen ngòm như tấm mộ bia. Và anh, anh là vật thụ nạn trong cái hoà bình bi thảm.

Người lính vẫn tiếp tục ngã xuống, đem xác thân đắp nên thành luỹ để ngăn bước quân thù. Từ Ðông sang Tây, từ Nam chí Bắc, từ ngàn xưa và cho tới ngàn sau, có một quân đội nào mang số phận bi thương và oai hùng như người lính Việt Nam Cộng Hòa?

Những người lính chịu uống nước rễ cây và đầu không nhấc thẳng, đi luồn dưới Rừng Sát suốt 30 ngày không thấy ánh mặt trời. Những người lính đi hành quân mà không người yểm trợ để hai ngày ăn được bốn muỗng cơm, hay ăn luôn năm trái bắp sống và những lá cải hư mục ruỗng, miệng thèm một cục nước đá lạnh giữa cái nắng cháy da.

Người lính, người ở địa đạo Tống Lê Chân ăn côn trùng để tử thủ giữ ngọn đồi nhỏ bé. Người nằm xuống ở An Lộc, Bình Long. Và thủ đô, vòm trời thân yêu mà anh mơ ước để tang truy điệu cho anh chỉ có ba ngày. Ba ngày cho sinh mạng của năm ngàn người ở lại. Người ta lại tiếp tục vui chơi và quên đi bất hạnh. Bởi bất hạnh nào đó chỉ là bất hạnh của riêng anh.

Người lãnh đạo anh còn mè nheo ăn vạ. Và anh, anh phải đóng trọn vai trò làm vật hy sinh. Trước nguy nan, lãnh đạo anh tìm đường chạy trốn thì anh vẫn còn cầm súng ở tiền phương. Anh đã chống giữ, chịu đựng từng đợt xung phong ở Ban Mê Thuột mỗi ngày 24 giờ, không có ai yểm trợ, tiếp tế từ hậu phương. Nhưng ở đó, anh vẫn phải tử thủ cho con đường tẩu thoát của cấp lãnh đạo anh tuyệt đối được bình yên.

Và đồng minh của anh, người đồng minh đã từng sát cánh, cùng chia sẻ nỗi gian nguy ở Hạ Lào, Khe Sanh dưới trời mưa pháo, nay lại nghiễm nhiên nhìn anh đi những bước cuối cuộc đời. Phải chăng nhân loại đang trút những hơi thở cuối cùng nên lương tâm con người đang yên nghỉ ?

Cho nên, cả thế giới lặng câm để nhìn anh chết. Không chỉ cái chết riêng cho mỗi mình anh, vì bởi dưới đuờng đạn xuyên qua, xác thân anh ngã xuống thì đau thương đã vụt đứng lên. Cái bi thương có nhân dáng lớn lên và tồn tại suốt ngang tầm trí nhớ. Và người lính, anh vẫn kỳ vĩ và chịu đựng như vị thần Atlas mang vác quả địa cầu, người lính đã mang vác và bảo vệ mấy trăm ngàn người dân trên đường triệt thoái.

Trên những con đường từ Cao Nguyên không thiếu những người lính gồng gánh cho những người cô dân chạy loạn. Tay anh dẫn em thơ, tay dắt mẹ già chạy trong cơn mưa pháo. Và anh đã làm dù, làm khiên đỡ đạn, cho nên thân xác anh đã căng cứng mấy đường cây số, hay xác làm cầu ở tỉnh lộ 7B, anh đã chết ở Cao Nguyên lộng gió và đếm những bước cuối đời ở ngưỡng cửa thủ đô.

Bởi lãnh đạo đầu hàng nên anh nghẹn ngào vất đi súng đạn. Với nham nhở mình trần, anh vẫn chưa tin đời đã đổi thay. Có thật không? Hai mươi năm chiến tranh kết thúc? Giã từ những hy sinh và gian khổ của hôm quả có thật không?. Ngày buông rơi vũ khí, anh mơ được về để an phận kẻ thường dân? Và có thật không? Anh được đi, được sống giữa một quê hương rối loạn tràn ngập bóng quân thù?

Anh đã khóc nhiều lần cho quê hương chinh chiến và đã khóc nhiều lần cho những xác bơ vơ. Lính khổ lính cười, dân khổ để người lính khóc. Và có ai, từng có ai trong chúng ta đã khóc thương cho đời lính?

Thương cho người lính với trái tim tan vỡ từ lâu. Bởi trái tim anh đã hơn một lần để lại dưới chân Cổ Thành Quảng Trị, ở một mùa Xuân xứ Huế năm nào, ở Hạ Lào, Tống Lê Chân hay ở trong cái nồi treo lủng lẳng trên ba lô khi anh hô xung phong để tiến vào An Lộc? Người lính thật sự trái tim anh tan vỡ từ lâu.

Lịch sử đã sang trang, và loài người đã bắt đầu đi những bước cuối cùng trên trái đất? Thế nên thời trang nhân loại là thứ phấn hương tàn nhẫn, và môi tô trét thứ son vô tình. Cả thế giới đồng thanh công nhận và gửi điện văn chúc mừng sự thống nhất ở Việt Nam. Và người ta uống chén rượu mừng để truy điệu Việt Nam đi vào cõi chết, chúc mừng Việt Nam có thêm 25 triệu nô lệ mới nhập tên. Hoà bình đã nở hoa trong cộng đồng thế giới, trong đời người Cộng Sản, nhưng hoà bình không thật đến ở Việt Nam.

Người Cộng Sản chân chính có truyền thống là những người không hề biết hoà bình, không sống được trong hoà bình thật sự. Như con giun, con dế sợ ánh sáng mặt trời. Thế nên họ dẫn dắt toàn dân đi xây dựng văn minh thời thượng.

Khởi đầu là việc cày nát nghĩa trang Việt Nam Cộng Hoà và hạ tượng Người Lính Việt Nam Cộng Hoà. Người Lính rơi xuống vỡ tan trong lòng đường phố, nhưng từ đó anh mới thực sự đứng lên, đứng thẳng và oai hùng hơn trước trong trái tim của người dân Việt Miền Nam.

Bởi từ khi những người bộ đội Cộng Sản bước chân vào thành phố, thì người dân Quốc Gia mới thật sự hiểu được giá trị của anh. Và những sự lầm lẫn và hối hận hôm nay hình như luôn theo nhau đi vào lịch sử. Vậy thì, khi ta chết trên con đường chạy loạn, khi ta chết ở bãi Tiên Sa, ta vùi thân nơi vùng kinh tế mới hay ta chìm dưới đáy biển Ðông, không phải vì khẩu súng rơi trên tay người lính, mà ta chết bởi viên đạn ích kỷ, viên đạn lãnh đạm và thờ ơ xuất phát từ trái tim bắn ngược lại chính ta. Bởi sự thật về người Cộng Sản đã đi quá tầm tưởng tượng và sự hy sinh của người lính vượt quá nỗi bi thương.

Hai mươi năm chiến tranh, hơn hai trăm ngàn người lính, hơn năm trăm ngàn thương binh đã để lại hai trăm ngàn sinh mạng và năm trăm ngàn những phần cơ thể để lại trên chiến trường khốc liệt. Ðể cho chúng ta có một bầu trời để thở, có một khoảng không gian đi đứng tự do, để cho tuổi thơ của chúng ta không phải đi lượm ve, lượm giấy, không phải đeo khăn quàng đỏ và ngợi ca những điều dối gạt chính mình.

Ðể cho bàn tay thiếu nữ không chạm bùn nhơ thủy lợi, tuổi thanh xuân không phải vùi chôn ở những gốc mì. Ðể cho bà mẹ già không phải ngồi mơ ước miếng trầu xanh, và những giọt nước mắt thôi không cần tuôn chẩy.

Nhưng lịch sử đã sang trang, những trang hồng tươi màu máu cho người Cộng Sản và cũng là những trang đẫm máu và nhơ bẩn nhất cho cả lịch sử của dân tộc Việt Nam.

Anh, người lính trong thời chiến thành người tù của thời bình. Người lính chịu số phận bi thương của chiến tranh và cũng chịu luôn số phận tàn nhẫn trong thời bình. Anh người lưu vong trong lòng dân tộc, và lưu đày ở chính quê hương anh.

Bởi Cộng Sản Việt Nam đã bắt đầu một cuộc chiến tranh mới và đẩy anh xuống đáy trầm luân. Cũng chính từ chiến trường Tù Ngục này mà Cộng Sản đã chứng minh được Chúng và Anh không là đồng loại. Chúng, là lũ Cộng Sản cuồng tín, và tàn bạo nhất giữa thế giới Cộng Sản và vô nhân. Chúng lập nên một vương quốc mới mang tên là Lừa Dối, và mở ra một kỷ nguyên giết người theo kiểu mới, giết người bằng những mỹ từ đẹp đẻ, bằng lao động vinh quang, bằng thời gian không thể đếm.

Người lính bước vào trận chiến mới, chiến trường có tên là cải tạo, và anh người tù nhân không có án. Ở đây anh không có lãnh đạo, không có đồng đội, không có hậu phương. Kẻ thù vắt cùng, vắt kiệt sức lực anh trong rừng thẳm đày đọa sỉ nhục anh dưới hố xí tanh hôi, đem thanh xuân và tài hoa của anh vùi chôn ở những vòng khoai vớ vẩn. Ðặt hy vọng của anh máng vào những mốc thời gian.

Người lính đã trở thành vật thụ nạn thời bình. Anh chết đói bên những vòng xanh nở rộ do chính tay anh cày xới vun trồng. Anh chết khát khi bên ngoài mưa rơi tầm tã. Giữa những trùng vây sóng dữ, giữa bóng tối cô đơn Anh vượt qua sự chết để đem về nghĩa sống. Anh đi xiếc qua những ranh giới tử sinh để chứng minh được phẩm giá con người. Ðôi mắt anh cao ngạo và chân đạp chữ đầu hàng.

Từ trong tăm tối hận thù, anh thắp sáng lên ý nghĩa đời người. Anh đã chiến đấu, để từ trong cõi chết anh bước ra mà sống. Ðể anh trở về từ địa ngục trần gian. Bao đồng đội bất hạnh đã ngã xuống trong rừng thẳm, cuối cùng anh đã trở về:
    Ta về cúi mái đầu sương điểm
    Nghe nặng từ tâm lượng đất trời
    Cám ơn hoa đã vì ta nở
    Thế giới vui từ mỗi lẻ loi

    Tô Thùy Yên
Nước mắt anh không rơi trong ngục tù Cộng Sản, nước mắt anh rơi khi anh được trả tự do. Anh bước về, anh đi giữa lòng quê hương. Anh ngỡ ngàng như thức từ cơn mộng. Có thật chăng đất nước Việt Nam, tàn hơn 30 năm chinh chiến và tù đày, để anh có được một đất nước thanh bình điêu tàn hơn thời chiến?

Và tuổi trẻ, những mầm non đất nước hôm nay xa lạ như người không cùng chung dòng giống. Anh đi trên đường phố xưa, đường đã đổi tên. Anh tìm bạn bè cũ, đứa còn đứa mất. Quê hương này không có chỗ cho anh?

Hai mươi năm chiến chinh, mười mấy năm tù đày trên chính quê hương để rồi anh phải tha hương biệt xứ. Người lính, mười bốn năm lính, mười bốn năm tù, tài sẵn có, được trí trá vài đô la, và mái đầu sương điểm để anh bước vào đời lần nữa.

Anh không có quyền bắt đầu, chỉ có quyền tiếp tục trôi theo dòng đời nghiệt ngã. Người lính cũ ngồi bán nước đá bào cho học trò giờ tan học ở chính quê hương. Hay anh, người lính lưu vong ngồi bán thuốc lá lẻ hằng đêm trong những tiệm Seven Eleven trên đường phố Mỹ.

Ba mươi sáu năm vết thương cũ hầu như chưa lần khép kín. Ôi, hai mươi sáu chữ cái bắt đầu từ a, b, c, đ dẫu sắp xếp khéo léo tới đâu vẫn không đủ để viết nên những bi hùng anh đã đạt. Và cần phải thêm vào bao nhiêu chữ nữa mới diễn tả lên sự xót thương anh.

Chúng ta đã quá may mắn, quá vinh dự để trang sử Việt Nam có thêm những anh hùng như người lính Việt Nam Cộng Hoà, những anh hùng vô danh và sống đời thầm lặng, những anh hùng bình thường mà ta chưa có dịp vinh danh.

Nhưng cho tới nay, ta đã làm gì để tri ân người lính Quốc Gia. Chúng ta những người dân Quốc Gia đi chung con thuyền Miền Nam do các anh chèo chống, đưa qua những con sóng dữ Việt Nam. Những người quốc gia đã sang thuyền trong cơn quốc nạn, và đã để mặc anh chìm trong cơn Hồng Thuỷ của Việt Nam.

Chúng ta, những người quốc gia tầm gửi, đã sống nhờ trên máu xương người lính, và chưa lần đóng góp nào cho chính nghĩa quốc gia. Có phải giờ đây, chúng ta tiếc thương người lính bằng đầu môi chót lưỡi, bằng những video, nức nở kêu gào, hay chúng ta khóc cho người lính bằng những trang thơ vớ vẩn? Và có ai, có ai trong chúng ta cảm thấy thẹn khi ta đã đôi lần hãnh diện vì ta nói tiếng Anh trôi chẩy hơn họ, xe ta đẹp, nhà ta to.

Ngày nay, Người Cộng Sản ở quê hương với đôi tay đẫm máu của thuở nào cũng nói lời phản tỉnh. Vậy còn ta, bao nhiêu người Quốc Gia sẽ thức tỉnh để vẽ chân dung kỳ vĩ và nhiệm màu của Người Lính chúng ta. Có ai trong chúng ta sẵn sàng chi tiêu những bữa tiệc đắt tiền trong những nhà hàng danh tiếng, mua những tấm vé vào cửa của đại nhạc hội lừng tên mà ta tiếc bỏ tiền ra để quyên góp, xây lại tượng Người Lính ở thủ đô đã ngã xuống hôm nào.

Ðể một mai, khi quê hương không còn giống Cộng Sản, ta đem anh về trở lại quê hương. Ðể anh được đứng lên chính nơi anh ngã xuống như cùng thời với đất nước lúc hồi sinh.

Bao nhiêu chuyên gia nhóm họp nhan đề “xây dựng lại đất nước trong thời hậu Cộng Sản”. Vậy có ai đã đặt kế hoạch tri ân cho người lính ? Bởi, một ngày nào mà ta chưa biết tri ân người lính và đặt họ ở một địa vị xứng đáng mà đáng lẽ họ phải ở từ lâu, thì làm sao ta có thể xây dựng được một xã hội đáng gọi là nhân bản.

Hãy vinh danh người lính Việt Nam Cộng Hoà. Hãy giữ gìn và bảo vệ tinh thần Vị Quốc Vong Thân của họ như giữ gìn ngọn lửa thiêng trong lòng dân tộc, thì dân tộc ta mới mong có được những truyền nhân xứng đáng với thế hệ tương lai.

Nguyễn thị Thảo An


Wednesday, June 15, 2011

VIỆT CỘNG LÀ THẾ LỰC XÂM LĂNG NỘI ĐỊA TÀN ĐỘC - Trương Minh Hòa

Trương Minh Hòa

Thông thường, khi nói đến giặc ngoại xâm, hay xâm lăng, người ta nghĩ ngay đến giặc từ nước ngoài đến, dung vũ lực đánh chiếm và đặt nền mống cai trị tàn ác; lý do là thế lực ngoại bang, không cùng chủng tộc, ngôn ngữ, lịch sử, nên chúng đối xử dã man với dân bị trị, dùng mọi biện pháp trấn áp để giữ đất chiếm đóng được lâu dài, vơ vét ”mạnh, sạch và hết” tài nguyên, kể cả khai thác sức người làm nô lệ.

“Mấy đời bánh đúc có xương?
Mấy đời ngoại tặc, biết thương dân mình?”

Trong suốt quá trình lịch sử thế giới, từ thời bộ lạc, đã có giặc ngoại xâm từ bộ lạc nầy sang xâm chiếm bộ lạc khác, kẻ bại trận bị mất đất, hang động ... kể cả người, suốt đời làm thân nô lệ nếu không đứng lên giành lại quyền sống, đánh lại quân thù, khôi phục chủng tộc; do đó nhiều bộ tộc đã bị sát nhập, đồng hóa vì không quật khởi, giành lại những gì đã bị mất. Bộ lạc chiến thắng trở thành kẻ ngoại xâm, đầu tiên ra tay tàn sát thanh niên, đàn ông, hãm hiếp phụ nữ và sau đó biến tất cả thành phần còn lại của bộ lạc bại trận thành nô lệ.



Thời kỳ phong kiến, các nước tranh nhau lãnh thổ, quyền lợi, nhất là các nước lớn hay mang quân xâm lăng nước khác: tại Á Châu, nổi tiếng Hán tộc, là giống dân có truyền thống hiếu chiến, xâm lược, tìm mọi cách để thôn tín nhiều nước khác, biến thành lãnh thổ, đồng hóa, nên ngày nay mới có một nước Trung Hoa rộng lớn, đông dân, là kết quả của quá trình của ”hàng ngàn năm xâm lược, cướp đất” nước khác, thủ tiêu mất văn hóa, chủng tộc, ngôn ngữ của nhiều sắc dân sống gần Hán Tộc. Một dân tộc có truyền thống xâm lược, đồng hóa các nước khác, nên Hán tộc cũng rất sợ bị các nước chung quanh trả thù, ưu tư của kẻ gây ra thù hằn, đó là lý do mà Tần Thủy Hoàng đã tốn hàng triệu sinh mạng để xây Vạn Lý Trường Thành, sợ các nước khác mang quân đến đánh.

Thời thuộc địa, các nước Âu Châu nhờ phát triển kỷ nghệ, cần tài nguyên nên mang quân sang xâm chiếm các nước ở các châu lục khác, thời kỳ vàng son thuộc địa, hầu hết các nước Âu Châu đều có thêm lãnh thổ ở ngoài nước họ; nổi bật là hai nước Anh, Pháp, có nhiều thuộc địa nhất trong số các nước.

Hình thức xâm chiếm nước khác để cai trị, bốc lột con người, vơ vét tài nguyên đã không còn hợp thời và nhất là bị lên án khi thế giới nhận ra kẻ xâm lược khác màu da, ngôn ngữ, rõ rang là giặc, nên Liên Hiệp Quốc cũng lên án. Do đó, các đế quốc Cộng Sản là Liên Sô, Trung Cộng đã ”sáng tạo” ra hình thức ”xâm lăng” hiện đại ”các nước bằng thế lực nội địa”; tức là kẻ xâm lăng vẫn có cùng huyết thống, ngôn ngữ … nhưng đầu óc của họ là hoàn toàn ”ngoại bang”, phục vụ quyền lợi ngoại bang, là thứ giặc ngoại xâm nội địa, khó nhận ra nhưng tàn ác hơn cả các thế lực ngoại xâm đã từng xuất hiện trong lịch sử nhân loại. Đây là hình thức xâm lược khéo léo, che đậy bởi: xã hội chủ nghĩa, nhà nước vô sản chuyên chính, thế giới đại đồng, quốc tế vô sản, các thế lực xâm lăng nội địa là mô thức ”xâm lược” mới của Cộng Sản, gây bao tang tóc cho nhân loại kể từ sau cái gọi là cách mạng tháng 10 năm 1917.

Thời chiến tranh lạnh, đế quốc đỏ Liên Sô đã thành công bước đầu trong việc dùng dân bản xứ để làm lực lượng xâm lược ngay chính quê hương họ; đó là những chế độ nhà nước tại một số quốc gia, do Nga dựng lên, dùng người của chính các nước bị trị trong lực lượng quân đội, công an, để trấn áp chính dân mình và bọn xâm lược nội địa chỉ nhằm phục vụ quyền lợi ngoại bang và tuân hành lịnh ngoại bang để thẳng tay tàn sát chính dân mình, mức độ tàn ác còn dã man hơn những thế lực ngoại bang trong lịch sử.

Liên Sô đã áp đặt nền độ hộ trên các nước trong khu vực liên bang Nga và dựng lên những chế độ ngoại xâm bản địa ở Ba Lan, Hung Gia Lợi, Tiệp Khác, Tây Đức … các chế độ cai trị nêu trên chính là ”thế lực xâm lăng nội địa”, thay mặt đế quốc đỏ Liên Sô để đô hộ những dân tộc bị xâm lược, nên tại những nước nầy, thỉnh thoảng có những cuộc khởi nghĩa của dân chúng, Liên Sô thường mang quân, xe tăng sang để đàn áp dã man, hầu bảo vệ chế độ tay sai cho Nga, nhưng được mệnh danh là ”làm nghĩa vụ quốc tế”. Tại Á Châu, Trung Cộng dùng các đảng Cộng Sản nội địa để biến thành ”thế lực xâm lược” do Bắc Kinh chỉ đạo, tác động tại Bắc Hàn, Miên (thời khmer Đỏ), Lào, Việt Nam ngày nay.

Riêng tại Việt Nam, lực lượng ngoại xâm nội địa Việt Cộng, do ”đệ nhất thái thú Hồ Chí Minh” cầm đầu, ban đầu phục vụ quyền lợi Liên Sô và sau đó có thêm Trung Cộng sau 1949. Tức là thời sau hiệp định Genève 1954, tại miền bắc, đã bị ”giặc Việt Cộng xâm lăng” là thái thú cùng một lúc hai mẫu quốc là Nga-Tàu.

Nước Việt Nam từng bị nô thuộc hàng ngàn năm lịch sử, giặc xâm lược Tàu, qua hệ thống cai trị, thái thú đã đối xử tàn ác với dân Việt Nam, lời than oán vang dội ngàn năm, vẫn còn: ”bắt dân ta xuống biển mò ngọc trai, lên rừng tìm ngà voi, sừng tê giác”…. Đây là những thứ mà triều đình mẫu quốc và kẻ cả Hán Tộc đều thích tiêu dùng.

Thời đại Việt Cộng, giặc xâm lược nội địa, phục vụ cùng một lúc hai mẫu quốc, nên tập đoàn thái thú Việt Cộng cút cung tận tụy, tuân lịnh, mang quân xâm lăng miền nam, vũ khí được hai mẫu quốc cung cấp, đưa vài thế hệ miền bắc vào cảnh ”sinh bắc tử nam”. Nên tất cả tài nguyên, sinh lực, kinh tế miền bắc, dưới chế độ ngoại xâm nội địa Việt Cộng, sống cơ cực, đói khổ, phải dùng cả nhau bào thai người để làm thức ăn ”bồi dưỡng” thay thịt cá, mà chúng gọi là ”chất đạm”, phổ biến trong” chế độ ăn uống” của dân bị trị miền bắc.

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, giặc ngoại xâm ”từ bắc vô nắm tay cầm búa dao, tay kia cầm A.K để giết dân lành”, coi miền nam là vùng đất của một ”nước khác” nên đoàn quân xâm lược miền bắc và tay sai Việt gian là Mặt Trận Dân Hại Khủng Bố Miền Nam do tên Nguyễn Hữu Thọ cầm đầu, đã tràn vào cướp bóc, tàn ác như lời tên giặc Nguyễn Hộ: ”nhà chúng ta ở, vợ chúng ta lấy, con chúng ta bắt làm nô lệ” thật là dã man như thời bộ lạc, nhưng được tái diễn vào thời đại văn minh nhân loại. Giặc đến nhà, tha hồ cướp, chúng sử dụng các phương tiện do chính miền nam có sẵn để chuyên chở hàng hóa ăn cướp:

- Trên bộ dung xe hơi, nườm nượp và trường kỳ chạy từ nam ra bắc, mang những hàng hóa từ bàn ghế, đến cái ly, chén … đương nhiên là vàng, ngoại tệ là những mặt hàng ”ưu tiên ăn cướp”.

- Dùng hàng trăm chuyến tàu lớn, bằng đường biển, vớt vét hàng hóa, gia dụng từ nam ra bắc …. bọn giặc ngoại xâm nội địa Việt Cộng đã ”cướp sạch, vét sạch và nạo sạch” tài sản, đái quần của nhân dân Việt Nam một cách dã man với bài bản cướp bốc theo chủ nghĩa Marx Lenin và tư tưởng súc vật ”đệ nhất thái thú Hồ Chí Minh” sát sinh không gớm tay nhưng miệng hay rêu rao ”yêu nước, thương dân”.

Đối với dân chúng, những gia đình có quan hệ đến chính quyền VNCH bị cướp nhà, đất … dân chúng bình thường bị lùa về vùng rừng thiêng nước độc, gọi là kinh tế mới, để bọn giặc ngoại xâm Việt Cộng tha hồ ”cách mạng thành công, biến nhà dân thành nhà cán bộ và thân nhân của chúng”. Giặc xâm lăng nội địa Việt Cộng vơ vét và có cả gia đình của chúng gọi là ”cách mạng” hùa nhau hôi của dân chúng một cách tàn tệ, hận thù nầy chồng chất từ năm nầy qua năm khác, chứng minh hành động gian ác của bọn giặc xâm lược nội địa Việt Cộng.

Giặc xâm lược rất dã man, dù cùng màu da, ngôn ngữ, chúng thẳng tay đàn áp những cuộc ”khởi nghĩa” của dân chúng qua nhiều tổ chức, phong trào phục quốc … hàng chục ngàn ”nghĩa binh thời đại” đã bị sát hại dã man, lớp tù đày, khi công cuộc khởi nghĩa dành lại chủ quyền dân tộc bất thành. Một trong những tên giặc ác ôn thuộc giặc xâm lược nội địa là tên Nguyễn Tấn Dũng, cùng với một số tên giặc ác độc khác, đàn áp thẳng thay cuộc khởi nghĩa chống ”giặc Ngoại xâm nội địa”, do thủ lãnh Trần Văn Bá phát động cuộc” đứng lên chống giặc ngoại xâm Việt Cộng để cứu nước”. Anh hung Trần Văn Bá, kế tục sự nghiệp chống xâm lược của tiền nhân nước Việt, dù ”không thành công, cũng thành nhân” lưu danh thiên thu. Hàng ngàn” nghĩa binh phục quốc” do anh hung Trần Văn Bá lãnh đạo đã hy sinh vì tổ quốc, ghi thêm trang sử về cuộc chiến đấu chốn ”ngoại xâm nội địa Việt Cộng”. Tức là trong lịch sử dân tộc, có các cuộc xâm lược của giặc Tàu, giặc Tây và giặc Cộng.

Chống Cộng là chống ngoại xâm và nhất là ngày nay giặc Cộng trở thành thái thú cho giặc Tàu là Trung Cộng. Giặc Cộng gian ác hơn cả hầu hết các thứ giặc xâm lược trong lịch sử, chúng cai trị dân chúng Việt Nam bằng chính sách hà khắc: ”vơ vét công sức của dân ta tận xương tủy và đem bán người làm lao nô, phụ nữ làm điếm, để mang tiền về làm giàu cho tập đoàn thái thú”. Bọn giặc xâm lược nội địa Việt Cộng dùng thủ đoạn gian manh, tuyên truyền láo khoét để đánh lừa dân Việt Nam bị cai trị qua cái gọi là ”xã hội chủ nghĩa” để giữ vững chế độ bạo quyền, đại diện cho giặc Tàu tại Việt Nam. Giặc Việt Cộng chiêu mộ người bản xứ để làm lực lượng bảo vệ bạo quyền thái thú với quân đội là” đám lâu la” quân hại nhân dân, công an nhân dân … lợi dụng hai chữ ”nhân dân” để đàn áp ”nhân danh” theo lịnh của giặc xâm lược nội địa Việt Cộng. Do đó, tại hầu hết các nước tư Đông Âu đến Á châu … chưa có nước nào giành lại độc lập, tự do, thoát khỏi bàn tay giặc xâm lược nội địa Cộng Sản, do quân đội, công an thực hiện, mà do nhân dân tự động đứng lên. Thế nên, người Việt Nam hãy đứng lên đánh lại bọn giặc ngoại xâm nội địa Việt Cộng, đừng mong chờ vào lực lượng bộ đội, công an … chúng chỉ là công cụ của giặc, có nhiệm vụ bảo vệ cho thế cai trị của giặc tại Việt Nam mà thôi. Trong lịch sử chống xâm lăng, chưa hề nghe, biết quân lính giặc Tàu đứng lên để đánh lại bọn thái thú, nên trường hợp Việt Nam ngày nay vẫn như thế.

Giặc ngoại xâm nội địa Việt Cộng là thứ tam vô: ”vô gia đình, vô tôn giáo, vô tổ quốc”, chúng lếu láo ”thế giới đại đồng” để ngụy trang bản chất làm ”lực lượng xâm lược do nước ngoài chỉ đạo”. Tức là Việt Cộng không bao giờ công nhận có tổ quốc, nhưng cái ”thế giới đại đồng” là quê hương của cái mẫu quốc Nga-Tàu, đó chính là ”tổ quốc thân thương của giặc Việt Cộng”. Người không nhà, thì làm gì có nhà để bảo vệ, người vô sản thật sự, đâu cần phải bảo vệ tài sản … nên giặc Việt Cộng đâu có tổ quốc mà bảo vệ. Tuy nhiên, để mị dân chúng bị cai trị, chúng bày trò ”bảo vệ tổ quốc” để đưa dân tộc bị trị vào tròng ngoại bang.

Giặc ngoại xâm nội địa Việt Cộng, ngoài vơ vét tài nguyên, bốc lột tận xương tủy, bán làm nô lệ dân bị ”đô hộ” tại Việt Nam, giặc Cộng còn với bàn tay lông lá, mưu toan ”xâm lược hải ngoại” qua các thế lực ”ngoại xâm”, nổi bật là ”lực lượng xâm lăng Việt Tân”, ló đuôi ”xâm lăng hải ngoại, đất của người Việt tỵ nạn” khi chúng tự khai, lạy ông con ở bụi nầy, tự xác nhận là lực lượng ”xâm lược đất hải ngoại” bằng lập trường:

1. Công nhận giặc xâm lăng nội địa là ”thành phần dân tộc” để ngụy trang, coi dân Việt Nam bị đồng hóa thành Việt Cộng, mà đám giặc ”xâm lược nội địa” nầy là phục vụ cho Trung Cộng. Như vậy giặc Việt Tân cũng đã và đang tiếp táy với giặc xâm lăng nội địa Việt Cộng để đồng hóa dân Việt thành Tàu. Trong lịch sử Việt Nam, không có ai xác nhận rằng: ”quân Tàu là thành phần dân tộc Việt Nam”, là tự xem mình là Hán tộc, tự đồng hóa, là mất nước đấy. Tuy nhiên băng đảng Việt Tân xác nhận: ”đảng Việt Cộng là thành phần dân tộc”, mà Việt Cộng là ”đồng chí anh em với Trung Cộng”, tức là Việt Cộng không có anh em với dân tộc Việt Nam, nhưng là ”anh em với Trung Cộng”. Điều nầy tự băng đảng Việt Tân đã ”xác định nguồn gốc” giặc của chúng, đó là thế lực ”xâm lược” của Việt Cộng ở nước ngoài.

2. Coi tên ”đệ nhất thái thú” Hồ Chí Minh là có công với đất nước: trong lịch sử dựng và giữ nước Việt Nam, có ai công nhận hay được sử ghi: ”thái thú Tô Định, Mã Viện, Trương Phụ, Sầm Nghi Đống …. là có công với đất nước Việt Nam bao giờ?. Theo đó, điều nầy một lần nữa minh xác: ”Việt Tân cũng chính là lực lượng xâm lược hải ngoại”.

Một điều nguy hiểm là giặc ngoại xâm nội địa Việt Cộng tại Việt Nam, chúng dùng chiêu bài yêu nước, bảo vệ tổ quốc để đánh lừa dân chúng từ bấy lâu nay, do đó dân chúng tưởng Việt Cộng cũng yêu nước, nên mới đây, chúng bày ra chuyện tổ chức dân chúng biểu tình trước sứ quán, lãnh sự Trung Cộng để xoa dịu lòng căm thù của dân chúng vào chế độ ”thái thú Việt Cộng”. Trong lịch sử đô hộ giặc Tàu, chuyện thái thú chống lại thiên triều Trung Hoa ít xảy ra, thì nay thái thú Việt Cộng giả vờ chống ”thiên triều Bắc Kinh” cũng là gian kế ”cách ngạn quan hỏa”, để dân tưởng thái thú Việt Cộng cũng ”yêu nước”, nhưng khi nhìn các cuộc biểu tình, thấy ngay ”rừng cờ đỏ một sao vàng” để chống lại ”cờ đỏ với 5 sao vàng” tự nó lòi ra cái gian ý của cả hai thái thú Việt Cộng và Trung Cộng. Ở nước ngoài, băng đảng tay sai Việt Tân, cũng ngụy trang: cờ vàng, đấu tranh dân chủ đa nguyên … nhưng bên trong thì ”Việt Cộng là thành phần dân tộc, Hồ Chí Minh có công với đất nước” nên bọn tay sai nầy tự chúng vạch lưng cho người xem thẹo, không còn nghi ngờ gì nữa bán chất giặc ở hải ngoại. Do đó, khi giặc xâm lược nội địa Việt Cộng phát động biểu tình chống Trung Cộng ở trong nước, thì ở nước ngoài, tay sai Việt Tân hưởng ứng, biểu tình chống Trung Cộng, thật là nhịp nhàng như quân xâm lược với Việt gian.

Dân tộc Việt Nam đã từng trải qua những thời kỳ đen tối qua hàng ngàn năm nô lệ giặc Tàu, trăm năm đô hộ giặc Tây, nay cũng hơn nửa thế kỷ, dân ta đắm chìm trong vòng ”đô hộ giặc Cộng”. Giặc Cộng xâm lược miền nam rõ hơn cả ”đêm giữa ban ngày” thế mà tên nhạc sĩ Việt gian Trịnh Công Sơn trân tráo: cho cuộc kháng cự chống lại giặc xâm lăng miền bắc là: ”nội chiến từng ngày”. Trong lịch sử nước Việt, có ai cho cuộc kháng chiến chống Tàu, đánh Tây là ”nội chiến” bao giờ?.

Toàn dân Việt Nam trong nước hãy noi theo tiền nhân dựng và giữ nước, truyền thống chống giặc ngoại xâm: cùng nhau xuống đường, đánh đuổi bọn giặc ngoại xâm nội địa Việt Cộng để có độc lập, tự do, cơm áo … người Việt hải ngoại hãy cùng nhau tẩy chay giặc xâm lược Việt Tân ”để cho cộng đồng được yên, ổn cố đời sống …. chống ngoại xâm là nghĩa vụ của tất cả mọi người dân trong và ngoài nước. Muốn có kết quả, trước hết phải tận diệt giặc ngoại xâm trực tiếp là ”tập đoàn thái thú Việt Cộng” và hải ngoại là: ”thế lực cánh tay của giặc nối dài Việt Tân”.

Giặc Cộng và Việt gian vô cùng ma mảnh, chúng lo sợ ngày tàn, nên tìm cách đánh lạc hướng, giả vờ chuyển sang chống Trung Cộng dưới chiêu bài ”bảo vệ bờ cõi”, nhưng thực ra, Việt Cộng không có tổ quốc, chúng bảo vệ cái gì? Nhưng chúng chỉ bảo vệ quyền lợi tập đoàn thái thú và ngoại bang Trung Cộng.

Xin chớ bị giặc đánh lạc hướng, mục tiêu hàng đầu, trước mắt luôn là ”giặc xâm lược nội địa Việt Cộng”.

Trương Minh Hòa
12.06.2011


Mắng thằng việt cộng đăng bài trên báo Việt Nam Tự Do số ra ngày 3/6/11

Để trả lời đoạn văn sau đây:
    “Chính là để bảo vệ cái luận điểm của tớ học được và trải nghiệm từ thực tế cuộc sống là:
    KHÔNG AI CÓ THỂ ĐÁNH ĐỔ CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN BẰNG CHÍNH NHỮNG NGƯỜI CỘNG SẢN”. (Gần đây tớ mới biết Lê nin cũng đã từng nói như thế khi giáo dục các d/c không hoàn thành nhiệm vụ của mình. Té ra ông De Gaulle cũng chỉ là “học tập” cụ Lê nin thôi!), của tác giả Tô Hải đăng trên báo Việt Nam Tự Do số ra ngày 3/6/11.

    Nguyễn Nhơn

















    MẮNG VIỆT CỘNG GIÀ TÔ HÔ
    CHỬI VIỆT CỘNG TRẺ THỐI DŨNG


    Nè, việt cộng già Tô Hải nghe đây
    Mầy là thằng Bắc Kỳ BẢY LĂM
    Khi đồng bào Miền Nam nói
    Bờ Ca bảy lăm là để chỉ

    Bọn việt cộng ăn cướp từ Bắc vô
    Phân biệt với người Bắc thân thương
    Cùng chia sẻ ngọt bùi trước Bảy Lăm
    Cho minh bạch đừng chụp mũ

    Ngày Tô Hô vô Nam
    Trên vai vẻn vẹn một cái bồng
    Đựng đồ đạc các thứ
    Phía dưới lủng lẳng mỗi “cụ hồ”

    Từ mở mắt cho tới khi xuống lỗ
    Chỉ biết bú cụ hồ và sư tổ Lê nin
    Thiếm xực thêm Lão tây già
    Thực dân lõ đít De Gaulle, C`est fini le dire

    Tiềng Tây bồi có nghĩa là:
    Thôi hết nói nổi rồi
    Mầy nay đã hết thời
    Hãy câm miệng, đừng hô khẩu hiệu thúi nữa.

    Rồi, bây giờ tới phiên việt cộng trẻ Thối Dzũng
    Thủ tướng gì thằng mất dạy mầy
    Mới đây lại mở miệng thúi hô:
    “Một tấc đất, một tấc biển, quyết không để mất!!!”
    Trời đất hỡi! Mầy u mê quá vậy!
    Tám chục dặm Lãnh Hải mất tiêu rồi, biết không?

    Luật Quốc tế, Lãnh Hải hai trăm dặm
    Tụi bây mới nho nhe ra được trăm hai chục
    Phỉ Tàu xông vô cắt cáp tỉnh bơ
    Cả lũ bây trơ mắt ếch ra nhìn, có hổ thẹn không?

    Một Tấc đất, quyết không mất hả?
    Muôn ngàn cây số mất rồi có biết không?
    Từ Nam Quan đến Mũi Cà Mau
    Chinatown mọc như da chó vá, biết không?

    Lại còn nỗi nhục Quốc thể nầy:
    Trời Đất quyết không dung
    Chệt Tàu xài tiền Nhân dân tệ của chúng
    Khắp phố thị ta như ao nhà của nó, biết không?

    “Nhân họ Hồ chính sự phiền hà
    Lũ gian tà còn bán nước cầu vinh
    Giặc cuồng Minh thừa cơ tứ ngược
    ... Thẹn nhục nầy để lại ngàn thu …!!!

    BÌNH NGÔ ĐẠI CÁO đó, biết đọc không?!

    Nguyễn Nhơn
    12/6/11