Friday, November 26, 2010

Sự Thật về vụ ai đã giết cố Đaị Tá Lê Quang Tung - Trần Doãn Thường

Trần Doãn Thường

Kính thưa quý vị

Trong thời gian gần đây đã có những bài viết về vụ Ai Đã Giết Đại Tá Lê Quang Tung và Thiếu Tá Lê Quang Triệu.
    1. Khởi sự là Bà Lệ Tuyền với lòi lẽ có vẻ hơi gay gắt như bó buộc cựu Th/Tướng Lê Minh Đảo rằng Th/Tg LMĐ đã giết cố Đại Tá Lề Quang Tung và cố Th/Tá Lê Quang Triệu và nếu tuớng Lê Minh Đảo không chịu nhận tôi thì bà Lệ Tuyền sẽ đưa nhân chứng ra.

    2. Tướng Lê Minh Đảo viết rằng Th/Tg Đ đã không liện hệ gì tới cái chết của anh em Lê Quang Tung và Lê Quang Triệu.

    3. Bà Lệ Tuyền liền dẫn chứng băng những gì Th/Tg Hoàng Lạc và Đ/Tá Hà Mai Việt viết trong hai trang sách của cuốn “Nam Việt Nam 1954-1975. Nhừng sự thật chưa hề nhắc tới”. Bà Lệ Tuyền vô can vì bà CHỈ viết theo hai trang sách của Th/Tg HL và Đại Tá HMV xuất bản năm 1990.

    4. Bài nhận định của Lữ Giang khẳng định Tướng Lê Minh Đảo không giết Đại Tá Ta Tung và viết đại khái như là nếu đã giết thì cũng bị chết rồi.

    5. Cựu Tr.Tá Paul Vân viết rằng theo cuộc hội kiến với Cô Đ/Tg Cao văn Viên thì đại úy Nguyễn văn Nhung đã giết anh em Đại Tá LQ Tung và LQ Triệu.

    6. Đoàn Kết Chống Cộng ngày 15/11/10 đã viết chi tiêt về vụ triệu tập buổi họp như thế nào để Đ/T LQT tới họp và rồi bị Đại úy Nhung giết do lệnh của Tg Dương Văn Minh.

    7. V..v...
Những điều đáng lưu ý trong những bài viết của quý vị đà Kể trên và vài vị khác tôi đã mạn phép tô mầu tím. . Xin mời qúy vị vui lòng miễn trách, vì mục đích cốt để rõ nét và để qúy vị dẽ dàng tìm kiếm đọc lại lập luận của mỗi vị.

Vậy thì
    SỰ THẬT AI ĐÃ GIẾT CỐ ĐẠI TÁ LÊ QUANG TUNG?
Tôi xin mạn phép thưa qúy vị vài điều trước khi trả lời câu hỏi trên.

Đối với những ai chưa biết, tôi xin thưa rằng tôi là Cựu Đại Tá Trần Doãn Thường, thuộc Binh chủng Lực Lượng Đặc Biệt. Vào thời điểm đảo chánh Tổng Thống Ngô Đình Diệm, Tôi là Chánh Văn Phòng của Thiếu Tướng Lê Văn Nghiêm mà Th/Tg LVN là một thành viên trong hàng ngũ sĩ quan đảo chánh, như vậy những điều cố Thiếu Tướng LVN thuật với tôi là Chánh Văn Phòng ắt Phải là những điều khả tín và có giá trị A1.

Tại sao tôi đã không lên tiếng khi biết sự thật Ai đã giết Đại Tá Lê Quang Tung từ 47 năm trước mà nay lại viết ra? Lý do là:
    a. Vào thời điểm đó, không khí “cách mạng” sục xôi, nói những điều mà không khí cách mạng và tình thế chưa ổn định thì kẻ “hớt lẻo” đương nhiên là sẽ và phải chịu hậu quả khó lường.

    b. Vào thời điểm khi Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn văn Khiêm cầm quyền thì mọi sự coi như đã ổn cố, nếu tiết lộ bí mật ra chắc sẽ gây xáo trộn và hậu quả chắc không mấy tốt đẹp.

    c. Sau 1975 nếu tiết lộ bí mật này ra thì Để làm gì khi nước đã mất, nhà đã tan?
Tại sao nay tôi lại lên tiếng sau khi đã im lặng 47 năm từ 1963 tới nay? Lý do là tôi đã thấy:
    a. Những sự buộc tội gây hàm oan cho người khác là Th/ Tg Lê Minh Đảo.

    b. Những sự vu khống, bịa đặt cho người đã chết là đại úy Nguyễn văn Nhung. Vu khống để buộc tội cho người đã chết, đã có thành tích giết cố TT NĐD và CV NĐN là chuyện quá dễ và thông thường vì Người chết không đội mồ lên mà cải chính hàm oan được.

    c. Những vị viết hồi ký có thể là đã có thoả thuận quy kết cho đại úy Nhung giết Đai Tá LQT, một là để chạy tội hai là để kết tội, ba là như ngạn ngữ “Chúng khẩu đồng từ, ông sư cũng chết”.
Chuyện này chỉ những ai ngây thơ mù quáng tin tưởng vào các hồi kỳ để chạy tội và buộc tội hoặc là các vị trong trường phái viết sử PHỊA có thể làm được.
    AI ĐÃ GIẾT CỐ ĐẠI TÁ LÊ QUANG TUNG?
Đó là một trung sĩ Quân Cảnh canh gác ở Tòa Nhà Chính Bộ Tổng Tham Mưu.

ĐẠI TÁ LÊ QUANG TUNG ĐÃ BỊ GIẾT NHƯ THẾ NÀO?

Theo lời Thiếu Tướng Lê Văn Nghiêm thuật lai cho tôi và hai sĩ quan cấp úy thường chầu chực tại tư dinh th/tg LVN vào chiếu tối 2/11/1963 thì:

Do lệnh của Tướng Dương Văn Minh, Trung Tướng Trần văn Đôn đã điện thoại kêu Đại Tá LQT tới bộ TTM họp vì có tin có kẻ định ám sát và đảo chánh TT NĐD. Đại Tá Tung liền qua họp, (không phải là để qua dự Lunch Party)

Tr/tg Trần văn Đôn đã ra lệnh cho Quân Cảnh canh gác trước phòng hội Toà Nhà Chính Bộ TTM là “BẤT CỨ AI BƯỚC RA KHỎI PHÒNG HỌP NÀY LÀ PHẢI BẮN CHẾT NGAY”

Trong khi họp đã có tuyên bố là sẽ đảo chánh TT NĐD và nếu ai không đồng ý thì cứ việc ra về. Đại Tá Tung liền bở ra và bị bắn chết ngay tại hành lang của toà nhà chính nới có phòng họp.

Sự thật mà Th/Tg Lê Văn Nghiêm đã thuật cho nghe là như vậy. Tóm lược là:
    1. Đại Tá Tung được mời qua dự họp.

    2. Lý do là để thảo luận kế hoạch vì có tin ám sát TT NĐD và đảo chánh.

    3. Cố Đại Tá LQT bị bắn chết ngay khi bước ra khỏi phòng họp.

    4. Không có chuyện cố Đại Tá LQT chửi bới, mắng nhiếc.

    5. Không có chuyện ép cố Đại Tá Tung gọi điện thoại vì dã bị giết ngay khi bước ra khỏi phòng họp.

    6.
    Không có chuyện đại úy Nhung lôi anh em LQT và LQTr lên sân thượng toà nhà chính Bộ TTM để bắn chết ngay vì Th/Ta LQTr chỉ tới Bộ TTM vào buỏi tối khi đi kiếm cố Đại Tá LQT.

    7. Chi tiết những lời trung thực của Tướng Lê Văn Nghiêm có thể không đúng 100% nhưng đại ý là như vậy.
Tướng LVN đã không nói gì về những mắng chửi của cố Đại Tá LQT và cũng không nói gì về ai đã hạ sát th/tá LQTriệu, vì thế tôi khẳng định là không hề có chuyện cố Đại Tá LQT mắng chửi, và bị đại úy Nguyễn văn Nhung đưa hai anh em đại Tá Tung và Triệu lên sân thượng và bắn chết ở chòi canh, hoặc đưa hai anh em LQT & LQTr ra sân cỏ sát trường bay để bắn chết và vùi thây xuống huyệt nông.

Tôi chịu hoàn toàn trách nhiệm về sự trung thực trong lời thuật lại của Th/Tg Lê văn Nghìêm. Tôi xin quý vị nên vì danh dự cá nhân, nhất là danh dự của một sĩ quan QLVNCH hãy đừng “Phịa” chuyện để bôi nhọ người chết vì người chết không thể đội mồ dậy để minh oan, hoặc nhục mạ người sống khi người sống khinh bỉ mà không thèm lên tiếng.

Xin hãy nhớ câu người xưa thường nói “Lời nói là đọi máu”“Lời nói có quỷ thần hai vai chứng giám”.

Kính

Trần Doãn Thường

Wednesday, November 24, 2010

Chiến dịch thủ tiêu các cột mốc biên giới VIỆT TRUNG

Chiến dịch thủ tiêu các cột mốc biên giới VIỆT TRUNG
với sự hợp tác của việt gian cộng sản Việt Nam và Tàu cộng
Chiến dịch đã phát động vào ngày 20/07/2010.

Hàng loạt những cột mốc lịch sử quốc giới Trung-Việt đã bị Trung Cộng và CS Việt Gian
tất bật tháo gỡ đưa vào các Bảo Tàng Lịch Sử địa phương mà chúng gọi:

Chiến dịch “bài trừ các mốc biên giới cũ”












Sunday, November 21, 2010

Lời ru buồn - Phạm Minh-Tâm



Phạm Minh-Tâm

Giữa lúc Giáo-hội Công-giáo Việt-Nam đang nỗ-lực chuẩn-bị cho Đại-hội Dân Chúa đuợc tổ-chức rộn-ràng từ ngày 21 đến 25-11-2010 thì Giáo-phận Kontum xẩy ra chuyện, chuyện muôn năm giữa nhà nước cộng-sản Việt-Nam và những người tin vào Đức Ki-tô.

Theo một văn-thư chính-thức số 142/VT/10/Tgmkt của Giáo-phận Kontum do Đức giám-mục Micae Hoàng Đức Oanh gửi gia-đình Giáo Phận Kontum ngày 11-11-2010 để giải-thích những sự việc đã xẩy ra trong ngày 07-11-2010 là Đức cha và 15 người nữa gồm linh-mục, tu-sĩ và giáo dân tháp tùng trong chuyến đi dâng lễ tại Kon Chro và K’Bang hôm Chúa nhật 07.11.2010 nhưng đã bị các cán-bộ nhà nước ngăn chặn, gây khó dễ và cấm tái-phạm có nghĩa là từ nay không được làm như vậy nữa. Đức cha Hoàng Đức Oanh đã giải-thích lý-do để phải có văn-thư này vì “Mấy ngày nay tôi liên tục nhận được điện thoại, điện thư, tin nhắn từ nhiều nơi, từ một vài Tòa Đại Sứ và cả từ Thánh Bộ ở Rôma. Tất cả đều hiệp thông về chuyến đi dâng lễ tại Kon Chro và K’Bang hôm Chúa nhật 07.11.2010 vừa qua. Tôi không chủ trương đưa lên mạng. Nhưng chuyện đã ra công khai. Có anh chị em muốn tôi làm sáng tỏ. Tôi thiết nghĩ anh chị em trong gia đình giáo phận có quyền được biết rõ đầu đuôi câu chuyện để khỏi hoang mang và diễn dịch không lợi cho ai., để tất cả dồn tâm sức cho việc xây dựng Đất Nước thân yêu”.

Như nội-dung đã được Đức Giám-mục Kontum thuật lại thì nơi đức cha và phái-đoàn đến dâng lễ là các căn cứ địa mà truớc 1975 nằm trong vùng hoạt-động của cộng-sản ... “như Kon Chro, như K’Bang, như Ia Grai, như Chư Prông … rất tự hào về quá khứ nhưng lại đóng kín với vấn đề tôn giáo, cách riêng với Kitô giáo. Hiểu biết của các cán bộ về tôn giáo thật hạn hẹp, nhiều người còn nghịch chống, nên các vùng cứ địa này được kể là những “vùng đặc biệt”, những vùng anh hùng, những “vùng trắng”, những vùng đã “sạch bóng mê tín dị đoan”, những vùng bất khả xâm phạm! “Người lạ” bước vào các vùng này thật khó! Về tôn giáo, tại các vùng này, đều có hiện tượng giống nhau: hiện tượng “3 không”: Không nhà thờ, không linh mục, không phụng tự hay sinh hoạt tôn giáo! Có xin phép cũng không cho. Tại những vùng này vẫn có đông đảo anh chị em giáo dân cũng như có rất nhiều người muốn được nghe Tin Mừng, muốn được bước vào ngôi nhà Hội Thánh công giáo. Biết rõ thế, nên “… vào ngày 11.09.2010 tôi đã gửi cho Ông Chủ Tịch Tỉnh Gialai chương trình dâng lễ - bản sao gửi đủ ban ngành từ tỉnh xuống xã cũng như các gia đình tại 3 họ đạo này (*). Trong văn thư, tôi cũng đề nghị Ông Chủ Tịch Tỉnh hoặc cơ quan thừa hành cứu xét nếu không chấp thuận thì cũng cho tôi xin một văn bản từ chối. Sau 57 ngày (từ 11.09 đến 07.11.2010), tôi không nhận được bất cứ văn bản hay lời chối từ nào, nên sáng 07.11.2010 tôi đã lên đường tới Yang Trung, An Trung và Sơn Lang”…

Khi tin này đuợc loan đi và nhất là nguyên-bản văn-thư này đuợc nhiều nguời cũng như nhiều nhóm chuyển đi rộng-rãi thì cộng-đồng dân Chúa Việt-Nam lại thêm một lần nữa bắt đầu mở to mắt nhìn về tập-thể các đấng các bậc trong Hội-đồng Giám-mục Việt-Nam để chờ một thái-độ, một phản-ứng chung của những người mang danh là lãnh nhận từ Thiên Chúa cái trọng-trách như giám-mục Bùi Văn Đọc đã từng tuyên-tín rằng “Sứ vụ chính yếu của chúng tôi ngày hôm nay vẫn là sứ vụ loan báo Tin Mừng. Chúa chỉ đòi hỏi chúng tôi “can đảm nói sự thật khi cần”, dù phải trả giá bằng mạng sống”. Vậy thì, sự-kiện này đích thị là sứ vụ loan báo Tin Mừng rồi nên cho dù có ngồi ở góc độ nào hay ngự-lãm từ trên toà cao sang nào thì cũng không thể bắt bẻ đuợc như trước đây các vị đã từng nương theo gió chướng mà bẻ quẹo thành “những vụ việc địa phương”. Nhất là trong Tài Liệu Làm Việc của Ban-tổ-chức Đại Hội Dân Chúa Việt-Nam cũng nêu nơi chương II và chương III của phần I về tinh-thần hiệp-thông và sbáo Tin Mừng mà rồi đây trong những ngày hội họp, cử-toạ sẽ được nghe mỏi tai những điệp-khúc ứ-mạng loan này, thì đúng ra đây phải là việc chung của cả Hôi-đồng Giám-mục mới là phải lẽ. Vậy mà cùng trong chiều hướng thi-hành sứ-vụ chính yếu đó, đức giám-mục Kontum đã dấn-thân len-lỏi làm nhiệm-vụ chăn dắt của mình trên những điạ-bàn heo-hút của Giáo-phận vì “tại những vùng này vẫn có đông đảo anh chị em giáo dân cũng như có rất nhiều người muốn được nghe Tin Mừng, muốn được bước vào ngôi nhà Hội Thánh Công giáo” thì đã chạm mặt ngay với một sự thật rất thực và rất đau lòng là “Người lạ” bước vào các vùng này thật khó. Có xin phép cũng không cho và đã nhiều năm qua các tín-hữu bị cách biệt với Giáo-phận trong tình-trạng không nhà thờ, không linh mục, không phụng tự hay sinh hoạt tôn giáo trong khi các vị đồng-sự của ngài thì đang chuẩn-bị áo mão xênh-xang cho một cuộc Đại-hội cứ như Giáo-hội Công-giáo Việt-Nam đang gặp mùa hợp tấu.

Thật là một sự trùng hợp nhiệm-mầu khi chỉ mấy ngày nữa đây Đại Hội Dân Chúa sẽ tưng-bừng khai-mạc mà trong đó sẽ rộn-ràng những màn trình-diễn hỗn hợp tốt đạo đẹp đời thì một chủ chăn đã vì lặn-lội với những con chiên xa cách mà bị chính-quyền làm khó dễ và như Đức giám-mục Hoàng Đức Oanh khẳng-định “Câu chuyện đã từng xảy ra và sẽ còn có thể xảy ra, nếu chính quyền hôm nay vẫn còn quan niệm tự do tôn giáo như một ân huệ trao ban thay vì đó là một trong những quyền căn bản nhất của con người”. Thành ra cho dù Đức cha Kontum phát-biểu nhẹ-nhàng là “câu chuyện chỉ có thế” nhưng ai cũng biết là cộng-đồng Dân Chúa có thể dùng đấy như cái kính chiếu yêu mà soi cho ra những sự thật của lương-tri và những dụ-hoặc của thế-gian. Người ta đang nhìn và chờ nghe tiếng lương-tâm của các đấng bậc về sự việc ngày 07-11-2010 ở Giáo-phận Kontum, của những người mà vừa mới đây đồng thuận nắn-nót lên mấy chục trang giấy đặt tên là “Tài Liệu Làm Việc Đại Hội Dân Chúa Việt Nam” với những tiêu-đề như “Giáo Hội như dấu chỉ và khí cụ của sự hiệp nhất giữa con người với Thiên Chúa và giữa con người với nhau. Giáo Hội Việt Nam và sứ mạng loan báo Tin Mừng. Công bằng xã hội và thực thi bác ái”. Sự chờ đợi này không hẳn là tuyệt-đối mang ý-nghĩa của hy-vọng mà còn có tất cả mọi chiều kích của một sự nghiệm-duyệt thêm để không những sẽ là giọt nước làm tràn khỏi miệng ly về một niềm tin mệt-mỏi đã vì Đức-tin mà bấy lâu nay cộng-đồng tín-hữu đặt uổng phí vào những bàn tay lãnh cảm luôn buông xuôi của các “đấng làm thầy” nói riêng mà còn là dịp của cả “quan trên trông xuống, người ta trông vào” thẩm-định thêm về cung cách “can đảm nói sự thật khi cần” của các vị chủ chăn. Như trong văn-thư có nói thì Đức giám-mục Kontum đã nhận đuợc sự quan ngại từ một vài Tòa Đại Sứ và cả từ Thánh Bộ ở Rôma, nhưng từ anh em cùng chung sứ-vụ thì người ta vẫn đang còn chờ với sự nghi ngờ chẳng lẽ những gì Đức cha Hoàng Đức Oanh và những người liên-hệ mới trải qua ngày 07-11-2010 cũng sẽ đuợc bỏ chung vào danh sách những vụ việc của từng địa-phương nối tiếp theo chân Toà Khâm-sứ, Thái-hà, Vinh, Loan-lý, Đồng Chiêm trước đây và Cồn Dầu còn đang âm-ỉ. Vậy thì tưng-bừng tổ-chức Đại Hội Dân Chúa để làm gì và để cho ai?

Bằng vào hiện-trạng Giáo-hội với quá nhiều biến-cố dồn-dập xẩy đến trong mấy năm gần đây và cũng ôn lại những kinh-nghiệm xót-xa mà cộng-đồng tín-hữu đã có đuợc từ nơi các ‘bề trên” của mình rồi đem đối chiếu với nội-dung "Tài liệu làm việc - Đại-hội Dân Chúa Việt-Nam" thực tình người ta càng thất vọng vì có quá nhiều vấn-đề để buồn và nản. Toàn bộ nội-dung không có gì là mới lạ, chỉ lập lại sách vở là chính. Còn nếu đoạn nào "sáng tác" ra đuợc thì lại lo né, lo biện-minh và tìm thế dựa vào các định-đề chung của Giáo-hội hoàn-vũ như một cách cầu an trên lối đi mòn. Có lẽ vì ngại-ngùng không muốn đi vào chiều sâu nên không cảm thấy đuợc chính xác những điều cần phải nói mà phải cố nặn ra những điều gượng ép, phải dùng giáo-thuyết của Hội-thánh để thay thế. Chẳng hạn, một đại-hội dành cho Dân Chúa Việt-Nam giữa lúc này, trong một xã-hội như hiện nay sao lại chen vào các mục như "di dân, hội nhập văn hoá, hiệp thông trong cộng-đồng nhân loại, chiều kích Ki-tô học trong Mầu nhiệm Giáo hội" ... còn những chuyện như người nghèo, hiệp thông là những điều căn bản trong giáo-lý có từ ngàn xưa rồi, bây giờ mà còn đặt ra thì chỉ có nghĩa là "câu giờ", thay vì phải tính sổ về những điều thiếu sót, phải kiểm-điểm để xem làm đuợc bao nhiêu khi nhìn lại cộng đồng Dân Chúa Việt-Nam sau 36 năm sống dưới chế-độ cộng-sản ra sao và hướng tới tương-lai như thế nào, nhất là khi mà trên cánh đồng lúa Việt-Nam lại có những “vùng đặc biệt”, những vùng anh hùng, những “vùng trắng”, những vùng đã “sạch bóng mê tín dị đoan”, những vùng bất khả xâm phạm! “Người lạ” bước vào các vùng này thật khó! Về tôn giáo, tại các vùng này, đều có hiện tượng giống nhau: hiện tượng “3 không”: Không nhà thờ, không linh mục, không phụng tự hay sinh hoạt tôn giáo! mà lại không đuợc đại-hội đề-cập đến như một trọng-trách phải chu-toàn ... chứ nêu ra toàn những hạng mục kiểu ước-lệ thì có nghĩa là quá rỗng, nếu không muốn nói là trong năm ngày đại-hội sẽ chỉ giống như đi họp Legio hay đi tĩnh-tâm mà thôi. Trong câu 22 mang tiểu-đề "Với nền văn-hoá dân-tộc”, người ta sẽ chẳng hiểu phải làm gì khi bản văn viết rằng “trong cuộc đối thoại với văn hoá ... Giáo hội tại Việt-Nam”. Làm sao để đối-thoại với văn-hoá và sao không là Giáo hội Việt Nam mà lại là tại Việt-Nam? Cả bản văn đuợc một câu thực-tế nhất, đúng việc nhất thì lại là “ăn gian” khi viết cũng không ngần ngại đối thoại với chính quyền dân sự ... có nghĩa là còn phải chờ đến khi nào Việt-Nam chuyển sang chính quyền dân sự thì quý vị mới không ngần-ngại, còn vì bây giờ vẫn đang là chính-quyền đảng trị nên quý vị phải ngần ngại .

Tóm lại, khi đọc tài-liệu làm việc này xong thì cho dù là ai còn giữ đầu óc vâng lời tối mặt cũng sẽ không mường tượng ra đuợc Ban-tổ-chức muốn ban bố giáo-điều gì đây hoặc định cho mọi người làm gì trong những ngày Đại Hội ngoài việc cứ nhẩn-nha nghe các đấng “trả bài thần-học thuộc lòng” về các huấn-giáo tổng-quát của Hội-thánh. Thật là tội nghiệp quá những lời lẽ "khuôn vàng thước ngọc" đã bị các đấng mất công sao đi sao lại suốt 36 năm nay kiểu như Descartes với Cogito ergo sum - chúng tôi lập lại bấy nhiêu sự để chúng tôi còn là Hội-đồng Giám-mục Việt-Nam. Bởi vì, các huấn-giáo của Giáo-hội là những định-hướng phổ-quát cho mọi thời và mọi nơi, nhưng khi mỗi Giáo-hội đem về giảng dạy tại điạ-phương mình thì những nguyên-tắc lý-thuyết phải đuợc thực hiện bằng nếp sống, bằng hành-động thiết thực cho cộng đồng Dân Thánh tại địa-phương đó. Chẳng hạn, những lý-thuyết về bệnh-lý-học và kiến-thức căn-bản về cơ-thể-học là nền-tảng không thể thiếu đối với một sinh-viên y-khoa. Nhưng sau khi ra trường thành bác-sĩ điều-trị thì phải đem phần lý-thuyết luôn chứa trong đầu ra phối-hợp với khả-năng nhận thức và tâm-tư nghề-nghiệp để áp-dụng ngay trên bệnh trạng và thể-lý khác nhau của từng con bệnh rồi ra tay chữa trị bằng thuốc, bằng giải-phẫu hay bằng cách phán-đoán thực-tế chứ không phải đọc đi đọc lại cho con bệnh đang rên siết nghe suông những pho sách y-lý đã học thuộc lòng. Có vậy, Đức Thánh Cha Phao-lô VI mới nói “Con người thời-đại chúng ta thích nghe các chứng-nhân hơn là các bậc thầy, hoặc nếu có nghe các bậc thầy thì chính vì những vị thầy này là chứng-nhân”. Thành ra, thay vì nói lý-thuyết như những kẻ hoạt đầu chính-trị vẫn đang ra-rả khua náo thì Hội-đồng Giám-mục Việt-Nam cần chân thành với sứ-vụ Đức Ki-tô đã đòi hỏi và đã đuợc Giáo-hội quy-định trong Giáo-luật rồi tác-giả Lê Thiên đã tóm lược trong bài viết “Hội Đồng Giám Mục: Giáo luật và thực tiễn tại Việt Nam” rằng “… theo nội dung Bộ Giáo Luật, HĐGM là một tập thể những vị Chủ Chăn cùng liên đới trách nhiệm làm ‘tiếng nói cho những người không có tiếng nói’ trong một quốc gia. Bất cứ lúc nào và ở đâu trong địa bàn hoạt động của mình, khi xảy ra một biến cố đụng chạm đến đàn Chiên, thì tập thể Chủ Chăn trong HĐGM cũng đều nhanh chóng can dự vào bằng cách này hoặc cách khác, chứ không lưỡng lự ‘lên tiếng hay không lên tiếng’ để rồi đi tới chỗ vô cảm, vô can và… vô trách nhiệm”. Và rất thực-tế, tác-giả Lê Thiên đã đề-cập thẳng cái tội mà tuyệt-đại đa-số các vị trong Hội-đồng Giám-mục Việt-Nam đã phạm triền-miên là những điều thiếu sót “Những vụ xúc phạm đến các biểu tượng thiêng liêng của người tín hữu, như xúc phạm tới Thánh giá, tới các ảnh tượng và nơi thánh, dù xảy ra ở bất cứ nơi nào trên đất nước, đều không thể coi là chuyện riêng của một cá nhân, một nhóm người, một giáo xứ hay giáo phận.

Trong những biến cố dầu sôi lửa bỏng như trên, hay những vụ đàn áp bắt bớ, tù đày, gây thương tích hoặc làm chết người, làm sao HĐGM có thể nhẫn tâm chần chờ, đắn đo để xem có nên “lên tiếng hay không lên tiếng” ? Chưa nói tới khía cạnh đạo đức và tình người, mà chỉ căn cứ vào mệnh lệnh của Giáo Luật, thái độ không dứt khoát hay cố tình tránh né trách nhiệm ấy khó có thể biện minh dù bằng bất cứ lý lẽ nào. Chẳng những thế, thái độ ấy còn làm cho niềm tin bị giao động và lung lay tận gốc ... Còn nếu hết năm này qua năm nọ cứ trích đoạn những nguyên-tắc chung chung mà không đuợc thực thi thì có khác gì chỉ tri mà không hành, là đức tin không có việc làm và còn tệ hại hơn nữa chỉ là ầu-ơ ví dầu một bài hát ru ... càng hát thì càng dễ ngủ, ngủ vật-vờ trong niềm tin của tín-hữu vì họ không biết có Hội-đồng Giám-mục để làm gì.

Phạm Minh-Tâm


Saturday, November 20, 2010

Minh Triết Dẫn Đạo Chính Trị - Lê Việt Thường

Lê Việt Thường

Trong bài:
“Cần Phải Chính Danh Từ Ngữ “Văn Hoá”, chúng tôi có viết:

“Lý do là Văn Hóa nếu đạt đến trình độ Minh Triết thì phải có khả năng hướng dẫn Tư Tưởng và Hành Động chi phối tất cả sinh hoạt CHÍNH TRỊ, xã hội, kinh tế v.v. của một Dân Tộc, ngay cả của Nhân Loại nữa”.

Vậy mà hình như có người (hay những người ?) gán cho chúng tôi chủ trương “Văn Hóa Phi Chính Trị”, thì có lẽ người (hay những người ?) này đã HIỂU SAI từ Căn Bản !

Trước khi tiếp tục, có lẽ chúng ta nên đánh một “vòng chân trời” để xem “thiên hạ” hiểu từ ngữ “Văn Hóa” như thế nào ?

* A. VĂN HÓA LÀ GÌ ?

Có người hiểu “Văn Hóa theo bốn nghĩa, hai nghĩa hẹp và hai nghĩa rộng.

Nghĩa hẹp thứ nhất, Văn Hóa chỉ kiến thức hay học vấn.

Theo nghĩa hẹp thứ hai, Văn Hóa dùng để chỉ văn chương và nghệ thuật, trong đó có đủ các bộ môn ca, nhạc, vũ, hội họa, điêu khắc, kiến thức, kịch trường, điện ảnh.

Nghĩa thứ ba là nghĩa rộng, Văn Hóa chỉ phần sinh hoạt của loài người trong lãnh vực tinh thần. Đó là những học thuyết, những triết thuyết đưa dẫn suy tư của con người lên một bình diện cao hơn đời sống vật chất hàng ngày.

Ở nghĩa thứ tư, nghĩa rộng nhất, Văn Hóa bao gồm cả Văn Minh vì Văn Hóa chính là sự tiến bộ của con người cả phương diện tinh thần lẫn vật chất hầu làm cho đời sống con người được hạnh phúc hơn. Hay nói cách khác là tiến gần tới chân, thiện, mỹ, lợi và thú hơn …

Trong Kinh Dịch có câu:

“Quan thiên VĂN dĩ sát thời biến
Quan nhân văn HÓA thành thiên hạ”

Có nghĩa: nhìn hiện tượng trên trời để xét lại sự biến đổi của thời tiết. Nhìn hiện tượng của người ta trong xã hội để sửa đổi thiên hạ”.(1)

Rồi tác giả kết luận:

“VĂN là nét vẽ, thể hiện vẻ đẹp bề ngoài. HÓA là biến đổi cho tốt đẹp hơn” (2)

Qua phần trình bày ở trên, tác giả đoạn văn nêu trên chứng tỏ nỗ lực nhằm bao quát các khía cạnh khác nhau của vai trò Văn Hóa trong đời sống con người. Tuy nhiên, qua định nghĩa của từ VĂN, vì tác giả chỉ dừng lại ở “vẻ đẹp bên ngoài” mà thôi, nên có lẽ vì vậy mà đối với tác giả cũng như đối với nhiều người khác, “Văn Hóa” thường bị “đồng hoá” với văn chương, văn nghệ, nghệ thuật v.v.

Trái lại, bằng một phương pháp có phần tương tự phương pháp Ngôn Ngữ học của Triết Gia Heidegger, từ những ý nghĩa đã bị “sa đọa”, Cố Triết Gia Kim Định đã lần cho ra ý nghĩa Uyên Nguyên, Căn Để của từ “Văn Hóa”. Và giống như chữ “Nghệ” viết theo bộ đơn, chữ VĂN theo Nguyên Nghĩa, cũng nói rõ lên được hai nét ĐẤT và TRỜI Giao Hội với nhau để làm nên Đạo Làm NGƯỜI vì “Nhân giả kỳ Thiên Địa chi Đức ...” (= Người chính là Đức của Trời Đất) Và đó có lẽ cũng là Ý Nghĩa của hai từ MINH TRIẾT và ĐẠO HỌC.

Lý do là Minh Triết hay TRIẾT Viết Hoa là cái BIẾT có tính cách Căn Để, Cùng Cực bao gồm cả Lý Trí lẫn Tiềm Thức, Siêu Thức nơi cõi Tâm Linh của con người Đại Ngã toàn diện.

Hiểu như thế thì Minh Triết và Đạo Học là một. Vì với chữ “Đạo” kép bởi bộ “Xước” “đi”“Thủ” “đầu”, Đạo Học là đường đi về Bản Gốc của mình, là con đường “phục quy kỳ căn”, trở lại Căn Cơ nguồn ngọn của con người muôn thuở. (3)

Tóm lại, Văn Hóa, Minh Triết hay Đạo Học theo nguyên nghĩa là Đạo TRỜI, Đạo ĐẤT, Đạo NGƯỜI còn gọi là TAM TÀI bao gồm cả Vũ Trụ, Càn Khôn cùng với Con Người trong đó, vậy nên KHÔNG có gì có thể nằm ở ngoài được, kể cả các sinh hoạt CHÍNH TRỊ. Do đó, một trong những định nghĩa của An Vi và Việt Nho về MINH TRIẾT là “Nghệ Thuật tối cao trong việc sắp xếp chuyện Nhà và chuyện Nước cũng như tổ chức cuộc sống sao cho mọi người được Hạnh Phúc”, (4) mà nội dung lẽ dĩ nhiên liên quan đến lãnh vực Chính Trị, nhưng là loại chính trị cao cấp kiểu “Chính dã Chính dã” chứ không phải loại chính trị thường nhật như thường được hiểu ngày nay!

* B. NHẤN MẠNH VĂN HÓA HƠN CHÍNH TRI CHỨ KHÔNG PHẢI “VĂN HÓA PHI CHÍNH TRỊ”

Ngoài ra, Văn Hóa, Minh Triết hay Đạo Học khi áp dụng vào Vương Nho có tên là TRUNG DUNG, vào Việt Nho thì gọi là AN VI.

Có câu sách giải thích “Trung Dung” như sau: “Chấp kỳ lưỡng đoan nhi dụng kỳ trung ư dân” [= cầm hai đầu mối và áp dụng giải pháp “trung độ” (= “ở giữa” ) vào việc cai trị quần chúng”].

Mạnh Tử giúp soi sáng thêm ý nghĩa của Trung Dung như sau: “Tóm tắt một cuộc tranh luận giữa các trường phái, Mạnh Tử nói: một bên có những kẻ ca ngợi thuyết “tất cả vì mình” (Dương Tử): “dẫu nhổ một mảy lông trên mình mà lợi ích cho cả thiên hạ, ông ấy cũng không chịu làm”; bên kia là những người thi hành chủ nghĩa kiêm ái” (Mặc Tử): “dẫu mòn nát tấm thân từ đỉnh đầu cho đến gót chân, mà có lợi ích cho thiên hạ, ông ấy cũng vui lòng hy sinh”... Lại có những người thứ ba (Tử Mạc) “bảo thủ chủ nghĩa chấp trung” ở giữa những lập trường trái nghịch nhau trên kia ….”.

Mạnh Tử một mặt khen chủ trương “chấp trung” của Tử Mạc là “gần với đạo lý”, nhưng mặt khác, lại chê Tử Mạc ở điểm “chấp trung mà chẳng biết quyền biến”, “cứ khư khư câu nệ một bề vậy thôi”. Và Mạnh Tử kết luận: “Ta sở dĩ chán kẻ chấp nhất, là vì kẻ ấy cố ý giữ ý kiến thiên lệch làm hại đạo lý. Kẻ cử động theo một bề thì làm hỏng cả trăm bề”. (5)

Câu hỏi được được đặt ra ở đây là tại sao Mạnh Tử phê bình không những các chủ trương có tính “Chấp Nhất” như thuyết Vị Kỷ của Dương Chu hay Kiêm Ái của Mặc Tử (có lẽ vì tính quá khích, cực đoan của chúng), mà ngay cả chủ trương “Chấp Trung” của Tử Mạc ?!

Nhận xét đầu tiên là chủ trương “Chấp Trung” của Tử Mạc có vẻ gần giống quan niệm “Juste Milieu” của Aristotle có thể hiểu là điểm “trung độ đúng mực” ở giữa hai tính trái ngược như giữa sự “bất cập” và “thái quá”…. .vv. Mà chúng ta còn biết rằng về vũ trụ luận, Aristotle chủ trương “Tứ Tố” là một loại Quân Bình TĨNH (2-2). Vậy nên quan niệm “Juste Milieu” về đạo đức học của Aristotle cũng có tính cách Tĩnh Chỉ giống như quan niệm “Tứ Tố” của ông về vũ trụ luận vậy !

Mà Khoa Học ngày nay cho thấy là môi trường sinh sống của vũ trụ vạn vật con người có tính chất Quân Bình ĐỘNG ĐÍCH (3-2) như chủ trương “Tham Thiên Lưỡng Địa” của thuyết Ngũ Hành. Vậy nên trong một thế giới ĐỘNG, để giữ được Đạo Trung Dung hay thế Quân Bình Động Đích, đôi khi hành giả phải ‘nghiêng về một bên” như NHẤN MẠNH trên cực Dương (3) hơn cực Âm (2), hoặc ngược lại. Những “đầu óc” DUY LÝ Một Chiều không hiểu được như vậy, do đó khi đọc bài viết trước đây, thấy chúng tôi NHẤN MẠNH đến Văn Hóa (3) hơn Chính Trị (2) thì lại “la làng” lên là “Văn Hóa Phi Chính Trị” ! Trước khi giải thích thêm lý do khiến chúng tôi hành động như trên và để cho dễ hiểu hơn, chúng ta thử lấy một thí dụ tương tự trong Kinh Dịch.

Chúng ta biết triết lý của Kinh Dịch là Âm Dương hai chiều, cũng như Kinh Dịch chủ trương Thực Tại làm bằng hai tầng: vòng TRONG và vòng NGOÀI.

Vòng Ngoài là thế giới HIỆN TƯỢNG bị chi phối bởi luật “Thành-Thịnh- Suy-Hủy”. Còn vòng Trong là thế giới NỘI TÂM được điều hướng bởi các nguyên lý “Nguyên-Hanh-Lợi-Trinh” với “Nguyên” là điểm khởi phát, “Hanh” là chặng phát huy hanh thông, “Lợi” là chặng tựu thành và “Trinh” là kéo dài thành quả. Câu hỏi được đặt ra ở đây là tại sao Kinh Dịch ở quẻ KIỀN chẳng hạn, chỉ bàn đến các trạng thái tiến hóa của TÂM THỨC với các nguyên lý “Nguyên-Hanh-Lợi-Trinh”, mà không đề cập gì đến thế giới Hiện Tượng ?

Có lẽ do lý do dễ hiểu như sau: thế giới Hiện Tượng với luật “Thành-Thịnh- Suy-Hủy” bày ra trước mắt mọi người: đại đa số ai cũng có thể thấy và hiểu được. Do đó, các vị Hiền Triết xưa khi viết Kinh Dịch ở quẻ KIỀN tuy vẫn giả thiết có một thế giới Hiện Tượng song hành, nhưng lại NHẤN MẠNH hơn đến thế giới Tâm Linh với các nguyên lý “Nguyên-Hanh-Lợi-Trinh” vì điều này tối cần thiết cho việc Tu Thân và Xử Thế của hành giả.

Một cách tương tự, không phải chúng tôi không biết là có một thế giới CHÍNH TRỊ hiện diện khắp nơi trên “Internet” ngày nay với các đề mục mà đa số độc giả đều có thể đọc và hiểu được cũng như có nhiều người phụ trách quảng bá trong lãnh vực này. Giống như mọi người, chúng tôi cũng theo dõi tin tức và đọc các bài bình luận về Chính Trị. Tuy nhiên, tương tự các vị tác giả Kinh Dịch đã được đề cập ở trên, chúng tôi ý thức và cảm thấy rằng có lẽ mình sẽ làm đúng vai trò viết lách của mình hơn bằng cách NHẤN MẠNH trên Văn Hóa hơn Chính Trị (vì đã có nhiều người viết về Chính Trị rồi) chứ KHÔNG phải làm “Văn Hóa Phi Chính Trị” như những “đầu óc” DUY LÝ Một Chiều vì HIỂU SAI nên tưởng lầm như vậy!

Thật vậy, trong một thế giới Động Đích, hành giả có khi phải Nhấn Mạnh trên một Cực này, khi khác trên một Cực khác, vậy mà vẫn ‘Trung Dung”, tức vẫn ĐỒNG THỜI bao gồm Đối Cực (Âm hay Dương còn tùy nơi, tùy lúc). Như trường hợp chúng tôi mới xem bề ngoài có vẻ Nhấn Mạnh đến VĂN HÓA nhưng vẫn giữ được Đạo “Trung Dung” nghĩa là Đồng Thời vẫn bao gồm khía cạnh CHÍNH TRỊ trong đó. Giáo Sư Francois Jullien giải thích điểm này như sau:

“Tôi có thể là người đam mê nhất, mà có thể là người thản nhiên nhất; có thể lao hết mình vào cuộc chơi, mà cũng có thể trở về chốn đơn độc; có thể hôm nay chuyên tâm vào công việc mà ngày mai mải mê lạc thú – tôi sẽ lần lượt sống cả hai kiểu cho đến TẬN CÙNG, kiểu này càng hay thì kiểu kia càng tốt, và KHÔNG QUÁ LẠM về bất cứ một phía nào … Bởi vì, cần phải hiểu từ đâu mà có cái “Trung Dung”: KHÔNG phải dừng lại ở nửa chừng, mà là có thể chuyển MỘT CÁCH BẰNG NHAU từ cái này sang cái kia, có thể như thế này CŨNG CÓ THỂ như thế kia, mà không sa lầy vào bất cứ bên nào, chính điều đó tạo ra “Khả Năng” TRUNG DUNG”. (6)

Tức là Trung Dung không có nghĩa là “nửa vời”, “lưng chừng”, “không nóng không lạnh”…. (7) hoặc Trung Dung hay An Vi KHÔNG phải là sự “Cộng Lại” một cách “tạp pí lù” như phương pháp ‘Tổng Cộng” thường làm: một chút khuynh hướng này với chút ít đường lối kia, “ít chút” quyền lợi này với chút ít quyền lợi nọ ...v.v.

Chưa kể VĂN HÓA nếu đạt đến được trình độ MINH TRIẾT sẽ đề cập đến Triết Lý về CHÍNH TRỊ nhằm Dẫn Đạo Chính Trị đi đúng hướng phục vụ nhân quần kèm với các mục tiêu Tự Do và No Ấm cho mọi người, như Khổng Tử đã làm đối với Viễn Đông trước kia, mà ảnh hưởng vẫn còn đối với Nhân Loại hôm nay. Cũng như VĂN HÓA chân chính sẽ bàn đến Triết Lý trong các lãnh vực khác nữa nhằm giúp con người đi đúng đường và đạt được Hạnh Phúc là tất cả Cứu Cánh của đời người vậy !

Tóm lại, như đã nói ở trên, VĂN HÓA Viết Hoa, tức là đã đạt đến trình độ MINH TRIẾT, đi theo lối TỔNG HỢP nhằm vươn lên một bình diện Cao Hơn (chứ không theo lối Tổng Cộng) nên có khả năng Giàn Hòa cũng như DẪN ĐẠO Tư Tưởng và Hành Động chi phối tất cả sinh hoạt CHÍNH TRỊ, xã hội, kinh tế ...v.v. của một Dân Tộc, ngay cả của Nhân Loại nữa.”

Chứ VĂN HÓA chân chính Viết Hoa KHÔNG chạy “Theo Đuôi” các giá trị “Thời Thượng” để “hoan hô” hay “đả đảo”, hoặc “suy tôn” lãnh tụ như các đảng phái chính trị được ! Làm như thế tức đi theo lối “Tổng Cộng” mà phương pháp này vì Thiếu khả năng vươn lên một trình độ Cao Hơn như đường lối Tổng Hợp do đó KHÔNG “chơi” nổi vai trò GIÀN HÒA các Đối Cực được.

Hệ quả mà phương pháp Tổng Cộng có thể mang tới là tính chất Xu Thời, Vá Víu, Mâu Thuẫn, Thiếu Nhất Quán ... thật KHÔNG Xứng Đáng với VĂN HÓA Viết Hoa, cũng như đồng thời có nguy cơ kéo theo não trạng “Thời Cơ Chủ Nghĩa” có vẻ đã đạt đến Tột Đỉnh của nó rồi ! Vì hình như tình thế đã thật “chín mùi” đến mức “không có điều gì mà người ta không dám làm”!

Thật vậy, người ta có thể khi thì “ Hoan Hô Hồ Chủ Tịch”, lúc khác lại “Suy Tôn Ngô Tổng Thống” cũng như đồng thời chủ trương “Hòa Giải Hòa Hợp” ...v.v. không trừ một “món” gì cả !!!

Lê Việt Thường

* CHÚ THÍCH

(1) Mặc Giao, “Một Cái Nhìn Khác Về Văn Hóa Việt Nam”, Tin Vui, HK, 2004, tr. 13-15
(2) Idem
(3) Kim Định, “Triết Lý Giáo Dục”, Ca Dao, VN, SG, 1975
(4) Kim Định, “Sứ Điệp Trống Đồng”, An Việt San José, USA, 1999 tr. 385
(5) Francois Jullien, “Un Sage Est Sans Idée Ou L’Autre De La Philosophie”, Du Seuil, 1998
Nguyên Ngọc (dịch) “Minh Triết Phương Đông Và Triết Học Phương Tây Hay Thể Trạng Khác Của Triết Học”, nxb Đà Nẵng, 2003, VN, tr. 60-61
(6) Idem, tr. 58
(7) Idem, tr. 16
ooOoo
    CẦN PHẢI CHÍNH DANH TỪ NGỮ “VĂN HÓA”
Lê Việt Thường

Có một số vấn đề mà chúng tôi cảm thấy cần phải bàn đến liên quan đến một “Web” mà chúng tôi tạm thời không nêu danh tính ở đây.

“Web” này mới xem qua, có vẻ chủ trương như chúng tôi là phổ biến An Vi và Việt Nho mà như chúng ta biết, người khởi xướng và khai phá chính yếu Chủ Thuyết này là Cố Triết Gia Kim Định. Từ lâu, chúng tôi đã không đồng ý về một số điểm liên quan đến “Web” này về cả hai mặt Lý Thuyết và Hành Động nhưng chúng tôi chưa vội lên tiếng, Tuy nhiên, trong thời gian gần đây tình thế đã đạt đến mức độ mà chúng tôi thiết nghĩ là đủ Nghiêm Trọng khiến chúng tôi cảm thấy rằng lần này Không Thể không lên tiếng được.

Điểm đầu tiên là theo thiển ý, một “Web” Văn Hóa chân chính, nhất là nhằm phổ biến An Vi và Việt Nho là nền Minh Triết của dân tộc VIỆT không thể có những chủ trương hay hành vi tương tự bất cứ một “web” chính trị thông thường nào được.

Lý do là Văn Hóa nếu đạt đến trình độ Minh Triết thì phải có khả năng hướng dẫn Tư Tưởng và Hành Động chi phối tất cả sinh hoạt chính trị, xã hội, kinh tế ...v.v.v ... của một Dân Tộc, ngay cả của Nhân Loại nữa.

Dẫu chưa đạt đến trình độ Minh Triết nêu trên thì Văn Hóa chân chính nếu không hướng đạo thì ít nhất cũng đồng hành với các đoàn thể khác như đảng phái chính trị chẳng hạn ... trên đường đi tìm Chân Lý. Tuy nhiên ngay trong trường hợp này, người làm Văn Hóa thiết nghĩ phải có tư cách, tác phong riêng KHÁC với người làm Chính Trị. Lý do là Văn Hóa nhắm đến các giá trị “Vượt Thời Không” (mà chữ Nho gọi là “Thiên Viên”), còn Chính Trị thì nhằm áp dụng Lý Thuyết vào một “thời không” nhất định (mà chữ Nho gọi là “Địa Phương”).

Chứ Văn Hóa chân chính KHÔNG chạy “theo đuôi” các giá trị “thời thượng” để “hoan hô” hay “đả đảo”, hoặc “suy tôn” lãnh tụ như các đảng phái chính trị được ! Một người làm Văn Hóa mà hành động như trên thì đã đánh mất bản thân của mình rồi (còn gọi là Vong Thân) nên KHÔNG Chính Danh, tức không xứng đáng với chữ VĂN HÓA Viết Hoa!

Đó là điểm đầu tiên và cũng là tình trạng “không Chính Danh’ như vừa gọi ở trên, mà chúng tôi nhận thấy về cả hai mặt Hình Thức lẫn Nội Dung nơi “Web” mà chúng tôi đang đề cập.

Điểm thứ hai là lúc sinh thời, Cố Triết Gia Kim Định rất ưu tư khi nhận thấy tình trạng “Tụt Hậu”, Sa Đọa của dân tộc chúng ta trong mọi lãnh vực ở thời cận đại này gây ra do tình trạng CHIA RẼ vì những lý do như : ý thức hệ, chính trị, tôn giáo, bắc-nam, trí thức-quần chúng, thành thị-thôn quê ...v.v... Sau nhiều năm nghiên cứu Văn Hóa Triết Học Đông Tây Kim Cổ, Ngài đã rút tỉa ra được kết luận sau đây: Nguyên nhân chính yếu gây ra tình trạng nêu trên, theo Cố Triết Gia là tại giới Trí Thức VN cận đại du nhập một cách bừa bãi không cân nhắc các giá trị của nền Văn Hóa Tây Phương mà nét đặc trưng là tính chất DUY LÝ Một Chiều. Mà giải pháp theo Ngài để giải quyết vấn đề Chia Rẽ nêu trên là Trở Về với Văn Hóa DÂN TỘC phải là điểm HỘI TỤ cho tất cả con dân nước VIỆT.

Vậy nên, Cố Triết Gia mới nhấn mạnh chẳng hạn đến Ý Nghĩa của chữ VIỆT có nghĩa là VƯỢT, tức Vượt lên các Dị Biệt riêng tư về mặt ý thức hệ, chính trị, tôn giáo, bắc-nam ...v.v.v ... để về với Mẫu Số CHUNG là Văn Hóa DÂN TỘC.

Ở trên chúng tôi có đề cập đến một trong những lý do gây ra Chia Rẽ giữa người dân Việt với nhau là vấn đề Tôn Giáo. Trong bao nhiêu năm, có rất nhiều người có lẽ chưa bao giờ đọc một cuốn sách của Ngài, và chỉ nghe “truyền miệng” cũng như chỉ dừng lại ở hình thức bên ngoài mà thôi nên khiến nảy sinh ra nhiều điều Hiểu Lầm, Ngộ Nhận về Ngài trên phương diện Tôn Giáo. Thật ra, nếu ai chịu khó bỏ chút thì giờ đọc các tác phẩm của Ngài thì sẽ nhận thấy rằng Cố Triết Gia có lẽ là một trong số ít người đã VƯỢT LÊN được những gì có tính cách Tư Riêng của chính bản thân mình kể cả Tôn Giáo, để hướng tầm nhìn về Cứu Cánh CHUNG của cả dân tộc VIỆT, cũng như đặt Nền Tảng cho cả cuộc đời Suy Tư và Hoạt Động của Ngài trên Văn Hóa DÂN TỘC.

Trong những năm gần đây, có lẽ nhờ Nỗ Lực của một số môn sinh của Ngài trong việc truyền bá An Vi và Việt Nho, nên những Thành Kiến nêu trên có vẻ trên đà giảm dần. Và một trong những lý do chính yếu khiến chúng tôi phải lên tiếng lần này là tại “Web” mà chúng tôi đang đề cập có vẻ đang TẠO ĐIỀU KIỆN ĐỂ CÁC THÀNH KIẾN NÊU TRÊN TRỞ LẠI.

Điểm thứ ba là “Web” này có vẻ KHÔNG dành cho Cố Triết Gia một sự Kính Trọng tương xứng, đầy đủ đối với Người mà người chủ trương đang nhân danh Triết Thuyết như đường lối của “Web” mình. Chúng tôi xin đơn cử một thí dụ. Nhân dịp nhà cầm quyền CSVN tổ chức “Nghìn Năm Thăng Long”, một người trong nhóm người thường tự nhận là “nhà Dân Chủ” CHỈ CÒN VÀI NGÀY ĐỀN NGÀY LỄ NÀY mới viết một lá thơ lên tiếng chỉ trích lề lối hành xử của nhà cầm quyền CSVN vào dịp này như tổ chức “Nghìn Năm Thăng Long” trúng vào ngày Quốc Khánh của CSTH ...v.v.v...

Vấn đề mà chúng tôi đặt ra ở đây nhắm vào không phải nội dung của lá thơ đó mà tính cách CHIẾU LỆ trong hành vi của người này. Vì nếu đương sự có hành động phản đối thật sự thì theo thiển ý phải bắt đầu vài ba tháng ít nhất trước đó (nếu không nói là còn phải lâu hơn thế nữa) thì mới có đủ thì giờ thực hiện những việc cần thiết như vận động chữ ký của những người cùng chia sẻ quan điểm với mình ...v.v.v... và nếu được, gây ra một phong trào chống đối vào dịp này. CHỨ KHÔNG PHẢI ĐỢI ĐẾN PHÚT CHÓT RỒI VIẾT MỘT LÁ THƠ CHIẾU LỆ “CHO CÓ” VÀI BA NGÀY TRƯỚC ĐÓ như người này đã làm. Đó là lý do khiến người ta nghi ngờ về động lực thúc đẩy người này làm công việc trên.

Lá thơ ngỏ có tính cách chiếu lệ “cho có” nêu trên lại được vị chủ “Web” này để lên trên bài viết của Cố Triết Gia Kim Định là người còn được vị này gọi là “Thầy”. Vấn đề là điều tương tự không chỉ xảy ra lần này, mà đã xảy ra rất nhiều lần trước đó đối với những bài viết có nội dung không lấy gì làm quan trọng lắm đã được đặt lên trên bài viết của “Thầy” mình! Vậy nên, đâu là sự Kính Trọng tối thiểu mà người ta phải có đối với Người mà mình gọi là Thầy ?

Còn nhiều điều khác nữa. Ở trên chúng tôi chỉ đưa ra một vài thí dụ Điển Hình về tình trạng mà chúng tôi nghĩ là có nguy cơ ĐI NGƯỢC LẠI với tinh thần của chủ thuyết AN VI và VIỆT NHO mà Cố Triết Gia Kim Định đã đề xướng. Vì là môn sinh của Cố Triết Gia, chúng tôi cảm thấy có trách nhiệm không những trong việc tích cực truyền bá Chủ Thuyết An Vi và Việt Nho đến với mọi người, mà còn có bổn phận phải lên tiếng cảnh báo nếu xảy ra những thái độ và hành vi Tiêu Cực mà cách trực tiếp hay gián tiếp có thể khiến cho công cuộc truyền bá An Vi và Việt Nho không những không tiến thêm được một bước nào nữa mà trái lại có nguy cơ TỤT HẬU !

Đó là chưa bàn đến tính CHÍNH DANH của danh tính hay tên gọi của “Web” này sau những thỏa thuận đã đạt được trong nội bộ.

Tóm lại, phần trên trình bày sơ lược những lý do khiến chúng tôi KHÔNG THỂ không lên tiếng lần này về các vấn đề liên hệ.

Lê Việt Thường