Saturday, November 20, 2010

Lịch sử không thể bị che dấu - Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất

Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất

Chuyện đang gây sôi nổi trên mạng thông tin tiếng Việt hiện nay là vấn đề cái chết của hai anh em đại tá Lê Quang Tung và thiếu tá Lê Quang Triệu trong biến cố đảo chánh ngày 1/11/1963 tại Saigon. Nhiều người đóng góp ý kiến, trong đó có ông thẩm phán Lữ Giang tức nhà báo Tú Gàn. Chúng tôi cũng xin được tham gia một vài điều cho thêm phần náo nhiệt, và xin lấy bài của ông Tú Gàn làm điểm gốc để vào chuyện. Lý do bởi vì bài của ông Tú Gàn có nêu dẫn chứng để chứng minh cho điều mà ông muốn kết luận. Ông Tú Gàn kết luận thế này: Nếu tướng Lê Minh Đảo có dính líu đến vụ này, chắc cũng đã bị giết rồi.

Câu đầu tiên chúng tôi muốn nói là: ông Tú Gàn (Lữ Giang) lại tào lao nữa rồi. Thật vậy, ông Tú Gàn viết: "Các nhân chứng cho biết, Nguyễn Văn Nhung nói cả hai người đều bị giết trên đường từ Nghĩa Trang Bắc Việt đi ra đường Võ Di Nguy, Phú Nhuận, cách xa gốc từ đường trong Tổng Tham Mưu đi ra và quẹo phải một khúc ngắn. Hai binh sĩ đã đào lổ và chôn Đại Tá Tung rồi Thiếu Tá Triệu tại đó ..."

Sự thực không có con đường nào đi từ nghĩa trang Bắc Việt ra đường Võ Di Nguy hết. Chỉ có con đường từ nghĩa trang BV đi ra đường Võ Tánh Gia Định mà thôi. Đường Võ Tánh Gia Định nếu tính từ ngã tư Phú Nhận hướng về phi trường Tân Sơn Nhất, nó chạy ngang trước mặt Bộ TTM. Trong Bộ TTM ra đường Võ Tánh có 3 cổng. Cổng số 1 là cổng chính gần phi trường TSN. Trước mặt cổng số 1 là một ngã 3, tay mặt đi vào phi trường Tân Sơn Nhất (khu dân sự), tay trái mang tên đường Võ Tánh đi qua nhà thờ Tân Sa Châu, tới cổng chính phi trường TSN (khu quân sự có canh gác), quẹo trái tới ngã tư Bẩy Hiền. Đi chừng trên trăm mét từ cổng số 1 về hướng Saigon là cổng số 2. Cổng này vô khu cư xá sĩ quan cấp tướng. Đi tiếp khoảng trên trăm mét nữa đến cống số 4. Cổng này dành cho quân nhân và xe 2 bánh ra vô. Tuy nhiên lối này cũng đủ rộng để xe 4 bánh đi lại. Đường Võ Di Nguy nếu tính từ ngã tư Phú Nhuận nhắm hướng TSN, nó sẽ chạy qua Bệnh Viện Cộng Hòa, quẹo mặt xuống Gò Vấp, quẹo trái xuống An Nhơn, Xóm Mới. Như vậy Bộ TTM nằm kẹp ở khúc giữa của hai con đường Võ Tánh và đường Võ Di Nguy. Trên đường Võ Di Nguy, chỉ có cổng số 3 duy nhất vô ra được Bộ TTM. Qua khỏi cổng này, phía trái là trường sinh ngữ quân đội. Theo đường chim bay, cứ thẳng tới là cổng số 4 quay mặt ra đưòng Võ Tánh như vừa nói. Như vậy ông Tú Gàn bảo rằng "Nguyễn Văn Nhung nói cả hai người đều bị giết trên đường từ Nghĩa Trang Bắc Việt đi ra đường Võ Di Nguy, Phú Nhuận, cách xa gốc từ đường trong Tổng Tham Mưu đi ra và quẹo phải một khúc ngắn." là hoàn toàn sai. Nếu Nguyễn Văn Nhung đem đại tá Tung ra giết và vùi thây tại nghĩa trang Bắc Việt thì con đường Nhung phải đi hợp lý nhất là từ tòa nhà chính Bộ TTM ra cổng số 1, tới đường Võ Tánh quẹo tay mặt lối vào phi trường Tân Sơn Nhất (khu dân sự), đi khoảng dăm chục mét, quẹo tay mặt nữa vào con đường vô trại LLĐB, trại gia binh Truyền Tin, và vô nghĩa trang Bắc Việt Tương Tế.

Về địa danh của sự kiện, ông Tú Gàn đã viết sai. Về lý luận, ông thẩm phán Lữ Giang tức Tú Gàn cũng chẳng chứng minh được gì cả. Ông không minh thị phủ nhận việc tướng Lê Minh Đảo giết anh em đại tá Lê Quang Tung và thiếu tá Lê Quang Triệu. Nhưng, sau khi đã đưa ra những dẫn chứng của tướng Trần Văn Đôn, tướng Lâm Quang Thi, đại tá Dương Ngọc Lắm về việc giết người không gớm tay của Nguyễn Văn Nhung, ông Tú Gàn kết luận như sau: "Nếu Tướng Lê Minh Đảo có dính líu đến vụ này (tức vụ giết đại tá Tung và thiếu tá Triệu), chắc cũng đã bị giết rồi". Câu này nên được hiểu là: Nguyễn Văn Nhung vì đã giết đại tá Tung và thiếu tá Triệu nên mới bị thanh toán. Nói cách khác, tướng Lê Minh Đảo vì không dính líu đến việc giết đại tá Tung và thiếu tá Triệu nên đã không bị giết. Câu hỏi đặt ra ở đây là có phải người ta giết Nhung chỉ vì Nhung đã giết hai anh em đại tá Tung và Triệu? Dám chắc rằng không ai tin như thế. Như vậy câu kết luận của ông Tú Gàn: Nếu tướng Lê Minh Đảo có dính líu đến vụ này, chắc cũng đã bị giết rồi, rõ ràng không nói lên được cái gì cả, bởi vì:

Trước hết, nói bao quát hơn, cho dù Nguyễn Văn Nhung có dính líu đến cái chết của nhiều người trong vụ đảo chánh 1/11/63 là anh em TT Điệm và anh em đại tá Tung, nên mới bị thanh toán, nhưng tại sao các ông đại úy Dương Hiếu Nghĩa cũng dính líu đến cái chết của anh em TT Diệm, Hải Quân trung úy Nguyễn văn Lưc, dính líu đến cái chết của Tư Lệnh Hải Quân Hồ Tấn Quyền, họ không bị giết, trái lại, vẫn sống nhăn và vẫn lên lon? Tướng LMĐ không dính líu đến cái chết của đại tá Tung và thiếu tá Triệu nên mới không bị giết. Lập luận của ông Tú Gàn không đứng vững được.

Đàng khác, theo tâm lý thông thường: Tốt đẹp khoe ra, xấu xa đậy điệm, nếu việc đảo chánh 1/11/63 có chính nghĩa thì bọn tướng tá làm đảo chánh đã khoe công rùm beng rồi, chứ đâu có chuyện cả bọn đứa nào cũng lấm la lấm lét như chó ăn vụng bột. Nếu việc giết các ông Diệm, Nhu, Tung, Quyền, Triệu là chính đáng thì tụi nó cũng đã vỗ ngực khoe thành tích um ti lên rồi. Đàng này không thấy đứa nào dám nhận mình hành động cả, trái lại cả lũ giấu như mèo giấu cứt, lại còn đổ vấy cho nhau để chạy tội. Tại sao lại có hiện tượng tâm lý nghịch chiều này? Xin thưa là bởi vì cuộc đảo chánh, giết hại những người yêu nước là một tội ác đáng ghê tởm. Xét cho cùng thì đó là tội phản quốc, bởi vì cuộc đảo chánh đã đưa đến việc làm mất chủ quyền quốc gia vào tay Hoa Kỳ, và cuối cùng đi đến mất nước vào tay VGCS. Nếu việc giết chết anh em TT Diệm và anh em đại tá Tung là công lao, thì Nhung đã được vinh danh chứ đâu có bị giết. Nguyễn Văn Nhung bị giết chẳng có ai lên tiếng bênh vực. Điều đó cho thấy Nhung đã nhúng tay vào máu người vô tội, gây hệ lụy thê thảm cho cả Dân Tộc, cho dù hắn chỉ là kẻ thừa hành.

Việc Nguyễn Văn Nhung bị giết chỉ có thể được giải thích theo 2 cách: giết để bịt miệng, hoặc giết cho hả giận.

* Giết để bịt miệng - Làm đảo chánh, giết Tổng Thống là một tội ác quá lớn. Bọn đảo chánh muốn thanh toán kẻ đã tham dự vào việc giết TT Diệm, cố vấn Nhu, đại tá Tung, và thiếu tá Triệu để bịt miệng là chuyện có lý lắm. Nhưng nếu giết để bịt miệng, thì người muốn giết Nhung phải là Dương Văn Minh mới phải, vì Minh là chủ tướng của Nhung và Minh ra lệnh cho Nhung làm bậy, nên Minh mới là kẻ cần phải bịt miệng Nhung. Muốn bịt miệng Nhung thì Minh phải ra tay khi Minh còn nắm quyền hành. Đợi đến khi bị tướng Khánh làm chỉnh lý để hất cẳng Minh rồi bắt Nhung giao cho Nhẩy Dù, thì Minh còn quyền hành gì nữa để ra tay giết đứa đầy tớ trung thành của mình mà bịt miệng? Cho nên nói rằng Dương Văn Minh hay người nào đó giết Nhung để bịt miệng là không có căn cứ.

Ông Tú Gàn còn nói tướng Nguyễn Chánh Thi đã nói với ông rằng chính tướng Thi ra lệnh giết Nhung. Chuyện này càng khó tin hơn, bởi vì thứ nhất, tướng Thi không có quyền hành gì đối với Nhẩy Dù cả, ông đã không còn là tư lệnh Dù từ lâu rồi, và thứ hai, giết TT Diệm là một công trạng lớn đối với phe PG Ấn Quang, mà tướng Thi lại là đệ tử trung thành của các thầy Ấn Quang. Như vậy tướng Thi phải coi Nguyễn Văn Nhung là người có công cần phải được che chở mới đúng, chứ sao ông lại ra lệnh giết Nhung? Chuyện thật vô lý.

* Giết cho hả giận - Nên nhớ là tướng Khánh khi làm chỉnh lý, đã bắt Nhung giao cho Nhẩy Dù. Vào lúc họp đảo chánh tại Bộ TTM, đại tá Cao Văn Viên tư lệnh nhẩy dù lúc đó không chịu theo phe đảo chánh nên bị tướng Minh ra lệnh cho Nhung còng tay nhốt trong phòng riêng. May nhờ có tướng Khiêm can thiệp với Dương Văn Minh nên đại tá Viên mới tránh khỏi bị giết. Đại tá Lê Quang Tung chống bọn đảo chánh nên mới chết thảm. Đây có lẽ là là lý do thuyết phục nhất: Nhẩy Dù ra tay giết Nguyễn Văn Nhung để rửa hận cho ông đại tá tư lệnh của mình đã bị Nhung làm hỗn.

Như vậy, ông Tú Gàn đem việc Nguyễn Văn Nhung bị giết ra để chứng minh tướng Lê Minh Đảo không dính líu đến cái chết của hai anh em đại tá Tung và thiếu tá Triệu nên coi là chuyện lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia. Lý luận của ông thẩm phán Lữ Giang không phải là luận lý của con nhà luật. Ông hàm hồ quá. Người viết xin nói cho rõ, phản bác lý luận của ông Tú Gàn không có nghĩa là người viết khẳng định tướng Lê Minh Đảo là thủ phạm giết đại tá Tung và thiếu tá Triệu. Không, chúng tôi chỉ muốn đi tìm sự thật. Điều mà ông Tú Gàn muốn chứng minh là sự thật chẳng nói lên được một cái gì.

Từ trước đến nay, đa số dư luận tin rằng Nguyễn Văn Nhung là người giết TT Ngô Đình Diệm, ông cố vấn Ngô Đình Nhu, và còn giết luôn cả đại tá Lê Quang Tung và người em của ông là thiếu tá Lê Quang Triệu nữa, nên khi thấy chị Hàn Giang Trần Lệ Tuyền cho biết tướng Lê Minh Đảo mới chính là thủ phạm đối với cái chết của anh em đại tá Tung, nhiều người đâm sửng sốt. Chính kẻ viết bài này cũng rất ngạc nhiên nên đã gởi e-mail riêng cho chị Hàn Giang Trần Lệ Tuyền để tìm hiểu vấn đề. Trong e-mail trả lời cho người viết, chị Trần Lệ Tuyền cho biết (nguyên văn): chính Tướng Hoàng Lạc đã cho biết cựu tướng Lê Minh Đảo đã giết chết cả nhị vị huynh đệ của Cố Đại tá Lê Quang Tung …. Lệ Tuyền không bao giờ dám làm một điều gì để cho những bài viết của mình bị phản tác dụng. Vì như thế, hóa ra cái công lao của mình lại làm hại đến uy danh của Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Rất mau chóng, thiếu tướng LMĐ đã lên tiếng phủ nhận sự tiết lộ của chị Lệ Tuyền, và, ngay lập tức chị Lệ Tuyền đã trưng dẫn bằng chứng lên internet. Thì ra lời cáo buộc của chị Lệ Tuyền là dữ kiện lấy từ cuốn sách “Nam Việt Nam 1954-1975 Những Sự Thật Chưa Hề Nhắc Tới” của hai tác giả thiếu tướng Hoàng Văn Lạc và đại tá Hà Mai Việt. Chị Hàn Giang Trần Lệ Tuyền chỉ là người nhắc lại sự kiện mà hai tác giả viết thành sách và đã được phổ biến.

Cuốn sách đã xuất bản từ năm 1990, nghĩa là trên hai chục năm rồi. Các tác giả, tướng Hoàng Văn Lạc là một vị tướng lãnh hầu như là hữu danh vô thực, không phải ông kém tài cán, nhưng do bản tính ưa thầm lặng của ông. Đại tá Hà Mai Việt ở hải ngoại này có lẽ người ta biết ông là một nhà văn hơn là một đại tá của quân đội. Xưa nay người ta chưa hề nghe thấy các tác giả xuất hiện trong các tranh luận về các vấn đề chính trị, nhất là chính trị VN. Như vậy các tác giả là những nhà văn biên khảo hơn là những nhà đấu tranh chính trị, và cuốn sách “Nam VN 1954-1975 Những Sự Thật Chưa Hề Nhắc Tới” nên được coi là một cuốn sử liệu. Tác phẩm này chưa phải là một cuốn sách sử, bởi vì những dữ kiện trong cuốn sách còn cần phải được thời gian gạn lọc. Cũng không thấy ai nêu thắc mắc có sự tư thù nào đó giữa các tác giả và tướng Lê Minh Đảo. Như thế, tính xác thực của sự việc được đề cập trong cuốn sách cũng coi như được bảo đảm phần nào.

Về phần tướng Lê Minh Đảo, ông chỉ nói một tiếng “KHÔNG” thôi không đủ. Như thế không giải quyết được vấn đề. Ông cần phải chứng minh trong thời gian xẩy ra vụ giết hại anh em đại tá Tung ông ở đâu và làm gì. Tôi biết tôi không có quyền đòi hỏi ông như vậy, nhưng vì danh dự của một vị tướng lãnh QLVNCH mà trong đó tôi là một thành phần cấp dưới. Ông không cần bắt chước hành động của Samurai Nhật bản, nhưng nên theo tinh thần Samurai để bảo vệ danh dự của con nhà tướng. Điều mà người ta có thể tin được là vào thời điểm xẩy ra cuộc đảo chánh, ông cũng có mặt tại tòa nhà chính Bộ TTM, bởi vì vào lúc đó ông là sĩ quan tùy viên của tướng Lê Văn Kim. Tướng Kim là ai và liên hệ với cuộc đảo chánh như thế nào thì nay người ta đã biết qua lời đại tướng Trần Thiện Khiêm mà đại tá Phạm Bá Hoa, chánh văn phòng của tướng Khiêm thuật lại. Nguyên văn lời đại tướng Khiêm: “Chú (đại tá Hoa) thấy chưa? Nhóm ông Minh với nhóm ông Kim độc ác quá! Ông Diệm gọi điện thoại bảo cho xe đến đón, tức là ổng đầu hàng rồi, tại sao lại giết người đầu hàng? Trước đó, ông Minh ông Kim đồng ý với Anh là để ông Diệm bình yên và lưu vong, tại sao lại giết? Cho nên từ đó Anh bất mãn với ông Minh ông Kim”. Rõ ràng tướng Lê Văn Kim là một nhân vật rất quan trọng và có thế giá trong cuộc đảo chánh ngày 1-11-63. Phải giết TT Diệm là quyết định đồng thuận của hai tướng Dương Văn Minh và Lê Văn Kim. Ở vào vị trí sĩ quan tùy viên của tướng Kim, đại úy (lúc đó) Lê Minh Đảo nhất định phải biết được nhiều chuyện quan trọng trong vụ đảo chánh. Có chuyện gì mà tướng Đảo không dám nói ra?

Tướng Đảo còn đem danh dự của một sĩ quan QLVNCH ra để bảo đảm cho việc ông phủ nhận lời cáo buộc. Việc này đáng hoan nghênh đấy, nhưng người viết thành thật nghi ngờ rằng danh dự của người sĩ quan QLVNCH không biết có còn đủ cho tướng Đảo dùng để bảo đảm không! Lý do là vì bọn tướng tá làm đảo chánh đã làm tiêu tùng muốn hết cả danh dự của quân đội rồi. Thật vậy, tướng tá nhận tiền của Mỹ mướn làm đảo chánh và giết người thì làm gì mà còn danh dự? Còn lại được bao nhiêu, ra đến hải ngoại này, bọn tướng tá vô liêm sỉ như Nguyễn Cao Kỳ, Đỗ Mậu v.v. hủy hoại một lần nữa. Thế là hết sách. Thành ra danh dự của đa số tướng lãnh QLVNCH có thể nói đã bị bankrupcy mất rồi. Ít người còn tin lắm. Cái bi thảm là ở chỗ đó. Tướng Đảo đánh CS một trận chí tử ở Xuân Lộc trước ngày 30-4-75 mang lại danh dự cho QLVNCH và cho cá nhân ông. Thật đáng khen. Nhưng tướng Đảo đem lại cái gì cho Quân Đội và cho đất nước khi ông thành lập Tập Thể Chiến Sĩ rồi trao nó cho Việt Tân để bọn này rao giảng chiêu bài hòa hợp và hòa giải với VGCS?

Cuốn tài liệu lịch sử “Nam Việt Nam 1954-1975 Những Sự Thật Chưa Hề Nhắc Tới” đã xuất bản trên hai mươi năm rồi. Thiếu tướng Lê Minh Đảo sang Mỹ ít ra cũng đã mười mấy năm. Đáng lý ra ông phải biết và phải buộc các tác giả trả lại danh dự cho ông nếu có điều gì các tác giả viết về ông là không đúng. Có thể ông không biết vì không đọc cuốn sách. Chị Hàn Giang Trần Lệ Tuyền nhắc lại cho ông thấy. Đây là một cái may cho ông. Ông nên cám ơn mới phải, chẳng nên có lời lẽ hằn học. Bởi vì đã quá lâu mà không thấy tướng Đảo lên tiếng phủ nhận hoặc cải chính điều sách vở viết sai về mình, chị Lệ Tuyền cho rằng việc xẩy ra đã trở thành sự kiện lịch sử rồi cũng là chuyện có thể hiểu được. Cách tốt nhất bây giờ tướng Lê Minh Đảo nên làm, như Aladin Nguyen gợi ý trên internet, là ông nên nhờ pháp luật giải quyết. Ông đưa hai tác giả Hoàng Văn Lạc và Hà Mai Việt ra tòa về tội xúc phạm danh dự (defamation) của ông. Trước mặt tòa án bó buộc hai tác giả phải chứng minh sự việc. Nếu tướng Đảo không làn như thế thì tương lai không xa, phát giác về ông trong cuốn sách của hai tác giả kia sẽ trở thành sự kiện lịch sử. Sau khi đã về thế giới bên kia rồi thì dù có bị oan ức, tướng Đảo cũng không còn cơ hội cải chính nữa. Những nhà viết sử, người ta tin vào tài liệu của các tác giả độc lập hơn là tin vào lời chứng của loại tướng tá bất nhân dù họ là những người trong cuộc. Bọn này đều là những tên nói láo, dám làm nhưng không dám nhận. Những chứng cớ của chúng thường là ngụy tạo để trốn tránh trách nhiệm và chạy tội.

Vấn đề ai là thủ phạm gây ra cái chết của anh em cố đại tá Lê Quang Tung Lê Quang Triệu vẫn còn là một nghi án lịch sử, bấy lâu nay đã bị bỏ quên. Chị Lệ Tuyền đã dám nhắc lại để chất vấn một vị tướng lãnh còn được khá nhiều người nể vì để tìm ra chân tướng của sự thật. Chị quả là một người phụ nữ can đảm, một ngòi bút tiết tháo. Sự thật đang nằm ở đâu, trong tay thiếu tướng Lê Minh Đảo hay trên mình thiếu tá Nguyễn Văn Nhung? Nhung đã chết chỉ còn tướng Đảo. Nếu tướng Đảo là người vô tội, ông cần phải chứng minh sự vô tội của mình. Ông vô tội thì danh dự và danh tiếng của ông càng được sáng chói hơn. Có gì đâu mà một số người đã phải cả vú lấp miệng em. Lịch sử không thể bị che dấu.

Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất



Thursday, November 18, 2010

TỔNG GIÁO PHẬN TP HỒ CHÍ MINH : "CÁI TÊN QUÁI GỞ" - Bác sĩ Vũ Linh Huy

Bác sĩ Vũ Linh Huy

Thưa Quý Vị và các bạn thân mến,

Gần đây Tổng Giáo Phận Huế ngang nhiên bỏ tên Trung Tâm Thánh Mẫu Toàn Quốc của Thánh Địa La Vang là tên Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đã đặt năm 1961 và thay bằng tên Trung Tâm Hành Hương La Vang. Nghe thì chẳng có chi quan trọng, nhưng thực chất thì tên Trung Tâm Thánh Mẫu Toàn Quốc khiến cộng sản và tay sai nhột nhạt vì Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đã chọn La Vang để xây một công trình ghi nhớ "... Ơn Mẹ đã cứu chúng con thoát nạn cộng sản vô thần". Còn giữ tên TTTMTQ là còn nhắc nhở người công giáo VN về cộng sản vô thần. Việc đổi tên này khiến chúng ta nhớ lại việc đổi tên Tổng Giáo phận Saigon thân thương thành cái tên quái gở "TGP. Thành Phố Hồ Chí Minh". Mời quý vị và các bạn cùng đọc lại một bài tôi viết năm 2006 về việc đổi tên quái đản và mờ ám này.

Trân trọng,
BS. Vũ Linh Huy
___________
    Một Vài Sự Kiện Liên Quan Đến Việc Khai Sinh Cái Tên Quái Gở
    “TỔNG GIÁO PHẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH”
Từ ngày CS chiếm trọn Miền Nam Tự Do thân yêu cuả chúng ta đến nay đã hơn 31 năm, vậy mà tôi vẫn không thể nào quên được những hành động ngông cuồng, những lời phát biểu lộng ngôn phạm thượng xúc phạm tới Thiên Chuá và Giáo Hội cuả nhóm linh mục và giáo dân thân cộng tại Saigon ngay từ ngày đầu tiên khi CS tiến vào Saigon tháng 4 năm 1975. Mấy hành động nổi bật cuả họ gồm có:

- Tấn công Toà Khâm sứ Toà Thánh tại Saigon, trục xuất Đức Khâm Sứ Toà Thánh ra khỏi Việt Nam.

- Trong một buổi tuần hành ăn mừng chiến thắng của cộng sản, người ta thấy một cờ ảnh rất lớn do một người mặc tu phục Dòng Phan-xi-cô mang đi một cách hết sức trang trọng, cung kính. Cờ có bốn dây tua lớn do bốn người khác kính cẩn cầm nắm. Đây là loại cờ rất thông dụng trong các họ đạo công giáo gốc Miền Bắc, thường thêu ảnh Chuá, Đức Mẹ hoặc các Thánh và được cung nghinh long trọng trong các buổi rước kiệu. Chỉ có một điểm khác biệt: cờ ảnh hôm đó thêu hình Hồ Chí Minh!

- Trong một bài bình luận về Lễ Giáng Sinh đăng trên một tạp chí “công giáo”, tác giả đã ví “sao vàng” của cộng sản đang hướng dẫn toàn dân đi theo “cách mạng” với ngôi sao Sinh Nhật dẫn đường cho Ba Vua thuở nào.

- Thư Chung Lễ Phục Sinh Năm 1976 của Đức Tổng Giám Mục Phao-Lồ Nguyễn văn Bình không bắt đầu bằng một câu Kinh Thánh mà bắt đầu bằng cách nhắc lại việc Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn độc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945.

- Cao điểm là việc đổi tên TGP Saigon thành TGP Thành Phố Hồ Chí Minh. Với việc làm quái gở ấy, tên Hồ Chí Minh bỗng nhiên chễm chệ xuất hiện nơi trang bìa của các sách lễ, sách thánh in sau tháng 11 năm 1976 và do đó, được hiện diện trên các Bàn Thờ Thiên Chúa trên toàn cõi Việt Nam!

Từ đó đến nay đã gần ba mươi năm, hàng giáo phẩm Việt Nam thản nhiên dùng tên TGP. Thành Phố Hồ Chí mà không hề thấy ngượng miệng hay thắc mắc gì. Gần đây, khi Linh Mục Nguyễn Hữu Lễ thành lập phong trào vận động Tòa Thánh bỏ cái tên quái gở đó (TGP. Thành Phố Hồ Chí Minh), có người vẫn ngoan cố lập luận rằng tên hành chánh cuả thành phố đổi thì tên giáo phận cũng đổi theo, có sao đâu? Đó là một cách bào chữa vụng về, đầy tính chất ngụy biện, vì mấy lý do sau đây:

1. Khi thành lập một giáo phận, Giáo Hội thường chọn tên thị xã, thị trấn hay thành phố nơi đặt toà giám mục làm tên cho giáo phận. Thí dụ:

- Giáo Phận Xuân Lộc, bao gồm các tỉnh Long Khánh, Biên Hòa và Phước Tuy và Thành Phố Vũng Tàu nhưng vì tòa giám mục đặt tại Thị Trấn Xuân Lộc nên Giáo Phận gọi là Xuân Lộc.

- Giáo Phận Saigon, khi mới thành lập, bao gồm rất nhiều tỉnh, thành phố, nhưng gọi là Giáo Phận Saigon vì tòa giám mục đặt tại Saigon. Sau đó, khi nhiều giáo phận mới được thành lập và tách ra khỏi GP. Saigon thì Giáo Phận Saigon chỉ còn lại Saigon, Chợ Lớn và Tỉnh Gia Định, nhưng vẫn giữ tên GP. Saigon, rồi TGP Saigon vì tòa giám mục vẫn ở Saigon. Ngay hôm nay đây, khi các linh mục và các Ban Mục Vụ từ khắp các quân huyện, mỗi khi về Tòa Tổng Giám Mục để họp, vẫn nói là “lên Sai-Gòn họp”, không ai nói “lên TP/HCM họp cả. Như vậy là tên Saigon vẫn còn đó, và dĩ nhiên là Toà TGM vẫn còn ở đó. Nếu trong tương lai Giáo Hội tách Gia Định hay Chợ Lớn ra để thành lập một hoặc hai giáo phận mới, thì phần còn lại sẽ được gọi bằng tên gì bấy giờ?

- Cách đặt tên của phần lớn các giáo phận từ nam chí bắc đều theo cách thức nêu trên, như Lạng Sơn, Hưng Hóa, Bùi Chu, Phát Diệm, Vinh, Huế, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Đà Lạt, Phan Thiết, Xuân Lộc, Mỹ Tho, Long Xuyên, Vĩnh Long, Cần Thơ v.v..., đều đặt tên theo thị xã hay thành phố nơi đặt toà giám mục, dù lãnh thổ của giáo phận thuộc về tỉnh nào cũng vậy. Chỉ có vài trường hợp ngoại lệ. Một là Giáo Phận Thái Bình (trùng tên với Tỉnh Thái Bình) vì toà giám mục đặt tại Tỉnh Lỵ Thái Bình. Hai là Giáo Phận Thanh Hoá (trùng tên với Tỉnh Thanh Hoá), tôi không rõ lý do tại sao, không biết có phải vì toà giám mục đặt tại Tỉnh Lỵ Thanh Hoá hay không? Có trường hợp ngoại lệ nào nữa không thì tôi không rõ.

2. Sau ngày 30 tháng 4 năm 75, ngoài việc sát nhập Tỉnh Gia Định vào Thành Phố Saigon-Chợ Lớn và gọi tên mới là Thành Phố Hồ Chí Minh, CS còn sát nhập rất nhiều tỉnh, thành phố vào với nhau để lập các tỉnh mới. Nhiều tỉnh mới lại bao gồm gần như trọn vẹn lãnh thổ cuả một giáo phận công giáo. Đà Nẵng nhập với Quảng Nam thành Tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng (lãnh thổ của Giáo Phận Đà Nẵng). Bình Định nhập với Quảng Ngãi thành Tỉnh Nghĩa Bình (lãnh thổ của Giáo Phận Quy Nhơn). Biên Hoà, Long Khánh, Phước Tuy, Vũng Tàu nhập thành Tỉnh Đồng Nai (lãnh thổ của Giáo Phận Xuân Lộc), v.v... Vậy mà không một giáo phận nào cải tên theo tên hành chánh mới của lãnh thổ mình, ngoại trừ Tổng Giáo Phận Saigon! Hội Đồng Giám Mục Việt Nam và Tổng Giáo Phận Saigon (nay là Tổng Giáo Phận Thành Phố Hồ Chí Minh) gỉải thích thế nào về việc này? Nếu chư vị có ý kiến gì, xin cho giáo dân và quần chúng được rõ.

Điều đáng buồn và đáng lo ngại hơn nữa là những kẻ trực tiếp tham gia hay chủ mưu những hành vi ngông cuồng, xấc xược nói ở phần trên (đuổi Đức Khâm Sứ Toà Thánh, mặc tu phục công giáo cung nghinh cờ ảnh Hồ Chí Minh, bày biểu, xúi dục Đức TGM. Nguyễn Văn Bình trưng dẫn lời Hồ Chí Minh trong thư chung Phục Sinh 1976, so sánh Ngôi Sao Sinh Nhật với sao vàng cộng sản, lèo lái việc cải tên TGP. Saigon thành cái tên quái gở TGP. TP. Hồ Chí Minh, v.v...) hiện vẫn hiên ngang nắm giữ nhiều thế lực tại Tổng Giáo Phận Saigon. Ai có thể lường được ảnh hưởng của họ trên đường hướng của Tổng Giáo Phận Saigon, của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam và trong việc tuyển chọn các giám mục cho Saigon cũng như cho các giáo phận khác?

Để kết thúc, tôi xin tóm gọn mấy điều tôi vừa trình bày vào mấy vần thơ mộc mạc sau đây để quý vị và các bạn cùng đọc cho vui:
    Khai Sinh Tổng Giáo Phận TP. Hồ Chí Minh

    Cái tên quái gở “Giáo Phận Hồ”
    Khai sinh bởi một lũ cuồng đồ:
    Khâm Sứ nhân từ: xua, nhục mạ;
    Cáo già gian ác: rước, tung hô
    Giáo huấn Phục Sinh: trưng Hồ tặc;
    Sao xưa Sinh Nhật: sánh sao cờ.
    Thay tên giáo phận là cao điểm:
    Để “danh” Hồ tặc ngự bàn thờ!
Bác sĩ Vũ Linh Huy

Monday, November 15, 2010

Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất và Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam khác nhau chỗ nào ? - Thích Viên Định

Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế
International Buddhist Information Bureau
Bureau International d'Information Bouddhiste
Cơ quan Thông tin và Phát ngôn của Viện Hóa Ðạo, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất
B.P. 60063 - 94472 Boissy Saint Léger cedex (France)
Tel.: (Paris) (331) 45 98 30 85
Fax : Paris (331) 45 98 32 61
E-mail: ubcv.ibib@free.fr
Web: http://www.queme.net
*******************************************************************************
    THÔNG CÁO BÁO CHÍ LÀM TẠI PARIS NGÀY 15.11.2010
    Thượng tọa Thích Viên Định phân tích sự sai khác giữa Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất và Giáo hội Phật giáo Việt Nam của Hà Nội
PARIS, ngày 15.11.2010 (PTTPGQT) - Thượng tọa Thích Viên Định, Phó Viện trưởng kiêm Tổng Thư ký Viện Hóa Đạo, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, có bài viết phân tích sự khác biệt từ nội dung đến hình thức giữa Giáo hội dân lập và lịch sử gọi là Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất và Giáo hội công cụ do Đảng Cộng sản thiết lập năm 1981 có tên Giáo hội Phật giáo Việt Nam mà quần chúng thường gọi là Giáo hội Nhà nước hay Giáo hội Quốc doanh.

Xin mời bạn đọc vào xem nguyên văn bài viết ấy sau đây:

Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất và Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam khác nhau chỗ nào ?

Thích Viên Định

Trong các cuộc thẩm vấn những thành viên thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, Công an thường hỏi một cách căng thẳng và thách thức rằng: “Tại sao đi theo Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN) mà không chọn Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN) ?”. Đây là cuộc áp đảo chính trị lớn. Bài này chúng tôi phân tích cho rõ trắng đen.

Chủ thuyết Vô thần Mác-Lê Nin chủ trương tiêu diệt tôn giáo vì xem tôn giáo là thuốc phiện. Nếu không tiêu diệt được thì tìm cách kiểm soát để lợi dụng làm công cụ cho Đảng Cộng sản theo phương châm của Lê-Nin: “Đảng phải thông qua tôn giáo để tập hợp quần chúng”.

Năm 1980, Ông Nguyễn Văn Linh, Thành Uỷ Sài Gòn đã nói tại cuộc họp đủ mặt các vị Giáo Phẩm các Giáo Hội và Hội Đoàn Phật Giáo rằng: “Phải thống nhất Phật giáo để làm chỗ dựa vững chắc cho Đảng CSVN”.

Năm 1981, sau 6 năm đàn áp, tù tội, khủng bố, đe doạ. Cộng sản đã mua chuộc, dụ dỗ, khuất phục được một số chư Tăng trong hàng lãnh đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (GHPGVNTN) tham gia vào việc thành lập Giáo hội mới của nhà nước gọi là Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam (GHPGVN). Ngoài một số vị đã vượt biển ra nước ngoài và cố Hoà thượng Thích Thiện Minh bị tra tấn đến chết trong tù, chỉ còn hai Hoà thượng Thích Huyền Quang và Thích Quảng Độ là chống đối đến cùng, không chịu đem GHPGVNTN, một Giáo hội dân lập truyền thống, sáp nhập vào Giáo Hội tân lập của nhà nước, nên hai Ngài bị Nhà cầm quyền CS bắt đưa đi lưu đày về nguyên quán, một vị ở miền Trung hẻo lánh, một vị ở miền Bắc xa xôi.

Tại sao nhị vị Hoà thượng Thích Huyền Quang và Thích Quảng Độ lại chống đối quyết liệt việc sáp nhập Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất truyền thống vào Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam của nhà nước đến như vậy ?

Trong Tuyên Cáo Giải Trừ Quốc nạn và Pháp Nạn ngày 20.11.1993, Đại Lão Hoà thượng Thích Huyền Quang đã viết: “Với mục tiêu đàn áp tôn giáo nói chung, giải thể GHPGVNTN nói riêng, khởi phát sau ngày 30.4.1975 không thành. Năm 1981, Nhà cầm quyền Cộng sản đã thay đổi chiến lược bằng cách tạo dựng một Giáo hội công cụ tay sai để dùng người Phật giáo đánh phá Phật giáo theo chính sách chia để trị”.

Và trong bức thư gửi Nhà cầm quyền Hà Nội, nói về “Sáu điều sai trái của Nhà cầm quyền Cộng sản và 5 điều xác định của GHPGVNTN”, Đại Lão Hoà thượng Thích Huyền Quang cũng khẳng định rằng :

“Giáo Hội chúng tôi không muốn cho Giáo Hội của mình biến thành chiếc ghế để Đảng Cộng Sản Việt Nam ngồi lên cho vững. Như lời ông Nguyễn Văn Linh tuyên bố tại cuộc họp với chúng tôi hai ngày 12 và 13.2.1980. Chúng tôi xem lời tuyên bố đó là sự xúc phạm tôn giáo thiêng liêng của chúng tôi. Khinh rẽ Giáo Hội chúng tôi, vì xem Giáo Hội như chiếc ghế sử dụng tạm thời cho Đảng”.

Khái quát về GHPGVN, trong “Chín điểm yêu sách” của Đại Lão Hoà thượng Thích Huyền Quang, gửi Nhà cầm quyền Cộng sản Hà Nội, lúc còn bị lưu đày ở Quảng Ngãi, Ngài nhận định rằng:

“Cuối năm 1981, một tổ chức mang tên “Giáo hội Phật giáo Việt Nam” được Nhà nước dựng lên tại Hà nội. Chính quyền đã dùng Giáo hội Nhà nước chụp lên đầu Giáo hội chúng tôi. Tuy Giáo hội Nhà nước này được thông qua một Đại hội, nhưng đại hội đó đã do Nhà nước chỉ đạo, sắp đặt tất cả, chứ không phải một Đại hội do chư vị Cao Tăng, Tăng Ni, Phật tử bầu lên theo truyền thống Phật giáo Việt Nam. Cho nên chúng tôi khằng định Giáo hội Nhà nước là một Giáo hội chính trị, thời đại, công cụ của chế độ hiện tại và đã bỏ rơi quần chúng Phật tử. Một Giáo hội như vậy không đủ tư cách để hưởng sự truyền thừa chính thống của Phật giáo Việt Nam. Giáo hội ấy chỉ là hậu thân của (các tổ chức tuyên truyền trước kia từng được gọi là) “Phật giáo Liên Lạc” và “Phật giáo Yêu nước”.

Lược qua những trích dẫn và ghi nhận trên, đã thấy có sự khác biệt giữa hai Giáo Hội, khác biệt từ mục đích đến hình thành, từ nội dung đến hình thức.

I. Mục đích và hình thành GHPGVNTN

1. Sự hình thành GHPGVNTN

Đại Lão Hoà thượng Thích Huyền Quang đã nêu tổng quát sự hình thành GHPGVNTN trong Bản Tuyên Cáo của Quyền Viện Trưởng Viện Hoá Đạo ngày 20.11.1993:

“GHPGVNTN trong thực tế Việt Nam, kế thừa nền Phật giáo dân tộc từ 20 thế kỷ qua, đại diện cho 80% quần chúng Việt Nam. Trên pháp lý, GHPGVNTN đã thống hợp sáu tập đoàn Tăng, Ni và Cư sĩ đại diện khắp ba miền Bắc, Trung, Nam tại đại hội toàn quốc ở chùa Từ Đàm Huế ngày 6.5.1951, thành lập “Tổng hội Phật giáo Việt nam”, tiền thân của GHPGVNTN. Gọi là Tổng hội vì dưới thời Pháp thuộc, Dụ số 10 cấm nền Phật giáo dân tộc không được dùng danh xưng Giáo Hội, trên pháp lý chỉ được hiện hữu như một hiệp hội. Tuy nhiên cuộc tranh đấu bảo vệ Chánh pháp và yêu sách tự do tôn giáo của Phật giáo đồ khởi phát từ tháng 5 năm 1963 đã thành công huỷ bỏ Dụ số 10, phục hồi danh xưng và hoạt động cổ truyền của Giáo hội, tức GHPGVNTN, tại đại hội Phật giáo đầu năm 1964 ...”

2. Mục đích và lập trường của GHPGVNTN

- Lời Mở đầu bản Hiến Chương GHPGVNTN xác định rằng:

“Công bố lý-tưởng hòa-bình của giáo-lý Ðức Phật, các tông phái Phật-giáo, Bắc Tông và Nam Tông tại Việt-Nam, thực-hiện nguyện-vọng thống-nhất thực-sự đã hoài-bão từ lâu để phục-vụ nhân-loại và dân-tộc: đó là lập-trường thuần nhất của Giáo-Hội Phật-Giáo Việt-Nam Thống-Nhất.

Giáo-Hội Phật-Giáo Việt-Nam Thống-Nhất không đặt sự tồn tại của mình nơi nguyên vị cá biệt, mà đặt sự tồn tại ấy trong sự tồn tại của nhân loại và dân tộc.

Quan niệm thống nhất Phật Giáo Việt Nam được thể hiện theo chủ trương điều hợp, nghĩa là giáo lý, giới luật và nếp sống của các tông phái, cũng như của hai giới tăng sĩ và cư sĩ, chẳng những được tôn trọng mà còn phải nỗ lực phát triển trong sự kết hợp có chỉ đạo. Chính đó là sắc thái đặc biệt của nền Phật Giáo Thống Nhất tại Việt Nam”.

- Điều thứ 4 Hiến Chương cũng ghi rõ: “Giáo Hội Phật Giáo Việt nam Thống Nhất được thành lập với mục đích phục vụ Nhân Loại và Dân Tộc bằng cách Hoằng Dương Chánh Pháp”. Đó chính là lý tưởng, “Thượng cầu Phật đạo, hạ hoá chúng sanh”, đem giáo lý giác ngộ, giải thoát truyền bá đến với mọi người trong tận hang cùng ngõ hẻm.

II. Mục đích và hình thành GHPGVN

1. Sự hình thành GHPGVN được ông Đỗ Trung Hiếu nêu rõ trong tập tài liệu “Thống nhất Phật Giáo” (do Phòng Thông Tin Phật giáo Quốc tế tại Paris ấn hành)

“Thực sự đại biểu là giữa Phật giáo của ta và Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN). Ban Vận động Thống nhất Phật giáo Việt Nam đều là đại biểu dự Ðại hội, trong đó đại biểu của ta đa số (tức Ðảng Cộng sản). Chín tổ chức và hệ phái Phật giáo, GHPGVNTN là một, còn lại tám với những danh nghĩa khác nhau, nhưng tất cả đều hoặc là ta hoặc là chịu sự lãnh đạo của Ðảng (...). Cuộc thống nhất Phật giáo lần này, bên ngoài do các Hòa thượng gánh vác, nhưng bên trong bàn tay Ðảng Cộng sản Việt Nam xuyên suốt quá trình thống nhất để nắm và biến tướng Phật giáo Việt Nam trở thành một tổ chức bù nhìn của Ðảng”.

Ông Hiếu còn cho biết Ban Dân vận Trung ương chỉ thị khống chế Phật Giáo như sau:

“Nội dung đề án (thống nhất) là biến hoàn toàn Phật giáo Việt Nam thành một hội đoàn quần chúng. Còn thấp hơn hội đoàn, vì chỉ có Tăng, Ni, không có Phật tử; chỉ có tổ chức bên trên không có tổ chức bên dưới, tên gọi là Hội Phật giáo Việt Nam (...) Nội dung hoạt động là lo việc cúng bái chùa chiền, không có hoạt động gì liên quan tới quần chúng và xã hội (...) Lấy chùa làm cơ sở chứ không phải lấy quần chúng Phật tử làm đơn vị của tổ chức Giáo hội”.

2. Mục đích của GHPGVN là kiểm soát và hướng dẫn chư Tăng theo sự lãnh đạo của Đảng, như lời xác nhận của ông Đổ Trung Hiếu

“Dưới chế độ chuyên chính vô sản tất cả các tổ chức và cá nhân nhất nhất đều phải tuân thủ sự lãnh đạo chỉ đạo của đảng một cách cụ thể chi ly. Trong tôn giáo lại càng chặt chẽ kỷ lưỡng hơn nhiều”.

Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam lấy khẩu hiệu: “Đạo Pháp - Dân tộc - Xã Hội Chủ Nghĩa” làm phương châm, dùng chư Tăng làm bình phong để trang hoàng và làm công cụ tuyên truyền cho chế độ. Nhà cầm quyền Cộng sản còn sử dụng Cơ chế Giáo Hội, Pháp lệnh tôn giáo để kiểm soát và cô lập làm cho chư Tăng xa lìa và bỏ rơi quần chúng.

Để quản lý chặt chẽ, GHPGVN nằm trong Mặt Trận Tổ Quốc, một tổ chức ngoại vi, công cụ của Đảng Cộng sản. Vì là thành viên, nên tiếng nói của GHPGVN phải thông qua cơ quan chủ quản là Mặt Trận Tổ Quốc, nhưng Mặt Trận Tổ Quốc lại do Đảng lãnh đạo. Do đó, GHPGVN không có tiếng nói riêng của mình. Tờ báo Giác Ngộ cũng là tờ báo của Đảng CS, mặc dù mang hình thức Phật giáo, nhưng thực chất chỉ là công cụ tuyên truyền cho Đảng.

Trong khi cả thế giới đều lên án Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam chà đạp nhân quyền, đàn áp tự do tôn giáo, thì GHPGVN lại im lặng, không ngó ngàng gì đến niềm ước mơ được tự do, dân chủ, nhân quyền của dân tộc mà còn làm ngược lại.

Theo sự chỉ đạo của Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam, ngày 03.12.2003 tại chùa Phổ Quang, Phú Nhuận, nhân khai mở Đại Giới Đàn, một đại lễ thiêng liêng trong Phật giáo, GHPGVN (Nhà nước) đã lợi dụng, lấy chữ ký của Giới tử, biến Giới Đàn thành cuộc mít tin phản đối Nghị Quyết 427 của Hạ viện Hoa Kỳ ngày 19.11.2003 và Nghị Quyết của Nghị viện Âu châu ngày 20.11.2003, cả hai Nghị quyết đều lên án Nhà cầm quyền Cộng sản đàn áp nhân quyền và GHPGVNTN.

III. Các tên thường gọi theo mục đích và nguyên nhân hình thành

1. Giáo hội chính thống và Giáo hội chính thức

- Theo Lời Ngỏ của bản Hiến Chương, GHPGVNTN được thành lập “Trên cơ sở tự nguyện, tổng hợp các hệ phái Nam Bắc Tông, Việt Miên, Hoa Tông để hình thành Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất năm 1964 để đoàn kết, để bảo vệ lẫn nhau trước những âm mưu chia rẽ, áp bức của các thế lực chính trị phi dân tộc chứ không do các chế độ cầm quyền dựng lên để sai sử”. GHPGVNTN đã kế thừa lịch sử truyền thống 2000 năm của Phật giáo Việt Nam, do chư vị Trưởng Lão Đại Tăng, cao Tăng, danh Tăng và Phật tử lập thành, chứ không do một thế lực chính trị thế tục nào lập ra. Nên GHPGVNTN là “Giáo hội chính thống”.

- GHPGVN do Nhà cầm quyền Cộng sản áp đặt dựng lên năm 1981, tại chùa Quán Sứ Hà Nội, là thành viên của Mặt Trận Tổ Quốc, một tổ chức ngoại vi của đảng Cộng sản. Nên, trên mặt pháp lý, GHPGVN được gọi là “Giáo hội chính thức”.

2. Giáo Hội Truyền thống và Giáo Hội Tân lập

- GHPGVNTN được truyền thừa từ ngàn xưa của chư Tổ mà vị Tăng Thống đầu tiên là Ngài Khuông Việt tức Thiền sư Ngô Chân Lưu thời Tiền Lê, nên gọi là Giáo Hội Truyền Thống.

- GHPGVN mới được Nhà cầm quyền Cộng sản thành lập năm 1981, nên gọi là Giáo Hội Tân lập.

3. Giáo Hội Dân tộc và Giáo Hội Nhà nước

- GHPGVNTN do chư Tăng và Phật tử cùng nhau tự nguyện dựng lên, vì vậy, GHPGVNTN là “Giáo hội Dân tộc”.

- GHPGVN do Nhà cầm quyền cộng sản dựng lên, là thành viên của Mặt Trận Tổ Quốc, một tổ chức chính trị ngoại vi của Đảng CS, nên GHPGVN là “Giáo Hội Nhà nước” (quần chúng thường gọi nôm na là Giáo Hội Quốc Doanh).

4. Giáo Hội thuần tuý và Giáo hội chính trị

- GHPGVNTN chỉ hoạt động thuần tuý tôn giáo, đem giáo lý giải thoát, giác ngộ đến cho chúng sanh. Chư Tăng không baơ giờ đảm nhận chức vị gì của thế gian. Nên GHPGVNTN là Giáo hội Thuần tuý.

- GHPGVN là thành viên của Mặt Trận Tổ Quốc, một tổ chức chính trị. GHPGVN đưa người ra tranh cử các chức vị thế gian như Hội Đồng Nhân Dân, Dân biểu quốc hội. Nên GHPGVN là Giáo Hội chính trị.

5. Giáo Hội và Hiệp hội

GHPGVNTN được thành lập sau cuộc tranh đấu thành công năm 1963, hủy bỏ được Dụ số 10 thời Pháp thuộc. Dụ số 10 của Thực dân Pháp chỉ công nhận Thiên Chúa giáo là Giáo Hội, các tôn giáo khác chỉ là Hiệp hội. GHPGVNTN đã là Giáo Hội, độc lập hoàn toàn với các tổ chức khác.

GHPGVN thuộc quy chế Hiệp Hội, không độc lập, vì là thành viên của Mặt Trận Tổ Quốc, chịu mọi sự chi phối, điều khiển của tổ chức chính trị này. Trong tiếng Việt, viết là Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam cho dễ coi, chứ trong bản tiếng Anh thì viết là “Vietnam Association for Buddhism” tức là Hội Phật Giáo Việt Nam. Chữ Association chỉ là Hội. Đúng với mục đích ban đầu của Ban Dân Vận: “Nội dung đề án là biến hoàn toàn Phật giáo Việt Nam thành một hội đoàn quần chúng. Còn thấp hơn hội đoàn vì chỉ có tăng ni không có Phật tử, chỉ có tổ chức bên trên không có tổ chức bên dưới, tên gọi là Hội Phật giáo Việt Nam (HPGVN).

Sau khi một số thành viên lãnh đạo GHPGVNTN rời bỏ con thuyền Giáo Hội để bước sang thuyền khác, đau đớn về việc này, Hoà Thượng Thích Đức Nhuận, Cố Vấn Viện Hoá Đạo, GHPGVNTN, than rằng: “Ðau xót biết bao, khi Phật giáo Việt nam từ con lạch nhỏ vùng thoát ra được biển khơi, thì nay quí Hòa-thượng lại tự bước vào nước vũng ao tù” (trích thư của cố Hòa thượng Thích Ðức-Nhuận).

IV. Pháp lý, Địa vị, Cơ sở

1. GHPGVNTN

“Pháp lý là gì ? Ở đây và hiện nay, pháp lý chỉ là mảnh giấy được viết và cấp phát cho một tổ chức tân lập để hỗ trợ những mục tiêu riêng tư, cục bộ phi Phật giáo. Trái lại, Giáo hội ta có mặt trên dải đất này đã 2000 năm rồi. Đinh, Lê, Lý, Trần đã chấp nhận Phật giáo. Do đó, mà những khẩu hiệu như thế này đã vang lên ở Đại Hội bất thường của GHPGVNTN sau năm 1975 tại Hội trường Ấn Quang ở Sài gòn … :

- “Pháp lý của Giáo Hội là 2000 năm dựng Văn mở Đạo trên đất nước Việt Nam này !

- “Địa vị của Giáo Hội là 80% dân chúng già, trẻ, lớn, bé !

- “Cơ sở của Giáo Hội là nông thôn, thành thị, cao nguyên và hải đảo !”

2. GHPGVN

- Pháp lý của GHPGVN là giấy công nhận của Nhà nước Cộng sản Việt Nam do Thủ Tướng Phạm Văn Đồng ký, kèm với bản “lý lịch”, viết về quá trình thành lập GHPGVN của ông Đỗ Trung Hiếu bí danh Mười Anh.

- Địa vị của GHPGVN là thành viên đứng trong tổ chức chính trị Mặt Trận Tổ Quốc.

- Cơ sở của GHPGVN là các Tự Viện, Tịnh Xá, Tịnh Thất, Niệm Phật Đường, đã chiếm đoạt của GHPGVNTN chứ GHPGVN không có gì cả.

V. Hệ thống tổ chức

- Theo Hiến Chương GHPGVNTN, Điều 6, Chương Thứ Tư, “Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất là một trong những Quốc Gia Phật Giáo sáng lập và là trung tâm điểm địa phương của Phật Giáo Thế Giới”.

Hệ thống tổ chức gồm có: Trung Ương và các Tỉnh, Thành, Thị Xã, Quận, Huyện, Xã, Phường, Thôn, Khóm, Khuôn hội, Vức hội ở các địa phương. GHPGVNTN lấy quần chúng Phật tử làm cơ sở. Mỗi đơn vị đều có Ban Đại Diện hành chánh hợp pháp.

- Hệ thống GHPGVN của Nhà nước chỉ có 2 cấp Trung Ương và Tỉnh, không có Quận, Huyện, Xã, Thôn, Khuôn, Vức. Sau này có thành lập thêm Quận hội, nhưng chỉ như Ban liên lạc giữa các chùa với Tỉnh hội mà thôi. Toàn bộ hệ thống tổ chức như “HÌNH THÁP – LỘN NGƯỢC, chỉ có tổ chức bên trên, không có tổ chức bên dưới.” (trích Đỗ Trung Hiếu). GHPGVN lấy Tự Viện, Tịnh Xá, Tịnh Thất, Niệm Phật Đường làm cơ sở. Tại địa phương chỉ có Ban Hộ Tự tức là Ban giữ chùa mà thôi.

VI. Nhân sự và phạm vi hoạt động

1. Về Nhân Sự

- GHPGVNTN được thành lập từ những tổ chức địa phương tiến đến cả nước, từ những Hội đoàn riêng biệt tiến đến thống nhất cả nước. Nơi nào có tín đồ Phật giáo, nơi đó có tổ chức Giáo hội. Tất cả nhân sự, chức vụ đều do chư Tăng, Ni và Phật tử hội ý thỉnh cử mà không bị bất cứ áp lực nào từ bên ngoài.

Hiện nay, GHPGVNTN vừa mới phục hoạt, vẫn đang bị Cộng sản tìm đủ cách đánh phá. Trong nước thì không hội họp được. Ngay cả các chi nhánh Giáo hội ở hải ngoại cũng bị đánh phá dữ dội như “Tài Liệu Mật” của Bộ Công An ghi rõ:

- “Đề nghị Ban Việt kiều liên lạc với các cộng đồng Phật giáo ở nước ngoài, để tổ chức tập hợp lực lượng phân hoá cô lập bọn phản động”.

- “Đề nghị Ban Bí thư tổ chức họp các ngành: dân vận, tôn giáo, nội vụ, ngoại giao, Việt kiều để thống nhất tình hình và chương trình hành động chung đối với Phật giáo”. (trích tập Hồi ký “Sự thật về việc thống nhất Phật giáo của Đỗ Trung Hiếu”)

Với tình hình và hoàn cảnh hiện nay, GHPGVNTN phải uyển chuyển trong nguyên tắc điều hành nhân sự cốt làm sao để bảo toàn sự tồn tại của Giáo Hội.

- GHPGVN là thành viên của Mặt Trận Tổ Quốc, nên vấn đề nhân sự phải chịu sự chi phối, điều hành của tổ chức chính trị này. Ngoài ra còn phải qua sự thanh lọc của Công an, Ban Tôn giáo và cuối cùng là Uỷ Ban Nhân Dân. Nhân sự GHPGVN từ cấp trung ương cho đến địa phương đều do Nhà cầm quyền lựa chọn.

Trả lời thắc mắc của một vị Tăng: “Tại sao có vị mới xuất gia, có thê tử, đạo hạnh chưa cao, lại được giữ chức vị cao cấp trong Ban Trị sự Giáo Hội Tỉnh như vậy ?”. Một vị chức sự trong một Ban Trị Sự Giáo Hội Tỉnh nói rằng: “Ban Tôn giáo sắp xếp tất cả chứ mình (chư Tăng) đâu có quyền gì !”. Thật vậy, Tài Liệu Mật của Bộ Công An, có chỉ thị rằng: “Công an các địa phương cần chủ động tính toán đưa một số đặc tình tham gia vào các thành phần lãnh đạo Giáo hội các cấp”. Nhà cầm quyền Cộng sản kiểm soát tất cả các thành phần nhân sự, từ vị Trụ Trì các Tự viện, cho đến Chức sự trong Giáo hội các cấp, từ Tăng sinh đến Giáo Thọ, Ban Giám Hiệu các Trường Phật học, từ Giới tử đến Thập Sư các Giới Đàn đều phải qua sự kiểm soát, chọn lọc bắt đầu từ Công an qua Mặt Trận Tổ Quốc đến Ban Tôn giáo và cuối cùng là Uỷ Ban Nhân Dân.

Ngay cả việc tấn phong Thượng toạ, Hoà thượng là việc cao quý trong Giáo Hội, cũng phải qua sự duyệt xét của Nhà cầm quyền các cấp, biến việc thiêng liêng này thành việc mua danh, bán tước, đút lót, xin xỏ, gây ra nhiều chuyện buồn cười. Tại Sài gòn, chư Tăng đã kể chuyện về một vị Thượng toạ tuổi gần 80, theo thể lệ của GHPGVN, muốn được tấn phong lên Hoà thượng, phải làm đơn xin từ cấp Địa phương lên đến Trung ương mới được (riêng tấn phong Thượng toạ thì Uỷ Ban Nhân Dân Tỉnh, hoặc Thành Phố chấp thuận là được). Ngài đem đủ giấy tờ, nào là Khai sanh, Lý lịch, Căn cước ra phường xin xác nhận. Anh cán bộ Công an Phường, tuổi chừng 25-27, chỉ đáng cháu nội vị Thượng toạ, đã đặt bút phê một câu thấm thía khó quên: “Thầy này còn mê tín dị đoan, nhưng địa phương đồng ý cho lên Hoà thượng, hứa sẽ giáo dục sau !”

Ở miền Trung, lại xảy ra một trường hợp khác. Có một vị Thượng toạ đem giấy tờ hồ sơ xin tấn phong Hoà thượng ra Xã, Huyện xác nhận xong, rồi đem thẳng vào Văn Phòng II tại Sài gòn, nhờ người quen thông qua, để chuyển lên Trung ương mà không qua sự phê duyệt của Uỷ Ban Nhân Dân Tỉnh, vì sợ Tỉnh không chấp thuận. Khi Trung Ương đã ký duyệt xong, chuyển về, thì Tỉnh lại không chịu công nhận, vì cho rằng vị Thượng toạ này đã qua mặt Uỷ Ban Nhân Dân Tỉnh, gây ra chuyện dở khóc dở cười, Hoà thượng cũng được mà Thượng toạ cũng xong.

Ở miền Nam, chư Tăng lại kể chuyện công an xét lý lịch tấn phong dễ hay khó tuỳ theo “thành tích”. Có một vị, tu hành không suông sẻ, có thời gian ra đời, nhưng vì được xét có “thành tích tốt”, nên khi làm đơn xin tấn phong Thượng toạ thì Công an bỏ qua chuyện ấy. Nhưng về sau, vị này đã có những lời phát biểu trái ý Nhà cầm quyền, nên khi làm đơn xin tấn phong lên Hoà thượng, bị moi lại chuyện cũ, Công an phê là: “Có thời gian gián đoạn”, nên không được xét cho tấn phong lên Hoà thượng.

Nhận định về nhân sự lãnh đạo trong GHPGVN, Bản Tự Thuật của Đức Tăng Thống, Đại Lão Hoà thượng Thích Huyền Quang, có đoạn: “Giáo Hội Nhà nước ngày nay còn thua kém Giáo Hội Tăng già thời 1930. Tăng già lúc đó có tổ chức, có chọn lọc. Thành phần Tăng sĩ của Giáo Hội Nhà nước hiện nay đa phần là các vị có thê noa, giới luật không tu trì, đạo hạnh suy thoái. Tệ nạn cửa quyền, tham nhũng, bê tha trong các cấp Giáo Hội Nhà nước cũng giống hệt như các cấp trong Chính quyền hiện tại…” (Trích Bản Tự Thuật của Hoà thượng Thích Huyền Quang trong sách “Một Đời Vì Đạo Vì Dân”, do NXB Quê Mẹ tại Paris ấn hành.).

2. Về hoạt động

- GHPGVNTN được thành lập với mục đích phụng sự cho nhân loại và dân tộc. Nên chỉ trong 10 năm từ 1964-1975, bên trong, Giáo hội đã đào tạo chư Tăng, bên ngoài hỗ trợ cho xã hội rất nhiều về các mặt văn hoá, giáo dục, từ thiện xã hội, y tế như : khai mở nhiều Phật Học Viện, thành lập Viện Đại Học Vạn Hạnh, tạo dựng hàng trăm Trường Bồ Đề, hàng chục Cô ký nhi viện, Trường Mẫu giáo, ra báo chí, làm nhà in để truyền bá giáo lý đến với quần chúng nhằm đưa dân tộc, xã hội đến cuộc sống giải thoát, an vui.

- GHPGVN của Nhà nước 30 năm nay chỉ hoạt động giới hạn trong việc trùng tu tự viện và giáo dục Tăng sinh, không hề tham gia vào các phương diện văn hoá, giáo dục, xã hội trong dân chúng. Nên không có trường học, không nhà in, không báo chí ... Nói chung chỉ lo cho chư Tăng mà không lo cho Phật tử. Chỉ lo sửa chùa, không lo phục vụ xã hội.

Về vấn đề này, Đức Tăng Thống, Đại Lão Hoà thượng Thích Huyền Quang, lúc còn bị lưu đày ở Quảng Ngãi, trong Bản Tự Thuật (trong sách “Một Đời Vì Đạo Vì Dân”, do NXB Quê Mẹ tại Paris ấn hành), Ngài có nhận định rằng:

“Giáo hội Nhà nước chỉ biết có Tăng đồ, bỏ rơi thê thảm hàng chục triệu tín đồ cư sĩ ở hạ tâng thôn xã toàn quốc. Khiến họ bơ vơ không nơi nương tựa. Nếu bị khó khăn gì về tín ngưỡng thì Giáo hội đó không biết đến, không can thiệp ! Thậm chí ở Quảng Ngãi, chùa bị đốt mà Giáo hội Nhà nước chẳng phản ứng gì cả. Tín đồ đau khổ thế nào Giáo hội Nhà nước cũng chẳng biết, chẳng quan tâm ! Đất đai của chùa bị chiếm dụng, Giáo hội cũng chẳng can thiệp. Thậm chí chùa lớn của Phật giáo Quảng Ngãi bị chính quyền chiếm dụng làm trường Đảng, mà Giáo hội cũng không một lần chất vấn, đòi hỏi. Hằng 4 năm cho ra trường độ 100 Tăng sinh tốt nghiệp cao cấp Phật học, nhưng Giáo hội cũng chẳng lo điều động đi giảng đạo các nơi. Vì Giáo hội Nhà nước đâu có quần chúng để thực hiện việc này”.

VII. Tổng kết

Tóm lại, Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam đánh phá Phật giáo bằng cách dùng: “các Chỉ thị của Đảng, Nghị quyết của chính phủ, sự điều động của Ban Dân vận, Mặt trận hay Công an theo sách lược “vừa đánh vừa kéo”. “Vừa đánh” là sử dụng trấn áp, khủng bố, bắt, giết, quản chế … ; “Vừa kéo” là dụ dỗ bằng món mồi lợi dưỡng hay hăm doạ. “Vừa đánh” là bức tử Giáo Hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất, một Giáo hội dân lập và truyền thống có quá trình lịch sử hai nghìn năm. “Vừa kéo” bằng cách thiết lập tập đoàn công cụ gọi là Giáo Hội Phật giáo Việt Nam, mà nhân dân gọi tắt là Phật giáo Nhà nước hay Phật giáo Quốc doanh.” (trích Nhận định của Phòng Thông Tin Phật giáo Quốc tế).

Dù vậy, Nhà cầm quyền cũng không vừa lòng về Giáo hội này, như nhận định trong Tài Liệu Mật:

“Số cao Tăng Phật giáo Ấn Quang tham gia Giáo hội Phật giáo hiện nay (HT Thích Trí Tịnh, HT Thích Thiện Siêu, HT Thích Minh Châu, TT Thích Trí Quảng …). Nói chung họ có tư tưởng, thái độ tốt, nhưng có nhiều tâm trạng khác nhau. Trước đây, họ không có vị trí ảnh hưởng trong Phật giáo Ấn Quang. Hiện nay là lãnh đạo Giáo hội mới nên nằm trong thế e ngại không dám đấu tranh, nên không phát huy được vai trò lãnh đạo của Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, không đủ uy tín và tầm cở để tập hợp Giáo hội đấu tranh nên ngày càng dựa vào Nhà nước, do đó uy tín càng bị giảm. “Đề nghị Ban Bí thư, Thủ tướng Chính phủ xem xét lại thực chất cơ cấu tổ chức Giáo hội Phật giáo Việt Nam hiện nay đã thật sự đại diện cho toàn thể Phật giáo Việt Nam chưa ?”

Vì bị khống chế, bị áp lực, bị mua chuộc hoặc vì cầu an, nên một số chư Tăng trở nên thụ động. Nếu chủ trương, tự tu, tự độ, không nghĩ đến độ tha, chỉ lo cho chư Tăng, không lo cho Phật tử, chỉ chú trọng chùa chiền, không màng đến xã hội, thì Phật tử lấy đâu mà nương tựa, dân tộc biết đâu để trông chờ. Vì bịt mắt bưng tai, không nghe tiếng dân oan kêu than dậy đất, tiếng rên siết của dân tộc bị áp bức, đoạ đày. Không thấy người dân bị cướp mất tự do, tước đoạt dân chủ, chà đạp nhân quyền. Không thấy tổ quốc đang bị Bắc phương xâm lăng lấn chiếm. Đau xót về thái độ mũ ni che tai này, Hoà thượng Thích Quảng Độ đã làm bài thơ Liên ngâm dại khôn (trích tập Thơ Tù do NXB Quê Mẹ ở Paris ấn hành):
    Đêm ngày tôi dạy cái thằng tôi
    Đạo pháp suy vi: bởi lẽ trời
    Thấy kẻ phá chùa: khoanh tay đứng
    Nhìn người đập tượng: nhắm mắt ngồi
    Bắt bớ Tăng Ni: thây mẹ nó
    Giam cầm Phật tử: mặc cha đời
    Miễn được yên thân là khôn đấy
    Can chi ặm oẹ để thiệt thòi
    .
Truyền thống Phật giáo Việt Nam luôn gắn bó, không xa lìa dân tộc: “Phật giáo Việt Nam luôn hoà nhập, thăng trầm theo vận mạng của dân tộc. Thiền sư Việt nam luôn ghi nhớ Giới Luật là mạng mạch của đạo pháp, nhưng các Ngài cũng không quên Độ sanh là sự nghiệp của chư Tăng. Với tinh thần Bồ Tát Đạo, “vô ngã vị tha”, các Thiền sư không chỉ cầu giải thoát cho riêng mình mà thờ ơ với xã hội. Các Ngài luôn tâm nguyện giải thoát mọi sự đau khổ cho đời. Các Thiền sư, khi thì làm ông chèo đò, khi thì đi sứ, lúc xông pha chiến trận, muôn hình vạn trạng, nhưng khi xong việc, các ngài đều quay về nơi chốn tòng lâm, không nhận chức tước của thế gian, giữ vững truyền thống: “Sa môn bất bái vương giả”…” (trích “Nhân một ngàn năm Thăng Long, nghĩ đến Đạo pháp và Dân tộc” của TVĐ do Phòng Thông Tin Phật giáo Quốc tế ấn hành).

Sáu mươi lăm năm qua, Cộng sản đã theo chủ thuyết vô thần Mác-Lênin, đấu tranh giai cấp, củng cố nền cai trị độc tài của Đảng cộng sản, không dung hoà với các thành phần dân tộc khác, là phá hoại sự đoàn kết dân tộc. Năm 1981, Cộng sản lập Giáo hội Nhà nước, thành viên của Mặt trận Tổ Quốc, một tổ chức ngoại vi công cụ của đảng Cộng sản, để chống lại Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất dân lập truyền thống, là phá hoại nội bộ Phật giáo. Từ năm 1992, sau 10 năm triệt phá làm cho GHPGVNTN bị tê liệt, vẫn còn chưa đủ, Cộng sản lại tiếp tục tìm cách đánh phá để tiêu diệt cho bằng được mới thôi. Tài liệu tuyệt mật của Bộ Công an đã chỉ thị hai biện pháp tấn công cơ bản:

- “Phân hoá cao hàng ngũ giáo sĩ, tranh thủ số có xu hướng tiến bộ, lôi kéo số lưng chừng; răn đe những biểu tượng có biểu hiện tiêu cực; đối với số cực đoan chống đối phải cắt đứt tay chân, lấy giáo luật, pháp luật đấu tranh, không cho chúng co cụm đánh phá ta”.

- “Củng cố nòng cốt, cốt cán của ta đặt biệt là trong tăng tín đồ Phật giáo, thúc đẩy cách mạng trong vùng giáo”.

Phá hoại nội bộ Phật giáo, phá hoại đoàn kết dân tộc, thì đến bao giờ, Tổ quốc Việt Nam mới hùng mạnh, tự chủ, tự cường để sánh vai cùng các dân tộc văn minh khác trên thế giới ?

Thích Viên Định


Thursday, November 11, 2010

Thư Ngỏ của Tướng Lê Minh Đảo

    Kính thưa quý Chiến Hữu, Thân Hữu và Đồng Hương,
Trong mấy tuần vừa qua, tôi nhận được nhiều điện thư và điện thoại từ khắp nơi bày tỏ sự lo lắng, thắc mắc và bất bình trước vài bài viết gửi ra trên các Diễn Đàn Internet vu khống tôi giết chết cố Đại Tá Lê Quang Tung và Thiếu Tá Lê Quang Triệu. Trước nỗi quan tâm và sự ưu ái của quý vị, tôi thấy cần minh xác để quý vị an tâm.
    Kính thưa quý vị,
Với danh dự của một cựu chiến sĩ VNCH, tôi, Lê Minh Đảo, long trọng xác định rằng trong suốt cuộc đời binh nghiệp, tôi không bao giờ có một hành động nào vi phạm đến tài sản hoặc sinh mệnh của các chiến hữu của tôi trong QLVNCH. Đặc biệt là tôi không có một liên hệ gì đến cái chết của cố Đại Tá Lê Quang Tung và Thiếu Tá Lê Quang Triệu.

Từ năm 1963 đến 1975, trong tất cả các cuộc điều tra của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa về cái chết của hai sĩ quan kể trên, không có ai đề cập đến tên tôi bởi vì đã có những bằng chứng rõ ràng là tôi không thể có bất cứ một liên hệ nào đến vụ sát nhân nầy.

Trong thời gian gần đây, cộng sản Việt Nam đang nỗ lực thực hiện chiến dịch vu cáo và bôi nhọ các viên chức cao cấp trong Chính Phủ và Quân Lực VNCH nhằm chính nghĩa hoá hành động của cộng sản Bắc Viêt đánh chiếm Miền Nam và toàn trị đất nước Việt Nam. Xin quý vị lưu ý và đề cao cảnh giác trước kế hoạch thâm độc nầy của cộng sản.

Đây là lời minh xác chân thành và duy nhất của tôi. Tôi sẽ không quan tâm đến những vu cáo tiếp tục sau nầy (nếu có) của cộng sản và tay sai.

Trân trọng kính chào đoàn kết.

Lê Minh Đảo