Tuesday, November 2, 2010

Thư chung ngày 02.3.1960 của các Giám Mục Miền Nam

    Thư chung ngày 02.3.1960 của các Giám Mục Miền Nam về vấn đề Cộng sản vô thần
Bức thư gồm hai phần: Hiểm họa cộng sản và cải tạo đời sống. Sau đây trích toàn phần nói về hiểm họa cộng sản và lời mở đầu của phần nói về cải tạo đời sống. (…)

Các Giám mục Miền Nam gửi anh em bức thư chung này tỏ tình ưu ái và lo lắng của chúng tôi đối với anh em. Mục đích của bức thư chung này là giúp anh em có một tài liệu nghiên cứu học hỏi trong mùa Chay, để anh em nhìn thấy rõ mối hiểm họa của Cộng sản, để anh em thấu hiểu nó nguy hại và nham hiểm đến mức nào trong việc tiêu diệt Đức tin của chúng ta (…)

HIỂM HỌA CỦA CỘNG SẢN

I. Chủ trương vô thần của Cộng sản

Đối với học thuyết của Marx và Lénine, chúng ta quan tâm hơn hết đến một điểm là CHỦ TRƯƠNG DUY VẬT. Vì chủ trương duy vật chỉ nhận có vật chất là nguyên lý và là đích cùng của vạn vật, nên học thuyết đó tất nhiên cũng chủ trương vô thần. Đã chủ trương vô thần, nó phải hoàn toàn đối nghịch với tất cả những gì là tinh thần, siêu việt, tín ngưỡng, hoặc đạo lý; nói thể khác, nó hoàn toàn đối nghịch với chân lý nói chung, và học thuyết Công giáo nói riêng. Nói tóm lại, nó công khai chống Thiên Chúa mà bọn họ coi chỉ là sản phẩm do óc tưởng tượng của kinh tế và óc phong kiến.

1. Cộng sản vô thần chủ trương khơi động tất cả những gì là hèn hạ xấu xa nhất của con người, như hiềm thù, ghen ghét, vô luân, phá hoại, v.v… để đưa xã hội đến giai cấp tranh đấu.

2. Cộng sản vô thần tước đoạt hết tự do của con người, kể cả tự do tín ngưỡng và do đó cướp đoạt mất nguyên tắc căn bản xây dựng phẩm giá con người.

3. Cộng sản vô thần chối bỏ hết mọi phẩm trật, quyền bính, do đó phá đổ hết mọi thứ trật tự, trật tự siêu nhiên, trật tự tự nhiên, trật tự xã hội, trật tự Giáo Hội, và ngay cả quyền bính trật tự giữa cha mẹ với con cái trong gia đình.

4. Cộng sản vô thần chối bỏ quyền tư hữu, và do đó khiến con người hoàn toàn bị cô lập, nô lệ.

Tất cả những điều kể trên đây đều đi ngược lại với học thuyết Công giáo, và vì thế hai học thuyết trên không thể đi đôi với nhau.

Muốn cho Đạo Thánh được nguyên vẹn, người công giáo phải phủ nhận lý thuyết cộng sản và những áp dụng của nó đến tận cùng. Cộng sản, trái lại, muốn cho chủ nghĩa của họ được thắng cũng phải hết sức diệt tôn giáo. Trong cuộc tranh giành quyết liệt này, Cộng Sản đã tỏ ra rất xảo quyệt. Chúng ta hãy sáng suốt nhận định để có một đường lối dứt khoát giúp người đang ở trong cơn bách hại được biết đường xử trí và người chưa bị bách hại được biết cách đề phòng.

Tính cách chung kế hoạch bắt đạo của Cộng sản ngày nay vẫn là dùng đủ mọi phương pháp, dù tráo trở lừa dối, hoặc dã man tàn nhẫn đến đâu, miễn giúp sao đi tới thành công.

1. Họ trà trộn vào các cơ quan công giáo để thi hành thủ đoạn bám địch để giết địch. Họ tìm cách len lỏi vào nội bộ của ta để dò xét, tuyên truyền, chia rẽ, phá hoại, bằng cách giả là những phần tử sốt sắng, nhiệt thành, niềm nở và cố chiếm đoạt quyền điều khiển. Sau đây là bản mật lệnh của Cộng sản mà chúng tôi muốn anh em đọc để suy nghĩ:

Công giáo và Thệ phản là hai tổ chức đắc lực làm tay sai và gián điệp cho đế quốc tư bản. Những tổ chức này cố lén lút váo nội bộ của Đảng ta để bóc lột và đàn áp dân chúng. Những Giáo hội này đặt căn cứ ở khắp nơi đô thị trên thế giới, gieo rắc lý thuyết đầu độc của họ để diệt trừ chủ nghĩa xã hội cộng sản.

Vì thế, trong khi theo sát chỉ thị của cấp lãnh đạo Đảng, các đồng chí phải triệt để tìm hết mọi cách để lọt vào nội bộ của từng Giáo hội, giúp tay cho ngành công an, mật vụ của chúng ta mới tổ chức, nỗ lực hoạt động ngay trong trung tâm hoạt động các giáo sĩ, rồi tấn công đại quy mô, liên miên hoạt động, dù phải giả vờ cầu nguyện Thiên Chúa phù hộ cũng nên. Điều cần thiết để thành lập mặt trận duy nhất là phải lợi dụng sắc đẹp và sức quyến rũ của phụ nữ. Vì thế, muốn đạt đến mục đích này, muốn chia rẽ nội bộ Giáo Hội, muốn gây mâu thuẫn giữa các tổ chức tôn giáo, cơ quan của Đảng ta đã thông tư chín điều sau đây:

- Các đồng chí phải len lỏi vào các học đường do Giáo hội thành lập và đã bị các lý thuyết của họ đầu độc. Ta phải dò xét bọn phản động để biết rõ mọi hoạt động của chúng. Ta lẩn lút giữa các sinh viên, cảm thông những tâm tình của họ, theo rõi hết mọi hoạt động địa phương, kiểm soát nó và theo sát đúng phương pháp tế nhị, nhất thiết ta phải gia nhập vào các khu vực hoạt động của các giáo sĩ.

- Mỗi đồng chí phải tìm cách chịu phép Rửa Tội, để trở nên phần tử của Giáo hội. Nhờ thế, đội lốt được chiếc áo bịp bợp ấy, ta nhập vào Đạo Binh Đức Mẹ, hay nếu là người Thệ phản, phải nhập vào tổ chức Nghĩa Binh (Cruserders). Được thế rồi, đồng một loạt tấn công đại quy mô, dùng những câu ru ngủ để cảm hóa và thu hút giáo dân. Các đồng chí còn đi xa hơn nữa: cố chia rẽ tận gốc của đoàn thể giáo dân, nếu có cần cũng rêu rao đến tình yêu Thiên Chúa và hô hào ủng hộ hòa bình. Làm thế, ta sẽ phá hoại được lối tuyên truyền đầu độc của đế quốc đàn áp.

Đồng chí của ta phải dự hết các buổi lễ tôn giáo và luôn luôn niềm nở, rất hiền từ, lợi dụng hết mọi phương kế khôn ngoan và thiên hình vạn trạng với các giáo sĩ hầu dò xét hành động của bọn họ.

- Những học đường do Giáo hội thành lập và điều khiển là một địa hạt lý tưởng để xâm nhập. Tỏ ra bên ngoài một vẻ hết sức ân cần niềm nở, các đồng chí hoạt động của ta phải áp dụng điều luật “Bám địch để diệt địch”. Họ phải trà trộn hăng hái với giám đốc, giáo sư, sinh viên, để gây ảnh hưởng trên họ, hầu thực hiện cái nguyên tắc: CHIA ĐỂ TRỊ. Ngoài ra, đồng chí ta liên lạc trực tiếp với các phụ huynh sinh viên để củng cố nền tảng cho công cuộc cách mạng và phổ biến rộng rãi những hoạt động bí mật của chúng ta.

- Các đồng chí phải có sáng kiến trên mọi phạm vi, lén lút vào mọi ngành của Giáo hội, thu lượm cảm tình của giáo dân, rồi nhờ đó, ta có đủ phương tiện lọt vào bộ máy điều khiển của Giáo hội.

- Nhờ triệt để tuân theo lệnh Đảng, mà tiểu tổ chỉ huy sẽ đạt được mục đích đã chỉ định cho mình, nghĩa là thâm nhập trong hết mọi ngành tổ chức của Giáo hội, kêu gào ủng hộ hòa bình. Như thế, ta sẽ gieo được ảnh hưởng của ta trên mọi địa hạt.

- Dựa trên nguyên tắc đanh thép này: “DÙNG ĐỊCH ĐỂ DIỆT ĐỊCH”, ta phải gắng thuyết phục một vài phần tử quan trọng hay một ít bậc vị vọng trong Giáo hội đến thăm Trung Hoa và tìm cho họ có đủ tài liệu và giấy tờ cần thiết. Nhờ hành động lừa bịp và thầm kín này, bọn chúng sẽ giúp ta đạt được mục đích: Vì nó sẽ tỏ cho chúng ta thấy rõ cái mặt thực và tình hình đích xác của Giáo hội.

- Các đồng chí hoạt động phải có óc sáng kiến, khám phá những nhược điểm của Giáo quyền, khai thác những mầm mống chia rẽ, vô hiệu hóa những nọc độc do giáo quyền reo rắc bằng cách phổ biến những phương kế giải độc của chúng ta. Nói tóm, phải quyết liệt thi hành để mở rộng ngõ chiến cho ta tấn công vào.

- Các đồng chí nào có chân trong cơ sở chỉ huy phải triệt để đinh ninh rằng: Giáo hội Công giáo là tay sai của đế quốc, phải đả phá và hủy diệt đến tận nguồn gốc. Còn giáo phái Thệ phản họ đã lâm lẫn theo đường lối chính trị sống chung, cần phải ngăn cản họ đừng kết nạp thêm nhiều người, chúng ta hãy để nó tự chết, cái chết tự nhiên của nó.


Anh em thân mến, mấy dòng trích trên đây cho anh em thấy mưu mô của Cộng sản xảo quyệt biết bao nhiêu để tiêu diệt Giáo Hội.

2. Họ có sức giả vờ ủng hộ Công Giáo, bằng cách nêu cao khẩu hiệu tự do tín ngưỡng, nhất là lập những hội cho người công giáo như là “Hội những người kính Chúa yêu Tổ quốc” (Ủy ban Đoàn Kết công giáo ngày nay – BBT) ở Bắc Việt, “Hội Công giáo ái quốc” ở Trung cộng, “Hội Công giáo cấp tiến, Hội Giáo sĩ v.v…” ở hầu hết các nước Cộng sản. Mục đích của những hội đó là rút người công giáo ra khỏi những đoàn thể chính thức của Giáo hội, để họ nắm lấy chi phối, đưa về phục vụ chủ nghĩa của họ, và tệ hơn nữa, còn dùng chính những hội ấy để tố cáo, bắt bớ, lên án, phá hoại các phẩm trật trong Giáo Hội.

3. Để dễ lôi cuốn người công giáo, họ nấp sau những khẩu hiệu rất quyến rũ, như lý thuyết Tam Tự, và những phong trào tự do xây đắp dân chủ, phụng sự hòa bình, bênh vực vô sản, v.v… nhưng thực ra, đó chỉ là những cái mồi rất ngon, những bùa bả hiểm độc để đánh lừa người công giáo.Họ đặc biệt áp dụng chính sách chia rẽ, gieo rắc những điều nghi kỵ, khai thác những điểm bất bình, cô lập hết mọi phần tử, nhất là đi đến cắt đứt các mối liên lạc giữa các giáo đoàn địa phương với Tòa Thánh và Giáo Hội La mã. Vì mục đích này, họ nấp sau chiêu bài “Ái Quốc”, đề cao thuyết Tam Tự để tìm cớ buộc tội phản quốc, trục xuất, giam giữ, hoặc tiêu diệt những ai trung thành với Giáo Hội, rồi tự ý đặt ra những Giám mục mới, không còn tuân lệnh và liên lạc với chính quyền La mã. Họ hạn chế mọi quyền của Giáo Hội, phản đối những quy tắc Tòa Thánh đã đặt, vu khống cho Giáo Hội và các Phẩm trật trong đạo là tay sai của thực dân, đế quốc, phong kiến để gây nghi kỵ và chia rẽ giữa những người dân yêu nước với các đấng thừa hành Giáo Hội.

5. Độc hại hơn nữa, họ còn đi đến tước đoạt hết tự do bằng những phương pháp rất dã man, nhưng tế nhị: như những buổi học nhồi sọ, những trại cải tạo tư tưởng, những tòa án nhân dân, những cuộc tự phê bình và bao nhiêu phương pháp khoa học, vô luân khác. Nếu với bằng ấy mà chưa đủ thì họ kết thúc bằng cuộc bắt bớ, đánh đập, tù đày, trục xuất hoặc thủ tiêu, chém giết …!

Tất cả những kế hoạch bắt đạo như vậy, đang diễn ra trong các nước cộng sản, với những phương pháp và những thủ đoạn giống hệt nhau. Sự đồng nhất ấy chứng tỏ: riêng về vấn đề bắt đạo, các nước cộng sản đều nhất trí như nhau, họ đều tích cực như nhau, đều gặp gỡ nhau, đều xảo quyệt và tàn ác như nhau. Giáo Hội từ khi lập đến nay chưa bao giờ phải chịu những cuộc bách hại có tổ chức đại quy mô và ác liệt như vậy.

Với tất cả những anh em đang bị bách hại bên kia các bức màn sắt, nhất là với những anh em đang chịu đau khổ bắt bớ, chém giết ở bên kia vĩ tuyến 17, chúng tôi xin mượn lời Đức Thánh Cha Gioan XXIII bảo họ:

“Với các Đấng chăn chiên đang nêu lên cho các con cái thiêng liêng của mình gương sáng của một Đức Tin không lay chuyển, của một lòng trung thành tới mức hy sinh cả mạng sống, với các bổn đạo đang bị bách hại khổ sở, nhưng rất được Trái Tim Chúa Giêsu Kitô yêu thương, Chúa là Đấng đã hứa hạnh phúc và phần thưởng đời đời cho những ai bị bách hại vì lòng công chính, với tất cả, Ta tha thiết nhắn nhủ hãy kiên trường trong công cuộc chiến đấu thiêng liêng. Chúa nhân từ có những chương trình không ai dò thấu được, sẽ không để cho ai thiếu sự nâng đỡ cần thiết, thiếu ơn Thánh quý báu, thiếu sự an ủi bên trong. Với các con cái đang bị bách hại, tất cả Giáo Hội tin tưởng vào sự chiến thắng cuối cùng, xin cùng họ hợp nhất trong lời cầu nguyện và chia sẻ mọi nỗi đau đớn”. (Thông điệp Thủ Lĩnh các Chúa Chiên).

VIỆC CẢI TẠO ĐỜI SỐNG

Trước tình trạng đó, để khỏi mắc mưu và sa phạm vào những hành động dại dột, người công giáo vừa phải có ngay một thái độ rõ rệt, vừa phải chuẩn bị cho mình những sức mạnh thiêng liêng cần thiết.

Để đánh lừa những người ngây thơ, dễ tin, người ta đã dám công khai tuyên truyền thuyết sống chung, tưởng như có thể có sự sống chung giữa sự lành và sự dữ, giữa nhân đức và tội ác, giữa Thiên Chúa và ma quỷ. Nhưng anh em phải biết, sự sống chung ấy không thể thực hiện được. Đức Thánh Cha Gioan XXIII đã nói: “Nền hòa bình mà Giáo Hội tha thiết kêu gọi không được coi như là sự nhượng bộ và thiếu cương quyết trước những lý thuyết hay những cách sống đi ngược hẳn lý thuyết công giáo. Giáo Hội yêu hòa bình, không có nghĩa là Giáo Hội nhửng nhưng trước những tiếng than khóc thống thiết đang vang dội đến Ta từ những nơi mà quyền lợi con người không được đếm xỉa đến, nơi mà sự nói dối được tổ chức quy mô” (Thông diệp Giáng Sinh của ĐTC Gioan XXIII, 23.12.1959)

Quanh Chuyện Cành Đào Hồ Chí Minh Gởi Vào Nam - Nguyễn Quang Duy

Nguyễn Quang Duy

Ông Quách Tòng Đức, Đổng Lý Văn Phòng Tổng Thống Ngô Đình Diệm xác nhận một Tết Nguyên Ðán, một cành đào đỏ lộng lẫy được trưng bày nơi phòng khánh tiết Dinh Ðộc lập với tấm thiệp in tặng của “Chủ tịch Nhà nước Cộng hòa Xã hội Miền Bắc” (Lâm lễ Trinh, trang 89). Một số người đã gắn liền câu chuyện cành đào và một vài tin đồn khác để lý luận ông Diệm và ông Nhu đã đi đêm, hoà giải, ve vãn, bắt tay, đầu hàng, … hay mắc lừa phe cộng sản. Đến đánh mất tín nhiệm và hậu thuẫn cuả Hoa Kỳ, để dẫn đến đảo chánh 1-11-1963. Nhiều người khác lại cho rằng miền Nam mất đi một cơ hội hòa bình, trung lập, không cộng sản, ...

Gần 50 năm qua, không ít người đã tranh luận về đề tài này. Tháng 3-2003, trên diễn đàn Giao Điểm, nhà sử học Vũ Ngự Chiêu chứng minh việc hai ông Diệm và Nhu ve vãn nhằm bắt tay với Việt cộng. Thì chỉ đến tháng 7, cùng trên diễn đàn ông Nguyễn Ngọc Giao lại chứng minh điều trên không đúng sự thật. Cần phải nói là cả hai lập luận cùng chủ yếu dựa trên hồi ký của Mieczyslaw Maneli, nguyên Trưởng Đoàn Kiểm Soát Đình Chiến Ba Lan.

Sự mâu thuẫn này không phải chỉ xảy ra riêng với các nhà nghiên cứu gốc Việt. Hầu hết các học giả Tây Phương cũng mắc chung một hoàn cảnh. Một phần vì nhãn quan mỗi người mỗi khác, Maneli chỉ viết lại công việc của mình, không đề cập đến một số việc chung quanh, sinh ra nhiều câu hỏi để tùy người đọc diễn giải.

Bài viết này dựa trên một số tài liệu mới từ Đảng Cộng Sản và từ Bộ Ngọai Giao Ba lan và Liên Sô, cũng như từ phía Việt Nam để làm rõ hơn vấn đề như: Có thật hai ông Diệm – Nhu muốn thương lượng với cộng sản hay không ? Chuyện cành đào có thực hay không ? Hồ chí Minh có muốn thương lượng với miền Nam hay không ?

Thế Giới Những Năm Đầu 1960

Khi đã củng cố được quyền hành, Khruschev đề xướng một chiến lược mới cho toàn khối cộng sản. Chiến lược này chủ trương chung sống hòa bình giữa các nước có chế độ chính trị và xã hội khác nhau. Theo đó, Liên Sô tập trung vào việc xây dựng kinh tế cho khối cộng sản, áp dụng những thành tựu khoa học và kỹ thuật mới nhất vào sản xuất, tăng năng suất lao động, tăng sản lượng sản xuất. Thông qua tăng trưởng kinh tế, Liên Sô kỳ vọng đủ khả năng để ủng hộ các nước đang phát triển và ủng hộ các phong trào cộng sản trên toàn thế giới, mở rộng ảnh hưởng của Quốc Tế Cộng Sản.

Phía Trung cộng không chấp nhận chiến lược trên. Họ cho rằng Liên Sô sợ chiến tranh với Mỹ, sợ bom nguyên tử cuả Mỹ, đầu hàng đế quốc Mỹ. Theo quan niệm của họ có chiến tranh cách mạng quốc tế càng mau thắng lợi, càng sớm tiến đến thế giới đại đồng.

Phía Hoa Kỳ, tổng thống Kennedy khi ấy vừa đắc cử đã phải đương đầu với tranh chấp ở Tây Bá Linh (Tây Đức), thất bại trong cuộc đổ bộ Vịnh Con Heo (Cu Ba), và tính sai trong việc trung lập hoá Lào. Những thất bại liên tục này đã dẫn đến một chiến lược chống cộng thiếu tích cực “vừa dọa vừa đàm”.

Toà thánh Vatican cũng thay đổi chiến lược chấp nhận chung sống hòa bình với những người cộng sản.

Pháp thì muốn tạo lại ảnh hưởng ở các quốc gia cựu thuộc địa, vận động cho giải pháp trung lập hoá Đông Dương. Tranh chấp giữa Liên Sô và Trung cộng càng ngày càng căng thẳng. Bắc Việt càng ngày càng nghiêng về phía Trung cộng, chủ trương xử dụng vũ trang để chiếm miền Nam . Phe Liên Sô đánh giá một Việt Nam trung lập theo đề nghị của Pháp sẽ có lợi hơn một Việt Nam bị lệ thuộc vào Trung cộng. (G. K. Magaret tài liệu số 2 trang 38)

Ấn Độ khi ấy lại có chiến tranh biên giới với Trung Cộng. Theo hiệp định đình chiến Genève, Ấn Độ và Ba Lan là hai quốc gia trong Phái Đoàn Kiểm Soát Đình Chiến tại Việt Nam. Ngoại trưởng Ấn M.J. Desai cũng đương kim chủ tịch Phái Đoàn.

Theo những tài liệu mới từ phía Ba Lan, vào tháng 1-1963, Ngoại trưởng Ba Lan Adam Rapacki sang thăm Ấn Độ. Ông đã được Thủ Tướng Ấn Jawaharal Nehru và Ngoại trưởng Ấn M.J. Desai tiếp đón. Trong cuộc gặp, Rapacki bàn đến một giải pháp trung lập hoá cả hai miền Nam Bắc và tổ chức tổng tuyển cử để thống nhất Việt Nam. Thủ Tướng Ấn Độ Nehru cho biết Hoa Kỳ cũng muốn giải quyết những mâu thuẫn ở Việt Nam bằng giải pháp trung lập.

Từ cuộc gặp trên, Rapacki đã tiếp xúc với Đại Sứ Mỹ tại Ấn Độ, ông John Kenneth Galbraith để tìm giải pháp trung lập Việt Nam . Trong cuộc họp từ ý kiến riêng, ông Galbraith đã đề nghị trước tiên hai phía cùng tiến hành việc ngừng bắn trong vòng sáu tháng. (G. K. Magaret tài liệu số 1 trang 37). Trong nhật ký công tác ngày 21-1-1963, ông Galbraith xác nhận việc này. Sau đó đã báo về cho Tổng thống Kennedy đề nghị của mình. (G. K. Magaret tài liệu số 2 trang 38)

Như vậy tám tháng trước ngày hai ông Nhu và Maneli gặp nhau, phía Hoa kỳ và Ba Lan đã thảo luận về một giải pháp cho Việt Nam. Nhưng không biết vì lý do gì đề nghị cuả Đại Sứ Mỹ Galbraith đã không được tiến hành. Cũng như không hiểu giữa Mỹ và Ba Lan sau này còn có các cuộc gặp gỡ khác hay không ?

Maneli và các cuộc gặp gỡ hai phía Bắc Nam

Cũng theo những tài liệu mới từ phía Ba Lan, trong trừơng hợp của Maneli, Ba Lan hoàn toàn không có ý định xen lấn vào nội tình Việt Nam. Thượng cấp Maneli đã chính thức cấm ông ta làm trung gian hay gặp riêng ông Nhu, ngay cả nếu ông bị áp lực từ phía Bắc Việt. Họ chỉ cho phép ông ta thực hiện vai trò giám sát quốc tế. Phía Ba Lan đã thấy được Maneli chỉ là một chuyên viên luật, không kinh nghiệm ngọai giao, thiếu kiến thức và kinh nghiệm chính trị, dễ bị vướng những bẫy ngầm làm ảnh hưởng đến phía Ba Lan. (xem G. K. Magaret)

Tuy vậy, Maneli với bản tính tính cực và phấn đấu, công việc giám sát quốc tế thì lại rất nhàm chán chủ yếu chỉ viết báo cáo, lại lỡ trớn và tò mò mới xảy ra câu chuyện gặp gỡ với ông Nhu. Maneli cho biết các Đại sứ Roger Lalouette (Pháp), d’Orlandi (Ý), Ram Goburdhun (Ấn độ) và Salvatore d’Asta (Tòa thánh Vatican) là những người đã trực tiếp thúc đẩy việc ông gặp gỡ ông Nhu. Gián tiếp thì có Đại sứ Anh Hohler.

Do những thúc đẩy từ nhiều phía như đã kể ra, Maneli đã bay ra Hà Nội để xin ý kiến của phía Liên Sô và đã được Đại sứ Liên Sô tại Hà Nội đồng ý. Lúc này Ba Lan đang là một chư hầu của Liên Sô, sự đồng ý của Liên Sô đủ bảo kê cho cuộc gặp gỡ.

Những tài liệu mới phát hiện cũng cho biết Liên Sô không mấy quan tâm đến việc Maneli muốn làm. Có lẽ cả Ba Lan lẫn Liên Sô đều đã rõ khi ấy Bắc Việt đã ngã hẳn về phiá Trung Cộng. Liên Sô chấp nhận cuộc gặp chẳng qua chỉ muốn thu nhặt thêm tin tức của cả hai phía Bắc và Nam Việt.

Vào tháng 5-1963, ngay khi kế họach liên lạc với ông Nhu được chuyển cho phía Hà Nội, Maneli đã nhận ngay hồi đáp như sau: “Phạm văn Đồng xác quyết đề nghị (ngừng bắn và trung lập) của chủ tịch Hồ chí Minh và tuyên bố của chính phủ (VNDCCH) vẫn còn hiệu lực: Chính phủ nhân dân (VNDCCH) đã sẵn sàng bắt tay thương lượng vào bất cứ lúc nào, bí mật hay công khai.” (M. Maneli, trang 121). Sau đó trong lần gặp gỡ Phạm văn Đồng còn khéo miệng tuyên bố: “Ông Nhu chắc chắn có khả năng suy nghĩ thực tế, vì ông đã tốt nghiệp cao đẳng (lycée) ở Chartres” Khi Maneli kể lại chuyện này cho Đại sứ Pháp ông ta đã phải thốt lên “quá thích thú, quá quan trọng” (M. Maneli, trang 122).

Ngay sau đó Maneli đã gặp, và được Xuân Thủy cho biết: “… đầu tiên là trao đổi văn hóa và buôn bán (gạo đổi than) trước khi bàn đến chuyện chính trị” (G. K. Magaret tài liệu số 16 trang 59).

Vài ngày sau Maneli đã nhận được một lời nhắn của phái đoàn Ba Lan từ Hà Nội: “Các đồng chí Vịêt Nam rất mong tất cả chi tiết liên hệ đến việc thu xếp cho cuộc gặp với Nhu và chi tiết về cuộc gặp gỡ này” (M. Maneli, trang 123). Trưởng đòan Kiểm Soát Đình Chiến Bắc Việt, Hà văn Lâu còn gởi cho Maneli một điện tín: “Các đồng chí lãnh đạo đòi hỏi thông báo ngay tức thì những bước tiếp và mong rằng mọi việc sẽ tiến hành tốt đẹp, trước khi gặp Nhu, đồng chí cần ghé Hà Nội để thảo luận” (M. Maneli, trang 123).

Đầu tháng 7-1963, Maneli trở lại Hà Nội. Lần này, Maneli được gặp Hồ chí Minh, Phạm Văn Đồng, Xuân Thuỷ và Ung văn Khiêm. Trong hồi ký, Maneli cho biết: “Tôi hỏi Phạm Văn Đồng và Xuân Thuỷ nên làm gì nếu Ngô Đình Nhu mời tới nói chuyện. Họ trả lời ngay lập tức : nhận gặp và lắng nghe. Tôi lại hỏi họ có muốn tôi nói gì (với Nhu). Họ trả lời: ‘Tất cả những gì đồng chí biết về lập trường của chúng tôi trong sự trao đổi và hợp tác kinh tế và văn hoá (giữa hai miền). Một điều chắc chắc là: Mỹ phải rút đi. Trên cơ sở chính trị ấy, chúng tôi có thể thương lượng bất cứ điều gì”. Maneli hỏi thêm về khả năng một chính phủ liên hiệp ở miền Nam hay một hình thức liên bang Bắc Nam, Phạm văn Đồng trả lời: “Trên cơ sở độc lập và chủ quyền của Việt Nam , mọi điều đều có thể thương lượng. Hiệp định Genève đã đặt ra nền tảng pháp lý và chính trị: không có căn cứ hay quân đội nước ngoài trên lãnh thổ đất nước chúng tôi. Như thế, chúng tôi có thể đi tới thoả thuận với bất luận người Việt Nam nào.” (M. Maneli, trang 127-28).

Khi nhận được dấu hiệu khuyến khích từ Đại sứ Liên Sô và biết được sự phấn khởi từ phía Hà Nội, trở vào Sài Gòn, Maneli báo cho Lalouette và d’Asta biết để thu xếp cuộc gặp với Ngô Đình Nhu. Trong cuộc tiếp tân chiều ngày 25-8 của Quyền Ngọai Trưởng VNCH Trương Công Cừu, các ông Lalouette, d’Orlandi, Goburdhun and d’Asta đã giới thiệu Maneli với ông Nhu. Ông Nhu đã vui vẻ ngỏ lời mời Maneli thu xếp gặp riêng. Ngay ngày hôm sau văn phòng của ông Nhu đã liên lạc và hẹn cuộc gặp vào sáng ngày 2-9-1963.

Trong cuộc gặp gỡ tại dinh Độc Lập, Maneli cho biết ông Nhu dành cả hai tiếng đồng hồ nói về chủ nghĩa cần lao nhân vị, chính sách ấp chiến lược, thành quả cuả Việt Nam Cộng Hoà .v.v… Riêng về vấn đề hiệp thương giữa hai miền Nam-Bắc, Maneli cho biết ông Nhu chỉ có ý như sau: “…Tôi không chống lại việc đàm phán và hợp tác với miền Bắc, và như ông biết, nhiều nhà ngoại giao phương Tây đã đề nghị với tôi. Ngay trong những trận giao tranh tàn ác nhất, người Việt Nam cũng không quên ai là người Việt, ai là ngoại quốc. Nếu có bắt đầu đối thoại trực tiếp, thì có thể tiến tới xích lại gần. Và Uỷ hội quốc tế - cũng như bản thân ông - sẽ đóng vai trò tích cực ở đây … Trong tương lai gần, tôi không dự liệu điều gì dẫn tới nói chuyện trực tiếp, nhưng sớm muộn có thể sẽ hé ra khả năng …” (M. Maneli, trang 146) Như vậy ông Nhu chưa có một ý để đi xa hơn nói chuyện trực tiếp với lãnh đạo cộng sản Bắc Việt.

Ngay sau cuộc họp Maneli đã báo cáo về Ba Lan với một kết luận như sau “Những tuyên bố thiếu vững chắc của ông Nhu chính là kết qủa của sự bất ổn và kỳ vọng cây cầu với người Mỹ vẫn chưa bị đốt cháy”. (Magaret K. G. tài liệu số 21, trang 67)

Phần vì tò mò phần vì muốn thâu nhặt tin tức, Maneli đã đặt câu hỏi về mối liên lạc hay đàm phán trực tiếp giữa hai miền Nam-Bắc với ba ông Nhu, Thủy và Đồng. Xuân Thủy vừa giỡn vừa trả lời : "Có phải ông thực sự tưởng tượng rằng chúng tôi thương lượng hay đồng ý với ông Nhu?" (M.K. Gnoinska, trang 147) Ông Nhu và ông Đồng thì cho biết đây chỉ là những lời đồn đãi: "Ông Nhu hỏi lại, có phải ông đã chịu thua dư luận? đó chỉ là chuyên đùa" (Maneli, trang 147) và ông Đồng có cùng chung phản ứng đã hỏi lại "Có phải đồng chí đã tin vào những câu chuyện như vậy hay không ?" (Maneli, trang 147) Sau 1/11/1963, Phạm văn Đồng đã giải thích cho Maneli các nguồn tin từ tướng đảo chánh về các cuộc đàm phán Bắc Nam như sau: ”Đó chỉ là giả dối, phe đảo chánh thông báo tin này chỉ để giải thích lý do phản lại Diệm”. (G. K. Magaret tài liệu số 21, trang 67)

Ngay chiều hôm đó, ông Nhu đã tiếp Đại sứ Hoa kỳ Lodge, Đại sứ Ý d’Orlandi và Khâm sứ tòa thánh Vatican d’Asta. Ông Nhu cho biết về cuộc gặp gỡ với Maneli vào ban sáng. Ông Nhu nói Maneli đã yêu cầu ông chú ý đến tuyên bố của De Gaulle và Hồ Chí Minh về giải pháp trung lập Việt Nam và tiến hành tổng tuyển cử, rồi hỏi ông Nhu muốn chuyển lời gì cho Phạm Văn Đồng. Ông Nhu trả lời “Chẳng có gì cả”.

Không một dấu hiệu nào cho thấy ông Nhu muốn tiếp tục quan hệ với Maneli trong vai trò “đi đêm” với Hà Nội. Cuộc gặp gỡ tại Dinh Độc Lập cho thấy ông Nhu chỉ muốn chứng minh với Hoa Kỳ rằng nếu bị Hoa Kỳ bỏ rơi ông ta có khả năng thương lượng trực tiếp với Bắc Việt. Không như ông tính đây lại chính là bằng chứng duy nhất để phía Hoa Kỳ lập luận ông Nhu muốn thay đổi chiến lược chống cộng của Hoa Kỳ.

Ngược lại phía Bắc Việt lại rất mong Maneli đứng ra làm trung gian. Trước khi xem xét về phía Bắc Việt thật giả ra sao người viết sẽ phân tích một vài tin đồn khác có liên quan.

Chuyện đồn Ngô Đình Nhu gặp Phạm Hùng

Ông Cao Văn Vỹ cho biết trong một chuyến đi săn với ông Nhu và trung tá Bường (tỉnh trưởng tỉnh Bình Thuận) tại khu rừng Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận, ông Nhu đã bí mật tiếp xúc với hai người. Ông Vỹ và trung tá Bường cả hai đều không được tham dự buổi họp. Họ chỉ quan sát từ phía ngoài, ông Vỹ chỉ biết ông Nhu ngồi trong lều săn nói chuyện với hai người, nhưng không biết là ai, vì lúc đó là ban đêm. Theo ông, có lẽ trung tá Bường biết vì chịu trách nhiệm an ninh và tổ chức cuộc gặp gỡ. (Vĩnh Phúc, trang 336)

Ông Quách Tòng Đức cho biết: “Chính ông Nhu có nhắc đến chuyện này trong vài phiên nhóm với tướng lãnh tại Bộ Quốc phòng và ngày 23.7.1963 tại suối Lồ Ồ khi nóí chuyện với các cán bộ xây dựng Ấp Chiến lược khóa 13”. (Lâm lễ Trinh trang 98) Ông Trần văn Đôn tìm hiểu và biết rõ nhân vật ông Nhu gặp trong rừng Tánh Linh chính là Phạm Hùng (Trần văn Đôn trang 183)

Thực ra vào năm 1963, Phạm Hùng là uỷ viên Bộ chính trị Đảng Lao động Việt Nam, phó thủ tướng chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Do đó ông họat động tại miền Bắc. Trong khi ấy, người lãnh đạo Trung ương cục miền Nam là ông Nguyễn Văn Linh. Năm 1964 tướng Cộng sản Nguyễn Chí Thanh lên thay. Tháng 7 năm 1967, tướng Thanh trên đường về Bắc nhận chỉ thị tổng tấn công Mậu Thân bị bom chết dọc đường. Phía cộng sản đưa tin ông Thanh đột ngột qua đời ở Hà Nội do bị đau tim. Tháng 10 năm 1967, Phạm Hùng mới vào Nam thay thế tướng Thanh. Phạm Hùng thuộc phe cánh của Lê Duẩn và Lê Đức Thọ, chủ chiến không chấp nhận thương thuyết với miền Nam. Tin đồn Ngô đình Nhu gặp Phạm Hùng đã được cựu đại sứ William Colby ghi trong hồi ký của ông. Colby còn cẩn thận ghi thêm “Giai thoại này có thể là chuyện bịa” (xem Nguyễn Ngọc Giao)

Chiếu theo bản tóm lược về Mục tiêu cuả Hoa kỳ trong cuộc chiến tranh Việt Nam của Hội Đồng An Ninh Quốc Gia, tháng 9 năm 1963, nhiệm vụ của các nhân viên Hoa Kỳ là phải: ”… Ngụy tạo những tài liệu liên kết Nhu với Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà (Hà Nội) làm cho Nhu mất tín nhiệm với các tướng lãnh…” (Phạm Văn Lưu, trang 246) Ở thời điểm này, ông William Colby đang làm vụ trưởng Vụ Viễn Đông của Cơ Quan Tình Báo Hoa Kỳ (CIA). Câu chuyện biết đâu lại do chính Colby bịa rồi cho CIA tung ra trước ngày đảo chánh.

Sau hơn 35 năm, Cộng Đồng Người Việt Hải Ngọai vẫn không chấp nhận mọi liên lạc với nhà cầm quyền cộng sản. Người miền Nam lúc ấy so ra chỉ chưa đầy 9 năm thoát khỏi Việt Minh. Cá nhân ông Nhu lại xác nhận có liên lạc với cộng sản. Hiểu được như vậy mới thấy Hội Đồng An Ninh Quốc Gia Hoa Kỳ quá sức thâm độc khi đề ra nhiệm vụ nói trên. Đây chính là ngòi nổ cho cuộc đảo chính 1/11/1963 và dẫn đến sự hy sinh của anh em ông Diệm.

Trở lại câu chuyện ở rừng Tánh Linh, không thấy ông Vỹ nhắc đến việc bảo vệ ở phía bên kia, như vậy chỉ có 3 người họp và 2 người bảo vệ vòng ngoài. Một cuộc họp như vậy chỉ có thể xảy ra khi hai bên cùng một phía và phải hết sức tin tưởng nhau. Như vậy có thể hai người được ông Nhu gặp là gián điệp Quốc gia về trực tiếp báo cáo tình hình với ông Nhu.

Chuyện đồn từ những người đi từ miền Bắc

Ông Trần Hùng Văn một nhà báo đi từ miền Bắc cho biết ông Nguyễn Tài, nguyên Thứ trưởng Bộ Công An Bắc Việt, được lệnh vào Nam để thu xếp cuộc gặp giữa hai ông Ngô đình Nhu và Phạm Hùng. (Vĩnh Phúc, trang 339-340) Nguyễn Tài sau khi vào Nam bị quân đội Quốc Gia bắt. Sau năm 1975 ông lại bị Lê Đức Thọ giam lỏng để điều tra.

Ông Tài có viết hồi ký cho biết Lê Đức Thọ đã từng nói thẳng với ông bị bắt sao không chịu chết đi. Xuyên suốt hồi ký hình như Nguyễn Tài vẫn thắc mắc không biết tại sao Lê Đức Thọ lại đối xử quá nghiệt với mình (một đồng chí trung kiên) như vậy. Câu trả lời có thể là chính Lê Đức Thọ tung tin Nguyễn Tài làm trung gian giữa hai ông Nhu và Phạm Hùng. Lê Đức Thọ không ngờ rằng ông Tài còn sống để cho chúng ta biết rằng ông đã được điều động vào Nam năm 1964. Khi ấy ông Nhu đã về đất Chúa.

Liên lạc để kêu gọi chiêu hồi

Tháng 4-1963, Việt Nam Cộng Hoà (VNCH) ban hành chính sách Chiêu Hồi. Ông Nhu cũng nhiều lần xác nhận có liên lạc với Việt Cộng để thuyết phục họ mang quân về hàng. (Chính Đạo, trang 309)

Ông Nguyễn văn Chức, một nhân sỹ tại Canberra, đã kể cho người viết và rất nhiều đồng hương câu chuyện Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (MTGPMN) đã có ý định xin hàng. Ông Chức trước đây ngoài làm cho Đài Gươm Thiêng Ái Quốc, ông còn dịch và thẩm định những tài liệu cuả cộng sản. Ông Chức cho biết sau Biến Cố Mậu Thân, trong một trận phục kích quân đội VNCH đã bắn chết 1 cán bộ, 2 giao liên và thâu được một tài liệu quan trọng. Theo tài liệu này một số cán bộ cao cấp của MTGPMN đã họp bàn với ý định mang toàn thể MTGPMN ra hàng. Nhiệm vụ của người cán bộ bị phục kích là mang tài liệu nói trên đến một số cán bộ cao cấp khác cũng có ý định ra hàng. Cơ quan tình báo Hoa Kỳ cho dịch tài liệu này ra Anh ngữ. Ông Chức được giao trách nhiệm thẩm định tài liệu. Ông Chức đã kết luận đây là một tài liệu thực, nhưng không biết Hoa kỳ có sử dụng tài liệu này hay không ?

Xem chủ trương cuả Hồ chí Minh về MTGPMN: “Mình phải đưa Mặt trận Dân tộc Giải Phóng ra. Phải chú ý đến bọn leo nheo, theo đóm ăn tàn …” (HCM, BNTS, tập 8, trang 368) Rồi mới thấy ông Nhu đã nhìn ra tổ chức này để đề ra chính sách Hồi Chánh. Đến năm 1974, sau 10 năm chính sách Hồi Chánh được ban hành, đã có trên 200.000 hồi chánh viên. Nhiều đơn vị cộng sản cấp đại đội, tiểu đoàn đã ra hồi chánh tập thể. Hồi Chánh là một chính sách nhân đạo và thành công nhất của chính quyền Quốc Gia, nhưng lại ít hay không được giới sử gia để ý tới.

Sau 1968, Bắc Việt đã công khai điều động chiến tranh xâm lược miền Nam. Năm 1975, họ cho quân chính quy trực tiếp vượt vĩ tuyến 17, đánh chiếm miền Nam, rồi vội vàng giải thể MTGPMN. Nhiều cán bộ MT cao cấp đã bị bắt, bị quản thúc hay phải trốn tránh ra hải ngoại. Hà Nội phải mang cả một guồng máy cầm quyền từ miền Bắc vào áp đặt lên miền Nam. Hy vọng tài liệu về MTGPMN xin hàng sẽ được tìm thấy trong núi hồ sơ cuả CIA để chúng ta hiểu rõ hơn về tổ chức này.

Hoa kỳ quyết định đảo chánh ngày 24-8-1963

Song song với việc bổ nhiệm Đại Sứ Henry Cabot Lodge, phe chủ chiến Hoa kỳ M - W. Averell Harriman, Roger Hilsman, Ball, Getsinger và V. Forrestal, đã đồng ký một công điện mang số 243 chỉ thị cho ông Lodge thực hiện cuộc đảo chánh lật đổ chính phủ Ngô Đình Diệm. Đây là loại công điện tối mật cần hành động lập tức (top secret and operation immediate). Đô Đốc Harry Felt, Tư Lệnh Mỹ tại Thái Bình Dương, cũng đã góp ý kiến vaò việc soạn công điệp này. Công điện đã được đánh đi khẩn cấp vào tối thứ bảy 24-8-1993. Công điện ghi rõ: “Chính phủ Hoa Kỳ không thể để cho Nhu nắm quyền hành trong tay. Chúng ta sẽ cho Diệm cơ hội để tách rời ra khỏi Nhu và bè đảng của Nhu và thay vào đó bằng những nhân vật có khả năng trong giới quân nhân và chính trị có thể tìm được. Tuy nhiên, sau khi dùng mọi nỗ lực mà Diệm vẫn khước từ và đối kháng, chúng ta sẽ phải đối diện với một khả thể: chính ông Diệm cũng không thể nào được để tồn tại.” (Nguyễn kỳ Phong, hình công điện bìa sau sách)

Như vậy việc lật đổ Chính phủ Ngô đình Diệm đã được quyết định trước ngày Maneli gặp ông Nhu. Tất cả những tin đồn, tin chính thức, báo cáo chỉ được dựng lên hay thêm bớt nhằm thực hiện chỉ thị trên.

Tranh chấp giữa hai phe lãnh đạo Cộng sản Bắc Việt

Từ những năm đầu 1950, Trung Cộng đã trực tiếp chỉ đạo chiến tranh, chỉ đạo cuộc chỉnh huấn (một hình thức thanh trừng nội bộ) và cuộc cải cách ruộng đất. Mao Trạch Đông không hề che giấu ý đồ dùng Đông Dương làm bàn đạp và đảng Cộng sản Việt Nam làm công cụ để bành trướng phong trào Cộng sản xuống các nước Đông Nam Á. Do đó không lạ gì khi thành phần công khai thân Trung Cộng như Lê Duẩn (bí thư), Lê Đức Thọ (Tổ Chức Đảng), Trần Quốc Hoàn (Công An), Nguyễn chí Thanh (Quân Đội), … nắm đa số lãnh đạo miền Bắc. Phe thân Nga chỉ là thiểu số, họ lại còn bị mang tiếng là thiếu tích cực thống nhất đất nước, không cổ vũ việc “giải phóng” miền Nam .

Về mặt chìm phe thân Trung Cộng luôn luôn thắng thế, như Hội nghị lần thứ 15 cuả Trung Ương tháng 1-1959, bí mật ra quyết định điều động bộ đội miền Bắc chuyển vũ khí vào Nam, để tiến hành võ trang thống nhất đất nước. Hay Nghị Quyết 49/NQ/TVQH, được Quốc Hội Cộng Sản ban hành ngày 20-6-1961, cho phép bắt giam công dân 3 năm không cần thủ tục tố tụng. Chiếu theo Nghị Quyết này hàng trăm, cán bộ lãnh đạo thân Liên Sô sau này đã bị bắt giam không cần xét xử và nhiều người đã chết trong tù.

Qua báo Nhân Dân có thể thấy nhiều xung đột xảy ra công khai giữa hai phe nhóm kể trên. Qua những tài liệu có được, việc nghiên cứu quá trình xung đột giữa hai nhóm này sẽ giúp chúng ta hiểu thêm về giai đọan lịch sử này.

Ngày 7-1-1959, trên báo Tin Tức (Liên Sô), Hồ chí Minh chính thức xác nhận bản chất đánh thuê của tập đoàn Cộng sản Bắc Việt, (tự ví là “bộ đội biên phòng”): “Như vậy là ở Đông Nam Châu Á, chúng tôi đã đứng ở tiền đồn của mặt trận dân chủ và hoà bình toàn thế giới chống lại chủ nghĩa đế quốc và chiến tranh.” (HCMTT, tập 8, trang 258)

Tháng 11-1960, Hồ chí Minh tham dự “Đại Hội Mạc Tư Khoa”, đồng ý ký vào Tuyên Bố chung, đồng thuận với chiến lược thi đua hòa bình giữa các nước có chế độ chính trị và xã hội khác nhau do Liên Sô đề xướng.

Ngày 2-10-1961, dự phiên họp Bộ Chính trị, Hồ chí Minh giải thích lý do theo Liên Sô như sau: ”… Miền Nam đối với Mỹ rất quan trọng. Trước nó nói “Bắc tiến”, nay nó nói “Nam trị”, nhưng vẫn không từ bỏ âm mưu Bắc Tiến. Nó sợ mình đánh nó. Địch quân sự mạnh nhưng chính trị yếu. Ta, chính trị mạnh nhưng quân sự yếu. Nếu lấy sức độ sức để tiêu hao thì không lợi. Ta không lấy đấm chọi đấm mà lấy mưu mẹo diệt nó, trừ bọn ác đi bảo vệ cơ sở, phong trào dân sẽ lên …” (HCM, BNTS, tập 8, trang 150) Chủ trương này được các phe nhóm trong đảng Lao Động chấp nhận cho đến khoảng đầu năm 1963.

Ngày 1-1-1962, trên báo Nhân Dân có đăng “Lời chúc tết đồng bào cả nước”, trong đó Hồ chí Minh nhận xét “… lực lượng xã hội chủ nghĩa hơn hẳn lực lượng đế quốc, lực lượng hoà bình hơn hẳn lực lượng chiến tranh.” Và công khai đề nghị: ”Chúng ta luôn luôn chủ trương rằng: Thống nhất Việt Nam là sự kiện thiêng liêng cuả toàn dân Việt Nam. Đại diện của hai miền có thể gặp nhau, cùng nhau bàn bạc, tìm con đường tốt nhất để hoà bình thống nhất Tổ quốc, trên cơ sở độc lập, dân chủ như Hiệp định Giơ-ne-vơ đã quy định.” (HCMTT, tập 9, trang 272)

Ngày 28-3-1962, để trả lời phóng viên báo “Tin Nhanh Hàng Ngày” ở Luân Đôn (bài này đã được đăng trên báo Nhân Dân), Hồ chí Minh khống thiết kêu gọi: “Chính phủ nước VNDCCH đã nhiều lần đề nghị với chính quyền miền Nam, hai bên phái đại diện gặp nhau để bàn bạc cách giải quyết theo phương pháp hòa bình, và vưà rồi, trong bản Tuyên Bố ngày 18-2-1962, chính phủ nước VNDCCH lại một lần nữa yêu cầu hai chủ tịch và các nước tham gia Hiệp nghị Giơ-ne-vơ năm 1954 về Đông Dương nghiên cứu gấp những biện pháp có hiệu qủa để chấm dứt cuộc vũ trang xâm lược của đế quốc Mỹ vào miền Nam Việt Nam, nhằm bảo vệ hòa bình cuả Đông Dương và Đông Nam Á. Việc miền Nam theo chế độ trung lập hay một chế độ nào khác là do nhân dân miền Nam quyết định … Chính phủ nước VNDCCH đã từng đề nghị (Công hàm ngày 22-12-1958) với chính quyền miền Nam bình thường hoá quan hệ giữa hai miền về mặt kinh tế và văn hóa, về việc đi lại và thư tín giữa hai miền, v.v…” (HCMTT, tập 9, trang 319-320)

Ngày 22-7-1962, trả lời phóng viên báo Tin Tức và Sự Thật Thanh Niên (Liên Sô) về đường lối và biện pháp Hồ tuyên bố: “Chúng tôi luôn luôn chủ trương thống nhất tổ quốc bằng đường lối hòa bình, luôn luôn đòi phải thực hiện đúng đắn Hiệp định Giơ-ne-vờ, đòi đế quốc Mỹ phải chấm dứt can thiệp vào chuyện nội bộ Việt Nam”. (HCM, BNTS, tập 8, trang 267)

Ngày 6-11-1962, kỷ niệm 45 năm Cách mạng tháng 10 Liên Sô, Hồ đã gởi điện tới Bí thư Đảng Cộng Sản Liên Sô trong đã nhấn mạnh: “Từ ngày thành lập Liên Sô luôn luôn thực hiện chính sách ngoại giao hòa bình và kiên trì đấu tranh cho chính sách chung sống hòa bình giữa các nước có chế độ chính trị khác nhau.” (HCM, BNTS, tập 8, trang 317)

Ngày 22-1-1963, chủ tịch Novotny của Tiệp Khắc thăm Hà Nội. Ngày 26-1, Hồ chí Minh và Novotny đã ký một Tuyên Bố Chung phản ánh quan điểm của Liên Sô và ca ngợi chung sống hòa bình là “chính sách đúng đắn nhất”. Ngay sau khi Novotny về nước, xung đột giữa hai phe trong đảng Lao Động căng thẳng hơn.

Ngày 17-2-1963, trong một cuộc họp Bộ Chính Trị, Hồ chí Minh đã phải yêu cầu “đoàn kết nhất trí trong đảng” trước tình hình hiện nay. Về vấn đề trung lập, Hồ đã phải gỉai thích như sau: “Mỹ bối rối, mình đề xướng trung lập. Đó là thắng lợi của mình. Nói hai bên đình chiến, mình không đánh, đình chiến gì?” (HCM, BNTS, tập 8, trang 367)

Kết quả, Ngoại trưởng Ung Văn Khiêm bị quy trách nhiệm vì đã soạn thảo Tuyên Bố Chung và bị thay bằng Xuân Thủy. Nguyễn văn Trấn cho biết Hồ chí Minh đã đọc và sửa lại bản nháp của bản Tuyên Bố nhưng làm ngơ, tránh trách nhiệm (NVT, trang 328). Đây là lần đầu Hồ chí Minh bán phe thân Liên Sô để nhập vào hàng ngũ thân Trung Cộng.

Nhờ đó mới dẫn đến thắng thế đầu tiên của phe chủ chiến chuẩn bị cho chuyến thăm Hà Nội vào tháng 5-1963 của Chủ tịch Trung Cộng, Lưu Thiếu Kỳ. Chuyến thăm này đưa Bắc Việt đứng hẳn về phía Trung Cộng, Hồ và Lưu Thiếu Kỳ ký một Tuyên Bố chung gọi “chủ nghĩa xét lại” và “cơ hội hữu khuynh” là đe dọa chính cho phong trào Cộng sản Quốc tế. Trong vòng chưa đầy 4 tháng, hai Tuyên Bố Chung phản ảnh hai quan điểm trái ngược, Hồ đã chuyển hẳn từ nhóm thân Nga sang nhóm thân Tàu.

Cần nhắc lại vào tháng 7, Maneli gặp Phạm văn Đồng và Xuân Thủy có cả sự hiện diện của Hồ chí Minh. Theo Hồi ký của Maneli, Hồ chỉ lắng nghe hai phía và không có ý kiến gì. Trong khi Maneli gặp ông Nhu thì Hồ chí Minh đang nghỉ mát tại Quảng Đông, Trung Quốc. Hồ họp riêng với Thủ tướng Trung Cộng Chu Ân Lai và đã tuyên bố như sau: “Đừng nói là phải đánh 5 năm, 10 năm, dù có 20 năm, 30 năm, thậm chí 50 năm cũng phải đánh, đánh cho đến khi thắng lợi hoàn toàn!”. (HCM, BNTS, tập 8, trang 457) Câu tuyên bố trên chỉ nhái lại khẩu hiệu: “Đánh đế quốc, đánh, đánh, đánh, đánh cho đến thắng lợi” do Mao Trạch Đông đề ra, nhằm biểu lộ chủ trương hiếu chiến và lòng trung thành cuả Hồ với Mao.

Cùng lúc ấy, một bài báo của Lê Đức Thọ, Trưởng ban Tổ chức Trung ương, được in trên báo Nhân Dân. Trong bài, nói một số đảng viên bị ảnh hưởng của “chủ nghĩa xét lại” và vì thế nghi ngờ chiến lược thống nhất đất nước của đảng. Bài báo là một bước trong sự chuẩn bị cho Hội nghị Trung ương lần thứ 9 tiến hành vào tháng 11 cùng năm.

Ngày 20-10-1963, Hồ chí Minh tiếp đoàn Đại biểu viện kiểm soát tối cao Liên Sô do ông R.A.Rutencô làm trưởng đoàn. Hồ tuyên bố: “Để hoà bình giải quyết vấn đề miền Nam Việt Nam hiện nay, chỉ có một cách là: Đế quốc Mỹ phải rút khỏi miền Nam Việt Nam, vấn đề miền Nam Việt Nam phải do nhân dân Việt Nam tự gỉai quyết lấy, như hiệp định Giơnevơ đã quy định”. (HCM, BNTS, trang 471) Tuyên bố này được đăng báo Nhân Dân 24-10-1993, như vậy Hồ đã chính thức từ bỏ chủ trương chung sống hoà bình cuả Liên Sô.

Tại Hội nghị Trung ương lần thứ 9, Lê Duẩn và Lê Đức Thọ đã phê phán chủ trương chung sống hòa bình và hội nghị kết thúc với nghị quyết đẩy mạnh công cuộc đấu tranh bằng vũ lực ở miền Nam.

Bùi Công Trừng đã kể lại cho Nguyễn văn Trấn như sau: “Cái thằng Lê Đức Thọ trước giờ họp, nó đi đi, lại lại trong phòng, như thể đội trưởng một tổ pháo đi kiểm tra đốc thúc pháo binh chuẩn bị … Tao đếm lão Hồ, đưa tay mấy lần, lần nào thằng Thọ cũng kịp ngăn: ‘Bác hãy để cho anh em nói mà ...” (NVT, trang 328) Phe thân Liên Sô chưa biết họ đã bị Hồ chí Minh bán sống nên Lê Đức Thọ mới dám lộng quyền như trên.

Sau Hội nghị Trung Ương lần thứ 9, nhóm Lê Duẩn tăng cường phê phán “chủ nghĩa xét lại hiện đại” (ám chỉ chủ trương thi đua hòa bình giữa các nước có chế độ xã hội khác nhau, mà Liên Sô, Khrushchev, cổ vũ). Trong loạt bài “Tăng cường mặt trận tư tưởng để củng cố Đảng” của Lê Đức Thọ, được đăng trên báo Nhân Dân, đã thừa nhận một thiểu số trong đảng không đi theo đường lối đã ra. Mặc dù bài báo không nêu tên cụ thể, nhưng theo các quan sát viên, sự ám chỉ nhắm đến những người như Bùi Công Trừng, Dương Bạch Mai, Lê Liêm, Ung Văn Khiêm … những người đã phát biểu phản đối nhóm của ông Lê Duẩn – Lê Đức Thọ trong Hội nghị 9. Lê Đức Thọ cũng loan báo các đảng viên sẽ phải dự các lớp học tập và chỉnh huấn để thấm nhuần nghị quyết của Hội nghị Trung Ương 9.

Tại hội trường Ba Đình, tháng 1-1964, trước các cán bộ cao và trung cấp học tập nghị quyết 9, Trường Chinh tuyên bố: “Đường lối đối nội và đối ngoại của Đảng ta và Nhà nước ta là thống nhất về cơ bản với đường lối đối ngoại và đối nội của Đảng Cộng Sản và nhà nước Trung Quốc.” (Nguyễn minh Cần, trang 129)

Chiến lược kinh tế của Liên Sô cũng hoàn toàn thất bại ở miền Bắc Việt Nam. Qua tuyên truyền trên báo chí, miền Bắc luôn luôn đạt kế hoạch đảng giao. Qua biên bản Hội Nghị Bộ Chính Trị và qua lời Hồ chí Minh thực tế khác xa: “Từ ngày hòa bình lập lại năm nào cũng thấy có thuận lợi, có khó khăn và năm nào cũng không đạt kế hoạch. Tình hình mỗi ngày một căng thẳng. Ta phải tính cách nào, nếu cần có thể phải giảm bớt một phần xây dựng để giải quyết vấn đề ăn và mặc cho quần chúng được tốt hơn nữa, đừng để cho tình hình đời sống căng thẳng quá.” (HCMBNTS, tập 8, trang 272) Sau 1975, sự nghèo đói cả tinh thần lẫn vật chất được giải thích là để miền Bắc tập trung giải phóng miền Nam . Chẳng qua chiến tranh chỉ là cái cớ để đảng Cộng sản che dấu thất bại về xây dựng kinh tế.

Trở lại chuyện cành đào

Ông Cao Xuân Vỹ cũng nhớ là vào tết nguyên đán năm 1963, Hồ chí Minh đã nhờ Đại sứ Ấn Độ trong Ủy Hội Kiểm Soát Quốc Tế Ðình Chiến chuyển tết ông Diệm một cành đào. Tổng thống Ngô đình Diệm chỉ biết khi món quà xuân đã về đến Dinh Độc Lập. Ông Diệm cho lệnh mở ra thấy có cành đào, một tấm thiệp chúc tết đề đại khái “Chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà kính tặng, chúc tết Tổng Thống Việt Nam Cộng Hoà” và một lá thơ ông Hồ gởi cho ông Diệm. (Vĩnh Phúc, trang 336)

Trên báo Con Ong Tỵ Nạn tại Paris, vào năm 1981, có phổ biến “Bức chúc thư của Hồ chí Minh” trong đó có đoạn: “Đầu năm 1963, hồi đó tôi còn chưa bị bọn quanh tôi bao vây chặt chẽ quá, tôi có nhờ mấy nhân viên Ủy Hội Kiểm Soát Quốc Tế Ðình Chiến chuyển vào Nam bộ hai cành đào lớn rất đẹp để tặng cụ Ngô đình Diệm, kèm theo một bức thư, trong thư đó, tôi có chân tình yêu cầu cụ Ngô cùng tôi thảo luận trong tình anh em, để hai bên cùng lo cho dân chúng hai miền, trên căn bản thi đua làm cho dân giàu, nước mạnh, theo đường lối riêng của từng người. Truyện này lộ ra, làm cụ Ngô bị giết trong Nam”. Rất nhiều người tin đây là chúc thư thật với thủ bút cuả Hồ chí Minh. Bài viết này không đánh giá bức chúc thư là thật hay giả. Nhân vật Hồ chí Minh đã tự viết sách tự ca ngợi là cha già dân tộc thì còn việc gì không dám làm. Nếu là thật, Hồ chí Minh nên dành nỗi thương tiếc “cụ Ngô” cho hằng trăm “đồng chí” tin Hồ và thân Liên Sô đã bị Hồ bỏ rơi chết trong tù hay trong đọa đày lao khổ.

Kết

Qua bài có thể thấy câu chuyện hai ông Diệm và Nhu muốn thương lượng với miền Bắc chỉ là một thế cờ (dọa Mỹ) tính sai nước. Người Mỹ đã phản phé nước cờ một cách tàn nhẫn lấy lý do trên.

Ngược lại trong cuộc hội thảo do Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ tổ chức vào cuối tháng 9/2010 vừa qua, cựu ngoại trưởng Hoa Kỳ Henry Kissinger lần đầu tiên thú nhận “... Hoa Kỳ thất bại ở Việt Nam là do chính người Mỹ làm ra,... Nước Mỹ muốn thỏa hiệp, Hà Nội muốn chiến thắng”. Người Mỹ đổ quân vào Việt Nam sau khi ông Diệm đã chết cũng chỉ muốn thảo hiệp trong thế mạnh nào ngờ đã sa lầy tại Việt Nam .

Trong khi đó, Hồ chí Minh và đảng cộng sản công khai chấp nhận làm “tiền đồn” đánh thuê cho phe cộng sản và xung đột để chọn giữa hai ông chủ Liên Sô và Trung Cộng. Cả hai phe đều chủ trương thống nhất Việt Nam. Phe Liên Sô, muốn dùng giải pháp chính trị thương lượng với miền Nam . Nếu bắt tay được với miền Nam là một thắng lợi lớn của phe này. Phe Trung Quốc thì chủ trương đánh để giải phóng miền Nam và thực hiện chiến lược bành trướng phong trào Cộng sản xuống các nước Đông Nam Á.

Cuối bàn xin dùng một hình ảnh dễ nhớ làm kết luận. Ở miền Nam , anh em ông Ngô Đình Diệm bị người Mỹ trói tay chỉ biết la làng. Từ miền Bắc, Hồ chí Minh một tay đưa tặng cành đào, tay khác dấu đằng sau con dao nhọn. Lê Duẩn và Lê Đức Thọ thì đằng đằng sát khí “cầm gươm ôm súng xông tới” vượt sang miền Nam. Ông chủ Liên Sô, Khruschev, buồn rầu không biết sao giúp đàn em. Ông chủ Trung Cộng, Mao trạch Đông cười toe toét miệng la lớn “hẩu hẩu” khen thưởng đàn em. Hình ảnh trên cũng bộc lộ toàn bộ cuộc chiến Bắc – Nam 1954-75.

Nguyễn Quang Duy
Melbourne, Úc Đại Lợi
30/10/2010

Tài Liệu Tham Khảo và Trích Dẫn:

Chánh Đạo, 2004, Cuộc Thánh Chiến Chống Cộng, Văn Hoá, Houston, Hoa Kỳ.

Hồ Chí Minh Biên Niên Tiểu Sử, 1996, Tập 8, Đặng Xuân Kỳ chủ biên, Nhà Xuất Bản Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội.

Hồ Chí Minh Toàn Tập, 1989, Tập 8 và Tập 9, Nhà xuất bản Sự Thật, Hà Nội.

Gnoinska K. Magaret, 2005, Poland and Vietnam , 1963: New Evidence on Secret Communist Diplomacy and the “Maneli Affair”, Working Paper No 45, Cold War International History Project, Woodrow Wilson International Center for Scholar.

Lâm Lệ Trinh, 2006, Về Nguồn Sinh Lộ Cho Quê Hương, Thủy Hoa Trang , California , Hoa Kỳ.

Mieczyslaw Maneli, War of the Vanquished, translated from the Polish by Maria de Gorgey, Harper & Row, New York , 1971.

Nguyễn Ngọc Giao, 1963 : Tìm hiểu cuộc “ đi đêm ”giữa Sài Gòn và Hà Nội, Diễn Đàn số 131 tháng 7.2003.

Nguyễn minh Cần, 2001, Đảng Cộng Sản Việt Nam Qua Những Biến Động Trong Phong Trào Quốc Tế Cộng Sản, Tuổi Xanh xuất bản.
Nguyễn Tài, Khúc khuỷu đường đời - Mười một năm liên tục đấu tranh để sự thật và lẽ phải được thừa nhận, talawas

Nguyễn Kỳ Phong, 2006, Vũng Lầy Bạch Ốc: Người Mỹ và Chiến Tranh Việt Nam 1945-1975, Tủ Sách Tiếng Quê Hương, Virginia, Hoa Kỳ.

Nguyễn văn Trấn, 1995, Viết Cho Mẹ Việt Nam, Văn Nghệ, Hoa Kỳ.

Phạm Văn Lưu, 1994, Biến Cố Chính Trị Việt Nam Hiện Đại: Ngô Đình Diệm và Bang Giao Việt Mỹ 1945-1963, Centre for Vietnamse Studies.

Vĩnh Phúc, 1998, Những Huyền Thoaị và Sự Thật về Chế Độ Ngô Đình Diệm, Văn nghệ, California, Hoa Kỳ.

Vũ Ngự Chiêu, Tướng Dương Văn Minh và Đệ Nhất Cộng Hoà , Diễn Đàn số 127 tháng 3.2003.


Saturday, October 30, 2010

Suy nghĩ về ngày 01-11-1963 - Võ Phương



Tổng thống Ngô Đình Diệm:
“Nhắm mắt bắt chước nước ngoài khác gì nhận trước sự bảo hộ của ngoại bang”

Võ Phương

Trong cuộc chiến đấu chống Đế Quốc Đỏ Nga-Tàu, tổng thống Ngô Đình Diệm có cùng chung mục tiêu với Hoa Kỳ là ngăn chận làn sóng CS từ phương Bắc tràn xuống phía Nam trong vùng Đông Nam Á Châu , nhưng cụ Diệm không hoàn toàn chấp nhận sách lược của Hoa Kỳ. Ngài có đường lối riêng để chỉ đạo cuộc chiến ở Nam Việt-Nam. Ngay từ những năm sau Hiệp Định Geneva 1954, với Quốc sách Ấp Chiến Lược (sau chương trình Khu Trù Mật/Ấp Dinh Điền) được xem là một đơn vị hành chánh nhỏ nhất của chính quyền miền Nam dùng để chống du kích quân VC. Trong đó, chủ trương Tam túc: tự túc về tư tưởng; tự túc về tổ chức và tiếp liệu; tự túc về kỹ thuật. Về tư tưởng, có thể được hiểu theo ý nghĩa ‘Nhân Vị’, nghĩa là mỗi con người sinh ra đã có sẵn một vị trí xứng đáng trong sinh hoạt xã hội. Vì thế, cần phải tôn trọng sự tự do suy tư của mỗi cá nhân trong công việc, có mối liên hệ chặt chẽ đến phúc lợi chung của toàn xã hội, bao gồm cả các nguyên tắc về lãnh đạo, chỉ huy trong ý thức tự chủ và dân chủ. Trong tinh thần đó, tổng thống Diệm đã dứt khoát không để bất kỳ một ngoại bang nào, chen vào nội bộ, giành quyền quyết định trong các vai trò lãnh đạo, chỉ huy từ trung ương đến địa phương. Chính người Việt Nam phải chủ động hành sử quyền hạn đó của mình.

Nếu nhìn về cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, vị anh hùng dân tộc Nguyễn Thái Học đã khẳng định ‘không thành công, cũng thành nhân’, thì trong cuộc đối đầu với thực dân Pháp và CSVN nô lệ Nga-Tàu, chí sĩ Ngô Đình Diệm cũng khẳng định ‘hoặc có tất cả hoặc không’ (tout ou non/all or nothing), chứ không chấp nhận ‘hư vị’. Chính vì không chấp nhận ‘hư vị’, và vì những đòi hỏi về chủ quyền quốc gia của nhà yêu nước họ Ngô không được người Pháp quan tâm, cho nên ngài đã từ chức Thượng Thư Bộ Lại (tuơng đương chức Thủ Tướng) dưới triều vua Bảo Đại. Sau đó, ngài cũng đã từ chối chức Bộ Trưởng Nội Vụ do Hồ Chí Minh mời gọi vì ngài không ưa CS và cũng vì chính Hồ Chí Minh đã giết anh của ngài là cụ Ngô Đình Khôi. Chí sĩ Ngô Đình Diệm chỉ chấp nhận làm điều có ích thực sự cho quốc gia, có lợi thực sự cho dân tộc, và chỉ bắt chước người khác một cách có chọn lọc. Hơn nữa, đối với tổng thống Ngô Đình Diệm, chủ quyền Quốc Gia là tối thượng, cho nên tổng thống Diệm đã tuyên bố với ký giả Mỹ, bà Marguerite Higgins rằng: “Nhắm mắt bắt chước nước ngoài khác gì nhận trước sự bảo hộ của ngoại bang”.

Sau Hiệp Định Geneva 1954, khi là đồng minh của Mỹ, tổng thống Ngô Đình Diệm biết ơn sự yểm trợ của họ, nhưng cụ đã thẳng thừng tuyên bố ‘Việt Nam không phải là xứ bảo hộ của Mỹ’. Chính vì lập trường Dân Tộc cứng rắn, cho nên không phải chỉ có Cộng Sản căm ghét tổng thống Diệm, mà cả Thực dân Pháp lẫn ‘đồng minh’ Hoa Kỳ cũng tìm cách ám hại ngài, vì ngài đã “cứng đầu” không chịu làm theo ý muốn của họ. Tổng thống Ngô Đình Diệm có thể hy sinh tánh mạng, chứ nhất quyết “không muốn bị coi như bù nhìn hay tay sai của Mỹ” .

Trong khi đó, Hồ Chí Minh có thể làm tay sai cho bất cứ ai. Hắn ta đã từng làm tay sai cho OSS (tiền thân CIA) của Mỹ, tay sai của Pháp, tay sai của Nga và của Tàu. Hắn ta cũng đã khẳng định: “Tôi không có tư tưởng nào ngoài tư tưởng chủ nghĩa Mác Lê-Nin”. Lời khẳng định của của họ Hồ thể hiện rõ tinh thần yếu hèn, óc nô lệ ngoại bang. Trong lịch sử dân tộc, có lẽ Hồ Chí Minh là người duy nhất có tư tưởng đê hèn, đáng hổ thẹn: “Thà ngửi cứt thằng Tây ít lâu, còn hơn suốt đời ăn cứt thằng Tàu". [Plutôt flairer un peu la crotte des Francais que manger toute notre vie celle des Chinois – Paul Mus, "Vietnam, Sociologie d'une guerre", Paris, Seuil, p. 185]. Đúng là lý luận và tư tưởng xuất phát từ bộ óc của một tên bồi tàu cho thực dân. Lời tuyên bố trên còn có ý lường gạt để chữa thẹn khi hắn ta bị dân chúng phản đối việc ký Hiệp Định Sơ Bộ 6-3-1946, rước Pháp trở lại Trung Kỳ và Bắc Kỳ. Mục đích nhờ Pháp hậu thuẫn và công nhận vai trò lãnh đạo Việt Minh của hắn và sẽ tiến tới vị trí “cha già dân tộc” sau này. Đồng thời mượn tay Thực dân Pháp tiêu diệt các đảng phái Quốc Gia, nại cớ là các đảng phái Quốc Gia phá hoại Hiệp Định Sơ Bộ (vì các đảng phái Quốc Gia không chấp nhận Hiệp Định Sơ Bộ nhục nhã này). Xong xuôi, hắn ta quay trở lại nhờ Tàu đánh Pháp (1946-1954), tạo ra 9 năm kháng chiến chống Pháp, mà thực ra không cần thiết, vì nước ta đã lấy lại chủ quyền từ tay Nhật (với chính phủ Bảo Đại và Trần Trọng Kim) chứ không phải từ tay Pháp. Từ đó, Hồ Chí Minh và đồng bọn đã ‘ăn kít’ Tàu cho đến bây giờ.

Vào đầu thập niên 1960, ở Nam Việt Nam, vì lầm tưởng rằng chính sách ngoại giao ‘kẻ cả’ của mình sẽ dễ dàng thành công trên đường chống CS, cho nên tổng thống Mỹ John F. Kennedy đã ngạo mạn, coi thường chính sách của tổng thống Ngô Đình Diệm. Ông Kennedy đã để thuộc cấp lộng hành, vượt quá phạm vi quyền hạn của một ‘đồng minh’; tìm cách loại bỏ cố vấn chính trị Ngô Đình Nhu, bào đệ của tổng thống và nếu cần thì loại bỏ cả tổng thống Diệm “cứng đầu” ra khỏi chính trường. Chủ trương “Diem must go” của chính quyền Kennedy với hy vọng khi thay đổi người lãnh đạo, thì cục diện Việt Nam sẽ có cơ hội tốt hơn, vì họ cho rằng tổng thống Diệm không có khả năng chống Cộng. Đối với Tổng Thống Diệm, dù là loại bỏ bất cứ ai ra khỏi chính quyền của cụ, mà không do chính cụ định đoạt, đều xúc phạm trầm trọng đến uy quyền quốc gia. Về phía chánh quyền Kennedy, vì nóng lòng muốn loại bỏ tổng thống Diệm, nhưng lại muốn che giấu bàn tay tội lỗi của mình, cho nên đã tung tiền ra, thuê mướn đám “tướng tá phản loạn” hiếu danh ham lợi, thảm sát tổng thống Ngô Đình Diệm và cố vấn chính trị của ngài là bào đệ Ngô Đình Nhu vào sáng ngày 02-11-1963.

Anh em tổng thống Diệm bị hạ sát sáng ngày 02-11-1963, thì ngay trong buổi chiều hôm đó, nữ ký giả Marguerite Higgins, người thường bám sát tổng thống Diêm để viết báo, đã hỏi Roger Hilsman, Phụ tá Bộ trưởng Ngoại giao đặc trách Đông Á vụ, một người trong nhóm chủ mưu giết tổng thống Ngô Đình Diệm và ông cố vấn chính trị Ngô Đình Nhu, rằng: “Bàn tay ông đã nhuốm máu, ông thấy thế nào?”. Hilsman lạnh lùng trả lời: “Ồ Maggie, thôi mà. Cách mạng thì phải gian khổ. Máu đổ thịt rơi”. (sách Bàn Tay Hoa Kỳ Cái Chết Ông Diệm, trang 285, chuyển ngữ của Vũ Văn Ninh&Trần Ngọc Dung, nguyên tác của nữ tiến sĩ Ellen J. Hammer).

Thế nhưng chính quyền Kennedy đã lầm to! Liên tục nhiều năm sau khi anh em tổng thống Ngô Đình Diệm bị giết, cục diện chính trường và chiến trường miền Nam đã chẳng thay đổi tốt hơn mà còn dẫn đến nhiều hệ luỵ xấu hơn, cho cả Việt Nam Cộng Hòa và Mỹ. Khi đề cập đến tình hình này, giáo sư Sử học Hoàng Ngọc Thành, trong cuốn ‘Công và Tội Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản Việt Nam 1945-2006 Lịch Sử Hiện Đại Việt Nam’, trang 606, đã viết: “Tình hình miền Nam trở nên hỗn loạn, các tín đồ Phật Giáo và Thiên Chúa Giáo xung đột với nhau trên các đường của các thành phố lớn, các đồng chí cộng sản thừa dịp xúi giục xung đột, gây hỗn loạn thêm nữa. Vụ đảo chánh của Nguyễn Khánh mở màn cho 5 vụ đảo chánh kế tiếp và chỉ trong năm 1964, miền Nam có đến 7 chính phủ. Trước tình trạng như vậy, ngay cả thứ trưởng Harriman, một trong những nhân vật tích cực chủ trương lật đổ tt NĐD trước kia, cũng phải thốt ra rằng thời ông Diệm khá hơn nhiều”.

Sách đã dẫn ở trên, trang 607&608 tác giả Hoàng Ngọc Thành cho biết thêm: “Sự kiện chính quyền John F. Kennedy mưu đồ đảo chánh kiểu thực dân và gây ra sự ám sát một nguyên thủ đồng minh là một sự phản bội đáng trách và dẫn đến việc Hoa Kỳ tham chiến tại Việt Nam. Trái lại khi gặp gỡ cựu bộ trưởng quốc phòng Mỹ McNamara trong một hội thảo rút các bài học về trận chiến tranh trong tháng 11-1995, đại tướng Võ Nguyên giáp và một số đồng chí thời chiến của ông đã lập luận rằng chính sách của chính quyền John F. Kennedy về Việt Nam đã sai lầm đưa đến thất bại. Ngô Đình Diệm, theo họ, là một người quốc gia, ông không bao giờ cho phép người Mỹ nắm quyền chỉ đạo trận chiến tranh, đưa cả Hoa Kỳ và đồng minh Sài Gòn không may đến sự bại trận tốn kém. Vậy vụ đảo chánh lật đổ Diệm năm 1963 là sự kết thúc sớm và đáng ngạc nhiên nhiều về sự can thiệp của Hoa kỳ tại Việt Nam”.

Sự thể đã quá rõ ràng, cuộc “cách mạng 01-11-1963” ở Nam Việt-Nam không phải do “đám tướng tá phản loạn” tự mình chủ mưu, tự mình hành động mà do chính quyền Kennedy ‘organised’, ‘set in motion’, ‘sponsored’, ‘encouraged’. Nếu Mỹ không ‘organised’, không ‘set in motion’, không ‘encouraged’ và không ‘sponsored’ thì chắc chắn đám phản loạn không dám hành động. Cho nên, nếu tìm đến ý nghĩa thực của sự kiện 01-11-1963, thì đây chỉ là một vụ mưu sát và cố sát mang tính chất hình sự do ngoại bang núp trong vỏ bọc ‘ngoại giao’ chủ mưu và bỏ tiền ra thuê mướn đám tướng tá phản loạn thực hiện, chứ không phải là cuộc Cách Mạng theo đúng nghĩa của nó. Do đó, câu trả lời của Hilsman đối với câu hỏi của bà Higgins ở trên, hoàn toàn sai trái, đầy ý nghĩa nguỵ biện, bẩn thỉu và dã man trong vai trò đồng minh đối với Việt Nam Cộng Hòa. Không ai có thể chấp nhận được câu trả lời ngang ngược đầy máu của Roger Hilsman.

Xét về hành động của phe cánh ngoại giao Hilsman, Harriman, Cabot Lodge, tuy dã man, dơ bẩn, nhưng nếu xét về quyền lợi của nước Mỹ, thì họ chỉ đáng trách chứ không đáng nguyền rủa. Riêng đám tướng tá phản loạn chỉ nhắm vào danh và lợi cá nhân, chia chác nhau 3 triệu đồng tiền Việt Nam Cộng Hòa (tương đương 40 ngàn dollars), số tiền mà chính quyền Kennedy thuê để giết người, mới thực sự đáng ghê tởm và đáng nguyền rủa.

Nhìn tổng quát về quá khứ, đám phản loạn sau cái gọi là “cách mạng 01-11-1963” đã chẳng có một đường lối ‘cách mạng’ nào, ngoài việc thả cán hộ VC như Mười Hương, Lê Câu, v.v…; giết kẻ thù của VC như ông Phan Quang Đông, là người đã có công rất lớn trong tổ chức biệt kích của Việt Nam Cộng Hòa; phá bỏ thành quả Ấp Chiến Lược của cụ Diệm mà VC rất e ngại; đám phản loạn chỉ biết ngồi nhìn quân đồng minh tự ý ồ ạt tiến vào miền Nam như chốn không người, rồi lại ồ ạt rút lui.

Sau hơn 10 năm kịch chiến không thành công, cuối cùng phải tuyên bố đầu hàng giặc Cộng vào trưa ngày 30-4-1975; đưa đến thảm họa 3 triệu người thương vong, quê hương bị tàn phá trầm trọng, hàng trăm ngàn người chết trên đường vượt biên, vượt biển, hàng trăm ngàn người khác bị đưa vào các trại lao tù khổ sai của VC, hàng ngàn cặp vợ chồng tan nát vì thủ đoạn cướp vợ cướp con tù cải tạo, hàng vạn gia đình ly tán, hàng ngàn người không nơi nương tựa sau khi trở về từ vùng “kinh tế mới”. Như thế thì việc lật đổ Tổng Thống Diệm chỉ có một ý nghĩa duy nhất là thay cái ‘tốt’ đã có sẵn bằng cái ‘xấu’ vào ngày 2-11-1963; rồi đến 30-4-75 đảng giặc Đỏ lại thay cái ‘xấu’ bằng cái ‘tồi tệ’. Thực tế đã cho thấy, cái ‘tồi tệ’ cứ tiếp diễn mãi cho đến ngày nay. Rõ ràng, đối với người dân miền Nam, chẳng có ý nghĩa gì là ‘cách mạng’ sau 2 lần ‘thay ngôi đổi chủ’, mà chỉ có ‘cách mạng’ riêng cho đảng Mafia ở Hanoi mà thôi. Dĩ nhiên, không ai phủ nhận, miền Nam sau ngày 2-11-1963, tuy quyền tự chủ trên chiến trường bị giới hạn vì quan niệm ‘người nào chi tiền nhiều, người ấy chỉ huy’, nhưng tự do/dân chủ vẫn còn được duy trì cho đến khi giặc Đỏ tràn vào Saigon.

Tài liệu còn cho biết thêm, kể từ khi ông Ellsworth Bunker được cử làm đại sứ Hoa Kỳ tại Saigon năm 1967 “với nhiệm vụ bí mật, chuẩn bị việc rút quân chiến đấu ra khỏi miền Nam Việt Nam” (sách Cuộc Chiến Thắng Bị Bỏ Lỡ, trang 27, chuyển ngữ Nguyễn Văn Hùng, nguyên tác Stephen B.Young); không hề thấy một sách lược độc lập, tự chủ nào của Saigon được tuyên bố, khả dĩ thay thế những lỗ hổng, một khi quân đồng minh rút khỏi miền Nam Việt Nam. Chính vì không biết rõ ý định của đồng minh, không có viễn kiến chính trị, không có khả năng tiên liệu bất trắc, chỉ trông chờ đồng minh viện trợ, bật đèn xanh lúc nào làm lúc đó, nên đám tướng tá phản loạn đã không tránh khỏi thất bại vào trưa ngày 30-4-1975. Khi thất bại thì đám này sẵn sàng đào tẩu hoặc đầu hàng giặc, mặc kệ thuộc cấp và dân tình ra sao thì ra. Khi còn chức quyền, đám phản loạn không nghĩ được điều căn bản là: chẳng có một đồng minh nào có thể tốt bụng đến độ viện trợ cho không, lại còn hy sinh xương máu, tốn công, tốn của để lo cho sự an nguy của đồng bào, Tổ Quốc của người dân nước khác.

Vì biết trước điều đó, tổng thống Diệm tìm cách bớt dần lệ thuộc vào ‘viện trợ’ Mỹ, từng bước tiến tới tự lực tự cường, mới hy vọng mang chủ quyền thực sự về cho dân tộc, và như thế mới vô hiệu hóa được cái loa tuyên truyền láo khoét “chống Mỹ cứu nước”của giặc Cộng. Nhưng đang thực hiện thì bị phản bội. Cố vấn Ngô Đình Nhu đã tiên liệu, nếu miền Nam rơi vào tay giặc Cộng Hanoi, thì cả nước sẽ rơi vào tay giặc Tàu. Thật vậy, ngày nay cứ nhìn thái độ hung hăng của giặc Tàu trên Biển Đông thì thấy rõ, trước đây nó đã tận tình giúp đỡ đảng giặc đỏ ở Hanoi “đánh Tây đuổi Mỹ” cũng chỉ vì dã tâm, âm mưu cướp đất, cướp biển của Tổ Quốc Việt Nam. Đảng giặc đỏ ở Hanoi đã không nhìn thấy điều hệ trọng đó mà chỉ thấy quyền lợi riêng của đảng! Và với sự giúp sức đắc lực của các quan thái thú Tàu biết nói tiếng Việt ở Hanoi, giặc Tàu đã thực hiện thành công ý đồ đó. Mặc dầu lũ Vẹm cứ lớn tiếng tuyên truyền về “tinh thần quốc tế vô sản”, nhưng đến nay mới thấy rõ hơn, chẳng có “tinh thần quốc tế vô sản” nào cả, mà chỉ có quyền lợi của Đảng Giặc Tàu liên kết với Đảng Giặc Đỏ Hanoi để chia phần, để bán tài nguyên, để phá nát lãnh thổ và biên cương của tiền nhân ta để lại.

Xét về quyền lợi của Mỹ, cho dù chính quyền Kennedy có cho rằng chính sách chống CS của Tổng Thống Diệm kém hữu hiệu, có thể ảnh hưởng xấu đến kế hoạch của họ ở Á Châu đi nữa, thì họ cũng không thể ngang nhiên chà đạp lên Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hòa -- một nước có chủ quyền và đang là đồng minh của Hoa kỳ -- thay đổi nhân sự, thay đổi cơ chế lãnh đạo theo ý riêng của họ được. Nếu đám phản loạn nghĩ được điều sơ đẳng này, thì đất nước đã không loạn, cục diện Việt Nam đã khá hơn, dân miền Nam đã không rơi vào thảm cảnh ‘quốc phá gia vong’.

Phải nói, ngay cả khi, nếu cho rằng Tổng Thống Diệm có lỗi đi nữa, thì quyền quyết định về số phận cụ Diệm là quyền của toàn dân miền Nam. Cụ phải được đưa ra tòa án, nhận phán quyết của tòa án, chứ không phải phán quyết của của Kennedy, Harriman, Hilsman, hay Cabot Loge và lũ đồ tể người Việt đâm thuê giết mướn. Nên nhớ rằng: sau ngày chia đôi đất nước 20-7-1954, Hoa Kỳ tự ý công nhận Chính Quyền của Thủ Tướng Diệm là đồng minh, tự ý chuyển viện trợ từ tay Pháp sang tay Việt Nam Cộng Hòa, chỉ sau khi thủ tướng Diệm chiến thắng Bình Xuyên vào năm 1955. Chính quyền Mỹ hành động như thế không vì quyền lợi của dân tộc Việt Nam, lại càng không vì quyền lợi của thủ tướng Diệm. Mà đó là vì quyền lợi chung của toàn thể ‘Thế Giới Tự Do’ trong vùng Đông Nam Châu Á, trong đó có miền Nam Việt-Nam. Quyền lợi đó, lúc ấy, phù hợp với quyền lợi của Mỹ vào giai đoạn cuộc ‘chiến tranh lạnh’ với Cộng Sản Nga đang tiếp diễn. Đến khi không cần thiết phải hợp tác nữa thì miền Nam Việt-Nam cũng chỉ là con số không to tướng đối với chính quyền Mỹ.

Thực sự thì đám chóp bu chủ mưu lật đổ tổng thống Diệm như: T.T. Kennedy, Thứ trưởng Ngoại giao Averell Harriman, Phụ tá Bộ trưởng Ngoại giao đặc trách Đông Á vụ Roger Hilsman, Đại sứ Cabot Lodge, v.v… không hề có một chút kinh nghiệm nào, khả dĩ đấu tranh hữu hiệu chống CS Hanoi, con đẻ của Nga-Tàu vào thời điểm ấy, mà họ chỉ thích dùng vũ khí và đạn dược để giải quyết vấn đề. Họ đã chẳng hiểu gì về “bản chất của cuộc chiến”. Bằng chứng là sau khi đám tướng tá tồi bại hạ sát tổng thống Ngô Đình Diệm và cố vấn chính trị Ngo Đình Nhu, tình hình chính trị miền Nam đã trở nên rối ren liên tục như đã nêu trên, làm mồi cho VC lợi dụng. Ngoài ra, còn phải kể thêm, kinh tế lệ thuộc vào viện trợ Mỹ nhiều hơn, đời sống xã hội miền Nam khó khăn hơn, lương bổng của lính và công chức ít oi hơn, vợ con lính sống khổ hơn, chiến trường đã trở nên sôi động hơn, phụ nữ đi bán ‘bar’ nhiều hơn; trên chiến trường máu đổ thịt rơi nhiều hơn, ở cả hai miền Nam - Bắc từ 1965 (mà trước kia chỉ xảy ra ở miền Nam, sau này vì kế hoạch đánh bom Hanoi bằng không quân Mỹ đã làm dân cả hai miền Nam-Bắc khốn đốn, nhưng sau cùng thì Hanoi vẫn thắng). Tình hình này có lợi cho xảo kế tuyên truyền “chống Mỹ cứu nước” của Hanoi nhiều hơn. Từ đó, nó lấy cớ xua quân vào miền Nam nhiều hơn.

Tạo ra tình hình đó, chính quyền Mỹ và đám tướng tá phản loạn đã vô tình khuếch đại cái loa tuyên truyền “chống Mỹ cứu nước” giùm cho Hanoi trên chính trường quốc tế. Qua âm thanh khuếch đại đó, thế giới đã nhầm lẫn, ngay cả dân chúng Mỹ cũng đã nhầm lẫn hơn là nhìn thấy thực tế dân sinh của cả 2 miền Nam Bắc Việt-Nam. Qua bức màn sắt, truyền thông báo chí thế giới không thể nhìn thấy “đại hùng binh” Nga-Tàu và các nưóc CS khác đang trá hình, đứng đàng sau hậu trường chính trị Hanoi. Mà chỉ nhìn thấy thực trạng ở miền Nam. Vì nhầm lẫn, cho nên cộng đồng thế giới đã không còn thiện cảm với miền Nam như thời tổng thống Diệm cầm quyền nữa; họ tưởng chính quyền nền đệ nhị Cộng Hòa chỉ là một thứ tay sai của Mỹ, nhưng không hoàn toàn đúng như vậy. Nương theo lợi điểm đó, Hanoi không thèm nói chuyện với Saigon. Tổng thống Thiệu đòi ngồi ngang hàng với Hànoi ở bàn hội nghị mà không được, nó không thèm đếm xỉa đến, mà nó chỉ nói chuyện với Hoa Kỳ. Lúc đó, Saigon chỉ được phép nói chuyện với tay sai của Hanoi là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Hòa đàm Paris (4 bên) năm 1973, do Henry Kissinger và Lê Đ. Thọ đạo diễn, là liều thuốc tự tử mà chính quyền Saigon bị bắt buộc phải uống. Do đó, toàn dân ta mới phải gánh chịu đại thảm họa ‘nước mất nhà tan’ vào trưa ngày 30-4-1975, một sự kiện đau thương nhất trong lịch sử dân tộc. Ngược lại, giặc Tàu là người đã thủ đắc lợi lộc nhiều nhất sau khi miền Nam VN rơi vào tay đảng Mafia ở Hanoi.

Tổng thống Ngô Đình Diệm, cố vấn chính trị Ngô Đình Nhu, ông Ngô Đình Cẩn là các nạn nhân trực tiếp của đồng minh phản bội và tay sai phản loạn. Cả 3 ông đã hiểu thấu đáo bản chất của CS Hanoi chỉ là một lũ tay sai của QTCS đệ Tam, hiếu chiến, nhiều lươn lẹo. Những người theo CS, theo nhận định của ông Ngô Đình Cẩn, phần đông bị bắt buộc hoặc chỉ vì bị lầm lẫn qua xảo thuật tuyên truyền bịp bợm của Hanoi. Họ cần phải được thuyết phục, chiêu hồi bằng chính nghĩa, cần phải đưa họ về với dân tộc bằng con đường hòa bình nữa, chứ không thể chỉ đơn thuần bằng nhà tù hay biện pháp quân sự. Chính sách “Chiêu Mời Và Sử Dụng Những Người Kháng Chiến Cũ” do ông Cẩn đề ra đã đạt thành quả mỹ mãn. Xin nêu một vài chứng minh, trích nguyên văn trong cuốn ‘Dòng Họ Ngô Đình Ước Mơ Chưa Đạt’, trang 99, tác giả Nguyễn Văn Minh, Hoàng Nguyên xuất bản, tái bản lần thứ tư tháng 7-2004: “Lê Phước Thưởng, tỉnh uỷ viên Tỉnh Đảng bộ Thừa Thiên đã bị bắt. (Lê Phước Thưởng một người cựu kháng chiến cảm phục ông Cẩn đến độ, sau 30-4-75, ở trong tù cải tạo luôn luôn sẵn sàng đánh lộn với người nào nói xấu ông Cẩn hoặc Đoàn Công Tác Đặc Biệt Miền Trung. Người từng chứng kiến những vụ đánh lộn của Lê Phước Thưởng là cựu Tr T. Lê Thiện Phước ở tù chung với Thưởng)”.

Cùng trang 99 nêu trên: “Nguyễn Đình Chơn, Thành ủy viên Thành ủy Huế là người đầu tiên thực tâm chuyển hướng đã được trả cấp bậc Thiếu tá Cảnh sát, làm Trưởng ty Cảnh sát Đặc Biệt Gia Định cho đến ngày 30-4-1975, đi tù cải tạo và hiện đã định cư tại Hoa Kỳ theo diện H.O.”. Số cán bộ VC hoạt động ở miền Nam vĩ tuyến 17 càng ngày càng cạn dần thấy rõ, mới chỉ sau 2 năm chính sách ‘Chiêu Mời’ của ông Cẩn đề ra.

Tổng thống Diệm cũng hiểu cả các tổ chức, các phe phái trong hoàn cảnh xã hội hỗn loạn, nhiều xu hướng chính trị phức tạp “thập nhị sứ quân” ở miền Nam do Thực Dân Pháp và Cộng Sản để lại. Đặc biệt là cụ Diệm biết rất rõ các nhu cầu thiết yếu của đời sống nông dân (chiếm 80% dân số Việt Nam) ở vùng quê và vùng núi là những an toàn khu của Việt Cộng cần phải vô hiệu hóa. Cho nên chỉ trong vòng 2 năm sau Hiệp Định Geneva (1955-1957), với ngân quỹ trống rỗng, với binh lực vá víu, nhưng chính quyền tổng thống Ngô Đình Diệm không những đã chiến thắng đám tay sai Thực Dân Pháp, mà còn chiến thắng CS ở Nam Việt Nam, rất vẻ vang, dẫn đến cải tiến sâu rộng toàn bộ xã hội miền Nam, mà trước đó, tưởng chừng như không một ai có thể thực hiện nổi. Vì thế mà tổng thống Mỹ Dweight D. Eisenhower đã gọi tổng thống Ngô Đình Diệm là người có phép lạ (A Miracle Man) trong công cuộc ổn định miền Nam Việt Nam. Tổng thống Diệm được mời đến thăm nước Mỹ trong Tháng Năm 1957, đã được tổng thống Eisenhower ra tận chân cầu thang máy bay nghênh đón rất trọng thể. Ngài cũng nhận được 10 ngàn đô-la cho giải thưởng chống Cộng Magsaysay sau đó, và ngài đã tặng hết số tiền này cho Đức Lạt Lai Lạt-Ma của Tây Tạng. Nhưng đối với tổng thống Diệm, đó không phải là hào quang. Cái hào quang mà cụ Diệm tìm kiếm đã từ 20 năm về trước, đó chính là: chủ quyền của dân tộc và nền an sinh hạnh phúc của toàn dân.

Căn cứ vào thành quả trên, có thể nói tổng thống Diệm là người hiểu rõ mánh khoé của đảng giặc Đỏ, hiểu rõ thực dân Pháp, hiểu rõ ‘đồng minh’ Hoa Kỳ, nhưng cụ đã lầm lẫn khi tin dùng một lũ tay sai phản loạn. Tổng thống Diệm cũng đã coi thường cái chết của chính cụ và các bào đệ, chỉ vì ngài quan niệm “quân đội để bảo vệ Tổ Quốc chứ không để bảo vệ Tổng Thống”. Tổng thống Diệm đã tôn trọng quân đội, nhưng khốn nỗi, trong đám chóp bu quân đội lúc ấy, có một số người “bất tài vô đức” lại được tổng thống tin cẩn, chỉ nghĩ đến danh và lợi nhất thời, dơ bẩn, phản phúc, không tôn trọng hiến pháp, không nhìn xa trông rộng, con nhái bén muốn to bằng con bò, nên mới dẫn đến ngày “gãy súng” 30-4-1975, đưa cả nước vào vòng nô lệ giặc Tàu.

Đành rằng sự yểm trợ của Mỹ cho Saigon -- ở vào giai đoạn khó khăn bước đầu khai sinh nền đê nhất Cộng Hòa ở Nam Việt-Nam -- là cần thiết. Nhưng cách yểm trợ của họ đã thiếu khôn khéo nếu đem so với cách yểm trợ của Nga-Tàu cho Hanoi. Tổng thống Diệm đã hiểu rất rõ cái ‘thế đứng’ của Việt Nam trên trường Quốc Tế lúc ấy rất khó khăn. Cụ muốn tách rời sự yểm trợ của Mỹ ở miền Nam và khuyến dụ Hanoi cũng tách rời sự yểm trợ của Nga-Tàu ở miền Bắc để tránh binh đao cho toàn dân, qua 6 bước phát triển giao lưu:
    1. Cho dân 2 miền trao đổi thư tín.
    2. Cho dân qua lại tự do.
    3. Cho dân 2 bên tự do lựa chọn nơi định cư.
    4. Trao đổi kinh tế.
    5. Hiệp thương.
    6. Tổng tuyển cử.
Tiến trình đó chỉ là đề nghị sẽ được tham khảo, nghiên cứu kỹ càng, và trước khi thi hành phải được quốc hội phê chuẩn. Tổng thống Diệm tin tưởng vào thế mạnh của miền Nam về kinh tế, chính trị và ngoại giao trong thời điểm lúc bấy giờ (1956-1962) để có thể nói chuyện với Hanoi. Vẫn biết, vượt qua được 6 bước giao lưu đó là một điều cực kỳ nguy hiểm và cực kỳ khó khăn cho cả 2 phía người Việt. Rất tiếc, tuy việc lớn không thành, nhưng phải công nhận, đó là sáng kiến táo bạo của một người yêu nước thương dân hết lòng, mà chỉ có cụ Diệm mới dám nghĩ, dám thực hiện. Tổng thống Diệm không muốn nhìn người dân của mình lâm cảnh binh đao, làm mồi cho các xung đột quốc tế. Thật đáng thương tiếc một người yêu dân yêu nước nồng nàn! Tổng thống và các bào đệ đã chết vì chính sáng kiến yêu nước của mình! Lại còn bị vu oan giá họa là “đâm sau lưng chiến sĩ”.

Những người kém hiểu biết, hoặc đần độn, hoặc vì định kiến sai lầm, thoạt nhìn sự kiện ông cố vấn Ngô Đình Nhu gặp Phạm Hùng ở Tánh Linh, đã hồ đồ kết luận ngay rằng tổng thống Diệm “đâm sau lưng chiến sĩ”. Họ cần phải hiểu rằng, trong bất kỳ cuộc chiến tranh nào, từ cổ chí kim, cũng đều phải kết hợp giữa đấu tranh chính trị với quân sự mới hy vọng chiến thắng. Đó là chuyện thường tình. Kissinger đã đi đêm nhiều lần với Tàu Cộng vì biết Tàu Cộng là cha đẻ của Cộng đảng Hanoi, trong khi quân Mỹ đang chiến đấu ở Việt Nam. Tổng thống Thiệu cũng đã từng đòi nói chuyện ngang hàng với Hanoi ở bàn hội nghị mà không được. Kennedy và Khrushchev vẫn phải nói chuyện với nhau giữa lúc cuộc chiến tranh lạnh đang tiếp diễn. Mới đây, ông Hamid Karzai, tổng thống Afghanistan có ý muốn nói chuyện với thủ lãnh phiến loạn Taliban trong khi quân của ông còn đang lâm chiến với quân Taliban. Thử hỏi, những người này có “đâm sau lưng chiến sĩ không”? Hơn nữa ông cố vấn Ngô Đình Nhu đã cho Cabot biết là ông sẽ nói chuyện với Hanoi; ‘danh chính ngôn thuận’ như thế thì sao lại gọi là “đâm sau lưng chiến sĩ”? Việt Nam Cộng Hòa có chủ quyền, đương nhiên muốn nói chuyện với ai thì nói. Vả lại, việc ông cố vấn Ngô Đình Nhu nói chuyện với Phạm Hùng mới chỉ là bước đầu, chưa thể thành hình trong một sớm một chiều. Mọi việc, nếu 2 bên thỏa thuận cùng ngồi vào bàn hội nghị, thì qua bàn hội nghị này sẽ còn tốn một thời gian lâu dài, có quốc tế chứng kiến. Như thế, thì dù có muốn “đâm sau lưng chiến sĩ” cũng không đâm được. Dĩ nhiên, kết quả hội đàm còn tuỳ thuộc vào tài năng đấu lý, chiêu dụ, áp lực của mỗi phía. Ai biết trước được kết quả sẽ ra sao.

Như mọi người đã thấy, sau khi tổng thống Diệm và các bào đệ bị thảm sát, hơn 10 năm liên tục chiến tranh với các trận đánh nảy lửa, với số bom đạn sử dụng được biết là còn hơn thế chiến II , đã gây thương vong cho 3 triệu người Việt, và 58 ngàn binh sĩ Hoa Kỳ, quê hương bị tàn phá, kết quả miền Nam vẫn bị “bể dĩa”. Trước khi “bể dĩa” cũng vẫn phải đi qua hòa đàm, nhưng hòa đàm ở thế yếu, chứ đâu được ở thế mạnh như thời cố vấn chính trị Ngô Đình Nhu đưa sáng kiến với Phạm Hùng. Đáng trách nhất là 3 tên: Cabot Lodge, Harriman và Hilsman đã chẳng hiểu một tí gì về CSVN và những nét đặc thù của chiến tranh Việt Nam. Họ không hiểu rõ bản chất của cuộc chiến họ đang đeo đuổi là một cuộc chiến tranh “ý thức hệ giữa CS và Tư Bản”, nhưng họ cần phải hiểu thấu đáo hơn nữa về cuộc chiến này là một bên, miền Nam VN bảo vệ nền Tự Do Dân Chủ phôi thai vừa mới lấy lại từ tay Thực dân Pháp. Quan trọng và khó khăn là còn phải lo chống lại một thứ vũ khí tuyên truyền rất tinh vi xảo quyệt, có khả năng thu hút quần chúng các xứ nghèo rất mạnh của Đệ Tam QTCS. Còn bên kia, miền Bắc là con đẻ của Đệ Tam QTCS rất thạo nghề tuyên truyền xảo trá, quyết tâm “đánh Mỹ giùm cho Nga-Tàu đến người Việt Nam cuối cùng”. Sự hiện diện quá đông đảo của quân đội Mỹ lúc ấy, theo tổng thống Diệm là một điều tối kỵ. Cũng không thể chỉ đơn thuần giải quyết bằng bom đạn mà có thể thành công được. Và rõ ràng là đã không thành công. Họ cũng không hiểu nổi những khó khăn, đầy phức tạp trong xã hội miền Nam sau khi dân chúng miền Nam vừa mới thoát khỏi nanh vuốt nham hiểm của thực dân Pháp và CS. Những khó khăn chồng chất về mọi mặt, đòi hỏi nhiều thời gian để ổn định, không thể gấp rút được.

Với 9 năm cầm quyền của tổng thống Diệm, là một thời gian quá ngắn, không đủ để có thể biến một miền Nam VN đầy dẫy tệ đoan xã hội, nhân tâm chia rẽ trầm trọng -- vì đã chịu ảnh hưởng lâu dài của cả 3 chế độ: Phong Kiến, Thực Dân, Cộng Sản với 3 chính sách ‘ngu dân’ sâu đậm -- để trở thành một nước có thể chế Tự Do, Dân Chủ theo kiểu Tây Âu hoặc Hoa Kỳ, là một việc bất khả thi. Nhưng chính việc bất khả thi này đã trở thành một trong những nguyên nhân mà bọn phản bội và phản loạn dựa vào, biện minh cho việc lật đổ chính quyền của tổng thống Diệm.

Giáo sư Sử học, ông Howard Jones tác giả cuốn ‘Death Of A Generation’, trang 97&98, đã nêu ra sự so sánh giữa Mã Lai và Nam Việt-Nam có cùng nhiệm vụ chống CS nhưng rất khác nhau về nòi giống, về hoàn cảnh xã hội và về hoàn cảnh địa dư như sau:

“Lemnitzer’s analysis reinforced Taylor’s feelings. The joint chiefs’chair recognized the advisability of using countersurgency tactics where applicable. But despite the similateries between the British experiences in Malaya and the situation in South Vietnam, the differences were so striking that the latter required military action. The rebels in Malaya had been denied a safe haven in neighboring Thailand; the Vietcong enjoyed that privilege in both Lao and Cambodia. The racial features of the Chinese insurgents in Malaya had distinguished them from the native populace; the Vietcong were not discernible from South Vietnam loyalists. Food war scare in Malaya but plentiful in Vietnam, meaning that the Vietcong had ample supplies. The most important differences, however, lay in leadership and field perfomance: The British had commanded well-trained Commenwealth troops, whereas the ARVN forces suffered from inadequate training and low morale that became evident in their poor fighting record. Despite all these British advantages, it took twelve years to squelch an insurgency in Malaya that was considerably weaker than the one led by Vietcong.”

Lược dịch: Phân tích của ông Lemnitzer đã tăng cường cho cảm nghĩ của tướng Taylor. Vị tham mưu trưởng nhắc nhở lời cảnh báo về việc sử dụng chiến thuật chống nổi dậy, có thể được áp dụng. Mặc dầu có những điểm tương tự giữa kinh nghiệm của người Anh ở Mã-Lai với hoàn cảnh ở Nam Việt-Nam, nhưng những khác biệt đã thuyết phục được điều sau cùng là phải có hành động quân sự. Quân du kích ở Mã-Lai không có nơi an toàn trong đất láng giềng Thái-Lan; trong khi Việt Cộng có đặc quyền này ở cả hai nước Lào và Cambodia. Đặc điểm về nòi giống của quân nổi dậy người Tàu ở Mã-Lai có những khác biệt với quần chúng bẩm sinh ở địa phương; trong khi Việt Cộng lại không có gì để phân biệt với dân chúng thuần tuý Nam Việt-Nam. Thực phẩm dùng cho chiến tranh trong đất Mã-Lai thật đáng ngại, nhưng lại đầy dẫy ở Việt-Nam, có nghĩa là Việt Cộng được tiếp tế thực phẩm đầy đủ. Tuy nhiên, điểm khác biệt quan trọng hơn cả là sự lãnh đạo chỉ huy và đặt kế hoạch: Người Anh đã chỉ huy một quân đội đại chúng, được huấn luyện kỹ càng, trong khi quân đội Nam Việt-Nam lại không được huấn luyện tương ứng và tinh thần thấp kém, nghèo nàn, đã được ghi nhận trong chiến đấu. Mặc dầu người Anh có những lợi điểm như vừa kể, mà cũng phải mất mười hai năm mới đè bẹp được quân nổi dậy ở Mã-Lai mới là điều yếu kém đáng được xem xét hơn là cái mà Việt Cộng đã chỉ đạo.

Nội dung trích đoạn trên có thể chưa hoàn toàn đúng, nhưng phần lớn đã phản ánh những tiêu điểm khách quan, làm nổi bật về thời gian, và về nhiều ưu thế sẵn có của Mã Lai mà Nam Việt-Nam không có. Thế mà Mã Lai cũng đã phải mất 12 năm mới đè bẹp được CS. Điều quan trọng là phương pháp chống CS ở mỗi nước. Sự so sánh rất sát với thực trạng của 2 nước trong thập niên 1960.

Nếu dùng công tâm để nhận xét, không ai phủ nhận, trong 9 năm cầm quyền của tổng thống Diệm có một số nhỏ nhược điểm. Tuy những nhược điểm đó không phải là đường lối chính sách do tổng thống Diệm đề ra, mà chỉ do cấp thừa hành phạm phải, hoặc một vài lề lối cũ chưa kịp sửa đổi, nhưng đã bị phe phái chống đối, đám bất mãn và đặc biệt là CS chen vào khai thác, lợi dụng, thổi phồng, vu khống. Chỉ vì quyền lợi phe phái nhỏ nhen, mà những người này đã cố tình bỏ qua những ưu điểm rất lớn về chủ quyền kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, y tế, giáo dục, v.v…mà cụ Diệm đã đạt được cả về phẩm và lượng trong thời gian 9 năm cầm quyền; chẳng hạn như trong sách ‘Ngô Đình Diệm Và Chính Nghĩa Dân Tộc’, trang 219, tác giả Minh Võ cho biết: “… tòa đại sứ ở Saigon lúc ấy là 81, gần gấp đôi số nước có bang giao với Hanoi. Trong khi Hanoi không đủ gạo ăn thì Saigon xuất cảng, từ 70,000 tấn vào năm 1955 đã tăng lên đến 340,000 tấn xuất cảng vào năm 1962. Số lượng gia súc như heo, gà, vịt xuất cảng trong năm 1961 đã trị giá gần 140 triệu đồng (vào khoảng 4 triệu Đô-la, tính theo giá chính thức là 35 Đồng một Đô-la). Và còn nhiều ưu điểm khác không kể xiết”.

Cùng trang 219, ở một đoạn khác, ông Minh Võ cho biết thêm: “… tác giả Hồ Sỹ Khuê, một người vốn chê ông Diệm là độc tài và kỳ thị tôn giáo, thậm chí đàn áp Phật Giáo. Ông Hồ Sỹ Khuê nói về cảnh thanh bình phồn thịnh ấy như sau. – Đây tôi đọc từ cuốn sách đồ sộ của ông nhan đề Hồ Chí Minh, Ngô Đình Diệm và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Trong đó có nhiều câu đại loại như thế này: ‘nông thôn không còn bần cố nông. Thành thị cũng không bao giờ còn gọi là vô sản được …’ ‘Tài xế tắc xi nhưng trưa đến không kể khách, nằm gác chân xem báo. Đạp xích lô nhưng mỗi chiều ngồi nhậu nhẹt lai rai bàn chuyện thời cuộc với xóm giềng. Những cảnh như thế xóa sạch mọi đẳng cấp …’”

Như thế, chỉ nói riêng về dân sinh thì miền Nam cũng đã hơn hẳn miền Bắc với thời gian lâu hơn nhưng tồi tệ hơn, và luôn bị che khuất bởi bức màn sắt rất kiên cố. Ngoài ra, cũng còn nhiều ưu điểm khác đáng chú ý, mà ngay cả kẻ thù cũng không thể phủ nhận là: các hạ tầng cơ sở của Cộng đảng ở miền Nam dưới thời tổng thống Ngô Đình Diệm đã bị tiêu diệt nặng nề, gần như bị phá sản không thể cứu vãn. Cũng theo sđd ở trên của tác giả Minh Võ trang 140, phần chú thích cho biết: Nguyễn văn Linh đã nói với nhà báo thân cộng Neil Sheehan các cơ sở hạ tầng bị phá vỡ là 75%. Còn theo Văn Tiến Dũng viết trên giấy trắng mực đen thì 90% cán binh CS ở miền Nam đã bị tiêu diệt, 60.000 chỉ còn 5,000 và đã phải thừa nhận: hy vọng chiến thắng rất mong manh (xem After The War Was Over của Neil và xem Về cuộc Kháng Chiến Chống Mỹ Cứu Nước của Văn Tiến Dũng, chú thích trang 16).

Không biết sau ngày 2-11-1963, các cơ sở VC này ra sao. Chúng có hồi sinh được hay không? Nhưng các trận đánh lớn đã đưa miền Nam vào bàn hội nghị Paris 1973 ở thế yếu. Thật đáng tiếc, những thành quả to lớn về mọi mặt của tổng thống Diệm vừa nêu trên, nền đệ nhị Cộng Hòa đã không đủ bản lãnh để nối dài thêm nữa. Có rất nhiều nguyên do mà theo tiến sĩ, giáo sư sử học Mark Moyar, tác giả cuốn Triumph Forsaken, thì: “Nhiều cá nhân giữ những địa vị trong chính quyền trong thời hậu Diệm, đích thực, thiếu các đức tính cần thiết của một nhà lãnh đạo, và chẳng ai có tài bằng Ngô Đình Diệm.” Nhưng ông không cho đó là vấn đề quan trọng mà: “chính là sự loại trừ một số người trong giới thượng lưu ra khỏi chính phủ và sự thao túng của phong trào Phật Giáo trong việc vận dụng các nhà lãnh đạo chính phủ. Kể từ tháng 11 năm 1963 về sau những lãnh tụ hàng đầu ở Sài Gòn không ngừng lập đi lập lại việc loại trừ những người có tài đáng kể, hoặc vì những người này đã trung thành với ông Diệm, hoặc vì những lãnh tụ đó bị áp lực từ nhóm Phật Giáo tranh đấu …” (trang 334, sđd, Minh Võ).

Đây là một sự kỳ thị thật đáng trách xuất phát từ óc bè phái nhỏ nhen. Khi nhắc đến ‘nhóm Phật Giáo tranh đấu’ là nhắc đến tên Thích Trí Quang, một người mặc áo thày tu để làm loạn. Qua nhiều tài liệu chưa phân định chính xác, hắn có là đảng viên CS hay không. Nhưng dù hắn có là đảng viên CS nằm vùng, trá hình dưới áo thày tu hay không đi nữa thì thực tế hắn cũng đã lợi dụng chiếc áo cà sa để làm loạn, góp sức gây sụp đổ cả 2 nền đệ nhất và đệ nhị Cộng Hòa ở Nam Việt-Nam. Hắn chỉ ngưng làm loạn sau ngày 30-4-75. Nhưng sau 30-4-75 nhiều người mới vỡ lẽ giặc Cộng mới chính là là kẻ thù của Phật Giáo và các tôn giáo khác, thì hắn lại im hơi lặng tiếng, không làm loạn cũng không ‘tranh đấu’ nữa. Điều đó cho thấy ở 2 giai đoạn trước, hắn ‘tranh đấu’ không vì ‘Pháp nạn’ mà vì mục tiêu chính trị. Cũng có thể là vì bản chất hèn, hắn biết rõ ở 2 chế độ trước không ai làm gì hắn, nhưng dưới chế độ giặc Cộng cầm quyền chuyên nghề sử dụng luật rừng, nếu làm loạn thì hắn có thể bị cầm tù hoặc bị giết. Vào thời đệ nhất Cộng Hòa, hắn đã xin vào núp trong tòa đại sứ Mỹ ở Saigon và được Cabot Lodge che chở vì đây cũng là con bài rất tốt giúp cho phe cánh của Cabot lật đổ tổng thống Diệm. Sang đến đệ nhị Cộng Hòa, khi hắn đang ‘tranh đấu’ thì bị tướng Nguyễn Ngọc Loan bắt ở Huế đưa về Đà Nẵng bằng trực thăng. Theo lời kể lại không rõ thực hư, thì hắn đã quỳ lạy trước tướng Loan như tế sao, vì biết tướng Loan là ‘người dám nói dám làm’ dám đá hắn xuống khỏi trực thăng.

Bên cạnh tên hèn Thích Trí Quang còn có một tên hèn khác là Dương Văn Minh. Trên tờ Hải Ngoại Nhân Văn, Số 2 - Tháng 8 Năm 1997, chủ biên Hồ Công Tâm, trang 41, có đăng bài viết tựa đề: “Lại tên vô-lại Dương Văn Minh”, tác giả bài viết, luật sư Nguyễn Văn Chức, cựu nghị sĩ quốc hội Việt Nam Cộng Hòa. Trong một đoạn của bài viết này, luật sư Chức đã mô tả ông Minh như sau: “Trình độ học vấn của Dương Văn Minh đã thấp, nhân cách của y còn thấp hơn. Liêm sỉ của một tướng lãnh, thì lại quá tệ. Ai cũng biết trong vụ đảo chính 1963, y đã ra lệnh ám sát Tổng thống Diệm trên chiếc xe tăng từ nhà thờ Cha Tam về Tổng Tham Mưu, rạng ngày mùng 2 tháng 11. Nhưng sau này y chối. Chẳng những chối mà còn đổ lỗi cho người khác. Trong cuốn Our Endless Wars, tướng Trần Văn Đôn, linh hồn của cuộc đảo chính, đã phải bực mình …”

Năm 1997, nhân dịp kỷ niệm ngày 30-4, Dương Văn Minh tuyên bố sẽ về Việt Nam để góp phần xây dựng đất nước. Luật sư Nguyễn Văn Chức nhận định: “Người ta hiểu rằng, trước khi tuyên bố như vậy, y đã được Việt Cộng cho phép về Việt Nam. Người ta cũng hiểu rằng y đã được Việt Cộng cho phép về Việt Nam để xây dựng nước Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Việt Cộng.
    Năm 1963, hèn hạ, phản bội và làm tay sai.

    12 năm sau, năm 1975, làm tay sai, hèn hạ và phản bội.

    22 năm sau, năm 1997, lại phản bội, làm tay sai và hèn hạ.

    Suốt đời phản bội. Suốt đời làm tay sai.

    Suốt đời hèn hạ. Suốt đời háo danh.

    Suốt đời đần độn. Đó là Dương Văn Minh.”
Bây giờ nhìn về quá khứ, thành phần cam chịu nhiều thiệt thòi nhất, nhưng hy sinh nhiều nhất là các chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Suốt 20 năm (1954-1975) chiến đấu chống CS không ngừng nghỉ. Không ai có thể phủ nhận được thiện chí và công lao to lớn của họ dành cho Tổ Quốc và đồng bào. Họ đã bảo vệ nền dân chủ/tự do còn non trẻ cho miền Nam Việt-Nam cho đến khi không còn sức để bảo vệ. Nhiều chiến sĩ đã từ giã người thân, âm thầm lên đường và âm thầm gục ngã. Nhiều chiến sĩ đã bị tù mà không có tội sau ngày 30-4-1975. Ngày nay vẫn còn nhiều chiến sĩ bị tàn phế, bị bỏ quên sau chiến cuộc. Tất cả, họ là những người đã chiến đấu hết sức cho tự do/ dân chủ, nhưng cuối cùng họ vẫn không được hưởng tự do/dân chủ trên chính quê hương mình.

Đã 47 năm qua, bây giờ nhắc lại ngày 01-11-1963 là nhắc lại một thời điểm lịch sử đen tối, mở màn cho một thời điểm đen tối hơn: ngày 30-4-1975. Ngày này sẽ còn kéo dài, chưa biết đến bao giờ mới chấm dứt. Vì lẽ, với óc nô lệ giặc Tàu, đảng giặc đỏ ở Hanoi vẫn nhẫn tâm, tiếp tục cai trị dân bằng bạo lực, bằng cờ máu búa liềm. Cha đẻ của cờ máu búa liềm, nước Nga đã vĩnh biệt nó từ 20 năm nay, nhưng khốn nỗi, nó vẫn còn in đậm nét trong đầu não các quan thái thú Tàu biết nói tiếng Việt ở Hanoi. Có lẽ, sẽ còn lâu người dân Việt Nam mới nhìn thấy ánh sáng Tự Do, Dân Chủ, vì giặc đỏ không bao giờ ‘tiêu hóa’ nổi ý nghĩa sâu xa của câu nói: “Nhắm mắt bắt chước nước ngoài khác gì nhận trước sự bảo hộ của ngoại bang.”

Sách tham khảo:

- Bàn Tay Hoa Kỳ Và Cái Chết Ông Diệm, nguyên tác Ellen J. Hammer, do Vũ Văn Ninh&Trần Ngọc Dung dịch.

- Cuộc Chiến Thằng Bỏ Lỡ theo các chứng liệu về Chiến Tranh Việt Nam của cựu Đại Sứ Mỹ Ellsworth Bunker, nguyên tác Stephen B. Young, do Nguyễn Vạn Hùng dịch.

- Death Of A Generation của Howard Jones.

- Ngô Đình Diệm và Chính Nghĩa Dân Tộc cuả Minh Võ.

- Dòng Họ Ngô Đình Ước Mơ Chưa Đạt của Nguyễn Văn Minh.

- Công Và Tội của Chủ Tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản Việt Nam 1945-2006 Lịch Sử Hiện Đại Việt Nam cùa Hoàng Ngọc Thành.

San Jose 29-10-2010
Võ Phương