Friday, October 29, 2010

Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm Với Những Bài Học Lịch Sử - Linh mục Trần Quý Thiện

Linh mục Trần Quý Thiện

Có những người chết đi nhưng thế giới không bao giờ quên được họ, vì đời sống họ đã ảnh hưởng tới xã hội này nhiều quá. Sự nghiệp họ được truyền tụng từ thế hệ này qua thế hệ khác, nhưng không bao giờ bớt phần vinh quang rực rỡ. Tư tưởng và hành động của họ vẫn được người đời coi như khuôn vàng thước ngọc để noi theo bắt chước. Họ là ai? Xin thưa đó là các vị Anh Hùng của Dân Tộc.

Trong dòng lịch sử bốn ngàn năm văn hiến của dân tộc Việt, trải qua các triều đại Ngô, Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê, Nguyễn, người ta thấy trên giang sơn gấm vóc thân yêu của chúng ta đã phát sinh nhiều vị Anh Hùng Dân Tộc, mà ngày nay chúng ta là con cháu luôn ngưỡng mộ và tri ân. Mỗi thời đại đều xuất hiện những vị Anh Hùng khác nhau để Kiến Quốc và Cứu Quốc. Nếu sau thời đại các vị Vua Hùng, chúng ta thấy có Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh thì trong thời đại kế tiếp, chúng ta có Lê Lợi, Lý Thái Tổ, Lê Thánh Tôn, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Huệ và trong thời cận đại, chúng ta có Nguyễn Thái Học, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Trường Tộ v.v…

Trong lịch sử Việt Nam cận đại, các sử gia đã đặc biệt quan tâm đến một con người, một nhà ái quốc, đúng hơn là một nhà cách mạng mà cụ Phan Bội Châu đã hết lời ca tụng nghĩa cử dũng lược từ quan, lúc Người mới hơn 30 tuổi đã dám thách thức quyền lực của cả nước Pháp: Đó là Chí Sĩ Ngô Đình Diệm.

Hôm nay nhân kỷ niệm 50 năm, Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm thiết lập thể chế Tự Do Dân Chủ lần đầu tiên tại Việt Nam, qua biến cố lịch sử Trưng Cầu Dân Ý ngày 23 tháng 10 năm 1955, Hội Ái Hữu Người Việt Quốc Gia tổ chức Thánh Lễ Giỗ Năm Thứ 42 cầu nguyện cho Cố Tổng Thống và các Quân Dân Cán Chính đã hy sinh vì Tổ Quốc và tất cả đồng bào đã bỏ mình trên đường đi tìm Tự Do trong hai biến cố lịch sử năm 1954 và 1975, với tư cách là một người Việt quốc gia, chúng tôi xin được trình bày vài nét về Chân Dung Cố Tổng Thống với những Bài Học Lịch Sử mà Người đã để lại cho chúng ta.

Theo thiển ý của chúng tôi, sau nửa thế kỷ Thể Chế Tự Do Dân Chủ được thiết lập trên quê hương, đàng khác chúng ta còn là những người đang chứng kiến những đổi thay khốc liệt đang nhận chìm đất nước trong đói nghèo, khổ đau, lạc hậu, nhân quyền bị chà đạp, thì đây chính là thời điểm quyết định để chúng ta đối diện với Lịch Sử Việt Nam, đối diện với vai trò đặc biệt của người Việt Hải Ngoại trong sứ mệnh định hướng dòng lịch sử đó. – Hiện nay, chủ nghĩa cộng sản đã thất bại, đã bị loại bỏ trên chính trường thế giới, đã đến lúc chín muồi để chúng ta thẩm định Nhân Vật Chống Cộng cương quyết này, trên bình diện đời sống cũng như bình diện tư tuởng. Điều gì chúng ta có thể học được từ cuộc sống của Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm, khi chúng ta nghĩ về thảm trạng đau buồn của Quê Hương và hướng nhìn về tương lai của đất nước thân yêu này.

VÀI NÉT CHÂN DUNG NGÔ TỔNG THỐNG

Theo các tài liệu lịch sử đã được công bố, Tổng Thống Ngô Đình Diệm sinh ngày 3 tháng 1 năm 1901 tại Huế trong một gia đình công giáo danh vọng bậc nhất miền Trung thời đó. Thân phụ là cụ ông Ngô Đình Khả và thân mẫu là cụ bà Phạm Thị Thân, nguyên quán làng Đại Phong, Huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình, Trung Phần Việt Nam. Cụ Ngô Đình Khả là Thượng Thư triều đình Huế kiêm Phụ Đạo Đại Thần và cũng là Cố Vấn của vua Thành Thái.

Gia đình ông bà cụ cố Ngô Đình Khả có tất cả 9 người con: 6 người con trai và 3 người con gái. – Trưởng nam là Tổng Đốc Ngô Đình Khôi đã bị cộng sản giết năm 1945 cùng với người con trai là Ngô Đình Huân; Tổng Giám Mục Ngô Đình Thục; Tổng Thống Ngô Đình Diệm là người con trai thứ ba; ba người con gái là bà Ngô Đình Thị Giao, tức bà Thừa Tùng; bà Ngô Đình Thị Hiệp, tức bà Cả Ấm, thân mẫu Hồng Y Nguyễn Văn Thuận và bà Ngô Đình Thị Hoàng, tức bà Cả Lễ, nhạc mẫu nghị sĩ Trần Trung Dung, tiếp theo là ba người con trai: Cố vấn Ngô Đình Nhu, Cố vấn Ngô Đình Cẩn và đại sứ Ngô Đình Luyện, người con út trong gia đình.

Cụ Cố Ngô Đình Khả nổi danh là một vị khoa bảng xuất chúng. Thời đó, tại Việt Nam rất hiếm có người được hấp thụ cả hai nền giáo dục Đông và Tây như Cụ. Lúc thiếu thời, Cụ theo Nho học, sau đó vào chủng viện học chương trình Pháp, rồi được gửi sang đại chủng viện Penang để học Triết học và Thần học Tây Phương bằng tiếng Pháp và tiếng La Tinh. Cụ là một chủng sinh rất xuất sắc, nhưng vì không có ơn gọi để trở thành linh mục, Cụ đã xin trở về cuộc sống thế tục. – Cụ Cố Ngô Đình Khả còn nổi tiếng là một vị quan thanh liêm, cương trực, đức độ, một nhà ái quốc chân chính, là bạn thân của các nhà cách mạng nổi danh thời đó như cụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Kỳ Ngoại Hầu Cường Để. – Thành tích đáng kể nhất của cụ cố Ngô Đình Khả là nỗ lực thành lập Trường Quốc Học tại Huế, một trường công lập đầu tiên giảng dạy theo chương trình học thuật Đông Tây tại Việt Nam. Và chính Cụ là vị đại thần duy nhất đã can đảm công khai chống lại thực dân Pháp phế bỏ và đầy vua Thành Thái sang Phi Châu sống lưu vong, sau đó Cụ đã xin rũ áo từ quan về quê làm ruộng.

Lúc thiếu thời, cậu Diệm còn được theo học dưới sự dạy dỗ của một vị cha tinh thần khác, cũng nổi tiếng về kiến thức quảng bác, đức độ và lòng yêu nước: Đó là Quận Công Nguyễn Hữu Bài, Thượng Thư dưới triều vua Duy Tân. Ngài là vị đại thần duy nhất chống lại việc người Pháp tham lam muốn đào ngôi mộ vua Tự Đức để lấy vàng bạc châu báu. Vì thế dân chúng miền Trung thời đó vô cùng cảm kích ngưỡng mộ nên đã có phương ngôn: “Đày vua không Khả. Đào mả không Bài”. – Ngoài việc hấp thụ những đức tính cao đẹp và lòng yêu nước nồng nàn của thân phụ và nghĩa phụ, cậu Diệm còn chịu ảnh hưởng sâu đậm của nền giáo dục Nho Giáo và Thiên Chúa Giáo. Thực vậy, nếu Nho Giáo đã hun đúc ông Diệm thành một con người thanh liêm, tiết tháo và cương trực thì nền giáo dục Thiên Chúa Giáo đã đào tạo ông Diệm thành một con người đầy lòng bác ái, vị tha và công chính.

Về giáo dục học đường, từ nhỏ cậu Diệm theo học trường Trung Học Pellerin. Năm 12 tuổi (1913), ông thi vào trường Quốc Học Huế dạy theo chương trình tổng hợp bằng Việt Ngữ và Pháp Ngữ. Đến năm 1917, lúc 16 tuổi, ông đỗ hạng nhì kỳ thi tốt nghiệp Trung Học. – Vì số tuổi qúa trẻ lại đạt thành tích xuất sắc, chính quyền thực dân Pháp đề nghị cấp học bổng sang Pháp du học nhưng ông đã từ chối. Năm 1918, lúc 17 tuổi, ông được mời làm giáo sư Trường Quốc Tử Giám, một trường dành riêng cho con cháu các quan triều đình. Đến năm 1919, lúc 18 tuổi, ông đủ tuổi để vào học trường Hậu Bổ, một trường tương tự như trường Quốc Gia Hành Chánh sau này. Suốt ba năm học, ông luôn luôn chứng tỏ là một sinh viên xuất sắc trong các ngành hành chánh, chính trị, luật pháp, do đó ông đã tốt nghiệp thủ khoa. Năm 1923, lúc 22 tuổi, ông được bổ nhiệm làm Tri Huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên rồi Tri Phủ Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Năm 1930, lúc 29 tuổi, với thành tích tận tụy phục vụ đồng bào, ông được đề cử làm Tuần Vũ tỉnh Bình Thuận, Phan Thiết.

Năm 1932, Hoàng Tử Vĩnh Thụy sau thời gian du học tại Pháp đã trở về nước lên ngôi Hoàng Đế lấy hiệu Bảo Đại. Để thực hiện một cuộc cải tổ sâu rộng, nhà vua đã mời ông Ngô Đình Diệm, lúc đó mới 31 tuổi, đang làm Tuần Vũ Phan Thiết đảm nhận chức vụ Thượng Thư Bộ Lại. Với chức vụ quan trọng này, ông Diệm đề nghị thi hành các kế hoạch canh tân xứ sở, nhưng Toàn Quyền Pasquier đã bác bỏ. Vì không muốn Pháp lợi dụng danh nghiã và uy tín của mình để lừa phỉnh dân chúng, ông đã nhất quyết từ bỏ chức vụ ra đi ngày 1 tháng 9 năm 1933. Sau khi dứt khoát từ bỏ quan trường, ông Diệm lui về nhà làm dân thường và đi dạy học truờng Thiên Hựu (Providence). Việc từ quan của Chí Sĩ Ngô Đình Diệm đã làm chấn động Triều Đình Huế và Chính Phủ Pháp thời đó.

Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Bộ Tư Lệnh Nhật ở Đông Dương tổ chức đảo chánh lật đổ nhà cầm quyền Pháp. Đại sứ Nhật Yokohama yêu cầu vua Bảo Đại tuyên cáo Việt Nam Độc Lập trong khối Đông Nam Á. Đối phó với tình hình mới, nhà vua lại mời ông Ngô Đình Diệm về làm Thủ Tướng nhưng vì không muốn làm vật hy sinh, ông đã từ chối và nhà vua đã mời cụ Trần Trọng Kim lúc đó 62 tuổi thành lập nội các. – Ngày 15 tháng 8 năm 1945, khi Nhật Hoàng tuyên bố đầu hàng, Việt Minh khai thác sự đột biến hoang mang của quần chúng, đã tổ chức cướp chính quyền trong một cuộc biểu tình ngày 18 tháng 8 năm 1945 tại Hà Nội. Sau đó, Cựu Hoàng cũng tuyên bố thoái vị. Còn ông Diệm trên đường từ Sàigòn về Huế đã bị Việt Minh bắt tại Tuy Hoà và biệt giam tại Quảng Ngãi. Để củng cố địa vị, Hồ Chí Minh đã mời ông Diệm hợp tác với chính phủ nhưng ông đã cương quyết từ chối. Khi bị giam tại Tuyên Quang, ông bị bệnh nặng được đưa về điều trị tại bệnh viện Saint Paul Hà Nội, nhưng ông đã được ông Nhu lúc đó đang làm việc tại Thư Viện Trung ương Hà Nội tìm cách cứu thoát. Đến năm 1948, một lần nữa ông Ngô Đình Diệm từ chối lời mời của Cựu Hoàng thành lập chính phủ trong Liên Hiệp Pháp. Từ đó ông xuất ngoại, đi vận động ngoại giao tại Trung Quốc, Nhật Bản, Hoa Kỳ, Thụy Sĩ, Pháp, Bỉ và được Đức Giáo Hoàng Piô XII tiếp kiến tại La Mã.

Vì tình hình chiến sự suy sụp mau chóng sau khi thất thủ tại Điện Biên Phủ, Chính Quyền Pháp muốn rút lui trong danh dự nên đồng ý trao trả độc lập thực sự cho Việt Nam. Trước tình thế rất bi đát, đất nước có thể bị cắt làm đôi, Cựu Hoàng Bảo Đại đã kêu gọi lòng ái quốc và trách nhiệm trước sự tồn vong của dân tộc, đã yêu cầu ông Diệm nhận lãnh sứ mạng. Vì nghĩ rằng đây là cơ hội cuối cùng, ông có thể đứng ra lập chính phủ để cứu nước nên ông đã nhận lời, bất chấp sự can ngăn của các chính khách thân hữu. Sự kiện lịch sử này xảy ra ngày 19. 06. 1954, trước khi Hiệp Định Genève chia cắt hai miền Nam Bắc đất nước theo sông Bến Hải ngày 20. 07. 1954 đúng sau 31 ngày. Ngày 24 tháng 06 năm 1954 Thủ Tướng Diệm rời Ba Lê về nước thành lập chính phủ. Sau đó cuộc Trưng Cầu Dân Ý được tổ chức ngày 23 tháng 10 năm 1955 và Đệ Nhất Cộng Hoà được thiết lập ngày 26 tháng 10 năm 1955 khởi đầu cho Thể Chế Tự Do Dân Chủ đầu tiên trên quê hương Việt Nam.

NHỮNG BÀI HỌC LỊCH SỬ VỚI CHÚNG TA

Trên đây chúng tôi đã ghi lại vài nét đại cương về Chân Dung Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Nhiều sách báo và sử liệu cũng đã nói về cuộc đời chính trị cũng như đời sống riêng tư của ông, một lãnh tụ cương trực, khí khái và chống cộng quyết liệt. Ông cũng là một nhà lãnh đạo bướng bỉnh với đế quốc, bất luận Pháp, Tàu hay Mỹ. Tuy nhiên Tổng Thống có cái uy riêng phát xuất từ một khuôn mặt phúc hậu, một tác phong cương nghị, một giọng Huế ấm áp, một lối nhìn thẳng vào người đối thoại. Phong cách của ông khiến cho những ai có dịp tiếp xúc với ông đều phải kính nể.

Tổng Thống Diệm dáng người thấp, mái tóc đen, chân đi hai hàng nhưng mau lẹ. Ông ăn uống thanh đạm, thường dùng bữa ngay tại phòng ngủ, do ông già Ân hoặc đại úy Bằng phục dịch. Thực đơn ít khi thay đổi gồm cơm vắt, muối mè, cá kho và rau. Ông thích làm việc trong phòng ngủ, trang trí sơ sài với một cái giường gỗ nhỏ, một bàn tròn và ba ghế da. Tổng Thống là một người công giáo rất sùng đạo, dâng thánh lễ mỗi buổi sáng tại nhà nguyện trong dinh Độc Lập hay nguyện đường Dòng Chúa Cứu Thế. Tổng Thống sống rất nặng về Lý Tưởng. Con người Khổng Giáo nghiêm khắc và một giáo dân khổ hạnh. Ông thích cưỡi ngựa, sưu tập máy ảnh, thích chụp hình. Tiền bạc riêng thì giao trọn cho Chánh Văn Phòng Võ Văn Hải, vì không có nhu cầu tiêu xài riêng. – Tổng Thống sống độc thân và theo bà Ngô Đình Thị Hiệp, thân mẫu Hồng Y Nguyễn Văn Thuận, ông đã tự nguyện khấn theo nếp sống của một tu sĩ công giáo trong thời gian lưu trú tại tu viện Maryknoll ở Lakewood, tiểu bang New Jersey. Phải chăng những đức tính trên đây của vị Tổng Thống Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hoà là một bài học lịch sử đáng cho ta suy nghĩ, ngưỡng mộ và bắt chước.

Bài học lịch sử quan trọng và thiết thân nhất mà Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã để lại cho chúng ta: Đó là lập trường cương quyết Bảo Vệ Chủ Quyền Quốc Gia. Tổng Thống Diệm là con người đã hy sinh cả cuộc đời để tranh đấu cho độc lập và chủ quyền quốc gia. Đối với ông, đó là những thứ thiêng liêng nhất, không thể bị hy sinh, không thể dùng để đổi chác với bất cứ điều gì. Với ông, nếu để người Mỹ can thiệp vào nội bộ Việt Nam, thì chủ quyền quốc gia sẽ bị xâm phạm, chính nghĩa cuộc tranh đấu chống cộng cũng mất. – Trong cuộc viếng thăm chính thức Việt Nam ngày 9 tháng 5 năm 1961, Phó Tổng Thống Mỹ Johnson đã đề nghị việc gửi Quân Đội Mỹ sang tham chiến tại Việt Nam. Tổng Thống Diệm đã bày tỏ quan điểm chính phủ Việt Nam rất biết ơn sự viện trợ quân sự và cố vấn Mỹ. Nhưng với việc gửi Quân Đội Mỹ đến Việt Nam ông đã cương quyết từ chối và nói: “Nếu Quý Vị mang Quân Đội Mỹ vào Việt Nam, tôi phải giải thích thế nào đây với dân tộc tôi? Với người dân Việt, hình ảnh hãi hùng của Quân Đội Viễn Chinh Pháp còn hằn sâu trong tâm trí họ. Sự hiện diện của Quân Đội Mỹ sẽ làm cho dân chúng dễ dàng tin theo những lời tuyên truyền của cộng sản. Sự can thiệp của bất cứ quân đội ngoại quốc nào vào Việt Nam cũng đem lại sự bất lợi cho Việt Nam, vì làm cho cuộc chiến đấu của chúng ta mất chính nghiã “. Và như chúng ta đã biết thái độ cương quyết từ chối này đã là nguyên nhân chính dẫn đến cuộc chính biến ngày 1 tháng 11 năm 1963 của một nhóm tướng lãnh phản loạn và cái chết thê thảm của chính Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông Cố vấn Ngô Đình Nhu. Bài học lịch sử thật đắt giá, dã man và tàn bạo!!

Sự vĩnh viễn ra đi của Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã gây xúc động sâu xa và niềm thương cảm lớn lao nơi các lãnh tụ Á Châu thời đó. Tổng Thống Trung Hoa Dân Quốc Tưởng Giới Thạch đã than thở: “Người Mỹ có trách nhiệm nặng nề vụ ám sát xấu xa này. Trung Hoa Dân Quốc mất đi một đồng chí tâm đầu ý hợp. Tôi khâm phục ông Diệm. Ông xứng đáng là một lãnh tụ lớn của Á Châu. Việt Nam có lẽ phải mất 100 năm nữa mới tìm được một nhà lãnh tụ cao qúy như vậy”. – Hơn nữa, cái chết của Cố Tổng Thống Diệm cũng đã làm cho các lãnh tụ Á Châu, đồng minh của Mỹ phải giật mình và đặt vấn đề. Chính Tổng Thống Hồi Quốc, Ayub Khan, đã nói thẳng với Tổng Thống Nixon: “Cuộc thảm sát Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã khiến các lãnh tụ Á Châu chúng tôi rút ra được một bài học khá chua chát: Đồng Minh với Mỹ thật nguy hiểm! Có lợi hơn nên đứng thế trung lập. Và có lẽ hữu ích hơn nữa khi là kẻ thù của Hoa Kỳ”.

Tổng Thống Ngô Đình Diệm có thể đã phạm một số sai lầm khi cầm quyền. Điều này lịch sử sẽ phê phán công hay tội. Nhưng bất cứ người nào, dù là đồng minh như Hoa Kỳ hoặc đối thủ như Hồ Chí Minh, cũng phải công nhận rằng Tổng Thống Diệm là một nhà lãnh tụ nhiệt tình yêu nước, thương dân, trong sạch, khí phách và không làm cho người dân Việt phải hổ thẹn, vì ông đã cố bảo vệ đến cùng thể diện và uy quyền quốc gia. Không một gia đình Việt Nam nào đã phải hy sinh quá nặng nề như thế cho Dân Tộc, mất một lần bốn người con ưu tú: một vì tay cộng sản và ba vì tay quốc gia !!. Trên 42 năm qua, hai nấm mồ khiêm tốn của Tổng Thống và ông Cố Vấn nằm quạnh hiu nơi nghĩa trang giáo xứ Lái Thiêu, tỉnh Bình Dương là một bài học lịch sử quý giá cho thân phận nước nhược tiểu đứng lên chống đế quốc. Nhưng chắc chắn mãi mãi vẫn là của lễ vô giá dâng trên bàn thờ Thiên Chúa và Tổ Quốc.

Linh mục Trần Quý Thiện


TRỞ LẠI DỤ SỐ 10 - Trần Gia Phụng

Trần Gia Phụng

Trong bài “LHQ và vụ khủng hoảng Phật giáo 1963 (VI)”, đăng trên DCVOnline.net ngày 26-10-2010, ông Nguyễn Văn Lục, có đoạn đề cập đến bài viết của tôi nhan đề là “Lý do cuộc đảo chánh ngày 1-11-1963” đăng trên các báo vào tháng 11-2009, chứ không phải trong sách Việt sử đại cương tập 6 như ông Nguyễn Văn Lục viết, đơn giản chỉ vì sách nầy chưa xuất bản.

Sau khi trích dẫn ba người viết khác nhau, trong đó có một đoạn trong bài viết của tôi, ông Nguyễn Văn Lục viết: “Cả ba đoạn trả lời trích dẫn trên đều có chung đặc điểm là mơ hồ, có chỗ lạc đề, có chỗ như xuyên tạc như nhận xét của ông Trần Gia Phụng. Trong một đoạn văn ngắn ở trên, ông Trần Gia Phụng đã mắc nhiều sai lầm và xuyên tạc vô bằng. Ông cho người ta có cảm tưởng ông chưa hề đọc bản văn về Dụ số 10.”

image002Tôi không dám nói là ông Lục chưa đọc Dụ số 10, nhưng riêng phần tôi, tôi xin gởi tặng ông Lục nguyên bản photocopy chương thứ nhất Dụ số 10 đăng trên Công báo Việt Nam ngày 19-8-1950 (hình trái), nhằm trả lời cảm tưởng của ông Lục rằng tôi “chưa hề đọc bản văn về Dụ số 10” để dư luận rộng rãi theo dõi. Xin ông Nguyễn Văn Lục vui lòng đừng chủ quan phán đoán.

Trở lại Dụ số 10. Dụ số 10 ngày 6-8-1950 gồm 45 điều. Chương thứ nhất (nguyên tắc), điều thứ nhất ghi rằng: “Hội là hiệp ước của hai hay nhiều người thỏa thuận góp kiến thức hay hành lực một cách liên tiếp để theo đuổi mục đích không phải là phân chia lợi tức, như là mục đích thuộc về tế tự, tôn giáo, chính trị, từ thiện, khoa học, văn học, mỹ nghệ, tiêu khiển, thanh niên, thể thao và đồng nghiệp ái hữu. Muốn có hiệu lực thị hội nào cũng phải hợp với nguyên tắc chung của pháp luật về khế ước và nghĩa vụ.”

Sau điều thứ nhất, Dụ số 10 triển khai chi tiết điều kiện, mục đích, điều lệ, quy chế tổ chức hiệp hội,… Đến chương thứ năm, điều thứ 44, ghi rằng: “Chế độ đặc biệt cho các hội truyền giáo Thiên Chúa và Gia Tô và các Hoa kiều lý sự hội sẽ ấn định sau.”

Như thế, theo Dụ số 10, các hội truyền giáo các tôn giáo như Phật giáo, Cao Đài giáo, Phật giáo Hòa Hảo đều nằm ngang hàng với các hội “chính trị, từ thiện, khoa học, văn học, mỹ nghệ, tiêu khiển, thanh niên, thể thao và đồng nghiệp ái hữu”, trong khi theo điều thứ 44 của Dụ nầy, các hội truyền giáo Thiên Chúa và Gia Tô và các Hoa kiều lý sự hội sẽ được ấn định sau.

“Sẽ ấn định sau”, theo ông Nguyễn Văn Lục “có nghĩa là 13 năm sau vẫn chưa ấn định, có nghĩa Hội truyền giáo Ki tô và Hội Hoa Kiều Lý sự vẫn chưa có được quy chế đặc biệt. Vậy thì căn cứ vào đâu để nói rằng hội truyền giáo ki tô giáo được hưởng quy chế ưu đãi dựa trên pháp quy?”

Ông Lục nói đúng là cho đến khi chế độ Ngô Đình Diệp sụp đổ ngày 1-11-1963, vẫn chưa có quy chế cho các hội truyền giáo Thiên Chúa và Gia Tô. Tuy nhiên, chẳng cần căn cứ vào đâu, người ta cũng hiểu rằng các hội truyền giáo Thiên Chúa và Gia Tô không nằm trong các điều khoản do Dụ số 10 quy định thì không bị ràng buộc bởi Dụ số 10, và hoàn toàn tự do hoạt động mà không bị hạn chế bởi bất cứ quy định nào, đứng biệt lập ngoài vòng cương tỏa của luật pháp. Như thế Dụ số 10 có phân biệt đối xử giữa các tôn giáo hay không? Xin để cho người đọc trả lời.

Ở một đoạn sau, ông Nguyễn Văn Lục còn viết tiếp: “Có hai điều đặc biệt là Bảo Đại đã ký Dụ số 10 tại Vichy, bên Pháp. Đến 19 tháng 11, năm 1952, có sửa đổi một hai điều lệ liên quan đến Bộ thể thao và thanh niên với chữ ký của Vũ Hồng Khanh, bộ trưởng thanh niên và thể thao cùng với chử ký của bộ trưởng Ngô Thúc Định và chữ ký của Bảo Đại năm 1952. Lần này Bảo Đại ký ở Sài Gòn. Đến ngày 3 tháng tư, 1954 một lần nữa lại có sự sửa đổi và lần này có chữ ký của thủ tướng Bửu Lộc và vua Bảo Đại tại Đà Lạt.”
Đúng là Dụ số 24 ngày 19-11-1952 sửa đổi Dụ số 10 liên hệ đến quy chế các hiệp hội thanh niên và thể thao, nhưng Dụ số 6 ngày 3-4-1954 bổ túc Dụ số 10 mới đáng quan tâm, theo đó điều thứ nhất của Dụ nầy ghi rằng: “Điều thứ 11 của Dụ số 10 ngày mồng 6 tháng tám dương lịch năm 1950 ấn định quy chế các hiệp hội được bổ túc như sau đây: “Các giới thẩm quyền đã ban phép thành lập cho một hiệp hội có thể ra lệnh khai trừ một hay nhiều nhân viên trong ban quản trị hiệp hội ấy mà không cần phải cho biết vì lẽ gì. Hiệp hội nào bất tuân lệnh ấy phải bị giải tán do quyết định của giới thẩm quyền vừa kể ở khoản trên.”

Như thế, tu sĩ các hội Phật giáo, Cao Đài giáo, Phật giáo Hòa Hảo nằm trong quy chế nầy, có thể bị chính quyền khai trừ mà không cần cho biết lý do, trong khi tu sĩ các hội Truyền giáo Thiên Chúa và Gia Tô không nằm trong quy chế Dụ số 10, thảnh thơi hoạt động và đương nhiên không khi nào bị chính quyền có thể khai trừ gì cả. Như vậy, Dụ số 10 và Dụ số 6 bổ túc cho Dụ số 10, có phân biệt đối xử giữa các tôn giáo hay không? Cũng xin để cho người đọc trả lời.

Dụ số 10 được ban hành ngày 6-8-1950 và Dụ số 6 được ban hành ngày 3-4-1954 dưới chế độ Quốc Gia Việt Nam, do Bảo Đại làm quốc trưởng. Qua thời chính phủ Ngô Đình Diệm, từ năm 1954 đến năm 1963, các dụ nầy không bị bãi bỏ, tiêu hủy. Điều đó có nghĩa là các dụ nầy đương nhiên vẫn còn giá trị pháp lý. Vì vẫn còn giá trị pháp lý nên Dụ số 10 và Dụ số 6 vẫn ràng buộc các tổ chức Phật giáo, Cào Đài giáo và Phật giáo Hòa Hảo theo các quy định trong hai dụ nầy.

Sau biến cố ngày 8-5-1963 tại Huế và nhất là sau khi Thượng tọa Thích Quảng Đức tự thiêu ngày 11-6-1963 tại Sài Gòn, mới diễn ra cuộc họp từ 14 đến 16-6-1963 giữa Uỷ ban Liên bộ của chính phủ Ngô Đình Diệm và Uỷ ban Liên phái Phật giáo. Cuộc họp nầy đi đến bản thông cáo chung được tổng thống Diệm duyệt ký và công bố ngày 16-6-1963. Thông cáo chung gồm có 4 mục lớn là: 1) Quốc kỳ – đạo kỳ. 2) Dụ số 10. 3) Vấn đề bắt bớ và giam giữ Phật giáo đồ. 4) Tự do truyền giáo và hành đạo.

Mục 2 của bản Thông cáo chung, liên hệ đến Dụ số 10, nguyên văn như sau: “Tách Hiệp hội có tính cách tôn giáo ra khỏi Dụ số 10 và lập một quy chế hợp với tính cách đặc biệt về nhu cầu sinh hoạt của những Hiệp hội tôn giáo ấy. Quy chế đó sẽ là một đạo luật do Quốc hội soạn thảo với sự tham khảo trực tiếp ý kiến của tôn giáo liên hệ. Quốc hội sẽ biểu quyết đạo luật nầy, chậm là cuối năm 1963 hoặc đầu năm 1964. Trong khi chờ đợi ban hành đạo luật mới, Uỷ ban Liên bộ đồng ý sẽ có những chỉ thị cần thiết để Dụ số 10 không áp dụng quá khắt khe đối với các Hội Phật giáo, Phật học. Phái đoàn Phật giáo cam kết chỉ thị cho các tăng ni chấp hành nghiêm chỉnh luật pháp Quốc gia và thi hành mọi biện pháp kỷ luật nội bộ đối với những hành động lệch lạc.” (Minh Không Vũ Văn Mẫu, Sáu tháng pháp nạn 1963, Paris: Giao Điểm, 2003, tr. 282.) (Cuối sách nầy cũng có đăng nguyên văn Dụ số 10.)

Nếu Uỷ ban Liên bộ chính phủ Ngô Đình Diệm không nhận thấy sự bất công của Dụ số 10, sao Uỷ ban Liên bộ lại chịu: “Tách Hiệp hội có tính cách tôn giáo ra khỏi Dụ số 10 và lập một quy chế hợp với tính cách đặc biệt về nhu cầu sinh hoạt của những Hiệp hội tôn giáo ấy. Quy chế đó sẽ là một đạo luật do Quốc hội soạn thảo với sự tham khảo trực tiếp ý kiến của tôn giáo liên hệ. Quốc hội sẽ biểu quyết đạo luật nầy, chậm là cuối năm 1963 hoặc đầu năm 1964. Trong khi chờ đợi ban hành đạo luật mới, Uỷ ban Liên bộ đồng ý sẽ có những chỉ thị cần thiết để Dụ số 10 không áp dụng quá khắt khe đối với các Hội Phật giáo, Phật học.”
Cần chú ý thêm là thông cáo chung nầy đã được chính tổng thống Ngô Đình Diệm duyệt ký, nghĩa lả tổng thống Diệm cũng chấp nhận rằng Dụ số 10 không còn thích hợp và cần được sửa đổi. Những người trong cuộc đã nhận ra sự bất công của Dụ số 10 và chịu sửa đổi Dụ số 10, mà ông Nguyễn Văn Lục cứ nhất định cho là chuyện đó không có. Thật là ‘bảo hoàng hơn vua”.

Ông Nguyễn Văn Lục còn đi xa hơn khi ông viết: “Đồng hóa hội truyền giáo Thừa sai Ba Lê và giáo hội Việt Nam là một điều thiếu lẽ phải và ác ý. Và nếu có ai lưu tâm một chút là kể từ năm 1951 (chưa có Hội đồng giám mục VN) thì đã có một Thư chung, ký tên rõ ràng như sau: Hàng giáo phẩm công giáo Việt Nam. Việt Nam lấy lại quyền tự chủ và khai sinh nền đệ nhất cộng hòa, điều ấy một cách thầm lặng và tự nhiên đưa tới sự thay thế các thừa sai ngoại quốc trong vai trò lãnh đạo. Và vì thế, cũng sau 1954 thì các vị thừa sai Ba Lê tự rút lui và nhường chỗ cho hàng giáp phẩm Việt Nam cai quản các giáo phận, liên lạc trực tiếp với khâm sứ hay với Vatican…”

Sau đó, không hiểu vì lý do gì, ông Nguyễn Văn Lục viết tiếp trong bài của ông một cách chủ quan rằng: “Đấy là cái ẩn ý gán ghép của ông Trần Gia Phụng. Đồng hóa tất cả các Hội Truyền giáo Ki tô giáo đồng thời nói được hưởng quy chế đặc biệt mà thực sự không có một văn bản pháp lý nào chứng tỏ có hưởng quy chế đặc biệt.”

Thưa ông Nguyễn Văn Lục, ai đồng hóa Hội Thừa Sai Ba Lê và Giáo hội Việt Nam thì tôi không cần biết, nhưng trong bài viết của tôi, tôi chỉ trình bày sự bất công của Dụ số 10 và tình hình giữa Phật giáo và chính phủ Ngô Đình Diệm, chứ tôi hoàn toàn không đả động gì đến Ky-Tô giáo La Mã. Tôi đã tách bạch rõ ràng vấn đề tôn giáo trong phần “Sơ kết cuối tập 3”, tt. 415-442, sách Việt sử đại cương tập 3 xuất bản năm 2007. Vì vậy, tôi thấy không cần thiết trả lời ông Nguyễn Văn Lục về việc nầy, dầu cách viết của ông Nguyễn Văn Lục chẳng những đầy “ẩn ý gán ghép”, mà còn đầy ác ý gán ghép.

Tôi chỉ trả lời những vấn đề trong bài viết của ông Nguyễn Văn Lục liên hệ đến tôi. Còn những vấn đề khác thì xin để dư luận chung phê phán. Dầu sao, tôi cũng xin cảm ơn ông Nguyễn Văn Lục đã chú ý đến bài viết của tôi và quảng cáo sớm sách Việt sử đại cương tập 6 của tôi sẽ xuất bản trong năm tới.

Trần Gia Phụng
(phungtrangia@yahoo.com)


Tưởng niệm Ngô Tổng Thống - Lê Văn Ấn



(01-03-1901_02-11-1963)

NỖI LÒNG

Gươm đàn nửa gánh quẩy sang sông
Hỏi bến: thuyền không, lái cũng không !
Xe muối nặng nề thân vó Ký
Đường mây rộng rãi tiếc chim Hồng

Vá trời lấp biển người đâu tá ?

Bán lợi mua danh chợ vẫn đông!
Lần lữa nắng mưa theo cuộc thế
Cắm sào đợi khách, thuở nào trong ?

Ngô Đình Diệm 1953

ooOoo
    Tưởng niệm Ngô Tổng Thống
Lê Văn Ấn

Mỗi năm, cứ đến tháng 10 dương lịch, những người ái mộ vị lãnh đạo anh minh, đã hết lòng vì nước vì dân, nêu cao tinh thần bất khuất nhưng trung hậu, cương quyết nhưng nhân từ, công bình nhưng nhiều tình thương và đã gục ngã vì nhất quyết bảo vệ sự độc lập và chủ quyền Quốc gia, đó là chí sĩ Ngô Ðình Diệm, tất cả đều hướng về anh linh của ngài và bào đệ, thắp lên một nén hương lòng, cảm tạ tấm gương trung liệt đáng cho hậu thế noi theo. Cũng trong thời điểm này, những kẻ đã dính máu ăn phần trong cuộc phản loạn ngày 1.11.1963, hoặc những kẻ chầu rìa, lợi dụng biến cố này để kiếm ăn, đều nỗ lực chạy tội tàn ác nhất lịch sử bằng cách vu vạ, bôi xấu, bịa đặt những chuyện xấu xa cho Ngô Tổng Thống và gia đình để mong làm lu mờ tài đức của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm, đồng thời chạy tội tầy trời của chúng là làm tay sai ngoại bang để đưa đất nước đến hoàn cảnh khốn khổ hôm nay, thậm chí có kẻ dám cho rằng “họ Ngô phá ấp chiến lược”. Nhưng giấy không gói được lửa. Những nhân chứng còn sống, những tài liệu nhan nhản khắp nơi, những tài liệu của Hoa Kỳ được giải mật đã chứng tỏ những gì là sự thật vẫn là sự thật. Ðúng là:
    Nhân sinh tự cổ thùy vô tử,
    Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh”

    (Nguyễn Công Trứ)
Có người cho rằng nếu không có đám phản tướng cam tâm làm tay sai cho ngoại bang, lật đổ Tổng Thống Ngô Ðình Diệm và nhẫn tâm sát hại người và tiêu diệt luôn nền Ðệ Nhất Cộng Hòa, thì ngày hôm nay Cộng Sản Việt nam đã bị tiêu diệt và con dân Việt không phải đi lưu lạc khắp nơi trên thế giới, để lại một đất nước lệ thuộc Trung Cộng và toàn dân Việt đang khốn đốn dưới ách cai trị khắc nghiệt nhất lịch sử của bọn tam vô ác độc.

Nhận định trên đây đúng hay sai không ai có thể xác quyết được, tuy nhiên, nếu cuộc binh biến đó không xảy ra, nếu các kẻ bị ngoại bang mua chuộc biết suy nghĩ lại, chắc chắn miền Nam Việt Nam sẽ không thể nào rơi vào tay Cộng Sản, và nhờ đó, chính sách xâm lấn quyền tự trị dân tộc của Hoa Kỳ có cơ may biến đổi, chẳng những đem lại cho công cuộc chống Cộng của Việt Nam đi đến thắng lợi mà cò giúp cho các nước thân thiện với Hoa Kỳ cũng có một “đồng minh” đúng nghĩa của đồng minh. Tại sao chúng tôi dám khẳng định như vậy? Tại vì những gì mà Tổng Thống Ngô Ðình Diệm đã làm cho đất nước trong một giai đoạn cực kỳ nguy hiểm, nhiều người cho rằng miền Nam Việt Nam lâu lắm cũng chỉ 2 năm là sẽ rơi vào tay Cộng Sản Bắc Việt. Ðó là nhận định chung của những ai theo dõi thời cuộc Việt Nam sau khi Pháp và Việt Minh ký hiệp ước qua phân Việt Nam. Ở ngoài Bắc Việt Minh được yên ổn hoàn toàn thì Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản lại thực hiện một chính sach dã man chưa có trong lịch sử loài người. Trong khi đó, tại miền Nam Việt Nam, thực dân Pháp kiệt quệ, chiến bại nhưng lòng tham thực dân vẫn còn nung nấu tâm can chúng, quyết phá hoại chính quyền miền Nam mà chúng biết nếu chính quyền này tồn tại thì quyền lợi của Pháp không thể nào cứu vớt và bành trướng. Vì thế, Pháp vẫn cho thuộc hạ thi hành kế hoạch này đến kế hoạch khác, kể cả việc lôi kéo Hoa Kỳ về phe với chúng, thúc ép Quốc Trưởng Bảo Ðại “cất chức” ông Ngô Ðình Diệm và đưa Bãy Viễn, một tên xuất thân từ cặn bả xã hội, một tên anh chị nhưng có quyền lực do Pháp cung cấp thay thế làm thủ tướng. Lòng tham không đáy của con người làm mù mắt cả một chính phủ Pháp. Trong khi đó, các giáo phái với mục đích tốt đẹp nhưng cũng bị Pháp lung lạc không chịu thống nhất binh lực với quốc gia vì sợ quyền lợi của mình bị đe dọa.

Cuối cùng tuy tiếng súng phản loạn Bình Xuyên đã nổ nhưng với sự lèo lái của chí sĩ Ngô Ðình Diệm, miền Nam Việt Nam đã qua cơn thử thách nặng nề. Thực dân Pháp phải cuốn gói xuống tàu về Pháp, Bình Xuyên của Bãy Viễn bị đánh tan, các giáo phái đã trở về thống nhất với chính quyền và nền Ðệ Nhất Cộng Hòa ra đời. Cũng trong thời gian này, một cuộc di cư vĩ đại với cả một triệu người từ Bắc vào Nam, chính phủ phải lo cho họ tất cả, vì họ ra đi, đúng hơn phần lớn là trốn chạy với 2 bàn tay trắng, chính quyền phải cung cấp từ lương thực thuốc men, định cư những nơi có thể sống và phát triển. Công lao đó, thành quả đó không phải ai cũng làm được. Nói cách khác chỉ có Ngô Ðình Diệm là người duy nhất làm được điều đó.

Tiếc thay và cũng rủi thay cho thân phận nhược tiểu, Hoa Kỳ đã dùng tiền viện trợ để dồn sức ép lên chính phủ Ngô Ðình Diệm, bắt buộc phải theo kế hoạch của Mỹ. Sức ép ngày mỗi gia tăng, nhưng Tổng Thống Ngô Ðình Diệm không còn con đường nào khác, vì sự hiện diện của Hoa Kỳ đã là cái cớ để Việt Cộng tuyên truyền, xách động tinh thần chống thực dân của người Việt Nam để thu hút nhân tài vật lực để rồi chúng sẽ đoạt được chiến thắng hay tạo thêm ảnh hưởng. Kinh nghiệm này ai cũng biết, chỉ có đám phản loạn quyết theo ngoại bang mới trở nên đui điếc.

Không xoay chuyển được ý chí của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm, Hoa Kỳ đã cho CIA dùng những thủ đoạn thâm độc để đưa đất nước Việt Nam đến chỗ hỗn loạn. Thâm độc và tai hại nhất là vu cáo cho chính phủ Ngô Ðình Diệm kỳ thị và đàn áp Phật Giáo. Kế hoạch này đã được mặc nhiên phối hợp giữa Hoa Kỳ và Việt Cộng. Khởi đi từ vụ nổ trước đài phát thanh Huế đêm mừng Phật Ðản. Tất cả các tử thi đều chết vì sức ép chứ không phải bởi súng đạn hay lựu đạn. Sau này có đến 3 nguồn tin khác nhau cho biết chính một Ðại Úy Hoa Kỳ, Janes scott đã ném chất nổ C-4 gây nên cái chết cho 8 nhân mạng trẻ con!. Tiếp theo đó là những màn tự thiêu vì Ðạo Pháp khiến cho dư luận Quốc Tế lên án chính phủ Ngô Ðình Diệm, đúng ra là nhờ sự thổi phồng và xuyên tạc của báo chí Hoa Kỳ và chính quyền Hoa Kỳ phát động. Cuối cùng, một phái đoàn của Liên Hiệp Quốc đã được chính phủ Ngô Ðình diệm mời đến tận nơi để xem xét. Phái đoàn này gồm 7 đại diện của 7 quốc gia hoặc là lấy Ðạo Phật làm quốc giáo hoặc có nhiều tín đồ theo Phật Giáo. Sau những ngày điều tra tận chỗ, đã tiếp xúc với các vị lãnh đạo tôn giáo, đã phỏng vấn 2 nạn nhân bị tuyên truyền thực hành tự thiêu được cứu sống, Phái Ðoàn Liên Hiệp Quốc đã có phúc trình lên Liên Hiệp Quốc: Không có đàn áp Phật Giáo tại Việt Nam! Mặc dù Phái đoàn còn ở lại Việt Nam mấy ngày sau ngày đảo chánh. Những hoạt động của “Phật giáo” sau ngày 1.11.1963 vẫn tiếp tục để chứng tỏ lời tuyên bố của Thượng Tọa Thích Trí Quang với bà Maguerite Higgin: “Chúng tôi chỉ có thể dàn xếp với miền Bắc sau khi lật đổ Diệm, Nhu”. Cuối cùng thì Thượng tọa Thích Trí Quang đã cho lệnh đem bàn thờ Phật ra giữa đường khiến hầu hết Phật tử chân chánh rất đau lòng, và đến lúc đó, Thượng Tọa Trí Quang mới thấy, người Mỹ lợi dụng Phật Giáo để làm thanh thế lật đổ Tổng Thống Ngô Ðình Diệm, xong việc rồi Hoa Kỳ không ngó ngàng đến lời kêu cứu của Thượng tọa khi bị Tướng Nguyễn Cao Kỳ dùng biện pháp quân sự để giải quyết vấn đề Phật Giáo xuống đường.

Ðến đây, cũng xin đề cập đến một kinh nghiệm để thấy rõ tôn giáo nào cũng có Giu Da. Những kẻ đó không bao giờ tiêu biểu cho tôn giáo mà họ đang theo. Chính họ là kẻ phá hoại, giáo sư Tiến sĩ Phật Giáo Dương Ngọc Dũng có nói một câu rất chí lý, chính những người trong tôn giáo đó mới có thể phá hoại tôn giáo đó, chứ những kẻ khác đạo không thể phá hoại tôn giáo mà họ không theo (đại ý là như vậy, nhưng không nhớ nguyên văn). Ngày nay, Công Giáo Việt nam cũng đang khốn đốn vì “giám mục, linh mục quốc doanh, Phật giáo cũng có Phật giáo quốc doanh: do đó, khi đề cập đến vụ Phật Giáo 1963, chúng tôi không cố ý vơ đũa cả nắm, trong đó có biết bao nhiêu bậc chân tu biết được Cộng Sản và Hoa Kỳ đã lợi dụng Phật giáo và đã lên tiếng phản bác, kêu gọi Phật tử hãy trở về con đường Chánh Ðạo, trường hợp Thương Tọa Thích Thiện Hoa là một.

Ðể dứt điểm chế độ, Hoa Kỳ đã mua chuộc những tên tướng phản loạn. Khi đã lật đổ được chính phủ Ngô Ðình Diệm, Hoa Kỳ cũng như đám tướng tá phản loạn đã tàn ác ám sát một cách dã man Tổng Thống Ngô Ðình diệm và cố vấn Ngô Ðình Nhu. Chính Ðại sứ Hoa Kỳ đã trao ông Ngô Ðình Cẩn cho đám phản loạn tìm cách giết chết luôn! Tại sao Hoa Kỳ và đam phản loạn lại bất chấp dư luận thế giới, bất chấp lương tâm con người? Tại chúng sợ anh em Tổng Thống Ngô Ðình Diệm, sợ cái khả năng cứu quốc và kiến quốc của họ. Sợ tinh thần bất khuất và lòng yêu nước của họ, sự dân chúng vẫn một mực kính yêu Tổng Thống Ngô Ðình Diệm. Hậu quả của cuộc phản loạn này là tình hình Việt Nam mỗi ngày một đen tối cho đến nỗi ai cũng muốn làm đảo chánh.

Chúng tôi mạnh dạn gọi những tướng tá đảo chánh chỉ là những tên không có đầu óc, không có lòng yêu nước, vì chính những kẻ đó chỉ biết theo lệnh ngoại bang làm sao lật đổ cho được Tổng Thống Ngô Ðình Diệm, lấy 3 triệu bạc tiền thưởng chia nhau rồi thôi. Không có bất cứ một chính sách, kế hoạch nào để thực hiện thay thế chính phủ mà mình lật đổ. Và từ đó, chủ quyền quốc gia không còn nữa, tất cả đều do Hoa Kỳ định đoạt.

Cũng trong những ngày này, một số tay sai Việt Cộng tại hải ngoại, kẻ thì chê Quốc Sách Ấp Chiến Lược, kẻ thì cho rằng chính “Nhà Ngô đã phá ấp chiến lược. Ấp Chiến Lược tuy do cố vấn Ngô Ðình Nhu chủ xướng nhưng nó kết hợp với kinh nghiệm ở các nước đã tiêu diệt được du kích Cộng Sản, phối hợp với tập quán rào làng chiến đấu của Việt Nam. Kết quả của Quốc sách Ấp Chiến Lược đã khiến Việt Cộng điêu đứng, các cán bộ gộc đều đã lục tục kéo về Bắc để bảo toàn lực lượng. Nhưng ngay sau khi tiếng súng phản loạn chấm dứt, Dương Văn Minh đã ra lệnh phá ấp chiến lược khiến Việt Cộng như nước tràn bờ, trở lại đánh giết hệ thống an ninh xã ấp và làm chủ thôn quê trở lại. Sau đó, vì bị dư luận lên án nặng nề, Dương Văn Minh phải ra lệnh khác, gọi là “Ấp Tân Sinh” mà đồng bào gọi mỉa mai là “Ấp mới đẻ”, chẳng khác nào chém chết rồi làm ma chay. Người ta nghi ngờ Dương Văn Minh bị Việt Cộng mua chuộc cũng không phải là chuyện không thể xảy ra.

Ðặc biệt năm nay, khi Hoa Kỳ quyết định trở lại châu Á nói chung, Biển Ðông nói riêng, khi mà áp lực sự xâm lấn đất nước Việt Nam của Trung Cộng ngày càng lộ liễu, có lẽ các tướng tá của cuộc phản loạn năm xưa lại đang tính chuyện “làm một chuyến hàng chót” hay sao, mà linh hồn cuộc phản loạn năm xưa là Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm lại xuất hiện với một nhóm người quá ít so với cái danh xưng quá lớn: Tập Thể Cựu Chiến Sĩ VNCH.

Tổng Thống Ngô Ðình Diệm, cố vấn Ngô Ðình Nhu và tất cả các chiến sĩ đã hy sinh vì tổ quốc trong cuộc binh biến ngày 1.11.1963 rất đáng cho chúng ta ngưỡng mộ, quyết noi gương kiên cường và ái quốc của họ, để, mãi mãi xứng đáng là người Việt Nam. Tưởng niệm Tổng Thống Ngô Ðình Diệm chúng ta phải noi theo gương Tổng Thống một lòng sắt son với tổ quốc, không chia rẽ, không kỳ thị tôn giáo, sắc tộc, địa phương, tất cả đều một lòng lo giải phóng đất nước khỏi ách cai trị của Việt Cộng.

Giỗ lần thứ 47 Tổng Thống Ngô Ðình Diệm.

Lê Văn Ấn


Tuesday, October 26, 2010

Dân biểu Loretta Sanchez là kẻ dối trá, lừa đảo đáng khinh - Ngô Kỷ

    Kính thưa Quý Đồng Hương,
Trong mùa tranh cử 2010 này, bà Dân Biểu Loretta Sanchez đã phát ngôn một cách hồ đồ, hàm hồ, dối trá, xấc xược về nhiều vấn đề, trong đó có vấn đề kỳ thị người Việt Nam, khinh khi cựu Dân Biểu Robert K. Dornan, và đặc biệt dối trá về việc mạo nhận là tác giả đệ trình Dự Luật Biệt Kích mà trên thực tế bà ta không có làm Dự Luật (Bill) mà lại còn bỏ phiếu NO, chống lại dự luật giúp Biệt Kích.

Chính vì thấy bà Dân Biểu Loretta Sanchez quá khinh thường sự hiểu biết của cộng đồng Việt Nam, và bà tỏ ra hỗn láo, vô lễ với nhiều người, nên tôi xin kính gởi đến Quý Đồng Hương một số tài liệu gồm: Video, Audio, Bản Tin, Hình Ảnh liên hệ để Quý Đồng Hương kính tường, hầu mong Quý Đồng Hương nhận ra sự thật để có phán xét về sự vô tư cách, thiếu đạo đức, và kém khả năng của bà Dân Biểu Loretta Sanchez.

Các điều tôi muốn trình bày đều có nằm trong các Video, Audio, Bản Tin, Hình Ảnh đính kèm theo đây, mong quý Đồng Hương bỏ chút thì giờ quý báu nhằm theo dõi tận tường để biết rõ sự thật. Tôi chịu trách nhiệm và bảo đảm tất cả những gì tôi đưa ra.

Những việc tôi đã làm và đang làm chỉ là muốn đóng góp chút ít công sức nhằm chu toàn bổn phận của một người tỵ nạn cộng sản. Vì muốn trưng dẫn tài liệu nhằm bạch hóa sự kiện nên tôi buộc lòng tôi phải công khai một số hoạt động trong quá khứ mà thôi.

Nếu ai muốn góp ý, phản đối, phê bình, chỉ trích tôi, xin vui lòng liên lạc về Ngô Kỷ, PO. Box 836, Garden Grove, Ca 92842.

Hay Email: ngokyusa@yahoo.com

Điện thoại (714) 404-7022

Trân trọng,

Ngô Kỷ
ooOoo
    Ngô Kỷ tuyên bố: "Bà Dân Biểu Loretta Sanchez đã từng bỏ phiếu chống Dự Luật Biệt Kích"
Source: Tuần báo Việt Weekly số 43. Oct 21-Oct 27,2010

LTS: Trong thời gian vận động tranh cử, bà DBLB Loretta Sanchez đã đưa ra nhiều thành tích phục vụ trong suốt thời gian 14 năm ngồi ở ghế dân biểu của mình, trong đó bà cho rằng đã “…đệ trình dự luật kêu gọi Chính Phủ Hoa Kỳ vinh danh và bồi thường các biệt kích quân miền Nam Việt Nam,” và trong buổi đón tiếp cựu tổng thống Bill Clinton tới vùng Nam Cali vận động phiếu bầu cho đảng Dân chủ, bà Sanchez cũng đã mời cho được một nhóm các cựu biệt kích của miền Nam Việt Nam tới để thêm phần rôm rả. Sự thật là thế nào? Bà có phải là tác giả hay là người đã đệ trình dự luật như bà nói không? Câu trả lời là “Không.” Phía những người ủng hộ ông Văn đã lên tiếng về vấn đế này. Ông Ngô Kỷ, người cho rằng chỉ đấu tranh cho sự thật, cũng là người từng làm việc trực tiếp dưới thời DB Robert K. Dornan (1996) rất am hiểu vấn đề và dự luật này, đã tham dự buổi họp báo của nhóm truyền thông VPC hôm thứ Bảy, 16 tháng 10, 2010 tại CLB Văn Nghệ Sĩ VNHN để trình bày cặn kẽ sự kiện dựa trên nhiều tài liệu và văn bản. Ông Ngô Kỷ cũng dành cho Việt Weekly một cuộc phỏng vấn để tổng hợp rõ ràng về vấn đề này. Dưới đây là nội dung cuộc trao đổi với ông Ngô Kỷ.

Việt Weekly (VW): Trong lá thư “Lời Tâm Tình Của Dân Biểu Liên Bang Loretta Sanchez Gởi Đến Cộng Đồng Việt Nam” ngày 25 tháng 9 năm 2010, bà Sanchez có viết rằng: “Tôi đã rất hãnh diện và đã cố gắng tranh đấu hết mình, đại diện cho cộng đồng Việt Nam trong Quốc Hội Hoa Kỳ. Điều đầu tiên tôi đã làm ngay từ ngày đầu bước vào Hạ Viện 14 năm về trước là đệ trình dự luật kêu gọi Chính Phủ Hoa Kỳ vinh danh và bồi thường các biệt kích quân miền Nam Việt Nam đã từng cộng tác và đã được quân đội Hoa Kỳ huấn luyện trong thời gian chiến tranh Việt Nam. Dự luật này được thông qua và đã được cựu tổng thống Bill Clinton ký thành đạo luật - để đất nước Hoa Kỳ ghi nhận công ơn của họ.” Ông Ngô Kỷ là người nắm vững vấn đề này, xin ông cho biết ý kiến về điều bà Loretta Sanchez nói có đúng hay không?

Ngô Kỷ (NK): Thật là láo khoét. Điều bà viết ở trên là một sự dối trá và lừa đảo một cách trắng trợn, bỉ ổi vô cùng. Trong suốt 14 năm làm dân biểu, bà Loretta Sanchez chưa bao giờ đệ trình dự luật nào giúp đỡ cho Biệt Kích cả.

VW: Như vậy thì ai là người đã đệ trình dự luật giúp đỡ cho Biệt Kích?

NK: Cựu Dân Biểu Robert K. Dornan mới chính là tác giả đệ trình Dự Luật H.R. 3668 tại Hạ Viện nhằm giúp đỡ Biệt Kích, vào ngày 18 tháng 6 năm 1996. Còn tại Thượng Viện thì Thượng Nghị Sĩ John McCain và Thượng Nghị Sĩ John Kerry cũng có đệ trình dự luật tương tự.

Tuy nhiên, có một số điểm khác nhau từ hai viện. Các điều khoản trong dự luật của Dân Biểu Dornan tại Hạ Viện thì đòi chính phủ Mỹ phải bồi thường 20 triệu đô la cho các chiến sĩ Biệt Kích OPLAN 34 đã hoạt động tại miền Bắc, và cũng phải bồi thường luôn cho các chiến sĩ Biệt Kích OPLAN 35 đã hoạt động tại miền Nam trên đường mòn Hồ Chí Minh và ngay cả tại Lào. Trong khi đó thì dự luật tại Thượng Viện thì chỉ đòi bồi thường cho chiến sĩ Biệt Kích OPLAN 34 hoạt động tại miền Bắc mà thôi.

Thêm nữa, trong dự luật của Dân Biểu Dornan tại Hạ Viện đòi chính phủ Mỹ bồi thường cho mỗi chiến sĩ Biệt Kích là 40,000 đô la nếu bị công sản giam tù dưới 20 năm, nhưng nếu bị giam tù trên 20 năm, thì phải trả thêm cứ mỗi năm nữa là 2,000 đô la. Thí dụ ở tù 24 năm thì phải trả 48,000 đô la. Nhưng chỉ trả tối đa là 50,000 đô la mà thôi. Trong khi đó thì dự luật bên Thượng Viện chỉ đòi chính phủ Mỹ trả tối đa là 40,000 đô la mà thôi.

VW: Sau khi hai viện đưa ra dự luật thì cái tiến trình cứu xét và bỏ phiếu như thế nào?

NK: Theo thủ tục của Quốc Hội Hoa Kỳ, khi hai viện đưa ra dự luật cùng đề tài thì sẽ ngồi lại với nhau thảo luận “thêm bớt” đôi chút, để rồi đúc kết thành một cái. (House/Senate Conference). Vì cái dự luật của Dân Biểu Dornan có ngôn ngữ và các điều khoản thích hợp với bên Thượng Viện, nên họ đã gom chung thành một cái. Cái bản chung quyết “Conference Report” này đã được Hạ Viện thông qua ngày 1 tháng 8 năm 1996, và Thượng Viện thông qua ngày 10 tháng 9 năm 1996. Và Tổng Thống ký thành luật vào ngày 23 tháng 9 năm 1996.

Điều đáng lưu ý là trong thời điểm 1996 này, Dân Biểu Robert K. Dornan vẫn còn đang còn tại chức dân biểu tại quốc hội, còn bà Loretta Sanchez thì chưa đắc cử, vì bà chỉ được trở thành dân biểu vào năm 1997.

Dù trở thành Đạo Luật vào năm 1996 rồi, nhưng Bộ Quốc Phòng chưa thể tháo khoán tiền ra để trả cho các chiến sĩ Biệt Kích được, vì trong cái Đạo Luật đó có một vài điều khoản không rõ ràng nên kéo dài tới năm 1997 thì lưỡng viện lại đệ trình cái dự luật khác cũng liên hệ đến việc bồi thường tiền cho các chiến sĩ Biệt Kích.

Tại Hạ Viện, vào ngày 29 tháng 4 năm 1997, thì Dân Biểu Bob Livingston lại đệ trình Dự Luật H.R.1469 trong đó có điều khoản đòi chính phủ Mỹ trả tiền cho các chiến sĩ Biệt Kích giống như dự luật năm 1996, và được Ủy Ban Chuẩn Chi Ngân Sách Hạ Viện (The House Committee on Appropriations) chấp thuận ngày 30 tháng 4 năm 1997. Còn bên Thượng Viện thì đệ trình Dự Luật S.672 được Ủy Ban Chuẩn Chi Ngân Sách Thượng Viện (The Senate Committee on Appropriations) chấp thuận ngày 5 tháng 6 năm 1997. Sau đó hai viện ngồi lại với nhau để đưa ra cái chung quyết “The House/Senate Conference Report” và được lưỡng viện thông qua ngày 12 tháng 6 năm 1997. Tổng Thống ký ban hành Đạo Luật n ày cùng ngày.

VW: Bà Dân Biểu Loretta Sanchez bỏ phiếu ra sao về cái Dự Luật H.R.1469 giúp đỡ các chiến sĩ Biệt Kích?

NK: Một điều vô cùng oái ăm, ngược đời và “rùng rợn” là chính bà Dân Biểu Loretta Sanchez đã bỏ phiếu NO, tức là chống lại cái Dự Luật H.R.1469 giúp đỡ các chiến sĩ Biệt Kích. Rất may là cái Dự Luật H.R.1469 này chiếm đa số 216 phiếu YES, 205 phiếu NO, và 13 dân biểu không bỏ phiếu. Kết quả là dù bà Dân Biểu Loretta Sanchez bỏ phiếu NO, nhưng Dự Luật H.R.1469 giúp đỡ các chiến sĩ Biệt Kích vẫn được thông qua.

VW: Để làm sáng tỏ và thật rõ ràng một lần nữa, tôi muốn hỏi ông Ngô Kỷ nghĩ sao về số báo Việt Weekly số 42 từ 14 đến 20 tháng 10 vừa qua, mà trong đó có đăng lời phóng viên Đoàn Trọng hỏi bà Dân Biểu Loretta Sanchez là “Trong 14 năm qua, bà đã là tác giả của một đạo luật nào đã được tổng thống ký ban hành?”, và bà Dân Biểu Loretta Sanchez trả lời như sau: “Chắc chắn có. Trước tiên, tôi nhắc đến đạo luật dẫn đến việc cho phép những vị chỉ huy vài đơn vị thuộc QLVNCH nhận được số tiền truy lãnh lên đến $44,000 mỗi người, Thật là thú vị khi tôi chọn làm công việc này đầu tiên tại quốc hội”. Ông Ngô Kỷ nhận xét như thế nào về câu trả lời này?

NK: Lại một lần nữa bà Dân Biểu Loretta Sanchez tự tố cáo cái láo khoét trơ trẽn của mình. Tôi thách đố bà Dân Biểu Loretta Sanchez trưng dẫn ra cái Dự Luật nào mà bà đã từng đệ trình ra Hạ Viện để giúp các chiến sĩ Biệt Kích. Bà nói láo quá sá. Bà cứ tưởng là cộng đồng Việt Nam chúng ta là ngu xuẩn dại khờ không biết gì hết, nên bà ta cứ nói hươu nói vượn, nói lấy có mà không biết ngượng miệng.

VW: Như vậy thì theo ông bây giờ bà Dân Biểu Loretta Sanchez phải làm như thế nào?

NK: Nếu bà có chút liêm sỉ và tư cách, đạo đức, thì bà Loretta Sanchez nên công khai đưa ra lời xin lỗi chân thành đến cựu Dân Biểu Robert K. Dornan vì bà đã đi “chôm credit” của ông ta.

Điều thứ hai là bà Sanchez nên công khai xin lỗi các chiến sĩ Biệt Kích đã bị bà lừa dối họ bấy lâu nay. Đặc biệt những chiến sĩ Biệt Kích bị bà lợi dụng kêu đến đón tiếp cựu Tổng Thống Bill Clinton về Santa Ana vận động tranh cử cho bà. Không có lời “lố bịch” nào hơn khi trước đám đông, bà can đảm tuyên bố: “Ngay khi vào Quốc Hội, tôi đã yêu cầu ông ký đạo luật bồi thường cho các cựu biệt kích VNCH. Hôm nay họ có mặt tại đây để cảm ơn ông”.

Và tôi thấy tội nghiệp cho những ai lâu nay “nhe dạ” cả tin nơi lời mật ngọt của bà Sanchez. Thật đắng cay và mỉa mai vô cùng khi ông Biệt Kích Tống Văn Thái ca ngơi một người đã từng đã bò phiếu NO cái Dự Luật giúp đỡ Biệt Kích rằng: “Người Việt mình có câu ‘Ăn quả nhớ kẻ trồng cây’, vì vậy hôm nay chúng tôi tới đây để cám ơn bà Sanchez và ông Clinton đã giúp anh em”.

Điều thứ ba là bà Sanchez nên chính thức tuyên bố công khai với cử tri và cộng đồng người Mỹ gốc Việt là bà không hề đệ trình bất cứ Dự Luật Biệt Kích nào cả. Bà phải xin lỗi họ về những điểu dối trá và láo khoét của bà bấy lâu nay về vấn đề Biệt Kích.

VW: Ông lên tiếng minh xác vấn đề Dự Luật Biệt Kích này có phải vì ông muốn làm hại bà Dân Biểu Loretta Sanchez không?

NK: Không. Trong khoảng 5 năm nay tôi chỉ lo diệt Việt gian tại vùng Little Saigon này mà thôi, tôi không còn để ý gì đến chính trị Mỹ hay việc bầu cử. Tôi chẳng thù oán và cũng chẳng bao giờ có ý định muốn lên tiếng gì về bà Sanchez, dù rằng tôi thừa biết về khả năng, đạo đức, và xảo thuật của bà. Không ai hại bà cả, mà chỉ có bà mới làm hại chính bà mà thôi.

VW: Thế thì tại sao ông lên tiếng lần này?

NK: Chẳng lẽ chúng ta chịu nhục để cho người ta qua mặt và cười nhạo cả cộng đồng mình là ngu ngơ, khờ dại sao? Có thể bà Sanchez và phe nhóm bà sẽ ghét giận tôi, nhưng tôi chấp nhận và thấy cần can đảm nói lên sự thật. Tôi không chủ trương vu oan, nhục mạ hay nói xấu bà.

Nhà ái quốc Nguyễn Trường Tộ có đề cập đến lời của Hàn Dũ trong Thiên Hạ Đại Thế Luận rằng: “Biết mà không nói là bất nhân. Nói mà không nói hết là bất nghĩa”. Và văn sĩ Georges Duhamel cũng có nói: “Kẻ nào dững dưng trước bất công, oan ức là hèn nhát, ích kỷ và đáng khinh”. Do đó, vì tôi thấy bà Dân Biểu Loretta Sanchez nói sai, nói láo nên tôi là người bảo vệ sự thật và lẽ công bằng nên tôi thấy cần lên tiếng. Tôi chỉ muốn nói lên lời công đạo mà thôi. Khổng Tử nói: “Kiến nghĩa bất vi, vô dũng giả”, tức “Thấy việc nghĩa mà không làm là không có dũng”, cho nên tôi muốn trình bày và làm sáng tỏ sự thật và chỉ có sự thật mà thôi. Nếu bà Dân Biểu Loretta Sanchez hay phe nhóm bà thấy oan ức, thì xin lên tiếng đính chính hay phản biện.

Cần tài liệu chứng minh, xin quý vị có thể liên lạc tôi qua số (714) 404-7022 hay ngokyusa@yahoo.com, hay thư về Ngô Kỷ, PO.Box 836, Garden Grove, Ca 92842