Saturday, July 3, 2010

Tổng Thống Nga Dmitry Medvedev nói về CS Liên Sô - Giao Tiên



Giao Tiên

Ngày 7 tháng 5 năm 2010, Tổng Thống Nga Dmitry Medvedev đã trả lời câu phỏng vấn của tờ nhật báo Nga Isvestiai rằng: “Chế độ chính quyền ở Liên Xô khi trước không thể diễn tả bằng cách nào khác hơn là một chế độ độc tài toàn trị. Thực không may, đây là một chế độ đàn áp các quyền tự do cơ bản không những chỉ người dân của nước mình, mà còn cho nhân dân các nước nằm trong khối CS, tôi muốn nói tới các nước XHCN khác, trong gần nửa thế kỷ nay. Và vết nhơ này không thể nào bôi xóa trong lịch sử”.

Lời phát biểu của vị nguyên thủ Nga đã gây chấn động hệ thống truyền thông Nga và nhiều nước trên thế giới. Vị Tổng Thống 45 tuổi đời, sau 2 năm cầm quyền đã can đảm nói lên một sự kiện mà từ trước tới nay không ai dám lên tiếng. Sự can trường và quả quyết của ông còn được thể hiện khi ông quyết định tới Ba Lan để tham dự tang lễ của cố TT Ba Lan, Lech Kaczynski và 94 nhân viên tháp tùng, đã thiệt mạng trong tai nạn máy bay tại rừng Katyn ngày 4/10/2010. Cuộc hành trình tới Ba Lan thực vô cùng nguy hiểm do khói và bụi núi lửa phun ra mù mịt trên bầu trời. Nhiều nguyên thủ quốc gia đã huỷ bỏ chuyến tham dự tang lễ này vì sợ chuyến bay không an toàn, nhưng ông Medvedev đã tới Ba Lan bằng máy bay, bay tầm thấp dưới 10 ngàn mét. Sự hiện diện của ông trong tang lễ làm người Ba Lan rất xúc động và thế giới cảm phục. Ông Dmitry Medvedev muốn chứng tỏ với nhân dân và chính quyền Ba Lan thiện chí của Nga trong việc hòa hợp hòa giải và đoàn kết dân tộc giữa 2 nước.
70 năm trước đây, vào năm 1940, 22 ngàn sĩ quan Ba Lan đã bị Staline ra lệnh thảm sát tại rừng Katyn và cơ quan an ninh Liên Xô đã bưng bít và bóp méo sự thật về vụ này. Mãi sau này, chính quyền Ba Lan mới đưa vụ thảm sát ra tòa án Nhân Quyền Âu Châu tại Strasbourg với những bằng chứng. Thân nhân những người bị sát hại đã đòi chính phủ Nga phải bồi thường.

Tháng 3/2010, Viện Công tố Quân Sự Nga đã trả lời Tòa Án Nhân Quyền Âu Châu rằng: “Vụ thảm sát xảy ra từ năm 1940, tới nay đã vượt qua thời hiệu pháp lý. Nước Nga, ngày hôm nay, không thể chịu trách nhiệm cho một chính quyền 70 năm về trước”.

Tuy nhiên, quan điểm của ông Dmitry Medvedev thì ngược lại. Ông nói: “Nếu ngày hôm nay, nhắm mắt trước những tội ác này, thì trong tương lai, những tội ác như vậy sẽ còn lập lại, ở dạng này hay dạng khác, ở nước này hay nước kia. Vì vậy, thời gian khiếu nại tuy khá xa, nhưng tội ác tày trời như vậy không bao giờ mất thời hạn. Những người gây tội ác, bất cứ là ai, bất kể thời gian là bao nhiêu năm, cũng phải gánh trách nhiệm ! Đây là vấn đề trách nhiệm và đạo đức, một sự kiện đáng để cho các thế hệ tương lai rút kinh nghiệm”.

Ông Medvedev cũng tố cáo: “Stalin đã giết dân mình hàng loạt. Ông ta là kẻ sát nhân với số lượng lớn. Tội ác đó không thể tha thứ được”.

Giới truyền thông rất ngạc nhiên vì lời tố cáo tội ác của Stalin từ cửa miệng TT Medvedev. Ông nói một cách tự nhiên, không hề bị một áp lực từ bên trong hay bên ngoài. TT Medvedev đã nhìn ra và nói lên cái chế độ tàn bạo của Liên Bang Xô Viết dưới thời Stalin, một bạo chúa. Ông cũng chỉ trích các tổ chức CS vẫn còn tôn thờ Stalin, muốn treo hình Stalin nhân dịp kỷ niệm 65 năm chiến thắng phát xít Đức. Ông khẳng định: “Điện Kremlin sẽ không xử dụng các biểu tượng như vậy. Sự trở lại của chủ nghĩa Stalin đã hoàn toàn bị loại trừ. Và ông kết luận: Tôi đã phải chờ đợi quá lâu để nói lên sự thật này”.

Việc công khai tố cáo tội ác của Stalin đã gây tranh cãi trong công chúng Nga. Một số người đề cao công lao của ông ta trong việc chiến thắng phát xít Đức, nhưng các tổ chức nhân quyền đã đưa ra bằng chứng về sự sát hại hang triệu người Nga trong 3 thập niện cầm quyền. của Stalin. Những trại tù Gulag khủng khiếp gây kinh hoàng cho dân chúng. Các cuộc cưỡng ép di dân và nạn đói năm 1932-1933 đã gây thiệt mạng cho 6 triệu người.

Từ lời tố cáo của TT Medvedev, tờ báo Novaya Gazeta và đài phát thanh Echo Moskvy đã trưng ra tài liệu về mật lệnh giết người của Stalin, trong đó, ngay cả các trẻ em từ 12 tuổi cũng phải chịu tử hình. Lịch sử Nga đang mở lại những trang sử đen tối nhất. Và Stalin chính là tên tội đồ của dân tộc Nga.

Ngày 9/5/2010 nước Nga tổ chức một lễ kỷ niệm ăn mừng 65 năm ngày chiến thắng phát xít Đức Đây là lần đầu tiên các lãnh đạo Tây phương tới tham dự lễ kỷ niệm tại Nga. Đặc biệt, cuộc diễn hành được tổ chức tại Quảng trường Đỏ, Moscova, có sự tham gia của các quân đội Anh, Mỹ, Pháp, và Ba Lan . Theo dự kiến, có 10,500 quân nhân tham dự, và cùng một ngày 70 thành phố lớn ở Nga cùng tổ chức lễ duyệt binh mừng chiến thắng. Đại diện cho VN, Nguyễn Minh Triết sẽ lên đường tham dự lễ kỷ niệm này.

Từ gần một thế kỷ nay, tại VN, Stalin được Hồ Chí Minh coi như là một thần tượng, một vĩ nhân. Trong các bài diễn văn, Hồ đề cập tới Stalin với một giọng tôn kính, gọi Stalin là “cha già của thế giới XHCN …” HCM tạc tượng Stalin đặt ngay giữa công viên Hà Nội. Các bài ca ngợi công ơn Stalin được đem vào sách giáo khoa bậc Trung, Tiểu học.

HCM cũng cho Tố Hữu viết những lời thơ khóc lóc thảm thiết khi Stalin chết:

Thương cha, thương mẹ, thương chồng. Thương mình thương một, thương ông thương mười.

Cái khó của Nguyễn Minh Triết trong kỳ đi họp lần này là không biết đóng góp ý kiến ra sao trước lời phát biểu của TT Medvedev “Stalin là tội đồ của dân tộc”. Thực là “há miệng mắc quai”. Tội đồ của dân tộc Nga lại là thần tượng của CHXHCN VN ?

Lần này đi họp về, Nguyễn Minh Triết hết còn … ba hoa chích choè trước đám Đại Biểu Quốc Hội chỉ thích gật gù và vỗ tay cổ võ.

Giao Tiên

Friday, July 2, 2010

Các Lực Lượng Nước Ngoài Tham Dự Chiến Tranh 1960-1975 - Trần Gia Phụng

Trần Gia Phụng

Ngay trước khi ký hiệp định Genève (20-7-1954), đảng Lao Động (LĐ) đã chủ trương tiếp tục chiến tranh để bành trướng thế lực. Vì chủ trương nầy, đảng LĐ và Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) hay Bắc Việt Nam đã cầu viện Trung Quốc, Liên Xô và các nước cộng sản khác, nhằm bảo vệ hậu cứ Bắc Việt Nam và cung cấp võ khí tối tân để Bắc Việt Nam tấn công Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) hay Nam Việt Nam. Ở thế yếu và để tự bảo vệ, Nam Việt Nam đành phải nhờ Hoa Kỳ và các nước đồng minh giúp đỡ nhằm chống lại cuộc xâm lăng của Bắc Việt Nam. Đó là lý do sự hiện diện của quân đội nước ngoài ở cả hai phía tại Việt Nam.

1. LỰC LƯỢNG HOA KỲ

Ngày 4-2-1950, Hoa Kỳ thừa nhận Quốc Gia Việt Nam do quốc trưởng Bảo Đại đứng đầu. Military Assistance and Advisory Group-Indochina (MAAG-I) tức Đoàn Cố vấn Viện trợ Quân sự Mỹ chính thức thành lập ngày 17-9-1950, nhằm mục đích cố vấn và huấn luyện quân đội Việt Miên Lào.

Trong chiến tranh lạnh sau thế chiến thứ hai, (1) trước sự bành trướng của cộng sản, đại diện ba nước Australia, New Zealand, United States of Anmerica họp tại San Francisco (Hoa Kỳ) ngày 1-9-1951, ký hiệp ước thành lập khối quân sự ANZUS, nhằm hợp tác phòng thủ nếu xảy ra các cuộc tấn công trên Thái Bình Dương được xem là ảnh hưởng đến hòa bình và an ninh của mỗi nước và các nước khác trong khu vực. Khối ANZUS không lập lực lượng riêng, chỉ họp hằng năm cấp bộ trưởng ngoại giao để duyệt xét tình hình và họp bất thường khi một trong ba nước thành viên yêu cầu vì an ninh bị đe dọa.

Sau hiệp định Genève (20-7-1954), lo ngại sự bành trướng của cộng sản tại vùng Đông Nam Á, Hoa Kỳ vận động ký kết Hiệp ước Hỗ tương Phòng thủ Đông Nam Á (Southeast Asia Collective Defence Treaty) tại Manila, thủ đô Phi Luật Tân, ngày 8-9-1954. Từ đó ra đời Tổ chức Liên phòng Đông Nam Á (Southeast Asia Treaty Organization viết tắt là SEATO), gồm các nước (theo thứ tự ABC) Australia (Úc), France (Pháp), New Zealand (Tân Tây Lan) Pakistan (Hồi Quốc), Philippines (Phi Luật Tân), Thailand (Thái Lan), United Kingdom (Anh), và United States of America (Hoa Kỳ).

Trong phụ bản của hiệp ước nầy, ba nước Cambodia (Cao Miên), Laos (Lào) và Việt Nam được liệt kê trong vùng lãnh thổ được bảo vệ. Hoa Kỳ dựa vào văn bản hiệp ước nầy để minh chứng sự ủng hộ của họ đối với các chế độ chống cộng ở Đông Nam Á.

Sau khi Pháp rút lui, Hoa Kỳ thiết lập đoàn MAAG-Việt Nam tháng 10-1955, để trực tiếp cố vấn và huấn luyện quân đội Việt Nam, nhằm xây dựng cho miền Nam Việt Nam một đội quân có thể tự bảo vệ an ninh lãnh thổ. Theo đà phát triển của quân đội VNCH, đoàn MAAG-Việt Nam được chuyển thành Military Assistance Command, Vietnam (MACV) tức Bộ Tư lệnh Quân viện Việt Nam ngày 8-2-1962. Nhân số MACV lúc đó khoảng 3,000 người.

Bộ Tư lệnh Quân viện Việt Nam (MACV) là bộ chỉ huy liên quân Mỹ tại Việt Nam, nằm dưới sự chỉ huy của Pacific Command (PACCOM) tức Bộ Tư lệnh Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương. Dưới quyền MACV là tất cả các lực lượng Hoa Kỳ tại Việt Nam, gồm có: Bộ chỉ huy Lục quân (United States Army Vietnam – USARV), Bộ tư lệnh Hải quân (Naval Forces Vietnam -NAVFORV), Không lực 7 (Seventh Air Force – 7AF), Lực lượng Thủy bộ số 3 (III Marine Amphibious Force – IIIMAF), Lực lượng Dã chiến số 1 (I Field Force, Vietnam – I FFV), Lực lượng Dã chiến số 2 (II Field Force, Vietnam – II FFV), Quân đoàn 24 (XXIV Corps), Lực lượng Đặc biệt số 5 (5th. Special Forces Group), Cơ quan Điều phối Dân sự vụ và Phát triển Nông thôn (Civil Operations and Rural Development Support – CORDS), Nhóm Nghiên cứu và Quan sát (Studies and Observations Group – SOG). (2)

Các Tư lệnh MACV là đại tướng Paul D. Harkins (từ tháng 2-1962), William C. Westmoreland (từ tháng 6-1964), Creighton W. Abrams (từ tháng 7-1968) và Frederick C. Weyand (từ tháng 6-1972). Vai trò của MACV càng ngày càng quan trọng khi Hoa Kỳ tung quân vào Việt Nam từ năm 1965.

Tháng 8-1964 xảy ra biến cố Vịnh Bắc Việt. Nguyên vào ngày 2-8-1964, khu trục hạm Maddox (Hoa Kỳ) đang tuần tra trong hải phận quốc tế trong vịnh Bắc Việt ở ngoài khơi Thanh Hóa, thì bị ba ngư lôi đĩnh Bắc Việt tấn công. Theo các tài liệu cũ của Hoa Kỳ, hai ngày sau, chiều tối 4-8-1964 hai chiến hạm Maddox và Turney Joy bị tấn công lần nữa, trong khi thi hành nhiệm vụ trong hải phận quốc tế. Tuy nhiên, ngày nay, nhiều tài liệu cho thấy lần tấn công thứ hai vào tối 4-8-1964 không có thật. (Đỗ Cẩm, ) Ngày 7-8, theo yêu cầu của tổng thống Hoa Kỳ, Quốc hội Hoa Kỳ cho phép ông được sử dụng mọi biện pháp cần thiết để đánh trả, nghĩa là cho phép ông có thể đưa quân qua Việt Nam và mở rộng chiến tranh.

Trong thời gian thủ tướng Phan Huy Quát cầm quyền (từ 16-2-1965 đến 19-6-1965), những báo cáo của các giới chức Hoa Kỳ cho thấy tình hình quân sự VNCH càng ngày càng bi đát, nhất là báo cáo ngày 24-2-1965 của Cơ quan Trung ương tình báo (CIA), báo cáo vào đầu tháng 3 của tướng Westmoreland và báo cáo của cố vấn McGeorge Bundy sau khi từ Việt Nam trở về. (3) Bundy đề nghị thực hiện ngay kế hoạch “trả đũa liên tục” chống lại miền Bắc. Tổng thống Johnson liền quyết định mở chiến dịch oanh tạc thường xuyên Bắc Việt, đặt tên là Rolling Thunder, chính thức bắt đầu vào ngày 2-3-1965.

Do hoạt động của không quân Hoa Kỳ càng ngày càng gia tăng, phi trường Đà Nẵng được dùng làm nơi xuất phát các phản lực cơ bay đi oanh tạc Bắc Việt. Ngày 22-2-1965, tướng Westmoreland, tư lệnh MACV, yêu cầu tổng thống Johnson cho đổ bộ hai tiểu đoàn Thủy quân lục chiến (TQLC) Hoa Kỳ, nhằm bảo vệ căn cứ Đà Nẵng. Johnson đồng ý đề nghị nầy với điều kiện phải có sự ưng thuận của chính phủ Việt Nam.

Được lệnh của bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, ngày 1-3-1965, đại sứ Taylor và phó đại sứ Alexis Johnson gặp thủ tướng Phan Huy Quát, đưa đề nghị về việc Hoa Kỳ gởi hai tiểu đoàn TQLC đến Đà Nẵng. Thủ tướng Quát chấp thuận. Ngày hôm sau, 2-3-1965, tướng Westmoreland gặp và thông báo cho các tướng Nguyễn Văn Thiệu, tổng trưởng Quân lực và Trần Văn Minh, tổng tư lệnh quân đội. Người Mỹ còn ra Đà Nẵng, gặp thiếu tướng Nguyễn Chánh Thi, tư lệnh Quân đoàn I để thảo luận kế hoạch đổ bộ. Cần nhấn mạnh là quyết định tối quan trọng nầy chỉ được thỏa thuận bằng lời chứ không bằng văn bản, giữa các giới chức Hoa Kỳ với thủ tướng Phan Huy Quát và một số tướng lãnh Việt Nam chứ, không có ý kiến của Hội đồng chính phủ hay của HĐQL.

Cuối cùng, ngày 8-3-1965, tiểu đoàn 9 TQLC Hoa Kỳ là đơn vị chiến đấu Mỹ đầu tiên đổ bộ vào bãi biển Nam Ô, phía bắc Đà Nẵng khoảng 10 cây số. (4) Các đơn vị còn lại đến Đà Nẵng bằng không vận. Việc người Mỹ bắt đầu đổ quân chiến đấu vào Việt Nam là một biến cố quan trọng, ảnh hưởng đến toàn bộ tình hình Việt Nam.

Quân số Hoa Kỳ tại Việt Nam từ tháng 4-1965 là 32,000 người. Cuối năm 1965, số quân nầy tăng thành 186,000. Cuối năm 1966 là 376,800 quân. Cuối năm 1967 lại tăng nữa: 486,000 quân. (5) (6) Sau biến cố Mậu Thân vào đầu năm 1968, quân số Hoa Kỳ lên cao điểm là 536,100 người. Sau đó, từ giữa năm 1969, tổng thống Richard Nixon thay đổi sách lược, rút quân dần dần theo kế hoạch mà người Mỹ gọi là “Việt Nam hóa” và dự tính sẽ còn 405,000 vào 1972.

Sau hiệp định Paris (27-1-1973), toàn bộ quân Mỹ triệt thoái khỏi Việt Nam, MACV bị giải thể ngày 29-3-1973. Cơ quan Defense Attach Office (DAO) tức Phòng Tùy viên Quân sự Hoa Kỳ được thành lập do thiếu tướng John Murray chỉ huy và trong năm sau (1974), thiếu tướng Homer Smith thay thế, cho đến tháng 4-1975. Số quân nhân Hoa Kỳ hy sinh tại chiến trường Việt Nam lên khoảng 58, 217 người và 19 dân sự; 153,452 bị thương và 1,740 người mất tích. (7)

Cần chú ý, chính phủ các nước trên thế giới đều chỉ lo phục vụ quyền lợi nước họ, nên khi quyết định giúp đỡ một nước khác, cũng chỉ vì quyền lợi gần hay xa của nước họ. Người Hoa Kỳ rất thực dụng. Do đó, chính phủ Hoa Kỳ quyết định can thiệp vào Việt Nam vì chiến lược toàn cầu của Hoa Kỳ chứ không phải chỉ vì giúp đỡ VNCH. Khi đến vì quyền lợi, thì cũng vì quyền lợi người Hoa Kỳ ra đi, sẵn sàng bỏ rơi VNCH khi cần.

2. LỰC LƯỢNG CÁC NƯỚC TRONG KHỐI TỰ DO THAM CHIẾN

Hoa Kỳ là thành viên của khối ANZUS và tổ chức SEATO, nên Hoa Kỳ kêu gọi, thúc đẩy các nước đồng minh Đông Á giúp đỡ Việt Nam. Lúc đầu là những toán chuyên viên dân sự. Dần dần nhiều nước gởi quân chiến đấu đến giúp VNCH.

Năm 1962, Australia (Úc) gởi qua Việt Nam một biệt đội cố vấn chiến tranh rừng rậm khoảng 30 người. Số quân Úc tăng dần lên đến 7,672 năm 1969 và từ năm 1970 giảm xuống trở lại (6,763 quân). (8) Khi rút hết quân về nước tháng 12-1972, Úc chỉ để lại một trung đội bảo vệ sứ quán Úc tại Sài Gòn. Số quân Úc tử trận tại Việt Nam là 521 người. (9)

New Zealand (Tân Tây Lan) gởi quân giúp Việt Nam từ tháng 6-1964 đến tháng 12-1972. Đầu tiên là một toán cố vấn 30 người năm 1964 tăng dần theo từng năm. Số quân New Zealand cao nhất vào năm 1970 là 441 người. (10) Tổng số quân tử trận tại Việt Nam là 36 người. (11)

Năm 1964, Republic of Korea (South Korea) tức Cộng Hòa Đại Hàn (hay Nam Hàn) gởi sang Việt Nam 200 quân, nhưng ngay từ năm sau (1965), quân Đại Hàn tăng lên 20,620 người, rồi lại tăng thành 45,566 quân năm 1966. Cao điểm vào năm 1969, quân Đại Hàn hiện diện ở Việt Nam là 48, 869 người. Sau đó quân số giảm dần cho đến khi rút lui đầu năm 1973. Quân Đại Hàn đóng giữ các tỉnh duyên hải từ Quảng Ngãi vào đến Bình Thuận. Các dơn vị nổi tiếng là Sư đoàn Mãnh Hổ (bản doanh ở Bình Định), Lữ đoàn Thủy quân lục chiến Thanh Long (bản doanh ở Cam Ranh) và sư đoàn Bạch Mã (bản doanh ở Tuy Hòa). Số quân tử trận khoảng 5,099, bị thương 11,232 và mất tích 4. (12)

Ngày 29-9-1964, 16 quân nhân viên Không lực Thái Lan đến Sài Gòn để giúp Không quân Việt Nam. Dần dần quân Thái Lan lên đến 6 tiểu đoàn với 11,586 quân năm 1970, đóng bản doanh trong vùng tỉnh Biên Hòa. Thái Lan bắt đầu rút quân từ tháng 3-1971 và chấm dứt giữa năm 1972. (13a) Thái Lan mất 351 quân nhân và bị thương 1,358 người.

Nước Philippines gởi Đoàn Công tác Dân vụ (Civic Action Group) qua giúp VNCH từ năm 1964. Cao điểm năm 1967, quân Philippines lên đến 534 người. Sau đó giảm xuống dần dần và chỉ còn 74 người năm 1970. Quân Philippines đảm trách các công tác dân vụ như y tế, làm đường sá, xây cầu cống, dựng nhà giúp dân tái định cư tại các tỉnh Hậu Nghĩa, Bình Dương và Tây Ninh. (13b) Số thiệt hại quân nhân Phi Luật Tân không đáng kể, 7 người chết, 2 người bị thương.

Ngoài ra, còn hai nước chỉ gởi chuyên viên kỹ thuật và y tế sang giúp VNCH là Trung Hoa Dân Quốc (Republic of China) và Tây Ban Nha (Spain). Trung Hoa Dân Quốc tức Đài Loan (Taiwan) gởi 20 người năm 1964 và 31 người năm 1970. Tây Ban Nha gởi 13 chuyên viên năm 1966 và chỉ còn 7 người năm 1970. (14)

DIỄN BIẾN QUÂN SỐ ĐỒNG MINH TỰ DO (14)
Quốc Gia1964196519661967196819691970
Australia200
1,557
4,525
6,818
7,611
7,672
6,763
New Zealand30
119
155
534
516
552
441
Republic
of Korea
200
20,620
45,566
47,828
50,003
48,869
48,537
Thái Lan
16
240
2,205
6,005
11,568
11,586
Philippines 17
72
20,61
2,020
1,576
189
74
Republic of China20
20
23
31
29
29
31
Tây Ban
Nha



13 12 10 07

3. LỰC LƯỢNG CÁC NƯỚC CỘNG SẢN THAM CHIẾN

Quân đội Hoa Kỳ và các nước đồng minh trong khối Tự do đến giúp VNCH (Nam Việt Nam) có tính cách công khai, nên chẳng những người Việt Nam biết, mà cả thế giới đều biết. Ngược lại, lực lượng các nước trong khối Cộng sản đến giúp VNDCCH (Bắc Việt Nam) hết sức bí mật và được giấu kín trong thời gian chiến tranh. Sau năm 1975, tin tức dần dần mới được tiết lộ.

Để chuẩn bị chiến tranh, đầu tháng 7-1959 Hồ Chí Minh qua Moscow đề nghị Liên Xô yểm trợ Bắc Việt Nam trong cuộc chiến mà đảng LĐ đang sửa soạn tấn công miền Nam Việt Nam, nhưng Liên Xô khuyên Hồ Chí Minh nên tiếp tục mưu tìm sự thống nhất trong hòa bình. (15)

Vào lúc nầy, Nikita Khrushchev đang cầm quyền ở Liên Xô từ năm 1953. Năm 1956, trong Đại hội đảng lần thứ 20 đảng Cộng Sản Liên Xô (CSLX) tháng 2-1956, ông đưa ra chủ trương “chung sống hòa bình” giữa các nước không cùng chế độ chính trị.

Một thành tựu quân sự quan trọng của LX dưới thời Khrushchev là Liên Xô đã phóng thành công vệ tinh Sputnik lên quỹ đạo ngày 4-10-1957, mở đầu kỷ nguyên chinh phục không gian. Sau những cuộc thương lượng kéo dài, ngày 5-8-1963, ngoại trưởng Liên Xô (Andrei Gromyko), ngoại trưởng Anh Quốc (Alec Douglas Home) và ngoại trưởng Hoa Kỳ (Dean Rusk) ký thỏa hiệp giới hạn thử nghiệm bom nguyên tử trên khí quyển và ngoài biển khơi, chỉ được thử nghiệm trên đất liền. Thỏa hiệp nầy chính thức có hiêu lực từ ngày 10-10-1963.

Khi Leonid Brezhnev lên làm thư ký thứ nhất đảng CSLX thay Nikita Khrushchev vào tháng 10-1964, thì LX thay đổi thái đô, viện trợ và gởi người sang giúp Bắc Việt Nam. Quân đội Liên Xô đến Bắc Việt khoảng 3,000 người, thuộc Phòng Tùy viên Quân sự Tòa đại sứ Liên Xô tại Hà Nội, đều là những chuyên viên không quân, kỹ thuật phòng không và hỏa tiễn (Bắc Việt gọi là tên lửa). Nhiệm vụ của chuyên viên LX là huấn luyện lắp ráp tại chỗ các loại máy bay chiến đấu MIG-21 và SU, huấn luyện phi công Bắc Việt lái máy bay, lắp ráp các bệ phóng hỏa tiễn và điều khiển hỏa tiễn. Ngoài ra còn có một số chuyên gia về hải quân và các binh chủng khác.

Khi phục vụ tại Bắc Việt, các quân nhân LX đều dùng thường phục, chỉ trong những buổi lễ mới dùng quân phục, sinh sống tập trung nhiều nhất ở trong một số khu vực ở Hà Nội và ở các phi trường lớn có trang bị hỏa tiễn phòng không tại Bắc Việt. (16)

Nước cộng sản lớn thứ hai đưa quân vào Bắc Việt Nam là Trung Quốc (TQ). Bắc Việt Nam nằm sát phía nam TQ. Ngày 4-9-1958, Quốc Vụ Viện TQ ra nghị quyết về ranh giới biển của TQ là 12 hải lý kể từ bờ biển, áp dụng cho toàn thể lãnh thổ TQ, bao gồm các hải đảo, trong đó có cả Hoàng Sa và Trường Sa. Để lấy lòng TQ, Phạm Văn Đồng, thủ tướng Bắc Việt, với sự đồng ý của Hồ Chí Minh và bộ Chính trị đảng LĐ, ký quốc thư ngày 14-9-1958, tán thành quyết định trên của TQ ngày 4-9-1958, nghĩa là mặc nhiên thừa nhận hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc Trung Quốc.

Cần chú ý thêm TQ đã thử nghiệm thành công quả bom nguyên tử đầu tiên ngày 16-10-1964, phóng hỏa tiễn nguyên tử đầu tiên ngày 25-10-1966 và thử nghiệm quả bom khinh khí đầu tiên ngày 14-6-1967. (17) Sự thành công nầy làm tăng giá trị vị thế của TQ trong bang giao quốc tế.

Trước đây, chỉ có Liên Xô là nước cộng sản duy nhất thủ đắc bom nguyên tử, có thể đối trọng với Hoa Kỳ. Nay Trung Quốc cũng có bom nguyên tử nên càng làm cho Bắc Việt tin tưởng thêm hơn trong cuộc đối đầu với Hoa Kỳ. Mối bang giao Liên Xô-Trung Quốc rạn nứt từ năm 1956, khi Nikita Khrushchev chủ trương “sống chung hòa bình” giữa các nước không cùng chế độ chính trị. Nay có bom nguyên tử, TQ càng tỏ ra khiêu khích đối với Liên Xô. Riêng Hoa Kỳ, sau khi TQ nắm được bom nguyên tử, Hoa Kỳ cũng phải tính toán lại sách lược bang giao đối với Trung Quốc, tạo nhiều hệ lụy trong chiến tranh Việt Nam.

Trong khi đó, vào đầu tháng 8-1964 xảy ra biến cố Vịnh Bắc Việt. Quốc hội Hoa Kỳ liền đưa ra “Quyết nghị vịnh Bắc Việt” (Gulf of Tonkin Resolution) ngày 7-8-1964, cho phép tổng thống Hoa Kỳ thi hành các biện pháp cần thiết, kể cả việc dùng võ lực, để đối phó với tình hình tại Đông Nam Á. Trung Quốc tỏ ra quan ngại, cho rằng chẳng những Hoa Kỳ tấn công Bắc Việt mà Hoa Kỳ sẽ có thể giúp Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) đổ bộ lục địa Trung Quốc. Một mặt, Trung Quốc tái bố trí lực lượng nội địa để phòng thủ, một mặt Trung Quốc tăng cường giúp đỡ VNDCCH nhằm chống lại Hoa Kỳ. (18)

Các lãnh tụ Bắc Việt là Hồ Chí Minh, Lê Duẫn, Văn Tiến Dũng liên tục qua Trung Quốc hội họp và thương lượng với các lãnh tụ Trung Quốc. Ngoài việc gởi quân viện, từ tháng 6-1965 đến tháng 3-1968, Trung Quốc gởi sang Bắc Việt Nam 320,000 quân, trú đóng ở các tỉnh và thành phố phía bắc Hà Nội, điều khiển các súng phòng không, sửa chữa đường sá, cầu cống, đường xe lửa, xây dựng các hãng xưởng, bảo vệ các tỉnh phía bắc nhằm giúp Bắc Việt kéo hết quân xuống tấn công miền Nam. Khi Trung Quốc rút quân về nước vào tháng 8-1973 (7 tháng sau hiệp định Paris), tổng số lính Trung Quốc thiệt mạng tại Việt Nam là 1,100 người và bị thương là 4,200 người. (19)

Cuối năm 1966, Cộng Hòa Nhân Dân Triều Tiên (Bắc Hàn) gởi hai trung đoàn pháo binh phòng không và hai phi đội sang Bắc Việt Nam giúp bảo vệ Hà Nội. Kim Nhật Thành đã nói với các phi công Bắc Hàn là hãy chiến đấu trên bầu trời Bắc Việt giống như tại Triều Tiên. Khi rút về vào 1972, Bắc Hàn để lại khoảng vài chục quân nhân bị giết trong các cuộc dội bom của phi cơ Hoa Kỳ. (20)

Ngoài ra, Cuba, một nước ở Trung Mỹ theo cộng sản, cũng gởi người đến giúp Bắc Việt, qua hình thức dân sự thuộc Tòa đại sứ Cuba ở Hà Nội. Đó là những chuyên viên phụ trách khai thác tù binh Hoa Kỳ bị Bắc Việt bắt được. Đa số quân nhân Hoa Kỳ bị bắt là phi công. Theo lời kể của những tù binh Hoa Kỳ còn sống sót và trở về Hoa Kỳ sau hiệp định Paris năm 1973, các chuyên viên Cuba tra tấn một cách tàn nhẫn và có khi đánh đập đến chết một số tù binh Hoa Kỳ. (21)

KẾT LUẬN

Sau khi đất nước bị chia hai, miền Nam Việt Nam muốn sống yên ổn, hòa bình để phát triển kinh tế, nhưng lại bị Bắc Việt Nam khiêu khích và tấn công vì cho rằng miền Nam Việt Nam không thi hành việc tổ chức tổng tuyển cử thống nhất đất nước theo hiệp định Genève (20-7-1954). Lý do nầy hoàn toàn không hợp lý vì hiệp định Genève chỉ là một hiệp định đình chỉ chiến sự, không nói gì đến giải pháp chính trị. Việc dự tính tổ chức tổng tuyển cử để thống nhất đất nước chỉ được đề cập đến trong điều 7 bản “Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève 1954 về vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dương”. Bản tuyên bố nầy lại không có chữ ký của các nước tham dự hội nghị nên không có giá trị cưỡng hành.

Quân đội các nước cộng sản kín đáo đến giúp Bắc Việt Nam, được ngụy trang dưới hình thức chuyên viên kỹ thuật dân sự. Truyền thông Bắc Việt hoàn toàn do nhà nước kiểm soát, nên không đưa tin về việc nầy. Bắc Việt bưng bít tin tức rất kỹ, thế giới hoàn toàn không hay biết về sự hiện diện của quân đội các nước cộng sản tại Bắc Việt.

Trong khi đó, Hoa Kỳ cùng đồng minh công khai đổ quân ồ ạt vào Nam Việt Nam. Cộng sản Bắc Việt lợi dụng sự hiện diện công khai của quân nhân nước ngoài tại miền Nam Việt Nam để tuyên truyền chống VNCH và chống “đế quốc xâm lược Mỹ”, chẳng những trong dân chúng Việt Nam ở cả hai miền Bắc và Nam Việt Nam, mà cả trưóc dư luận thế giới.

Quân đội Hoa Kỳ và đồng minh vào miền Nam Việt Nam khá nhanh từ năm 1965 và cũng rút nhanh vào đầu thập niên 70. Tuy vậy, quân đội VNCH vẫn một mình chiến đấu bảo vệ miền Nam Việt Nam, và chỉ phải buông súng vì thiếu đạn dược do Hoa Kỳ cắt quân viện, trong khi Bắc Việt Nam được toàn khối cộng sản yểm trợ mạnh mẽ cho đến khi thành công năm 1975. (Trích Việt sử đại cương tập 6.)

Trần Gia Phụng
(phungtrangia@yahoo.com)

CHÚ THÍCH

1. Sau thế chiến thứ hai, thế giới chia thành hai khối rõ rệt. Khối tư bản do Hoa Kỳ đứng đầu và khối cộng sản do Liên Xô lãnh đạo. Hoa Kỳ thử thành công bom nguyên tử lần đầu tiên ngày 16-7-1945, và đã dùng bom nguyên tử thả xuống hai thành phố Nhật Bản là Hiroshima (6-8-1945) và Nagasaki (9-8-1945), kết thúc thế chiến thứ hai. Liên Xô thử nghiệm thành công bom nguyên tử đầu tiên ngày 29-8-1949. Vì cùng thủ đắc võ khí nguyên tử, hai nước Hoa Kỳ và Liên Xô, tuy tranh chấp nhau quyết liệt, nhưng tránh trực tiếp đụng độ nhau. Tình trạng nầy gọi là chiến tranh lạnh Trong chiến tranh lạnh, Liên Xô và khối cộng sản dựa vào chiêu bài giải phóng dân tộc để tuyên truyền và bành trướng thế lực. Hoa Kỳ và khối tư bản cho rằng khi một nước bị cộng sản chiếm quyền, thì các nước lân bang dần dần sẽ bị mất vào tay cộng sản, nghĩa là một quân cờ domino sụp đổ, thì các quân cờ domino khác cũng sụp theo. Đó là nguồn gốc thuyết domino tại các nước Tây phương, nhất là Hoa Kỳ. Vận dụng thuyết địa lý chính trị nầy, Hoa Kỳ can thiệp vào các nước Đông Nam Á, hầu ngăn chận sự bành trướng của cộng sản.
2. Wikipedia, The free encyclopedia, “Military Assistance Advisory Group”.
3. Lâm Vĩnh Thế trích dịch, Bạch hóa tài liệu mật của Hoa Kỳ về Việt Nam Cộng Hòa, Hamilton, Ontario: Hoài Việt, 2008, tt. 162-166. Đọc thêm: William Westmoreland, A Soldier’s Report, Duy Nguyên dịch, Hồi ký cựu đại tướng Westmoreland, San Jose: Nxb. Thế Giới, 1996, chương VII, “Quyết định khó khăn nhất”, tt. 171-206.
4. Làng Nam Ô nằm ven vịnh Đà Nẵng, dân địa phương gọi là Vũng Thùng. Trước đó hơn 100 năm, những TQLC Pháp đầu tiên cũng đã đổ bộ ở Vũng Thùng năm 1856. Ca dao Quảng Nam có câu: “Tai nghe súng nổ cái đùng/ Tàu Tây đã đến Vũng Thùng hôm qua.” Làng Nam Ô thuộc huyện Hòa Vang, tiếp giáp với Liên Chiểu, ngay dưới chân phía nam đèo Hải Vân.
5. Đoàn Thêm, Việc từng ngày 1965, Việc từng ngày 1966, Việc từng ngày 1967, California: Nxb. Xuân Thu tái bản, mục cuối mỗi sách: “Quân số Hoa Kỳ”.
6. Wikipedia, The Free Encyclopedia, “Việt nam War”, mục “Strenght”.()
7. Wikipedia, the Free Encyclopedia, “Vietnam War” “Casualities” [Thương vong trong chiến tranh Việt Nam]. (http://en.wikipedia.org/wiki/Vietnam_War_casualties)
8. Trung tướng Stanley Robert Larson và Thiếu tướng James Lawton Collins, Jr., Allied Participation in Vietnam, Washingtong D.C.: Department of Army, 1985, tr. 23.
9. Australian War Memorial, “Vietnam War 1962-1975”.()
10. Robert Larson và Lawton Collins, Jr., sđd. tr. 23.
11. Wikipedia, The Free Encyclopedia, “New Zealand in the Vietnam War”.
12. Robert Larson và Lawton Collins, Jr., sđd, chương: “The Republic of Korea”, tt. 120-156; và Wikipedia, The free encyclopedia, “Vietnam War Casualities”.
13. Robert Larson và Lawton Collins, Jr., sđd, tt.. 23, 51 (13a), 23, 63 (13b).
14. Robert Larson và Lawton Collins, Jr., sđd. tr. 23.
15. Mark Moyar, Triumph Forsaken, The Vietnam War, 1954-1965, New York: Cambridge University Press, 2006, tr. 83.
16. http://www.russiatoday.ru/news/news/21019 “USSR ’secret’ Vietnam soldiers speak out”, 16-2-2008. Xem thêm: Bản tin đài RFA (Radio Free Asia) ngày 20-2-2008. RFA còn phỏng vấn nhà báo Bùi Tín, cựu đại tá Bộ đội cộng sản Bắc Việt. Ngoài ra, tham khảo thêm BBC Vietnamese ngày 19-11-2008.
17. Google: “China Nuclear Forces”.(Trích ngày 4-6-2008.)
18. Lorenz Luthi, “The Vietnam War and Chinas Third-Line Defense Planning before the Cultural Revolution, 1964-1966″ Journal of Cold War Studies, Vol. 10, No. 1, Winter 2008, pp. 26-51, bản dịch của Trần Quốc Tân, “Chiến tranh Việt Nam và kế hoạch phòng tuyến ba của Trung Quốc trước Cách mạng Văn hóa, 1964-1966, (Nguồn: Tạp chí Thời Đại Mới, số 13, tháng 03-2008. (tapchithoidai.org/ThoiDai13/2008).
19. Qiang Zhai, China & Vietnam Wars, 1950-1975, The University of North Carolina Press, 2000, tr. 135.
20. Wikipedia, The Free Encyclopedia, “Koreans in Vietnam”, “Vietnam War casualties”, và BBC NEWS (Anh ngữ) các ngày 31-3-2000, 7-7-2001, và 12-7-2001.
21. http://www2.fiu.edu/~fcf/warcrimes.cuba.vietnam.html. “War Crimes: The Cuban-Vietnam Connection”, 20-2-1997. http://webcache.googleusercontent.com/ “Cuban Torturers in Viet Nam-Eye-Witness Report, 12-Apr-2004”.



Ai chống lại Giáo hội Công giáo - Đaminh Phan văn Phước



Đaminh Phan văn Phước

Để chứng minh điều vừa nói là có tình, có lý, tôi xin nêu lên các danh ngôn sau đây:
    a. Của Đức Cố Giáo Hoàng Gioan XXIII: ”Ai phê bình, thậm chí chỉ trích tôi, người ấy là bạn. Còn ai tâng bốc tôi, người ấy là thù!”

    b.
    Của Thánh Hiền: ”Gạo bỏ vào cối, có đâm, có giã, có sứt, có mẻ, có nát, mới trắng tựa bông!”

    c.
    Của Sainte-Beuve: ”Đối với tôi, được phê bình là điều thú vị để biết tư tưởng của người khác, chứ không phải là để khống chế các tư tưởng ấy”.

    d.
    Của Heinrich Heine: ”Người muốn được khen là người coi trọng lời phê bình”.

    e.
    Của Abbé Prévost: ”Không nhất thiết tác giả hiểu được ngay những gì mình viết. Người phê bình sẽ đảm nhận việc giải thích cho tác giả những điều ông ta đã viết”.

    g.
    Erik Satie: ”Mọi lời phê bình đều có tác dụng”. Như lời nhận định của Đức Cha Nguyễn Chí Linh: ”Đó là điểm tích cực!”
”Kitô hữu công giáo” có bổn phận xây dựng Giáo Hội Tông Truyền và phải chịu trách nhiệm với lương tâm, với tha nhân, và nhất là với Đấng có Quyền Bính Tối Cao là Thiên Chúa về ba chức năng: ”tư tế, ngôn sứ, quân vương” ”thánh hóa” mình và người đồng Đạo để thắng Satan, hiển trị với Chúa và mở mang Nước Ngài khắp nơi như lời nguyện trong Kinh Lạy Cha. Vì vậy, nhiều Ki-tô hữu trong và ngoài Nước đã, đang và sẽ còn góp ý thẳng thắn, bằng cách này hay khác, với Hội Đồng Giám Mục Việt Nam về tư cách và khả năng Ngôn Sứ của các Ngài giữa lòng Dân Tộc vì, hơn ai hết, các Ngài là Mục Tử có nhiệm vụ tiên phong làm ”chứng nhân đi công bố Tin Mừng”!

Ấy là ”Tin Mừng về Hồng Ân của Chúa cho người nghèo khó, người bị tù đày, người đui mù, người bị áp bức!”. Tin Mừng cũng chính là ”Đạo” hay là ”Đường về Thiên Quốc” mà Chúa Giê-su đã chỉ cho người giàu có: ”Bán hết của cải, lấy tiền cho người nghèo, và sẽ có một kho tàng trên trời, rồi đến theo Ta”. Chàng thanh niên giàu có này không nhận ra ”cái nghèo xơ, nghèo xác” về Tin Mừng nơi tâm hồn mình vì tiếc của! Việt Nam ”Ta” chỉ có hơn sáu triệu người công giáo trong tổng số gần chín mươi triệu dân thì quả là một trong những nước nghèo nhất thế giới về Lời Chúa!. Nhiều Ngài Mục Tử Việt Nam chưa mạnh dạn làm theo lời dạy của Thánh Phao-lô: ”Trong (ơn) khôn ngoan, hãy đi đến người ngoài. – In sapientia ambulate ad eos qui foris sunt”. Ơn ‘Khôn Ngoan” của Thánh Linh khác với sự ”khôn khéo” không thật lòng ”con cái thế gian khôn lanh hơn con cái Sự Sáng!” của Dale Carnégie trong ”Đắc Nhân Tâm” vẫn còn là cuốn ”Best Seller” bởi vì ”con cái thế gian khôn lanh hơn con cái Sự Sáng!”

Điều thật đáng buồn là ”người lên tiếng góp ý vì yêu Giáo Hội” thì lại bị chụp mũ là ”phỉ báng các Đấng thay mặt Chúa cùng các Đấng làm Thầy, chống Cha, chống Chúa, chống Giáo Hội!”. Cũng vì ”Bác Ái, Từ Bi, tình nghĩa đồng bào và lòng yêu Nước nồng nàn” mà bà con đã lên tiếng phê phán cụ thể thành phần làm gương mù trong Công Giáo thì lại bị hiểu lầm là ”cố tình phá Đạo”!. Đáng ra chúng ta phải cảm ơn Kitô hữu ngoài Công Giáo (Chính Thống Giáo và Tin Lành), bà con Bên Lương hay là đồng bào đã chỉ cho chúng ta thấy được khuyết điểm của mình.

Để chứng minh điều vừa nói là có tình, có lý, tôi xin nêu lên các danh ngôn sau đây:
    a. của Đức Cố Giáo Hoàng Gioan XXIII: ”Ai phê bình, thậm chí chỉ trích tôi, người ấy là bạn. Còn ai tâng bốc tôi, người ấy là thù!”.
    b. Của Thánh Hiền: ”Gạo bỏ vào cối, có đâm, có giã, có sứt, có mẻ, có nát, mới trắng tựa bông!”
    c. Của Sainte-Beuve: ”Đối với tôi, được phê bình là điều thú vị để biết tư tưởng của người khác, chứ không phải là để khống chế các tư tưởng ấy”
    d. Của Heinrich Heine: ”Người muốn được khen là người coi trọng lời phê bình”
    e. Của Abbé Prévost: ”Không nhất thiết tác giả hiểu được ngay những gì mình viết. Người phê bình sẽ đảm nhận việc giải thích cho tác giả những điều ông ta đã viết”
    g. Erik Satie: ”Mọi lời phê bình đều có tác dụng” như lời nhận định của Đức Cha Nguyễn Chí Linh: ”Đó là điểm tích cực!”
Kinh Mùa Chay Thánh cũng dạy như sau: ”Con xin Đức Chúa Giêsu hôm nay, cùng hằng ngày, cùng trọn đời con, cho linh hồn con, cùng lòng mình con, cùng mọi sự ý con, cùng cha mẹ, anh em, bạn hữu thân thích con, con lại xin cho kẻ nghịch cùng con đặng mọi sự lành”.

”Kẻ nghịch” tức là người ”chẳng thuận với ý của mình”! Mà đã cầu nguyện cho họ thì họ không phải là Satan chống phá Giáo Hội! Chẳng ai cầu nguyện cho Satan vì nó đã bị phạt đời đời, mà còn nuôi ảo tưởng sẽ ngồi trên Ngai của Thiên Chúa! (Ysaya 13, 11-15) Còn Cộng Sản thì vô thần, coi Tôn Giáo là thuốc phiện, đã cho viết vào Thánh Giá hàng chữ: ”Ma túy! Hãy tránh xa!”. Cho nên họ vô tình kết bạn với Satan! Họ không bao giờ chống, mà lại ”để yên” hay là ”gài bẫy” cho Mục Tử và con chiên tha hồ sa ngã!. Nhưng người có Tín Ngưỡng và Việt Đạo thì thấy mình cần phải góp ý cho đồng bào, trong đó có Kitô hữu và Đảng viên cộng sản vì họ quan niệm: ”Một con ngựa đau, cả tàu không ăn cỏ! Một người làm xấu, cả bậu mang nhơ!”. Tôi đau một ngón tay là toàn thân tôi đau!. Tôi có tội, tức là đau phần hồn thì Chúa Giêsu là Đầu của Hội Thánh và Hội Thánh là Thân Mình Mầu Nhiệm của Ngài cũng đau theo!. Người Bên Lương thấy nỗi đau của đồng bào tin Đạo Chúa thì ”họ” cũng xót xa theo nghĩa Từ Bi!. Chúng ta cũng chạnh lòng với Tôn Giáo Bạn theo nghĩa Bác Ái!. Góp ý cho đồng loại, tức là muốn người khác cũng sống ngay lành mà được phúc!. Hạnh phúc chính là cảm giác khi ta chạnh lòng thương, kính trọng và chiêm ngưỡng nỗi đau của người khác!. Chạnh lòng mà không ra tay cứu giúp khi mình có khả năng thì là bất nhân!. Cho nên, không được phép gọi người phê bình, chỉ trích Giáo Hội là thành phần ”phá Giáo Hội” nếu như người ta nói đúng!. Định danh không tốt cho ”người làm ơn” là lỗi bác ái và đức công bằng!. Còn đối với người công giáo thì Giáo Hội được ví như Con Thuyền giữa biển khơi đầy sóng gió. Giáo Hoàng như là Thuyền Trưởng, Hoa Tiêu; giáo dân như là thủy thủ của Con Thuyền ”Giáo Hội”. Chính vì thế, bài hát ”Lạy Mẹ là Ngôi Sao Sáng” (Sao Biển) dạy chúng ta cầu xin như sau: ”Sóng va tứ bề! Thuyền con sắp hòng chìm theo nước xuôi dòng! Thân lạy Nữ Vương! Mẹ thấu tình con! Giúp con yên hàn chèo, bơi, bát, cạy! Mẹ thương đến con cùng!”

Rõ ràng ”Thuyền Trưởng Giáo Hoàng” rất cần ”cộng tác viên” là Mục Tử, là giáo dân!. Tất cả phải ra sức ”chèo, chống, bơi, bát, cạy, tát nước…” thì Mẹ Hằng Cứu Giúp mới nhậm lời nài van của mình!. Trong Con Thuyền Giáo Hội Việt Nam cũng vậy: Mục Tử như là người giữ mái chèo; giáo dân như người giữ mái dầm (chầm). Đôi bên cùng ra sức, chống đỡ nhau để đưa ”Con Thuyền Giáo Hội địa phương lướt nhanh” như tục ngữ Việt Nam có dạy: ”Buông tay dầm, cầm tay chèo!””cả hai” đều quan trọng, giúp thuyền tiến lên!. Công dân yếu thì vận Nước điêu linh!. Giáo dân mạnh thì Danh Cha cả sáng!. Vì thế mà Sách Giáo Lý khẳng định như sau: ”Giáo dân ở tuyến đầu của Giáo Hội!”. Bởi vì họ được ”trang bị” bằng Sức Mạnh vô biên của Thánh Linh để bảo vệ Thành Trì của Giáo Hội, tức là đánh tan được ba thù: ”Ma quỷ, thế gian, xác thịt” như lời ca nhập Lễ: ”Tứ vi dịch thù vây hãm! Lo gì! Có Chúa trong Thành: Dịch thù tan nát hết! Chúa trong lòng ta! Lo lắng gì! Hồn tôi ơi!”

Cho nên, xét cho cùng, cái mũ ”chống Giáo Hội” chụp lên đầu những Kitô hữu kính sợ Chúa chính là thành kiến ”cản mũi kỳ đà” chức năng tư tế, ngôn sứ, quân vương của Hàng Giáo Dân bởi vì thành kiến ấy lại phá Đạo ác liệt hơn cả Satan, bởi vì Satan rất ghét những người công chính!. Vậy thì nên hiểu ba chữ ”chống Giáo Hội” theo nghĩa tích cực là ”nâng đỡ, giúp đỡ, chống đỡ Giáo Hội”. Ngoài chữ ”đỡ”, người mình còn dùng chữ ”chống” như sau: ”lấy cột tre, cây gỗ để chống buồng chuối, giàn bí…; cột chống mái nhà…”. Chúng ta chỉ ”chống đỡ” Mục Tử và con chiên nào có quan điểm và việc làm ngược với Lời Chúa dạy. Chúng ta cộng tác trong việc chống Con Thuyền Giáo Hội Việt Nam đi đúng hướng với Giáo Hội Hoàn Vũ bởi vì chúng ta thương Giáo Hội là Thân Thể Mầu Nhiệm của Chúa Giêsu, bởi vì Giáo Hội phải vinh Danh Chúa giữa mọi người!

Maisen xin Chúa chỉ cho ông ta thấy vinh quang của Ngài thì Ngài trả lời như sau: ”Ta sẽ cho ngang qua trước mặt con tất cả sự tốt lành của Ta và Ta sẽ kêu Danh Chúa trước mặt con; Ta sẽ đoái thương người nào thương Ta, và Ta sẽ xót thương người nào thương xót Ta.” (X. Hành 33, 19)

Thương xót Giáo Hội chính là thương xót Chúa!. Người ”chống” là cầm sào mà ”thọc, tì” thật mạnh vào vật cứng để đẩy thuyền, ghe, bè, xuồng … đi tới!. Giáo dân sử dụng SÀO ĐỨC TIN, ”bám, tựa” vào Lời Chúa để cùng với Mục Tử CHỐNG THUYỀN GIÁO HỘI ra khơi!. Vâng Lời Thầy Chí Thánh, giáo dân có tội tình gì trong việc góp ý khi thấy Mục Tử chưa, thậm chí có khi là không ”kết hợp chặt chẽ” với Cây Nho là Thầy?. Con cái thấy nhà mình bị dột, đứng khoanh tay mà nhìn, rồi để ”mặc kệ nó”, là bất hiếu, vô ơn với đấng sinh thành, dưỡng dục. Thấy Giáo Hội Việt Nam đã có tuổi đời hằng mấy trăm năm, chỉ ”chiếm” tỷ lệ quá thấp vì nhiều lý do, trong đó lỗi lầm của Mục Tử và con chiên cũng là nguyên nhân chính ngăn cản Nước Cha trị đến, mà giáo dân khác không lên tiếng góp ý xây dựng thì có nghĩa là đồng tình, là vô trách nhiệm, hay là nhân danh chủ nghĩa ”mặc kệ” (mackéïsme, Mackeïsmus) cho khỏi bị rầy rà, khỏi mang tiếng ”phá Đạo”!

Tình mến là ”thước đo lòng người”! Alphonse Kaar phát biểu: ”Tình yêu là cuộc đi săn mà thợ săn phải để cho thú săn theo mình”. Sau khi phạm tội ”tày trời” là chối Chúa tới ba lần, rồi hiểu được ý nghĩa khổ nạn, sự chết và việc phục sinh của Chúa, Phêrô cũng được Ngài ”vặn hỏi” tới ba lần: ”Con có mến Ta không?” Chúa như là Thợ Săn; còn Phêrô như là thú săn chạy theo Thợ Săn tuyệt vời! Cho nên ông buồn khi được Chúa hỏi tới lần thứ ba để rồi phải xác tín như sau: ”Lạy Chúa, Chúa biết hết mọi sự. Chúa biết con mến Chúa!”

Lòng mến chẳng những đã cứu Phêrô khỏi tội chối Thầy, mà còn là ”tiêu chuẩn số một” để ông được Chúa chọn làm Giáo Hoàng Tiên Khởi, tức là Chủ Chăn Đàn Chiên là Giáo Hội của Chúa! Léonard de Vinci nói: ”Càng nhận biết thì càng yêu”. Thật vậy, được Chúa trả lời cho câu hỏi ”Thưa Chúa, Chúa đi đâu? – Quo vadis, Domine?”, Phêrô làm theo Lời Chúa là trở về Roma, xin ”được đóng đinh, mà đầu lộn ngược” để làm vinh Danh Thầy bởi vì ông đã quán triệt Sứ Mạng Cứu Rỗi mà Thầy truyền lại cho mình! Ý nghĩa của Sứ Mạng ấy đã được ghi lại trong Thánh Ca, theo Tin Mừng Thánh Gioan 15,13 như sau: ”Còn tình yêu nào cao quý hơn là tình yêu người liều mạng sống vì người mình yêu!”. Ở đoạn khác, Thánh nhân còn ghi lại Lời Chúa dạy thế này: ”Ta ban cho các con một điều răn mới: Hãy yêu mến nhau. Ta đã yêu các con như thể nào thì các con hãy yêu mến nhau như vậy. Theo dấu này, mọi người sẽ nhận ra các con là môn đệ của Ta: Đó là các con có tình thương mến nhau.” (Gioan 13,34-35) Mà đã thương thì phải sửa lỗi cho người mình thương!

Hồi còn bé, tôi được nghe kể chuyện thế này: Khi đến tuổi già, Thánh Gioan chỉ lặp đi, lặp lại bài giảng ngắn gọn như sau: ”Nhân Danh Cha và Con và Thánh Thần. Amen. Các con hãy yêu thương nhau. Nhân Danh Cha và Con và Thánh Thần. Amen.” Bài giảng nghe hoài, chán tai, nhưng đó là ”linh hồn” của Giáo Hội! Cho nên người không có Đức Mến thì ”nguy hiểm” hơn cả Xatan bởi vì ”họ” ích kỷ và kiêu ngạo, mà lại ở ngay trong lòng Giáo Hội!. Chính họ còn tệ hơn cỏ lùng mọc chung với lúa bởi vì ”nhất cự ly, nhì cường độ”! Câu ”Gần mực thì đen” nói lên sự tác hại của gương xấu! Còn câu ”Gần đèn thì sáng” nói về ảnh hưởng tốt của gương lành! Nhưng ”đèn” không có ”lửa”, không ”cháy” rực lòng mến thì ”sáng” làm sao được? Chính Chúa Giêsu đã báo động người lớn như sau: ”Ai là cớ vấp phạm cho một trong những đứa trẻ này đang tin Ta thì thà buộc cối đá xay vào cổ nó và quăng nó xuống biển còn hơn.” (Marcô, 9, 42) Chúa còn dạy: ”Các con là muối đất. Nếu muối mà nhạt thì lấy gì làm nó mặn lại? Nó chẳng còn ích gì, chỉ đem đổ ra ngoài cho người ta dẫm đạp. Các con là ánh sáng thế gian… Ánh sáng của các con phải chói lọi trước mặt người đời ngõ hầu họ thấy việc lành các con làm mà tôn vinh Cha các con ở trên trời.” (Mathêô, 5, 13-16) Chúa dùng chữ ”chói lọi” khác với ”leo lét”!

Chúng ta thường đọc: ”Cúi xin Chúa sáng soi cho chúng con đặng biết việc phải làm, cùng khi làm, xin Chúa giúp đỡ cho mỗi kinh, mỗi việc chúng con từ khởi sự cho đến hoàn thành đều nhờ bởi ơn Chúa. Amen.” Trong Cựu Ước, Ysaya 60, 19 nói về Thiên Chúa là Ánh Sáng như sau: ”Ngươi sẽ không cần nhờ mặt trời soi chiếu ban ngày, ngươi sẽ không cần nhờ vầng trăng soi chiếu ban đêm. Chúa sẽ là ánh sáng cho ngươi muôn đời. Chúa sẽ là vinh quang của ngươi.” (Thánh Ca Việt) Còn Khải Huyền thì viết: ”Và Thành không cần mặt trời, mặt trăng soi chiếu vì vinh quang Thiên Chúa chói lọi trên Thành; và đèn soi trên Thành là Chiên Con.”

Người cộng sản vô thần không tin có Đấng Hóa Công vì chẳng biết gì về Ngài, tức là ”vô tri!””vô tri” thì ”bất mộ!” Đã ”bất mộ Đạo mà họ coi là thuốc phiện” thì việc phải phá Đạo là chuyện đương nhiên!. Nhưng người đã tin, đã biết rõ Xatan là ai, mà còn ”làm lợi” cho nó bằng cách này hay cách khác, bằng lời lẽ ngụy biện dối trá vì tư lợi, chức quyền, danh vọng, tức là chẳng tuân giữ Mười Điều Răn nên cũng lờ đi việc người cộng sản đang xúc phạm đến Mười Điều Răn thì những người đó đáng ”bị phạt nặng hơn mà chớ!” bởi vì không thực hiện chức năng tư tế, ngôn sứ, quân vương giữa lòng Dân Tộc!

Ngày xưa, đi chân không, mà Mục Tử đến tận những nơi không được an toàn, vùng đèo heo hút gió, xa xôi, xa thẳm, xaxa, mà lại đi gần! Nơi xa dễ đến là những nước có cuộc sống xa hoa, xa phí, có nhiều xa xỉ phẩm! Nhiều VỊ có đôi chân khỏe, mà cứ ru rú ở nhà, trong ”khuôn viên” của mình, chỉ muốn ngồi yên trên xa-lông thành ra xa lìa con chiên là xa rời thực tế! Lời rao giảng của các NGÀI tưởng chừng được lan xa, nhưng lại trở thành xa vời, xa cách với lòng người! (Xin xem VietCatholic: ”Ưu Tư Truyền Giáo tại một vùng ở Việt Nam” ”Suy tư về nghịch lý trong vùng đất truyền giáo”.) tít! Còn ngày nay, nhiều VỊ có phương tiện để được đi xa, mà lại đi gần! Nơi xa dễ đến là những nước có cuộc sống xa hoa, xa phí, có nhiều xa xỉ phẩm! Nhiều VỊ có đôi chân khỏe, mà cứ ru rú ở nhà, trong ”khuôn viên” của mình, chỉ muốn ngồi yên trên xa-lông thành ra xa lìa con chiên là xa rời thực tế! Lời rao giảng của các NGÀI tưởng chừng được lan xa, nhưng lại trở thành xa vời, xa cách với lòng người! (Xin xem VietCatholic: ”Ưu Tư Truyền Giáo tại một vùng ở Việt Nam” ”Suy tư về nghịch lý trong vùng đất truyền giáo”.)

Sống dưới chế độ tự xưng là ”lương tri của thời đại, đỉnh cao của trí tuệ”, người yêu Nước, thương. Nói mà ”thẳng thắn, thành thật, thiết tha thì thường thành thiếu thốn, thua thiệt thê thảm!”. Còn ai ”lách luồn, len lỏi, lương lẹo, lạy lục, liếm láp lại lên lương lẹ làng!”. Xin hiểu Lời Chúa: ”Nước TA không thuộc về thế gian này!” cho đúng nghĩa là: ”Quyền Năng của Ta không bởi loài người, không có bạo lực bất nhân trong Nước Ta!” Và xin đừng quên câu tiếp theo: ”Ta là Vua như ông đã nói! Vì thế Ta đã sinh ra, đã đến trong thế gian để làm chứng cho sự thật.” (Gioan 18, 36, 37). Ước gì Dân Chúa cứ an tâm, mạnh dạn làm theo Lời Ngài dạy: ”Hãy nói có, có, không, không. Thêm thắt điều là do Ác Tà!” (Math. 5, 37). Xin Chúa ”trả công” cho những người có lòng ngay:
    BÌNH AN DƯỚI THẾ CHO NGƯỜI THIỆN TÂM!
Đaminh Phan văn Phước (Düsseldorf, 01.7. 2010)



Thursday, July 1, 2010

'Sadistic' priest jailed for abusing 39 boys

By court reporter Jamelle Wells
Source: http://www.abc.net.au/news/stories/2010/07/02/2943303.htm

The public gallery of a Sydney court has burst into applause as a Catholic priest was sentenced to at least 13 years and 10 months in jail for abusing 39 schoolboys whose complaints about him were mostly ignored.

John Sidney Denham, 67, pleaded guilty to sexually abusing the boys at schools in Sydney, Newcastle, the Hunter Valley and Taree between 1968 and 1986.

Most of the students were from Newcastle's St Pius X High School, where Denham was a teacher from 1975 to 1980.

In sentencing today, District Court judge Helen Syme said some of the offences were "sadistic" and "contributed to a culture of fear and depravity" in the schools he taught at.

Justice Syme said many complaints about the former priest were not acted on and students left school early to avoid his attentions.

She said the priest showed some of his victims pornographic movies and gave others chocolates, alcohol and money.

Downing Centre District Court heard Denham had asked one of his victims, who was then aged between 11 to 13, to be his "special friend".

Justice Syme said while Denham had forgiven himself for what he had done, she was not satisfied he was genuinely remorseful.

Denham sat hunched over looking at the ground and avoiding the gaze of his victims and their families, as he was sentenced to a maximum sentence of 19 years and 10 months, with a non-parole period of 13 years and 10 months for 135 offences.

His victims and their supporters in the public gallery burst into applause.

Abuse well-known

Some of his victims left the court at times today while Denham was being sentenced.

Afterwards, one of them said the abuse was well-known among students at his school. He said when the former priest walked past them, they would say, "Denham's on the crawl".

He said there were probably other victims who had not come forward.

The mother of one of the victims said the abuse had "ruined families" and the Catholic Church should have done something sooner.

"It's disgusting, the hierarchy in the Catholic Church. I can't believe it," she said. "I can't believe I sent my children to a school like that."

Another of the victims said, "My only hope from the result we achieved today is that other abuse victims have the strength and courage to come forward and achieve justice as we've seen today."

'Mere scumbag paedophile'

Yesterday, Denham told the court he had spent the past 25 years trying to work out why he abused the boys.

"All I can say is, I am so sorry," he said. "I see myself as a mere scumbag paedophile who took advantage of a situation and used my power to abuse young people."

Denham said he could only put the crimes down to hubris, telling the court, "It was as if I thought no-one could resist me".

He said he preyed on the boys because he felt sorry for them.

Under cross examination from the Crown Prosecutor, the court heard Denham said the children were "little bastards who were already in trouble from their teachers."

He said they were sent to him to be disciplined.

The former priest said he realised he was attracted to power and had convinced himself the children were consenting.

A psychiatrist told the court, despite the guilty plea, Denham was still in denial about being a paedophile.

Denham has been in custody since he was arrested in August, 2008. His arrest stemmed from an initial complaint in April that year.