Tuesday, June 22, 2010

Trách Nhiệm Giữ Nước, Cứu Nước Và Giành Lại Đất Nước - Đinh Lâm Thanh

Đinh Lâm Thanh

Nhiệm vụ duy nhất của quân đội trong thời bình là bảo vệ đất nước, lúc chiến tranh thì cứu nước và sau khi mất nước, tất nhiên phải giành lại nước. Vậy, những ai cầm súng dưới màu cờ quốc gia thì thật xứng đáng là những người con thân yêu của tổ quốc. Đối với Việt Nam, thanh niên là nòng cốt với truyền thống bất khuất sẵn có trong người cộng thêm tấm lòng thiết tha quê hương, vì thế, họ đã quyết định chọn con đường cầm súng làm lý tưởng (hiện dịch), hoặc hiên ngang lên đường tòng quân theo lệnh tổng động viên (trừ bị) thì thành phần trẻ chính là thành phần ưu tú của xã hội. Trong quân ngũ, dù mang màu áo nào và thuộc quân binh chủng gì thì nhiệm vụ của người lính bao giờ cũng được xác định minh bạch là lấy lý tưởng quốc gia, sự toàn vẹn lãnh thổ cũng như an cư lạc nghiệp của người dân làm mục đích dấn thân để phục vụ quê hương và tổ quốc. Do đó quân đội trong thời bình và chiến tranh không bao giờ được phép tham gia bất cứ một hoạt động gì ngoài trọng trách cầm súng chống kẻ thù, dù kẻ thù đó là ai và từ đâu đến. Như vậy có thể nói rằng, đây chính là mục tiêu chính trị duy nhất của những người lính của quân lực Việt Nam Cộng Hòa.

Đối với thời bình, nhiệm vụ của quân đội là thuần túy giữ nước. Nhưng lúc chiến tranh thì người lính phải chấp nhận hy sinh tất cả, từ bản thân cho đến gia đình để đối mặt kẻ thù ngoài chiến trường nhằm bảo vệ từng tất đất, từng gang biển của tổ tiên để lại cũng như phối hợp với các cơ quan cảnh sát và dân sự nhằm ổn định an ninh tại hậu phương. Nhưng nếu nước mất nhà tan, như trường hợp Việt Nam, thì những người lính còn sống sót sau cuộc chiến phải làm gì ? Đây chính là một vấn đề đặc biệt cần đặt ra cho bất cứ những ai đã một thời cầm súng phục vụ dưới cờ Quốc Gia. Mặc dù tập thể chiến sĩ lưu vong tại hải ngoại ngày nay không còn hàng ngũ chặt chẽ theo tổ chức quân đội, không còn vũ khí trong tay, không có địa bàn hoạt động nhưng trong trường hợp đặc biệt nầy, tình thế không cho phép bất cứ ai hoặc tổ chức nào tuyên bố rằng ‘quân đội không làm chính trị’ như dưới thời bình. Nếu nói vậy, chẳng khác gì tập thể chiến sĩ hải ngoại đã trở thành những hội ái hữu như những tổ chức dân sự không ngoài mục đích trình diễn hay họp mặt hằng năm với bộ quân phục trên người. Thật vậy, người lính hải ngoại hôm nay tuy tay không súng nhưng vẫn còn trách nhiệm, vẫn còn danh dự, vẫn tâm hồn, vẫn còn chí khí, vẫn còn khả năng cũng như nhân lực thì phải tập hợp thành một khối để ‘giành lại nước’, phải đi tiên phong trong các hoạt động tranh đấu của cộng đồng và phải nhận trách nhiệm vai trò đầu tàu cho công cuộc giải thể chế độ cộng sản hiện nay tại quê nhà. Có như vậy truyền thống hào hùng anh dũng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa sẽ không mai một khi những bộ quân phục diễn hành sẽ hai dần màu áo theo thời gian !

Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa với một quá khứ oai hùng từ hàng chục năm qua, những người cầm súng đã anh dũng chiến đấu chống việt gian cộng sản. Nhưng tiếc thay, vận nước đã đến đường cùng vì nội thù đánh phá cũng như trở mặt của người bạn đồng minh. Dân Miền Nam làm sao quên được, trong thời chiến, người lính ngày đêm hành quân giết giặc ở chiến trường thì tại hậu phương, nhóm thất sủng, chủ bại và cò mồi tuân lệnh cộng sản miền Bắc cũng như người bạn đồng minh xúi giục những tên nằm vùng trong Nam xúi giục và lùa con nít bà già xuống đường ăn vạ quấy phá, nhóm trí thức đòi buông súng bắt tay hòa giải, đám văn nghệ sĩ vác bị gậy ăn mày ! Đây chính là những lát dao đâm ngay vào lưng những người cầm súng bảo vệ quê hương và đồng bào ruột thịt vô tội. Như vậy, Việt Nam với một vị trí quan trọng chiến lược về quân sự, kinh tế, thương mãi thì quốc gia nhỏ bé nầy không thể nào thoát khỏi ảnh hưởng của những tên trùm quốc tế tư bản cũng như bọn cộng sản gian manh. Nếu không thể dùng vũ lực để xâu xé thì chúng chọn giải pháp bắt tay cùng nhau hưởng lợi và một khi xem Việt Nam là món hàng trao đổi, thì chúng bất chấp cả cam kết lẫn danh dự; một mặt, cột tay trói chân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (Mỹ và nhóm chủ bại) và mặt khác, hợp lực đánh phá từ ngoài tiền tuyến vào đến hậu phương (cộng sản Hà Nội, Tàu cộng và nhóm cò mồi ở miền Nam). Việt Nam đã bị cắt hẳn phương tiện như súng ống đạn dược trong lúc phải đương đầu với việc đánh phá từ hậu phương đến tiền tuyến, nhưng những người cầm súng vẫn luôn luôn anh dũng chiến đấu cho đến giờ thứ 25. Và cuối cùng, khốn nạn thay ! Những người con thân yêu của đất nước phải tức tưởi buông súng giữa đường theo lệnh đầu hàng vô điều kiện, và gần nửa triệu anh hùng hôm qua, nay trở thành những người tù trong nháy mắt để rồi tủi nhục xếp hàng vào tù. Một nhà tù dã man mọi rợ của lớp người đã không có thông minh lại còn thiếu văn minh nên chúng đã trả thù và giết hại gần cả trăm ngàn người con thân yêu của Miền Nam.

Vai trò người lính của QLVNCH sau ngày mất nước còn quan trọng hơn cả thời bình lẫn thời chiến, vì bổn phận của những ai đã một thời cầm súng, tại hải ngoại hôm nay, phải kết hợp thành một lực lượng nòng cốt để giành lại tổ quốc thân yêu của chúng ta trong bàn tay cộng sản. Không thể đơn thuần hoài niệm và nuối tiếc những gì đã mất qua bộ quân phục bên ngoài, mà phải có những hành động cụ thể để xứng đáng làm đầu tàu cho công cuộc tranh đấu của toàn dân. QLVNCH lúc nầy chưa đến cơ hội cầm lại súng nhưng người lính VNCH đừng quên:

1. Giữ lấy Trách Nhiệm bằng cách tập hợp dưới màu cờ tổ quốc để trở thành một đội quân có truyền thống hào hùng của những người cầm súng trước đây. Hãy mặc lên người những bộ quân phục của chúng ta ngày trước để làm sống lại thời oanh liệt, nhưng xin đừng chắp vá khoác lên người những bộ quân phục của nước bạn đồng minh mà trên đó lại gắn thêm huy hiệu của Quân binh chủng cũng như cấp bậc của QLVNCH trước kia ! Đành rằng đây là quyền của mỗi người ở tại các xứ tự do, không ai có quyền bàn đến, nhưng xét cho cùng thì cũng là một điều đau lòng cho tập thể chiến sĩ chúng ta, vì một số (vài ba người) quân nhân cũ thích chạy theo hình thức cầu danh vô tội vạ nhưng có phương hại ít nhiều đến màu cờ sắc áo của QLVNCH. Cũng giống như trường hợp xử dụng quân phục ngày trước vài ba lần trong các cuộc lễ hằng năm rồi sau đó cất vào tủ áo, thì chúng ta chưa vinh danh trọn vẹn màu áo của quân đội. Hình thức bên ngoài nầy, trước tiên sẽ đưa đến những ý nghĩ không mấy đẹp cho người ngoại quốc đồng thời làm mất niềm tin đối với toàn dân Việt Nam đang trông chờ hành động cụ thể của những người cầm súng trước kia. Bộ áo bên ngoài không thể tạo nên sức mạnh cũng không đem lại sự đoàn kết tập thể chiến sĩ chúng ta, mà điều quan trọng là, khi cởi bộ áo ra, những người lính ngày trước vẫn là những chiến sĩ tiên phong trong việc ‘giành lại nước’ đang nằm trong kềm kẹp của tập đoàn cộng sản.

2. Giữ lấy Danh Dự là phải biết quý trọng cấp bậc và huy chương đã được ban thưởng trước kia. Dù khiêm nhượng và nhỏ bé như cấp ‘binh nhất’ hay những ngôi sao của ‘tướng lãnh’, hoặc từ những ‘huy chương bậc nhỏ’ cho đến ‘bảo quốc huân chương’ cao quý cũng đều do quyết định của thượng cấp ban thưởng tùy theo thâm niên công vụ hay công trạng chiến trường thì đó cũng là những phần thưởng danh dự vô giá mà kết quả đều do công sức, mồ hôi, xương máu của chính mình, hay phải nói thật chính xác, là của các đồng đội và thuộc cấp đã ‘xanh cỏ’ để cho người may mắn sống sót ‘đỏ ngực’. Vậy có thể nói rằng, dù cấp bậc ‘binh nhất’ hay huy chương ‘công vụ bội tinh’ cũng đều có những giá trị tuyệt vời vì đó là kết của chiến công thật sự thì chắc chắn có giá trị hơn những cấp ‘úy-tá-tướng’ tự phong, dù đã tan hàng và giáng đoạn công vụ trên 35 năm qua mà một số tổ chức hoặc cá nhân ở hải ngoại vẫn tự gắn cấp bậc thêm cho mình đôi khi còn nhảy vọt vài ba cấp ! Điều buồn mà người Việt Quốc Gia hải ngoại thuờng nói đến là một số (xin nhấn mạnh một số rất ít) từ bỏ cấp bậc của mình ngày trước để mang cấp bậc của nước ngoài, rồi tự động tổ chức gắn lon sĩ quan cấp úy hoặc cấp tá cho nhau, trong đó gồm số người chưa một ngày cầm súng chiến đấu trong hàng ngũ QLVHCN trước kia. Xuyên qua vấn đề nầy, người Việt hải ngoại đều thấy rằng quân đội ngoại quốc muốn nhờ những ‘người lính Việt Nam không súng’ làm những công việc không công thay cho họ. Mới nhìn qua, đây là một sự tình nguyện tốt, có thiện chí, chứng tỏ sự hợp tác giữa hai giới quân nhân hưu trí của chủ nhà và người định cư. Nhưng xét cho cùng thì mọi người đều thấy đau lòng đối với những vị sĩ quan cũ của QLVNCH, họ hân hoan trong bộ quân phục tự bỏ tiền ra may để được mang lên cổ lên vai cấp bậc của quân đội nước ngoài !

3. Bảo vệ lấy Tổ Quốc là nhiệm vụ của các cấp chỉ huy lớn nhỏ trong QLVNCH bằng những hành động chính đáng và hữu ích chứ không phải những việc nhỏ nhặt như tranh giành các chức vụ trong các các tổ chức hội đoàn cựu quân nhân ở hải ngoại. Phải đặt quyền lợi tổ quốc lên trên tất cả mọi tranh chấp cá nhân, đoàn thể có như vậy mới xác định được mục tiêu và hành động chính đáng của những người đã một thời cầm súng. Có đặt tinh thần tổ quốc lên trên thì mới thấy được con đường chính nghĩa và biết được vai trò và bổn phận của một đạo quân lưu vong. Và nếu còn giữ được tinh thần tổ quốc thì người lính năm xưa mới chấp nhận khép mình dưới màu cờ quốc gia, dưới một tập thể quân đội oai hùng đã anh dũng chiến đấu chống cộng sản từ hằng chục năm qua, đồng thời nếu vì tổ quốc thì hãy nhận lấy trách nhiệm của một người cầm súng đóng góp công sức cho việc tranh đấu chung của toàn dân nhằm giải thể nhanh chóng chế độ cộng sản. Vì tương lai tổ quốc người lính năm xưa hãy dành thời giờ tranh cãi đối chất vô ích trên các diễn đàn cũng như trong những cuộc bầu cữ và hội họp để hướng dẫn con cháu nối tiếp con đường đã đi.

Được như vậy, một khi chúng ta nằm xuống thì vẫn còn lớp hậu duệ của những người lính ngày trước sẽ lấy lại danh dự cho ông cha mình và sẵn sàng dấn thân đi theo con đường chính nghĩa, thì mai đây, một tập thể quân đội của nền Đệ Tam Cộng Hòa sẽ lớn mạnh nhất của vùng Đông Nam Á. Chính thành phần trẻ nầy sẽ chứng minh một cách hùng hồn rằng Việt Nam tuy mất, quân đội bị bứt tử tan hàng, nhưng cha ông của họ là những người lính Việt Nam Cộng Hòa ngày trước vẫn giữ được tinh thần Tổ Quốc, biết bảo vệ Danh Dự và thi hành đứng đắn Trách Nhiệm của mình.

Đinh Lâm Thanh

Sunday, June 20, 2010

Trò Chuyện Với Một Quân Nhân Mỹ Gốc Việt: Thiếu Tá Bùi Minh Triết



Việt Báo
Thứ Bảy, 6/5/2010, 12:00:00 AM


QUẬN CAM (Việt Báo) -- Gần đây trong nhiều sinh hoạt cộng đồng có tính lịch sử, văn hoá, xã hội của người Mỹ gốc Việt, tại Nam Bắc Cali, Texas, Virginia, người ta thường thấy xuất hiện một số quân nhân Mỹ gốc Việt, trong tổ chức Hội Quân nhân người Mỹ gốc Việt Trong Quân Lực Hoa kỳ (VAAFA). Một số đông người Mỹ gốc Việt rất thích thú khi nhìn thấy đàn hậu duệ của mình cũng ngang hàng -- quân trang, cấp bực, huy chương oai vệ không thua vì quân nhân Mỹ đến giúp nước nhà VN thời Chiến tranh VN.

Việt Báo tạo một cuộc gặp gỡ để trò chuyện nhân khi được thơ của gia đình một quân nhân Mỹ gốc Việt mời Việt Báo với tư cách thân bằng quyến thuộc tham dự ngày chung vui của một quân nhân Mỹ gốc Việt là Bùi minh Triết vinh thăng Thiếu Tá (Th/t). Th/t Bùi Minh Triết là một trong vài quân nhân Mỹ gốc Việt có sáng kiến và thiện ý sáng lập Hội Quân Nhân Mỹ gốc Việt để nhớ nguồn gốc và gắn bó với cộng đồng người Mỹ gốc Việt. Trong đó có Trung tá (Quân Nhu) Thọ Nguyen đang phục vụ tai Afghanistan, Thiếu tá Hải Quân (Quân pháp) Phan vĩnh Chinh, Đại úy Hải Quân Tin Tran, Đại úy Lục Quân (Quân Y), Lành Dương, Thiếu Tá Lục Quân ( Quân y) Viet Tran, và Thiếu Tá Lục Quân (Quân y) Bùi minh Triết mới hoàn thành chuyến công tác ở Kozovo về và vinh thăng Thiếu tá.

Dù là một quân nhân, là những quân nhân hội viên của VAAFA, trên nguyên tắc không làm chánh trị. Nhưng đại đa số quân nhân Mỹ gốc Việt có lý lịch tỵ nạn CS, không trực tiếp của cá nhân thì cũng qua gia đình quân, dân, cán, chính của VNCH, có thái độ của Th/t Triết – là chống CS.
Th/ Triết tâm tình, “Em thi tuyển đậu vào Đại học Bách Khoa Phú Thọ ở Saigon, đậu cao nữa là khác. Nhưng họ liệt em vào cái gọi là “ưu tiên 13”, có cha mẹ cải tạo tập trung, nên chờ hoài chằng thấy kêu đi học. Nên như những người bạn học của em lúc bấy giờ thường nói, em nói với Má em, “thôi Má à cho con đi vượt biên, được thì con nuôi má, không được thì nuôi cá. Chớ con không thể nằm ở nhà mà chờ chết như thế này”.

Hai anh em Triết vượt biên thành công dù ghe bị cướp biển. Từ đó “má em ăn chay trường luôn theo lời nguyện Trời Phật, đất nước Ông bà VN phù hộ cho em”. Triết là một Phật Tử chí thành, đi dâu xa là thắp nhang niệm Phật. Vào kỳ đơn vị của Bùi Minh Triết tập trung đi Iraq, nhà văn Nhã Ca của Việt Báo tặng cho một Triết cái khăn do chính Đức Đạt Lai Lat Ma tặng cho Bà. Hai con còn nhỏ của Th/T Triết mỗi cuối tuần cùng Bà Nội vào chùa. Bà Nội trực tiếp dạy tiếng Việt, để cháu học tiếng Việt và ngồi thiền.

Sau khi cưới vợ, có người bảo hai vợ chồng đi VN thăm bà con, Triết dứt khoát như lịnh hành quân, “không về VN khi còn Việt Cộng”. Theo một nguồn tin thân cận gia đình Th/ t Triết, khi đi học chuyên môn về ngôn ngữ và phong tục trước khi đi công tác ngoại quốc, cấp trên có gợi ý hỏi Th/ T Triết muốn về công tác y tế dân sự vụ ở VN không, Th/ T Triết khước từ.

Được biết gia đình và thân bằng quyến thuộc có một cuộc gặp gỡ trong bữa cơm thân mật tại Diamond Seafood Palace 8058 Lampson Ave Garden Grove CA 92841, Phone 714 891 5347, từ 7 giờ đến 10 pm, ngày Thứ Sáu 11 tháng Sáu, năm 2010. Trong số quan khách đến tham dự, có Brigadier General Keith D. Jones, US Army, và Command Sergeant Major Michael Crespo, hai đồng đội mà Th/t Triết đã phục vụ chung với nhau tai Kosovo. Và một số lớn đồng đội Mỹ trong đơn vị của Th/ T Triết và trong Hội VAAFA có mặt để làm nghi lễ gắn cấp bực cho Th/ T Bùi minh Triết tại quê nhà của Th/T Triết Bui là Little Saigon.

Thượng Toạ Thích Viên Lý sẽ làm nghi lễ Đức Phật chúc lành. Gs Nguyễn thành Long, Hội Trưởng Trung Ương PGHH đến chia vui cùng gia đình người bạn đồng đạo, đồng học Cần Thơ, và sự có mặt của nhiều cô bác của Th/ Tá Triết như Cựu Thứ Trưởng Giáo dục Nguyễn thanh Liêm, DB Trần ngọc Châu, Nguyễn lý Tưởng, Võ long Triều, Tiến sĩ Phạm kim Long Hội Đồng Quản Trị Giáo dục Quân Cam.

Còn đồng nghiệp truyền thông báo chí và truyền hình sẽ có nhiều thân hữu đến dư, kể cả nhạc sĩ Trúc Giang, thân phụ của nhạc sĩ Trúc Hồ. Nhạc sĩ Trúc Giang, tuy đã cáo lão quy điền, cũng đã điện thoại cho biết sẽ đến vói gia dình người bạn vong niên. Riêng hai người trẻ thành công sớm với Truyền Hình VHN và VAN là hai Ông Bà Bruce Trần sẽ đích thân tham dự. Nhiều cơ quan truyền thông cho biết sẽ làm phóng sự dịp này.

Nguyễn Hữu Cầu: Một Số Phận Nghiệt Ngã - Lê Minh



Lê Minh

Đã hơn 35 năm trôi qua kể từ ngày miền Nam bị cộng quân “giải phóng”, có biết bao người con ưu tú của đất nước phải chịu cảnh đọa đày trong ngục tù cộng sản. Vài ba năm tù, hay chậm chí hàng chục năm tù là điều đã xảy ra đối với hàng trăm ngàn người, có hoặc không có liên hệ với chế độ VNCH. Tội trạng của họ đơn thuần chỉ là đã từng cầm súng để bảo vệ tự do chống lại làn sóng xâm lược của cộng quân, hoặc chỉ là nhân viên hành chánh trong chế độ VNCH, hay có người chỉ vì không chấp nhận chính sách cai trị bạo tàn của cộng sản,...

“Tội” của kẻ bị cầm tù thì có nhiều thể loại, nhưng kẻ cầm tù các anh, trước sau như một, từ bao năm qua vẫn chỉ có một mục đích là phải bắt tất cả những ai chống đối chính quyền, dù chỉ là sự chống đối trong tư tưởng. Cũng chính vì nhà cầm quyền CSVN rất chuyên chính đối với “kẻ thù”, cho nên mới có những tù nhân chính trị với mức “thâm niên” bằng chừng ấy năm “giải phóng” miền Nam. Sự bưng bít thông tin của chế độ đối với toàn cảnh xã hội đã là ghê gớm, nhưng việc ém nhẹm các thông tin về tù nhân chính trị và các điều kiện sống trong tù còn ghế gớm gấp ngàn lần. Do đó xã hội và thế giới bên ngoài hoàn toàn không hay biết những gì xảy ra bên trong các trại tù kia.

Cách đây vài năm, sau khi ông Nguyễn Khắc Toàn ra khỏi tù, đã kể lại những sinh hoạt khắc nghiệt trong các trại tù cộng sản, cũng như một số tên tuổi các tù nhân mà ông đã từng sống chung hoặc biết qua trong các trại tù này. Trong số này có một người tù đặc biệt mà ông Toàn “cảm phục và quý mến nhất” là “người tù bất khuất Trương Văn Sương”, lại là một cựu sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Hiện nay anh Trương Văn Sương vẫn còn bị giam tù, mà số năm “thâm niên” tính cho đến ngày hôm nay cũng chỉ kém chừng ấy năm “giải phóng” 1 năm thôi.

Câu chuyện của “người tù bất khuất Trương Văn Sương” đã làm nhiều người ngạc nhiên ngỡ ngàng vì mức “thâm niên” cũng như sự dã man, tàn độc của hệ thống nhà tù, trại giam VC.

Sự ngỡ ngàng tưởng đâu đã chấm dứt ở đó. Nhưng không, mới đây sau khi bước ra khỏi nhà tù nhỏ vào tháng 9 năm ngoái, nhà bất đồng chính kiến Nguyễn Ngọc Quang đã cho thế giới bên ngoài biết thêm về một trường hợp “thâm niên” khác của anh Nguyễn Hữu Cầu, cựu đại úy địa phương quân QL VNCH, quê ở Kiên Giang, hiện bị giam trong khu tù chính trị tại Khu Biệt Giam Riệng, phân trại K2, Z30A, Xuân Lộc, Đồng Nai.

Vì “một số phận nghiệt ngã bị bách hại bởi một chế độ phi nhân, tàn độc,” vì “sự hối thúc của lương tâm, vì sự phẫn uất trước cái ác đê tiện”, cho nên chỉ 1 tháng sau khi ra khỏi tù, anh Nguyễn Ngọc Quang đã bắt tay ngay vào việc kể lại “một trong bốn mươi hai câu chuyện thương tâm” mà anh đã “vô phúc” bị mắt thấy tai nghe. Trong số này, anh đã kể lại câu chuyện thương tâm nghiệt ngã của anh Nguyễn Hữu Cầu qua bài viết “34 năm “giải phóng”, 33 năm tù đày”.

Theo hồ sơ tóm tắt trong bài viết do anh Nguyễn Ngọc Quang thuật lại thì sau thời điểm 1975 anh Cầu bị bắt đi tù “cải tạo” hơn 6 năm, đến cuối năm 1981 mới được thả về. Sống ở bên ngoài được đúng 1 năm thì anh Cầu bị bắt giam trở lại cho đến ngày hôm nay.

Là người có năng khiếu về âm nhạc, thi ca, nên anh Cầu đã sáng tác được rất nhiều bản nhạc, bài thơ ca và cả trường thi hơn 2000 câu. Lý do bị bắt vì những sáng tác này thì cũng có một phần, nhưng cái “tội” lớn nhất là trong suốt 1 năm sống bên ngoài là anh Cầu đã thu lượm rất nhiều bằng chứng “ghi lại những tội ác tày đình một cách chi tiết của các quan chức tỉnh Kiên Giang” bằng cách gặp gỡ và phỏng vấn trực tiếp các nhân chứng, trong số đó có cả những nữ nhân chứng từng là tù vượt biển, bị các tên quan này hãm hiếp. Bản tố giác của anh Cầu còn nêu rõ các tên quan này “phạm tội giết người diệt khẩu, buôn bán xì-ke, ma túy, lợi dụng chức quyền tham ô tham nhũng”. Trong số các quan chức bị anh Cầu lên tiếng tố cáo khi đó có phó chủ tịch UBND tỉnh và Nguyễn Thế Đồng, Viện trưởng Viện Kiểm Sát tỉnh Kiên Giang.

Sau vài tháng bị bắt điều tra, anh Cầu bị đem ra xử vội vàng và kết án tử hình với tội danh “phá hoại”. Có một chuyện hy hữu ở đây là ông Trương Minh Đức, đảng viên Đảng Vì Dân là ký giả, nhà báo duy nhất khi đó tham dự phiên tòa, thì nay đang ở tù chung với anh Cầu. Do anh Cầu kháng án, nên vụ án được xử lại tại phiên tòa phúc thẩm tại Sài Gòn. Phiên tòa tòa phúc thẩm chóng vánh chỉ kéo dài đúng 1 tiếng vào ngày 25/5/1987, chỉ làm được mỗi một việc là “giảm” từ tử hình xuống còn chung thân. Trước ngày xử của phiên tòa này, tên chánh án tòa phúc thẩm có một cuộc trao đổi riêng với anh Cầu, yêu cầu anh không trưng ra gần 100 chứng cứ phạm tội của Viện trưởng Viện Kiểm Sát Kiên Giang và các quan chức khác để đổi lại việc được xử trắng án. Thế nhưng điều này không xảy ra: anh Cầu đã bị lừa và vẫn bị xử tù chung thân

Anh Cầu bị khép với những tội danh vu khống đã đành, nhưng cái bản cáo trạng do chính Viện trưởng Viện Kiểm Sát Nguyễn Thế Đồng nặn ra chứa đựng toàn những điều bịa đặt, lời lẽ hết sức ngu xuẩn, chỉ vì trình độ của tên này thật sự ... ngu hết chỗ nói, bởi vì hắn đã lấy nguyên văn bài “Kinh lạy Cha” để phán rằng “Tên Nguyễn Hữu Cầu đã sáng tác ra bài hát “Giọt Nước Mắt Chúa” với ý thức còn mơ tưởng đến sự trở lại của Đế Quốc Mỹ, tên Cầu đã ví Đế Quốc Mỹ như là cha để cầu xin bơ thừa sữa cặn”.

Là tỉnh “địa đầu” của dân vượt biên vào những năm của thập niên 70s và đầu 80s, các quan chức tỉnh Kiên Giang đã một thời nổi tiếng với các vụ buôn lậu, bán bãi vượt biển, hối lộ tham nhũng. Một trong những kẻ “đồng hội đồng thuyền” đã quay ra tố đồng nghiệp tham nhũng, hối lộ bao che buôn lậu khi đó là “Nguyễn Văn Thạnh, tức Năm Thạnh, nguyên trưởng Ban tuyên huấn Tỉnh ủy Kiên Giang”. Vào những năm đầu của thập niên 80s, Năm Thạnh tố giác hàng ngũ cán bộ tỉnh Kiên Giang cho xây dựng cảng Hòn Chông để tàu bè buôn lậu trú ngụ, bao che cho nhiều vụ “buôn lậu hàng hóa, vàng và ngoại tệ”. May là nhờ địa vị tỉnh ủy viên của mình, cho nên Năm Thành chỉ bị tước đảng tịch và bị gạt ra ngoài lề.

Tưởng cũng cần nói thêm là, một trong các quan chức tỉnh Kiên Giang vào thời điểm đó, nay đã ngoi lên đến trung ương là Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, người một thời là quan chức công an cấp tỉnh, từng nổi tiếng làm giàu nhanh chóng qua việc bán bãi cho dân vượt biên cũng như các công việc liên quan đến tù vượt biên. Ngoài ra, một quan chức cấp tỉnh (tỉnh ủy viên) vào thời điểm đó là Lê Hồng Anh, nay đã leo lên đến chức Bộ trưởng Bộ Công An, ủy viên Bộ Chính trị.

Bị oan ức nên anh Cầu đã kiên trì làm đơn khiếu nại từ 28 năm qua (kể từ năm 1982). Lá đơn đề ngày 24/08/2009, mà anh Cầu nhờ anh Nguyễn Ngọc Quang chuyển ra ngoài, là lá đơn khiếu nại thứ ... 500 mà anh Cầu đã liên tục gởi ra Hà Nội, nhưng chỉ nhận được sự im lặng.

Chỉ vì nắm biết quá nhiều thông tin, cho nên anh Cầu luôn bị tay chân đàn em của các quan tham này tìm cách ám hại trong tù. Ngoài ra, việc anh Cầu được Linh Mục Nguyễn Công Đoan (giám đốc Dòng Tên) rửa tội trong tù, để trở thành một Kitô Hữu, cũng là một lý do để đám cai tù thù ghét, không cứu xét ân xá cho anh.

Theo bên anh có cái ... đài kè kè
Theo bên anh có cây súng ... AK
(Lời của một bài hát do anh Cầu sáng tác, ám chỉ việc bọn cai tù luôn theo dõi sát anh)

Được biết, anh Cầu bị cận nặng, cho nên cuộc sống khắc nghiệt trong nhà tù cộng thêm 3 năm biệt giam đã khiến cho đôi mắt của anh kéo màng gần như bị mù. Trong một lần bị bệnh nặng được đưa đến bệnh viện Chợ Rẫy điều trị vào năm 2007, câu chuyện tù nghiệt ngã của anh đã khiến một vị bác sĩ cảm động, nên tìm cách chữa trị. Nhưng quản tù biết được bèn đưa anh trở về trại ngay, cho nên vị bác sĩ nọ chỉ có được thời gian chữa trị giúp tăng thị lực cho một con mắt.

Ngoài ra, theo thông tin từ những tù nhân vừa mới ra tù gần đây cho biết, truớc Tết năm 2010, ban giám thị trại tù đã gọi anh Cầu lên và khuyên anh làm đơn xin đặc xá trong dịp Tết nhưng anh Cầu đã khẳng khái từ chối bởi lẽ anh cho rằng, làm như vậy tức là thừa nhận mình phạm tội, phủ nhận tất cả những chứng cứ tội ác của các quan đứng đầu tỉnh Kiên Giang mà anh đã bỏ công thu thập trước đây, phản bội lại các nhân chứng và chính bản thân mình.

Anh Cầu và các tù nhân chính trị hiện đang bị nhà tù Việt Cộng tìm cách giết lần, giết mòn bằng nhiều cách khác nhau, mà độc ác nhất là cho lây lan căn bệnh ác tính HIV từ những tù hình sự nhiễm bệnh. Chiêu này quả là “cao siêu”, không có nhà tù nào trên thế giới hiện nay có thể nghĩ ra.

34 năm đã là hơn nửa đời người. Những tù nhân lương tâm với số phận nghiệt ngã như anh Nguyễn Hữu Cầu, Trương Văn Sương và biết bao ngưuời khác, sẽ còn được bao nhiêu năm nữa để sống trong nhà tù cộng sản đây?

Hãy cất lên những tiếng nói lương tâm, đừng để các anh phải chết tức tửi, tủi nhục trong nhà tù cộng sản.

Xin đừng đợi đến khi các anh trở thành những cái xác không hồn trong những nấm mồ hoang lạnh. Đến khi đó, một nén nhang hay một bông hồng trên nấm mồ sẽ không có ý nghĩa gì.

Xin đừng quên các anh, những thân phận nghiệt ngã.

Sydney, 18/06/2010
Lê Minh
(Viết nhân ngày 19/6 để vinh danh anh Nguyễn Hữu Cầu, một cựu sĩ quan QL VNCH, hiện vẫn còn trong lao tù cộng sản sau 34 năm tù nghiệt ngã)

Đính kèm:
Bản nhạc “Noel Hoà Bình” do anh Nguyễn Hữu Cầu sáng tác vào dịp Noel năm 2008 (gồm bản gốc viết tay trong tù, và bản đánh máy lại)





Hãy vạch mặt chỉ tên bọn Việt Gian Cộng Sản - Lê Duy San

    ĐỪNG SỢ BỊ KIỆN VỀ TỘI PHỈ BÁNG HAY VU CÁO
    HÃY VẠCH MẶT CHỈ TÊN NHỮNG TÊN THÂN CỘNG
    NHƯNG ĐỪNG CHỤP MŨ
* Hãy vạch mặt chỉ tên bọn Việt Gian Cộng Sản
* Nhưng đừng chụp mũ ai là Việt Cộng hay Cộng Sản nằm vùng

Lê Duy San

Năm 1975, sau khi cưỡng chiếm được toàn miền Nam, bọn Việt Cộng đã tìm mọi cách để bỏ tù cả trăm ngàn quân cán chính của chế độ Việt Nam Cộng Hoà, đảng phái chính trị và văn nghệ sĩ cùng tất cả những ai mà chúng nghi là có thể chống đối chúng. Không những thế, bọn Việt Cộng còn tìm mọi cách để cướp đoạt tiền bạc, của cải và tài sản của người dân miền Nam bằng những chính sách mà chúng gọi là đổi tiền, đánh tư sản mại bản, cải tạo công thương nghiệp, kinh tế mới. Vì thế đã có cả triệu người phải tìm mọi cách để bỏ nước ra đi dù biết rằng có thể bỏ mạng trong rừng sâu hay trên biển cả. Do đó, tại hải ngoại, hễ cứ nghe nói tới hai chữ Việt Cộng, là người Việt tỵ nạn Cộng Sản lại nổi giận và liên tưởng tới một bọn người độc ác dã man, chuyên cướp của, giết người. Chính vì thế vào thập niên 80, chúng ta không lấy làm lạ tại sao tên chủ báo Cái Đình Làng Dương Trọng Lâm đã bị bắn chết tươi ở San Francisco vào năm 1980, Trần Khánh Vân cựu Tổng Cục Gia Cư thời VNCH đã bị thày giáo Trần Văn Bé Tư bắn trọng thương ở Nam Cali vào năm 1984 và Đoàn Văn Toại tên thân Cộng thuộc thành phần thứ ba, đã bị bắn bể quai hàm ở Fresno, California vào năm 1989, mặc dầu những tên này không phải là Việt Cộng chính hiệu mà chỉ thuộc loại thân Cộng hoặc có những hành vi có lợi cho Việt Cộng mà thôi.

Từ thập niên 90, tức từ khi Mỹ bỏ cấm vận đối với VN và ký bang giao với VN thì nhiều người Việt tỵ nạn Cộng Sản, vì nhớ thương người thân còn kẹt lại VN và mấy anh già mất nết đã kéo nhau về VN du hí khiến tinh thần chống Cộng sút giảm, nhất là mấy anh thương gia (1), ngửi thấy có lợi nếu bắt tay với Việt Cộng nên đã không những quên hết thù hận xưa mà còn nghe theo lời dụ dỗ Hoà Hợp, Hoà Giải của Việt Cộng để cộng tác làm ăn với chúng. Thực ra thì bọn Việt Cộng thực tâm cũng chẳng muốn Hoà Hợp Hòa Giải gì mà chúng chỉ muốn người Việt hải ngoại đừng chống đôi chúng nữa và đem tiền bạc về cùng chúng làm ăn.

Ngày nay, bọn Việt Cộng cũng chẳng còn chính nghĩa gì để bấu víu nên chúng muốn lợi dùng tình trạng này để xóa bỏ làn ranh Quốc Cộng và hoá giải hết mọi sự chống đối. Nhưng nhiều người vẫn ngu muội, tưởng thật nên không những đã ngang nhiên về VN làm ăn buôn bán với Việt Cộng, ngang nhiên họp hành, ăn uống, du hí với Việt Cộng mà còn công khai viết bài ca tụng bọn Việt Cộng, lập cả Hiệp Hội Doanh Nhân để hỗ trợ cho những người muốn làm ăn buôn bán với Việt Cộng. Trước sự ngang nhiên và thách đố này, nhiều người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản đã phải lên tiếng vạch mặt chỉ tên bọn người thân Cộng này trong đó có cả một số trí thức vô liêm sỉ ham danh, hám lợi như chúng ta đã thấy.

Nhiều người quá hăng say trong việc tố cáo này đã dùng những lời lẽ qúa đáng khiến bọn chúng đã có thể vin vào đó mà kiện về tội phỉ báng hay vu cáo để làm người khác sợ mà không dám vạch mặt chỉ tên bọn chúng. Thực ra đây chỉ là phương cách dùng tiền bạc để cả vú lấp miệng em, để áp đảo tinh thần người khác. Nếu chúng ta có chứng cớ rõ ràng thì việc khiếu tố chúng ta về tội phỉ báng cũng không phải là điều dễ dàng.

Phỉ báng là việc đưa ra những lời lẽ tuyên bố sai sự thật về tư cách hay việc làm của một người khác làm người đó bị tác hại về tinh thần hay vật chất. Phỉ báng cũng có thể là một một đoạn văn viết sai sự thật về một cá nhân hay đoàn thể nào đó được bản in ấn trong một tờ tạp chí hay trên một tờ báo.

I. Thông thường, các yếu tố của một nguyên nhân gây nên hành động phỉ báng phải bao gồm (2):

1. Một lời nói xấu hay một báo cáo sai sự thật liên quan đến người khác.

2. Sự phổ biến lời tuyên bố về một người nào đó để cho đệ tam nhân biết đến trong các ấn phẩm mà không có đặc quyền (như báo chí).

3. Nếu sự phỉ báng thuộc lãnh vực quan tâm công cộng, thì ít nhất có thể quy lỗi một phần cho sự sơ xuất của nhà xuất bản.

4. Có gây thiệt hại cho đối phương.

Tội phỉ báng (defamation / libel) hay vu cáo (slander) theo luật pháp Hoa Kỳ, nó không phải là một tôi hình sự như luật pháp của Việt Nam trước năm 1975. Ở VN trước năm 1975, một người bị truy tố về tội phỉ báng hay vu cáo, nếu có tội, có thể bị phạt vạ (tiền) hay phạt tù, nhưng về bồi thường thiệt hại thì chỉ được bồi thường $1 danh dự mà thôi. Trái lại ở Hoa Kỳ, như trên đã nói, tôi phỉ báng không phải là một tội thuộc về hình sự. Vì không phải là một tội hình sự, nên không bị phạt vạ hay phạt tù mà chỉ phải bồi thường thiệt hại; nhưng tiền bồi thường thiệt hại lại rất cao, có thể từ vài trăm ngàn tới vài chục triệu, tùy theo sự chứng minh của nguyên cáo (plaintiff) và được Toà chấp nhận ở mức độ nào.

II. Tiến trình xử một vụ án về tội phỉ báng hay vu cáo, thường qua một quy trình tố tụng dân sự và hầu hết do bồi thẩm đoàn xét xử. Lời phỉ báng có thể căn cứ vào lời nói tại chốn công cộng như buổi họp công cộng hay tại bữa tiệc cộng cộng hay trên truyền thanh, truyền hình hoặc những bài viết trên báo chí, trên diễn đàn công cộng.

1. Người đứng đơn kiện tức bên nguyên đơn (plaintiff) có bổn phận phải chứng minh nhữ ng điều bị đơn (defendant) nói về mình là sai, là không đúng sự thật.

2. Đối với những nhân vật được gọi là nhân vật của quần chứng (public figure) mà vác đơn đi kiện thì lại càng khó hơn chứ không như những người thường dân là những người được luật pháp bảo vệ nhiều hơn. Nguyên đơn không những phải chứng minh những lời nói đó là sai, là không đứng sự thật mà còn phải chứng minh là bị đơn ( defendant) thực sự đã có ác ý và thiếu thận trọng.
(Xin thêm phần quyền tự do ngôn luận của báo chí (media).

Để vạch mặt chỉ tên những tên trí thức vô học nhưng hám danh, những tên gian thương vô liêm sỉ nhưng hám lợi này, chúng ta thường dùng chữ thân Cộng. Nhưng nhiều người nghĩ rằng danh từ thân Cộng không đủ mạnh để chỉ những phần tử vô học, vô liêm sỉ này, nên thường dùng thêm những chữ khác như bưng bô hay nâng bi hay Việt gian.

Thực ra bưng bô hay nâng bi cũng chỉ có nghĩa là nịnh nọt, bợ đỡ (flatter) mà thôi. Viết một bài tâng bốc Việt Cộng là nịnh bợ Việt Cộng rồi. Pro-communist hay communist flatterer hay communist sympathizer thì cũng chẳng khác nhau gì. Còn dùng chữ Việt gian để gọi họ thì không đúng lắm. Chúng ta còn nhớ, ,khi chiến tranh Việt Pháp bùng nổ nào ngày 19/12/1946, tất cả những người không theo Việt Minh như các đảng viên Việt Cách, Việt Quốc đều bị Việt Minh gọi là Việt gian mặc dầu nhiều người chẳng hợp tác với Pháp ngày nào. Ngày nay, một số người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản tự phủ nhận tư cách tỵ nạn Cộng Sản của mình bằng cách giao tiếp hoặc làm ăn buôn bán với Việt Cộng nên bị gọi là Việt gian thì cũng chẳng khác gì trước kia bọn Việt Minh gọi những người quốc gia là Việt gian. Tuy nhiên, chúng ta không thể gọi những ai không đồng quan điểm chính trị với mình trong công việc chống Việt Cộng là Việt gian.

Tóm lại, dù dùng chữ gì, thì nó cũng chỉ có nghĩa là thân Cộng mà thôi. Bọn Việt Cộng là bọn độc ác, dã man và tàn bạo. Chúng chuyên cướp của giết người. Những kẻ thân thiết với bọn này thì tư cách của họ cũng chẳng khác gì bọn này. Vì thế, mỗi khi bị người khác bảo là thân Cộng, chúng rất lấy làm nhục nhã nên chúng phải bỏ tiền ra để đi kiện cho bớt nhục. Chứ thực ra chúng cũng thừa biết nếu có được bồi thường thì cũng Tết Congo mới đòi được. Thường thường những người dám ăn, dám nói lại là những người trên răng, dưới dế. Kiện những người này không những tốn tiền tốn bạc mà nhiều khi còn rước thêm nhục nhã vào thân vì là cơ hội để cho báo chí truyền thông khai thác, mỉa mai và đàm tiếu. Tuy nhiên để phòng hờ những kẻ cậy tiền kiện tụng lôi thôi làm phiền hà chúng ta, chúng ta chỉ cần nói rõ những hành động bợ đỡ, nịnh nọt hay những hành vi giao tiếp của bọn chúng với bọn Việt Cộng hoặc dùng chữ thân Cộng là đủ.

Hơn nữa, chữ thân Cộng là chữ chúng dễ chứng minh nhất. Muốn nói ai thân Cộng, chúng ta chỉ cần có những hình ảnh người đó đã đứng chụp chung với một tên Việt Cộng nào đó, những hình ảnh mà chúng đã tham dự những buổi liên hoan, tiếp tân của Việt Cộng tại đâu, vào ngày nào, những bài viết trên báo hay những bài diễn văn mà họ đã viết hay đã đọc để ca tụng Việt Cộng chứ không thể nói khơi khơi một cách vô bằng cớ.

Ngoài ra lại còn tùy người viết, người đọc là thành phần nào. Cùng một sự kiện, nhưng đối với người này, chúng ta có thể bảo họ là người thân Cộng, nhưng đối với người khác thì lại không. Thí dụ như trường hợp dân biểu liên bang Cao Quang Ánh cùng 2 dân biểu liên bang khác là Eni Faleomaega và Michael M. Honda trong chuyến công du VN đã tới thăm tên Thứ Trưởng Ngoại Giao Việt Cộng là Nguyễn Thanh Sơn và chụp hình chung với tên này và bị tên Việt Cộng này quàng cổ, bá vai cười toe toét, nhưng chúng ta cũng không thể nói là ông ta là người thân Cộng. Trái lại, nếu một người Việt tỵ nạn bình thương khác hay một ông Chủ Tịch Cộng Đồng Người Việt Tỵ Nạn nào đó đã tới thăm chúng và được chúng tiếp đón như vậy thì chúng ta lại có thể nói họ là người thân Cộng (pro-communist).

Thực ra thì bảo một người nào đó là thân Cộng thường thì chúng ta đã biết rõ những hoạt động hay những giao tiếp của họ với Việt Cộng, nên việc chứng minh thường không khó khăn. Nhưng chụp mũ ai là Việt Cộng hay là Cộng Sản nằm vùng là điều tuyệt đối nên tránh vì chúng ta không phải là CIA mà có thể kiếm được những bằng chứng cụ thể trừ phi chúng là những tên Việt Cộng có chức, có quyền rõ ràng như những tên bán nước Nông Đức Mạnh, Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Tấn Dũng, Phan Văn Khải, Lê Khả Phiêu, Nguyễn Văn An, Nguyễn Chí Vịnh v.v…thì không kể.
Trong bài “Luật về tội phỉ báng ở Hoa Kỳ”, tác giả Steven Prerssman viết: “Floyd Adam, một luật sư ở New York, người chuyên đại diện cho các tổ chức truyền thông, ước tính trong các vụ kiện do bồi thẩm đoàn giải quyết những người khiếu kiện tội phỉ báng giành phần thắng trong khoảng 75% số vụ. Tuy nhiên, giới truyền thông luôn đảo ngược được cáo trạng của bồi thẩm đoàn nếu họ kháng cáo lên tòa án cấp cao hơn. Abrams nói rằng nguyên nhân là do các bồi thẩm viên thường không hiểu đầy đủ hoặc không áp dụng các chuẩn mực pháp lý thích hợp liên quan đến vụ kiện. Do đó, nếu chẳng may thua kiện ở giai đoạn đầu chúng ta cũng đừng lo sợ, cứ bình tâm kháng cáo lên tòa phúc thẩm, chắc chắn sẽ thắng lợi.

Lê Duy San
____________________________
Chú thích:
(1). Trong một bàn phú, cụ Nguyễn Công Trứ có viết: “Dân hữu tứ, sĩ vi chi tiên” Dân có bốn hạng, đó là Sĩ Nông Công Thương. Sĩ là hạng người đứng đầu và là hạng người được trong vọng nhất. Còn hạng người làm thương mại bị khinh thường nhất nên bị xếp vào hạng cuối cùng của bực thang xã hội. Ngày nay sống ở Hoa Kỳ, chúng ta thấy người Hoa Kỳ cũng coi những người trí thức như Bác Sỉ, Luật Sư v.v..nếu mở văn phòng riêng thì cũng thuộc vào giới business tức giới làm thương mại và không có giới nào đáng trọng hay đáng khinh hơn giới nào.
(2) Tham khảo “Defamation, Libel and Slander Law” của Aaron Larson.
(3) Tham khảo “Luật về tội phỉ bang ở Hoa Kỳ” của Steven Prerssman.