Tuesday, May 4, 2010

Woman with no arms preparing for black belt

Sheila Radziewicz of Salem, Mass., uses her nunchucks during taekwondo class at Bruce McCorry's Martial Arts Studio in Peabody, Mass., on April 28, 2010. Radziewicz is scheduled to take her test next month for a black belt in taekwondo.

The 32-year-old brown belt, who was born with thrombocytopenia -absent radius, or TAR syndrome, tells The Salem News she's been training in martial arts for three years.
A Massachusetts woman who was born without arms or kneecaps is preparing to test for her black belt in Taekwondo.

Sheila Radziewicz was scheduled to take her test next month at Bruce McCorry's Martial Arts in Peabody.

The 32-year-old brown belt, who was born with thrombocytopenia-absent radius, or TAR syndrome, told The Salem News she's been training in martial arts for three years.

McCorry, her teacher, said he's never seen a student like Radziewicz. Despite her condition, she can use nunchucks and break boards with her kicks.

The Salem resident, who works as an advocate for victims of domestic violence, said she has never let her disability stop her.
At 23, Radziewicz earned her driver's license. She uses a car that she controls with her feet.


Sunday, May 2, 2010

30 Tháng Tư và Hòa giải dân tộc - Trần Trung Đạo

    VOA: 30 Tháng Tư và Hòa giải dân tộc
    (Phỏng vấn nhà thơ Trần Trung Đạo nhân dịp 30-4-2010)
Giới thiệu: Tháng Tư năm nay, cũng như những tháng Tư của hơn 30 năm qua, giới hữu trách Việt Nam đã tưng bừng tổ chức ngày kỷ niệm mà họ gọi là “chiến thắng vĩ đại ngày 30-4-1975. Họ cũng không quên nhắc tới sự kiện mà họ mô tả là “ở một số nơi trên thế giới, đặc biệt là ở Mỹ, một số nhóm phản động cực đoan thường tổ chức ‘ngày quốc hận’ để hoài niệm một chế độ tàn bạo ở miền nam Việt Nam đã sụp đổ, hoài niệm thời kỳ đất nước bị chia cắt, tìm cách bôi nhọ những gì tốt đẹp đang diễn ra ở Việt Nam”. (Quân Đội Nhân Dân, 18-04-2010).

Trong khi đó, một số văn nghệ sĩ ở Việt Nam mới đây đã cho đăng tải trên mạng internet những bài viết kêu gọi mọi người hãy có một cái nhìn mới về biến cố lịch sử này để tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc hòa giải dân tộc, nổi bật là bài “Tùy Bút Tháng Tư” của nhà văn Vũ Ngọc Tiến được phổ biến rộng rãi trên mạng. Ban Việt Ngữ VOA đã tiếp xúc với nhà thơ Trần Trung Đạo, một blogger ở Mỹ (trantrungdao.com) có nhiều bài bình luận về văn học và chính trị Việt Nam được nhiều người ưa thích, để tìm hiểu thêm về vấn đề đáng chú ý này. Mời quí vị theo dõi cuộc phỏng vấn do Duy Ái thực hiện sau đây.


Duy Ái - Washington D.C Thứ Sáu, 30 tháng 4 2010

VOA: Thưa anh Trần Trung Đạo, là người theo dõi sát tình hình Việt Nam, đặc biệt trong các lãnh vực văn hóa xã hội, chắc anh cũng biết là trong vài tuần nay, các tờ báo do nhà nước kiểm soát đã cho đăng nhiều bài viết dưới dạng “nhìn lại 35 năm” và hô hào cho việc “hòa hợp dân tộc, hàn gắn lòng người”. Trước hết, xin anh chia sẻ với thính giả và độc giả đài Tiếng Nói Hoa Kỳ quan điểm của anh về “hòa giải hòa hợp dân tộc”?

Trần Trung Đạo: Tuần trước tôi có dịp đến thăm viện bảo tàng lịch sử Mỹ tại Washington DC, trong đó có một khu dành riêng cho tổng thống thứ 16 của Mỹ, Tổng Thống Abraham Lincoln. Ngay trước cổng của khu tưởng niệm TT Lincoln, có treo một tấm bảng nhỏ, trong đó ghi một câu trong Tân Ước mà ông yêu thích và thường hay trích dẫn "A house divided against itself cannot stand”, nghĩa là “Một căn nhà phân hóa chống lại chính nó, căn nhà đó không thể đứng vững”.

Tổng Thống Lincoln quan niệm tinh thần đoàn kết, hòa giải giữa các thành phần quốc gia là điều kiện quyết định giúp quốc gia vượt qua những khó khăn, cũng như dẫn đến sự vững mạnh, thăng tiến lâu dài. Sự phát triển vượt bực của Hoa Kỳ, từ thuộc địa của Anh trở thành cường quốc hàng đầu thế giới đã chứng minh câu Tổng Thống Lincoln trích dẫn là một chân lý. Chân lý đó cũng đã được thử nghiệm và xác định tại nhiều quốc gia khác như Nam Phi, Cộng Hòa Đức v.v..

Tổng thống Lincoln nhấn mạnh đến tinh thần hòa giải trong diễn văn nhậm chức tổng thống nhiệm kỳ 2, 1865, nghĩa là sau khi quân đội miền bắc đã kết thúc cuộc nội chiến bằng chiến thắng, và TT Nelson Mandela cũng chỉ lập Ủy Ban Sự Thật Và Hòa Giải Quốc Gia sau khi đã đắc cử Tổng Thống Cộng Hòa Nam Phi. Nếu TT Lincoln bỏ tù hết các cấp sĩ quan, viên chức chính quyền miền nam, chắc chắn quân đội của tướng Robert Lee đã không buông súng dễ dàng, và nước Mỹ có thể không có ngày hôm nay. Tương tự, nếu TT Nelson Mandela bắt thiểu số da trắng phải trả giá bằng những cực hình đầy đọa giống như dân da đen đã từng chịu đựng dưới ách phân biệt chủng tộc Nam Phi thì hòa hợp hòa giải đã không đến cho quốc gia này.

Từ những bài học quý giá đó, tôi quan niệm hòa giải không chỉ là một tình cảm mà phải dựa trên các nền tảng chính trị, kinh tế, xã hội cần thiết, và các nền tảng đó chính là sự thật, tự do, dân chủ và bình đẳng giữa những con người cũng như giữa các thành phần trong xã hội.

Giới lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam có tất cả những phương tiện để thực thi hòa giải hòa hợp dân tộc nhưng họ đã không làm. Lý do, nếu làm thì họ đã không phải là Cộng Sản. Hòa giải hòa hợp dân tộc đặt cơ sở trên sự bao dung, bình đẳng vốn đi ngược lại mục tiêu Cộng Sản hóa Việt Nam bằng các phương tiện bạo lực mà đảng đã và đang dùng.

Do đó, ngày nào chế độc độc tài đảng trị, dù tồn tại dưới bất cứ hình thức nào tại Việt Nam, ngày đó chuyện hòa giải chỉ là một chuyện để bàn cho có và cũng sẽ qua đi theo mỗi tháng Tư.

VOA: Thưa anh Trần Trung Đạo, một câu nói của ông Võ Văn Kiệt liên quan đến vấn đề “hòa giải hòa hợp” được các bên trích dẫn khá nhiều là “một triệu người vui, một triệu người buồn”. Xin anh chia sẻ về câu nói này của ông Võ Văn Kiệt cũng như các ý kiến tương tự khác mà anh đọc trong dịp 30 tháng 4 năm nay?

Trần Trung Đạo: Câu nói của ông Võ Văn Kiệt, ngày 30 tháng 4 “có hàng triệu người vui, mà cũng có hàng triệu người buồn” có lẽ là câu nói tích cực nhất mà chúng ta được nghe từ một người từng đóng vai trò lãnh đạo đảng và nhà nước Cộng Sản Việt Nam trong một thời gian dài sau 1975.

Như tôi đã có lần viết trong một tiểu luận về những lời phát biểu của ông Võ Văn Kiệt, tôi tin đó là một câu nói chân thành, kết quả của nhiều đêm trăn trở.

Tôi vui mừng bởi vì ông đã góp phần tạo nên một môi trường thảo luận những vấn đề sinh tử của đất nước mà trước đây không có được. Các thế hệ trẻ Việt Nam, qua những lời phát biểu của ông, có cơ hội biết đến một quãng lịch sử dân tộc đen tối do chính một trong những người chịu trách nhiệm lớn nhất của đảng và nhà nước trong giai đoạn đó kể ra. Con đường mà dân tộc đã trải qua trong suốt hơn 30 năm không phải là “con đường vinh quang” như các em đang học ở trường, những ngày mà cha chú các em đã sống không phải là “những ngày đẹp nhất dù mai sau đời vạn lần hơn”, nhưng là con đường nhuộm bằng máu và nước mắt, trong đó, “có hàng triệu người vui, mà cũng có hàng triệu người buồn” như ông Võ Văn Kiệt đã nhắc lại.

Ngoài ông Võ Văn Kiệt đã qua đời, một số cán bộ Cộng Sản nổi bật trong giai đoạn chiến tranh như cựu đại sứ Cộng Sản Việt Nam tại Pháp Võ Văn Sung trong buổi phỏng vấn dành cho VietNamNet mới đây cũng nhấn mạnh đến tinh thần hòa giải bằng những câu phát biểu thật “thắm thía”: “Lúc này nếu ai đó trong chúng ta dù từng đứng từ phía nào mà vẫn nuôi lòng thù hận, cản trở hòa hợp dân tộc thì sẽ dần trở nên lạc lõng và thật sự có lỗi với tương lai của chính con cháu mình.”

Thế nhưng cả ông Võ Văn Kiệt lẫn ông Võ Văn Sung, về khái niệm, đều lầm lẫn giữa hòa giải và đầu hàng, giữa hòa hợp và phục tùng, giữa bao dung dân tộc và thương xót người chiến bại. Hòa giải hòa hợp là con đường hai chiều, là chiếc cầu nhiều nhịp. Và như tôi đã phát biểu ở trên, phải dựa trên nền tảng bình đẳng, tự do, dân chủ. Không ai có quyền bắt người khác phải bơi qua sông để hòa giải với mình. Những người lính miền nam cần công lý chứ không cần thương xót.

VOA: Trong hai tuần qua, nhiều độc giả của các trang blog không do nhà nước kiểm soát đã xôn xao bàn tán về bài viết “Tùy Bút Tháng Tư” của nhà văn Vũ Ngọc Tiến, cũng như mới đây bài viết của nhà văn Nguyễn Trọng Tạo “Đừng Thêm Những Tháng Tư”. Xin anh cho biết ý kiến của anh về hai bài viết này?

Trần Trung Đạo: Trong lúc tôn trọng sự khác biệt về cách giải thích nguyên nhân của cuộc chiến Việt Nam, tôi thông cảm những trăn trở của nhà văn Vũ Ngọc Tiến trong bài viết mới đây Tùy Bút Tháng Tư “Trong số 3,2 triệu người Việt định cư ở hải ngoại hiện nay, số ra đi trước ngày 30/4/1975, kể cả số di cư từ thời thuộc Pháp chỉ khoảng 1 triệu, số còn lại hơn 2 triệu người chủ yếu rời bỏ đất nước từ nửa cuối thập niên 70 và cả thập niên 80 của thế kỷ trước. Thế hệ chúng tôi “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, sao những người được chúng tôi giải phóng lại ào ào bỏ nước mà đi đông đến vậy?”

Tôi nghĩ câu hỏi này nhà văn đặt ra cho giới lãnh đạo đảng chứ không phải cho độc giả của ông. Tuy nhiên, với tư cách là một trong số hơn hai triệu người ra đi sau 1975, tôi nghĩ, lý do cũng rất là đơn giản. Họ ra đi sau 1975 là vì tự do. Nếu Liên Hiệp Quốc và các quốc gia Đông Nam Á không đóng cửa các trại tỵ nạn đầu thập niên 90 thì không chỉ 2 triệu mà có thể 4 triệu, 6 triệu hay nhiều hơn nữa đã bỏ xứ ra đi.

Quê hương Việt Nam sau 1975 là quê hương để nhớ, để thương nhưng không phải để sống.

Và sau 35 năm, ngoài trừ một số rất ít, 300 ngàn người thành đạt như nhiều nguồn ước tính và nhà văn Vũ Ngọc Tiến có trích dẫn trong bài viết của ông, đã không về phục vụ đất nước. Nhà văn thắc mắc tại sao họ lại không về. Câu trả lời cũng không khó lắm. Thứ nhất, dù chia rẽ, kèn cựa, chống đối lẫn nhau, về căn bản họ vẫn là những người chống lại chế độ độc tài Cộng Sản, và thứ hai, họ không muốn thấy những đóng góp của họ chỉ để làm giàu thêm giai cấp tư sản đỏ đang như dòi bọ sinh sôi từ xương máu nhân dân chứ không đem lại lợi ích gì cụ thể cho đại đa số đồng bào đang sống trong nghèo khó.

Tôi cũng rất tâm đắc với suy nghĩ của nhà văn Nguyễn Trọng Tạo trong bài viết Đừng Thêm Những Tháng Tư: “Một dân tộc mà lũ trẻ không biết mơ mộng và người già không biết sám hối, đó là một dân tộc bất hạnh. Hãy trân trọng sự sám hối.” và “Hòa giải là nguyện vọng cấp thiết của người Việt Nam dù trong hay ngoài nước”.

Đúng vậy, những ai có trách nhiệm cho điêu tàn, đổ nát, đói nghèo, lạc hậu, mất đất, mất biển phải sám hối trước tiên linh ông bà và xin lỗi trước nhân dân.

Về hòa hợp hòa giải. Trải qua một cuộc chiến dài với quá nhiều những hy sinh xương máu, tôi tin, không một người Việt Nam yêu nước nào không muốn sống trong cảnh hòa bình, không mong đất nước mình cường thịnh, hội nhập vào dòng phát triển của cộng đồng nhân loại. Không chỉ những người lính miền nam, người dân miền nam mà ngay cả những người lính miền bắc, người dân miền bắc, cũng chỉ mong có cơ hội được trở về căn nhà xưa, với ruộng lúa nương dâu, với cha mẹ già đang chờ đợi.

Cuối cùng, như các chúng ta thấy, không ai thương dân tộc Việt Nam bằng chính người Việt Nam. Bên trong những vòng hoa chiến thắng, mặt trái của những tấm huân chương là máu thịt của hàng triệu người Việt Nam đổ xuống, là đói nghèo lạc hậu.

Việt Nam phải vượt qua. Việt Nam phải thăng tiến. Nhưng chướng ngại lớn nhất trên con đường dẫn tới một tương tốt đẹp, tự do, dân chủ, giàu mạnh không phải vì thiếu hòa giải, hòa hợp mà quan trọng hơn vì cơ chế độc tài đảng trị như một bức tường đang chắn ngay trước lối đi lên. Một khi cơ chế độc tài sụp đổ, hòa giải hòa hợp tự nhiên sẽ đến dù lúc đó chưa chắc còn cần thiết nữa.

VOA: Xin cám ơn anh Trần Trung Đạo

Source: http://www1.voanews.com/vietnamese/news/vietnam/30thang4-hoa-giai-dan-toc-04-30-2010-92493984.html


Saturday, May 1, 2010

30-4: Virgil Night tại Hyde Park, Sydney NSW Úc châu



    Sydney: Ðêm thắp nến tưởng niệm 35 năm biến cố Tháng Tư Đen
Trong tiết trời se lạnh cuối thu, một rừng cờ vàng bên cạnh 3,000 ngọn nến lung linh được thắp lên, tạo nên một bầu không khí trang nghiêm. Đó là khung cảnh của buổi Tưởng niệm 35 năm biến cố Tháng Tư Đen: 30/04/1975 - 30/40/2010 tại Hyde Park, thành phố Sydney ngày hôm nay 30/04.

Mặc dầu chương trình được dự trù bắt đầu lúc 7pm, nhưng mới khoảng 6.30pm mà các quan khách và nhiều đồng hương tỵ nạn đã có mặt, quây quần bên cạnh bục lễ đài và màn hình chiếu Slide. Tranh thủ thời gian, hai MC chương trình là Luật sư Thân và cô Vivi Nguyễn đã giới thiệu đến đồng hương một danh sách dài các quan khách hiện diện.

Đại diện chính quyền và các hội đoàn Úc gồm có:
    • Dân biểu Liên bang Laurie Ferguson (đơn vị Reid tai thành phố Sydney) - Thứ trưởng đặc trách Đa Văn hóa Sự vụ và các vấn đề định cư cộng đồng.
    • Dân biểu Liên bang Chris Hayes, đại diện đơn vị Werriwa (Tây nam thành phố Sydney)
    • Dân biểu Liên bang Jason Claire, Thứ trưởng đặc trách Nhân dụng.
    • Bà Barbara Perry, dân biểu tiểu bang đơn vị Auburn của NSW, và là Bộ trưởng đặc trách chính quyền địa phương
    • Ông Nick Lalich, dân biểu tiểu bang đơn vị Fairfield của NSW, và cũng là thị trưởng thành phố Fairfield.
    • Ông Clive Mitchell Taylor, chủ tịch Hội Cựu chiến binh Úc tham chiến tại VN, phân bộ tiểu bang NSW.
Về phía đại diện các tôn giáo có:
    • Thượng tọa Thích bảo Lạc, Phó Hội chủ GHPGVNTNHN Úc Đại Lợi - Tân Tây Lan
    • Thượng tọa Thích Phước Nhơn, đại diện GHPGVNTNHN Úc Đại Lợi
    • Ông Nguyễn Văn Paul, đại diện Giáo hội Phật giáo Hòa hảo Úc Châu
    • Ông Nguyễn Văn Bán, đại diện Cao Đài Úc Châu
    • Linh mục Nguyễn Khoa Toàn, Tuyên Úy trưởng Cộng đồng Công giáo VN NSW
    • Linh mục Chu Văn Chi, Ban Tuyên Úy Cộng đồng Công giáo VN NSW
    • Đặc biệt ghi nhận có sự hiện diện của Đức Giám Mục Julian Porter, Giám mục địa phận Sydney
Cùng các vị tiền nhiệm chủ tịch cộng đồng Việt Nam tiểu bang NSW cũng như Liên bang, và đại diện các hội đoàn, đoàn thể, cùng đại diện báo chí truyền thanh Úc - Việt.

Sau phần nghi thức chào cờ Úc - Việt và phút mặc niệm, ông Nguyễn Văn Thanh, chủ tịch Cộng đồng Việt Nam NSW có bài diễn văn khai mạc bằng hai ngôn ngữ Anh - Việt. Ông nói mục đích của buổi lễ là để vinh danh các anh hùng tử sĩ của QL VNCH và đồng minh Úc đã bỏ mình trong cuộc chiến tranh Việt Nam vì hai chữ Tự Do, cũng như những người đã liều mình trốn chạy khỏi chế độ cộng sản trong suốt 35 năm qua. Theo thống kê của Cao Ủy Tỵ Nạn LHQ thì có khoảng 1.6 triệu người Việt đã bỏ nước ra đi, mà đa số là thuyền nhân, thì chỉ có được gần 1 triệu đến được bến bờ tự do, và tạo dựng nên các cộng đồng người Việt tỵ nạn trên khắp thế giới trong suốt 35 năm qua. Và 35 năm sau, chính dòng người tỵ nạn đó đã hình thành nên một cộng đồng người Việt lớn mạnh tại Úc.

Ông kêu gọi đồng bào tỵ nạn đừng quên những đồng bào còn lại tai quê nhà vẫn khao khát tự do, và các nhà đấu tranh dân chủ nhân quyền vẫn đang ngày đêm bị chính quyền đàn áp trù dập, bởi vì “Tự Do là điều vô cùng cao quý,... và phải trả giá đắt mới có được”.

Tiếp theo là phần chia sẻ ngắn gọn của Dân biểu Liên bang Laurie Ferguson. Ông minh định rằng sự hy sinh của 521 quân nhân Úc trong cuộc chiến Việt Nam là vì hai chữ Tư Do. Với tư cách đại diên chính quyền liên bang, ông ca ngợi sự lớn mạnh của Cộng đồng Việt Nam và công nhận sự đóng góp to lớn vào xã hội Úc. Kinh nghiệm về sự hòa nhập và lớn mạnh của cộng đồng Việt Nam đã được chính phủ Úc dùng để dẫn dắt các cộng đồng tỵ nạn non trẻ đến sau như Afghanistan, Sudan,...

Ông là người vẫn luôn theo dõi các diễn biến tại Việt Nam, như các cuộc biểu tình ôn hòa về Hoàng Sa - Trường Sa, các vụ bắt bớ 17 nhà bất đồng chính kiến vào tháng 10 năm ngoái, việc ngăn chận kiểm soát internet của nhà cầm quyền Việt Nam, và luôn luôn đặt vấn đề nhân quyền làm điều kiện trong các khoản viện trợ cho VN.

Ngay sau phần Slide show đầu tiên trình chiếu các hình ảnh trắng đen và màu về các diễn tiến chính trị và quân sự đưa đến biến cố Tháng Tư Đen, Ca Đoàn Lê Bảo Tịnh trình bày bài “Việt Nam ơi, quê hương ơi” với lời lẽ tha thiết:
    Ôi quê hương tôi xa người lâu rồi.
    Khóc hết nước mắt để nhớ thương người,
    Ôi quê hương tôi không bao giờ quên,…
Trong tiếng trống chiêng vang dội, giọng của MC LS.Thân vang vọng:

35 năm dưới sự cai trị hà khắc của cộng sản, người Việt Nam không có tự do nhân quyền,...
Và MC Vivi nối tiếp bằng tiếng Anh:

Việt Nam hiện nay không có tự do ngôn luận, hội họp, không có tự do tôn giáo.
Mong rằng thế giới sẽ hỗ trợ để có được một Việt Nam tươi đẹp hơn.

Trong phần cầu nguyện, Giám Mục Julian Porter đã cùng với các đại diện, lãnh đạo tôn giáo thắp nén nhang tưởng niệm các vong linh anh hùng tử sĩ và đồng bào đã hy sinh vì hai chữ Tự Do, và dâng lời cầu nguyện an bình cho đất nước Việt Nam.

Ngay sau đó, giọng ca trầm ấm của nam ca sĩ Trường Giang đã làm thổn thức lòng người nghe qua lời ca xúc động của “Đêm Nguyện Cầu”:
    Thượng Đế hỡi hãy lắng nghe người dân hiền.
    Vì đất nước đang còn ưu phiền.
    Còn tiếng khóc đi vào đêm tường triền miên.
Và Ca đoàn Lê Bảo Tịnh tiếp nối với “Một Ngày Việt Nam”:
    Từ nghìn trùng xa, ai vẫn hát vang lời Việt Nam.
    Nhìn về đại dương, ta nhớ hướng quê nhà ở đó.
    Còn nhiều lầm than, sau phút súng gươm buồn lặng im,…
Đức Giám Mục Julian Porter, vị chủ chăn Công giáo của địa phận Sydney đã hồi tưởng lại các hình ảnh trên Tivi của 35 năm trước: cảnh chiến tranh, chết chóc, chạy loạn,.. rồi sau đó là dòng người tỵ nạn ồ ạt được mệnh danh là “Thuyền Nhân”, với những cảnh cước bóc hãm hiếp của hải tặc Thái Lan. Ngài cho biết nước Úc đã giang rộng vòng tay đón người tỵ nạn Việt Nam, để rồi ngày nay có được Cộng đồng Việt Nam là một trong những cộng đồng mạnh nhất, cũng như cộng đồng Công giáo VN cũng phát triển vượt bực với nhiều ơn gọi, đã đóng góp to lớn vào sự phát triển xã hội đa văn hóa Úc.

Dân biểu Liên bang Chris Hayes, một khuôn mặt quen thuộc của cử tri Việt Nam vùng Liverpool, cho biết ngày 30/04/1975 là ngày đau buồn đối với Nam Việt Nam nói riêng, và thế giới tự do nói chung. Cũng chính vì ngày này mà hàng triệu thuyền nhân Việt đã vượt biển tìm tự do, để rồi hình thành những cộng đồng tỵ nạn Việt Nam lớn mạnh tại hầu hết các quốc gia phương Tây. Ông cũng không quên cầu nguyện cho các nhà đấu tranh dân chủ và gloggers tại Việt Nam, đặc biệt là Linh mục Nguyễn Văn Lý và 3 nữ nhi bị bắt gần đây. Ông cho biết là sẽ luôn luôn cùng đồng nghiệp tại quốc hội liên bang đặt vấn đề tự do - nhân quyền trong các đối thoại với Việt Nam.

Dân biểu Liên bang Jason Claire là người bạn thân thiết với cộng đồng Việt Nam, cũng là vị chính trị gia có lời sâu sắc hơn cả. Ông kêu gọi mọi người hãy đặt mình vào vị trí của 521 quân nhân Úc tử trận tại Việt Nam, 3.2 triệu người Việt bỏ mình trong cuộc chiến cũng như 1.2 triệu Thuyền Nhân đã liều mình vượt biển, để có thể cảm nhận được sự hy sinh vì hai chữ Tự Do cao quý. Ông chấm dứt với lời kết bằng tiếng Việt: “Quê hương của bạn, quê hương của tôi là của chúng ta”.

Vị đại diện Hội Cựu chiến binh Úc tham chiến tại VN, ông Clive Mitchell Taylor đã lập lại sự hy sinh cao quý của các quân nhân Úc và VNCH để bảo vệ nền tự do non trẻ tại miền Nam Việt Nam. Kể cả sự hy sinh của các Thuyền Nhân, thì tất cả đã trả giá vì hai chữ Tư Do.

Xen kẻ với phần phát biểu của bà Barbara Perry, dân biểu tiểu bang đơn vị Auburn của NSW, là phần chiếu Slide Show các hình ảnh, diễn biến trong Tháng Tư Đen 1975.

Ông Nick Lalich đã cám ơn sự đóng góp của cộng đồng Việt Nam vào xã hội đa văn hóa Úc. Ông cũng cho rằng “CSVN sẽ không thể tồn tại lâu được, bởi vì chế độ độc tài nhất định sẽ phải sụp đổ”.

Sau phần Slide “đấu tranh dân chủ” là âm thanh dồn dập, mãnh liệt của những “Bước chân Việt Nam”:

Khắp nơi trên địa cầu, giờ in dấu bước chân Việt Nam
Những đôi chân miệt mài, đang vươn tới dưới ánh ban mai
..................
Khắp nơi trên địa cầu, giờ in dấu bước chân Việt Nam

và “Đáp lời sông núi”.

Chương trình kết thúc lúc 9.30g cũng là lúc những giọt mưa đầu tiên bắt đầu rơi nhẹ trên bãi cỏ công viên Hyde Park. Giòng người ra về với những ký ức khó quên của 35 năm trước, mà cứ tưởng như mới xảy ra hôm qua vậy.

Tường trình tại chỗ, đêm 30/04/2010 từ Công viên Hyde Park, Sydney

Lê Minh
(Hình ảnh do thuythu cung cấp)









Tuesday, April 27, 2010

Cảm giác về "Biến Cố Tổng Giám Mục Giuse Ngô Quang Kiệt“, qua Tông thư thuyên chuyển Ngài: Ngày 22/04/2010 - Lm Gioan Baotixita Đinh Xuân Minh

Lm Gioan Baotixita Đinh Xuân Minh

Viết bài này trong nỗi âu lo, khi bất ngờ nghe tin, ngày 22 tháng 4 năm 2010, Phòng Báo chí Tòa Thánh thông báo: Ðức Thánh Cha Biển Ðức XVI, đã bổ nhiệm Giám mục Phêrô Nguyễn Văn Nhơn [1], Giám Mục Ðà Lạt, Chủ tịch Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam, làm Tổng Giám Mục Phó với quyền kế vị của Tổng giáo phận Hà Nội Giuse Ngô Quang Kiệt [2]. (Theo nguồn tin của G. Trần Đức Anh, OP (Radio Vatican)

Thế là mọi phỏng đoán và đồn thổi về việc Đức TGM Ngô Quang Kiệt ở lại hay ra đi, hôm nay, đã rõ.

Lo âu! Vì, biểu tượng HY VỌNG và NIỀM TIN – ít nhất là của người Công giáo -, ao ước hòa nhập vào lòng dân tộc, đấu tranh cho một thể chế nhân bản, tự do pháp trị phi Cộng Sản, bỗng dường như bị sụp đổ. Những ước mơ yêu chuộng Chân lý và tôn trọng nhân phẩm giá trị con người, bỗng dưng, tưởng chừng như đang bị chà đạp. Mặc dù, chúng ta đều biết: Công lý sự thật đang bị Việt Cộng trà đạp từ khi có sự hiện diện của họ trên đất nước Việt Nam. Nhưng, nay ai chà đạp thêm?

Tin vào đạo! Tin vào Tôn giáo thánh thiện tông truyền, bỗng dường như, niềm tin này đang bị lường gạt. Một Giáo hội dấn thân cho kẻ nghèo khó, đấu tranh cho lẽ phải sự thật, bỗng dường như Giáo hội này đang bị bàn tay thâm độc hành quyết. Giáo hội làm gương sáng của Chúa, bỗng nay, dường như đang bị một đám mây đen u ám phủ trùm, để thay vào đó thành hội „xã hội đen“?

Niềm Tin và Hy vọng vào Giám Mục nào, sẽ tiếp tục tinh thần Mục tử nhân lành dũng cảm gương mẫu như Đức TGM Ngô Quang Kiệt? Xóa bỏ tinh thần đấu tranh bất khuất trước bất công, sẽ xây dựng lên tinh thần nào và dựa trên tinh thần nào? Tinh thần làm dụng cụ tay sai cho sự gian manh xảo quyệt của Việt Cộng? Hay tư tưởng xin xỏ, nô lệ phục Ác? Đạp đổ thần tượng đấu tranh cho Công Lý sự thật, xây dựng thần tượng ma giáo lừa gạt? Thay vào tinh thần Hiệp thông bằng tinh thần ích kỷ vụ lợi, vinh thân phì da?

Sự bổ nhiệm đây là ý Chúa, hay đây là sự âm mưu thâm hiểm của những kẻ làm tay sai cho kẻ dữ? Ý Chúa thể hiện, hay đây là dã tâm ác ý của kẻ gian Việt Cộng được thi hành?

Bất ngờ! Vì không ngờ, thế lực đen trong lòng giáo hội Công giáo vẫn còn tồn đọng. Nay, vì tinh thần Phong trào Hiệp thông của Đức TGM Kiệt, phong trào đòi hỏi Công lý và Hòa bình, lại một lần nữa, bàn tay ma qủy tiếp tay cho qủy ác Cộng sản, lại có dịp ra tay, tác oai tác quái.

Vì quá sợ Việt Cộng phải tìm „vật“ tế thần chăng sao? Và Đức TGM Ngô Quang Kiệt là chiên tế thần cho Cộng sản. Ngài đã bị phản bội. Ai phản bội Ngài? Muốn lấy lòng Cộng sản, cần „dâng đầu“ của TGM Kiệt cho nhà nước lưu manh, như xưa Herodias, vợ của người em ruột là Philippus, xin đầu của thánh Gioan tiền hô, dâng cho vua Herodes Antipas để làm thái hoàng hậu? (Marcô 6, 17-29). Vậy thử hỏi: Ai trong hàng ngũ Giáo Hội Việt nam xin „đầu“ đức TGM Kiệt „dâng“ cho Việt Cộng? Và ai là Herodias?

Con người có nhiều cái đau khổ. Nhưng cái khổ mà bị chính người bạn thân phản bội, thì sự đau khổ tâm hồn sẽ khó lành khỏi, mà còn mất ăn mất ngủ. Cái khổ thêm nữa, là bị oan ức, mà phải nhịn không nói ra. Làm tốt mà lại bị phản bội.

Khi Đức Giêsu bị phản bội, Ngài quá đau khổ mà phải than phán rằng, khốn cho ngươi! Thà ngươi đừng sinh ra thì hơn. Đấy, là Đấng toàn năng, còn phải thốt ra những lời nguyền rủa như thế, phương chi là con người. Đó là nổi khổ tâm, sự đau xót mỉa mai của những người bị chính anh em bạn hữu phản bội, „xin đầu“ để hưởng vinh. Còn đâu nữa tinh thần Hiệp thông đoàn kết trong tình con cái của Chúa một nhà? Có khác gì kẻ hèn hạ, sống trên sự đau khổ xương máu của người anh em.

Chẳng lẽ, những ai dấn thân hy sinh cho lẽ phải, phải bị trừng phạt. Còn những ai tiếp tay làm điều ác, thì được phần thưởng? Cộng sản chủ trương gía trị quái đảm ma quái này. Nhưng giáo hội thánh thiện?! Chẳng nhẽ, Giáo hội cũng chủ trương học thuyết giá trị phi nhân bản này sao? Tại sao làm chứng nhân cho sự thật, nói lẽ phải lại bị trừng phạt? Chỉ có ma qủy mới có dã tâm đó.

Sự thuyên chuyển Đức TGM Kiệt, qua thông báo ngày 22/04/2010 gây ra biến cố lớn cho Giáo hội Việt Nam. Có lẽ, đây cũng là ý muốn Thiên Chúa chăng? Nhưng, cũng có thể nhờ những biến cố này, mà chúng ta dễ nhận biết được ai là kẻ thù và ai là người anh em mình. Ai là kẻ gieo cỏ lùng và ai là „lúa tốt“. Ai là kẻ phản bội tiếp tay cho sự gian ác. Ai là tòng phạm và ai là những Chiến Sĩ Hòa bình chân chính đích thực.

Tuy nhiên, rồi ra, chúng ta cũng có thể đặt ra câu hỏi, ai là nạn nhân trong việc bổ nhiệm này? Tin vào sự quan phòng của Chúa? Đâu là thánh ý Chúa?

Đứng trước „Biến cố Đức TGM Ngô Quang Kiệt“, chúng tôi nhớ về sự kiện Đức cố Hồng Y Nguyễn Văn Thuận. Cách đây 35 năm, vào ngày 25/04/1975, Đức giáo Hoàng Phaolô VI, ký tông thư bổ nhiệm Đức Cha Phanxicô Xavê Nguyễn Văn Thuận làm Tổng Giám Mục phó TGM Sàigòn, với quyền kế vị hiệu toà Vadesitana.

Ngày 12/05/1975, trước sự hiện diện của Đức Khâm Sứ Tòa Thánh Henri Lemaitre và Đức TGM Nguyễn Văn Bình, Ngài tuyên thệ nhậm chức tại Tòa TGM Sài Gòn. Nhóm linh mục cấp tiến kéo đồng bọn đến biểu tình và nằm vạ phản đối tại tòa TGM và căng biểu ngữ: „Đả đảo việc Henri Lemaitre áp đặt Nguyễn Văn Thuận làm phó TGM Sàigòn“. Để khỏi làm phiền Đức Tổng Bình, Ngài phải nay đây mai đó, tránh sự phá hoại của nhóm cấp tiến.

„Theo tập tài liệu của Hà Thiên Thu, nhóm Linh mục này gồm có: Nguyễn Quang Lãm, Vương Đình Bích, Thanh Lãng, Trương Bá Cần, Trần Viết Thọ, Nguyễn Văn Trinh, Phan Khác Từ, và Hoàng Kim. [3]

Ngày 27/06/1975, lúc 14 giờ Ngài được giấy của Ủy ban quân quản Sài gòn Gia định mời lên dinh Độc lập. Tháp tùng Ngài có cha Trần Du và cha Nguyễn Quang Thạnh (Nha Trang). Họ cũng mời nhóm Linh mục cấp tiến gồm: Lm Thanh Lãng (Đinh Xuân Nguyên), Lm Nguyễn Huy Lịch O.P, dàn dựng hoạt cảnh đấu tố Đức cha Nguyễn Văn Thuận. Lúc 19 giờ cùng ngày, „Chánh án“ Cao Đăng Chiếm tuyên bố „bứng“ ngài ra khỏi tòa TGM Sài gòn.

Nhưng thay vì buộc Ngài trở về Phan Thiết, thì vào ngày lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời (15/8/75) Ban Quân Quản Tp. Sàigòn đã bắt và giam Ngài luôn cho mãi đến ngày 23/11/1988, nghĩa là sau hơn 13 năm tù đày mới được trả tự do.

Thế mới biết! Đâu là ý Chúa hay đâu là ý nhóm „Linh mục cấp tiến“? Ngay cả việc đại diện tòa thánh, có mặt tại nơi, nhóm Linh Mục cấp tiến cũng không chấp thuận. Thế thì làm gì mà có việc, tay sai Cộng sản, muốn bang giao với Tòa thánh?!

Nhóm „Công giáo tiến bộ“ ở Sài gòn, gồm những Linh Mục hiện diện ra mặt: Lm Thanh Lãng, Lm Phan Khác Từ, Lm Huỳnh Công Minh, đã nhiều lần tổ chức những cuộc biểu tình bạo động.

Không lập bang giao với Tòa thánh, nhóm tay sai linh mục quốc doanh mới có dịp „ra tay“ chứ! Họ chẳng muốn hình thành „Giáo hội tự trị“, do chính họ, những phần tử làm tay sai cho sự ác, điều khiển. Nếu bang giao với Tòa Thánh, thì chẳng nhẽ chính những thành phần „nhóm quốc doanh này“ tự chặt cụt tay mình sao?

Kết luận:

Qua sự kiện TGM Ngô Quang Kiệt, ngày 22/04/2010, chúng ta có vài nhận định sau: Trong lòng giáo Hội Công Giáo Việt nam, vẫn còn những thế lực đen, làm tay sai cho chế độ gian ác. Những phần tử này, sẵn sàng „dâng đầu“ người anh em để tìm hưởng lộc. Họ là những phần tử khá hiểm độc.

Biểu tượng nguồn Hy vọng dường như đang bị đánh phá, để thay thế vào đó, xây dựng hình ảnh làm tay sai tòng phạm, phục tùng thế lực tà thần ma qủy. Thế lực đen này, đã và đang len lỏi vào lòng Giáo Hội và đang tha hồ ra tay ác quái.

Việt Nam, đang hình thành „giáo hội tự trị“, do những thành phần thân Cộng lãnh đạo.

Linh mục trẻ 37 tuổi, Jerzy Popieluszko, phó xứ ở Stanislas, vào trung tuần háng 6 năm nay (2010), sẽ được phong Chân phước Á thánh tử đạo. Ngài tử đạo vì đức tin, vì tự do, vì nhân quyền và vì ái quốc. Ngài là gương anh dũng can đảm đấu tranh cho Công lý và sự thật, không những riêng cho nước Ba lan, mà cho cho Giáo Hội hoàn vũ nữa, và đặc biệt cho Giáo Hội Việt Nam thân yêu của chúng ta.

Vậy, xóa bỏ biểu tượng đấu tranh cho công Lý, dấn thân cho sự thật, giáo Hội Việt nam và đất nước Việt nam sẽ đi về đâu? Nếu không tôn trọng và trân qúi những giá trị chân chính xứng đáng này, thì chúng ta đi tìm giá trị nào? Nếu những giá trị lành mạnh tốt lành không được bảo vệ và phấn đấu, thì e rằng giáo hội Việt Nam khó mà làm chứng nhân cho Hy vọng, Công Lý và tình bác ái đầy lòng nhân từ được.

Hình ảnh mục tử nhân lành cam đảm sẽ tiêu tan. Vậy, rao giảng tin mừng sẽ là gì? Chẳng nhẽ rao giảng sự giả dối, hèn nhát, phản bội, phục tùng sự ác chăng?

Chúng tôi tha thiết kêu gọi quý anh chị em tín hữu, hãy tự trung thành cương trì dấn thân cho Công lý, cho sự thật và cho lẽ phải, bất chấp hàng rào ngăn cản, rồi Chúa sẽ ban sức mạnh và sự khôn ngoan thêm!? Hãy nói thật làm thật và luôn biết cậy trông vào Thiên Chúa và đừng sợ ai! Cây ngay không sợ chết đứng!

Đất nước Việt Nam có được TGM Ngô Quang Kiệt, cũng là dấu hiệu, dân tộc sẽ không thể và cũng sẽ không bao giờ bị diệt vong. Vậy, phải yểm trợ và bảo vệ những tiếng nói Công lý chánh trực này!

Hãy tiếp tục làm chứng nhân cho sự thật và tự tin vững mạnh vào Thiên Chúa! Hãy luôn kiên trì đứng về lẽ phải và sự thật! Đứng về những khối người có lòng thiện ngay!

Công lý, niềm tin ở ai? Không lẽ Công lý đã bị vùi dập bởi chính người anh em con cái của Chúa? Giu-đa, kẻ phản bội, người là ai? Bao nhiêu câu hỏi được đặt ra. Rồi thời gian sẽ trả lời!

Lời trăng trối của cha Jerzy Popieluszko sau đây đáng cho chúng ta ghi nhớ và suy nghĩ: „Bổn phận người Công giáo là đứng về phía Chân Lý, dù phải trả giá đắt!“

Lm Gioan Baotixita Đinh Xuân Minh
(Đức Quốc, thứ ba, ngày 27/24/2010, lễ kính thánh Phêrô Canisinus)

[1] Ðức Cha Nguyễn Văn Nhơn năm nay 72 tuổi, sinh ngày 1 tháng 4 năm 1938 tại Ðà Lạt, thụ phong linh mục ngày 21 tháng 12 năm 1967 và được chọn làm Giám Mục Phó giáo phận Ðà Lạt cách đây 19 năm (3-12-1991) và gần 3 năm sau, ngày 23 tháng 3 năm 1994 ngài kế nhiệm Ðức Cha Bartolomeo Nguyễn Sơn Lâm trong nhiệm vụ Giám mục chính tòa Ðà Lạt. Ðức Cha Nhơn kế nhiệm Ðức Cha Phaolô Nguyễn Văn Hòa trong nhiệm vụ Chủ tịch Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam.

[2] Ðức Tổng Giám Mục Giuse Ngô Quang Kiệt năm nay 58 tuổi (sinh ngày 4 tháng 9 năm 1952), nguyên thuộc giáo phận Long Xuyên, thụ phong linh mục năm 1991, và được chọn làm Giám Mục Lạng Sơn và Cao Bằng năm 1999. 6 năm sau đó ngài thăng Tổng Giám Mục chính tòa giáo phận Hà Nội ngày 19 tháng 2 năm 2005.

Theo niên giám năm 2010 của Tòa Thánh, Tổng giáo phận Hà Nội có gần 335 ngàn tín hữu Công Giáo với 143 giáo xứ và hơn 90 linh mục triều và dòng (SD 22-4-2010).

[3] Nguyễn AnTôn: Công giáo Miền Nam Việt Nam sau 30-4-1975, nhà xuất bản Dân Chúa, Gretna, LA 1988, trang 225.