Wednesday, March 24, 2010

NGÔ VŨ BÍCH DIỄM ĐÃ PHẢN BỘI CHÍNH THÂN PHỤ CỦA MÌNH - Trần Cao Lãnh

    DIỄM XƯA – NGÔ VŨ BÍCH DIỄM
    ĐÃ PHẢN BỘI CHÍNH THÂN PHỤ CỦA MÌNH, GS. NGÔ ĐỐC KHÁNH
Trần Cao Lãnh
QGHC


Kính thưa Bà Con Tỵ Nạn khắp nơi,
Thưa các Bạn QGHC;

Lý do chính thúc đẩy tôi viết bài nầy là vì Ngô Vũ Bích Diễm, nguyên là một công chức cao cấp của VNCH, phục vụ với chức vụ Giám Đốc tại Bộ Xã Hội. Chị Bích Diễm đã tốt nghiệp khóa 12 Ban Đốc Sự của Học Viện QGHC, nơi duy nhứt đào tạo công chức cao cấp cung ứng cho guồng máy hành chánh của VNCH từ địa phương, đến các Bộ Phủ Trung Ương.

Trên nguyên tắc và danh nghĩa những người tốt nghiệp Học Viện QGHC phải là những người tiêu biểu và đại diện cho chế độ VNCH về lãnh vực Hành Chánh. Cũng như Quân Lực VNCH là lực lượng chính yếu để bảo vệ chính thể Tự Do VNCH của Miền Nam Việt Nam.

Do đó, hơn ai hết, hơn mọi ngành nghề chuyên môn khác của VNCH; người công chức tốt nghiệp HV/QGHC phải có trách nhiệm về LẬP TRƯỜNG TỰ DO, chống lại chế độ độc tài Việt Cộng. Bởi vì chính lập trường tự do đó mà người công chức VNCH đã ưng thuận, để được tuyển dụng ăn lương hàng tháng và đương nhiên phải có bổn phận và trách nhiệm bảo vệ lập trường tự do đó !

Theo thiển nghĩ của tôi, tuy VNCH không còn tồn tại nữa ! Nhưng không phải vì thế mà người công chức cũ đã hết trách nhiệm và bổn phận đối với lập trường tự do. Tôi tin chắc rằng nếu người công chức VNCH luôn thức tỉnh và có ý thức thì vẫn nhận ra trách nhiệm của mình. Cụ thể dễ nhìn thấy nhứt là người công chức VNCH cũng bởi không từ bỏ lập trường gắn bó với VNCH nên mới được các nước đồng minh và tự do CHẤP NHẬN cho tái định cư ở những nước của họ với tư cách là người Tỵ Nạn Cộng Sản.

Cho nên những ai , đặc biệt là những công chức VNCH đang sống tỵ nạn ở các nước tự do đều phải có trách nhiệm giữ gìn tư cách tỵ nạn để tự mình trung thành với những lý do mà mình được chấp nhận cho sống bình thường với đầy đủ quyền lợi như bất cứ một công dân địa phương nào.

Hành động cố tình bỏ quên những điều kiện tỵ nạn, lúc nào, hoàn cảnh nào cũng là MỘT HÀNH VI PHẢN BỘI, không thể nào chấp nhận và tha thứ được về phương diên lương tâm và về ân nghĩa mà các nước tiếp cư đã ưu ái dành cho người tỵ nạn Việt Nam chúng ta.

Vì lý đo đó mà tôi xin đề cập đến trường hợp một chị Cựu công chức VNCH là chị Ngô Vũ Bích Diễm, sau nhiều năm sống tỵ nạn tại Hoa Kỳ, gần đây đã đột ngột trở lại Việt Nam theo phái đoàn gọi là từ thiện của Nhóm Phật Giáo Về Nguồn ở California tổ chức.

Tôi không dám đoán chắc là việc chị Bích Diễm đi theo nhóm Phật Giáo Về Nguồn, tức là Phật Giáo Quốc Doanh của Việt Cộng tổ chức trong nước và kéo dài thành tôn giáo vận ở Hải ngoại đã được nhiều đồng môn QGHC thuộc Hội QGHC ở Nam Cali biết rõ từ lâu ??? Tuy nhiên tôi tin chắc là đã có một số ít QGHC thân cận với chị Bích Diễm đã biết từ khuya, mà vì nể tình, vì sợ mích lòng nên đã nín thinh để cho chị Bích Diễm ngang nhiên tiến dần lên mức độ đã CÔNG KHAI VỀ VN “GIAO LƯU” VỚI VIỆT CỘNG vào chuyến đi hồi đầu tháng 3/2010 nầy! (*Chữ “giao lưu” là chữ mà báo chí VC đã dành cho chị Bích Diễm trong bài tường thuật tại Huế ngày 10-3-2010).

Hành động trở về VN theo phái đoàn PG Về Nguồn là một HÀNH ĐỘNG PHẢN BỘI cả Cộng Đồng Tỵ Nạn Hải Ngoại và phản bội cả với đồng bào yêu chuộng, tha thiết mong mỏi tự do ở quê nhà , mà chính những người như Lm. Nguyễn Văn Lý, Ls. Lê Thị Công Nhân, Ls. Trương Công Định … và rất nhiều người khác đang xả thân tranh đấu với bạo quyền Việt Cộng, một Đảng Cướp Chính Hiệu đã hiện nguyên hình.

Mọi việc làm VÔ Ý THỨC như chị Bích Diễm đang làm đều KHÔNG ÍT đã LÀM LỢI CHO VIỆT CỘNG, đều đi ngược lại với mọi tranh đấu cho tự do dân chủ của mọi cố gắng bằng xương máu và tù đày.

Tôi tin chắc rằng: Sẽ có rất nhiều người đã thức tỉnh và quyết chọn đường lối MỚI như Ls. LÊ DUY SAN đã thể hiện gần đây, đã mạnh dạn đứng lên TỐNG CỔ Nguyễn Hữu Liêm ra khỏi bữa tiệc của Hội Luật Gia Cali. Qua việc làm dứt khóat của Ls.San cho thấy đã đến lúc chúng ta phải hành động, nhứt định loại những tên nằm vùng, những tên thân cộng ra khỏi mọi sinh hoạt của Người Tỵ Nạn chúng ta. Thực tế đã chứng minh cho thấy một cách thức mới NHƯ THẾ rất hữu hiệu để cô lập những tên ăn cơm QG thờ ma Cộng Sản. Từ nay đừng hòng trà trộn để tiếp tục gây chia rẽ, gây xáo trộn trong hàng ngũ QG Tỵ nạn mà chúng đã thực hiện an toàn trong nhiều thập niên qua tại Hải Ngoại.

Trường hợp Ngô Vũ Bích Diễm, các anh trong Hội QGHC ở Nam Cali có dám can đảm đứng lên vạch mặt Bích Diễm như Ls. San đã dành cho tên NHLiêm không ???

Vì tôi tin rằng câu chuyện Diễm Xưa- Ngô Vũ Bích Diễm sẽ không dễ dàng chấm dứt ở đây, dù cho cả KHỐI QGHC hay nguyên cả Hội QGHC Nam Cali CỐ LỜ LUÔN thì những người có lương tâm khác sẽ không bỏ qua để làm sáng tỏ vấn đề, vạch mặt Bích Diễm, vạch mặt những đứa núp bóng tỵ nạn để thân cò béo nở , để mà về VN ĐÚ ĐỞN “GIAO LƯU” VỚI VIỆT CỘNG.

Cho nên, trong phạm vi cố thu ngắn bài viết hôm nay, tôi xin phép đi sâu một chi tiết mà đề tài đã ghi rõ bên trên:

NGÔ VŨ BÍCH DIỄM đã phản bội ngay chính thân phụ của mình là giáo sư khả kính NGÔ ĐỐC KHÁNH, một thời ở Huế đã được học sinh Huế rất nể trọng.

GIAI THOẠI.

Tôi xin thưa ngay đây là một GIAI THOẠI, là vì tôi chỉ nghe nói và đã đọc được ở một tài liệu, một bài viết nào đó mà tôi đã quên tên tác giả và cũng chỉ nghe một chiều. Nên cá nhân tôi không dám quả quyết câu chuyện nhỏ sau đây là thật 100% ! Vì thế nếu bất cứ ai hiểu rõ đâu là sự thật thì xin mạnh dạn lên tiếng giùm !!!

NHƯNG, nếu như GIAI THOẠI sau đây là THẬT , thì so với những gì mà chị Bích Diễm đang làm công khai ở VN thì quả là MỘT HÀNH VI PHẢN BỘI CHA MÌNH Gs. NGÔ ĐỐC KHÁNH trước tiên hơn ai hết.

“Từ trước đến nay, đã kéo dài chừng 50 năm qua, mà hầu hết những ai sống dưới thời VNCH đã ít nhiều nghe đến chuyện: Trịnh Công Sơn đã MÊ cô Ngô Vũ Bích Diễm một chiều, say đắm mà không được đáp ứng, vô vọng nên đã sáng tác bài nhạc DIỄM XƯA (Diễm Ngày Xưa) rất hay, nổi tiếng để đời và từ đó nhân vật là nguồn cảm hứng đã đi vào huyền thoại với cái tên Diễm Xưa.

Và trong suốt 50 năm qua, chưa ai từng chính thức được nghe đương sự Diễm Xưa - tức là Ngô Vũ Bích Diểm , một tên tuổi có thật bằng da, bằng thịt … đứng ra xác nhận một điều gì !!!

Chính thái độ im lặng đó đã mặc nhiên ÁM CHỈ, Ngô Vũ Bích Diễm không phải là người tình của Trịnh Công Sơn và sau năm 1975 khi mà Trịnh Công Sơn đã hiện nguyên hình là một tên VIỆT CỘNG VĂN CÔNG VẬN CHO VIỆT CỘNG, thì những người QG và nhứt là Tỵ Nạn Hải Ngoại đều không ưa, đều thù oán Trịnh Công Sơn và từ đó đa số mọi người hình như đều gia tăng sự kính nể Ngô Vũ Bích Diễm; là bởi vì người ta tin rằng: Ngô Vũ Bích Diễm ĐÃ KHÔNG THÈM NGÓ TỚI TRỊNH CÔNG SƠN !!!?

Bên cạnh đó, Giáo sư Ngô Đốc Khánh , một người Cha khá nghiêm khắc đã để lại một câu chuyện đồn đại về Trịnh Công Sơn và Bích Diễm như vầy đây:

Một hôm, Ngô Vũ Bích Diễm đã tiếp Trịnh Công Sơn ở nhà. Sau khi TCSơn ra về, giáo sư Khánh hỏi Bích Diễm: Con tiếp ai vậy ? Khi được biết người đó là Trịnh Công Sơn thì giáo sư Khánh đã ra lệnh cho Bích Diễm là từ nay phải chấm dứt, không được quen biết với Trịnh Công Sơn nữa.

Hình như vì sự ngăn cấm đó mà Bích Diễm không hề quen biết với Trịnh Công Sơn xa hơn ! Câu chuyện nầy được lưu truyền ra ngoài , khiến cho nhiều người rất có cảm tình với Bích Diễm và đa số đều ngầm thán phục tấm lòng nể cha, vì cha, biết ngoan ngoãn nghe lời cha của Bích Diễm.

NHƯNG MÀ mới đây tại Huế, Ngô Vũ Bích Diễm phát biểu , được báo chí VC ghi lại như sau:

"người xưa" tâm sự: "Trong bài này anh Trịnh Công Sơn viết về vẻ đẹp của Huế nhiều hơn là về ... tôi.

Tôi nghĩ vậy. Ðó là bóng dáng của Thành nội cổ kính, của dòng sông Hương xanh mát và huyền hoặc, là không khí lãng đãng của thơ, của nhạc". "Nhiều người tò mò vì sao Diễm im lặng trong suốt mấy mươi năm?". "Vì tính tôi như vậy, không muốn ra trước công chúng. Tôi cũng không biết nói gì và không biết có ai cần gì ở mình hay không. Và cũng bởi vì bóng dáng to lớn của anh Trịnh Công Sơn đã đủ rồi!", "Diễm xưa" nói.

Và điều chờ đợi của tất cả mọi người trong đêm, đó là câu chuyện của Diễm: “Tôi là gái Bắc, theo cha vào Huế năm 1952, bố tôi là giáo sư Ngô Đốc Khánh, dạy tiếng Pháp ở Trường Quốc học. Tôi theo học lần lượt ở Trường Đồng Khánh, Quốc học, đến năm 1963 tôi vào học đại học ở Sài Gòn, sau đó sang định cư ở Mỹ. Nhà tôi ở số 46 đường Phan Chu Trinh (cũ), gần cầu Phủ Cam, là nơi gần anh Sơn ở (khu cư xá trên đường Nguyễn Trường Tộ - TP Huế). Lần đầu tôi gặp anh Sơn ngay tại nhà tôi. Anh đi theo anh Đinh Cường đến thăm Nguyễn Việt Hằng, một người bạn thân của tôi lúc đó đang ở lại nhà tôi để học hè. Sau đó thấy anh Sơn một mình quay trở lại. Anh viết nhạc và có tặng tôi mấy bài. Hồi đó còn trẻ lắm nên cũng biết lơ mơ vậy thôi… Sau này tôi mới biết thông qua hai người em của anh Sơn về câu chuyện nhánh dạ lan hương mà tôi tặng anh đã gây một chấn động mạnh nơi anh. Đó là một kỷ niệm thật đẹp, thật liêu trai…!”.

Qua những lời phát biều nầy, NẾU ĐÚNG 100% NHƯ VẬY, thì chính Bích Diễm nay đã CỐ XÍCH GẦN LẠI TRỊNH CÔNG SƠN. Điều mà Giáo Sư NGÔ ĐỐC KHÁNH đã CẤM ĐOÁN những năm xưa.”

Do đó, theo tôi ngày nay Ngô Vũ Bích Diễm đã thay đổi, đã công khai PHẢN BỘI NGƯỜI VIỆT TỴ NẠN và cụ thể nhứt, rõ ràng nhứt là NGÔ VŨ BÍCH DIỄM đã nhẫn tâm PHẢN BỘI người cha thân yêu, đáng kính của mình là Giáo Sư Ngô Đốc Khánh. Bằng cách sau 50 năm dài, tưởng rằng Bích Diễm đã nghe lời cha, tôn trọng cha … nào ngờ đó chỉ là một thái độ giả dối, được che giấu kỹ , để rồi vì hám danh mà trở thành một đứa vô liêm sỉ, sẵn sàng nói những lời bợ đỡ “GIAO LƯU” với kẻ thù.

Tôi xin mạn phép dừng lại ở đây và mong rằng quý bà con và quý đồng môn QGHC sẽ có nhiều nhận xét và phán đoán chính xác cần thiết hơn !.

Trần Cao Lãnh
QGHC/USA.
Tháng 3/2010

Thơ Hồ Công Tâm

    ÂM BINH BẢO VỆ ANH THƯ CUỘI

    Kết lá bồ đề đựng cháo hoa
    Thắp nhang cúng thí gốc cây đa
    Âm binh, các đẳng cô hồn sống
    Băng đảng, hậu thân "kháng chiến ma"

    Thằng hét thằng la quăng nón cối,

    Đứa tung đứa hứng lãnh đô-la
    "Đánh trâu" bảo vệ anh thư Cuội
    Kêu gọi tham gia Quốc Hội tà !

    23.3.2010
    Hồ Công Tâm

      MÀNG LƯỚI ÂM BINH

      Tay sai băng đảng, lũ âm binh
      Nick quỷ, nick ma quậy thúi ình
      Ruồi nhặng vo ve nghe điếc ráy
      Khuyển ưng bát nháo kháo linh tinh

      Mồm loa mép giải nhào tung hứng

      Đá cá lăn dưa đứng rập rình
      Xanh đỏ nhập nhằng toan đánh lận
      Thấy trò điên đảo khó mần thinh!

      20.3.2010
      Hồ Công Tâm


Tiếc Cho Một Người Lầm Đường Lạc Lối Đã Nằm Xuống - TS.Mai Thanh Truyết



Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa

TS.Mai Thanh Truyết

(Thân tặng tất cả những người Việt còn có tấm lòng yêu quê hương).

Lời nói đầu.

- Bà Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa (DQH) nằm xuống ngày thứ bảy 25–2–2006 tại Sài Gòn, và được hỏa táng vào ngày thứ ba 28/2. Báo chí trong nước cho đến hôm nay, không hề loan tải tin tức trên. Đài BBC có phỏng vấn Ông Võ Nhơn Trí ở Pháp về tin nầy và phát đi ngày 28/2.

Sự im lặng của Việt Nam khiến cho người viết thấy có nhu cầu trang trãi và chia xẻ một số suy nghĩ về cái chết của BS DQH để từ đó rút ra thêm một kinh nghiệm sống về tính chất "chuyên chính vô sản" của những người cầm quyền tại Việt Nam hiện tại.


Ô. Bà DQH và Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam

BS. DQH là một người sống trong một gia đình theo Tây học, có uy tín và thế lực trong giới giàu có ở Sài Gòn từ thập niên 40. Cha là GS Dương Minh Thới và anh là LS Dương Trung Tín; gia đình sống trong một biệt thự tại đường Bà Huyện Thanh Quan xéo góc Bộ Y tế (VNCH) nằm trên đường Hồng Thập Tự. LS Tín đã bị ám sát tại Đà Lạt trong đó cái chết của ông cũng không được soi sáng, nhưng đa phần có nhiều nghi vấn là do lý do chính trị vì ông có khuynh hướng thân Pháp thời bấy giờ.

Về phần Bà Hoa, được đi du học tại Pháp vào cuối thập niên 40, đã đỗ bằng Bác sĩ Y khoa tại Paris và về lại Việt Nam vào khoảng 1957 (?). Bà có quan niệm cấp tiến và xã hội, do đó Bà đã gia nhập vào Đảng CS Pháp năm 1956 trước khi về nước.

Từ những suy nghĩ trên, Bà hoạt động trong lãnh vực y tế và lần lần được móc nối và gia nhập vào Đảng CSVN.

Tháng 12/1960, Bà trở thành một thành viên sáng lập của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam VN dưới bí danh Thùy Dương, nhưng còn giữ bí mật cho đến khi Bà chạy vô "bưng" qua ngõ Ba Thu –Mõ Vẹt xuyên qua Đồng Chó Ngáp. Ngay sau biến cố Tết Mậu Thân, tin tức trên mới được loan tải qua đài phát thanh của Mặt Trận.

Khi vào trong bưng, Bà gặp GS Huỳnh Văn Nghị (HVN) và kết hôn với GS.

Nói về GS Huỳnh Văn Nghị, Ông cũng là một sinh viên du học tại Pháp, đỗ bằng Cao học (DES) Toán. Về VN năm 1957, ông dạy học tại trường Petrus Ký trong hai năm, sau đó qua làm ở Nha Ngân sách và Tài chánh. Ông cũng có tinh thần thân Cộng, chạy vô "bưng" năm 1968 và được kết nạp vào đảng sau đó.

Do "uy tín" chính trị quốc tế của Bà Hoa thời bấy giờ rất cao, Mặt Trận, một lá bài của CS Bắc Việt, muốn tận dụng uy tín nầy để tạo sự đồng thuận với chính phủ Pháp hầu gây rối về mặt ngoại giao cho VNCH và đồng minh Hoa Kỳ. Từ những lý do trên, Bà Hoa là một người rất được lòng Bắc Việt, cũng như ông Chồng là GS HVN cũng được nâng đỡ theo.

Vào đầu thập niên 70, Ông được chuyển ra Bắc và được huấn luyện trong trường đảng. Tại đây, với một tinh thần thông thoáng dân tộc, cộng thêm nhiều lý luận toán học, Ông đã phân tích và chứng minh những lý thuyết giảng dạy ở trường đảng đều không có căn bản lý luận vững chắc và Ông tự quyết định rời bỏ không tiếp tục theo học trường nầy nữa.

Nhưng chính nhờ uy tín của Bà DQH trong thời gian nầy cho nên ông không bị trở ngại về an ninh. Cũng cần nên nói thêm là ông đã từng được đề cử vào chức vụ Bộ trưởng Kinh tế nhưng ông từ chối.

Ô.B DQH và Đảng Cộng sản VN

Chỉ một thời gian ngắn sau khi CS Bắc Việt giải tán Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam, Ô Bà lúc đó mới vỡ lẽ ra. Về phần Ô HVN, ông hoàn toàn không hợp tác với chế độ.

Năm 1976, trong một buổi ăn tối với 5 người bạn thân thiết, có tinh thần "tiến bộ", Ông đã công khai tuyên bố với các bạn như sau: "Các "toi" muốn trốn thì trốn đi trong lúc nầy. Đừng chần chờ mà đi không kịp. Nếu ở lại, đừng nghĩ rằng mình đã có công với "cách mạng" mà "góp ý" với đảng".

Ngay sau đó, một trong người bạn thân là Nguyễn Bá Nhẫn vượt biên và hiện cư ngụ tại Pháp. Còn 4 người còn lại là Lý Chánh Trung (giáo sư văn khoa Sài Gòn), Trần Quang Diệu (TTKý Viện Đại học Đà Lạt), Nguyễn Đình Long (Nha Hàng không Dân sự), và một người nữa người viết không nhớ tên ... không đi.

Ông Trung và Long hiện còn ở Việt Nam, còn ông Diệu đang cư ngụ ở Canada.

Trở lại BS DQH, sau khi CS chiếm đóng miền Nam tháng 4/1975, Bà Hoa được "đặt để" vào chức vụ Tổng trưởng Y tế, Xã hội, và Thương binh trong nội các chính phủ.

Vào tháng 7/75, Hà Nội chính thức giải thể chính phủ Lâm thời và nắm quyền điều hành toàn quốc, chuyển Bà xuống hàng Thứ trưởng và làm bù nhìn như Nguyễn Hữu Thọ, Nguyễn Thị Bình, Nguyễn Thị Định …

Chính trong thời gian nầy Bà lần lần thấy được bộ mặt thật của đảng CS và mục tiêu của họ không phải là phục vụ đất nước Việt Nam mà chính là làm nhiệm vụ của CS quốc tế là âm mưu nhuộm đỏ vùng Đông Nam Á.

Vào khoảng cuối thập niên 70, Bà đã trao đổi cùng Ô Nguyễn Hữu Thọ: "Anh và tôi chỉ đóng vai trò bù nhìn và chỉ là món đồ trang sức rẻ tiền cho chế độ. Chúng ta không thể phục vụ cho một chế độ thiếu dân chủ và không luật lệ. Vì vậy tôi thông báo cho anh biết là tôi sẽ trả lại thẻ Đảng và không nhận bất cứ nhiệm vụ nào trong chính phủ cả".

Đến năm 1979, Bà chính thức từ bỏ tư cách đảng viên và chức vụ Thứ trưởng. Dĩ nhiên là Đảng không hài lòng với quyết định nầy; nhưng vì để tránh những chuyện từ nhiệm tập thể của các đảng viên gốc miền Nam, họ đề nghị Bà sang Pháp. Nhưng sau cùng, họ đã lấy lại quyết định trên và yêu cầu Bà im lặng trong vòng 10 năm.

Mười năm sau đó, sau khi được "phép" nói, Bà nhận định rằng: Đảng CS Việt Nam tiếp tục xuất cảng gạo trong khi dân chúng cả nước đang đi dần đến nạn đói. Và nghịch lý thay, họ lại yêu cầu thế giới giúp đỡ để giải quyết nạn nghèo đói trong nước.

Trong thời gian nầy Bà tuyên bố: "Trong hiện trạng của Đất Nước hiện tại (thời bấy giờ), xuất cảng gạo tức là xuất cảng sức khỏe của người dân" Và Bà cũng là một trong những người đầu tiên lên tiếng báo động vào năm 1989 cho thế giới biết tệ trạng bán trẻ em Việt Nam ngay từ 9, 10 tuổi cho các dịch vụ tình dục trong khách sạn và các khu giải trí dành cho người ngoại quốc do các cơ quan chính phủ và quân đội điều hành.

Sau khi rời nhiệm vụ trong chính phủ, Bà trở về vị trí của một BS nhi khoa. Qua sự quen biết với giới trí thức và y khoa Pháp, Bà đã vận động được sự giúp đở của hai giới trên để thành lập Trung Tâm Nhi Khoa chuyên khám và chữa trị trẻ em không lấy tiền và Bà cũng được viện trợ thuốc men cho trẻ em Việt Nam suy dinh dưỡng nhất là acid folic và các lọai vitamin. Nhưng tiếc thay, số thuốc trên khi về Việt Nam đã không đến tay Bà mà tất cả được chuyển về Bắc.

Bà xin chấm dứt viện trợ, nhưng lại được "yêu cầu" phải xin lại viện trợ vì … nhân dân (của Đảng!).

Về tình trạng trẻ con suy dinh dưỡng, với tính cách thông tin, chúng tôi xin đưa ra đây báo cáo của Bà Anneke Maarse, chuyên gia tư vấn của UNICEF trong hội nghị ngày 1/12/03 tại Hà Nội:

"Hiện Việt Nam có 5,1 triệu người khuyết tật chiếm 6,3% trên tổng số 81 triệu dân. Qua khảo sát tại 648 gia đình tại ba vùng Phú Thọ, Quảng Nam và Tp HCM cho thấy có tới 24% trẻ em tàn tật dạng vận động, 92,3% khuyết tật trí tuệ, và 19% khuyết tật thị giác lẫn ngôn ngữ. Trong số đó tỷ lệ trẻ em khuyết tật bẩm sinh chiếm tới 72%."

Vào năm 1989, Bà đã được ký giả Morley Safer, phóng viên của đài truyền hình CBS phỏng vấn. Những lời phỏng vấn đã được ghi lại trong cuốn sách của ông dưới tựa đề Flashbacks on Returning to Việt Nam do Random House, Inc. NY, 1990 xuất bản. Qua đó, một sự thật càng sáng tỏ là con của Bà, Huỳng Trung Sơn bị bịnh viêm màng não mà Bà không có thuốc để chữa trị khi còn ở trong bưng và đây cũng là một sự kiện đau buồn nhất trong đời Bà. Cũng trong cuốn sách vừa kể trên, Bà cũng đã tự thú là đã sai lầm ở một khoảng thời gian nào đó. Nhưng Bà không luyến tiếc vì Bà đã đạt được mục đích là làm cho những người ngoại quốc ra khỏi đất nước Việt Nam.

Sau cùng, chúng tôi xin liệt kê ra đây hai trong những nhận định bất hủ của BS DQH là: "Trong chiến tranh, chúng tôi sống gần nhân dân, sống trong lòng nhân dân. Ngày nay, khi quyền lực nằm an toàn trong tay rồi, đảng đã xem nhân dân như là một kẽ thù tiềm ẩn". Và khi nhận định về bức tường Bá Linh, Bà nói:" Đây là ngày tàn của một ảo tưởng vĩ đại".

BS DQH và Vụ kiện Da Cam

Theo nhiều nguồn dư luận hải ngoại, trước khi ký kết Thương ước Mỹ-Việt dưới nhiệm kỳ của Tổng thống Clinton, hai chính phủ đã đồng ý trong một cam kết riêng không phổ biến là Việt Nam sẽ không đưa vụ Chất độc màu Da cam để kiện Hoa Kỳ, và đổi lại, Mỹ sẽ ký thương ước với Việt Nam và sẽ không phủ quyết để Việt Nam có thể gia nhập vào Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) trong tương lai.

Có lẽ vì "mật ước" Mỹ-Việt vừa nêu trên, nên Việt Nam cho thành lập Hội Nạn nhân chất Độc Da cam/Dioxin Việt Nam ngày 10/1/2004 ngay sau khi có quyết định chấp thuận của Bộ Nội vụ ngày 17/12/2003. Đây là một Hội dưới danh nghĩa thiện nguyện nhưng do Nhà Nước trợ cấp tài chính và kiểm soát. Ban chấp hành tạm thời của Hội lúc ban đầu gồm:

- Bà Nguyễn Thị Bình, nguyên Phó chủ tịch nước làm Chủ tịch danh dự;

- Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp, nguyên Phó chủ nhiệm Tổng cục chính trị QĐND làm Chủ tịch;

- GS,BS Nguyễn Trọng Nhân, nguyên Bộ trưởng Y tế, Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ Việt Nam làm Phó Chủ tịch;

- Ô Trần Văn Thụ làm Thư ký.

Trong buổi lễ ra mắt, Bà Bình đã khẳng định rõ ràng rằng: "Chính phủ Mỹ và các công ty sản xuất chất độc hoá học da cam phải thừa nhận trách nhiệm tinh thần, đạo đức và pháp lý. Những người phục vụ chính thể Việt Nam Cộng Hòa cũ ở miền Nam không được đưa vào danh sách trợ cấp".

Theo một bản tin của Thông tấn xã Việt Nam thì đây là một tổ chức của những nạn nhân chất Da cam, cũng như các cá nhân, tập thể tự nguyện đóng góp để giúp các nạn nhân khắc phục hậu quả chất độc hoá học và là đại diện pháp lý của các nạn nhân Việt Nam trong các quan hệ với các tổ chức và cơ quan trong cũng như ngoài nước. Thế nhưng, trong danh sách nạn nhân chất da cam trong cả nước được Việt Nam ước tính trên 3 triệu mà chính phủ đã thiết lập năm 2003 để cung cấp tiền trợ cấp hàng tháng, những nạn nhân đã từng phục vụ cho VNCH trước đây thì không được đưa vào danh sách nầy (Được biết năm 2001, trong Hội nghị Quốc tế tại Hà Nội, số nạn nhân được Việt Nam nêu ra là 2 triệu!). Do đó có thể nói rằng, việc thành lập Hội chỉ có mục đích duy nhất là hỗ trợ cho việc kiện tụng mà thôi.

Vào ngày 30/1/2004, Hội đã nộp đơn kiện 37 công ty hóa chất ở Hoa Kỳ tại tòa án liên bang Brooklyn, New York do luật sư đại diện cho phía Việt Nam là Constantine P. Kokkoris. (Được biết LS Kokkoris là một người Mỹ gốc Nga, đã từng phục vụ cho tòa Đại sứ Việt ở Nga Sô và có vợ là người Việt Nam họ Bùi). Hồ sơ thụ lý gồm 49 trang trong đó có 240 điều khoảng.

Danh sách nguyên đơn liệt kê như sau:

- Hội Nạn nhân Chất Da cam/Dioxin Việt Nam;

- Bà Phan Thị Phi Phi, giáo sư Đại học Hà Nội;

- Ông Nguyễn Văn Quý, cựu chiến binh tham chiến ở miền Nam trước 1975, cùng với hai người con là Nguyễn Quang Trung (1988) và Nguyễn Thị Thu Nga (1989);

- Bà Dương Quỳnh Hoa, Bác sĩ, nguyên Bộ trưởng Y tế Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam, và con là Huỳnh Trung Sơn; và

- Những người cùng cảnh ngộ.

Đây là một vụ kiện tập thể (class action) và yêu cầu được xét xử có bồi thẩm đoàn. Các đương đơn tố các công ty Hoa Kỳ đã vi phạm luật pháp quốc tế và tội ác chiến tranh, vi phạm luật an toàn sản phẩm, cẩu thả và cố ý đả thương, âm mưu phạm pháp, quấy nhiễu nơi công cộng và làm giàu bất chánh để

(1) đòi bồi thường bằng tiền do thương tật cá nhân, tử vong, và dị thai và

(2) yêu cầu tòa bắt buộc làm giảm ô nhiễm môi trường, và

(3) để hoàn trả lại lợi nhuận mà các công ty đã kiếm được qua việc sản xuất thuốc khai quang.

Không có một bằng chứng nào được đính kèm theo để biện hộ cho các cáo buộc, mà chỉ dựa vào tin tức và niềm tin (nguyên văn là upon information and belief). Tuy nhiên, đơn kiện có nêu đích danh một số nghiên cứu mới nhất về dioxin của Viện Y khoa thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Hoa Kỳ, công ty cố vấn Hatfield Consultants của Canada, Bác sĩ Arnold Schecter của trường Y tế Công cộng Houston thuộc trường Đại học Texas, và Tiến sĩ Jeanne Mager Stellman của trường Đại học Columbia, New York.

Chúng tôi đặc biệt quan tâm đến trường hợp của BS Dương Quỳnh Hoa cũng như quá trình hoạt động của Bà từ những năm 50 cho đến hiện tại. Tên Bà nằm trong danh sách nguyên đơn cũng là một nghi vấn cần phải nghiên cứu cặn kẽ.

Theo nội dung của hồ sơ kiện tụng, từ năm 1964 trở đi, Bà thường xuyên đi đến thành phố Biên Hòa và Sông Bé (?) là những nơi đã bị phun xịt thuốc khai quang nặng nề.

Từ năm 1968 đến 1976, nguyên đơn BS Hoa là Tổng trưởng Y tế của Chính phủ Lâm thời Cộng hòa miền Nam và ngụ tại Tây Ninh. Trong thời gian nầy Bà phải che phủ trên đầu bằng bao nylon và đã đi ngang qua một thùng chứa thuốc khai quang mà máy bay Mỹ đã đánh rơi.

(Cũng xin nói ở đây là chất da cam được chứa trong những thùng phuy 200L và có sơn màu da cam. Chất nầy được pha trộn với nước hay dầu theo tỷ lệ 1/20 hay hơn nữa và được bơm vào bồn chứa cố định trên máy bay trước khi được phun xịt. Như vậy làm gì có cảnh thùng phuy rơi rớt!?).

Năm 1970, Bà hạ sinh đứa con trai tên Huỳnh Trung Sơn (cũng có tên trong đơn kiện như một nguyên đơn, tuy đã mất) bị phát triển không bình thường và hay bị chứng co giật cơ thể. Sơn chết vào lúc 8 tháng tuổi.

Trong thời gian chấm dứt chiến tranh, BS Hoa bắt đần bị chứng ngứa ngáy ngoài da.

Năm 1971, Bà có mang và bị sẩy thai sau 8 tuần lễ.

Năm 1972, Bà lại bị sẩy thai một lần nữa, lúc 6 tuần mang thai. Năm 1985, BS Hoa đã được chẩn bịnh tiểu đường.

Và sau cùng năm 1998 Bà bị ung thư vú và đã được giải phẩu. Năm 1999, Bà được thử nghiệm máu và BS Schecter (Hoa Kỳ) cho biết là lượng Dioxin trong máu của Bà có nồng độ là 20 ppt (phần ức).

Và sau cùng, kết luận trong hồ sơ kiện tụng là: Bà BS Hoa và con là nạn nhân của chất độc Da cam.

Qua những sự kiện trên chúng ta thấy có nhiều điều nghịch lý và mâu thuẫn về sự hiện diện của tên Bà trong vụ kiện ở Brooklyn?

Để tìm giải đáp cho những điều nghịch lý trên, chúng tôi xin trích dẫn những phát biểu của Bà trong một cuộc tiếp xúc thân hữu tại Paris trung tuần tháng 5/2004.

Theo lời Bà (từ miệng Bà nói, lời của một người bạn tên VNT có mặt trong buổi tiếp xúc trên) thì "người ta đã đặt tôi vào một sự đã rồi (fait accompli).

"Tên tôi đã được ghi vào hồ sơ kiện không có sự đồng ý của tôi cũng như hoàn toàn không thông báo cho tôi biết. Người ta chỉ đến mời tôi hợp tác khi có một ký giả người Úc thấy tên tôi trong vụ kiện yêu cầu được phỏng vấn tôi. Tôi chấp nhận cuộc gặp gỡ với một điều kiện duy nhất là tôi có quyền nói sự thật, nghĩa là tôi không là người khởi xướng vụ kiện cũng như không có ý muốn kiện Hoa Kỳ trong vấn đề chất độc da cam." Dĩ nhiên cuộc gặp gỡ giữa Bà Hoa và phóng viên người Úc không bao giờ xảy ra.

Bà còn thêm rằng: "Trong thời gian mà tất cả mọi người nhất là đảng CS bị ám ảnh về việc nhiễm độc dioxin, tôi cũng đã nhờ một BS Hoa Kỳ khám nghiệm (khoảng 1971) tại Pháp và kết quả cho thấy là lượng dioxin trong máu của tôi dưới mức trung bình (2ppt)."

Đến đây, chúng ta có thể hình dung được kết quả của vụ kiện. Và ngày 10 tháng 3 năm 2005, Ông chánh án Jack Weinstein đã tuyên bố hủy bõ hoàn toàn vụ kiện tại tòa án Brooklyn, New York.

Bài học được rút ra từ cái chết của BS DQH

Từ những tin tức về đời sống qua nhiều giai đoạn của Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa, hôm nay Bà đã đi trọn quãng đường của cuộc đời Bà. Những bước đầu đời của Bà bắt đầu với bầu nhiệt huyết của tuổi thanh niên, lý tưởng phục vụ cho tổ quốc trong sáng. Nhưng chính vì sự trong sáng đó Bà đã không phân biệt và bị mê hoặc bởi những lý thuyết không tưởng của hệ thống cộng sản thế giới. Do đó Bà đã bị lôi cuốn vào cơn gió lốc của cuộc chiến VN. Và Bà đã đứng về phía người Cộng sản.

Khi đã nhận diện được chân tướng của họ, Bà bị vỡ mộng và có phản ứng ngược lại. Nhưng vì thế cô, Bà không thể nào đi ngược lại hay "cải sửa" chế độ. Rất may cho Bà là Bà chưa bị chế độ nghiền nát. Không phải vì họ sợ hay thương tình một người đã từng đóng góp cho chế độ (trong xã hội CS, loại tình cảm tiểu tư sản như thế không thể nào hiện hữu được), nhưng chính vì họ nghĩ còn có thể lợi dụng được Bà trong những mặc cả kinh tế – chính trị giữa các đối cực như Pháp và Hoa Kỳ, trong đó họ chiếm vị thế ngư ông đắc lợi. Vì vậy, họ không triệt tiêu Bà.

Hôm nay, chúng ta có thể tiếc cho Bà, một người Việt Nam có tấm lòng yêu nước nhưng không đặt đúng chỗ và đúng thời điểm; do đó, khi đã phản tỉnh lại bị chế độ đối xử tệ bạc. Tuy nhiên, với một cái chết trong im lặng, không kèn không trống, không một thông tin trên truyền thông về một người đã từng có công đóng góp một phần cho sự thành tựu của chế độ như Bà đã khiến cho chúng ta phải suy nghĩ, suy nghĩ về tính vô cảm của người cộng sản, cũng như suy nghĩ về tính chuyên chính vô sản của hệ thống xã hội chủ nghĩa. Đối với chế độ hiện hành, sẽ không bao giờ có được sự đối thoại bình đẳng, trong đó tinh thần tôn trọng dân chủ dứt khoát không hề hiện hữu như các sinh hoạt chính trị của những quốc gia tôn trọng nhân quyền trên thế giới. Vì vậy, với cơ chế trên, hệ thống XHCN sẽ không bao giờ biết lắng nghe những tiếng nói "đóng góp" đích thực cho công cuộc xây dựng Đất và Nước cả.

Bài học DQH là một bài học lớn cho những ai còn hy vọng rằng cơ hội ngày hôm nay đã đến cho những người còn tâm huyết ở hải ngoại ngõ hầu mang hết khả năng và kỹ năng về xây dựng quê hương. Hãy hình dung một đóng góp nhỏ nhặt như việc cung cấp những thông tin về nguồn nước ở các sông ngòi ở Việt Nam đã bị kết án là vi phạm "bí mật quốc gia" theo Quyết định của Thủ tướng Việt Nam số 212/203/QĐ-TTg ký ngày 21/10/2003. Như vậy, dù là "cùng là máu đỏ Việt Nam" nhưng phải là máu đã "cưu mang" một chủ thuyết ngoại lai mới có thể được xem là chính danh để xây dựng quê hương Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Chúng ta, những người Việt trong và ngoài nước, còn nặng lòng với đất nước, tưởng cũng cần suy gẫm trường hợp Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa ngõ hầu phục vụ tổ quốc và dân tộc trong sự thức tỉnh, đừng để bị mê hoặc bởi chủ thuyết cưỡng quyền.

Tổ quốc là đất nước chung - Dân tộc là tất cả thành tố cần phải được bảo vệ và thừa hưởng phúc họa bình đẳng với nhau. Rất tiếc điều này không xảy ra cho Việt Nam hiện tại.

Ghi chú: Ngày 03/3/2006, trên báo SGGP, GS Trần Cửu Kiếm, nguyên ủy viên Ban Quân y miền Nam, một người bạn chiến đấu của Bà trong MTDTGPMN, có viết một bài ngắn để kỷ niệm về BS DQH. Chỉ một bài duy nhứt từ đó đến nay.

Mong tất cả trí thức Việt Nam, đặc biệt là trí thức miền Nam học và thấm thía bài học nầy qua trường hợp của BS Dương Quỳnh Hoa.

TS.Mai Thanh Truyết



Phan Châu Trinh Và Đảng Viên Trẻ Của csVN - Đỗ Thái Nhiên

Đỗ Thái Nhiên

Đấu tranh đòi hỏi tự do dân chủ cho Việt Nam vừa là quyền vừa là nghĩa vụ của mỗi con dân Việt. Thế nhưng, do ngại gian khổ, hoặc do bị cuốn hút bởi những ăn chơi ầm ỉ dưới chế độ XHCNVN, một số người đã dửng dưng đứng bên lề cuộc đấu tranh kia. Họ thường tự biện hộ rằng: giới lãnh đạo CS gửi con cái đi du học tại các quốc gia Âu Mỹ ngày càng đông đảo. Học xong, quay trở về nước, đám con cháu CS sẽ canh tân quốc gia, Việt Nam sẽ từ từ dân chủ hóa. Do đó, “bất chiến tự nhiên thành”. Tại sao lại phải đấu tranh dân chủ cho Việt Nam? Đấu tranh như vậy làm tiêu hao nhân lực và tài lực của quốc gia một cách không cần thiết. Câu hỏi được đặt ra là: Phải chăng hàng ngũ du sinh CS, khi trở về nước, hiển nhiên là động cơ giúp đất nước cất cánh tiến bộ? Sau đây là câu trả lời:

Năm 2002, lấy lý do tiền giấy dễ bị giả mạo, ông Lê Đức Thúy, thống đốc ngân hàng trung ương CSVN quyết định dùng tiền nhựa polymer thay thế tiền giấy. Lê Đức Thúy chọn mua giấy nhựa polymer và mực in tiền tại công ty Banktech, công ty nhập cảng độc quyền, do con trai của Lê Đức Thúy là Lê Đức Minh làm giám đốc. Lê Đức Minh lại nhờ Lương Ngọc Anh làm trung gian để mua polymer và mực từ công ty Securency của Úc Đại Lợi. Như vậy, chủ mua là bố con Lê Đức Thúy. Chủ bán là Securency. Trung gian là Lương Ngọc Anh. Sở dĩ thủ tục mua bán chạy vòng vo như vừa kể là vì Lê Đức Thúy muốn tránh những hệ lụy hình sự có thể có do các gian trá chung quanh khoản tiền gọi là “hoa hồng”.

Thế rồi đúng như Lê Đức Thúy tiên liệu: Ngày 30/10/2009, từ Melbourne Úc Đại Lợi, tin tức cho biết: cơ quan an ninh Úc đang hướng cuộc điều tra vào ông Lương Ngọc Anh tổng giám đốc công ty Phát Triển Công Nghệ tại Hà Nội về việc đút và nhận hối lộ trên mười triệu Úc Kim trong dịch vụ phát hành tiền polymer do Lê Đức Thúy quyết định.

Được biết, Lương Ngọc Anh, 47 tuổi, trước kia du học ở Úc, tốt nghiệp cử nhân đại học Monash University. Ra trường Lương Ngọc Anh làm việc tại một công ty ở Victoria, chuyên cung cấp trang thiết bị cho ngành an ninh. Về nước, Lương Ngọc Anh làm tổng giám đốc công ty Phát Triển Công Nghệ, tên gọi tắt là CFTD. Công ty này chuyên cung cấp hàng hóa dịch vụ cho lực lượng công an, tình báo. Rõ ràng sau lưng Lương Ngọc Anh là bộ công an Hà Nội. Ngoài ra, CFTD còn buôn bán máy rút tiền ATM, tin học viễn thông cho ngân hàng và các cơ quan tài chánh. Chung quanh CFTD có nhiều công ty con khác, trong đó có công ty Banktech do Lê Đức Minh, con trai của Lê Đức Thúy làm giám đốc. Sơ yếu lý lịch của Lương Ngọc Anh cho thấy Lương Ngọc Anh vừa có liên hệ mật thiết với công an Việt Nam, vừa quen biết rộng rãi giới kinh doanh tại Úc. Đó là lý do giải thích tại sao cha con Lê Đức Thúy nhờ Lương Ngọc Anh làm trung gian trong việc mua polymer của Securency Úc.

Bây giờ hãy nói tới Lê Đức Thúy. Ông này giữ chức vụ thống đốc ngân hàng trung ương CSViệt Nam từ 12/1999 đến 07/2007. Năm 2005, bằng gian mưu hành chánh, Lê Đức Thúy biến môt công thự thành tài sản riêng. Sau đó, Lê Đức Thúy phải trả lại ngôi nhà này cho cơ quan công quyền nhưng vẫn được CSVN bồi thường một số tiền lên tới vài trăm ngàn Mỹ Kim. Do tai tiếng vụ chiếm công thự, tháng 07/2007 Lê Đức Thúy bị mất chức thống đốc ngân hàng. Thế nhưng, tháng 03/2008 Lê Đức Thúy lại được Nguyễn Tấn Dũng bổ nhiệm vào chức vụ: Chủ Tịch Ủy Ban Giám Sát Tài Chánh Quốc Gia. Nhờ vào lề thói phủ bênh phủ, huyện của CSVN, Lê Đức Thúy ngày nay vẫn là quan chức cao cấp của CSVN.

Trở lại với vụ Polymer. Chủ mua là Lê Đức Thúy, chủ bán là Securency. Đây là công ty 50% vốn của ngân hàng trung ương Úc. Công ty này chuyên cung cấp máy móc cùng sản phẩm phục vụ kỷ nghệ in tiền. Hoạt động của Securency cho thấy Securency trả tiền hoa hồng cho người môi giới từ 10% đến 20% tổng giá trị hàng hóa bán được. Trong khi hoa hồng bình thường chỉ từ 2% đến 6%. Câu hỏi đặt ra là làm thế nào phân biệt giữa tiền hoa hồng và tiền hối lộ? Hình luật phổ quát trả lời rằng: “Tiền hoa hồng nếu được chuyển cho người ký hợp đồng, người phê duyệt hợp đồng, người có liên hệ tới việc ký kết hợp đồng thì tiền hoa hồng trở thành tiền hối lộ”. Mặt khác, một cách cụ thể hơn, bộ hình luật Úc minh thị ngăn cấm: “Công ty Úc không được phép trả tiền hoa hồng cho viên chức chính phủ ngoại quốc cùng với những công ty ngoại quốc đặt dưới quyền chỉ huy của chính phủ liên hệ.”

Cuộc điều tra của cảnh sát Úc cho biết: công ty Securency đã chuyển hơn 5 triệu Úc Kim đến các trương mục ở ngoại quốc có liên hệ tới Lương Ngọc Anh. Đồng thời công ty CFTD của Lương Ngọc Anh cũng đã nhận từ Securency nhiều triệu Úc Kim khác. Đây là trọng tâm cuộc điều tra của ngành tư pháp Úc.

Lương Ngọc Anh cung cấp toàn bộ trang thiết bị truyền thông và điện toán cho guồng máy công an, tình báo của Hà Nội. Lương Ngọc Anh không thể không là đảng viên đảng CSVN, nếu không muốn nói là công ty CFTD có nguồn vốn từ công an. Lương Ngọc Anh chỉ là kẻ đứng tên làm tổng giám đốc.

Căn cứ vào hình luật phổ quát cũng như hình luật Úc Đại Lợi, Lương Ngọc Anh nhận tiền hoa hồng từ Securency tức là Lương Ngọc Anh đã nhận hối lộ. Tuy nhiên Lương Ngọc Anh chỉ là vai phụ của một vỡ tuồng lớn. Vỡ tuồng lớn đó là: Lê Đức Thúy là chánh phạm tội hối lộ. Lê Đức Minh con trai của Lê Đức Thúy dùng công ty Banktech để làm bung xung giúp ông bố dấu mặt. Lương Ngọc Anh là cánh tay nhận tiền nhằm chuyển lại cho Lê Đức Thúy. Như vậy rõ ràng là “can phạm thống đốc” Lê Đức Thúy vừa dấu mặt vừa dấu tay trong vụ án hối lộ Polymer.

Bài viết này không nhằm truy cứu tội pham của Lê Đức Thúy mà chỉ muốn nhân vụ án Lê Đức Thúy hướng sự suy nghĩ về trường hợp phạm pháp của hai đảng viên trẻ Lương Ngọc Anh và Lê Đức Minh. Hai người này là tiêu biểu cho rất nhiều ngàn đảng viên trẻ khác của đảng CSVN. Họ là con cháu của giới lãnh đạo Hà Nội. Đa số đảng viên trẻ này được du học tại các quốc gia Âu Mỹ. Về nước, họ nắm giữ vai trò lãnh đạo chỉ huy tại hầu hết cơ quan kinh tế, hành chánh của CSVN. Thay vì dùng sở học của mình để canh tân quê hương, dân chủ hóa đất nước, thành phần đảng viên trẻ này lại chìm đắm trong tham ô thối nát ở mức độ trầm trọng nhất trong lịch sử tham ô của CHXHCNVN? Nguyên nhân của tệ trạng vừa kể nằm ở đâu? Tìm giải đáp cho câu hỏi này, chúng ta không thể không nghĩ tới tư tưởng của nhà yêu nuóc Phan Châu Trinh.

Một cách ngắn, gọn tư tưởng Phan Châu Trinh xin được trình bày như sau:

Con người, ai cũng cần cơm ăn, áo mặc, nhà ở. Cụ Phan Châu Trinh gọi các nhu cầu vừa kể là dân sinh. HẬU DÂN SINH là mục tiêu mà cụ Phan nhắm tới. Hậu dân sinh là cuộc dân sinh phải được nâng cao. Hậu là trọng hậu, là hậu hĩ.

Muốn giải quyết nhu cầu dân sinh, mỗi người phải có khả năng tạo một nghề nghiệp riêng để sinh sống. Khả năng vừa kể chính là dân trí. Trong lãnh vực dân trí, cụ Phan Châu Trinh kêu gọi KHAI DÂN TRÍ

Không có cá nhân nào không cần đến dân trí, dân sinh. Tuy nhiên, con người sống giữa mọi người. Con người là chi thể của xã hội. Không có sự tham dự của con người, xã hội không thể tồn tại. Vì vậy, đời sống chỉ thực sự ấm no và hạnh phúc, chừng nào mỗi người biết yêu thương gia đình, yêu thương láng giềng, yêu thương bạn bè, yêu thương cộng đồng dân tộc, yêu thương thế giới loài người. Những yêu thương kia gọi chung là đạo đức làm người, đã được cụ Phan Châu Trinh gói ghém trong hai chữ dân khí. CHẤN DÂN KHÍ là tinh hoa của tư tưởng Phan Châu Trinh. Chấn dân khí là quyết tâm củng cố và phát triển đạo đức làm người trong từng cá nhân. Chấn dân khí là giáo dục và tôi luyện mỗi thành viên của xã hội, không loại trừ thành viên nào, trở nên một người thương xuyên sống trên căn bản tôn trọng nhân bản, nhân tính, nhân chủ của mọi người và của chính mình.

Mang chuẩn mực “Chấn dân khí” của nhà tư tưởng Phan Châu Trinh soi rọi vào quá trình hấp thụ giáo dục của đảng viên đảng CSVN, nhất là đảng viên trẻ, chúng ta phải công bằng mà nhìn nhận rằng: Quả thực đảng viên CS có được giáo dục làm người, nhưng người ở đây là ông Hồ Chí Minh, một người nhiều tên, nhiều vợ ngoại hôn, nhiều ngày sanh, nhiều ngày tử, nhiều nợ máu đối với những người Việt yêu nước nhưng không chấp nhận CS. Nói chính xác hơn, ngày nào người CSVN còn hiểu chấn hưng dân khí theo kiểu người người học tập đạo đức Hồ Chí Minh, ngày đó hy vọng đảng viên trẻ của CSVN sẽ canh tân, sẽ dân chủ hóa đất nước hiển nhiên chỉ là ảo vọng./.

Đỗ Thái Nhiên