Thursday, February 11, 2010

Đồng Chiêm, Đồng Chí, Đồng Đạo, Đồng Bào ! - Đinh Xuân Minh

Lm Gioan Baotixita Đinh Xuân Minh (Đức Quốc)

1. Đồng chiêm

Đồng chiêm? Danh từ xem ra lạ, và không biết nguồn gốc hai chữ Đồng Chiêm lấy từ đâu? Và tại sao lại đặt tên một vùng hẻo lánh với cái tên là Đồng chiêm? Và ý nghĩa Đồng Chiêm là gì?.

Đồng là đồng thanh, đồng nhất, đồng ý, đồng lòng, đồng là chung v.v. Nói chung, chữ Đồng nói lên ý nghĩa sự hàng loạt và lên một của một tập thể đông. Thế còn chữ Chiêm? Chiêm ngắm, chiêm ngưỡng, chiêm niệm. Chiêm là nhìn, là suy tư.

Hay ý nghĩa danh từ Đồng chiêm là cánh Đồng Chiêm, loại lúa Chiêm, thóc Chiêm, loại hoa qủa sinh không đúng mùa?

Qua sự kiện đang xẩy ra ở giáo xứ Đồng chiêm, khi mọi người giáo dân trong xứ, đặc biệt là giới phụ nữ và giới trẻ, (Đúng là giặc đỏ đến nhà, đà bà cũng phải đánh!) thì chúng tôi thiết nghĩ rằng, hai chữ Đồng chiêm, phải là ý nghĩa của sự chiêm nghiệm, chiêm niệm, chiêm ngắm, chiêm ngưỡng (Thánh giá, suy tôn Thánh giá). Thánh giá là biểu tượng cứu rỗi. Trong Cựu ước đã nói về biểu tượng nàỵ „Ai bị rắn cắn, ngước nhìn rắn do Moisen làm bằng đồng, sẽ được cứu rỗi“. (Sách Dân số 21, 6-9).

Trong Tân Ước, chính Đức Giêsu cũng đã tiên ứng về chính mình với Nikodemus: „Như Moisen đã giương cao con rắn trong sa mạc, thì Con người cũng phải bị giương cao như vậy, ngõ hầu kẻ nào tin trông cậy vào Ngài, sẽ được sự sống đời đời. Vì Thiên Chúa đã yêu mến thế gian như thế đó, đến nỗi đã thí ban Người Con Một, ngõ hầu phàm ai tin vào Ngài thì khỏi phải hư đi, nhưng được có sự sống đời đờị“ (Gioan 3, 14-15).

Ai là con rắn được giương caỏ Đó là cái chết của Đức Giêsu trên thập giá. Cái cắn con rắn làm chết người. Nhưng, cái chết của Thiên Chúa thì ban lại sự sống. Ngước nhìn Thánh giá, tuyên tương Thánh giá, chiêm niệm Thánh giá, ban lại cho chúng ta ơn cứu rỗi trần gian. Đơn thuần, đây không là cây Thập tự, song đây là Thánh giá. Vì, chính quân dữ đã đóng đinh thân thể của Ngài vào cây Thập tự. Vì thế, sẽ không còn cây thập tự lẻ loi, song là Thánh giá, vì Thập tự và thân thể Chúa đã đóng chặt thành một.

Sự gian ác, giả dối gian manh và tính lươn lẹo của tập đoàn tay sai Hán Cộng, thật cực kỳ độc hại chết người, không khác gì cái cắn của con rắn. Ai không biết khôn ngoan né tránh và xua đuổi nó, có ngày chết người với loại Mãng xà này.

Khi chúng ta hướng về Thánh giá, chiêm ngưỡng Thánh giá, suy tôn thánh giá, là chúng ta được cứu rỗi, sẽ thoát khỏi con “mãng xà Việt Cộng” cắn.

Thiên Chúa chịu bị đóng đinh bên tay trái và tay phải đễ mỗi khi chúng ta làm dấu thánh giá, chúng ta ban phép lành cho mọi người anh em có lòng thiện ngay. Thánh giá treo khắp nơi, (trong nhà thờ, trong nhà, treo trên cổ, trên Núi chẻ ...), đấy là dấu chỉ để Thiên Chúa ban sức mạnh cho chúng ta vác thánh giá với Ngài, mà không sợ phải trốn tránh. Thánh giá Chúa đem nghị lực cho chúng ta, khi chúng ta tuyên dương và suy tôn Thánh giá.

Thánh giá Chúa giải thoát chúng ta khỏi mọi tội lỗi và giải thoát chúng ta khỏi mọi sự gian dữ. Vì vậy, chúng ta đừng bao giờ xa lìa Thánh giá!

2. Đồng chí

Thú thật, lúc còn nhỏ, khi Việt Cộng chưa xâm chiếm trọn vẹn được miền Nam, mỗi khi có những phim chiếu về Việt Cộng đội nói cối, mà nghe hai chữ Đồng chí, thì thật tình, lòng tôi cảm thấy bực bội rất khó chịu. Cứ nghe đến hai danh từ này, là tôi thấy ghê tởm rợn tóc gáy. Và cứ hễ nhìn đến nón cối là tôi cảm thấy kinh dị, và nghĩ đến bản tính rừng rú của người đội nó.

Có lẽ, từ ngày Việt Cộng xâm nhập vào miền Nam và áp đặt chủ nghĩa bất nhân trên toàn quốc, thì xem ra, danh từ Đồng chí có lẽ nghe cũng bớt đau cái lỗ nhĩ. Có lẽ thế chăng?! Và có lẽ, cũng từ đó, cái nón cối cũng đã bớt đi cái biểu tượng gian ác và bản tính quê mùa cục mịch của nó?

Mặc dù, những người quốc gia sinh hoạt trong đảng phái, tuy nhiên, họ cũng ít gọi nhau bằng đồng chí. Ngược lại, Việt Cộng, những kẻ phản bội đồng bào, phản đồng loại, phản tình đồng quê hương, thì gọi với nhau bằng đồng chí, theo nghĩa tiêu cực, như cơm bữa. Rất vô tư!

Đồng là đồng nhất, đồng tâm. Chí là chí hướng, bền bỉ theo đuổi một mục đích. Nuôi chí lớn. Có chí thì nên. Thế những Đồng chí việt Cộng đeo đuổi mục đích gì?

Mục đích “Giải phóng”? Thưa không! Đồng chí Việt Cộng chỉ làm tay sai cho Tầu Cộng và phục vụ đường lối bành trướng Chủ Thuyết Thế Giới Đại Đồng của Liên Xô?

Từ khi có sự hiện diện Cộng sản trên quê hương Việt Nam, cách nay 80 năm, đến nay, Cộng sản đã gieo bao nhiêu sự đau thương chết chót, gieo bao nhiêu cảnh đau buồn ly hương. Đồng bào dân tộc bị chia rẽ. Từ ngày có sự hiện diện Cộng sản, toàn thể đồng bào bị ách nặng: Nạn Đồng Chí Việt Cộng, quàng vào cổ.

Qua những sự kiện xẩy ra tại Thái Hà, Tam tòa, giáo xứ Thủ Thiêm, Đồng Chiêm, Loan Lý, tu viện Bát Nhã, và mới đây tại Cồn Dầu (Đã Nẵng), thì chúng ta phải gọi nhóm Đồng chí này là Đồng bọn, đồng bọn với bọn côn đồ du đãng, đồng bọn cùng với thành phần xã hội đen. Giặc đỏ Cộng sản Việt Nam, cùng với côn đồ và xã hội đen là đồng bọn cá mè một lứa!

“Đồng bọn” này, đã không một lần từ bỏ manh thú dã man để đàn áp người chân chính. Qủa thật, họ là một mối nguy cực kỳ nguy hại cho nền an ninh hòa bình, và phát triển đạo đức tôn giáo bền vững, để thành hình nền tảng cơ sở nhân bản cho dân tộc. Chế độ này, chúng tôi hay còn gọi là loại chế độ thổ tả.

Chính vì cái tình và cái tính “đồng chí” này của tà quyền Việt Cộng, đã và đang gây ra không biết bao nhiêu “bệnh dịch hạch” cho đồng bào: hận thù, chém giết, xảo trá gian manh, độc ác.. Chỉ có thuốc “dân chủ tự do đa nguyên”, mới thật sự trị hết loại dịch này!

3. Đồng bào

“Đồng” là cùng, “bào” là bào thai. Truyền thống khai sinh dân tộc Việt Nam được dựa qua sự tích mẹ Âu Cơ, đẻ ra trăm trứng. Dân tộc Việt Nam thuộc dòng dõi Tiên rồng, cùng một “bào thai”. Từ khi, Cộng sản đặt chủ nghĩa phản bội dân tộc trên quê hương Việt Nam, thì cảnh nồi da xáo thịt trải qua bao năm tháng không nguôi, do chủ mưu tay sai Cộng Sản Việt Nam. Họ làm chư hầu cho Cộng sản quốc tế, và tiếp tay cho “chủ nghĩa đại đồng” của Trung Cộng và Liên Xô.

Thủ Tướng Việt cộng Phạm Văn ĐỒNG, ngày 14/09/1958, ký công văn bán hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa cho Tầu cộng. Bán đất nhượng biển, để mua vũ khí giết người anh em cùng “đồng bào”. Chiến tranh huynh đệ, từ năm 1960-1975, cũng do Việt Cộng gây ra, mặc dù đã có những Hiệp ước ký năm 1954, 1973 v.v.. Và những sự đàn áp hiện nay của Cộng Sản Việt Nam đối với các nhà đấu tranh dân chủ, tạo sự bất ổn xã hội, cũng do tập đoàn tay sai Hán Cộng gây ra, chỉ vì “đồng bọn” này đã làm tay sai thật sự cho Tầu cộng, phản bội đồng bào.

Chống đối lại cảnh đàn áp của Việt Cộng là tạo sức mạnh đoàn kết của đồng đạo, tạo thế và lực, ngang hàng với đồng bọn Việt Cộng. Nếu, chúng ta không can đảm phản cự, thì chúng ta sẽ mãi là người qụy lụy và gián tiếp, tiếp tay cho sự dữ tung hoành.

Trong Cựu ước cũng nói đến cảnh tượng anh em giết nhau, đó là câu truyện hai anh em Cain và Abel. (Sách Sáng Thế 4, 1-9)

Nội dung câu truyện như sau:

Cain và Abel, hai anh em cùng dâng của lễ cho Chúa. Nhưng Chúa chỉ nhận của lễ người em là Abel, vì người anh ăn ở không tốt lành. Cain ganh tị với em, và đã ra tay giết người em, khi Cain rủ em ra đồng.

“Thiên Chúa hỏi Cain: “Abel, em ngươi đâủ” Nó thưa: “Tôi không biết! Tôi có phải là người canh giữ em tôi ư?”. Người phán: “Ngươi đã làm gì? Tiếng máu của em người từ đất kêu oán lên Ta. Bây giờ người hãy là đồ chúc dữ và bật khỏi mặt đất mầu mỡ đã há miệng hớp lấy từ tay ngươi máu, em ngươi. Ngươi có canh tác đất đai, đất đai sẽ chẳng còn cho người sức lực của nó. Ngươi sẽ vất vơ vất vưởng chạy rong trên đất”.

Vì tính kêu ngạo, vì tính ganh tị, vì chống lại Thiên Chúa, đã gây lên cảnh anh em giết lẫn nhau. Trong tình huống hiện nay tại Việt Nam. Ai là người anh giết người em? Cain là ai? Và Abel là ai? Trải dài qua lịch sử cận đại Việt Nam, Cộng sản Việt Nam chính là Cain. Trước sự kiện Đồng Chiêm, Tam tòa, Thái Hà, Tòa Khâm Sứ, Chùa Bát Nhã, Việt Cộng thể hiện tâm gian của người anh hiểm độc.

Việt Cộng có kình địch với Thiên Chúa không? Khi con người đả kích và nhục mạ Thiên chúa, người ta đi đến kình địch với nhau. Tội gian ác càng ngày càng thêm khốc liệt. Có nghĩa, người “anh” càng ngày càng tạo ra cái “nghiệp” phải trả sau này.

Những sự kiện Việt cộng đã và đang hành xử đối với đồng bào, đối với những dân quân cán chính của quân đội Việt Nam Cộng Hòa, đối với công viên chức của Chính Phủ Miền Nam, đã chứng minh hùng hồn: Việt Cộng là kẻ giết người, là hiện thân hình ảnh của người anh, giết người em, vì ganh tị, vì tự hào, vì chối bỏ Thượng đế, vì bản tính hiềm tị, xảo quyệt gian manh. Huynh đệ cùng “đồng bào” giết nhau. Cảnh nồi da xáo thịt!

Vì quyền lực đang nằm trong tay người “anh”, nên đồng bọn Cộng Sản tha hồ rảnh tay giết và đánh đập người “em”, mà không có quyền lực nào kiểm soát và ngăn cản. Huyết thù đang xẩy ra hiện nay tại Việt nam không có Tư pháp hay tòa kiện. Vì thế, “đồng bào” là tập thể to lớn nhất, là Tòa Án Công Lý vĩ đại nhất, hãy đứng ra dẹp cảnh nồi da sáo thịt này, và “xử lý” người “anh”!
Cũng chính vì vậy, mỗi anh Công An, mỗi anh Bộ Đội: Một, họ là kẻ tòng phạm giết người; Hai, họ là thủ phạm tay sai giết đồng bào, vì guồng máy Cộng sản đang tạo mọi sự thuận lợi cho họ cơ hội giết anh em, mà những anh công an bộ đội không sợ nhúng máu.

Mỗi anh bộ đội, mỗi anh công an là một “Natural born killers”? Bản tính thiên nhiên của họ sinh ra để giết người, hãm hại chính đồng bào mình? Họ mang mần mống tị hiềm ganh ghét chém giết?
Con cái của Cain bị phạt sống một cuộc sống lang thang, kẻ bị chúc dữ. Kẻ giết người bị nguyền rủa.
Chúng tôi mượn câu Kinh thánh, đặt vấn đề với tà quyền Cộng Sản Việt Nam: “Hỡi Cain, Abel, em người đâủ” Vâng, đúng vậy! Hỡi những kẻ giết người! Abel: những anh em đồng bào chân chính, em ngươi đâủ”. Ai đã ra lệnh ám hại đồng bào? Ai ra lệnh bắt tù, và đánh đập các chiến sĩ anh dũng đấu tranh cho Công lý và Hòa bình? Ai? Ai là tay sai cho Tàu Cộng?

Dân tộc Việt Nam như đang bị chia đôi: người “anh” ở miền Bắc, người “em” người Nam. “Anh” giết “em”. Người anh ác tâm giết người em thiện tâm. Người anh thủ đoạn gian manh giết người em tốt bụng thật thà. Người anh tham vọng, tham lam giết người em hiền lành đơn sơ chất phát. Cũng vì vậy, sự dữ đang tràn lan trên khắp nẻo đường quê hương Việt Nam. Nếu đồng đạo không cùng chung tay dẹp loạn giặc đỏ, thì tương lai dân tộc Việt nam chỉ tồn tại những người “anh” hung hăng khát máu.

“Hỡi cain, Abel, em ngươi đâủ”. Mượn câu hỏi trách cứ này trong Kinh Thánh, chúng ta quy trách mọi tội cho tập đoàn tay sai Hán ngụy cộng sản Việt Nam. Vì sao chúng ta quy tội này cho Việt Cộng?

Vì, khi Việt Cộng làm tay sai cho Tầu Cộng ám hại đồng bào, thì họ được hưởng lộc và quyền lợi. Vừa hạ được đối thủ, vừa có uy quyền lại giầu có, như xưa Việt Minh bắt tay với Pháp để tiêu diệt các đảng phái Quốc gia, củng cố nội bộ.

Khi kẻ vừa đói, vừa khát máu, thì khó kiềm chế ác ý và dã tâm của chúng được.
Một khi bọn chủ mưu đã nhúng ta vào máu, thì bọn giết người cũng không ngần ngại đổ máu thêm, để đạt tới hành động của quân giết người khát máu.

Chừng nào chưa có được những tòa án công minh chính đại, dưới thể chế tự do dân chủ đa nguyên thật sự, thì tập đoàn tay sai Hán Cộng vẫn còn áp dụng phương thức bắt bớ, đầu độc hay giết người để khủng bố đồng bào.

Trong Kinh Thánh đã nói lên sự nguyền rủa cho những kẻ khát máu. Các ngươi đã làm những gì vậỷ!!! Từ dưới đất, tiếng máu của hàng bao trăm ngàn đồng bào, và ngay tại cố đô Huế, đang kêu lên Ta. Giờ đây, các ngươi bị nguyền rủa bởi chính đất đã từng há miệng hút máu đồng bào, do tay các ngươi đổ ra. Từ nay, các ngươi có làm điều gì cũng bị thất bại. Các ngươi sẽ phải lang thanh phiêu bạc trên mặt đất. Các ngươi lúc nào cũng sẽ phải sa sấm nét mặt. Vì các người đã hành động không tốt, thì tội lỗi đang nằm phục của, nó thèm các ngươi.

4. Kết luận

Đất nước chúng ta đã rơi vào tay Tầu Cộng, vì tập đoàn tay sai Cộng sản Hà Nội đã nhượng bán. Muốn dẹp tan giặc cờ đỏ này, mọi tôn giáo phải biết đồng tâm, đồng lực, đồng giáo, hiệp thông với Đồng chiêm, kháng cự lại Đồng chí, phản lại văn kiện của Phạm Văn Đồng, thủ tướng Việt Cộng, để mọi người chúng ta là đồng bào thân thương với nhau.

Chúng tôi rất tâm đắc với cư sĩ Hứa Phi, Ngài thay mặt ban đại diện Khối Nhơn Sanh Đạo Cao Đài Tây Ninh, hôm thứ sáu, ngày 29-01-2010, viết lên ý nguyện Hiệp Thông với Tòa Tổng Giám Mục Hà Nội: “Ban Hồng Ân cho tất cả anh em chúng ta đồng một Đức tin, đồng một mục đích, đồng nhìn nhau trong tình cốt nhục Thiêng liêng của Ngài, đề đem đến cho thế gian niềm an vui và hạnh phúc”.

Vâng, nếu tất cả mọi người thiện tâm thiện trí đều quyết đồng tâm, đồng giáo, đồng lòng, cùng chung lòng với giáo dân Đồng Chiêm, chắc chắn chúng ta sẽ dẹp tan được giặc cờ đỏ: đồng chí Việt Cộng.

Lm Gioan Baotixita Đinh Xuân Minh
(Frankfurt, thứ ba, ngày 9 tháng 02 năm 2010)


Wednesday, February 10, 2010

Kẻ Sĩ và Bồi Bút ! - Lê TamAnh

Lê Tam Anh

Khi chúng ta nói đến hai chữ Sĩ khí, có nghĩa là nhắc nhở nhau hãy quay nhìn lại mình trước khi hành động về một vấn đề gì đó hay dấn thân vào một phong trào, một đảng phái ... mà theo chủ quan, đó là lý tưởng hoặc ít ra đó là con đường đúng đắn của kẻ sĩ! Theo chủ quan, theo cái nhìn với góc cạnh từ hai mắt mình, từ sự suy nghĩ của mình đôi khi chưa phải là chín chắn khi chính mình chưa kinh qua những kinh nghiệm.

Mỗi khi mùa xuân về, mỗi khi hoa đào nở, gió xuân làm lòng người dịu lại những trăn trở theo cuộc sống; thì chúng ta, ai cũng nhớ đến bài thơ “Ông Đồ” của Vũ Đình Liên. Bài thơ giản dị và trong sáng, không có những từ ngữ đổm dáng hay văn vẻ, nhưng nó làm cho mọi người cảm thấy bùi ngùi tiếc thương một thời đã qua. Hình dáng một ông đồ mặc áo dài khăn đóng, trải chiếc chiếu hoa củ kỷ bên đường phố đông người. Ông Đồ ngồi chờ khách thuê viết đôi câu liễn treo trong nhà nhân dịp tết. Ông đồ viết chữ đẹp như phượng múa rồng bay ... Nhưng người thuê viết chẳng đọc được, chẳng hiểu được nữa những nét chấm phá tuyệt vời ấy. Đôi khi theo thói quen, họ thuê ông viết đôi câu đối mà không biết nghĩa những chữ đó ra thế nào, có thể đem về treo trên tường, nghĩ rằng nó là vật kỷ niệm mà thôi. Rồi mỗi năm khách dần thưa, người ta qua đường thờ ơ với một ông Đồ già, hình bóng một quá khứ đã qua, không thể nào có thể níu kéo lại ...!

Tôi nhớ lúc trọ học ở Bồng Sơn, thuộc quận Hoài Nhơn, trong gia đình Bác Tám Thơm. Hồi đó là năm 1958, Bác Tám khoảng chừng 60 tuổi, để râu dài, trông như một cụ đồ nho, nhưng bác Tám không biết một chữ nho nào, kể cả chữ quốc ngữ. Nhưng bác luôn luôn tôn thờ chữ “thánh hiền”. Tôi còn nhớ, lịch treo tường có in hai loại chữ Việt và Hán văn ghi ngày tháng dương và âm lịch. có lần tôi xé tờ lịch, vò tròn vứt vào thùng rác. Bác Tám nghiêm sắc mặt, vừa cuối xuống lượm tờ lịch vừa nói với tôi: “Chữ Thánh Hiền không được vò xé, chỉ nên đốt hay để chỗ tôn kính!”. Thế đấy, những người trong thời trước chúng ta một vài thập niên, dầu họ không được học, hay đọc chữ “thánh hiền”, họ đều có chung một tư tưởng tôn thờ chữ nghĩa. Mà theo họ, chữ nghĩa ấy là linh hồn của Tam Cương, Ngũ Thường, Tam Tùng Tứ Đức. Dầu sao thì thời đại củ đã lùi xa, nhưng cũng ít ai quay lưng lại với chính quá khứ của mình bằng nhà thơ Vũ Đình Liên cùng một vài văn thi sĩ thời tiền chiến sau đó theo “cách mạng”.

Trở lại mùa xuân với bóng dáng ông Đồ già trong thơ Vũ Đình Liên, không ai trong chúng ta phủ nhận một hình ảnh của thời gian giao thoa giữa hai nền văn học. Cái mới của văn minh Âu Châu đã đánh bại một nền móng văn hóa bao đời ngự trị trên quê hương Việt. Bài thơ “ông Đồ” đã phản ảnh bao sự giằng co, bao hoài niệm và tiếc thương, giống như ta thường tiếc thương mối tình đầu đã qua trong đời!
    Mỗi năm hoa đào nở,
    Lại thấy ông đồ già
    Bày mực tàu giấy đỏ,
    Bên phố đông người qua.

    Bao nhiêu người thuê viết
    Tấm tắc ngợi khen tài
    Hoa tay thảo những nét,
    Như phượng múa rồng bay.

    Nhưng mỗi năm một vắng,
    Người thuê viết nơi đâu?
    Giấy đỏ buồn không thắm
    Mực đọng trong nghiên sầu.

    Ông đồ vẫn ngồi đấy
    Qua đường không ai hay
    Lá vàng rơi trên giấy
    Ngoài trời mưa bụi bay.

    Hôm nay đào lại nở,
    Không thấy ông đồ xưa,
    Những người muôn năm củ,
    Hồn ở đâu bây giờ?
Bài thơ không những đã được mọi người khen tặng, nó còn được hân hạnh làm bài giảng văn và học thuộc lòng trong các lớp trung học thời Việt Nam Cộng Hòa. Bài thơ và tên tuổi tác giả được liên tục nhắc đi nhắc lại mỗi khi mùa xuân trở về với mọi người, nhắc nhở một quá khứ đầy hoài niệm và mang biết bao lịch sử trong văn hóa dân tộc Việt. Nhưng chưa có ai trong chúng ta, trước đây biết nhiều về cuộc đời và sự nghiệp tác giả bài thơ “ông Đồ”, hay có thể cố tình không nói đến. Vì thế người đời sau ít biết rỏ về Vũ Đình Liên, một người Cộng Sản, một bồi bút rất có uy tín trong Đảng và trong nền văn học vô sản tại Việt Nam.

Vũ Đình Liên, sinh năm 1913 tại phố Hàng Bạc Hà Nội. Sau khi đậu tú tài ở trường Pháp Collège de protectorat ( Trường Bảo hộ tại Thụy Khuê, chính là Trường Bưởi, sau đổi thành Chu Văn An). Ông ta ghi danh học Luật một vài năm rồi bỏ ngang để dạy học tư và làm báo. Năm 1946, Vũ Đình Liên theo kháng chiến trong Hội Văn Nghệ Cứu Quốc Liên Khu 3, gia nhập vào Đảng Cộng Sản năm 1951, dạy học và biên soạn sách giáo khoa cho chế độ!

Bài thơ “Ông Đồ” được Vũ Đình Liên sáng tác vào năm 1937, đăng trên báo Tinh Hoa. Ngoài ra ông còn những bài thơ khác nữa nhưng không nổi tiếng. Vì bài Ông Đồ làm cho tiếng tăm Vũ Đình Liên được vào danh sách những văn thi nhân có hạng, nên khi trở thành Đảng viên Cộng Sản, ông tiếp tục lấy hơi hám bài thơ nầy làm sườn cho ý tưởng ca tụng “Đảng và Bác” một cách rất ư là ngây ngô và nịnh hót! Ta hãy xem bài thơ sau đây, họ Vũ dựa vào bài “ông Đồ” để diễn tả “tấm lòng” theo đảng trung thành của mình như thế nào:

Bài thơ “Thủy Chung” sáng tác năm 1977, Tết Đinh Tỵ:
    Năm nay đào nỡ rộ,
    Mừng hội Đảng, Hội Dân,
    Bút ông đồ lại họa
    Những nét chữ đẹp, thân.

    Cờ biển ngập phố phường,
    Cành đào bay thắm đỏ,
    Như cả ngàn hoa xuân,
    Nét hoa trên mỗi chữ.

    Thấy trong lòng say sưa,
    Dừng chân không muốn bước,
    Nghe đọc những vần thơ
    Ngợi khen những nét bút.

    Xuân Cộng Hòa Xã Hội
    Mai đào tươi thắm hoa
    Một nguồn hạnh phúc mới
    Trào ngọn bút dòng thơ ...!
Đây là bài thơ tiêu biểu của một bồi bút, nó phản ảnh không biện bác được rằng, Vũ Đình Liên, trước sau cũng chẳng giữ được tiết tháo “kẻ sĩ”như Trần Dần. Nhà thơ họ Trần đã để lại cho đời mấy câu thơ ngắn cho một giai đoạn bị tù đày, trả giá mấy vần thơ:
    “Tôi bước đi, không thấy phố, không thấy nhà,
    Chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ...!”

    Trần Dần
Chưa hết, Vũ Đình Liên dựa vào thể thơ năm chữ đã thành công trong bài Ông Đồ, sáng tác nhại theo như thế rất nhiều bài có phong cách tương tự nhưng ý và mục đích ca tụng Đảng cùng với “bác” một cách không ngượng ngập gì cả. Sau đây là bài ca tụng đầy tính “nâng bi” một cách trân tráo của nhà thơ, mà, những người chống Cộng, chống sự kèm kẹp thô bạo của tập đoàn Cộng Sản trong nước, vẫn hàng năm nhắc đến tác giả, nhắc đến bài thơ Ông Đồ mà không nhắc đến những bài khác mang tính “cách mạng cao” là một thiếu sót. Bài “Mùa Xuân Cộng Sản” dưới đây là một trong những bài mà Vũ Đình Liên làm theo thể thơ năm chữ nhại theo bài Ông Đồ:
    Một cây đào muôn thuở,
    Năm bốn mùa nở hoa
    Một ông đồ bất tử
    Tay với bút không già.

    Hoa tươi màu sông núi,
    Chữ thắm tình quê hương
    Cành đào và câu đối
    Ngàn đời Tết Việt Nam

    Nghiên bút xưa vẫn đợi
    Tự ngàn năm bài thơ
    Tự ngàn năm câu đối,
    Đảng sáng tác bây giờ

    Nghệ sĩ với ông đồ
    Tình nước non vô tận
    Như Đảng với bác Hồ
    Hương đất trời Cộng Sản

    Năm nay đào lại nỡ
    Vui người mới hồn xưa
    Một mùa xuân bất tử
    Tươi nét lụa lời ca!
Trong bài thơ nầy, chúng ta thấy Vũ Đình Liên không còn là một thi sĩ, tác giả bài thơ ông Đồ ngày nào, không còn là một văn nhân đầy sĩ khí như Trần Dần, Phan Khôi. Mà hóa thân thành bồi bút ca tụng một chế độ khát máu nhất, tàn bạo nhất trên Thế giới. Những chữ “ muôn thuở, “ngàn đời” “vô tận”... làm cho ta cảm thấy xót xa và thương cho chữ nghĩa Việt Nam. Người thi sĩ cảm nhận cái ý nghĩa, cái hay của đất trời, cảm hoài một vài ý thơ và sáng tác. Mỗi bài thơ là mang một nét gì khác với bài trước, là xuất thần với ý thơ. Nhưng Vũ Đình Liên không những đã nghèo nàn ý thơ, nghèo nàn sáng tác mà còn “ôm” lấy cả thể điệu, cả hình dáng Ông Đồ để làm nhân chứng tiêu biểu cho chính mình! Dĩ nhiên khi bài thơ Ông Đồ nổi tiếng thì hoàn cảnh và không gian thời gian khác với “ông Đồ” trở về làm “cách mạng”.Theo họ Vũ, ông Đồ của bài thơ làm cho tên tuổi của mình nổi tiếng khác với ông Đồ “phục vụ Đảng”, đó là ông Đồ mới(?).

Nhưng không phải một mình họ Vũ, tác giả bài thơ Ông Đồ được Đảng “lột xác” mà rất nhiều nhà văn nhà thơ tiền chiến cũng bị rơi vào hoàn cảnh như thế. Nào là Hoài Thanh, Lưu Trọng Lư, Nguyễn Công Hoan, Hoàng Xuân Nhị, Huy Cận, Chế Lan Viên...

Bồi bút thứ thiệt, trùm lên tất cả các bồi bút xưa nay, không ai qua mặt được Tố Hữu với những bài thơ ca tụng Cộng Sản quốc tế và tự nhận làm đệ tử trung thành. Ta hảy xem những đoạn thơ sau đây chứng minh tên đồ đệ họ Hồ phóng bút làm dơ bẩn văn thơ Việt như thế nào:

Ca tụng Lenin, cho học sinh cấp tiểu học:

... Ông Lenin ở nước Nga,
Mà em đã biết rất là Việt Nam...!


Khi nghe Stalin chết:

... Ông Stalin ơi! ông Stalin
Trời ơi ông chết đất trời có hay,

... Thương cha thương mẹ thương chồng
Thương mình thương một, thương ông thương mười...!


Ta hãy nghe Xuân Diệu ca tụng:

Mổi lần tranh đấu gay go,
Chúng con lại được Bác Hồ tới thăm.
Nghe lời Bác dạy khuyên răn

Chúng con ước muốn theo chân của người.


Trong chiến dịch hô hào đấu tố, Xuân Diệu cao giọng:

Thắp đuốc cho sáng khắp đường
Thắp đuốc cho sáng đình làng đêm nay
Lôi cổ bọn nó ra đây,
Bắt quỳ gục xuống, đọa dày chết thôi.


Khi từ trại tập trung về, kẻ viết bài nầy bị tống ra khỏi thành phố, đến ở vùng Đồng Nai làm rẫy. Hàng xóm là một anh cựu Trung Sĩ đang làm khuân vác. Chiều xuống là anh từ nơi làm việc về nhà say lý túy. Vừa đi anh ta vừa hát nghêu ngao những bài hát xen với thơ “tiền chiến”. Tuy say nhưng anh ta vẫn cố tình kéo dài “nhại” những câu thơ Xuân Diệu, cố cho bàng dân thiên hạ nghe chơi:
    “... Con nai vàng không còn ngơ ngác nữa em ơi!
    Nó đã thành trâu chạy húc người...”
Có hôm anh chàng gõ cửa nhà người viết bài nầy, tay cầm chai rượu, hai mắt đỏ bừng, hét vào tai tôi: “Con nai hay con trâu? Tôi cười đáp: “ con nai!” anh chàng ôm lấy tôi, đưa chai rượu bắt tôi tu một hốp, rồi nói: “Trâu cũng có sừng, nai cũng có sừng ... Mỗi con ngu một cách ... xin đừng bỏ nhau!”... Anh Trung Sĩ của chúng ta đó, kẽ sĩ thời nay có bằng một góc hay không?

Xem thế chúng ta mới hiểu rằng, muốn làm “kẻ sĩ” cho đúng nghĩa chắc chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Mà nghĩ cho cùng, Trong khung cảnh bị “cải tạo tư tưởng” bị chỉ đạo sáng tác và chế độ “tem phiếu”, thì làm sao kẻ sĩ có thể ngồi xem vợ con chết đói, khư khư giử tiếng tăm cho một ảo tưởng của Khổng Giáo để lại, có mấy ai trọn tình trọn nghĩa? Nhưng để làm gì nhĩ!

Ngày nay, khi người ta đã thoát khỏi cái cảnh kèm kẹp, ra hải ngoại làm thơ, viết văn; trong khung cảnh tự do như thế, lại có những nhà văn nhà thơ “thiết tha” tình nguyện làm “bồi bút” mới là chuyện lạ. Xem thế, chúng ta sẽ chẳng có thể nào phân biệt được là, trong hoàn cảnh nào thì người nghệ sĩ biến thành “bồi bút” và trong trường hợp nào thì họ có thể thực hiện đúng“ sĩ khí” để được tiếng thơm muôn đời!

Lê Tam Anh

ĐỐI THỌAI VỚI HY. PHẠM MINH MẪN VỀ CHỦ TRƯƠNG ĐỐI THỌAI VỚI CSVN - Nguyễn Phúc Liên

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

Trong THƯ CHÚC XUÂN NĂM THÁNH VÀ XUÂN CANH DẦN, Đức HY Phạm Minh Mẫn mở đầu Lá Thư như sau:

”Vào thời điểm chuẩn bị bước vào Năm Thánh 2010, Đức Thánh Cha Bênêđitô XVI nhắn nhủ cộng đồng dân Chúa Việt Nam hãy dành thời gian Năm Thánh xây dựng ba mối tương quan căn bản của đạo làm người: - thể hiện lòng thảo kính đối với Chúa là Cha trên trời cùng ông bà tổ tiên và các tiền nhân; - phát huy tình huynh đệ hiệp nhất đối với nhau trong cộng đồng dân Chúa là anh em đồng đạo; - mở rộng tình huynh đệ liên đới đối với mọi người trong cộng đồng xã hội, là anh em đồng bào và đồng loại ».

Để cắt nghĩa thêm về “mở rộng tình huynh đệ liên đới đối với mọi người trong cộng đồng xã hội, là anh em đồng bào và đồng loại”, HY Mẫn viết:

“Con đường đồng hành cùng dân tộc. Vào dịp các giám mục Việt Nam đi Ad Limina cuối tháng 6 năm 2009, Đức Bênêđitô XVI có lời nhắc nhở cộng đồng dân Chúa Việt Nam: đồng hành cùng dân tộc trên con đường lịch sử của đất nước, mọi người cần quan tâm mở rộng tình huynh đệ cùng phát huy tinh thần trách nhiệm liên đới trong cộng đồng xã hội, qua con đường đối thoại và hợp tác với mọi thành phần xã hội, trên nền tảng sự thật và công ích, nhằm phục vụ cho sự sống con người cùng sự phát triển đất nước.”

Khi trả lời Phóng viên Jerome BORUSZEWSKI (Báo La Croix), ngày 24.01.2010, HY Mẫn nói:

“... tôi cố gắng đi theo con đường mới Công đồng Vatican II đã mở ra, là đối thoại và hợp tác với mọi tổ chức văn hoá và tôn giáo, kinh tế và chính trị trong cộng đồng xã hội, trên cơ sở sự thật và công ích. Cả hai vị Giáo Hoàng Gioan Phaolô II và Bênêđitô XVI đều nhắc lại con đường này cho các Giám mục Việt Nam trong những lần đi Ad Limina trong thập niên đầu của thiên niên kỷ thứ ba.”

Chúng tôi xin nêu ra những điểm sau đây và sẵng sàng đối thọai với HY Phạm Minh Mẫn:

1. Thời điểm cổ võ việc đối thọai

HY Mẫn đề cập và nhấn mạnh chủ trương ĐỐI THOẠI ở một thời điểm rất tế nhị để Giáo dân có thể hiểu rằng đây là việc công kích thái độ của Tổng Giáo Phận Hà Nội cương quyết trước việc đàn áp của CSVN đối với những vụ Tòa Khâm sứ, Xú Thái Hà, Tam Tòa và nay là Đồng Chiêm. Giáo dân và những Linh mục trong những vụ này chỉ là những nạn nhân của đàn áp bằng vũ lực. Nếu họ cứng rắn phản ứng lại, thì dó cũng là quyền tự vệ một phần nào. Khi Tổng Giáo phận Hà Nội đang phải chịu đựng đàn áp như vậy, mà Hy Mẫn chỉ lớn tiếng kêu gọi đối thọai, mà không nói cho kẻ đàn áp hãy ngưng tàn bạo, thì những lời kêu gọi này trở thành thiên vị: một đàng như công kích Tổng Giáo phận Hà Nội, một đàng như biện minh cho sự đàn áp của CSVN.

Một lời kêu gọi về những giá trị luân lý tổng quát có thể có lợi ở thời điểm này, nhưng lại hại ở thời điểm khác. Người kể chuyện có duyên là người biết đúng thời điểm để kể ra câu chuyện. Cùng một câu chuyện, nhưng kể ra ở một thời điểm khác, có thể trở thành vô duyên. Hy Mẫn thử đến bên những người đàn bà bị đánh bể đầu, vỡ mặt, máu lênh láng... để kể chuyện ĐỐI THỌAI với CSVN dùng vũ lực, xem người ta hay chính Hồng Y thấy vô duyên, thậm chí độc ác nữa.

Các Giám Mục của Tổng Giáo phận Hà Nội, khi cùng ký tên Hiệp Thông với Đồng Chiêm, không phải là những Vị không biết đối thọai để đến nỗi Hồng Y Mẫn phải la hò lên ở thời điểm này như công kích.

Vào thời điểm Cộng Hòa Miền Nam, Phong trào Ngô Bá Thành, Tôn Thất Dương Kỵ... đứng lên kêu gọi HÒA BÌNH. Chính Miền Nam đang phải chiến đấu để bảo vệ Hòa Bình cho Miền Nam, trong khi ấy Miền Bắc gửi quân vào để phá đời sống an bình của dân Miền Nam. Tại sao Phong trào Hòa Bình không kêu gọi kẻ từ Miền Bắc gây chiến, mà chỉ lớn tiếng kêu gọi Miền Nam phải ngưng đấu tranh. Hai tiếng HÒA BÌNH thật đẹp, nhưng Phong trào đã xử dụng ở thời điểm ấy như lưỡi gươm đâm vào phía Miền Nam. Họ là tay sai của Miền Bắc gây chiến.

HY Mẫn lớn tiếng kêu gọi ĐỐI THỌAI không đúng thời điểm, hay là ở hòan cảnh tế nhị lúc này, có thể bị coi là tay sai của CSVN nhằm diệt tinh thần can cường tự vệ của Giáo dân Tổng Giáo phận Hà Nội và do đó ủng hộ việc đàn áp đẫm máu của CSVN.

2. HY Mẫn hiểu sai tinh thần ĐỐI THỌAI của Công Đồng Vatican II

Chính trong THƯ CHÚC XUÂN NĂM THÁNH VÀ XUÂN CANH DẦN, Hy Mẫn đã nói rõ rệt:”... mở rộng tình huynh đệ liên đới đối với mọi người trong cộng đồng xã hội, là anh em đồng bào và đồng loại.” Khi trả lời Phỏng vấn của Jerome BORUSZEWSKI, Hy Mẫn còn nhắc lại việc ĐỐI THOẠI là đối với anh em trong “cộng đồng xã hội, trên cơ sở sự thật và công ích. “

Chúng tôi hoàn toàn đồng ý với tinh thần ĐỐI THỌAI này mà Công Đồng Vatican II đã chỉ dậy. Mọi người trong cộng đồng xã hội là những ai ? Là những đồng bào nghèo khổ đang bị cướp nhà, đất; là những công nhân bị bóc lột sức lao động; là những trí thức lên tiếng xây dựng xã hội thì bị bỏ tù; là những ngư dân bị Tầu cướp bóc, giết hại mà CSVN không làm gì để bênh vực; là những tăng ni Bát Nhã bị đánh đập, đuổi khỏi cơ sở tu trì; là những Giáo dân bị đánh bể đầu khi bảo vệ Thánh Giá Chúa; là những cô gái bị bán ra nước ngòai để phục vụ tình dục; là những nữ sinh vị thành niên bị ép tình dục như vụ việc đang xẩy ra tại Hà Giang. Họ là những đồng bào gần nhất trong cộng đồng xã hội của chúng ta hiện nay.

Đối với những người này của Cộng đồng Xã hội, hãy mang cái nhìn đối thọai, thông cảm và hiệp thông đến với họ. Nền tảng của ĐỐI THỌAI là tình yêu thương. Việc đối thọai đối với đồng bào này là yêu thương họ, đến với họ để trợ lực khi họ phải chịu những bất công.

Đúng như lời Hy Mẫn đã nhắc lại tinh thần Đối Thọai của Vatican II là dành cho mọi người thuộc CỘNG ĐỒNG XÃ HỘI, nhưng Hy Mẫn đã thực hiện đến mức nào ?

Trong hai câu nói mà Hy Mẫn nhắc ra trên đây, không có từ nào nhắc đến Nhà Nước, đến đảng CSVN độc tài trị dân với những bất công, đàn áp dân với vũ lực và nhà tù. Công Đồng Vatican II không khuyên ta rõ rệt là Đối Thọai với một đảng Chính trị, một Nhà Nước độc tài chỉ tìm mọi cách cai trị cộng đồng xã hội như đồ dùng vô tri không còn nhân phẩm nữa. Lời giáo huấn của Vatican II là đối thọai với mọi người thuộc Cộng đồng Xã hội, nhưng Hy Mẫn chỉ hiểu rằng đó là lời khuyên đối thọai với một đảng phái Chính trị độc tài. Việc hiểu sai lời dậy của Công Đồng Vatican II là vô tình hay đó là hữu ý xử dụng lời khuyên cao đẹp của Công Đồng trong mục đích bênh đỡ cho một đảng phái, một Nhà Nước đang làm bất công, tham nhũng và cướp bóc.

Cho dù vô tình hay hữu ý trích dẫn Giáo Huấn Công Đồng Vatican II, thì Hồng y Mẫn cũng phải xét những điểm sau đây làm điều kiện cho ĐỐI THỌAI:

Người đối thọai với mình có THIỆN CHÍ đối thọai hay không? Chúa Giêsu không bao giờ đối thọai với quân Pharisiêu giả hình vì thâm tâm của chúng chỉ mưu mô lừa người khác. Chúa mang cứu rỗi cho những ai có thiện tâm mà thôi.

Mục đích đối thọai mang đến cái gì ? Cộng đồng Xã Hội mong muốn đi tới những điều tốt hơn cho xã hội, nhưng CSVN dùng chiêu bài đối thọai như làm yên đòi hỏi thăng tiến xã hội của dân, để họ tiếp tục giữ độc quyền gây thêm tội ác cho xã hội.

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 04.02.2010


Vietnam's New Money



Bài "Vietnam's new money" trên báo Foreign Policy ngày 21 tháng một năm 2010:

Một làn sóng của sự giàu sang phú quý và quyền lực đang làm thay đổi bộ mặt quốc gia xã hội chủ nghĩa này. Nhưng, trong khi những nhà hoạt động dân chủ đang bị tù đày và hệ thống quyền lực cứ tiếp tục xiết chặt, "bàn tay mạnh mẽ" của Đảng Cộng sản có thể biến những tiến bộ về kinh tế thành một thảm họa về mặt xã hội.



Ngày 16 Tháng 11 năm 2008,tại Caravelle, khách sạn sang trọng đầu tiên của thành phố Hồ Chí Minh, nơi từng là chổ cư ngụ của các nhà báo công tác thời "chiến tranh Mỹ", hai nhà doanh nghiệp mới của Việt Nam đã kết hôn Chú rể là Nguyễn Bảo Hoàng, 36 tuổi, tổng quản lý của một công ty đầu tư, IDG Ventures Việt Nam, và cô dâu của ông đã 27 tuổi, tên Nguyễn Thanh Phương, chủ tịch của một công ty đầu tư, VietCapital. Hai người đứng đầu hai công ty, họ chịu trách nhiệm kiểm soát nguồn vốn khoảng $ 150,000,000 đô la từ các khoản đầu tư tại Việt Nam.

Nhưng đám cưới này đâu phải chỉ là một câu chuyện về tiền bạc mới tại Việt Nam. Nguyễn Thanh Phương đâu phải chỉ là một chuyên viên ngân hàng đầu tư xòang xĩnh- mà cô là con gái của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Người đàn ông cô lấy làm chồng chính là một công dân Mỹ, con của một người đã chạy trốn Việt Nam năm 1975 để trốn thoát gông cùm cộng sản - bây giờ trở về cưới con gái của một trong số những tên cộng sản đó.

Cuộc hôn nhân của họ gói trọn nhiều yếu tố của một "kiểu mẫu" Việt Nam mới, bất kể một làn sóng mới của sự giàu có, Đảng Cộng sản vẫn còn chi phối cả các lãnh vực kể cả công cộng lẫn tư nhân. Nhiều doanh nghiệp "tư nhân" hoặc là của nhà nước trước đây (DNNN) hay hiện nay vẫn còn có một số quyền sở hữu nhà nước,còn phần lớn vẫn do đảng viên nắm giữ. hầu hết những người nắm giữ các chức vụ điều hành cao cấp trong các hãng tư nhân đều thuộc về các đảng viên, thân nhân hay bạn bè của họ. Các đảng viên (Cộng sản) ưu tú đang biến đổi chủ nghĩa tư bản Việt Nam thành một doanh nghiệp mang tính cách gia đình. Và nếu trong tuần này, sự kiện bốn nhà hoạt động dân chủ bị kết án về tội lật đổ chính quyền có đưa ra dấu hiệu gì chăng nữa, việc củng cố quyền lực đảng là một sự phát triển rất đáng sợ cho tương lai của Việt Nam.

Có rất nhiều thí dụ về mối quan hệ ruột thịt giữa (những người nắm) tiền bạc và quyền lực tại Việt Nam hiện nay: Một trong những người giàu có nhất của Việt Nam là Trương Gia Bình,chủ tịch của FPT, một công ty công nghệ thông tin lớn nhất ở quốc gia bản địa. Ông cũng là người duy nhất ở Việt Nam thường được gọi với thủ ngữ "cựu rể" vì ông đã từng kết hôn với con gái của Võ Nguyên Giáp - từng được coi là anh hùng trong chiến tranh, tướng lãnh quân đội đã về hưu, và cựu phó thủ tướng. Trong thập niên 1990, nếu một cơ sở làm ăn cần người liên hệ trong số các công ty có dính dáng đến quân đội, hoặc trong ngành xây dựng hoặc thông tin, thì Giáp là người họ cần phải đến gặp.

Một thí dụ khác nữa là Đinh Thị Hòa, người Việt Nam đầu tiên tốt nghiệp MBA của Đại học Harvard. Vào đầu thập niên 1990, khi Ngân hàng Thế giới muốn kích thích sự phát triển trong địa hạt tư nhân tại Việt Nam, quốc gia này đã được trao tặng nhiều học bổng cho những người trẻ, trong số đó có Hòa. Khi về nước, Hòa đã sử dụng kiến thức vừa tìm thấy của mình để thành lập Galaxy, một công ty tư vấn cho hầu hết các nhà hàng muốn tổ chức theo phong cách thương mại Tây phương, một rạp chiếu phim lớn ở TP Hồ Chí Minh, và một công ty sản xuất phim.

Nhìn từ nhiều khía cạnh thì đây là là một mô hình của một doanh nghiệp thành công mà trong đó tư nhân làm chủ. Nhưng Galaxy đâu phải từ đâu lù lù xuất hiện, mà nó là một trong những công ty được thành lập bởi con cháu của những đảng viên gộc. Khi Ngân hàng Thế Giới chọn Hoa để trao tặng học bổng, cha cô đang làm tới chức thứ trưởng bộ ngoại giao VN.

Câu chuyện về tự do hóa nền kinh tế của Việt Nam có thể dùng câu nói của Hồ Chí Minh về tình đoàn kết dân tộc dể diễn tả, "thành công, thành công, đại thành công." Năm 1993, theo số liệu của chính phủ VN, gần 60 phần trăm dân số sống dưới mức nghèo khổ. Đến năm 2004 con số đó đã giảm xuống còn 20 phần trăm. Coi như quốc gia này đã đáp ứng hầu hết các mục tiêu phát triển do Liên hiệp quốc đề ra gọi là Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ, họ đã thoát ra khỏi cấp bậc của các nước nghèo nhất để tham gia vào nhóm của "những quốc gia với thu nhập hạng trung." Đời sống nhân dân được thăng hoa, chân trời của họ được mở rộng, và tham vọng của họ cứ thế lớn dần.

Tuy nhiên, vấn đề kiểm soát của nhà nước trên sự phát triển của Việt Nam là điều trở ngại. Cuộc hôn nhân giữa đảng và quyền lợi tư nhân đang méo mó nền kinh tế để phục vụ ý muốn của một số người thay vì phục vụ cho nhiều người. Và hệ thống chủ nghĩa xã hội bè phái đang trở thành một mối đe dọa cho sự ổn định trong tương lai của Việt Nam. Việt Nam đang làm nguy hại tới số phận của nhiều con em tiêu biểu mà Ngân Hàng Thế Giới tài trợ trước đây-- khi sự thăng hoa khi trước được tiếp nối bằng một cuộc phá sản

Source: http://www.vietcatholic.net/News/Html/76728.htm
====
    Vietnam's New Money
An influx of wealth and privilege is shaking up this socialist country. But, as pro-democracy activists are jailed and the network of power tightens, the Communist Party's strong hand may be turning economic progress into a social disaster.

BY BILL HAYTON | JANUARY 21, 2010

On Nov. 16, 2008, two of Vietnam's new entrepreneurs were married in the Caravelle, Ho Chi Minh City's first luxury hotel, once home to journalists covering the "American War." The groom was 36-year-old Nguyen Bao Hoang, managing general partner of an investment firm, IDG Ventures Vietnam, and his bride was 27-year-old Nguyen Thanh Phuong, chairperson of another investment firm, VietCapital. Between them, their two companies controlled around $150 million of investments in Vietnam.

But the wedding wasn't just another story about new money in Vietnam. Nguyen Thanh Phuong isn't just an investment banker -- she's the daughter of the prime minister, Nguyen Tan Dung. The man she was marrying is an American citizen, the child of parents who fled Vietnam in 1975 to escape the communists -- now returned to wed the daughter of one of them.

Their union encapsulates many elements of the new Vietnam where, despite an influx of new wealth, the Communist Party still dominates both the public and private sectors. Many "private" businesses are either former state-owned enterprises (SOEs) or still have some state ownership, and most are still run by party members. Most of the controllers of the commanding heights of the private sector are party appointees, their family, or their friends. The Communist Party elite are turning Vietnamese capitalism into a family business. And if this week's conviction of four pro-democracy activists on subversion charges is any sign, the consolidation of party power is a very frightening development for Vietnam's future.

There are many examples of the family relationship between money and power in today's Vietnam: One of Vietnam's richest men, Truong Gia Binh, is chairman of the country's biggest indigenous IT firm, FPT. He's also the only man in Vietnam routinely referred to with the prefix "former son-in-law" because he was once married to the daughter of Vo Nguyen Giap -- war hero, retired army commander, and former deputy prime minister. During the 1990s, if a business needed contacts in the army's extensive array of companies, or in construction or communications, Giap was the man to see.

Another example is Dinh Thi Hoa, Vietnam's first Harvard University MBA graduate. In the early 1990s, when the World Bank wanted to stimulate private-sector development in Vietnam, it awarded many scholarships to young people, including Hoa. On her return, Hoa used her newfound knowledge to found a company called Galaxy that now owns a PR agency, most of the good Western-style restaurant chains in the country, a big cinema in Ho Chi Minh City, and a film production company. In many ways it's a model of private-sector success. But Galaxy didn't just spring up out of nowhere. It's one of the many firms created by the children of the party elite. When the World Bank chose Hoa for the scholarship, her father was deputy foreign minister.

The story of Vietnam's economic liberalization has been, to quote Ho Chi Minh on national unity, "success, success, great success." In 1993, according to government figures, almost 60 percent of the population lived below the poverty line. By 2004 that figure was down to 20 percent. The country has met most of its Millennium Development Goals, development targets set by the United Nations, escaping the ranks of the poorest countries to join the group of "middle-income states." People's living standards are soaring, their horizons are widening, and their ambitions are growing.

But the state's control over Vietnam's expansion is troublesome. The marriage between party and private interest is distorting the economy toward the wants of the few rather than the needs of the many. And networks of crony socialism are becoming a threat to Vietnam's future stability. Vietnam risks the fate of many of the World Bank's previous poster children -- boom followed by bust.

The biggest state corporations are setting up unaccountable funding channels to finance projects with minimal economic logic. By June 2008, 28 SOEs had spent around $1.5 billion establishing or buying controlling stakes in fund management companies, stock brokerages, commercial banks, and insurance firms. Three-quarters of Vietnam's finance companies are now owned by the biggest SOEs (those known as general corporations). Many also have bought securities companies dealing in shares. Add all this together, and several of Vietnam's biggest general corporations have the potential to become self-financing black boxes with opaque funding arrangements.

Although the days of the soft loan from a state bank are largely past, there are plenty of other ways to channel money to SOEs. The state's Vietnam Development Bank (subsidized by aid from foreign governments) and its Social Insurance Fund (expected to become the biggest investor in the country by 2015) seem to act as unaccountable slush funds for the benefit of the state sector. Clearly SOEs have a significant, if not necessarily bright, future ahead.

The Vietnamese Communist leadership wants to run the country along the lines of Gaullism in France -- where the commanding heights of the public and private sectors are coordinated by an elite trained in such institutions as the École Nationale d'Administration. Under "Vietnamese Gaullism," a behind-the-scenes elite (the party) is supposed to set the overall direction of policy and then delegate its implementation to the state (which is controlled by the party). The government then draws up the laws and uses whatever resources are available to it -- the state bureaucracy, SOEs, the private sector, foreign investors, international donors, etc. -- to see the policy executed. Behind the scenes, the party monitors, corrals, and presses the various actors to make sure that its policy is followed. That, at least, is what the party would like to have happen. The reality is usually something quite different.

With easy money around, it's not hard to bribe patrons, officials, and regulators to turn a blind eye to breaches of the law. The party members in charge of the SOE tail end up wagging the party policy dog. But this isn't the whole story. What is remarkable about Vietnam is the way, at moments of crisis, the Communist Party can discipline its errant members and bring the economy back under central control. But how much longer can it do so?

Until recently, Vietnam had shared the benefits of growth more equitably than any of its neighbors. The party's socialist orientation still meant something. But in the future, redistribution will mean taking wealth away from the party's biggest supporters. Does the party leadership have the ability to stand up to its newly rich citizens and demand they hand over part of their wealth through taxation to benefit poorer people in faraway provinces? Do the convictions this week signal that the corrupt networks of party, power, and privilege have already gotten out of control? If so, Vietnam's new money could collapse under its own weight.

Source: http://www.foreignpolicy.com/articles/2010/01/21/vietnams_new_money