Wednesday, February 10, 2010

Tại sao thành phần trí thức Việt Nam vẫn tiếp tục bị tù tội ? - TT Thích Viên Định

TT Thích Viên Định

PARIS, ngày 3.2.2010 (PTTPGQT) - Vụ án xử các nhà hoạt động dân chủ vừa qua gây công phẫn trong dư luận quốc nội và quốc tế, vì tính chất giả trá của phiên tòa. Nhân dịp này, Thượng tọa Thích Viên Định, Phó Viện trưởng kiêm Tổng thư ký Viện Hóa Đạo, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất viết bài bình luận về sự kiện tại sao thành phần trí thức trong nước không được phục vụ đất nước mà lại bị bắt giam, tù tội ? Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế xin đăng tải bài bình luận ấy sau đây:

Cuộc chiến ở Việt Nam chấm dứt đã 35 năm, vậy mà đất nước, mọi mặt, vẫn chậm tiến. Kinh tế vẫn sút kém, không theo kịp các nước trong khu vực; văn hoá, đạo đức, xã hội ngày một suy đồi; trộm cắp, cướp giật, tiếp tục gia tăng; tham nhũng, hối lộ đã trở thành quốc nạn. Bên cạnh đó, nạn ngoại xâm, thế lực thù địch Bắc phương, hàng ngàn năm nay, vẫn tiếp tục âm mưu gặm nhắm, xâm chiếm đất đai, biển đảo của tổ quốc. Trong nước, tình trạng, các thành phần tôn giáo, trí thức, văn nghệ sĩ, luật sư, bác sĩ, sinh viên, học sinh, những nguồn sinh lực của đất nước, là lực lượng nòng cốt lãnh đạo, hướng dẫn dân tộc, vẫn tiếp tục bị đánh phá, khống chế, cô lập, quản thúc, tù tội, bị gán ghép bằng nhiều tội danh.

Tại sao đất nước Việt Nam ta lại rơi vào hoàn cảnh tồi tệ như vậy ? Hay đây là tái hiện chính sách “Trí, phú, địa, hào, đào tận gốc, trốc tận rễ” của chủ thuyết hận thù giai cấp, Mác-Lê nin, được áp dụng tại Miền Bắc Việt nam vào thập niên 50, trong Thế kỷ trước ? Tầng lớp trí thức là tầng lớp dẫn đầu trong mọi thăng tiến của dân tộc. Nhưng, hết người này đến người khác, hết lớp này đến lớp khác, bị đưa vào tù. Tình trạng đó, kéo dài đã trên 50 năm. Đó là lý do tại sao chiến tranh chấm dứt đã 35 năm mà đất nước vẫn nghèo nàn, lạc hậu, kém xa các nưởc trong khu vức và trên thế giới. Nếu cứ tiếp tục tình trạng như vậy, tương lai tổ quốc Việt Nam sẽ đi về đâu ?

Vừa qua, rất nhiều người trí thức, lại tiếp tục bị các toà án cho vào tù, vì bị gán ghép tội danh : “hành động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” Có người bị kết án lên đến 16 năm tù, và 4 năm quản thúc sau khi mãn hạn tù.

Có thật những ngưởi trí thức, doanh nhân vừa rồi đã hành động nhằm lật đổ chính quyền không ? Họ đã lập quân đội, trang bị vũ khí, hay tổ chức bạo động ? Không thấy toà án nào đề cập đến các việc này ?

Bằng những lời nói, những bài viết, để góp ý, một cách ôn hoà, với Nhà cầm quyền cộng sản, nhằm ổn định xã hội, phát triển kinh tế, làm giàu đất nước, chống ngoại xâm đang ngày đêm rình mò tìm cách thôn tính tổ quốc Việt Nam, lại bị xem là “hành động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân ?” Nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam đã làm điều gì khuất lấp, nên có tư tưởng, xem những ý kiến đề nghị của người dân là hành động nhằm lật đổ ? Chỉ nói và viết, lại có thể lật đổ được chính quyền hay sao ?

Không chấp nhận hành động lật đổ, bằng bạo động, nếu có, vậy Nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam muốn thăng tiến, thay đổi xã hội, bằng cách nào ? Chiến tranh đã chấm dứt 35 năm rồi, đất nước vẫn nghèo đói, các tệ nạn xã hội ngày càng nhiều, Nhà cầm quyền bắt người dân phải chịu đựng bao lâu nữa ?

Đảng cộng sản muốn nhân dân Việt Nam phải chấp nhận sống dưới một chính quyền độc tài, độc đảng, toàn trị, theo kiểu chế độ phong kiến ngày xưa ? Hay muốn nhân dân phải tổ chức tranh cử công bằng, theo tiêu chuẩn tự do, dân chủ, công bằng, đúng như điều lệ Hiến chương Liên Hiệp Quốc, mà Việt Nam đã ký kết tham gia ? Điều này, chưa thấy Nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam công bố rõ ràng. Cũng chưa trưng cầu ý kiến toàn dân.

Một nhà nước, vừa ký kết gia nhập Liên Hiệp Quốc, nghĩa là đồng ý điều hành đất nước theo tiêu chuẩn Tự do, Dân chủ, Nhân quyền của Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, lại vừa thực hiện những luật lệ, chống trái, ngay cả với Hiến Chương hiện hành của Việt Nam, cũng như chống trái với những điều luật của Công ước Quốc Tế về các Quyền Chính Trị và Dân sự của Liên Hiệp Quốc, tổ chức mà mình ký kết tham gia. Ở điểm này, đã có sự lập lờ đánh lận con đen.

Người dân chỉ đưa ra ý kiến đóng góp, một cách ôn hoà, lại bị bắt. Vậy trước năm 1988, ở Việt Nam cũng có đa đảng, đảng Xã Hội và đảng Dân chủ. Những đảng phái đối lập với Nhà cầm quyền cộng sản khi ấy, không thấy đảng viên nào bị gán tội. Có tội hay không tội là do Nhà cầm quyền độc tài tuỳ hứng quyết định ? Như vậy, người dân Việt Nam biết đâu mà hành xử cho đúng ? Nay mới rõ là hai đảng Xã hội và Dân chủ kia chỉ là các đảng bù nhìn của chế độ, và dù bù nhìn cũng bị giải tán !

Trong cuộc họp Kiểm điểm Thường kỳ toàn diện về Nhân quyền, được tổ chức theo định kỳ, vừa qua, của Liên Hiệp Quốc, có rất nhiều quốc gia đã góp ý với Việt nam, nên sửa đổi những điều luật chưa phù hợp với Hiến Chương của Liên Hiệp Quốc và các Công Ước Quốc về các Quyền Dân sự và Chính Trị, chống trái cả với Hiến Chương Việt Nam hiện hành, nhưng Nhà cầm quyền Việt Nam vẫn khăng khăng không chịu sửa đổi.

Người dân góp ý, chỉ để làm thăng tiến cuộc sống, thăng tiến xã hội, lại bị ghép tội “hành động lật đổ chính quyền nhân dân”. Tại sao người dân, nhất là những thành phần trí thức lại không có quyền ăn nói, không có quyền phát biểu ? Nhà cầm quyền cộng sản, chỉ muốn dân tộc Việt Nam, ngậm miệng, làm thinh, giao số phận dân tộc và vận mệnh tổ quốc Việt Nam cho một đảng chính trị độc tài, mà đảng này lại theo tư tưởng ngoại lai, vô sản, vô thần, lạc hậu của Mác-Lê Nin, rắp tâm đưa tổ quốc và dân tộc Việt Nam đi đâu tuỳ thích ?

Các nước văn minh dân chủ tiên tiến ngày nay, không những, người dân có quyền góp ý, yêu cầu, điều này, điều nọ, mà còn có quyền lập ra những đảng phái đối lập để tranh cử công bằng. Trong kinh tế, chính trị hay bất cứ ngành nghề nào khác, cần phải có sự cạnh tranh công bằng, mới tiến bộ.

Việc đàn áp, khủng bố, tù tội, những người tranh đấu, bất đồng chính kiến, chỉ thấy được sử dụng trong các Nhà cầm quyền thực dân, những kẻ xâm lăng, đô hộ. Các chính quyền dân cử, hợp pháp “của dân, do dân, vì dân” không được phép dùng các biện pháp bạo lực, tù tội, đàn áp, để khủng bố những người dân bất đồng chính kiến, cũng như các đảng phái đối lập.

Tổ quốc Việt nam ta với bốn ngàn năm văn hiến, lại không có tư tưởng nào, khả dĩ, dẫn đạo hướng đi cho dân tộc hay sao, lại phải vay mượn một chủ thuyết, tư tưởng ngoại lai, xa lạ với văn hoá dân tộc ?

Nhờ mạng thông tin tối tân, nhanh chóng hiện nay, người dân Việt Nam đã hiểu biết, có nhu cầu một cuộc sống, vừa thích hợp với văn hoá dân tộc, vừa có đầy đủ các tiêu chuẩn tự do, dân chủ, nhân quyền như các dân tộc văn minh khác trên thế giới. Việc đó có gì là sai lầm, phải bị tù tội ? Không lẽ, dân tộc Việt Nam, lúc nào, cũng phải đứng bên lề của thế giới văn minh ? Dân Việt Nam không phải là con người hay sao ?

Đương nhiên, người dân Việt, với tinh thần bất khuất, không bao giờ chịu nhục nhã, cúi đầu im lặng, chấp nhận một cuộc sống mất tự do, không có nhân quyền, chỉ có miệng ăn, không có miệng nói. Nên càng ngày càng có nhiều người tiếp tục tranh đấu, và sẽ còn có nhiều người, nhất là giởi trí thức, tôn giáo, văn nghệ sĩ, bác sĩ, luật sư, sinh viên, học sinh, công nhân, nông dân, tiếp tục bị tù tội.

Đến bao giờ dân tộc Việt Nam mới thoát khỏi cuộc sống không có tự do, dân chủ, nhân quyền, đầy đau khổ, tối tăm này ?

Cuộc chiến giữa thiện và ác, giữa nô lệ và tự do, giữa độc tài và dân chủ vẫn tiếp tục cho đến ngày thành công.

Thích Viên Định


Văn Hóa Và Chính Trị - Lý Đại Nguyên

Lý Đại Nguyên

Với nền Nhận Thức Nhân Chủ Nhân Văn thời đại, thì Văn Hóa vừa là nền móng, vừa là nội dung, vừa là hướng vươn tới Chân, Thiện, Mỹ, luôn luôn thăng hóa của Con Người, của lịch sử Dân Tộc và Thế Giới. Vì thế, Chính Trị là sự suy tư, phán đoán, lựa chọn đường hướng, thế cách, hành xử của Con Người trong mọi lãnh vực sinh hoạt xã hội, quốc gia và quốc tế và còn định hình cho các Chế Độ. Nên hiện nay được gọi là Dân Quyền, hay là Quyền của Công Dân mỗi Quốc Gia. Biểu hiện cụ thể quyền lực chính trị ra ở 3 lãnh vực: Tôn Giáo là Giáo Quyền. Cai Trị là Thế Quyền. Đại Chúng là Dân Quyền. Vậy, Văn Hóa là Thể của Chính Trị, mà Chính Trị là Dụng của Văn Hóa. Nên Con Người sống giữa thế giới vô thường nhị nguyên: “đúng, sai – thiện, ác – tốt, xấu …”, bắt buộc mỗi người phải có quyền tự do, tự chủ và trách nhiệm về sự lựa chọn chế độ xã hội chính trị của mình, để ứng xử với mọi đối tượng, mọi tình huống, sao cho hợp tình, hợp lý, hợp cảnh, hợp pháp, đúng với nhận thức nhân văn chung, không trái với đạo đức làm người của mình, không làm hại người, hư vật, để mỗi người thể hiện quyền làm người chân chính của mình trong cuộc sống cộng đồng xã hội loài người. Để chung sức xây dựng một Xã Hội Người Tự Do Dân Chủ trong đó quyền Tự Do, Tự Chủ, Sáng Tạo của mỗi người trở thành cứu cánh của Lịch Sử Nhân Loại. Vì vây, người xưa gọi Chính Trị là Nghệ Thuật Thỏa Hiệp. Nay có thể gọi Chính Trị là Nghệ Thuật Ứng Xử.

Những người vì thiếu hiểu biết, hoặc vì bất cứ lý do nào đó, mà không thực hiện quyền làm chính trị của mình, tức là tự chối bỏ quyền tự do, tự chủ lựa chọn của mình, nhường cho kẻ khác quyết định vận mệnh của mình rồi đấy! Hay, có những người cho rằng: Chính trị là lãnh vực đầy ác hiểm, thủ đoạn, dối trá, lừa bịp, mánh khóe, quỷ quái, rình rập hại nhau, nên mình cần phải xa lánh. Lỗi lầm, sai trái đó là do người làm chính trị với tâm gian tà, trí quỷ quyệt đã làm sa đọa Chính Trị thành Tà Trị mà ra. Nên những hành vi sa đọa ấy phải gọi là Tà Trị chứ không thể cho đó là Chính Trị được nữa. Đã là chính trị thì tự nó phải là việc làm chính đáng, tốt lành, chân thật đem lại sự an lành cho Con Người, thịnh trị cho Quốc Gia, công bằng cho Xã Hội, hòa bình cho Thế Giới. Nó thuộc về toàn dân, là Nhân Quyền, là quyền lợi thiết thân, mà mọi công dân đều có bổn phận, trách nhiệm thi hành, đó là Dân Quyền được ứng cử và bầu cử những người đại diện mình vào các cơ quan công quyền quốc gia. Hoặc tham gia các chính đảng để tranh cử, để được bầu lên cầm quyền. Hay đóng góp công sức của mình cho các đoàn thể tôn giáo, ngôn luận, chính trị, nghiệp vụ mà mình theo. Gọi là các Tập Thể Xã Hội Dân Sự. Chính các tập thể xã hội công dân này mới là sức mạnh của toàn dân, của dân tộc để tự bảo vệ lấy giá trị tự do, tinh thần tự chủ, quyền lợi tư hữu của mỗi người trong chế độ Dân Chủ Tự Do. Nhằm giữ cho luật pháp nghiêm minh, chính quyền trong sạch, chính trị chân chính, xã hội công bằng, kinh tế phát triển, đất nước phú cường, thế giới hòa bình.

QUYỀN LỰC CHÍNH TRỊ

Từ ngàn xưa, nhân loại đã thấm thía và bị trả giá quá đắt về những sai trái trong lãnh vực chính trị, nên mới nói: “Làm Thầy Thuốc mà sai thì giết chỉ một mạng người. Làm Chính Trị mà sai thì hại cả một đời, cả một nước. Làm Văn Hoá mà sai thì hại đến muôn người, muôn đời, và muôn nước”. Vì Văn Hóa có giá trị trường cửu, rộng lớn, là biểu hiện của “Chân Lý Tính”, là nội dung của Chính Trị và khắp mặt sinh hoạt quốc gia và quốc tế. Nó ăn sâu, bén rễ vào tâm thức Con Người thành lối sống, cách sống, nếp sống, khuynh hướng sống, truyền thống sống của mỗi Dân Tộc. Nên Văn Hóa mà sai thì Chính Trị sẽ tiếp tục sai, từ đời này sang đời khác, cho tới khi nào Văn Hóa tìm đúng chính đạo để hướng được tới Chân Lý, thể hiện được Chân Lý Tính ra trong khắp mặt sinh hoạt của đời sống xã hội, dân tộc và nhân loại.

Người xưa gọi đây là Đế Đạo, là Đạo của Chân Lý. Đạo mà các Tôn Giáo chân chính rao giảng và thực hiện những điều thánh thiện. Đạo mà là hướng của Văn Hóa vươn tới. Còn trong cuộc sống thực tế vô thường tương đối này thì lý tưởng của người làm chính trị và xây dựng cho thể chế của quốc gia là Vương Đạo, là Đạo của Dân Chủ rộng mở cho toàn dân nhằm thể hiện Dân Quyền. Người dân có toàn quyền tự do lựa chọn thể chế và người cầm quyền của mình. Đạo của các chế độ độc tài bạo trị, các đế quốc thống trị, các đoàn thể chính trị quá khích, tôn thờ bạo lực là Bá Đạo. tức là Đạo của Độc Tài khủng bố toàn trị. Còn các chế độ, chính quyền, đảng phái vừa độc tài, vừa tham nhũng, hại dân, hại nước, buôn dân, bán nước như chế độ Việtcộng hiện nay thì đó là Tặc Đạo, là Đạo của Kẻ Cướp. Ngoài ra các chế độ, các chính quyền, các chính đảng “ăn xổi ở thì”, gặp đâu làm đó, sai rồi sửa, sửa rồi vẫn sai, đó gọi là Mạt Đạo. Vậy “Chính Trị Đạo” gồm: Đế Đạo, Vương Đạo, Bá Đạo, Tặc Đạo. 2 đường chính là Đế Đạo và Vương Đạo, tức là Chính Đạo. 2 đường tà là Bá Đạo và Tặc Đạo, tức là Tà Đạo. Chính, Tà đều do mỗi người, mỗi đoàn thể, mỗi thế lực tự do, chủ động suy nghĩ, phán đoán và lựa chọn. Tất cả là ở người, do người mà chính trị trở thành tốt hay xấu.

Đã là người có trí khôn, sống giữa xã hội người thì không thể không làm chính trị, và có làm hay không cũng đều bị hệ lụy vào guồng máy chính trị cả. Khi nói tới Quyền là nói tới Quyền Lực Chính Trị. Giáo Quyền là quyền lực chính trị của Tôn Giáo. Thế Quyền là quyền lực chính trị của Chính Quyền cai trị. Dân Quyền là quyền lực chính trị của Công Dân. Nhân Quyền là quyền lực chính trị thuộc về Con Người. Đòi Nhân Quyền là đòi quyền lực chính trị của Con Người, vì Con Người, cho Con Người vậy.

Trước, nay, người đời thường lẫn lộn giữa hai lãnh vực chính quyền cai trị, với chính trị dân sự. Vẫn theo quan niệm của thời Phong Kiến, cho rằng: Chỉ có Vua, Quan cầm quyền, thực hiện chủ trương, chính sách, đường lối, thi hành luật lệ quốc gia, và những hoạt động của kẻ thống trị, hay sinh hoạt đảng phái, nhằm cướp chính quyền, mới cho đó là làm chính trị, còn dân không có quyền chính trị. Người dân trong nước là Thần Dân của Vua. Sơn Hà của Vua. Xã Tắc của Vua. Vua thay Trời trị Dân. Vua dựa vào Thần Quyền, nhân danh thần quyền để tạo ra quyền lực chính trị cho mình, cho dòng họ mình, rồi ban quyền cho quan chức để thống trị toàn dân. Dân không có quyền biết, bàn, và làm chính trị. Nhưng ở thời đại Dân Chủ Tự Do ngày nay thì, Quyền Chính Trị thuộc về Toàn Dân. Người Dân là chủ nhân ông có thẩm quyền đích thực về Quốc Gia mình. Tất cả mọi công dân đều phải làm chính trị, phải có bổn phận chính trị, phải có trách nhiệm về Sinh Mạng Chính Trị của mình và của Quốc Gia. Ý chí toàn dân tạo thành quyền lực chính trị quốc gia thể hiện qua luật pháp và chế độ. Nên phải biết suy nghĩ phán đoán để ra ứng cử, hoặc lựa chọn người đại diện mình bầu vào chính quyền. Hay quyết định gia nhập một tổ chức Tôn Giáo, Văn Hóa, Xã Hội, Nghiệp Vụ nào đó để thực hiện lý tưởng, cũng như bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình, đó đều là thái độ và là hành vi chính trị cả.

Ngay các tổ chức Tôn Giáo cũng không thoát khỏi chính trị. Vì không một tôn giáo nào lại không có mục đích truyền bá giáo lý, giáo pháp của mình phổ cập tới mọi người, khắp chốn. Để đem Đạo vào Đời thì phải có Giáo Hội. Có giáo hội là phải có giáo chủ, có giáo lý, có đền thờ, có tổ chức, có tu sĩ , có giáo dân, có giáo quyền, có cơ sở, có phương tiện, có chủ trương, có đường lối, có phương pháp truyền đạo. Tức là có đối nội, đối ngoại, có làm chính trị. Chỉ khác là các tôn giáo tuy có xây dựng Giáo Quyền, mà không phải là để đoạt Thế Quyền. Giáo Hội bất cứ thuộc tôn giáo nào cũng không thể trực tiếp cầm quyền cai trị, không trùm phủ lên chính quyền, bắt Thế Quyền làm công cụ phục vụ cho Giáo Quyền như khuynh hướng Hồi Giáo toàn thống hiện nay, để đẩy nhân loại vào các cuộc thánh chiến nguy hiểm. Ngược lại Chính Quyền cũng không thể lợi dụng Giáo Quyền làm công cụ cho Thế Quyền để thỏa mãn tham vọng Đế Quốc Thống Trị của mình, như ở Trunghoa, Lamã xưa, và Cộngsản nay.

PHÂN NHIỆM CHÍNH TRỊ

Ngay từ thời loài người vừa tiến vào cuộc sống sinh hoạt cộng đồng xã hội sơ khai, thì đã hình thành 2 lãnh vực Thế Quyền và Giáo Quyền và đều dựa vào Thần Quyền, nhân danh Thần Quyền để lãnh đạo, hướng đạo toàn dân rồi. Nên trong sinh hoạt chính trị của tập thể xã hội phôi thai đó đã được phân công, phân nhiệm một cách tự nhiên là Thế Quyền nằm trong tay Tộc Trưởng hay Tù Trưởng điều khiển, hướng dẫn Bộ Tộc, hay Bộ Lạc sinh hoạt, kiếm sống. Giáo Quyền nằm trong tay các Pháp Sư hay Thầy Cả có nhiệm vụ thiêng liêng là cầu cúng thần linh, tìm cách trị bệnh cho dân. Thế Quyền giữ phần Lãnh Đạo cai trị bộ tộc. Giáo Quyền là Chỉ Đạo tinh thần cho dân. Hai lãnh vực Tinh Thần và Thực Tế này, luôn luôn có sứ mạng linh thiêng, và thiết thân là phụng sự cho người dân và xã hội thì mới làm tròn thiên chức tự nhiên của lịch sử trao cho.

Bước vào thời thành lập Quốc Gia, thì Thế Quyền hoàn toàn nằm trong tay Nhà Vua và Triều Đình Phong Kiến để lãnh đạo, điều hành Quốc Gia. Giáo Quyền thuộc về các Tôn Giáo thờ kính Thần Linh, hay tin nhận Tâm Linh để chăm sóc, hướng dẫn tinh thần và bảo vệ đạo đức cho Toàn Dân. Thế nhưng, trong quá trình lịch sử, hai thế lực Giáo Quyền và Thế Quyền vì tham vọng độc tôn, thường rơi vào cảnh cạnh tranh lấn vượt, tiếm quyền của nhau, nhằm thống trị Quốc Dân gây ra không biết bao nhiêu cảnh tàn sát, khổ lụy cho loài người. Một khi ở Quốc Gia nào đó, Thế Quyền khống chế nổi Giáo Quyền, hay ngược lại Giáo Quyền nắm được Thế Quyền thì sẽ thành Chế Độ Toàn Thống, thường biến Quốc Gia đó thành Đế Quốc xâm lăng các nước chung quanh, đây là một thảm họa lớn đối với nhân loại.

Đế Quốc Trung Hoa. Hán Võ Đế -140 – 87 trước Tây Lịch, dùng Pháp Trị của Hàn Phi, để cho Nhà Vua nắm hết mọi quyền hành quốc gia, với chủ trương “Trung Quân Ái Quốc” “Quân xử Thần tử, Thần bất tử, bất trung”. “Trung Thần bất sự nhị Quân”, biến Vua thành nhà Độc Tài Bạo Trị. Rồi tổng hợp với nền Đạo Học Nho Giáo lấy “Tam Tài là Thiên, Địa, Nhân”. “Tam Cương là Quân, Sư, Phụ”. “Ngũ Thường là Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín”, và “phương pháp Nhân Trị”của Khổng Tử làm kim chỉ nam để giáo hóa dân chúng và tuyên dương danh nghĩa Đế Quốc Đại Hán. Vì theo trật tự đẳng cấp Vua đứng trên Sư, nên Thế Quyền trùm lên Giáo Quyền, khiến ở Trunghoa Tôn Giáo đều do Triều Đình tấn phong. Giáo Quyền không thể độc lập phát triển nổi. Theo đề nghị của Đổng Trọng Thư, Võ Đế lấy Nho Giáo làm Quốc Giáo, tôn Khổng Tử làm “Vạn Thế Sư Biểu”. Từ đó tạo ra nền Chính Trị Phong Kiến Đế Quốc Đại Hán pha trộn giữa Pháp Trị với Nhân Trị dẫn tới tình trạng cá nhân độc tôn duy ý chí bạo trị. Vượt qua thời Hán, kéo dài mãi tới ngày nay. Dù Trunghoa đã trải qua 2 cuộc gọi là Cách Mạng Tư Sản Dân Quyền 1911 của Tôn Dật Tiên, và cuộc Cách Mạng Cộng Sản Toàn Trị 1949, của Mao Trạch Đông, thì tinh thần Phong Kiến Bạo Trị, Đế Quốc Đại Hán ở giới cầm quyền Trunghoa ngày càng quái hóa thêm.

Đế Quốc Lamã. Trên 3 trăm năm, các Hoàng Đế Lamã tàn sát Kitô Giáo từ thuộc quốc Do Thái truyền vào Lamã. Đạo Kitô của Đức Jésus càng bị cấm đoán, đầy đọa, giết hại, càng phát triển lan tràn ra khắp Đế Quốc. Hoàngđế Constantine, muốn an dân, bình trị thiên hạ, nên năm 313 đã phải chính thức ra sắc chỉ nhìn nhận Kitô Giáo là Công Giáo của toàn Đế Quốc. Năm 314, ông triệu tập Hội Đồng Giám Mục thành lập Giáo Hội Kitô Giáo Lamã. Nhưng vị cầm đầu Giáo Hội là Giáo Hoàng phải do Hoàngđế chỉ định. Như vậy là Thế Quyền Lamã xử dụng Giáo Hội Kitô làm công cụ cho Đế Quốc. Mãi tới năm 1059, Giáo Hội mới thành lập được Hồng Y Đoàn để tự bầu lên Giáo Hoàng, từ đây Giáo Hội Kitô Giáo mới củng cố được Giáo Quyền Độc Lập. Cuộc tranh chấp quyền lực lãnh đạo giữa Giáo Quyền của Giáo Hội với Thế Quyền của Vua Chúa Âu Châu liên tục nổ ra. Thế Quyền là nhất thời, Giáo Quyền là trường cửu. Giáo Hội Kitô Lamã lan truyền ra khắp thế giới. Phong trào Thực Dân theo gót các nhà truyền giáo mà mở mang thuộc điạ…Tới năm 1962, Cộng Đồng Vaticano II, mới công bố chủ trương “Đem Đạo vào Đời”. “Tách Giáo Hội khỏi Thế Quyền”. “Các tu sĩ không được nắm chính quyền và làm chính trị đảng phái”. Tức là Giáo Hội Kitô Giáo Lamã chính thức phân nhiệm chính trị giữa Giáo Quyền và Thế Quyền.

Hiện nay trên thế giới chỉ còn Hồi Giáo là theo đuổi chủ trương Giáo Quyền Toàn Thống. Tiên tri Mohammed, học từ Do Thái Giáo và Kitô Giáo, vào thế kỷ thứ 7, Ông thành lập Đạo Hồi, tôn thờ một vị Nam thần duy nhất là Allah, đấng toàn năng tối thượng điều khiển vũ trụ, vạn hữu và loài người. Đạo Hồi có bản chất Nam tính cực đoan. Ông tự nhận là vị tiên tri lớn nhất do Thượng Đế Allah gửi đến cho thế giới. Tiên tri Mohammed có khí phách của một Đại Đế, hơn là vị Giáo Chủ nhân từ sẵn sàng nhận lấy phần hy sinh về mình. Ngược lại, Mohammed luôn luôn đòi phần thắng cho mình. Ông tuyên bố: “Thánh chiến với bất cứ ai, bất cứ quốc gia nào không theo đạo Hồi”. Bởi đó, Hồi Giáo biến thành một Đại Đế Quốc, phía Tây từ Y-pha-Nho, phía Đông tới sông Hằng Ấn Độ. Từ năm 1096 đến 1720, Hồi Giáo tiến vào trung tâm Âu Lục tạo thành cuộc Thánh Chiến với Kitô Giáo và các nước Âu Châu. Hồi Giáo bị Kitô Giáo chận ở Âuchâu, bị Ấn Độ Giáo đẩy lùi xuống Đông Nam Á rồi trụ ở 2 nước Malaysia và Indonesia. Do đó, Vua trong các nước Hồi Giáo từ xưa, nay, đều kiêm luôn chức Giáo Lãnh của Đạo Hồi.

Đến thời Dân Chủ, nhiều nước Hồi Giáo theo khuynh hướng của Thổ Nhĩ Kỳ, thành lập các chính quyền cai trị bởi chế độ thế tục. Năm 1979, Ayatollah Khomeini thực hiện cuộc cách mạng Hồi Giáo tại vương quốc Iran. Tạo lập ra một Hội Đồng Tu Sĩ Hồi Giáo Tối Cao, bao trùm lên Chính Quyền Quốc Gia, trực tiếp lãnh đạo Quốc Dân, thi hành Luật Hồi Giáo. Từ đó các phong trào Hồi Giáo Quá Khích thi nhau xuất hiện, để cổ xúy cho chế độ Hồi Giáo Toàn Thống. Nổi bật nhất là tồ chức Hồi Giáo Khủng Bố al Qaeda, do Osama bin Laden lãnh đạo. Đã áp dụng kiểu “ôm bom tự sát”của Palestine. Cướp máy bay dân sự Hoakỳ biến thành quả bom bay khổng lồ, lao thẳng vào và hủy diệt tòa nhà Tháp Đôi thành bình địa, ở khu trung tâm thương mại New York, và một phần Ngũ Giác Đài, biểu tượng cho sức mạnh quân sự vô địch của Mỹ. Cuộc Chiến Quốc Tế “Chống Khủng Bố” toàn diện, quyết liệt, khổ đau, đầy máu, nước mắt, tiền tài, do Mỹ cầm đầu nổ ra chưa thấy ngày kết thúc.

Trong tiến trình lịch sử nhân loại, thường thấy xuất hiện cảnh Tôn Giáo và Vua Chúa luôn luôn tranh chấp với nhau. Giáo Quyền lấn vượt Thế Quyền, hay ngược lại Thế Quyền khống chế Giáo Quyền, hoặc thế lực này lợi dụng thế lực kia, để thống trị nhân loại, đó là mối họa khủng khiếp nhất đối với thế giới. Trong cảnh khổ đau triền miên không lối thoát ấy, cũng như biết rõ Con Người phải sống trong kiếp sinh, già, bệnh, chết và đói nghèo, rét lạnh đe dọa thường xuyên. Thái tử Tất Đạt Đa, đã quyết định lựa chọn, bỏ vương vị quyền uy, thế tập, đi tu tìm đạo giải thoát. Như vậy ngay từ khởi thủy Đạo Phật đã tự chủ động tách Tôn Giáo khỏi Chính Quyền. Tách Giáo Quyền khỏi Thế Quyền. Ở thời ấy, giáo quyền Bà La Môn Giáo trùm lên thế quyền của Vua Chúa Ấn Độ. Bởi vậy, trong luật do chính Đức Phật lập ra mới có điều khoản: “Là quan chức và chưa chính thức từ quan, không được thọ đại giới Tỳ Kheo” Nghiã là Tăng sĩ Phật Giáo không được đảm nhận chức quyền, không được tham gia Thế Quyền Cai Trị. Cũng có nghĩa là Phật Giáo phải luôn luôn ở vị trí Giáo Quyền trong tư thế Văn Hóa đến thẳng với người dân, hướng dẫn dân trong tiến trình mỗi người tự tu “tự giác, giác tha, giác hành viên mãn”. Không lừa mị, cao áp, hù dọa; không làm công cụ cho chính quyền để thống trị dân; không tranh quyền, cướp nước, rồi ngụy biện cho đó như phương tiện truyền đạo, mà chỉ được dùng Đế Đạo, tức là Đạo của Chân Lý để hoằng dương chánh pháp thôi.

Chính vì thế, mà mỗi lần Phật Giáo bị đưa lên làm Quốc Giáo cho một Quốc Gia nào đấy, thì liền sau đó đều mang họa không nhỏ. Lần đầu là tại Ấn Độ, Đại Đế Asoka -268 đến -232 trước Tây lịch, sau khi dùng binh lực tàn sát các nước nhỏ, thống nhất Ấn Độ thành một Đế Quốc, ông khởi tâm hướng Phật, lấy Phật Giáo là Công Giáo cho toàn Đế Quốc, bỏ Bà La Môn Giáo vốn là tôn giáo phổ biến trong nhân gian tại lục địa Ấn Độ. Nhưng sau khi triều đại Asoka tàn, thì Bà La Môn Giáo quật khởi, đẩy Phật Giáo ra khỏi lục địa Ấnđộ, chạy lên phía Bắc trụ ở Nepal, xuống phía Nam thì trụ ở Tích Lan. Cho đến nay, xứ Ấn là quê hương của Đạo Phật, mà chỉ còn di tích Phật Giáo, chứ người theo Đạo Phật thì rất hiếm.

Lần thứ hai tại Việtnam. Vào đầu mùa tự chủ năm 968, Vạn Thắng Vương Đinh Bộ Lĩnh dẹp xong Thập Nhị Xứ Quân, lên ngôi Hoàng Đế. Đinh Tiên Hoàng Đế được nhiều Tăng Sĩ Phật Giáo có tài phò trợ, nhất là về mặt ngoại giao. Nhà Vua phong Ngài Khuông Việt là Tăng Thống. Sang Thời Tiền Lê. Phật Giáo vẫn được xem như Quốc Giáo, vì tuyệt đại đa số dân Việt thời đó đều thờ Phật. Nhưng bản chất của Đạo Phật là Đế Đạo, không thích hợp ở Triều Đình Phong Kiến. Dưới thời Lê Long Đĩnh 1005-1009, Long Đĩnh giết anh để cướp ngôi, từ đó lấy việc giết người làm trò chơi. Giới Tăng Sĩ khuyên can đều bị hại. Phật Giáo gặp đại nạn.

Thời Lý Công Uẩn 1010-1225, lập ra nhà Lý. Vị cố vấn cho vua Lý Thái Tổ là Vạn Hạnh Thiền Sư mới đem Phật Giáo về đúng vị thế của mình. Tăng Sĩ Phật Giáo trở về với toàn dân, trao Triều Đình lại cho Nho Sĩ Khổng Giáo để phò vua, giúp nước. Phân định giữa Giáo Quyền và Thế Quyền độc lập mà tương trợ nhau để phụng sự dân, nước. Thực hiện cuộc Viên Dung Tôn Giáo, triển khai nền Văn Hóa Dân Tộc Dung Hóa cả ba nguồn Đạo Học Đông Phương là Phật, Lão, Khổng. Xây dựng nền Văn Hiến Đa Nguyên, Phân Nhiệm, Điều Hợp cá biệt với hệ thống sinh hoạt hữu vi độc tôn của Trunghoa. Tư tưởng Việtnam lấy Con Người tự chủ làm cứu cánh, lấy Dân Tộc độc lập làm chủ đạo cho mọi sinh hoạt. Nói cách khác, đó chính là lối Nhận Thức Nhân Chủ Nhân Văn mà thời đại ngày nay đang tiến tới.

Nhưng bất hạnh cho Dân Tộc, đại họa của Toàn Dân, và cũng là mối nguy đối với Thế Giới hiện nay là Dòng Sống Văn Hóa Viên Dung Tôn giáo truyền thống của Dân Tộc và cũng là hướng vươn tới của Toàn Thế Giới, đang bị chế độ cộng sản vô thần, vô tổ quốc, vô gia đình, vô tôn giáo, phi nhân tính, phi dân tộc, phi văn hóa đã biến thái thành chế độ đạo tặc, độc tài, tham nhũng, ngu si, đang cố dìm toàn dân và đất nước vào vòng nô lệ Tầucộng, kẻ thù truyền kiếp của dân tộc Việtnam. Khiến cho toàn vùng Á châu bị nằm trong vòng đe dọa thường trực của bọn Bành Trướng Bắc Kinh. Khiến cho Thế Giới bị đặt trong tình thế bất an thường xuyên. Việc phục hồi sức mạnh Dân Tộc, tinh thần độc lập Quốc Gia và ý thức tự do tự chủ của Toàn Dân Việtnam, nhằm Dân Chủ Hóa chế độ, đó là sinh lộ của Việtnam thoát khỏi chế độ Tặc Đạo Việtcộng và cũng tạo nổi thế Liên Minh Dân Chủ Phòng Thủ Chung đối với các nước Đông Nam Á và Thế Giới, để làm cùn nhụt khí thế Bành Trướng của Trungcộng, có như vậy Việtnam mới thực sự được tự do, độc lập, tự chủ phát triển thịnh vượng trong hoà bình, để Quốc Gia Chủ Động hội nhập tiến trình Toàn Cầu Hóa với Nhận Thức Nhân Chủ Nhân Văn thời đại.

Lý Đại Nguyên
Xuân Canh Dần 2010


Tuesday, February 9, 2010

THÔNG ĐIỆP HÃY CÙNG ĐỨNG LÊN XUÂN CANH DẦN – 2010 của Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ


GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT
VIỆN TĂNG THỐNG

Thanh Minh Thiền Viện, 90 Trần Huy Liệu, Phường 15,
Quận Phú Nhuận, TP Saigon
——————————————————————–
Phật lịch 2553 Số 01 /VTT/XLTV


THÔNG ĐIỆP HÃY CÙNG ĐỨNG LÊN XUÂN CANH DẦN – 2010
của Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ


Nam Mô Đương Lai Hoan Hỉ Từ Thị Di Lặc Tôn Phật

Kính bạch Chư Tôn Trưởng lão,
Chư Hòa thượng, Thượng tọa, Đại đức Tăng Ni,
Cùng toàn thể Phật tử và Đồng bào các giới trong, ngoài nước,

Năm cũ qua, năm mới đến. Nhân danh Hội đồng Lưỡng Viện, tôi xin gửi đến toàn thể chư liệt vị Trưởng lão, Hòa thượng, Thượng tọa, Đại đức Tăng Ni, nam nữ Cư sĩ Phật tử cùng Đồng bào các giới trong và ngoài nước lời cầu chúc một năm an lành, như ý và viên thành Phật sự.

Vì nhớ tưởng mà cây trổ lộc xuân nở hoa, nên Xuân là Mùa Nhớ tưởng. Người dân Việt nhớ tưởng Ông Bà, Tổ tiên đã sinh thành ra nòi giống, quê hương ; người Phật tử nhớ tưởng đức Phật đã trải xuống cõi Diêm Phù Đề con đường giải thoát giác ngộ, đồng lúc nguyện cầu cho Đức Phật Di Lặc thị hiện giữa Mùa Xuân dân tộc, đem tứ vô lượng tâm cải hóa thế giới hận thù, tranh chấp.

Trong Mùa Nhớ tưởng, xin chư liệt vị chớ quên công đức sâu dày của Đức cố Đệ tứ Tăng thống, Đại lão Hòa thượng Thích Huyền Quang. Vì nhờ Ngài mà Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất vẫn còn hiện hữu uy nghi trước thời đại Pháp nhược ma cường. Nhớ tưởng Ngài là đem hết thân tâm thực hiện lời Ngài căn dặn qua bức Thông điệp Xuân Di Lặc, Phật lịch 2544 :

« Làm con Phật là vượt khỏi địa vị phàm phu, phát bồ đề tâm mà bước vào ngôi vị Bồ Tát. Lấy tâm Đại Bi bảo bọc chúng sanh, lấy tâm Đại Từ làm lợi ích cho chúng sanh, lấy tâm Vô Ngại dẹp tan các chướng duyên và áp bức đang đè nặng nhân thế và muôn loài. Bồ đề tâm ở đâu, Bồ tát ở đó ; Bồ tát ở đâu, Phật đạo ở đó ; Phật đạo ở đâu, An lạc và Tự do ở đó. Bồ đề tâm được phát khởi, thì mọi khổ đau mới chấm dứt ; dù đó là đau khổ vì vô minh hay vì tham luyến, đau khổ của bần cùng hay đau khổ vì áp bức. Công năng này chứa sẵn trong mọi người con Phật, chỉ cần chí thành ưu tư, ước vọng an lành cho hết thảy chúng sanh là Bồ đề tâm hoạt dụng và biến hóa khôn lường ».

Trước cảnh đảo điên của thời thế làm phân hóa lòng người, thì chúng ta hãy nhớ tưởng lời Đức Đệ Tam Tăng Thống, Đại lão Hòa thượng Thích Đôn Hậu, như bức cẩm nang giải quyết sự khủng hoảng sa lầy của Tăng đoàn do ngoại nhân độc phá. Ngài dạy:

«Trong lịch sử truyền bá Phật Giáo Việt Nam cũng như thế giới, có lúc rất bi thảm đầy tủi nhục, nhưng cũng có lúc vẻ vang rất đáng tự hào. Lúc bi thảm là lúc bản thể của Tăng bị lu mờ, nội bộ của Tăng bị phân hóa và thành phần của Tăng có nhiều quan điểm dị biệt, giới hạnh suy kém và hiểu biết đạo lý một cách cục bộ, phiến diện. Trái lại, lúc vẻ vang là lúc nội bộ chúng Tăng hòa hiệp, biết gạt bỏ những quyền lợi riêng tư, những ngã chấp tầm thường, để tiến xa trên con đường tịnh hạnh, lấy giác ngộ, giải thoát làm cứu cánh, lấy bản nguyện độ sanh làm sự nghiệp»

Đặc biệt năm nay chúng ta hướng lòng tưởng nhớ Đức cố Đại lão Hoà thượng Thích Tịnh Khiết, Ngài là vị Tăng thống thứ nhất thời cận và hiện đại nối tiếp giai phẩm khởi sự từ thời Đinh, lúc Việt Nam minh định chủ quyền dân tộc sau mười thế kỷ bị Bắc phương uy hiếp. Nhớ Ngài là hiến mình hiện diện trên đất nước còn thương đau hôm nay như một thực thể hòa bình. Trong bức Thông điệp Xuân Kỷ Dậu, Phật lịch 2513, Ngài nhắc nhở ân cần:

«Hòa bình chỉ có ý nghĩa đích thực khi bảo đảm được quyền tự chủ quốc gia và những quyền tự do dân chủ căn bản của dân chúng, trong sinh hoạt cộng đồng thế giới. (…) Chúng ta phải hiện diện như một thực thể tiêu biểu đích thực cho nguyện ước Hòa bình của dân tộc để nói lên tiếng nói phát xuất từ thâm tâm con người và tiềm lực dân tộc. Chúng ta không có quyền trao vận mệnh dân tộc này cho những người phi dân tộc, ngụy dân tộc, phản dân tộc. (…) Chỉ có chúng ta, những người Việt đang sống trên đe dưới búa, đang bị tước đoạt quyền sống và bị phá hoại mới có đủ tư cách để tự biện minh trong mọi quyết định vận mệnh chung cho một thể chế quốc gia dân tộc do chính chúng ta tự quyết mà thôi».

Nhân dân Việt Nam, trong đó có Phật tử, phải được sống trong an lạc và tự do để phát triển. Phát triển đời sống vật chất cũng như đời sống văn hóa và tâm linh. Vì vậy Giáo hội phải nói lên ngưỡng vọng của 85 triệu người đòi hỏi cuộc sống nhân quyền và dân chủ để phát triển. Hơn nữa, hiện nay chủ quyền dân tộc đang bị uy hiếp bằng những quyền lực cương hay quyền lực nhu của các manh tâm nước lớn. Phật tử là người hiểu thời thông biến, nên không thể nhắm mắt quay lưng trước các ý đồ mãi quốc. Nước mất thì đạo suy. Cho nên giữ nước là con đường dân tộc hai nghìn năm cứu mình, cứu người đưa quê hương thoát ly xâm lăng, nô lệ và cuồng tín.

Tâm tư của người Phật tử ngày nay là tâm tư của kẻ bị dày xéo từ một thế kỷ rưỡi qua vì những thế lực ngoại lai muốn biến Việt Nam thành chiến trường, thành thị trường, thay vì đạo trường. Tâm tư ấy biến thành cuộc vận động không ngưng nghỉ của Phật giáo suốt thế kỷ XX cho đến nay để phục vụ dân tộc, tổ quốc, nhân loại theo sứ mệnh tôn giáo, chứ không theo cương vị chính trị. Vì vậy mà thái độ của Giáo hội đối với nhà đương quyền Xã hội Chủ nghĩa là thái độ của tôn giáo đối với những chính sách sai lầm, những khuynh loát chính trị, những lạm dụng đất nước và quần chúng.

Cụ thể của chính sách sai lầm, khuynh loát chính trị, lạm dụng đất nước và quần chúng vừa được một lần nữa thấy rõ trong những ngày vừa qua. Khi Nhà nước Xã hội chủ nghĩa đưa ra tòa án giả trá những phần tử ưu tú tương lai của đất nước. Những người tay không tấc sắt với tấm lòng ưu tư trước nạn ngoại xâm và đời sống không có nhân quyền dân chủ, mà Nhà nước và Đảng chẳng đoái hoài. Giáng xuống họ những bản án giam tù và quản thúc nặng nề, khiến dư luận trong và ngoài nước công phẫn, khinh miệt. Đây là bản án của Chế độ Thực dân đầu thế kỷ XX đang được tái hồi cho toàn thể dân tộc vào đầu thiên niên kỷ thứ ba.

Hiểu rõ bi kịch đang ngăn cản sự phát triển quốc gia, làm cho văn hóa suy đồi, đạo lý nghiêng ngửa như thế, chư liệt vị Trưởng lão, Hòa thượng, Thượng tọa, Đại đức Tăng Ni, cùng đồng bào Phật tử trong và ngoài nước hãy cùng đứng lên đảm trách sự cứu khổ trừ nguy mà đức Phật trao truyền : Hễ là Chánh đạo thì tiến tới, chỉ sợ bước tới không mau ; hễ không phải Chánh đạo thì lui bước, chỉ sợ đi lui không gấp.

Nguyện cầu chư Phật mười phương gia hộ chư Liệt vị năm an lành, thành công viên mãn đại nghĩa bồ đề.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Làm tại Thanh Minh Thiền Viện,
Saigon, ngày 8.2.2010
Xử lý Thường vụ Viện Tăng Thống
kiêm Viện trưởng Viện Hóa Đạo, GHPGVNTN
(ấn ký)
Sa môn Thích Quảng Độ


Monday, February 8, 2010

QUÂN PHỤC của QLVNCH bị đảng VỊT TIỀM thay đổi kiểu mẩu



Bộ Quân Phục QLVNCH từ Quân Phục Nhảy Dù, Biệt Động Quân, Thủy Quân Lục Chiến, Không Quân, Hải Quân, và các Sư Đoàn Bộ Binh quá đẹp và khi người lính khoác Quân Phục vào người cảm thấy rất là hãnh diện và oai hùng trong bộ Quân Phục của QLVNCH, vậy vì lý do gì đảng Việt Tân lại muốn thay đổi Quân Phục của QLVNCH

Cái gọi là “Hội HO Seattle” Tiểu bang Washington từ lâu đã được nhận diện là công cụ của băng đảng Mafia Việt Tân. Mà đảng Mafia Việt Tân cũng đã được nhận diện là “bàn tay nối dài” của Việt gian CS Hànội. Ngoài nhiệm vụ xâm nhập và đánh phá các cá nhân và tổ chức của người Việt Quốc Gia, bọn Mafia Việt Tân còn tìm cách xoá bỏ tất cả những hình ảnh, biểu tượng gì còn dính dáng tới VNCH, cũng như hướng dẫn dư luận đánh lạc mục tiêu …

Ví dụ: Không dùng chữ Ngày Quốc Hận 30-4 mà gọi là Ngày Quốc Kháng hoặc Ngày Tự Do; cố tình tổ chức Lễ Quốc Hận vào ngày 03-05 là ngày CS Hànội ăn mừng chiến thắng Sàigòn; và còn bày ra chiếc quan tài có phủ lá quốc kỳ VNCH với ngụ ý chôn vĩnh viễn VNCH; Và, thay vì hô hào lật đổ chế độ CS hoặc dẹp bỏ lăng tên Hồ tặc; chúng kêu gọi đòi bọn VC hãy trả lại tên Sàigòn ! Bởi vậy, nay chúng ta không ngạc nhiên khi thấy bọn Mafia Việt Tân lại tung ra “bộ đồng phục” QLVNCH cho các “hậu duệ HO” do chúng sáng tạo, hoặc mặc bộ quân phục của Lính Nhà Đòn rước cờ nhằm xoá bỏ hình ảnh các bộ quân phục truyền thống của QLVNCH là chuyện đương nhiên. GÓP GIÓ.

Trong buổi tiệc tất niên của hội HO Seattle/WA tại nhà hàng Jumbo/Seattle vào ngày 30 tháng 01 năm 2010 vừa qua, Chương trình của buổi tiệc có một tiết mục làm nổi bật đó là Hội HO Seattle giới thiệu đến khách dự bộ đồng phục HO.

Trước ngày tổ chức, có một vài người hỏi chúng tôi về bộ đồng phục mà HO Seattle sắp trình làng vào dịp tất niên, họ hỏi chúng tôi vì đó là những đọc giả của trang web Bia Miệng, họ hỏi cũng bởi lẽ trong nhóm chúng tôi đa số là HO, những người hỏi chúng tôi họ cũng là HO nhưng không sinh hoạt trong hội HO (qua Mỹ theo diện HO). Khi mới nghe chúng tôi hơi ngạc nhiên “đồng phục HO, lạ thật chưa bao giờ nghe nói….”. Chúng tôi hỏi lại đọc giả “anh có biết bộ đồng phục đó như thế nào không? Màu gì? Và họ có nói đến ý nghĩa của bộ đồng phục không?” đọc giả trả lời “Không biết nên mới hỏi các anh thử vì các anh có sinh hoạt trong cộng đồng …”. Chúng tôi nói “Thôi màu gì thì kệ đến ngày đó là biết, anh suy nghĩ gì khi HO có một bộ đồng phục?” “Tại sao lại phải có bộ đồng phục HO, để làm gì ? Hàm chứa gì?…” “Chúng tôi đoán cũng chẳng ra, nhưng chắc là họ có cách giải thích đến với anh em HO nói riêng và đồng hương nói chung, “chờ xem”.

Chuyện cũng đã đến, trong buổi Lễ tất niên, Hội HO Seattle đã giới thiệu đến mọi người bộ đồng phục HO màu rằn ri, trước ngực và cầu vai đều có dấu hiệu, một bên ngực là “HO Seattle” bên ngực khác ”tên tuổi”, vai bên phải là lá cờ VNCH, bên trái quân, cán,chính ”đầu thì chiếc nón “bê-rê” màu cam. Bộ đồng phục là vậy, các cháu nhỏ lẫn những HO mặc đồng phục lên trình diễn ở sân khấu trông rất oai vệ, trước mắt thực khách là một quang cảnh rất lạ mắt, lạ mắt vì một bộ đồng phục ? Quân phục? lòe loẹt hơn các binh chủng của VNCH, lạ mắt nhất là chiếc bê-rê màu cam rực rỡ … Nhưng thôi, chuyện đó thuộc thẩm mỹ, cách trang sức nổi bật là do tài của các nhà design của HO, chúng ta không bàn tới. Điều quan trọng mà chúng tôi muốn nói đến là ý nghĩa của bộ đồng phục (quân phục?).

Quân lực VNCH có nhiều binh chủng, mỗi binh chủng đều có sắc áo riêng cho binh chủng mình, sự khác biệt đó làm cho binh chủng của mình có niềm tự hào, niềm tự hào ”màu cờ sắc áo”. Ngay cả những quân trường lớn đào tạo ra cấp chỉ huy cũng có những bộ đồng phục riêng của họ, ví dụ như trường bộ binh Thủ Đức, Đà Lạt, Hải quân, Không quân v.v... Màu quân phục người lính mang trên người của họ đó không biết bao xương máu của đồng đội ngã xuống để tô điểm cho sự kiêu hùng của binh chủng mình, bộ quân phục là những gì thân thương trong suốt quãng đời binh nghiệp của người lính. Người lính nhảy dù kiêu hãnh với chiếc nón đỏ, với bộ đồ rằn ri màu huyết, người cán bộ xây dựng nông thôn họ cũng tự hào về bộ đồ đen của họ. Dù là lớn hay nhỏ, quân sự hay bán quân sự bộ đồng phục trên người là một sự gắn bó thân thương cùng kiêu hãnh, tự hào. Máu xương đã tô điểm cho sự oai hùng của bộ quần áo trên người lính. Bộ Quốc Phòng hay Tổng Tham mưu mới có thẩm quyền quyết định về những sắc áo của một binh chủng, bộ quân phục của mỗi binh chủng không phải tự ý, tùy hứng của một đơn vị nào đó lập ra.

Các ông trong ban chấp hành H.O Seattle nghĩ gì? Muốn gì?… Khi dựng ra bộ “đồng phục H.O”? Một bộ đồng phục của quân đội (quần, áo, giày) như vậy có ý nghĩa gì? Các ông muốn xóa bỏ những bộ quân phục của QLVNCH? Những bộ đồ Nhảy dù, Thuỷ Quân Lục Chiến, Biệt động Quân, Bộ Binh, Lực Lượng Đặc Biệt, Quân Trường Thủ Đức, Quân Trường Đà Lạt, Hải Quân, Không Quân. Các ông muốn quên, muốn xóa bỏ? Mỗi hội đoàn, cơ quan, đoàn thể hay công ty đều có quyền chọn cho đơn vị mình một bộ đồng phục, không ai cấm cản, nhưng bộ đồng phục đó là bộ đồ của dân sự, thật là quái đản khi một tổ chức dân sự nào đó chọn bộ đồ đồng phục cho tổ chức mình là bộ đồ nhà binh.. Phải chăng đây là một việc làm có chủ đích? Chúng tôi muốn bàn sơ qua về việc “Cố tình” hay “Vô tình”.

Ở hải ngoại có hai sự kiện cố tình thay đổi đã bị người Việt tỵ nạn phản đối mạnh mẽ:

1. Đảng Việt Tân xóa bỏ ngày Quốc hận 30/4/75 thay thế vào đó là Ngày tự Do, nhưng thất bại vì có sự phản đối của hầu hết người Việt tỵ nạn Công Sản.

2. Đảng Việt Tân muốn lấy ngày giổ Tổ Hùng Vương làm ngày Quốc khánh (bỏ đi ngày Quốc khánh của VNCH trước đây). Chuyện này VT cũng đã thất bại vì có nhiều phản đối.

Điểm thứ nhất mà VT muốn thay đổi là làm mất đi ý nghĩa chính của ngày 30/4/75, vì ngày đó là một ngày quá đau thương của đất nước do VC gây nên.

Điểm thứ hai VT muốn thay đổi với mục đích xóa dấu vết của VNCH.

Chúng ta cũng thấy bọn VC cố gắng xóa những gì của VNCH còn sót lại, ngay cả những di tích của người tỵ nạn ở các trại tỵ nạn.

Có hai trường hợp để lý giải về “BỘ ĐỒNG PHỤC H.O”

a. Đàng sau lưng của hội H.O Seattle có một tổ chức bất chính, tổ chức này xúi dục hội H.O Seattle thực hiện bộ đồ đồng phục với mục đích xóa bỏ những bộ đồ quân phục của quân lực VNCH. Những người H.O là những người thuộc Quân, Cán, Chính của VNCH đã bị tù từ 3 năm trở lên qua định cư tại Mỹ, khi H.O có bộ đồ đồng phục nhà binh mới thì những người H.O đó không còn bận màu áo ngày xưa của họ nữa khi có Lễ lộc (xin đừng nguỵ biện là chúng tôi tạo ra là “để lưu danh hậu thế” chứ không xử dụng). Không khác gì hai trường hợp mà VT đã làm nêu ở trên.

b. Có thể đây cũng là do những người trong ban chấp hành hội H.O Seattle nghĩ ra, nghĩ ra một chuyện gì đó để ”lưu danh đời sau”, xuất phát từ mặc cảm tự ty, không có khả năng hướng dẫn hội trong sinh hoạt, những người này thường thường suy nghĩ mông lung, muốn thực hiện những chuyện không tưởng hoặc là đẻ ra những sự kiện “khác người”. Họ cho sáng kiến của họ là chưa ai nghĩ tới hay thực hiện,”cao kiến” này thường có ở những người có đầu óc không lành mạnh, không có tri thức.

Nhắc lại quá khứ một chút, những người trong ban chấp hành H.O do ông Văn A Sáng là chủ tịch, ban chấp hành này cũng như ông Sáng nhiều năm về trước cũng đã “lãnh đạo” H.O nhưng không làm được gì cả, sinh hoạt tê liệt, chỉ có tên mà thôi. Bây giờ hội H.O Seattle do Văn A Sáng cầm đầu với sự cộng tác của nhóm cà-phê gồm các ông: Nguyễn Văn Lực, Trần Tươi … trong một vài năm vừa qua đã có những hoạt động đáng kể, coi như là “quá được việc”. Như tham dự diễn hành văn hóa bên xe hoa có tấm quảng cáo chợ Viet-Wah, có sự cộng tác của ông NXD, năm vừa rồi cũng vậy tổ chức diễn hành đó do Denny Diep Dang chủ xị, ông này là cựu giám đốc tổ chức Peace Tree (tổ chức này đón đại sứ VC Lê Công Phụng). Sinh hoạt nổi bật nhất của H.O là tất niên vừa qua, chúng ta nhận thấy đủ bá quan văn võ của những thành phần bất chính, những thành phần miệng thì hô ”tẩy chay VC” nhưng tay thì bắt với những thành phần liên hệ trực tiếp với VC, điển hình như ông NXD lúc nào cũng vỗ ngực xưng tên ”ta đây chống VC” nhưng lại ngồi chểm chệ trong nhà hàng Tea Palace với Huỳnh Thi, Q Nguyễn (hai nhân vật này về VN họp với VC). Hội H.O của Văn A Sáng có đông khách tham dự, chơi nổi là nhờ những thành phần bất chính nêu trên, Văn A Sáng hay ông ông già Lực đầu bạc, Trần Tươi … chẳng làm được gì cả, được sự giúp đỡ thì phải theo, được bơm thì khoái như vậy mới thỏa mãn được cái tính ”tự ty mặc cảm”. Bộ đồ đồng phục H.O phát sinh từ đó. Chắc chắn rằng ông Sáng, ông Thận không hiểu gì về sự nguy hiểm khi các ông ấy nghĩ cũng như thực hiện “làm cái gì đó để lưu danh hậu thế”.

Nếu giả dụ mộng ước các ông thành sự thật, con cháu các ông sau này chỉ nhớ đến bộ đồ các ông mà quên đi bộ đồ mà cha ông nó đã hy sinh xương máu thì chắc các ông hãnh diện lắm nhỉ? Là anh em HO với nhau, đã từng cộng tác với nhau tôi không muốn nâng quan điểm, nhưng quả thật việc làm của các ông ngu xuẩn và nguy hiểm vô cùng. Một điều nếu mọi người HO trên nước Mỹ tùy theo sáng kiến của mình tạo nên một bộ đồ đồng phục riêng thì tập thể HO chắc là nhộn nhịp màu sắc lắm hai ông nhỉ?

Muốn lưu danh hậu thế rất dễ ông Sáng ạ!, chỉ cần ông giữ vững lập trường Quốc Gia chống cộng, theo đuôi những tên ăn cơm Quốc Gia thờ ma cộng sản, lưng chừng bán rẻ lương tâm là được rồi, con cháu ông và hậu thế sẽ vô cùng hãnh diện về các ông, cần gì một bộ đồ. Thái Nhật Lỉnh là tên ăn trộm, các ông đã đọc 6 trang report về TNL chưa ? Một người bị còng tay đưa vào tù về tội hình sự xứng đáng để các ông tung hô không? TNL là đàn em của Quang Nguyễn, Huỳnh Thi. Trần Trung Dũng là do TNL đẻ ra thế mà các ông hãnh diện dâng diễn đàn cho Trần T Dũng đọc diễn văn thì quần chúng nghĩ gì về tập thể HO, đồng thời lưu manh dàn dựng để xỉ nhục ông Nguyễn Minh Đường là người các ông biết quá rõ.

Người lính quân lực VNCH không được tạo ra bộ đồ đồng phục mang sắc thái quân đội nào khác ngoài những bộ đồ của các binh chủng, lực lượng thuộc VNCH trước đây. Vì những bộ đồng phục ấy là do chính phủ VNCH chỉ thị cho bộ Quốc Phòng & Tổng Tham Mưu, không thể nguỵ biện là “bây giờ đâu có chính phủ hay bộ tổng tham mưu nữa”… Ai có quyền cấm ai ... hợp pháp mà, nếu sai thì đi kiện đi ….”. Một điều mà mọi người đều công nhận là “Tinh thần của người lính VNCH chưa chết” . TỔ QUỐC- DANH DỰ-TRÁCH NHIỆM mà người quân nhân mang trên đầu, trên vai, trên ngực cấm người quân nhân không được phép tạo ra một bộ đồng phục (từ đầu đến chân là quân phục). Trong tình trạng hiện tại người quân nhân QLVNCH (nói riêng) bắt buộc phải giữ gìn những gì mà ngày trước mình có, không ai có quyền xóa bỏ, lập nên cái mới. Sửa cái cũ thành cái mới không phải là hay, là giỏi (tuỳ thuộc vào mỗi vấn đề). Thật là buồn cười khi chúng ta nghe kể về sự ngu dốt của nhà cầm quyền VC, khi họ tu bổ lại lăng tẩm, di tích lịch sử, thay vì họ tu bổ thế nào để vẫn còn giữ nguyên những nét cổ xưa của di tích thì họ lại làm mới hoàn toàn (làm mất đi gía trị di tích lịch sử).

Các ông trong ban chấp hành hội H.O Seattle “sáng kiến” bộ đồ đồng phục HO để tự hào như các ông nói chăng? Bộ quân phục mà các ông đã bận trong suốt thời gian chinh chiến để gìn giữ sự Tự Do, bộ quân phục đã dính vào những người bạn, đồng đội đến hơi thở cuối cùng không đủ để các ông tự hào hay sao, mà các ông phải lập nên cái mới? Những bộ quân phục ngày trước nhiều người có quá phải không?. Các ông phải làm cho lạ, cho nổi bật, làm những gì mà không ai dám làm phải không? Bộ đồng phục H.O Seattle ra đời làm rạng danh ông chủ tịch Văn A Sáng, P.văn Thân, Nguyễn Văn Lực, Trần Tươi. Đầu óc hẹp hòi của các ông không thể nào làm thay đổi gì được cả, đừng nuôi những ảo tưởng, anh em cựu quân nhân, HO không mờ lương tri hết như một số người thù tạc với các ông, họ đã thấy được tất cả cái mưu mô đen tối trong những con người ích kỷ. Các ông chỉ là những con “Rô-Bô” cho những tay chính trị xôi thịt, cho những kẻ lương tâm bị đánh mất. Xin nhìn lại những gì các ông làm, xin nhìn cho kỹ những khuôn mặt mà các ông cộng tác, các ông nép mình v..v.. Con đường các ông đang hí hửng theo, con đường đó là sự phản bội lại đồng đội (chúng tôi có bằng chứng về sự phản bội đó).

Chúng tôi xin gởi đến các ông lời nhắn của cự chỉ huy trưởng của trường bộ binh Thủ Đức, quân trường đào tạo ra các ông. Cố đại tá Trần Đức Minh (chỉ huy trưởng cuối cùng trường bộ binh Thủ Đức). Khi còn sống ông gọi các vị làm hội trưởng Thủ Đức lên căn dặn ”Các anh làm gì thì làm, nhưng đừng đi theo VT bán đứng Hội, nếu như vậy thì nằm nhà còn hơn …”. Câu nói này trước khi chết ông cũng gọi ông Nguyễn Đình Lãng lên trăn trối.

Không thể chấp nhận những sáng kiến ”quái gở” của hội H.O Seattle, một sáng kiến đã thực hiện có tính chất phỉ báng cùng chối bỏ những bộ quân phục thuộc chính phủ VNCH. Chúng tôi kêu gọi các anh em cựu quân nhân, các anh em thuộc các lực lượng bán quân sự, các anh em H.O hãy tẩy chay bộ đồng phục H.O Seattle /WA đã trình diễn trong dịp tất niên vừa qua (30 tháng 12 năm 2010 tại nhà hàng Jumbo). Chúng tôi cũng mong mỏi sự lên tiếng của mọi người Việt tỵ nạn nhất là các cựu quân nhân khắp nơi trên thế giới.

Chúng tôi yêu cầu ban chấp hành hội H.O Seattle do ông Văn A Sáng làm chủ tịch huỷ bỏ bộ đồng phục mà các ông đã cho ra đời vừa qua.

Chúng tôi yêu cầu hội H.O Seattle làm sáng tỏ sự việc này bằng cách mở một buổi hội thảo trong cộng đồng mời các anh em cựu quân nhân, HO … để giải thích sự việc này.

Chúng tôi kêu gọi các hội đoàn, đoàn thể, tổ chức không cho những người bận bộ đồ đồng phục H.O đến tham dự bất cứ buổi Lễ nào do hội đoàn, đoàn thể tổ chức.

Nhóm chủ trương websiste Bia Miệng
** Bài sẽ cập nhật nay mai và sẽ đính kèm thêm một vài tài liệu liên quan.
** Mọi ý kiến thắc mắc hay muốn đối thoại xin liên lạc với chúng tôi qua hai số điện thoại sau đây:
-(206)355-94044 - (206)816-2924