Tuesday, November 10, 2009

Bàn Về Những “Chiêu Bài Mị Dân” - Song Chi

Song Chi

Để giữ vững vị trí độc tôn lãnh đạo, để tiếp tục ru ngủ số đông người dân khờ khạo đồng thời dẹp yên những mầm mống tư tưởng hoài nghi, bất phục và đối kháng trong một thiểu số “cứng đầu”, những nhà nước chuyên chế độc tài luôn luôn phải có những “chiêu bài mị dân” của họ. Ví dụ, với nhà nước Trung Quốc hiện nay, người ta thấy rất rõ những chiêu bài đó là sự phát triển kinh tế và niềm tự hào, tự tôn về dân tộc. Chính những thành tích về phát triển kinh tế, sự lớn mạnh về khả năng quân sự quốc phòng, viễn cảnh về một siêu cường quốc trong tương lai… của Trung Quốc chắc chắn đã tạo nên trong lòng đa số dân chúng của họ một cảm giác bằng lòng và tự hào để tạm quên đi khát vọng về tự do dân chủ, nhân quyền được tôn trọng cũng như sự bức xúc trước muôn vàn bất công, phi lý, những điều tồi tệ trong xã hội. Và hai “lá bài” này phải nói là mạnh, bởi vì với đà phát triển kinh tế như hiện nay, với vị thế của một đất nước khổng lồ trên một tỷ dân và với một tham vọng bành trướng, bá quyền đã có “truyền thống” từ xưa, Đảng và Nhà nước cộng sản Trung Quốc có thể yên tâm mà tại vị khá lâu nữa, nếu như không có bất cứ một khúc ngoặt bất ngờ nào đó của thời cuộc.

Học theo đàn anh, Đảng và Nhà nước cộng sản Việt Nam cũng có những “chiêu bài mị dân” riêng của mình. Trước đây những “chiêu bài” quen thuộc được sử dụng bao nhiêu năm là thành tích về “sự chiến thắng vĩ đại của Việt Nam trong hai cuộc chiến tranh thần thánh chống Pháp và chống Mỹ, giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước” và huyền thoại về vị cha già dân tộc Hồ Chí Minh. Cho đến giờ phút này, những điều này vẫn thường xuyên được lặp đi lặp lại từ trên các phương tiện truyền thông của nhà nước cho đến chương trình giáo khoa suốt 12 năm trung học và cả bậc đại học. Thậm chí, sợ người dân xao lãng, nhà nước còn phát động rộng rãi trong mọi tầng lớp nhân dân những cuộc học tập theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh rất là quy mô và tốn kém, bắt cả sư thầy ni cô trong các nhà chùa cũng phải học!

Từ khi thực hiện chính sách “mở cửa” về kinh tế, chính quyền chuyển sang khuyến khích người dân lao vào kiếm tiền, làm giàu bằng đủ mọi cách và sử dụng lá bài “ổn định chính trị, phát triển kinh tế” để người dân quên đi những nhu cầu khác cũng như những câu hỏi lớn khác về đời sống xã hội chính trị của đất nước. Đối lập với sự ổn định về chính trị, phát triển về kinh tế, một lập luận thường xuyên được những người cầm quyền đưa ra để “hù doạ” nhân dân đó là mọi sự đa đảng, đa nguyên sẽ chỉ dẫn đến sự xáo trộn, rối loạn về chính trị, xã hội và cả kinh tế, lý do là bởi vì trình độ dân trí Việt Nam còn thấp nên mô hình độc đảng với sự lãnh đạo của Đảng CSVN như lâu nay là đúng đắn, tối ưu.

Phải nói là có không ít người dân, nếu không đọc thêm các nguồn thông tin khác hoặc có thêm những trải nghiệm cá nhân về những môi trường sống khác trong những thể chế chính trị xã hội khác, đã tin hoặc tạm bằng lòng với những lý luận như vậy.

Những người cầm quyền đã lừa mị nhân dân của họ với khái niệm về sự ổn định. Tuy nhiên, một xã hội gọi là ổn định về chính trị do được cai trị bởi bàn tay sắt của một thể chế chính trị độc tài, độc đảng không có nghĩa là ổn định về kinh tế và xã hội. Bên dưới cái bề mặt có vẻ ổn định về chính trị, một xã hội được điều hành theo cơ chế “đảng trị” bởi một đảng duy nhất thâu tóm mọi quyền lực trong tay như ở Trung Quốc và Việt Nam luôn luôn chất chứa những mâu thuẫn, nghịch lý do không có sự cạnh tranh, san sẻ, khống chế và kiểm soát lẫn nhau trong quyền lực chính trị và điều hành đất nước, không có một nền luật pháp rõ ràng, minh bạch để điều chỉnh mọi sự sai lệch trong phát triển xã hội cũng như phát triển kinh tế. Chưa kể chính cái thể chế chính trị độc tài độc đảng đã tạo điều kiện cho bao nhiêu bất công, phi lý, những vấn nạn xã hội tồn tại và sinh sôi nảy nở không sao giải quyết nổi như nạn tham nhũng, hối lộ, tệ cửa quyền, khoảng cách chênh lệch giàu nghèo quá lớn, bản thân người dân thì không có tự do dân chủ và nhân quyền thì bị chà đạp… Còn trong phát triển kinh tế, sự thiếu vắng một nên luật pháp minh bạch và sự cạnh tranh sòng phằng cũng làm cho nền kinh tế của quốc gia đó có nhiều bất ổn, rủi ro. Tất cả những điều đó sẽ tạo nên những mâu thuẫn từ trong bản chất chế độ, như những đợt sóng ngầm âm ỉ chỉ chờ có cơ hội thuận tiện là trào lên phá vỡ sự ổn định bề mặt kia bất cứ lúc nào.

Cũng như nhà cầm quyền Trung Quốc, nhà cầm quyền Việt Nam luôn luôn đem những thành tích tăng trưởng về kinh tế và sự thay đổi trên bề mặt xã hội để xoa dịu nhân dân và biện minh cho sự thống trị của Đảng.

Trong khi đó, bị nỗi ám ảnh về cái đói cái nghèo của thời bao cấp, cả xã hội Việt Nam ngày nay đang lao vào kiếm tiền, và không ít người dân tự an ủi rằng so với thời bao cấp chưa xa thì cuộc sống bây giờ đã dễ thở hơn, còn nếu so với cái thời miền Bắc trước năm 1975 thì rõ ràng một trời một vực rồi.

Nhung như đã nói, phát triển kinh tế chỉ mới là một phần trong việc chứng tỏ xã hội đó đang đi lên theo chiều huớng tích cực, còn bao nhiêu vấn đề khác: khoảng cách giàu-nghèo và sự bất công quá lớn trong xã hội, tài nguyên của đất nước bị khai thác đến cạn kiệt, thiên nhiên bị tàn phá không thương tiếc, môi truờng sống bị ô nhiễm nặng nề, chất lượng cuộc sống của đa số người dân chưa đuợc cải thiện tận gốc và chế độ an sinh xã hội chưa đuợc quan tâm đến, chưa kể là sự xuống cấp, tha hóa về đạo đức xã hội, mọi giá trị đều bị lệch chuẩn… Như thế là một xã hội đang phát triển một cách phi nhân tính và lệch lạc, chệch hướng so với con đuờng phải đi là xã hội phải ngày một văn minh, con nguời ngày một tự do, tự chủ, đuợc coi trọng và hạnh phúc hơn!

Thế nào là một xã hội phát triển lành mạnh, nhân bản, đúng hướng?

Khi mà trong xã hội đó tất cả mọi mục tiêu hướng tới đều phải vì con người, đặt sự tự do hạnh phúc của con người lên trên hết.

Khi mà trong xã hội đó mọi người dân có quyền đi bầu chọn những người xứng đáng nhất lên điều hành đất nước và có quyền lên tiếng phê phán kêu gọi những người này phải từ bỏ chức vụ nếu họ bất tài, thất đức hoặc có những hành vi sai trái làm hại cho đất nước, cho nhân dân. Người dân có quyền lên tiếng bày tỏ chính kiến, quan điểm chính trị xã hội của mình một cách ôn hoà, có quyền phê bình, phản biện mọi chủ trương đường lối chính sách của Nhà nước mà không bị chụp mũ phản động, phản quốc, bị gây khó dễ thậm chí bị bắt bớ, cầm tù.

Khi mà trong xã hội đó người dân biết rằng nếu có bất cứ chuyện gì xảy ra họ có thể trông cậy vào luật pháp, luật pháp sẽ bảo vệ họ, nhà nước sẽ bảo vệ họ nếu họ đúng, nếu họ bị những kẻ côn đồ hành hung hoặc những kẻ lạ mang danh nước láng giềng anh em đánh cướp, bắt giữ…

Khi mà trong xã hội đó con người từ lúc sinh ra cho đến khi chết đi luôn luôn cảm thấy an tâm rằng nếu họ lương thiện, đi làm và đóng thuế đầy đủ cho nhà nước thì ngược lại, khi cần họ có thể trông cậy vào sự hỗ trợ của nhà nước như lúc thất nghiệp, khi đau yếu lúc già cả không nơi nương tựa… Và do đó họ có thể sống một cuộc đời nhẹ nhàng ít lo nghĩ, không phải bon chen giành giật mọi cơ hội, chỉ biết chăm chăm thu vén cho cá nhân mình vì khi có việc gì xảy ra không biết trông vào đâu.

Khi mà trong xã hội đó người dân tin rằng đồng tiền đóng thuế từ bao mồ hôi công sức của họ được nhà nước sử dụng một cách hợp lý, công khai và minh bạch.

Mọi người dân đều được tạo điều kiện tốt nhất để học hành và khi đến trường những đứa trẻ không phải học những kiến thức vô bổ, những điều dối trá mà ngay người thầy dạy chúng cũng không tin và bản thân chúng cũng biết như vậy.

Mọi người dân đều có những cơ hội như nhau để thành đạt và bằng cấp, tước vị, chỗ làm đều không thể mua mà có.

Khi mà trong xã hội đó người dân không phải chịu những tai hoạ, những cái chết oan uống có thể đến từ bất cứ đâu, từ bất cứ lý do nào do sự vô trách nhiệm, làm ăn gian dối của người khác như cầu gãy, nhà sập, điện giật trên đường hố ga sụp dưới chân hay sữa nhiễm độc, phở ướp phóoc-môn…

Khi mà trong xã hội đó sự vất vả của người nông dân công nhân được đền bù xứng đáng, tiếng nói của người trí thức được coi trọng, tài năng của người nghệ sĩ được phát triển tối đa trong sự tự do không ai cấm đoán…

Khi mà trong xã hội đó báo chí được quyền nói lên sự thật, được quyền đứng về phía lẽ phải, đứng về phía nhân dân và những giọt nước mắt.

Mọi lời nói phải cũng như mọi tiếng kêu oan không lọt thỏm vào sự im lặng.

Khi mà trong xã hội đó con người không có quá nhiều nỗi lo, cho dù những nỗi lo có lý hay vô lý. Khi con người không có quá nhiều nỗi sợ, và mọi nỗi sợ đều do chính quyền tạo ra.

Khi cái tốt, cái thiện, điều tử tế không phải là điểu hiếm hoi hay bất bình thường và cái xấu, cái ác, điều không tử tế lại tràn ngập khắp nơi và trờ thành bình thường.

Khi con người không vô cảm trước mọi điều tồi tệ đang xảy ra hàng ngày, không cúi đầu bạc nhược trước cường quyền, biết đau đớn trước vận mệnh của đất nước và của dân tộc.

Khi mà trong xã hội đó mọi người biết xấu hổ, kẻ làm quan biết đến đến hai chữ xin lỗi – xin lỗi nhân dân, xin lỗi lịch sử và biềt đến văn hoá từ chức. Khi lòng yêu nước không bị kết tội còn kẻ xu nịnh, phản quốc lại được tôn vinh.

Chỉ khi đó xã hội ấy mới là một xã hội đang phát triển đúng hướng, lành mạnh, và nhân bản.

Còn nếu không, đừng nói với nhân dân tôi về độc lập, tự do và hạnh phúc, về công lao của Đảng, về chủ nghĩa Mác – Lê Nin bách chiến bách thắng và tư tưởng của Hồ Chí Minh vĩ đại.

Đừng nói với nhân dân tôi muôn vàn những khái niệm, lý luận, những mỹ từ sáo rỗng…

Bởi vì, khi không đem lại được độc lập tự do hạnh phúc cho nhân dân sau hơn sáu mươi năm điều hành đất nước, còn có lý do gì để Đảng cầm quyền đó tiếp tục tại vị?
Nguồn: talawas.org


Chuyến về quê đặc biệt của một hạm trưởng hải quân Hoa Kỳ gốc người Việt tỵ nan CS


Ben Stocking,
Associated Press Cymbidium,
X-Cafe chuyển ngữ

Đà Nẵng, Việt Nam – Ngày Miền Nam thất thủ, Lê Bá Hùng (LBH), một cậu bé lên 5, di tản cùng với 400 người tỵ nạn chen chúc trên một chiếc thuyền đánh cá chật chội. 34 năm sau, cậu bé này trở về quê hương trong một tình huống không ai ngờ – hạm trưởng của một khu trục hạm Hoa Kỳ.

Hôm thứ Bảy, Hạm Trưởng LBH điều khiển chiếc khu trục hạm Hoa Kỳ Lassen cập bến Đà Nẵng, quê của “China Beach”, nơi mà ngày xưa binh sĩ Mỹ dùng làm nơi dưỡng quân sau các cuộc hành quân trong chiến tranh Việt Nam. Cuộc chiến này đã chấm dứt vào ngày 30 tháng Tư, 1975, ngày Sài Gòn bị quân cộng sản Miền Bắc Việt Nam đánh chiếm.

Đó cũng là ngày LBH và gia đình khởi đầu một cuộc hành trình vô định trên một chiếc thuyền đánh cá được lèo lái bởi cha của LBH, một sĩ quan chỉ huy của hải quân Miền Nam Việt Nam. Họ được chiếc tàu hải quân Hoa Kỳ Barbour County cứu vớt ngoài khơi, đưa đến một căn cứ Hoa Kỳ ở Phi Luật Tân, rồi đến một trại tỵ nạn ở California, và sau cùng đến định cư tại tiểu bang Virginia, nơi đó họ xây dựng lại cuộc đời.

LBH trở về trên chiếc Lassen, một khu trục hạm dài 155 mét giá 800 triệu đô la, được trang bị hỏa tiễn tầm xa Tomahawk và một thủy thủ đoàn 300 người. Chiếc Lassen cùng với chiếc USS Blue Ridge, một soái hạm của Đệ Thất Hạm Đội Hoa Kỳ, đang hoàn tất những đợt thăm viếng hữu nghị cuối cùng đến Việt Nam bắt đầu từ năm 2003 khi chiếc USS Vandergriff ghé thăm TP HCM, ngày xưa là Sài Gòn.

Hạm trưởng LBH tuyên bố sau khi đặt chân lên bờ hôm thứ Bảy “Tôi nghĩ sẽ có ngày trở lại nhưng thật tình là tôi đã không dự đoán là trở về với cương vị hạm trưởng của một tàu chiến Hoa Kỳ. Đây là một vinh dự cá nhân cao quý”. Ông ta chập chững nói vài chữ tiếng Việt “Tôi tự hào là người Mỹ, nhưng tôi cũng rất tự hào về nguồn gốc Việt Nam của tôi.”

Những chuyến thăm viếng này tiêu biểu cho những cố gắng của Hoa Mỳ và Việt Nam để phát triển mối quan hệ giữa hai bên để làm quân bình thế lực Trung Quốc trong vùng, mà không làm bất bình người hàng xóm khổng lồ phương bắc.

Thẳng về phía Đông Đà Nẵng là quần đảo Hoàng Sa, nơi Trung Quốc và Việt Nam đang có vấn đề tranh cãi sôi nổi về chủ quyền, đó cũng là nơi Trung Quốc đã đánh bật quân đội miền Nam vào năm 1974. Hai bên cũng đang tranh chấp về Trường Sa, một chuỗi đảo được xem là có khối lượng dự trữ dầu hỏa và khí đốt đáng kể.

LBH lớn lên ở Huế, một thành phố ở bờ biển miền trung cách Đà Nẵng khoảng 105 kí lô mét về hướng bắc, nơi ông vẫn còn nhiều họ hàng. Ông trở về một xứ sở đã thay đổi rất nhiều so với những ngày tháng chiến tranh.

Dọc theo bờ biển Đà Nẵng nơi mà các quân lính Hoa Kỳ đã thường bơi lội và lướt sóng, các khách sạn hạng sang như Hyatt và Marriott đang mọc lên. Du khách đổ dồn về vùng này để có thể chơi một vài đường banh ở sân gôn được thiết kế bởi tay gôn thượng hạng Colin Montgomerie.

Mối giao hảo giữa Hoa Kỳ và Việt Nam cũng thay đổi rất nhiều từ khi hai cựu thù bình thường hoá quan hệ vào năm 1995. Giao thương giữa hai nước tăng vọt và liên hệ ngoại giao, quân sự của hai bên cũng trở nên gần gũi hơn.

Biểu tượng sâu sắc của sự quan hệ đang đổi thay có thể được nhận thấy ở nơi không xa chỗ LBH đặt chân lên bờ. Đó là một căn cứ không quân ngày xưa nơi mà quân đội Hoa Kỳ từng lưu trữ, pha trộn và bơm thuốc khai quang Da Cam lên máy bay. Quân đội Hoa Kỳ rải thuốc Da Cam chứa đựng độc tố dioxin để quân đội Cộng Sản Bắc Việt Nam không có chỗ trú ẩn. Cả hai quốc gia đang hoạt động với nhau để dẹp chất dioxin khỏi căn cứ, chất này tồn tại trong đất sau cả chục năm.

Nhưng vẫn có dấu hiệu của những cản trở, buổi lễ chào mừng những thủy thủ Hoa Kỳ bị đình trệ hai tiếng trong khi hai bên bàn cãi cách dương quốc kỳ của hai quốc gia trên soái hạm Blue Ridge.
Sĩ quan chỉ huy dân sự vụ Jeff Davis của Hạm Đội 7 Hoa Kỳ nói bên Hoa Ký muốn treo hai quốc kỳ ở trên boong chính, trong khi bên Việt Nam muốn thượng kỳ ở cột cờ. Rốt cuộc, họ treo lên cột cờ.

Khi LBH rời Việt Nam vào năm 1975, chỉ có bốn trong tám người con thoát được. Số con còn lại kẹt ở Việt Nam cho đến khi được đoàn tụ với gia đình vào năm 1983. LBH không nhớ nhiều về chuyến đi ba ngày trên tàu đánh cá, chấm dứt sau khi họ cạn lương thực, nước uống và nhiên liệu.

Nhưng ông còn nhớ một cách sâu sắc những hình ảnh của người cha gương mẫu, ông Lê Bá Thông, hiện nay đã 69 tuổi và chưa bao giờ trở lại Việt Nam. Sau khi gia đình định cư ở bắc Virginia, ông Thông làm việc trong một siêu thị, đi từ chức người gói hàng cho đến vị trí quản lý.

LBH nói “Tôi lúc nào cũng muốn trở thành một người như cha tôi. Ông luôn luôn kiên trì và đã vượt qua nhiều thử thách.”

Nguồn: Ben Stocking,
Associated Press
Cymbidium,
X-Cafe chuyển ngữ

OTTAWA KỶ NIỆM 20 NĂM SỤP ĐỔ BỨC TƯỜNG BÁ LINH VÀ CÔNG BỐ VIỆC XÂY DỰNG ĐÀI TƯỞNG NIỆM NẠN NHÂN CỘNG SẢN - Trần Gia Phụng

Trần Gia Phụng

Chiều Thứ Hai 9-11-2009, tại Government Conference Center ở thủ đô Ottawa, Văn phòng thủ tướng Canada phối hợp với nhóm Tribute to Liberty, đã tổ chức Lễ kỷ niệm 20 năm sụp đổ bức tường Bá Linh và công bố dự án xây dựng TƯỢNG ĐÀI TƯỞNG NIỆM NẠN NHÂN ĐỘC TÀI CỘNG SẢN tại thủ đô nước Canada.

Số người tham dự đông hơn so với dự tính ban đầu của Ban Tổ Chức, vì vậy ngoài khoảng 200 ghế ngồi, những người tham dự phải đứng chung quanh hội trường hoặc ngồi ngoài phòng tiếp tân. Đa số các bộ trưởng trong Hội đồng chính phủ và những dân biểu Quốc hội Liêng bang đã đến tham dự. Về phía dân sự, đông đảo nhất là cộng đồng người Canadian gốc các nước Đông Âu trước đây bị cộng sản thống trị. Riêng phái đoàn người Canadian gốc Việt Nam gồm 11 người trong đó có đại diện Liên Hội người Việt Ottawa (4 thành viên), đại diện Uỷ Ban Yểm Trợ Phong Trào Dân Chủ Quốc Nội Toronto (4 thành viên) và đại diện Hội Cựu Quân Nhân Ontario (3 hội viên).

Buổi lễ do thủ tướng Canada là Stephen Harper chủ tọa, bắt đầu lúc 2G.30 khi ông bộ trưởng Public Safety trong chính phủ Liên bang là ông Peter Van Loan, người điều khiển chương trình, công bố lý do buổi lễ. Bộ trưởng Peter Van Loan gốc người Estonia. Ông bà của ông bộ trưởng đã di cư sang Canada tỵ nạn cộng sản từ sau thế chiến 2.

Người khách đầu tiên được ông Peter Van Loan giới thiệu lên diễn đàn là đại sứ Cộng Hòa Liên Bang Đức, George Witschel. Vị đại sứ nói bằng ba ngôn ngữ Anh, Pháp và Đức, nhắc lại sơ lược ý nghĩa lịch sử của sự kiện nầy, nhất là việc thống nhất nước Đức trong hòa bình.

Diễn giả kế tiếp là Wladyslaw Lizon, chủ tịch Polish Canadian Congress (Nghị hội người Canadian gốc Ba Lan). Ông Lizon nhắc lại những kinh nghiệm của người Ba Lan, ông cảm ơn đất nước Canada đã mở rộng đón nhận di dân và ông đặc biệt cảm ơn chính phủ Harper đã đồng ý cho xây dựng Tượng đài Tưởng niện Nạn nhân Cộng sản tại thủ đô Ottawa.

Diễn giả chính của buổi lễ là thủ tướng Stephen Harper Ông nhấn mạnh đến sự quan trọng của việc bức tường Bá Linh bị sụp đổ ngày 9-11-1989, đã ảnh hưởng chẳng những Âu Châu mà toàn thế giới. Thủ tướng Harper đã long trọng công bố dự án xây dựng TƯỢNG ĐÀI TƯỞNG NIỆM NẠN NHÂN ĐỘC TÀI CỘNG SẢN trước sự vỗ tay hoan hô của cử tọa. Tưởng cũng nên nhắc lại, trước đây, tại Hà Nội, Stephen thủ tướng Harper đã nói một câu hết sức nổi tiếng với nhà nước cộng sản Việt Nam, đại ý là chính phủ Canada không dùng nhân quyền để đổi lấy đồng dollar.

Chung quy, các diễn giả nói trên đều xoay quanh lịch sử, ý nghĩa việc bức tường Bá Linh sụp đổ mà báo chí đã viết đến. Lời thủ tướng Stephen Harper công bố dự án xây dựng tượng đài nạn nhân độc tài cộng sản được bà Alide Forstmani, gốc người Latvia, chủ tịch Hội đồng Quản Trị của Tribute Liberty trình bày chi tiết hơn khi bà lên diễn đàn, phát biểu ý kiến.

Bà nhắc lại việc hàng trăm triệu người đã chết vì ý thức hệ cộng sản, hàng triệu công dân Canada gốc là nạn nhân cộng sản độc tài hay thuộc những gia đình nạn nhân cộng sản độc tài, trong đó có một số người có mặt hôm nay trong hội trường nầy. Bà nói việc xây dựng Tượng đài Tưởng niệm Nạn nhân Cộng sản không phải chỉ để tưởng nhớ những người đã chết dưới chế độ cộng sản, mà còn để giáo dục, nhắc nhở các thế hệ kế tiếp về những tội ác của chế độc độc tài cộng sản. Bà cảm ơn chính phủ Canada đã chấp thuận dự án xây cất tượng đài tại thủ đô Ottawa.

Buổi lễ diễn ra rất trang nghiêm, kết thúc khoảng sau 4 giờ chiều cùng ngày sau khi toàn thể những người tham dự cùng đứng lên làm lễ chào quốc kỳ Canada. Đặc biệt sau buổi lễ, thủ tướng Stephen Harper đã mời tất cả những người trong hội trường ở lại. Thủ tướng ân cần vui vẻ chào hỏi và chụp hình chung với một số đại diện cộng đồng và quan khách tham dự.

Ở đây, tưởng cũng xin thêm Tribute to Liberty là một tổ chức thiện nguyện, nhằm phục vụ những người yêu chuộng tự do ở Canada và trên thế giới. Ban điều hành Tribute to Liberty gồm có một Hội đồng Quản trị và một Hội đồng Cố vấn. Hội đồng Quản trị hiện nay gồm bốn người Canadian gốc các nước Estonia, Ukraine, Latvia và Việt Nam, gia nhập với tư cách cá nhân chứ không phải là đại diện sắc tộc hay cộng đồng. Hội đồng cố vấn gồm đại diện của 17 cộng đồng các sắc dân Đông Âu, vùng Baltic, Nam Hàn, Trung Quốc và Cuba.

Ngoài ra, Hội đồng Quản trị Tribute to Liberty đang xúc tiến thành lập một Board of Patrons gồm những nhà đấu tranh dân chủ, những nhân vật uy tín được quốc tế biết đến trong những cộng đồng thuộc các quốc gia đã thoát ách cộng sản cai trị hay đang bị cộng sản cai trị.

Hiện nay, tổ chức Tribute to Liberty đang cố gắng thực hiện dự án xây dựng TƯỢNG ĐÀI TƯỞNG NIỆM NẠN NHÂN ĐỘC TÀI CỘNG SẢN. Dự án đã được cơ quan National Capital Commission chấp thuận cho đặt tượng đài ngay tại thủ đô Ottawa. Địa điểm chính xác sẽ được thảo luận và quyết định sau.

Ban điều hành Tribute to Liberty đang còn kiện toàn tổ chức, tìm kiếm vùng đất tại thủ đô Ottawa để xây dựng tượng đài, và nhất là đang kiếm cách gây quỹ để đài thọ phí tổn. Dự án xây dựng tượng đài dự tính sẽ cần 1,5 triệu Gia kim. Tổ chức Tribute to Liberty kêu gọi toàn dân Canada, đặc biệt những người thuộc gia đình tỵ nạn cộng sản, dù ít dù nhiều, hãy tiếp tay với ban Xây dựng Tượng đài để có thể hoàn tất công trình thật ý nghĩa nầy.

Để thấy rõ tầm ý nghĩa lớn lao của của công trình xây dựng TƯỢNG ĐÀI TƯỞNG NIỆM NẠN NHÂN ĐỘC TÀI CỘNG SẢN, chúng ta cần chú ý rằng tại Canada, ngoài những thổ dân bản địa Canada, đại đa số dân cư Canada đều là di dân đến từ bốn phương trời. Những đợt di dân đầu tiên đến từ Âu Châu vào cuối thế kỷ 17, đầu thế kỷ 18, trong nhiều hoàn cảnh khác nhau. Những đợt di dân từ giữa thế kỷ 20, đến từ các nước Đông Âu và từ Á Châu, có cùng một mẫu số chung, đều là những nạn nhân độc tài cộng sản, trong đó, đợt cuối cùng là những thuyền nhân (boat people) Việt Nam.

Các chế độ độc tài cộng sản trên thế giới đều có những nét giống nhau, mà Quốc hội Âu Châu họp ngày 25-1-2006 tại Strasbourg, một thành phố miền Tây bắc nước Pháp, đã ghi nhận như sau:

“Những chế độ toàn trị cộng sản từng cai trị ở Trung và Đông Âu trong thế kỷ qua, và hiện vẫn còn cầm quyền ở vài nước trên thế giới, tất cả (không ngoại trừ) biểu thị chân tướng của sự vi phạm nhân quyền tập thể. Những vi phạm nầy khác nhau tùy theo nền văn hóa, quốc gia và giai đoạn lịch sử, bao gồm cả những cuộc ám sát và xử tử cá nhân hay tập thể, gây chết chóc trong các trại tập trung, cho chết đói, đày ải, tra tấn, nô lệ lao động, và những hình thức khác về khủng bố thể xác tập thể, ngược đãi vì chủng tộc hay tôn giáo, vi phạm các quyền tự do lương tâm, tư tưởng và phát biểu, tự do báo chí và cả không đa nguyên chính trị.” (điều 2) (Nguyên văn: The totalitarian communist regimes which ruled in Central and Eastern Europe in the last century, and which are still in power in several countries in the world, have been, without exception, characterised by massive violations of human rights. The violations have differed depending on the culture, country and the historical period and have included individual and collective assassinations and executions, death in concentration camps, starvation, deportations, torture, slave labour and other forms of mass physical terror, persecution on ethnic or religious base, violation of freedom of conscience, thought and expression, of freedom of press, and also lack of political pluralism.)

Theo số liệu trong sách Le livre noir du communisme : crimes, terreur et répression, do Stéphane Courtois chủ biên, Edition Robert Laffont, S.A. Paris 1997, thì số nạn nhân của các chế độ cộng sản các nước trên thế giới có thể ước lượng như sau:
    Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa : 65 triệu

    Liên Xô : 20 triệu

    Cambodia : 2 triệu

    Bắc Triều Tiên : 1,5 triệu

    Việt Nam : 1 triệu

    Đông Âu : 1 triệu

    Afghanistan : 1,5 triệu

    Phi Châu : 1,7 tri ệu

    Nam Mỹ : 150,000
Đây chỉ là số liệu những người tử vong vì bàn tay sắt máu của cộng sản. Chắc chắn số nạn nhân bị bạo hành dưới chế độ chuyên chính độc tài toàn trị cộng sản trên thế giới lên đến hàng tỷ người. Vì sự vi phạm nhân quyền nặng nề của các chế độ cộng sản, nên dân chúng các nước bị cộng sản cai trị đã kiếm tất cả các cách bỏ nước ra đi tìm tự do, đến nỗi có một nhạc sĩ Việt Nam, ông Trần Văn Trạch, đã nói rằng “cây cột đèn cũng muốn ra đi ”.

Hiện nay, dân số Canada khoảng trên 32,000,000 người, trong đó có khoảng 8,000,000 người có nguồn gốc từ các nước bị cộng sản cai trị, nghĩa là 25% hay một phần tư dân số Canada, là những người tỵ nạn hay con cháu những người tỵ nạn cộng sản.

Nhìn vào bảng thống kê của Le livre noir du communisme: crimes, terreur et répression do Stéphane Courtois chủ biên, hai điều dễ nhận ra là:

1. Trong số các nước trên, còn lại 4 nước đang bị cộng sản thống trị là Trung Quốc, Bắc Hàn, Việt Nam và Cuba (trong nhóm Nam Mỹ).

2. Tất cả các sắc dân các nước trong bảng thống kê đều có mặt tại Canada.

Với một tỷ lệ dân số lớn lao thuộc thành phần tỵ nạn cộng sản hay con cháu những ngưòi tỵ nạn cộng sản tại Canada, việc xây dựng Tượng đài Tưởng niệm Nạn nhân Độc tài Cộng sản là một việc làm rất ý nghĩa đúng như bà Alide Forstmani đã phát biểu tại Ottawa nhân Lễ kỷ niệm 20 sụp đổ bức tường Bá Linh ngày 09-11-2009 là không phải chỉ để tưởng niệm những người đã chết dưới chế độ cộng sản, mà còn để giáo dục, nhắc nhở các thế hệ kế tiếp về những tội ác của chế độ độc tài cộng sản.

Xin mời quý đồng hương tìm hiểu thêm về công việc xây dựng TƯỢNG ĐÀI NẠN NHÂN ĐỘC TÀI CỘNG SẢN qua web site: www.tributetoliberty.ca, và e-mail liên lạc với tổ chức Tribute to Liberty theo địa chỉ sau đây: info@tributetoliberty.ca.

Trần Gia Phụng
(Toronto, 10-11-2009)

Tôi Không Thể Im Lặng! - Huỳnh Quốc Bình

Huỳnh Quốc Bình

I. Tại sao tôi phải lên tiếng?:

"Nếu tôi im lặng trước những điều mà tôi cho là nghịch lý, bất thường thì tôi Huỳnh Quốc Bình (HQBình) không xứng đáng để nói thêm một lời nào nữa trên làn sóng của đài Việt Nam Hải Ngoại". Đó là lời tôi khẳng định trong bức thư tôi gửi cho Ban Giám Đốc (BGĐ) và các cộng sự viên của đài Việt Nam Hải Ngoại (VNHN) ngày 27-8-2009.

1. Nay tôi xin thêm một lần nữa công khai lên tiếng về hành động quá trớn của BGĐ đã để cho một số cộng sự viên của đài trắng trợn cướp diễn đàn "Chúng Ta và Thời Cuộc Hôm Nay" vào tối Thứ Ba ngày 22-9-2009, là chương trình do tôi điều hợp. Trên chương trình này, tôi đã thẳng thắn lên tiếng về việc ông Hồng Phúc - Lê Hồng Long tố cáo "đài Việt Nam Hải Ngoại giao du mật thiết với VC". Tiếng nói của tôi đã bị BGĐ bịt miệng ngay trên làn sóng. Kể từ ngày đó đến giờ, BGĐ đã hủy bỏ các chương trình do tôi trách nhiệm là "Chúng Ta và Thời Cuộc Hôm Nay""Đời Sống An Bình" và thay thế bằng các chương trình mới.

2. Điều mà tôi cho là trâng tráo nhất khi BGĐ đã dở trò vu khống ngược lại tôi. Họ cho rằng tôi tự ý tạo ra điều nầy "để vu khống BGĐ". Ngay ngày hôm sau, 23-9-09, trên chương trình sửa xe của ông Kim, ông ta đã trịch thượng cho rằng tôi và ông Hồng Phúc "thi hành nghị quyết 36 của VC, muốn phá hoại đài VNHN". Riêng bà Liên Bích (Dallas TX) cũng có nhiều lời xách mé với tôi mà tôi không được nói một lời biện bạch.

3. BGĐ đã sử dụng làn sóng phát thanh của họ trong các chương trình của các cộng tác viên Hồng Trần, Nguyễn Tường Thược, Nguyễn Văn Kim, giờ "trả lời thư tín" và làn sóng đài Tiếng Nước Tôi của ông Hoàng Bách tận bên Houston TX … để chính họ và một vài cộng tác viên thân tín, cùng một số thính giả "chọn lọc" liên tục tấn công ông Hồng Phúc và những ai không nói theo họ. Họ đã có những hành động bất công, thiếu lương thiện vì chỉ có họ được nói, còn ông Hồng Phúc và những ai muốn nói lên tiếng nói công chính thì không được nói.

4. Kể từ ngày tôi bị bịt miệng trên làn sóng đến giờ, tôi chỉ có một lần trả lời báo Chính Nghĩa, để trình bày những gì đã xảy ra trong chương trình tối hôm đó. Và rồi, tôi giữ im lặng cho đến nay. Tôi im lặng là vì:

a. Tôi tin vào khả năng nhận xét của thính giả.

b. Tôi muốn thể hiện tinh thần "vuốt mặt nể mũi" vì còn những cộng sự viên khác mà tôi quý trọng vẫn tiếp tục phục vụ thính giả.

c. Tôi chờ đợi một thái độ phục thiện của BGĐ.

5. Chẳng những BGĐ không biết lỗi của mình mà còn tiếp tục lộng hành trên diễn đàn e-mail, nhất là những e-mail nặc danh do ông Nguyễn Đăng Tuấn (Chủ Tịch Văn Bút VN Hải Ngoại) chuyển đến. Những e-mail này trâng tráo bào chữa cho những sai trái của BGĐ -VNHN. Qua những thư nặc danh nầy, kẻ gian đã hung hãn tấn công ông Hồng Phúc, ông Đoàn Trọng Hiếu, và Huỳnh Quốc Bình. Kẻ gian cũng không tha bà Hoàng Lan Chi là người thấy chuyện chướng tai, gai mắt thì lên tiếng. Bà đã viết những bài phân tích các sai trái của BGĐ, với những lời lẽ đanh thép tố cáo hành động quay 180 độ của ông Tuấn đã bênh vực những người mà trước đó vài ngày chính ông cũng quyết liệt lên án.

6. Nếu tôi tiếp tục im lặng thì tôi không xứng đáng là một người làm truyền thông, một người Quốc Gia từng chống đối những hành động sai quấy, thâm độc, hèn hạ của đảng cướp VC tại Việt Nam ngày nay. Mà những hiện tượng thâm độc này đang diễn ra khi BGĐ ra tay chống đỡ những lời tố cáo của ông Hồng Phúc và dành cho những ai nói ngược ý họ.

7. Ai đã tin vào lời giải thích có tính cách ngụy biện của BGĐ rằng do "trục trặc kỹ thuật" chứ họ không bịt miệng tôi, thì quý vị không cần mất thì giờ đọc thêm. Riêng ai muốn hiểu rõ hư thực ra sao thì xin tiếp tục đọc và cũng có thể vào địa chỉ sau đây để nghe lại các chương trình đó: http://www.danviet.net

II. Bản chất của vấn đề:

1. Đêm 22-9-2009 trong lúc tôi đang trình bày thì xướng ngôn viên (XNV) Nam Anh cho biết ông Nguyễn Tường Thược muốn góp ý. Tôi có nói với chị Nam Anh và ông Thược rằng ông Thược có chương trình riêng của ông, nhưng nếu muốn góp ý thì phải chờ tôi nói hết ý của tôi rồi tính sau. Tuy vậy, XNV Nam Anh đã tắt tiếng nói của tôi ngay phút thứ 29 và để cho ông Thược ngang nhiên vào làn sóng tấn công ông Hồng Phúc bằng những lời cáo buộc hết sức cường điệu và hồ đồ. Tiếp sau đó là bà Hồng Trần, ông Nguyễn Văn Kim, Giáo Sư Đỗ Diễn Nhi, Ông Ngô Ngọc Hùng, và có cả ông Hoàng Bách của đài Tiếng Nước Tôi-Houston cũng vào diễn đàn. Những người nầy đã tuỳ tiện chiếm diễn đàn hơn 50 phút, làm như đây là chương trình riêng của họ. Cuối cùng XNV Nam Anh đã liên lạc lại và để tôi lên tiếng khoảng 10 phút, nhưng trong 10 phút nầy XNV Nam Anh cũng mấy lần muốn ngăn chận không cho tôi nói hết ý.

2. Khi họ có âm mưu cướp diễn đàn, họ không còn tôn trọng thính giả. Bằng chứng là ông Thược và Bà Hồng Trần ra vào diễn đàn đến hai lần, còn tôi là người trách nhiệm chương trình thì bị ngắt đường dây. Chị Mai Ly, Giám Đốc Đài VNHN tại Oklahoma City có phản đối thái độ của ông Thược nhưng không kết quả. XNV Nam Anh đã vờ vịt bảo tôi gọi vào nhưng thực tế thì tôi đã bị bịt miệng trong đêm hôm đó. Tôi phải viết lại cho rõ vì thính giả Âu châu hoàn toàn không biết về điều nầy. Vì sau khi nhận ra sự thô bạo của mình nên BGĐ đã không cho phát lại chương trình nầy vào ngày hôm sau như thường lệ.

3. Sau khi tiếng nói của tôi bị tắt trên làn sóng của đài. Một số thính giả cũng có liên lạc với tôi để bày tỏ sự quan tâm và buồn lòng vì cho rằng: "người Việt không đoàn kết, cho nên những chương trình chống cộng trên làn sóng của đài Việt Nam Hải Ngoại đã dần dần bớt đi, đây là sự thành công của VC". Và tôi đã trả lời cho họ như sau: "Mọi người không nên buồn vì nghĩ rằng người Việt Quốc Gia không đoàn kết mà phải thấy rằng đây là cuộc chiến đấu giữa hai phe tử tế và gian tà, giữa quân tử và tiểu nhân. Tôi HQBình không cần thắng mà tôi cần nói lên tiếng nói công chính. Tôi không theo phe ai cả nhưng tôi cần bênh vực lẽ phải, bảo vệ chính nghĩa Quốc Gia qua ý thức "làm thinh trước điều quấy là đồng lõa với điều quấy đó".

III. Những điều nghịch lý, và sự bao che cho những âm mưu đen tối:

1. Chiêu hồi VC về với chính nghĩa là điều tốt. Thời chính quyền Đệ Nhất và Đệ Nhị Việt Nam Cộng Hoà cũng từng có chủ trương nầy. Tuy nhiên, công tác nầy phải có chiến thuật, chiến lược của các tổ chức đấu tranh hay chính đảng Quốc Gia có nghiệp vụ để kêu gọi những người phản tỉnh trở về với chính nghĩa Quốc Gia. Hành động lén lút ăn nhậu với VC khác với chiêu hồi VC. Đó là chưa kể khi bị phát giác thay vì ăn năn thì lại lồng lộn nói lời hỗn xược với những người thật sự chống cộng.

2. Dốt không phải là cái tội, nhưng nếu dốt mà phách lối, lại muốn làm lớn, làm oai thì khó coi lắm. Một tên chỉ thích vui chơi, nhảy nhót, tiệc tùng ăn nhậu, thiếu kiến thức căn bản, không phân biệt đâu là bạn, đâu là thù … thì không thể nào có khả năng làm công tác "tranh luận, giáo dục, tìm hiểu" bọn VC, nếu không muốn nói chỉ là thái độ đú đởn ăn chơi với kẻ gian và làm lợi cho VC.

3. Kẻ nào chọn lựa giao du với VC đó là quyền cá nhân của mình, nhưng xin đừng nhẫn tâm lợi dụng chiêu bài chống cộng hay "đấu tranh cho một Việt Nam có tự do dân chủ" để mua bán chính nghĩa.

4. Tố cáo hành động BGĐ-VNHN giao du mật thiết với VC không phải là chuyện bất hoà giữa người nầy và kẻ khác, nhưng là vấn đề "lằn ranh Quốc cộng". Vì thế không có chuyện giải hoà hay không giải hoà rồi thôi, mà BGĐ phải nghiêm chỉnh trả lời hành động giao du bất chính đó cho thính giả từng đóng góp tài chánh cho đài và các cộng sư viên bỏ bao nhiêu công sức duy trì và phát huy đài.

5. Vì ông Hồng Phúc và mọi người phát giác ra hành động của ông bà Dương Văn Hiệp- Lưu Lệ Ngọc và ông Ngô Ngọc Hùng giao du mật thiết với VC, nên người ta mới cảnh báo rằng "Đài Việt Nam Hải Ngoại giao du mật thiết với VC". Chứ nếu BGĐ dám cho phát thanh những chương trình có lợi cho VC thì người ta đã không ngần ngại gọi đó là bọn VC hay Việt gian. BGĐ cần tôn trọng thính giả thầm lặng, không thể giải thích theo kiểu "đánh bùn sang ao" để chạy tội.

6. Trong mấy tháng qua, BGĐ và một vài cây bút "chống cộng" đã trâng tráo khoe thành tích chống cộng của BGĐ để bao che cho hành động họ giao du với VC. Đây chỉ là lối lý luận theo kiểu nguỵ biện. Tôi, Huỳnh Quốc Bình xin mạnh dạn nói rằng: Các cộng sự viên và nhất là những chương trình chống cộng cùng nhiều thính giả chống cộng, mới chính là những người tạo thành tích chống cộng cho đài Việt Nam Hải Ngoại trong suốt 12 năm qua, chứ không phải do những tên chuyên ăn nhậu với bọn VC tạo nên thành tích đó.

7. Nếu có ai lý luận rằng những cộng tác viên còn lại trong đài không lên tiếng là vì ông Hồng Phúc không có chính nghĩa, thì hãy trả lời giùm: Hình ảnh Hoà Thượng Thích Quảng Độ, Linh Mục Nguyễn Văn Lý, Mục Sư Nguyễn Hồng Quang, Luật Sư Nguyễn Văn Đài, Luật Sư Lê Thị Công Nhân và những người xổng lưng chống lại những hành động gian ác của bọn VC, trong khi hơn 80 triệu người Việt trong nước còn lại vì hoàn cảnh chưa lên tiếng. Hoặc tại hải ngoại nầy, số người công khai chống cộng vẫn là thiểu số trong khối người Việt tỵ nạn VC thầm lặng chống cộng, thì xin hỏi: Thiểu số chống cộng công khai nầy có phải là mất chính nghĩa không?

8. Ông Hồng Phúc tố cáo "Đài Việt Nam Hải Ngoại giao du mật thiết với VC" và những điều đó BGĐ đã xác nhận là CÓ. Đây là các bằng chứng:

a.
Chính ông Ngô Ngọc Hùng cho biết là ông ta đã từng cùng Bác Sĩ Nguyễn Ý Đức sang Ba Lan tiếp xúc cán bộ VC, mà còn quá thân thiện nữa.

b. Ông Đinh Quang Trung- tân Giám Đốc chương trình, ngay trong lần trả lời thư tín ngày 27-9-2009 đã xác nhận rằng có hai cán bô VC từ Toà Đại Sứ VC đã đến tư gia của ông bà Dương Văn Hiệp-Lưu Lệ Ngọc tham dự Tiệc Tất Niên.

c. Ông Dương Văn Hiệp xác nhận trong e-mail "Thư Từ Chức" ngày 15-10-2009 rằng: "Cần tiếp xúc với du học sinh, với cán bộ VC, là để tranh luận, là để giáo dục, là để tìm hiểu … hầu lấy đủ kiến thức thông tin …" (Tôi ghi nguyên văn, ông viết không bỏ dấu)

9. Vậy thì căn cứ vào những dữ kiện trong phần 8 bên trên, những lời tố cáo của ông Hồng Phúc có gì là sai trật, để rồi BGĐ và một số cộng sự viên tạo ra những trận đấu tố, để vài thính giả "chọn lọc" ngang nhiên lăng nhục ông Hồng Phúc trên làn sóng phát thanh.

10. Nếu BGĐ là những người thật sự chống cộng thì khi ông Hồng Phúc nêu vấn đề, họ phải nghiêm chỉnh giải thích thay vì cố tình tránh né. Đáng lẽ họ phải xem ông Hồng Phúc như là một vị ân nhân thay vì biến ông thành nạn nhân, xem ông như kẻ thù rồi tìm cách "đánh dưới thắt lưng" ông bằng những câu truyện chỉ có phân nửa sự thật.

11. Người có liêm sỉ không thể sử dụng những lời lẽ thô tục, hạ cấp của VC thả trên mạng lưới toàn cầu, hoặc thư nặc danh của kẻ gian như là một thứ vũ khí dành tấn công những người từng cộng tác với mình, hoặc những người cùng chiến tuyến chống cộng.

12. BGĐ phải trả lời với đồng bào, với thính giả từng đóng góp tài chánh cho đài về hành động của mình. Ban Giám Đốc cần phải ý thức rằng: Họ có thể chủ động làn sóng phát thanh, mở hay đóng một chương trình nào đó, hoặc có thể khống chế một vài cá nhân vì lý do nào đó phải nói theo ý muốn của BGĐ. Nhưng BGĐ đừng xem thường khả năng thẩm định của những cộng tác viên còn lại chưa lên tiếng, hoặc những thính giả thầm lặng chống cộng. Đây là những người có cái radio trong tay và tiền đang nằm trong túi họ. Họ có quyền ủng hộ hay tẩy chay, họ có thể tắt mở hoặc ném cái radio vào thùng rác mà BGĐ không thể kiểm soát được.

13. BGĐ không phải là những người quá trẻ tuổi đến nỗi không biết gì về những gian manh, tráo trở và thủ đoạn của VC. Tuổi của họ nay đã già hơn cả những vị Tướng của Việt Nam Cộng Hoà ngày xưa, hoặc Cụ Nguyễn Văn Thiệu lúc mới làm Tổng Thống. BGĐ cũng không thể cho rằng họ "còn trẻ", "không nói giỏi hay không nói hay" giống như ông Hồng Phúc, ông Đoàn Trọng Hiếu, hoặc ông Huỳnh Quốc Bình v.v… để rồi lấy cớ đó mà "giả mù sa mưa", hoặc biện minh cho hành động lật lọng của họ. Vấn đề chính cần nói là: Đúng hay không đúng, có chính nghĩa hay không có chính nghĩa, chứ không phải do nói giỏi hay nói dở.

14. Tôi, Huỳnh Quốc Bình, lên án những ông bà nào nhân danh người Quốc Gia chống cộng, nhưng vì quyền lợi mà xem nhẹ sự liêm sỉ, mẫn cán viết bài tâng bốc "cái gọi là lòng nhiệt thành yêu nước" của Ngô Ngọc Hùng, Dương Văn Hiệp - Lưu Lệ Ngọc, và Đinh Quang Trung … rồi nhẫn tâm bôi bẩn những người mạnh dạn tố cáo những hành động mờ ám của những tay giao du mật thiết với VC.

15. Người ta không thể hời hợt khi đánh giá lòng yêu nước của một người bằng cách: Vội tin vào cách sống quá bình dân, ra vẻ bất cần tiền tài, làm việc không cần tiền lương của người nầy, với lối sống nề nếp của người khác qua đời sống vật chất căn bản, để rồi cho rằng người nầy có lòng yêu nước còn người kia thì không yêu nước. Xin thưa: Hồ Chí Minh (HCM) cũng từng được người dân miền Bắc hiểu là "đạo đức", cả đời không lấy vợ, đời sống đạm bạc, hết lòng vì dân, yêu thương các cháu nhi đồng v.v. Nhưng thực chất thì HCM gian manh, ác độc ra sao, có bao nhiêu vợ, có bao nhiêu con rơi… Nửa thế kỷ sau mọi người mới biết rõ.

IV. Những nhận xét và chủ trương căn bản:

1. Tôi đã từng nói nhiều lần về nhận định của mình trên làn sóng phát thanh, và nay tôi xin lập lại: Bọn VC không đội nón cối hay mang dép râu để tiếp xúc với chúng ta, nhưng chúng sẽ đến với người Quốc Gia qua vỏ bọc một thương gia, mang mặt nạ của một thân hữu, rồi khi cao điểm VC sẽ ra tay làm những điều gian ác. Với những kinh nghiệm xương máu đó, người Quốc Gia không thể để VC nó lừa mình mãi được.

2. Nếu có thể, tôi sẵn sàng lợi dụng làn sóng phát thanh của bọn VC để nói lên tội ác của chúng cho mọi người biết, nhưng lương tâm tôi không cho phép mình tiếp tục nói trên làn sóng hay hợp tác với những người miệng nói chống cộng nhưng lại thông đồng với kẻ thù của dân tộc Việt Nam.

3. Đối với "lằn ranh Quốc cộng", người Quốc Gia chân chính có bổn phận phải vạch cho rõ và đào cho sâu. Ai chủ trương làm mờ lằn ranh quốc cộng, là hành động gian manh chứ không phải yêu nước hay yêu Tổ Quốc Việt Nam. Lằn ranh quốc cộng là điểm phân biệt giữa lương thiện và độc ác, giữa chính nghĩa và gian tà. Người chống cộng thật sự không thể lấy cứu cánh biện minh cho phương tiện để làm mờ lằn ranh nầy.

V. Kết luận:

Vì hoàn cảnh nào đó khiến người ta có thể làm thinh trước điều quấy, nhưng không có hoàn cảnh nào bắt người ta phải cong lưng, đi bằng đầu gối vì quyền lợi cá nhân, để rồi muối mặt bênh vực cho những điều mà chính mình biết đó là sai trật. Có người đã nói: "Chỉ có những bộ máy vô hồn mới không dám nói những gì mình nghĩ, không dám làm những gì mình muốn, mà chỉ thở bằng cái mũi của kẻ khác, nhìn bằng cặp mắt của kẻ khác, nghe bằng lỗ tai của kẻ khác…". Những ai đã và đang tìm cách bao che, bênh vực cho hành động mờ ám và sai quấy của BGĐ-VNHN hãy suy nghĩ câu nói nầy.

Phản ứng của cá nhân tôi, ông Đoàn Trọng Hiếu, ông Thái Văn Hoàng, bà Hoàng Lan Chi và những vị sau đây: Ông Trần Hoàng Hữu (Salt Lake City, UT), ông Vương Thế Hạnh, Bà Lưu Hà, ĐYS Vũ Văn Thảo, bà Lưu Thị Luyến (Portland, OR) quyết định KHÔNG tiếp tục cộng tác với đài VNHN là hành động tự trọng, không muốn tiếp tục ủng hộ những kẻ thiếu sự son sắc với chính nghĩa Quốc Gia, chứ không phải là thành phần mà Dương Văn Hiệp đã dám hỗn xược gọi là "kên kên quà quạ, a dua" theo ông Hồng Phúc trong lá thư của cái gọi là "từ chức" của ông Hiệp. Là người có quyết tâm chống cộng, chúng ta phải thề: "sẽ không viết một chữ hay nói một tiếng cho kẻ gian". (*)

Người Quốc Gia chân chính không thể chỉ giỏi đại ngôn, hoặc có khả năng gào thét bằng những ngôn từ hạ cấp, trịch thượng mà phải có khả năng lý luận để tấn công kẻ thù VC, vạch trần âm mưu phá hoại của kẻ gian. Lối chụp mũ những người công khai tố cáo BGĐ-VNHN giao du mật thiết với VC…, bảo họ là "thi hành nghị quyết 36 của VC", mới chính là lối lý luận rẻ tiền và hồ đồ của bọn VC / Việt gian.

Huỳnh Quốc Bình
Oregon, ngày 5 tháng 11 năm 2009
(503) 568-8565
e-mail: huynhquocbinh@yahoo.com
Địa chỉ:
P.O. Box 20361
Salem, OR 97307- USA

(*). Ý chính trong bài Thơ "Khát", do Nhạc Sĩ Phan Văn Hưng phổ nhạc.

- Nếu ai nhận bài viết nầy hơn một lần xin thông cảm, bỏ qua cho.

- Nếu các chữ biến dạng, xin đọc attachment.
- Xin tiếp tay quảng bá bài viết nầy đến những người Việt Tự Do, nhất là thính giả chống cộng của đài Việt Nam Hải Ngoại.
- Vì tiếng nói của cá nhân tôi đã bị bóp nghẹt trên làn sóng của đài Việt Nam Hải Ngoại. Nên chúng tôi xin sử dụng phương tiện nầy để có thể trình bày sự thật những gì đã xảy ra trong thời gian qua, hầu bênh vực cho lẽ công chính và cho những ai không còn tiếng nói trên làn sóng phát thanh của đài nầy, và họ đang bị kẻ gian tấn công. Xin thành thật cảm ơn quý vị.

Huỳnh Quốc Bình