Tuesday, October 6, 2009

Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ kêu gọi Đồng bào trong và ngoài nước không dùng hàng hóa Trung quốc

    PHÒNG THÔNG TIN PHẬT GIÁO QUỐC TẾ
    Cơ quan Thông tin và Phát ngôn của Viện Hóa Ðạo
    Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất
    E-mail : ubcv.ibib@buddhist.com
2009-10-05 | | PTTPGQT
Source: http://www.queme.net/vie/news_detail.php?numb=1255#note1

PARIS, ngày 5.10.2009 (PTTPGQT) - Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ vừa gửi đến Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế để phổ biến “Lời Kêu gọi Không dùng Hàng hóa Trung quốc”, viết từ Saigon ngày 3.10 vừa qua.

“Lời Kêu gọi Không dùng Hàng hóa Trung quốc” hôm nay tiếp nối “Lời Kêu gọi Tháng 5 Bất tuân Dân sự - Biểu tình Tại gia” công bố hôm 29.3 đầu năm nay trước vấn nạn nguy cơ mất nước của dân tộc. Nguy cơ này khác với 7 hay 10 thế kỷ trước. Trước kia, hàng trăm nghìn quân Tống, quân Nguyên, quân Minh tràn sang đất nước ta sát hại dân lành, trấn chiếm kinh đô, đốt sách và Hán hóa nền văn hiến Việt Nam. Ngày nay, cuộc xâm lăng không bằng quân đội, nhưng lại thông qua sự chỉ đạo chính trị từ thiên triều Trung Nam Hải ở Bắc Kinh, thông qua các vị tham tán Đại sứ theo dõi hằng ngày cách ăn nói, phê phán, xử sự liên quan đến Trung quốc, và thông qua hàng nghìn công nhân trá hình tại các cứ điểm quân sự yết hầu như Quảng Ninh, Hải Phòng, Tây nguyên. Một cuộc xâm lăng thông qua trung gian nội địa của Tung đội thứ năm (1) là Đảng Cộng sản Việt Nam trên các lĩnh vực sinh tử như tư tưởng, chính trị, văn hóa, kinh tế, là trùng điệp vi khuẩn độc hại hoành phá tinh não Việt Nam.

Hai ví dụ điển hình thấy rõ mà Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ đưa ra, là bài đăng trên Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam hôm 4.9 nhằm “bảo vệ biên cương Trung quốc” trên biển đảo, và lệnh từ Đại sứ quán Trung quốc bó buộc Hà Nội phải kiểm duyệt mọi nguồn tin phê phán hàng hóa Trung quốc trên hệ thống truyền thông Việt Nam. Phải chăng sự kiện sau này đã được nhà cầm quyền Hà Nội tuân thủ để ban hành Quyết định 97 cấm các tổ chức Khoa học và Công nghệ không được có ý kiến phản biện về đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước Cộng sản ?

Lời Kêu gọi không dùng hàng hóa, tức tẩy chay hàng Trung quốc, mà Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất kêu gọi đồng bào trong và ngoài nước hưởng ứng, theo Hòa thượng Thích Quảng Độ “không phải là biểu tỏ chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi chống nhân dân Trung quốc, chống công nhân Trung quốc. Vì nhân dân Trung quốc, công nhân Trung quốc cũng là nạn nhân của Đảng Cộng sản như nhân dân, công nhân và nông dân Việt Nam. Tẩy chay hàng Trung quốc là tẩy chay chủ nghĩa bá quyền xâm lược của Nhà cầm quyền Cộng sản Bắc Kinh. Ngoài lý do chính trị mà tẩy chay, còn lý do hàng xấu và hàng độc Trung quốc đang gây nguy hại cho cơ thể và môi sinh người tiêu dùng Việt Nam”. Đây là một nhận định quan trọng của Phật giáo trên lập trường liên minh hai dân tộc Việt - Trung trước thảm nạn cộng sản nói chung, mà tiền nhân chúng ta không ngừng áp dụng. Nhưng lại dứt khoát và quyết liệt trước chủ nghĩa bành trướng Đại Hán của giới cầm quyền Bắc Kinh.

Tiếng nói của Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ còn nhắm trỏ vào Quốc nạn ngày nay được cấu kết song hành giữa hai lực lượng Nội xâm và Ngoại xâm chưa hề thấy trong lịch sử Việt Nam. Hòa thượng viết:

“Người dân Việt không có các tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, cũng không có chính quyền hay quân đội để trực tiếp và mạnh mẽ phản chống nạn xâm lăng quân sự, xâm lăng tư tưởng và xâm lăng kinh tế. Vũ khí của người dân bị trị ngày nay là THÁI ĐỘ. Chúng ta cần biểu tỏ qua THÁI ĐỘ để chống hai quốc nạn Nội xâm và Ngoại xâm”.

Xin mời bạn đọc xem toàn văn “Lời Kêu gọi Không dùng Hàng hóa Trung quốc” của Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ sau đây:

GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT
VIỆN HÓA ĐẠO


Thanh Minh Thiền viện, 90 Trần Huy Liệu,
Phường 15, Quận Phú Nhuận, TP. Sài gòn
--------------------------------------------------------------------------------
Phật lịch 2553 Số 07/HĐLV/TB/XLVTT

LỜI KÊU GỌI
KHÔNG DÙNG HÀNG HÓA TRUNG QUỐC

Kính gửi Đồng bào trong và ngoài nước,

Ngày 4.9 vừa qua, trên Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam đăng bài “Hải quân Trung quốc diễn tập tại Biển Đông” trích từ báo Hoàn Cầu, Phượng hoàng của Trung quốc, có những dòng như sau:

“… Ngày 18.8.2009, đội tàu hộ tống gồm hơn 100 sĩ quan và binh lính đã cập bến bãi đá Vĩnh Thử (đảo Chữ Thập) thuộc quần đảo Trường Sa để tiến hành tiếp tế, hậu cần, tham quan cơ sở công tác và sinh hoạt của binh lính trên đảo, đồng thời đưa 2 tàu chở trực thăng là “Thâm Quyến” và “Hoàng Sơn” cập đảo, tiến hành diễn tập cho trực thăng lên xuống và lực lượng đặc nhiệm đổ bộ đường không.

“Phát biểu với binh lính trên đảo, chỉ huy đội tàu hộ tống Phó Tư lệnh hạm đội Nam Hải nhấn mạnh: “Bất kể là binh sĩ hộ tống hàng hay binh sĩ bảo vệ đảo, đều có chung một sứ mệnh đó là bảo vệ lợi ích quốc gia, hy vọng các binh sĩ tập luyện để bảo vệ tốt biên cương trên biển phía Nam Tổ quốc”. Đến 9 giờ 30 ngày 18.8.2009, đội tàu đã rời đảo, tiếp tục hành trình quay về căn cứ.

“Ngày 24.8.2009, lực lượng Hải quân Trung quốc bắt đầu giai đoạn huấn luyện nhảy dù kéo dài 2 tháng, các hoạt động huấn luyện này được bắt đầu từ một sân bay ở quần đảo Hoàng Sa. Đây được coi là một hoạt động tập dượt kịch bản đổ bộ bằng đường không của Hải quân Trung quốc. Một trong những nội dung mới đáng lưu ý trong các hoạt động huấn luyên quân sự năm 2009 là hoạt động huấn luyện nhảy dù từ máy bay trực thăng và từ một sân bay ở quần đảo Hoàng Sa”.

Bản tin trên báo của Đảng lãnh đạo qua các trích đoạn dẫn thượng cho thấy Đảng Cộng sản “bảo vệ lợi ích quốc gia và biên cương” ở đây là Trung quốc chứ không phải Việt Nam. Đồng thời thừa nhận Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền Bắc Kinh.

Một sự việc khác là cuộc tọa đàm trực tuyến Tuần Việt Nam trên VietnamNet, dưới đề mục “Giải pháp với hàng Trung Quốc chất lượng thấp / Doanh nghiệp thua đau bởi hàng Trung quốc giá rẻ” ngày 16.6.2009, và “Tuyên chiến với cuộc tấn công của hàng ngoại chất lượng thấp” ngày 18.6.09, do ký giả Nguyễn Quang Thiều phụ trách với hai nhà Trung quốc học về kinh tế, bà Phạm Chi Lan, thành viên Viện Nghiên cứu Phát triển (IDS) và ông Nguyễn Minh Phong cho thấy hàng hóa Trung quốc chất lượng xấu đang tràn ngập thị trường Việt Nam. Bà Phạm Chi Lan báo động hàng Trung quốc là “lũ quét” tai hại cho người chi dùng: “Trung quốc làm cái gì là làm tới cùng cho được. Có khi họ không cần quan tâm nhiều hoặc bất chấp những cái thuộc về đạo lý kinh doanh hay lương tâm kinh doanh, làm hàng xấu, hàng độc. Ngay cả đối với người dân của họ, họ còn không quan tâm. Trẻ em của họ phải uống sữa độc hại mà họ còn không quan tâm …”. Ông Nguyễn Minh Phong thì báo động “Trung quốc đã hy sinh 750 triệu người nông dân của họ để có giá thành lao động cực thấp”.

Liền đó, ông Hồ Tỏa Cẩm được sự ủy quyền của ông Đại sứ Trung Quốc tại Hà Nội phản đối buổi tọa đàm bàn tròn trên VietNamNet đã phát biểu những ngôn luận không hữu nghị với Trung Quốc. Ông Cẩm bênh vực cho hàng Trung quốc và yêu sách Việt Nam “kiểm điểm công việc này. Không để việc này tổn hại, thương hại cho dân chúng Trung quốc, thương nhân Trung quốc, chính phủ Trung quốc. Với những bài có liên quan tới quan hệ đối ngoại, chính trị, bộ phận nội bộ, không nên tung ra bên ngoài mà không có quản lý”.

Phải chăng Quyết định 97 do Thủ tướng ký và ban hành ngày 24.7.2009 nhằm cấm các tổ chức Khoa học và Công nghệ không được có ý kiến phản biện về đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, là sự đáp ứng yêu sách của Bắc Kinh cấm nhân dân Việt Nam phản biện Trung quốc ?

Kính thưa Đồng bào trong và ngoài nước,

Chẳng nghi ngờ gì nữa, qua hai sự việc nêu trên, từ việc bảo vệ lãnh hải, lãnh thổ dân tộc cho đến bảo vệ quyền lợi kinh tế quốc gia, Đảng và Nhà nước Cộng sản Việt Nam đã phó mặc cho ngoại bang. Nguy cơ mất nước vào tay Trung quốc là nguy cơ cụ thể và hiện tiền.

Ngày 29.3 đầu năm nay, nhân danh Hội đồng Lưỡng Viện, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, tôi đã cất “Lời Kêu gọi Tháng 5 Bất tuân Dân sự - Biểu tình Tại Gia”, mở đầu cuộc đấu tranh bất bạo động để bảo vệ sự vẹn toàn lãnh thổ, lãnh hải mà hai nghìn năm tiền nhân ta không ngừng đem ý chí bất khuất và máu xương gìn giữ non sông.

Hôm nay, nhân danh Hội đồng Lưỡng Viện, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, tôi xin cất lời kêu gọi Đồng bào trong và ngoài nước hãy có thái độ trước hai hiện trạng Trung quốc xâm lấn và Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam bó tay đầu hàng.

Người dân Việt không có các tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, cũng không có chính quyền hay quân đội để trực tiếp và mạnh mẽ phản chống nạn xâm lăng quân sự, xâm lăng tư tưởng và xâm lăng kinh tế. Vũ khí của người dân bị trị ngày nay là THÁI ĐỘ. Chúng ta cần biểu tỏ qua THÁI ĐỘ để chống hai quốc nạn Nội xâm và Ngoại xâm.

Thái độ cần biểu tỏ hôm nay để Nhà cầm quyền Bắc Kinh thấy rõ ý chí kiên cường của người dân Việt là phát động phong trào không dùng hàng Trung quốc. Không dùng hàng Trung quốc không phải là biểu tỏ chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi chống nhân dân Trung quốc, chống công nhân Trung quốc. Vì nhân dân Trung quốc, công nhân Trung quốc cũng là nạn nhân của Đảng Cộng sản như nhân dân, công nhân và nông dân Việt Nam. Tẩy chay hàng Trung quốc là tẩy chay chủ nghĩa bá quyền xâm lược của Nhà cầm quyền Cộng sản Bắc Kinh. Ngoài lý do chính trị mà tẩy chay, còn lý do hàng xấu và hàng độc Trung quốc đang gây nguy hại cho cơ thể và môi sinh người tiêu dùng Việt Nam.

Và thái độ biểu tỏ đối với Nhà cầm quyền Hà Nội là Bất tuân Dân sự như tôi đã gợi ý trước đây qua “Lời Kêu gọi Tháng 5 Bất tuân Dân sự - Biểu tình Tại Gia”.

Kính mong được đồng bào trong và ngoài nước hưởng ứng kể từ khi đọc Lời Kêu Gọi Không Dùng Hàng Trung quốc công bố hôm nay.

Thanh Minh Thiền Viện, Saigon ngày 3.10.2009
Xử lý Thường vụ Viện Tăng Thống
kiêm Viện trưởng Viện Hóa Đạo, GHPGVNTN
(ấn ký)
Sa môn Thích Quảng Độ
Source: http://www.queme.net/vie/news_detail.php?numb=1255#note1


Những Tháng Ngày Đen Tối - Trúc Giang

Trúc Giang (*)

Năm Kiến Vũ thứ mười, tức năm Giáp Ngọ 34 sau Tây Lịch, vua Hán là Quang Vũ Đế cử Tô Định làm Thái Thú quận Giao Chỉ. Năm 40, Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa, đuổi Tô Định ra khỏi thành Luy Lâu, gây nền tự chủ cho dân Việt trên địa giới cũ của các quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố.

Nền tự chủ ấy chưa được bao lâu, tháng Chạp năm Kiến Vũ thứ 17, tức tháng 1 năm 42 sau Tây lịch, Hán Quang Vũ cử Mã Viện Nam chinh, đánh lấy lại đất Giao Châu.

Mã Viện là một đại danh tướng của Đông Hán, được mệnh danh là Phục Ba tướng quân, tức là Tướng quân hàng phục sóng dữ. Năm ấy Mã Viện đã 70 tuổi, vừa dẹp xong cuộc nổi loạn của Lý Quảng ở Hoãn Thành, thuộc tỉnh An Huy, Trung Quốc ngày nay. Mã Viện có hai phó tướng Lưu Long và Đoàn Chí. Họ Đoàn phụ trách thủy quân. Mã Viện mang một vạn quân lấy ở các quận Trường Sa, Linh Lăng, Quế Dương và Thương Ngô; từ Hồ Nam xuôi xuống Lưỡng Quảng. Tại những vùng chưa thuộc ảnh hưởng của Hai Bà Trưng, Mã Viện tuyển thêm một vạn hai ngàn quân bộ rồi hội binh với thủy quân của Đoàn Chí tại Hợp Phố, tức vùng bán đảo đối diện đảo Hải Nam bây giờ. Mã Viện theo đường thủy tiến vào Quảng Yên, theo sông Thái Bình tiến vào Trung Châu.

Quân Đông Hán đông hơn về số lượng, thiện chiến hơn, lại được chỉ huy bởi một danh tướng đã có gần nửa thế kỷ cầm quân. Trong khi đó, quân Nam tuy lòng yêu nước có thừa, nhưng số lượng đã ít, lại là quân ô hợp. Đánh nhau nhiều trận cho đến tháng 4 năm 43. Quân Nam và quân Đông Hán giao chiến với nhau một trận lớn tại hồ Lãng Bạc.

Nam quân thua trận, Hai Bà lui về Cẩm Khê. Theo sử nước ta thì Hai Bà tự trầm ở Hát Giang.

Mã Viện lập lại nền đô hộ ở Giao Châu, lại dựng một cột đồng to, cho khắc mấy chữ: “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt”. Tức cột đồng gãy thì Giao Chỉ sẽ bị diệt.

Năm Bính Tuất 1406, Minh Thành Tổ hạ chiếu đánh nước ta, lúc ấy do nhà Hồ cai trị đã được sáu năm. Thành Quốc Công Chu Năng được phong làm Đại tướng, Tán Bình Hầu Trương Phụ và Tây Bình Hầu Mộc Thạnh làm tả, hữu phó tướng. Phong Thành Hầu Lý Bân, Vân Dương Bá Trần Húc làm tả, hữu tham tướng, chia quân làm hai đạo tiến sang nước ta.

Khi đến Long Châu, Quảng Tây thì Chu Năng bị bệnh chết. Trương Phụ lên thay, theo lối Bằng Tường, từ Quảng Tây đánh vào ải Nam Quan. Mộc Thạnh đi ngã Vân Nam, đánh vào Phú Lĩnh, xuôi theo sông Thao mà xuống, họp cùng Trương Phụ tại Bạch Hạc, Vĩnh Yên. Tháng Chạp năm Bính Tuất 1406, Trương Phụ đánh thành Đa Bang. Trương Phụ cùng Đốc tướng Trần Duệ đánh mặt Đông Nam, đều dùng thang vân thê để leo thành. Thành vỡ, quân Minh tiến xuống Đông Đô, tức Hà Nội ngày nay.

Tháng 3 năm Đinh Hợi 1407, Mộc Thạnh đem quân thủy lục tiến xuống Mộc Phàm giang, hạ trại hai bên bờ sông. Tả Tướng quốc Hồ Nguyên Trừng, là con thứ của Hồ Quý Ly đem 300 chiến thuyền đánh vào Mộc Phàm, bị quân Minh tập công từ hai phía phải rút lui về cửa Muộn Hải, thuộc huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định bây giờ, hợp với hai tướng Hồ Đô, Hồ Xạ đào hào đắp lũy, tính kế phòng thủ lâu dài.

Hồ Nguyên Trừng rước Thái Thượng Hoàng Hồ Quý Ly và vua Hồ Hán Thương ở Tây Đô ra Hoàng Giang, mở một trận phản công lớn vào Hàm Tử. Thủy lục của Hồ Nguyên Trừng lúc ấy có 7 vạn. Hồ Xạ, Trần Đĩnh đánh vào bờ phía Nam, Đỗ Nhân Giám, Trần Khắc Trang đánh vào bờ phía Bắc. Thủy quân do Đỗ Mãn, Hồ Vấn chỉ huy.

Quân Minh để quân Nam vào sâu trong trận mới ra đánh. Quân Nam đại bại. An phủ sứ Bắc Giang là Nguyễn Hy Chu bị bắt và bị Trương Phụ chém. Thượng Hoàng Hồ Quý Ly và Hán Thương chạy ra bể lui về Thanh Hóa. Quân Minh đuổi theo rất gấp. Quý Ly lại chạy vào Nghệ An. Tháng 5 năm ấy (1407) Quý Ly và Hán Thương đến cửa Kỳ La, nay thuộc huyện Kỳ Anh tỉnh Nghệ An.

Trương Phụ sai Mộc Thạnh đi đường bộ, Liễu Thăng đi đường thủy vây bắt được Hồ Quý Ly, Hồ Hán Thương, Tả Tướng Quốc Hồ Nguyên Trừng, Hữu Tướng Quốc Hồ Quý Tỳ, em ruột Hồ Quý Ly cùng nhiều đại thần. Tất cả bị giải về Kim Lăng, Trung Hoa.

Cũng năm Đinh Hợi 1407, Giản Định Vương Trần Quỹ, con thứ vua Trần Nghệ Tông

phất cờ khởi nghĩa, được Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân theo phò tá, lòng người theo về. Tháng Chạp năm Mậu Tý 1408, Giản Định Đế từ Hóa Châu tiến ra phía Bắc. Tướng Minh đang cai trị nước ta là Lữ Nghị cấp báo về Kim Lăng. Minh Thành Tổ phái Mộc Thạnh đem 4 vạn quân từ Vân Nam sang cứu viện. Giản Định Đế muốn thừa cơ đánh thẳng ra Đông Đô, còn Đặng Tất lại chủ trương đợi quân các nơi về đông đủ rồi hãy tấn công. Vua tôi bất hòa, Giản Định Đế nghe lời dèm pha giết Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân, lòng người chán nản.

Con Đặng Tất là Đặng Dung và con Nguyễn Cảnh Chân là Nguyễn Cảnh Dị đem quân bản bộ bỏ Giản Định Đế về Hà Tĩnh lập cháu vua Nghệ Tông là Trần Quý Khoách lên ngôi, hiệu là Trùng Quang. Quý Khoách sai Nguyễn Súy bắt Giản Định Đế đưa về tôn làm Thái Thượng Hoàng để thống nhất hai đạo quân kháng chiến.

Trương Phụ lại đem viện binh từ Trung Hoa sang. Quân kháng chiến sức yếu, thua nhiều trận phải lui về phía Nam. Tháng 6 năm Quý Tỵ 1413, quân Minh chiếm Nghệ An, tháng 9 đến Hóa Châu. Quân kháng chiến phản công được vài trận nhưng cuối năm ấy, Quý Khoách cùng các tướng đều bị bắt. Còn Giản Định bị bắt trước đó đã giải về Kim Lăng.

Trương Phụ cho giải Trùng Quang Đế Quý Khoách, Nguyễn Suý, Đặng Dung, Nguyễn Cảnh Dị về Yên Kinh, Trung Quốc. Dọc đường, vua Trùng Quang nhảy xuống biển tự vận, còn các Tướng kia cũng tử tiết cả.

Tháng Tư năm 43, tháng Năm năm 1407, tháng Mười Một năm 1413 đều là những năm tháng đen tối của đất nước. Trong những năm tháng ấy, đất nước rơi vào tay giặc; lãnh đạo đất nước kẻ tự sát, người bị bắt, bị giết; dân tộc lầm than.

Nhưng lịch sử mấy ngàn năm của dân tộc đã nhiều lần chứng minh rằng những giờ phút đen tối ấy rồi sẽ qua đi, bởi dân tộc Việt Nam là một dân tộc bất khuất và không chấp nhận bị ngoại bang thống trị. Bà Trưng mất thì đến Bà Triệu, đến Lý Nam Đế, Triệu Việt Vương. Triệu Việt Vương mất lại có Mai Hắc Đế và Bố Cái Đại Vương, họ Khúc và cuối cùng là Ngô Quyền giành lấy độc lập.

Nhà Hồ vừa bị tiêu diệt thì đến Giản Định Đế, Trùng Quang Đế của nhà Hậu Trần. Nhà Hậu Trần dứt thì chỉ năm năm sau, Bình Định Vương dấy nghĩa ở đất Lam Sơn, mười năm kháng chiến gian khổ để nước nhà độc lập hơn bốn trăm năm.

Mã Viện đã đánh dấu chiến công của mình ở phương Nam bằng cách dựng lên một cột đồng và ngạo nghễ khắc vào đó một lời nguyền, đe dọa diệt chủng: Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt. Cây cột đồng ấy không bao lâu đã bị chôn vùi dưới những viên đá được ném đi bởi lòng căm hờn của những người bị trị; tuy sức yếu nhưng không thiếu tinh thần quật khởi.

Năm Vĩnh Tộ thứ 10, đời vua Lê Thần Tông (1619-1643), Giang Văn Minh quê ở Đường Lâm đỗ Thám Hoa. Năm Dương Hòa thứ 3, cũng đời vua Lê Thần Tông, ông được cử đi sứ sang nhà Minh để nạp đồ tiến cống. Truớc mắt bá quan văn võ và sứ thần các tiểu quốc khác; để thử tài sứ thần nước Việt, vua nhà Minh đã trịch thượng ra câu đối:
    Đồng trụ chí kim đài dĩ lục
    (Cột đồng đến nay rêu đã xanh)
Sứ thần Việt quốc ngạo nghễ đối lại:
    Đằng giang tự cổ huyết do hồng.
    (Sông Đằng từ xưa máu còn đỏ)
Câu đối của sứ thần Giang Văn Minh vừa đanh thép vừa tràn đầy tinh thần tự hào dân tộc, nhắc lại ba lần máu nhuộm Đằng Giang: Ngô Vương Quyền giết Hoàng Thao, phá quân Nam Hán, Lê Hoàn diệt quân Tống năm 981 và Hưng Đạo Đại Vương phá Nguyên năm 1288. Mất mặt, vua Minh nổi giận đã làm một chuyện tàn ác là ra lệnh mổ bụng Giang Văn Minh để xem gan sứ Việt bao lớn. Rồi cho khâm liệm và trả di hài về nước.

Vua Lê Thần Tông vô cùng thương tiếc đã thân hành làm lễ tế với lời điếu:
    “Sứ bất nhục quân mệnh, khả thi vị thiên cổ anh hùng”.
    (Tức là: Đi sứ không làm nhục mệnh vua, xứng đáng là bậc anh hùng ngàn thuở)
Có một sự trùng hợp lạ lùng: Giang Văn Minh quê ở Đường Lâm cũng lại là quê của Ngô Vương Quyền, người đã lập chiến công đầu tiên trên Bạch Đằng Giang với lời thơ hùng tráng của Phạm Sư Mạnh đời Trần:
    Hung hung Bạch Đằng đào,
    Tưởng tượng Ngô Vương thuyền

    (Bạch Đằng cuồn cuộn sóng trào
    Tưởng thuyền Ngô Chúa hôm nào trên sông).
Cuộc đô hộ của nhà Minh đối với nước Việt kéo dài 20 năm, nhưng thực sự chỉ có 5 năm hơi yên ổn từ 1413 cho đến năm 1418 là năm mà Bình Định Vương xướng nghĩa. Giặc dù mạnh cũng khó ngồi yên ổn đặt ách cai trị lên đất nước Việt bởi vì:
    Nước Đại Việt ta từ trước,
    Vốn xưng văn hiến đã lâu.
    Cõi bờ cương vực đã chia,
    Phong tục Bắc Nam cũng khác.
    Từ Đinh, Lê, Lý, Trần gây nền độc lập
    Cùng Hán, Đuờng, Tống, Nguyên hùng cứ một phương.
    Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau
    Nhưng hào kiệt đời nào cũng có…”
    (Bình Ngô đại cáo)
Hoàn cảnh của miền Nam sau 1975 có hơi khác hơn một chút. Miền Nam đã thực sự bị xâm chiếm và đặt lên một ách cai trị hết sức hà khắc bởi chính những người cộng sản cùng màu da, cùng dòng máu. Tám mươi bốn triệu dân cả nước bây giờ tuy không phải chịu cảnh bị ngoại nhân trực tiếp đô hộ như thời Đông Hán, thời Minh, nhưng bị đô hộ bởi một giai cấp bóc lột, phi nhân là đảng Cộng Sản. Cho đến giờ này, những quyền tự do căn bản nhất của tám mươi bốn triệu người dân chỉ có trên giấy tờ và các ống loa tuyên truyền của đảng. Các quyền tự do căn bản nhất ấy đối với người dân chỉ là những giấc mơ chưa với tới.

Có người sẽ hỏi: Các người đã tranh đấu, đã kêu gào ba mươi bốn năm nay mà chế độ Cộng sản Việt Nam có sụp đổ đâu?

Xin thưa rằng chưa. Chưa chứ chẳng phải là sẽ không bao giờ! Nếu những người dân Đông Âu cứ chấp nhận rằng chế độ Cộng sản Đông Âu sẽ không bao giờ sụp đổ; không có cuộc đấu tranh ở Ba Lan, không có những đợt sóng ngầm ở Đông Đức, Tiệp Khắc, Hung Gia Lợi, Bảo Gia Lợi… Nếu thế giới cũng nghĩ như vậy và cũng ngồi yên thì Cộng Sản Đông Âu sẽ không nối nhau sụp đổ trong năm 1989.

Đó là một tấm gương, xin những ai chủ bại cho rằng cuộc đấu tranh để giải trừ Cộng Sản ở nước ta hiện nay là lỗi thời hoặc vô vọng. Đó chỉ là những lời xảo ngôn để che dấu tinh thần cầu an, trốn tránh trách nhiệm.
    Đố chúng tắc mộc chiết; Nghị đa tắc đê quyết.
    Nhiều mọt sẽ làm đổ cây; Nhiều tổ kiến sẽ làm sụp đê!
Trăm suối nhỏ sẽ thành sông lớn. Hàng ngàn sự chống đối đấu tranh, tưởng chừng vô vọng từ mọi phía, góp lại sẽ thành cơn bão lớn đối với Cộng sản Hà Nội.

Những năm tháng đen tối của lịch sử đất nước đã qua đi vì chúng ta đã có Trần Bình Trọng thà làm quỷ nước Nam, đã có Trùng Quang Đế, Đặng Dung, Nguyễn Cảnh Dị tử tiết khi nước mất, có Tổng Đốc Hoàng Diệu tuẫn tiết theo thành khi thành mất.

Những năm tháng đen tối của đất nước ta hiện nay cũng sẽ qua đi vì năm 1975 chúng ta đã có Phạm Văn Phú, Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Trần Văn Hai, Lê Nguyên Vỹ, Hồ Ngọc Cẩn… Và sau năm 1975, chúng ta đã có Trần Văn Bá, Lê Quốc Quân cùng hàng ngàn anh hùng, liệt sĩ khác mà rồi một ngày không xa lịch sử sẽ tìm đến để ghi tên.

Những năm tháng đen tối hiện nay rồi cũng sẽ qua đi vì hiện nay trong cũng như ngoài nước vẫn còn những người âm thầm hy sinh cho đại cuộc bằng cách này hay cách khác.
    Xã tắc từ đây vững bền,
    Giang sơn từ đây đổi mới…
    (Bình Ngô đại cáo).
Dân tộc nào, đất nước nào lại chẳng phải trải qua những tháng năm đen tối, đau buồn. Dân tộc và đất nước Việt Nam cũng thế. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 đối với chúng ta chẳng bao lâu nữa sẽ trở thành một cái móc lịch sử, một kỷ niệm đau buồn chứ không còn là một vết thương ngày đêm làm tâm can chúng ta nhức nhối, nếu chúng ta đừng ngã lòng.

Trúc Giang cư sĩ

(*) Trúc Giang cư sĩ là một trong những bút hiệu của nhà văn Nguyễn Thiếu Nhẫn. Ông hiện là chủ nhiệm, chủ bút tuần báo Tiếng Dân phát hành ở San José. Ông cũng là giám sát viên của Ban Đại Diện CĐVN/BC nhiệm kỳ 5.


Con giun xéo mãi … - Nguyễn Đạt Thịnh


Nguyễn Ðạt Thịnh

Con giun trong bài báo này là ông Nguyễn Trung Dân, phụ tá chủ bút tạp chí Du Lịch, cơ quan ngôn luận của tổng cục du lịch. Tờ báo ông làm dĩ nhiên là “công báo” như mọi tờ báo khác xuất bản tại Việt Nam: báo in ra và phát hành bằng ngân quỹ của tổng cục du lịch, một cơ quan nhà nước. Ông Dân lãnh lương của nhà nước như mọi công chức khác.

Gót giầy xéo con giun Dân là bộ Thông tin và Truyền thông của nhà nước Việt Cộng; bộ này của nhà nước quyết định đình bản tờ báo Du lịch cũng của nhà nước trong ba tháng vì 'sai phạm nghiêm trọng' trong số Tết Kỷ Sửu 2009.

Quyết định ký hôm 14 tháng Tư viết "lãnh đạo báo Du lịch đã không chấp hành sự chỉ đạo đối với các thông tin quan trọng, phức tạp và nhạy cảm".

Du lịch Xuân Kỷ Sửu có một số bài đề cập tới chủ đề biên giới lãnh thổ cũng như chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Quyết định đình bản 3 tháng không nhất thiết có nghĩa là sau 3 tháng tờ Du Lịch được tái bản. Ông Dân viết cho đài BBC, “Đình bản ba tháng (từ 14/4/09 cho đến hôm nay 26/9/09 là 5 tháng 12 ngày) - từng ấy ngày không lương ăn, không việc làm và kinh khủng hơn là không ai thèm biết đến sự tồn tại của hơn 50 con người đang vất vưởng, tội nghiệp, chờ kiếm cho ra một người phụ trách mới.”

Ông hỏi ông phạm “tội gì” mà cả tòa soạn Du Lịch bị trừng phạt nặng nề đến như vậy; câu hỏi giúp ông trả lời, “Có chăng là tội muốn nói lên cho mọi người biết rằng Việt Nam vẫn có - và có nhiều - những thanh niên sẵn sàng xuống đường (và sẵn sàng chết) cho Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam (xem bài “Tản mạn cho đảo xa” của Trung Bảo).

“Và cho dù đã "lỡ lầm" mất Ải Nam Quan thì cũng cần ghi dấu "Hận Nam quan" cho con cháu mai sau biết được rằng: Nước Việt Nam ta hình cong chữ S, liền một dải từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mau (xem Hận Nam quan của Hoàng Cầm).”

Ông Dân cho là ông vô tội vì bài báo của cậu Trung Bảo chỉ nói lên sự thật, nhưng sự thật đó, lại làm gai mắt tòa đại sứ Trung Cộng tại Việt Nam, và do đó trở thành “nhậy cảm”, cấm không được đề cập đến.”

Người cả gan viết lên sự thật “Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam” - ký giả Trung Bảo - lại là cậu con trai đầu lòng của ông Dân.

Ông đã từng khuyên con “vào đại học muốn học gì thì học, nhưng đừng học nghề làm báo”, nhưng cậu Trung Bảo vẫn theo nghề của bố; rồi vì bài báo của cậu mà 50 nhân công phục vụ tờ báo trở thành thất nghiệp, không có lương ăn suốt 5 tháng, trong số đó có bố con cậu.

Ông Dân không giận con mà lại giận cái gót giầy đang xéo 50 con giun. Xỉ vả họ, ông viết, “Có phải khi đã yên vị ngôi cao, được phong thánh bằng niềm kiêu hãnh đem lại độc lập dân tộc, thì đất nước, lòng yêu nước trở thành của riêng một nhóm người độc quyền bắt người khác phải nghe, phải theo mình, mà mình thì không thấy điều gì quan trọng hơn cái ghế của mình hay không?"

Câu hỏi đầy phẫn nộ, ai cũng biết ông hỏi ai, nhưng những người bị hỏi không buồn trả lời ông. Cũng viết báo như bố con ông, tôi cầu nguyện không bao giờ họ trả lời ông cả, vì chắc chắn họ không trả lời bằng lời, mà bằng nhiều thủ đoạn tàn độc.

Tôi kính phục ông sau khi đọc đoạn ông trần tình với độc giả và giải thích vì sao ông đăng bài báo “nhậy cảm” của Trung Bảo.

Ông viết, “Khi cầm bài báo Trung Bảo viết cho số Xuân Du lịch, tôi đã đắn đo rất lâu. Trong tình hình lúc ấy, với sự nhạy cảm cần thiết, tôi hiểu được điều gì có thể xảy ra khi các bài báo này được in ra.

“Thế nhưng, tất cả những điều có thể xảy ra ấy có khiến tôi chùn tay không dám ký duyệt cho đăng bài viết này, mà khi đọc tôi thật sự xúc động tận tâm can?

“Tôi thương cho bầu nhiệt huyết của lớp lớp tuổi trẻ sẵn sàng xả thân mình, xuống đường biểu tình và có lẽ không ngần ngại hy sinh thân mình khi tấc đất quê hương đang bị xâm chiếm.

“Rồi tôi sợ.

“Tôi sợ phải đối diện với ánh mắt con tôi, sợ phải nghe câu hỏi là bao nhiêu sự tích anh hùng của cha ông, sao bây giờ lại thế này?”

Thưa ông Dân,

Câu nói dân gian, “con giun xéo mãi cũng quằn” giúp tôi hình dung được sự quằn quại đau đớn của ông, và của 50 người bạn đồng nghiệp với ông. Mọi người đã cúi mặt từ ngày bắt đầu biết cầm bút, và đang đói từ 5, 6 tháng nay chỉ vì ông chọn thái độ không bịt miệng một cậu thanh niên yêu nước viết lên lòng yêu nước của mình nhân danh một thế hệ trẻ.

Ông giúp tôi bớt bi quan với tình hình quốc nội ngày một đen tối hơn trước thái độ hung hãn của một đế quốc Trung Hoa đang tái sinh, và thái độ cúi đầu tùng phục của đám thái thú công trường Ba Ðình.

Cảm ơn ông.

Nguyễn Ðạt Thịnh


Tên đao phủ Tết Mậu Thân 1968: Nguyễn Đắc Xuân


Nguyễn Dắc Xuân: tên đao phủ thành phố Huế
cùng với 2 tên: Hoàng Phủ Ngọc Phan
Hoàng Phủ Ngọc Tường, đã sát hại trên 6,000
người dân vô tội trong dịp csBV tổng tấn công
Tết Mậu Thân 1968