Monday, August 24, 2009

NGU DỐT CỦA QUỶ MA - Đỗ Thái Nhiên

Đỗ Thái Nhiên

Ngụy là giả, là sai sự thực. Ngụy biện là kiểu lý luận dùng điều giả để khuất lấp sự thực, lấy điều gian dối để đánh lạc hướng nhân định của công luận. Ngu biện là gì? Thông thường ngu có nghĩa là dốt, là ngây ngô khờ dại, là không hiểu gì cả. Người ngu biện là người viện dẫn sự ngu dốt của chính mình để biện hộ cho những hành động gây thiệt hại cho người khác. Nói rõ hơn: Người ngu biện là người cho rằng sự ngu dốt của một người hiển nhiên là lý lẽ giúp người đó giải trừ được mọi trách nhiệm đối với tội ác do đương sự tạo ra. Sau đây là một trường hợp ngu biện điển hình:

Ông Dương Danh Dy là nhà ngoại giao có nhiều thập niên làm việc cho sứ quán CSVN tại Trung Quốc. Có thể nói được rằng Dương Danh Dy là người đứng hàng đầu trong số những người hiểu biết thấu đáo về quan hệ ngoại giao giữa CSVN và Trung Quốc trong hơn nửa thế kỷ qua. Ngày 02 tháng 07 năm 2009 , nhân một cuộc phỏng vấn của ông Mạc Lâm, phóng viên đài Á Châu Tự Do, ông Dương Danh Dy cho biết: Trong chiến tranh chống Pháp, Trung quốc giúp CSVN bằng cách chuyển tải vũ khí từ nội địa Trung Quốc xâm nhập Việt Bắc. Muốn vậy, Trung Quốc phải xây dựng những tuyến đường chạy quanh co vượt núi băng đồi trên lãnh thổ Việt Nam. Sau này khi xảy ra những tranh chấp về biên giới Việt Hoa, đại diện của Bắc Kinh nói chắc như đinh đóng cột rằng: “Đường của tôi ở đâu thì đất của tôi ở đấy.”

Ông Dương Danh Dy nhận xét: “Tôi xin nói thật, tôi đã từng đi điều tra biên giới trên bộ nhiều lần và tôi thấy đúng là sự ngây ngô khờ dại.”

Ông Dương Danh Dy kết luận: “Thế là mình mất toi mấy chục hecta trở lên. Làm thế nào được! Đấy, lúc đó là trong hoàn cảnh thời chiến. Người ta giúp mình, mình chẳng bao giờ nghĩ tới chuyện đó, có thể là không nghĩ ra, có thể là dốt, vân vân. Bây giờ muốn trách cứ thế nào thì cũng phải chịu thôi!”

Câu chuyện của ông Dương Danh Dy gồm hai trọng điểm: Một là Trung Quốc lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam dựa vào lý luận công trình xây dựng của Trung Quốc tới đâu, lãnh thổ của Trung Quốc mở rộng tới đó. Hai là ông Dương Danh Dy chỉ đề cập tới một hồ sơ mất đất. Trên thực tế, có rất nhiều hồ sơ mất đất. Trên thực tế, dọc theo biên giới Việt Hoa, CSVN đã để rơi vào tay Trung Quốc vô số đất đai của Tổ Tiên.

Sau những mất đất dọc theo biên giới, liệu chừng CSVN có hay không từ bỏ nảo trạng ngu dốt nhằm giúp cho Việt Nam tránh khỏi tai họa“Đường của tôi ở đâu thì đất của tôi ở đấy” ? Thưa rằng mãi cho tới ngày nay, CSVN chẳng những không xa rời sự ngu dốt mà còn làm cho sự ngu dốt kia nhân rộng gấp nhiều lần. Thật vậy, ngày 04/02/2009, tại Hà Nội, thủ tướng CSVN khẳng định: “Việc khai thác bauxite tại Tây Nguyên là chủ trương lớn của đảng và nhà nước”. Chủ trương lớn ở đây là lớn cái ngu, lớn cái “ngây ngô khờ dại”. Bằng vào “chủ trương lớn” vừa kể, CSVN đã cho phép Trung Quốc mang vô số công nhân lao động chân tay vào Việt Nam để khai thác bauxite. Song song với việc khai thác kia là sự kiện Trung Quốc được quyền mở những tuyến đường chuyển tải tài nguyên từ Việt Nam về Trung Quốc.

Ngày 07/07/2009 tin từ Việt nam cho biết: Công ty Kaidi của Trung quốc đã trúng thầu xây dựng nhà máy diện Mạo Khê, tỉnh Quãng Ninh, Bắc phần Việt Nam. Chi phí xây dựng lên tới 500 triệu Mỹ Kim. Khác với Mỹ, Nhật, Đại Hàn v.v, Trung Quốc là quốc gia được miễn trừ thuế kinh doanh khi vào Việt Nam đầu tư. Vì vậy trong mỗi trường hợp dự thầu, Trung Quốc bao giờ cũng rao giá nhận thầu thấp nhất. Và cũng vì vậy Trung Quốc hiển nhiên là quốc gia “độc quyền” trúng thầu tại Việt Nam. Cứ mỗi vụ trúng thầu như vậy là nhiều ngàn dân lao động chân tay từ Trung Quốc lục tục kéo vào Việt Nam với mớ máy móc sản xuất thực sự lỗi thời.

Trước kia, theo Dương Danh Dy, Trung Quốc chỉ cần hô hoán lên rằng “Đường của tôi ở đâu, đất của tôi ở đấy” là đủ lý lẽ để CSVN cúi đầu nhường đất cho Bắc Kinh. Ngày nay, quái tượng bauxite Tây Nguyên cộng với hàng loạt “trúng thầu xây dựng” do Hà nội cống hiến cho Bắc Triều đã tạo cơ hội để Trung Quốc ăn nói hung hản hơn: “Đường của tôi ở đâu, công trình xây dựng của tôi ở đâu, dân của tôi ở đâu, đất của tôi ở đấy!”. Không còn nghi ngờ gì nữa, tầm vóc ngu dốt của CSVN càng tăng trưởng, ngôn ngữ cướp đất của Trung quốc càng ngang ngược và trịch thượng.

Bây giờ hãy trở lại với câu chuyện giữa Dương Danh Dy và Mặc Lâm, phóng viên đài Á Châu Tự Do. Dĩ nhiên những gì Dương Danh Dy phát biểu đều được Hà Nội cho phép. Nói rõ hơn, Hà Nội muốn dùng lời lẽ của Dương Danh Dy để biện hộ cho CSVN về tội bán nước. Thực vậy, trả lời câu hỏi của Mặc Lâm về thái độ quá mềm yếu của CSVN khi đàm phán vấn đề biên giới với Trung Quốc Dương Danh Dy cho rằng: “Bây giờ cũng không thể kết tội ai được, bởi vì nó là chuyện lịch sử rồi. Chúng ta có một số điều hứa. Tôi biết rất rõ những điều hứa này của ta. Ta có những điều hứa trong vấn đề biển Đông. Cái hứa của ta lúc đó thì có những nguyên nhân là do chúng ta bênh Trung Quốc, có những nguyên nhân do chúng ta dốt, chúng ta không hiểu gì cả”

Mặt khác, ngu dốt xuất phát từ chế độ Hà Nội và do Dương Danh Dy minh thị xác nhận không là hồ sơ ngu dốt duy nhất của CSVN. Dư luận còn nhớ: Ngày 08/05/09, tại thành phố Geneva, Thụy Sĩ, Hội Đồng Nhân quyền của LHQ đã nhóm họp với mục đích kiểm điểm vấn đề nhân quyền tại Việt Nam. Vào dịp này, ông Phạm Bình Minh, thứ trưởng ngoại giao của CSVN đã khai trình rằng chính sự ngu dốt là nguyên nhân khiến chế độ Hà Nội chà đạp nhân quyền tại Việt Nam. Nguyên văn lời khai trình kia như sau: “Trình độ nhận thức của bộ phận nhà nước, kể cả trung ương và địa phương về quyền con người còn nhiều hạn chế: không chỉ không nắm được các qui định của luật pháp quốc tế, nghĩa vụ của Việt Nam với tư cách là quốc gia thành viên của công ước quốc tế về quyền con người mà đôi khi còn nắm không chắc các qui dịnh của luật pháp và chủ trương chính sách của nhà nước, do vậy có nơi, có lúc còn để xảy ra các vụ vi phạm, làm hạn chế và ảnh hưởng đến việc thụ hưởng quyền của người dân.”

Khi bị thẩm vấn về một tội phạm với đầy đủ bằng cớ hiển nhiên, bi can thường tự biện hộ bằng cách viện dẫn rằng đương sự là người bị bệnh tâm thần hoặc rằng đương sự đã hành động dưới tác động của tình huống bất khả kháng. Không ai được phép nhân danh sự ngu dốt để phạm pháp. Đó là nguyên tắc pháp căn hàng đầu của toàn bộ hệ thống luật pháp trong thế giới văn minh. Nó giúp cho luật pháp có hiệu lực cưởng hành. Chế độ Hà nội: nhà cầm quyền tự nhận là đã độc chiếm đỉnh cao trí tuệ của loài người từ rất lâu, nay lại nêu bật tính ngu dốt của chính họ để biện minh cho tội ác bán nước, tội ác chà đạp nhân quyền. Đây là một sự kiện vừa kỳ quái, vừa thiếu tự trọng , vượt ra ngoài khả năng tưởng tượng của mọi người. Tuy nhiên, không phải ở đâu và bất kỳ lúc nào CS Hà Nội cũng khiêm cung trong vị trí ngu dốt. Lịch sử của đảng CSVN đã cho thấy đảng này có biệt tài nhảy múa giữa hai thái cực: bên này địa vị của kẻ cực quyền hách dịch, bên kia là vai trò mù mờ của một nô bộc ngu dốt.

Những khi dọc ngang trong hành động đàn áp đối lập, mua quan bán tước, cướp phá tài nguyên quốc gia, bóc lột tài sản của đồng bào, CSVN công khai tự nhận họ là cha mẹ của nhân dân.

Những khi phải đối mặt với núi tội ác quả tang, tội ác vô phương biện hộ: tội bán nước, tội chà đạp nhân quyền, CSVN lí nhí tự thú họ là kẻ nô bộc ngu dốt.

Không còn nghi ngờ gì nữa: ngu dốt của CSVN là ngu dốt của loài quỷ ma.

Đỗ Thái Nhiên


Người Thiếu Phụ Trong Mưa Phùn Giữa Núi Rừng Việt Bắc - Đoàn Trọng Hiếu

Đoàn Trọng Hiếu

(Viết để tưởng nhớ quý chiến hữu đã gục chết trong lao tù Cộng Sản, và cũng để tuyên dương những người vợ lính VNCH, đặc biệt là chị quả phụ của cố Đại úy CSQG Trần Thiên Thọ Hải. ....)

Cuối năm 1977, tình hữu nghị anh em xã hội chủ nghĩa giữa Cộng Sản Ta và Cộng Sản Tàu đã trở nên tồi tệ. Đài phát thanh Hà Nội, cái loa tuyên truyền của Cộng Sản Ta đã không còn ra rả phát đi lời tuyên bố của tên Thủ Tướng Đồng “vẩu”.

Trước kia, nào là “tình hữu nghị Việt-Trung muôn đời bất diệt” nào là “tình hữu nghị Việt-Trung như răng với môi, môi hở thì răng lạnh” .v.v..

Vì sau khi cưỡng chiếm được miền Nam, các tên lãnh đạo Cộng Sản Ta đã ngả theo Nga, mà quên đi cái ơn của Cộng Sản Tàu trong những năm chiến tranh “anh bộ đội cụ Hồ” đã được Cộng Sản Tàu trang bị cho từ chân lên đến đỉnh đầu, từ đôi dép râu làm bằng lốp xe đến cái nón cối đội trên đầu, thậm chí là cả cái bát ăn cơm, anh bộ đội chỉ có duy nhất “cụ Hồ” là của chính anh. Để trừng trị thằng đàn em cứng đầu vong ơn bội nghĩa, Tàu Cộng liền cho tên Miên Cộng Polpốt quậy phá ở biên giới phía Nam. Nhưng tên Miên này không làm nên chuyện, nên Tàu Cộng đã dàn quân dọc biên giới phía Bắc để chuẩn bị cho Cộng Sản Ta bài học số một, và như vậy là răng đã cắn sứt môi. Lo sợ khi Cộng Sản Tàu đánh xuống, anh em tù phía Quốc Gia đang bị giam giữ tại các tỉnh phía Bắc như Lào Cai, Yên Bái, Nghĩa Lộ .v.v. sẽ tìm cách trốn sang biên giới phối hợp với lực lượng ly khai của Hoàng Văn Hoan đang được Tàu Cộng ủng hộ, nên gần cuối năm 1977 bọn Việt Cộng đã chuyển anh em tù xuống dần phía Nam đến các trại Vinh Quang hay Tân Lập thuộc tỉnh Vĩnh Phú hoặc các trại Hà Tây hay Nam Hà (Đầm Đùn, Ba Sao) gần Hà Nội.

Tình hình sức khỏe anh em khi còn ở các trại do quân đội Việt Cộng quản lý đã tồi tệ, thì nay càng tồi tệ hơn dưới sự hà khắc dã man của bọn Công An, mà anh em tù quen gọi là bọn “Chó Vàng”, tiêu chuẩn ăn uống thì bị cắt xén ăn bớt. Mỗi bữa ăn chỉ được một thìa cơm với hai khúc sắn tươi, hoặc gần chục lát sắn khô hay một chén sắn duôi (loại sắn được nạo thành sợi hay xắt thành cục phơi khô), vài muỗng canh đại dương (nước muối với vài cọng rau già), hoặc một vài miếng sắn được nấu với muối cho nhừ để làm canh. Họa hoằn, một đôi ba tháng vào các ngày Lễ Tết thì được một chén cơm trắng với hai ba miếng thịt lợn to bằng đốt ngón tay, hoặc một vài miếng thịt trâu từ một con trâu già đã không còn kéo cày nổi hay bị chết vì không chịu nổi cái lạnh mùa đông. Với chế độ ăn uống như vậy mà phải làm việc khổ sai, dẫn đến tình trạng kiệt lực, người nào cũng chỉ còn da bọc xương. Mỗi buổi chiều hết giờ lao động, anh em tù cởi áo xuống ao tắm, trông như một bầy khỉ ốm đói.

Tình trạng bệnh tật và không có thuốc men thật là đáng sợ, bệnh kiết lỵ, phù thủng và thổ huyết rất phổ biến. Đã có một số anh em chết mà anh em tù quen gọi là “quay đầu về núi” vì hầu hết tù nhân chết đều được chôn trên các sườn đồi. Xin đơn cử một vài cái chết của vài anh mà tôi có dịp ở chung.

Thiếu tá Hà Sỹ Phong, phó giám đốc đài phát thanh Tự Do, anh ở cùng đội với tôi, mấy ngày trước anh bị bệnh nên cho nghỉ ở nhà trực phòng, sau đó 2 ngày anh được mẹ ở miền Bắc lên thăm. Buổi tối anh cho tôi nửa chén cơm vắt và hai miếng thịt gà kho mặn, anh thì thầm tâm sự:

- Năm 54 tôi di cư vào Nam chỉ có một mình, ông bà cụ luyến tiếc tài sản không chịu đi, bố tôi bị đi tẩy não (tù cải tạo) trong đợt cải cách ruộng đất và chết trong tù, bây giờ mẹ tôi đã ngoài 70 tuổi lại phải đi thăm con ở tù. Đây là lần đầu gặp lại mẹ tôi sau hơn hai mươi năm xa cách.

Nói rồi hai hàng nước mắt anh lăn dài trên má. Tôi lí nhí cám ơn anh về món quà anh đã cho tôi. Sau gần 3 năm tù, đây là lần đầu tiên tôi được thưởng thức một món ăn quá sang trọng như vậy. Tôi xé từng sớ thịt, rồi lại liếm mấy ngón tay, tận hưởng cái hạnh phúc to lớn ấy rồi thiếp dần vào giấc ngủ. Sáng hôm sau khi ra khỏi phòng để điểm danh thì thiếu một người, tên thường trực thi đua (một tên tù được đưa lên phụ việc đóng mở cửa và kiểm soát anh em) đi vào thì phát hiện anh Phong đã mê man. Chúng tôi vội cõng anh lên trạm xá nhưng anh đã chết vài giờ sau đó.

Ít ngày sau lại đến anh Trung Tá Lạc phòng 2 Bộ tư lệnh Quân Đoàn II. Một buổi chiều sau khi lao động về, anh Lạc ghé sang khu tôi ở, móc trong túi ra một cái bánh chưng đưa cho tôi và nói:

- Hai cháu nó mới ra thăm, cả hai đều được đi dậy học lại và là “giáo viên tiên tiến” nên được cho ra thăm “lăng Bác”. Nó tìm lên thăm mua cho ít quà, chú dùng cái bánh chia vui với tôi, mấy ngày nữa các cháu sẽ lại lên thăm tôi lần nữa. Tôi đón cái bánh chưng to bằng cái bánh trung thu và lí nhí cám ơn anh rồi vội chia tay, vì sợ tụi cán bộ trông thấy sẽ ghép tôi quan hệ trái phép .v.v..

Quả thật những lúc đói khát khó khăn thế này mới thấy cái tình dành cho nhau nó to lớn và sâu đậm. Nhưng rồi không may cho anh, hai hôm sau anh đã chết ngay tại hiện trường lao động không kịp gặp lại các con.

Giữa năm 78 vì đói khát suy dinh dưỡng, cộng thêm cơn sốt vàng da đã khiến tôi kiệt lực, thân thể chỉ còn trên 30kg. Tôi không còn bước đi được nữa, mà chỉ có thể bò được vài ba thước, tôi được đưa xuống trạm xá nằm trong “danh sách chờ”. Tại đây đã có anh Tư, anh là người hạm trưởng đã sang Singapore rồi lại quay về, anh bị bệnh phù thủng lại thêm phần ân hận vì đã quay về để rồi bị đi tù mút chỉ, nên chỉ ít ngày thì anh chết. Rồi đến Trung Tá Mai Xuân Hậu, Tỉnh trưởng Kontum, Thiếu Tá Đặng Bình Minh lái trực thăng cho Tổng Thống Thiệu, Trung Tá Lý. Dường như chẳng còn ai quan tâm đến cái chết, chả thế mà vẫn còn nói đùa: “Đ.M. mày qua mặt tao mà đíu bóp còi”. Cũng thời gian này, có một bài hát đã được anh sáng tác tôi vẫn còn nhớ được ít câu:

Cũng thời gian này, có một bài hát đã được anh sáng tác tôi vẫn còn nhớ được ít câu:

“Rồi một ngày mai không có anh,
em không còn phải nhớ phải mong
- Rồi một ngày mai thân xác anh quay đầu về núi
- Cô đơn ngồi khóc một mình
- Không một lần kịp vuốt mắt anh
- Ôi mây lang thang về phía trời xa vời,
nhìn trông theo cánh chim từng đàn,
để mình ta với bao ngày tháng xanh rêu,
bụi thời gian lấp kín hồn mình,
đớn đau trong lòng mà nhớ về nơi xa,
ôi ngày về còn dài bao lâu
- Rồi một ngày mai anh chết đi,
em không còn phải khóc phải thương
- Rồi một ngày mai thân xác anh đi vào lòng đất,
cô đơn phủ kín đời mình.
- Không một lần kịp nói tiếng yêu.”-

Nhưng rồi may mắn hơn, số tôi chưa tới, nên căn bệnh sốt vàng da không biết có phải nhờ ba cái lá ổi, lá xoan hay không, mà tự nhiên biến mất. Và may mắn thay, nhờ mảnh giấy tôi gửi lén về qua một chị ra thăm chồng, tuy bị tụi công an phát giác, nhưng chị cũng đã nhớ cái địa chỉ ở Biên Hòa, nên chị đã đi tìm báo cho gia đình tôi biết. Nhờ vậy, cuối năm 79 mẹ tôi và vợ con tôi ra thăm, tên Vinh cán bộ giáo dục của trại trước khi tôi ra gặp đã chỉ cho tôi gặp 5 phút vì tôi đã gửi lén thư, nhưng tên công an dắt tôi ra đã cho tôi gặp gần một giờ. Gặp lại mẹ và vợ con sau hơn 4 năm chỉ biết khóc. Chỉ nói được vài câu thì đã hết giờ, tôi đứng dậy chào từ biệt, lòng buồn rã rượi, rồi chống gậy lom khom lết về trại, một tên tù hình sự được chỉ định giúp tôi đẩy cái xe cải tiến chở đồ thăm nuôi vào trại. Nhờ chuyến ra thăm này mà tôi dần dần hồi phục, lúc này mỗi tuần đều có một vài anh em “quay đầu về núi”. Cái đồi sắn ở phía đội 12 sau hơn hai năm đã có gần 300 anh em tù chính trị được chôn ở đó.

Gần tết năm 79 tôi chuyển sang đội 17 lâm sản, chuyên đi lấy củi để sử dụng cho bếp trại, thời gian này do áp lực của quốc tế, nên chúng buộc phải cho gia đình đi thăm nuôi, nên sức khỏe của đa số anh em đã dần dần hồi phục. Một số anh em “con bà phước” cũng được anh em đùm bọc, nên cái bóng thần chết đã bị đẩy lùi. Hàng đêm tại các phòng, anh em lại tụ tập quanh ngọn đèn dầu với ấm trà cặm tăm, loại trà thật đặc được pha hoàn toàn bằng búp trà “hai tôm một tép” sao sấy cẩn thận, do anh em đội trà lén mang về. Các tay văn nghệ lại bắt đầu tổ chức ca hát nhạc vàng hàng đêm, khiến tụi cán bộ trại điên đầu, chúng bắt đầu cảm thấy hoang mang vì thấy tù càng bị nhốt lâu lại càng ung dung tự tại, không còn hoang mang lo sợ, lại thêm đám cán bộ nhí bắt đầu bị anh em tù thu phục.

Chúng bắt đầu xin anh em chép và dạy cho chúng hát nhạc vàng, có tên còn xin đồ ăn và thuốc hút. Những buổi lên lớp do tên Trung tá Thùy nói chuyện đã bị anh em phản kháng bằng cách vỗ tay và cười, đã làm cho hắn ngượng ngùng. Chẳng hạn như lúc hắn khoác lác về tên Phạm Tuân đã bay Mig 21 lên, rồi tắt máy phục kích ở trong mây, đợi B52 đến rồi nổ máy tiêu diệt, hay làm phụ lái cho tàu vũ trụ bay lên không gian nghiên cứu bèo hoa dâu để nuôi lợn .v.v. Rồi sang đến cuối năm 80 thì cũng chính tin đồn anh em tù sẽ đi Mỹ, phát ra từ trong đám cán bộ, dân chúng quanh vùng quý tù miền Nam và ghét cán bộ ra mặt. Anh em đã san xẻ thuốc men cho dân ốm đau trong vùng, khi đi lao động ngoài Bến Ngọc. Anh em thường gọi đây là công tác dân sự vụ. Một buổi tối cuối năm, sau khi đã điểm danh vào phòng, anh em đang tụ tập đàn hát như thường lệ, lúc kẻng báo tắt đèn đến giờ ngủ thì tên cán bộ trực tại trại đến cửa phòng nói vọng vào yêu cầu Phan Thanh đội trưởng lâm sản cử 4 người đi “lao động đột xuất”. Thanh, Diệp, Tân và tôi mặc quần áo cho thật ấm và cũng không quên mang theo tấm nylon đề phòng mưa, vì mùa đông miền Bắc thật lạnh, lại thường có mưa phùn. Chúng tôi được lệnh xuống chỗ đội 12 lấy cuốc xẻng và thùng xách nước bỏ lên xe cải tiến đi về phía khu nhà tiếp tân. Tên cán bộ đi theo đưa cho tôi cái đèn bão leo lét. Ngang khu nhà tiếp tân thì đã thấy một thiếu phụ trong bộ đồ tang trắng đang đứng đợi.

Dường như đã được sắp xếp, người thiếu phụ lặng lẽ đi theo, tên cán bộ ra lệnh cho chúng tôi đi ra khu nghĩa địa. Đến nơi, hắn bảo chúng tôi đi tìm mộ của Trần Thiên Thọ Hải. Chúng tôi nhớ ra đại úy Hải chết vào đợt những anh em đầu tiên năm 1977, như vậy là nằm ở sâu trong cùng sát chân đồi. Sau gần 15 phút chúng tôi đã tìm được ngôi mộ của anh với tấm bia chỉ nhỏ bằng tờ giấy học trò ghi lờ mờ, còn nắm đất thì chỉ cao hơn mặt đất chừng một tấc. Chúng tôi được lệnh là đào để bốc cốt cho chị mang về trong Nam. Việc đầu tiên là tìm một ít cành khô để đốt một đống lửa sưởi ấm và lấy ánh sáng, chị bắt đầu lấy ra môt bó nhang đốt lên rồi quỳ xuống vái ba lạy. Cầm nguyên bó nhang chị thổn thức khóc và nằm phủ phục lên ngôi mộ. Dưới ánh lửa tôi thấy thiếu phụ còn rất trẻ chỉ khoảng dưới 30, nét mặt xương xương.

Chúng tôi đứng lặng yên tôn trọng nỗi đau của chị, cho đến khi tên cán bộ yêu cầu chúng tôi “khẩn trương” bắt tay vào việc, vì trời đã lâm râm mưa phùn. Chúng tôi dìu chị đứng dậy sang bên cạnh và bắt đầu đào. Chỉ không đầy 20 phút chúng tôi đã đụng lớp ván đã mục, vì khi tù nhân chết thì chỉ được bỏ vào cái quan tài nhỏ vừa khít người được đóng bằng loại gỗ bạch đàn hay bồ đề, một loại cây được trồng để làm giấy, nên rất nhẹ xốp, được xẻ thành từng thanh và đóng hở như cái vạt giường, nên thấy cả xác nằm bên trong và đám tù hình sự khi đi chôn thì chỉ đào sâu khoảng 4 tấc rồi vùi lấp qua loa. Gỡ lớp ván trên mặt, bên trong là bộ quần áo tù đã rữa nát. Tôi đi xách một thùng nước ở dưới ruộng để rửa cho sạch đất, người thiếu phụ cũng đã lấy ra một cái thau nhựa và đổ vào đó một ít rượu. Chúng tôi cẩn thận nhặt từng cái xương rũ cho bớt đất, rửa cho sạch rồi trao cho chị. Chị cầm từng cái rửa trong rượu, rồi bỏ vào cái bịch nylon hai lớp. Chị đưa cho chúng tôi mỗi người một gói thuốc Tam Đảo rồi vừa làm chị vừa tâm sự:

- Giữa năm 79, em có xin phép ra thăm, nhưng khi đến trại thì họ nói là không có anh Hải ở đây, nhưng ít tháng sau thì em được tin anh Hải đã chết từ năm 77, do một chị bạn ra thăm chồng về cho biết.

Như vậy là họ đã dấu nhẹm không báo cho gia đình, mới đây một người mách bảo cho em ra Bộ Nội Vụ ngoài Hà Nội làm đơn xin bốc cốt, sau mấy lần làm đơn cuối cùng họ đã phải cho. Nhưng khi đến đây thì họ chỉ cho làm vào ban đêm và sau khi xong, họ không cho em ở lại nhà tiếp qua đêm với lý do là ô uế. Sau gần một giờ, thấy có thể đã không còn sót cái xương nào, chúng tôi bảo chị để tránh rắc rối chị không nên mặc bộ đồ tang này. Chúng tôi lấy bộ quần áo tang quấn quanh cái bao nylon đựng cốt bỏ vào cái bị cói lớn rồi lấy sợi dây chuối khô khâu miệng lại để không ai nhìn thấy. Trên đường về trại, lúc đến chỗ rẽ, chị lý nhí vừa thổn thức khóc vừa cám ơn rồi dúi vào tay chúng tôi mấy gói thuốc còn lại. Nhìn người thiếu phụ tay xách cái bị cói đựng cốt chồng, lặng lẽ đi trong đêm, trên con đường rừng cô quạnh, khiến chúng tôi vô cùng thương cảm, ngậm ngùi, đứng trông theo. Bỗng sự uất ức trào lên rồi không nén lại được, tôi thốt lên trong kẽ răng:

- Đ.M. Chúng mày rồi sẽ phải trả giá cho hành động này!

Chúng tôi đi vào theo cửa hông của cổng trại, rồi lặng lẽ đi về phòng. Tên thường trực thi đua đã đứng đợi sẵn để mở cửa.

Đã quá nửa đêm, cái lạnh đã thấm sâu vào người, nằm co quắp dưới lớp chăn mỏng, tôi thầm ái ngại cho số phận của người đàn bà bất hạnh. Chị mang cốt chồng đi giữa đêm trời giá lạnh của vùng rừng núi Việt Bắc, như người vợ, người mẹ Việt Nam đang mang nỗi đau, nỗi bất hạnh của cả một dân tộc đi trong đêm tối bão bùng.

Đoàn Trọng Hiếu


Ðã Ðến Lúc Cộng Ðồng Việt Nam Hải Ngoại Cần Có Một Lãnh Tụ - Song Hoài


    Một lòng vì nước, vì dân
    Một lòng vì nợ tang bồng năm xưa
    (Xin tặng cho những nhà tranh đấu không mỏi mệt vì tha nhân)
Người Việt lưu vong hay tha hương ra nước ngoài thấm thoát đã 34 năm, thời gian đủ để gầy dựng một thế hệ thứ hai đầy đủ trí tuệ và bản lãnh Việt Nam, lớp tre già măng mọc có đồng bộ nhưng chưa hoàn toàn đồng sàn, sự phân hóa trong cộng đồng làm giới trẻ có cái nhìn thiên kiến đối với lớp người đi trước, chưa có một nhân vật tầm cỡ nào có thể đứng lên đại diện cho sức mạnh cộng đồng người Việt tỵ nạn làm cho các nước có người Việt định cư phải chú ý lắng nghe, thời gian đã chín muồi, đã đến lúc cộng đồng Việt Nam cần có một lãnh tụ để thống nhất tinh thần quốc gia và lãnh đạo cuộc đấu tranh cho tự do và dân chủ cho đồng bào trong nước.

Chưa có một sắc dân nào tại Hoa Kỳ mà có lòng yêu nước hào hùng và kiên trì như cộng đồng người Việt Nam, chưa có một sắc dân nào mà thành tựu rực rở một cách nhanh chóng như cộng đồng Việt Nam tại hải ngoại, nhất là tại Hoa Kỳ. Con số trên 300,000 trí thức trong số 1,5 triệu người Việt, còn nhiều hơn cả nước Việt Nam cộng sản với dân số trên 80 triệu người. Người Việt thành công và góp mặt trên hầu hết các lãnh vực chính trị, quốc phòng, kinh tế, văn hóa, xã hội, và cả không gian nửa. Ðặc biệt là giáo dục, có rất nhiều giáo sư đại học người Việt có mặt tại các trường đại học nổi tiếng Hoa Kỳ. Nhưng tại sao tiếng nói của cộng đồng Việt Nam ít được chính giới Hoa Kỳ tôn trọng, và những gì mà họ hứa hẹn với ta hoàn toàn có tính cách chiếu lệ. Một thí dụ, trước khi qua Việt Nam tham dự hội nghị OPEC năm 2007, Tổng Thống Bush không mời cộng đồng mà mời 4 đại diện đảng phái và tổ chức đấu tranh vào họp để lắng nghe ý kiến đề nghị. Rồi năm sau, trước khi Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng Việt cộng qua thăm Hoa Kỳ, ông Bush cũng mời vài tổ chức đấu tranh và đảng phái vào họp tại Tòa Bạch Ốc. Cho vui vậy thôi. Có thấy đề nghị về nhân quyền nào của ông Bush được Việt Nam lắng nghe và sửa chữa đâu. Tại sao vậy? Tại vì chúng ta chưa có một lãnh tụ tầm cỡ làm cho Hoa Kỳ phải biết lắng nghe, và áp lực thực sự với Việt cộng.

Ông Bush không thèm mời cộng đồng Việt Nam mà chỉ mời các thành phần kể trên, chứng tỏ ông ta "doesn't care" cộng đồng Việt Nam, và những gì mà chính phủ Hoa Kỳ làm đều là vì quyền lợi của Hoa Kỳ cả. Nói ra xin đừng tự ái. Nên nhớ điều này. Cộng đồng Việt Nam bị phân hóa và có nơi bể làm đôi, ai cũng muốn làm lãnh tụ cả. Tại Hoa Kỳ có hai tổ chức nhất định đòi đại diện cho cộng đồng Việt Nam tại Hoa Kỳ, một tổ chức nằm ở Houston thì không nghe nói có cộng đồng nào tham gia, còn tổ chức kia hiện nay ở New York có khoảng 40 cộng đồng. Chưa thấy hai cộng đồng này làm được điều gì ngoạn mục thuyết phục được chính giới Hoa Kỳ cả. Có hai tổ chức Tổng đại diện cho quân đội hoạt động giống nhau, một ở Houston gọi là Tổng Hội Cựu Chiến Sĩ không có quân, và một ở San Jose gọi là Tập Thể Cựu Chiến Sĩ tuy có quân nhưng không thấy có hoạt động nào khả dĩ thống nhất anh em quân đội được. Có hai Tổng hội sĩ quan Thủ Ðức, một ở New Jersy có quân và chịu họp hợp nhất, một ở Canada không có quân nhưng tự ái đùng đùng không chịu họp thống nhất tình đồng môn. Ngay trong các hội học sinh trung học, có nơi cũng bể đôi. Tôn giáo thì còn đau lòng hơn nửa, nhiều nơi bị chia đôi, thậm chí chia ba nửa. Ðặc biệt, đã có lúc tại nam California có hai tổ chức kiểu chính phủ cùng song song tồn tại, một của ông Nguyễn Hữu Chánh hoạt động một thời gian khá dài rồi tự rút lui gần đây, và một của ông Ðào Minh Quân hoạt động mổi năm đúng một lần, chỉ vào dịp Tết, đó là lên chúc Tết đồng hương, rồi thôi. Ở Little Saigon, có lúc có đến 03 tổ chức đại diện cho cộng đồng Việt Nam nam California, và một của bà Mai Công hoạt động chuyên về xã hội tại Quận Cam. Người Mỹ địa phương cũng khôn lắm, đi cốc phiếu thì đến ba cộng đồng kia, còn yễm trợ ngân sách hoạt động xã hội thì cho cộng đồng của bà Mai Công. Kẻ viết bài này đã có lúc cùng một thời gian, chạy show phóng sự về tin tức hoạt động của cả ba cộng đồng nói trên, rất đông vui hao.

Thực sự mà nói, chính giới Hoa Kỳ nhiều khi muốn nói chuyện với cộng đồng cũng không biết tìm ra ai là người đại diện thực sự có uy tín đối với cộng đồng để mà bàn việc lớn, mời ông A thì thế nào cũng bị bà B móc, mời đảng C thế nào cũng bị tờ báo D móc. Có nhiều người đã ví von rằng tại Việt Nam ta có truyền thống chia rẻ từ thời lập quốc, có 100 người con lại chia đôi, nửa lên núi theo cha, nửa xuống biển theo mẹ, nhưng dầu xuống biển hay lên núi gì cũng là Việt Nam, lúc quốc biến thì đoàn kết đấu tranh dành lại độc lập dân tộc như Hội Nghị Diên Hồng đời Nhà Trần, cho nên dân tộc Lạc Việt vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay, và người Việt lưu vong ra nước ngoài mặc dù có lúc chống nhau, nhưng vẫn mang chung một khát vọng dân tộc trường tồn, tự do dân chủ.

Các tổ chức đấu tranh hay cộng đồng đều là người tỵ nạn, đều muốn đặt tinh thần quốc gia lên hàng đầu và tranh đấu cho tự do dân chủ cho quê hương là mục tiêu chính. Nhưng mạnh ai nấy làm, đôi khi còn dẵm chân lên nhau nửa. Nhưng đặc biệt, mặc dù có bất đồng, nhưng không bất hòa lâu làm trở ngại công cuộc tranh đấu chung. Nhiều khi có việc lớn, thì hai cộng đồng cùng danh xưng người Việt quốc gia tạm ngưng chống nhau, và tạm ngồi lại với nhau, chống cờ máu như vụ Trần Trường tại Bolsa năm 1999. Nhiều khi họ bỏ cả công ăn việc làm để đi biểu tình, tranh đấu, tất cả chỉ vì tha nhân. Người hiểu được việc này thì ít mà chỉ trích thì nhiều.

Tấm lòng của người Việt quốc gia thật bao la, họ chấp nhận mọi chỉ trích để tranh đấu tõ tấm lòng đối với quê hương. Nhưng đa số các cuộc tranh đấu đều rời rạc, khi cần mới có tham mưu vẽ ra kế hoạch, chứ chẳng có chuẩn bị gì trước cả, thấy đâu đánh đấy, nghe tin phái đoàn cộng sản đến đâu thì nơi đó mới lên kế hoạch đối phó, nên luôn ở thế bị động. Chúng ta có hàng ngàn Gia Cát Lượng, nhưng không có một lãnh tụ Ðinh Bộ Lĩnh thống lãnh quần hùng. Tại sao vậy.

Nếu bây giờ có ai mớm ý, cử ông X làm lãnh tụ thì ngay hôm sau sẽ có hàng tá ý kiến bơi móc, bới bèo ra bọ trên internet hay trên báo chí ngay. Cái khó của cộng đồng Việt Nam là ở chỗ này.. Nhân vô thập toàn, không thể lấy khuyết điểm của người này trong quá khứ mà kết luận bản chất được. Ai cãm thấy mình không có tội hảy ném đá người đàn bà này trước, không có ai dám ném đá cả. Nhưng trong cộng đồng ta, hể mà ai mới nổi lên một chút thôi tất sẽ bị người khác kéo xuống. Tình trạng này đang xảy ra trong cộng đồng Việt Nam tại Hoa Kỳ. Vậy thì đến bao giờ chúng ta mới có lãnh tụ.

Ðã đến lúc chúng ta phải tìm ra một lãnh tụ, dầu có tam cố thảo lư cũng phải tìm cho được, đừng sợ chống đối. Cựu Thủ Tướng Nguyễn Bá Cẫn, vừa đại diện Việt Nam Cộng Hòa vừa lên tiếng kêu gọi cộng đồng và các tổ chức đấu tranh ký vào tuyên cáo lãnh hải Việt Nam đệ trình cho Liên hiệp Quốc trước ngày 13/05/2009, thì lập tức có gần 300 tổ chức đấu tranh, cộng đồng các tiểu bang, đảng phái, tôn giáo, cựu tướng lãnh, cựu dân biểu nghị sĩ, cựu viên chức chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, và một số ít nhân sĩ lập tức hưởng ứng. Rõ ràng những nhân vật ký tên này đủ mọi thành phần của một quốc gia. Không phải họ tuyên dương ông Nguyễn Bá Cẩn lên làm lãnh tụ, nhưng mà vì ông Cẩn xuất hiện đúng lúc chúng ta cần người đại diện chính thức khiếu nại vụ biển đông với Liên Hiệp Quốc, thế mà có kẻ còn xuyên tạc nói là làm hộ cho Việt cộng. Rồi hai ngày sau khi ông Nguyễn Bá Cẫn đã nằm xuống, một tờ báo net cũng không tha, quên mất câu nghĩa tử là nghĩa tận của người Á đông, bơi móc ông Cẩn với mục đích chính là "chửi xỏ và làm mất danh dự của các hội đoàn và tổ chức đã tham gia ký tên vào tuyên cáo này nhiều hơn là bơi móc ông Cẩn". Sự kiện này cho chúng ta thấy những kẻ có tâm huyết thường bị đánh phá chụp mũ, với mục đích chính là"Làm Cho Cộng Ðồng Việt Nam Không Thể Nào Có Một Lãnh Ðạo Thực Sự", cũng giống như các cuộc bầu cử dân biểu nghị sĩ quốc hội hay tại California, bất cứ người Việt nào ứng cử cũng đều bị chính truyền thông báo chí của người Việt đánh phá với mục đích chính là "Làm Cho Cộng Ðồng Việt Nam Không Có Ðại Diện Chính Thức Trong Quốc Hội Tiểu Bang Hoặc Liên Bang". Cộng đồng Việt Nam muốn có người lãnh đạo, muốn có đại diện trong các cơ quan chính quyền và quốc hội; và những kẻ phá thối vẫn bới bèo ra bọ để đánh phá với mục đích gì đây thì ai cũng rõ.

Trường hợp lớn nhất mà cộng đồng Việt Nam bầu hoặc tìm ra được một lãnh đạo, rồi vị này bị đánh phá, tự nhiên tất cả chúng ta đều biết được kẻ đánh phá là ai, phục vụ cho ai? Chỉ có Việt cộng mới sợ chúng ta có lãnh tụ nên mới cho tay sai đánh phá hoặc ngăn chận, không cho người Việt quốc gia có người lãnh đạo tranh đấu chống lại bọn chúng. Chẳng lẽ người Việt quốc gia muốn quang phục quê hương lại không muốn có lãnh tụ giương ngọn cờ đại nghĩa à? Việt cộng đã và đang âm mưu chia rẽ cộng đồng và các đoàn thể, tôn giáo, đảng phái, qua nghị quyết 36, vì thế đã cho tay sai ngăn chận, bàn ra không cần lãnh tụ, bôi nhọ các nhà tranh đấu, và rất "ngây thơ cụ" đề nghị cộng đồng chờ chọn .... minh chúa tự nhiên xuất hiện!!! Những điều này đích thị phục vụ cho một âm mưu chia rẽ những nhà đấu tranh với cộng đồng, và làm cho những người có tâm huyết nãn lòng không muốn ra giúp nước. Ðừng lo, ở hải ngoại này, tất cả ai mà nổi tiếng thì trước sau đều bị xuyên tạc hoặc chụp mũ, và đã có một câu nói có thể gọi là rất chính xác để minh chứng cho điều này là "Ai mà nổi tiếng, ai tranh đấu mà không bị chụp mũ thì chưa trưởng thành". Không một lãnh tụ ở cõi thế gian này mà hoàn toàn được (No one is perfect. Nhân vô thập toàn). Bọn phản động cứ ra chiêu bài đánh phá, và chó sủa mặc chó, đoàn lữ hành vẫn cứ đi.

Sự kiện gần 300 tổ chức, đảng phái, tôn giáo, hội đoàn đấu tranh, mà trong đó có cả nhiều tổ chức cộng đồng Việt Nam tại Hoa Kỳ, chịu ký tên chung trong tuyên cáo lãnh hải, là hi hữu và độc đáo nhất trong lịch sử tỵ nạn của cộng đồng Việt Nam. Ðây rõ ràng nói lên cái khao khát có một lãnh tụ phát ra hiệu lệnh thiên hạ, chứ không phải tại vì có A hoặc ông B. Tổng hợp mạnh nhất tinh thần bất khuất của người Việt hải ngoại để tranh đấu cho sự tồn tại của một quốc gia, là một việc cần phải làm, mặc dù đã 34 năm trôi qua nhưng không quá trễ để có người lãnh đạo cộng đồng.

Tình hình Việt Nam hiện nay đang sôi sục như một hỏa diệm sơn sắp sửa phun lửa, lửa beauxite tây nguyên, lửa đông hải, và lửa bạo quyền đàn áp tôn giáo. Qua vụ bauxite, Việt cộng đã tuyên chiến với giới trí thức Bắc Hà, với các cựu công thần nhà nước. Qua vụ bán biển đông, Việt cộng đã tuyên chiến với giới Luật sư và những người trẻ yêu nước. Qua vụ đàn áp giáo dân Tam Tòa, đánh trọng thương hai vị linh mục tại Ðồng Hới, gây ra phẫn nộ dây chuyền với 500,000 giáo dân biểu tình hoặc hiệp thông cầu nguyện. Việt cộng luôn coi tôn giáo là thuốc phiện, Việt cộng không sợ những cuộc đấu tranh lẽ tẻ, nhưng sợ nhất là tôn giáo nổi lên tử vì đạo, nên tôn giáo bị đàn áp mãnh liệt nhất.

Toàn dân đã và đang sôi sục căm hờn cả Việt cộng lẫn Trung cộng về việc Việt cộng đàn áp tôn giáo, dâng Tây Nguyên và biển đông cho quan thày. Còn Trung cộng thì hầu như nắm toàn bộ kinh tế Việt Nam và tiếp tục khiêu khích biển đông, vạn bất nhất mà chiến tranh xảy ra thì cộng đồng người Việt hải ngoại không thể ngồi yên trước việc Trung cộng xâm lược Việt Nam. Rồi thì mạnh ai nấy quyên tiền trợ giúp chống Trung cộng, và đồng hương vì lòng yêu nước sẳn lòng mở hầu bao mà không bao giờ biết số tiền quyên góp sẽ đi về đâu. Phải có một lãnh tụ mới quyết định được đường lối đúng đắn cho cuộc đấu tranh sắp đến, mà nó có thể sẽ giống hệt như quốc gia và Việt minh cộng sản hiệp lực chống thực dân Pháp trước năm 1954, nay thì biết đâu lại dám rơi vào cái thế bắt buộc phải hiệp lực với ... Việt cộng chống bá quyền Trung cộng (bất cứ một nổ lực nào chống Trung cộng trong lúc bọn khát máu này đánh nhau với đệ tử là Việt cộng, rất dễ bị bọn Việt gian tay sai chụp mũ là bắt tay với Việt cộng). Chỉ có một lãnh tụ sáng suốt, đại diện cho toàn thể đồng hương hải ngoại, đề ra một quyết sách, trưng cầu dân ý, mới giải quyết được vấn nạn đau đầu này, mà không bị lịch sử phê phán là bắt tay với Việt cộng. Không có lãnh đạo thì rất khó thực hiện thành công các cuộc tranh đấu phức tạp như trên (vẫn còn đó kinh nghiệm máu xương việc cộng sản lúc yếu thì kêu gọi quốc gia hợp tác chống Pháp, xong rồi bọn chúng ra tay tiêu diệt các lược lượng quốc gia để độc quyền thống trị dân ta)

Chúng ta hiện nay có hàng ngàn chứ không phải hàng trăm tổ chức hoặc liên minh có cùng mục đích chống độc tài cộng sản đem lại tự do dân chủ cho đồng bào trong nước, mạnh ai nấy ra tuyên cáo, rõ ràng không có sức mạnh tổng hợp. Có nhớ đệ nhất cộng hòa đã kết hợp được quân đội các giáo phái trở thành quân đội quốc gia hay không? Nếu có lãnh tụ thì chắc chắn có thể kết hợp tất cả các hội đoàn thành một sức mạnh tổng thể, cùng một chí hướng, cùng một tinh thần, cùng một kỷ luật giống như Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa ngày nào.

Ðức Ðạt Lai Lạt Ma là một thí dụ về lãnh tụ cộng đồng Tây Tạng lưu vong, ông đi đến đâu đều được các quốc gia kính trọng. Tại sao chúng ta không có được một lãnh tụ như vậy, trong khi chúng ta đã làm được một điều kỳ diệu là ngăn cản không để lá cờ đỏ khát máu xuất hiện bất cứ nơi nào tại Hoa Kỳ, tại Canada hoặc tại Úc châu. Ðặc biệt hơn nữa là "cộng đồng người Việt quốc gia" tại Pháp hầu như đã "đồng hóa" được cái "cộng đồng người Việt thiên tả" mà Nguyễn Dy Niên, cựu bộ trưởng ngoại giao Việt cộng gọi là "Binh chủng đặc biệt" vốn có cảm tình với Việt cộng trước năm 1975 tại Paris. Sau ngày Việt Nam bị nhuộm đỏ cả nước, đồng bào vượt biên đến Pháp khá nhiều, bọn thiên tả mới sáng mắt ra, rồi lần lần chịu phép, và cờ máu tự nhiên không còn nữa, chỉ thấy rừng cờ vàng xuất hiện trong các cuộc tranh đấu và các ngày lễ lớn. Mặc dù Việt cộng là thành viên của Liên Hiệp Quốc, nhưng tại hầu hết các nước tự do, thì cờ vàng lại làm bá chủ, điều kỳ diệu này chỉ có chúng ta thực hiện được so với các cộng đồng ngoại quốc cùng cảnh ngộ mất nước như chúng ta. Trong cuộc Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế hàng năm tại New York, cờ Ðài Loan xuất hiện yếu ớt bên cạnh rừng cờ Trung cộng, trong khi không có một lá cờ máu nào của Việt cộng được phép xuất hiện ngoại trừ rừng cờ vàng của cộng đồng Việt Nam. Chính nghỉa quốc gia đã thắng lớn tại hải ngoại, nơi nào có cờ vàng thì không có cờ đỏ, nơi nào mà cờ đỏ lén lút xuất hiện thì trước sau cũng bị dẹp. Tại sao tinh thần quốc gia lên cao như vậy, mà chúng ta không có lãnh tụ biết phát huy sức mạnh này để giúp nước?

Không thể đòi hỏi một lãnh tụ phải pure, phải hoàn toàn perfect được, vì nhân vô thập toàn mà. Chúng ta chỉ cần có một lãnh tụ có uy tín, có khả năng, và một tình thần quốc gia vững chắc là được rồi. Một tổ chức có uy tín, đại diện thống nhất cho người Việt tại Hoa Kỳ là khả hữu. Nhưng ai là người dám đứng ra nhận lãnh trách nhiệm trọng đại này đây?

Ðã đến lúc các tổ chức cộng đồng, các đảng phái chính trị, các hội đoàn đoàn thể, và các nhân sĩ cần phải ngồi lại với nhau, để tìm hay bầu ra một lãnh tụ. Vị lãnh tụ này sẽ lập ra một ban tham mưu hay một ban chấp hành theo luật lệ sở tại, nếu không tiện mang danh xưng nội các. Nếu chúng có một lãnh tụ có tinh thần quốc gia, có uy tín trong cộng đồng và chính giới Hoa Kỳ, thì sẻ giải quyết được hàng núi công việc của chúng ta tại hải ngoại. Thí dụ kêu gọi toàn thể đồng hương ghi danh và đi bỏ phiếu, đại diện cộng đồng Việt Nam hải ngoại yêu cầu Liên Hiệp Quốc áp lực Hà Nội ngưng đàn áp đồng bào trong nước, kêu gọi liên tục với Liên Hiệp Quốc về vấn đề Trung cộng âm mưu chiến biển đông làm của riêng, lên tiếng kêu gọi các nơi về Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế hàng năm do cộng đồng New York đứng ra tổ chức, kêu gọi không du lịch tại Lâm Ðồng và Ðăk Nông để tránh bị ung thư bauxite, hoặc xin chính quyền tiểu bang trợ cấp sinh hoạt cho các trung tâm sinh hoạt cộng đồng giống như của bà Mai Công ở Quận Cam một năm được cấp hàng trăm ngàn Mỹ kim ... (Hiện nay các tổ chức cộng đồng người Việt quốc gia hầu như không xin fund được, mà chỉ có các hội cao niên mới có chút ít fund từ liên bang).

Có rất nhiều vấn đề cộng đồng mà chỉ có một lãnh tụ xuất sắc và một ban tham mưu tài giỏi mới làm được hoặc giải quyết được. Không thể nói rằng 34 năm qua chúng ta vẫn sống, vẫn làm nhiều việc có ích cho quê hương và đồng bào bên nhà mà, đâu cần có lãnh tụ đâu. Nên nhớ, chúng ta là cộng đồng tỵ nạn, vì tự do nên mới lưu lạc ra xứ người, chúng ta đã từng quyên góp cho kháng chiến, đã từng quyên góp cho thương phế binh, đã từng đi biểu tình "Giương Ngọn Cờ Vàng Hạ Cờ Máu" khắp nơi trên thế giới. Nhưng đấu tranh mà không có lãnh tụ thì sức mạnh kia bị chia năm xẻ bảy vì đánh tùm lum, giống như đánh vào không khí, như những vết cào sướt vô hại trên lưng kẻ thù, còn tổng hợp được sức mạnh sẽ như mủi dao toàn lực đâm thẳng vào tim địch.

Cứ nhìn cộng đồng Do Thái tại Hoa Kỳ mà biết được sức mạnh của họ, tại sao mà Hoa Kỳ phải hết lòng bảo vệ Do Thái tại Trung Ðông, vì người Mỹ gốc Do Thái ảnh hưởng nhiều lãnh vực tài chánh và ngân hàng của Hoa Kỳ, và lãnh đạo cả Hollywood nữa.

Cộng đồng chúng ta mạnh sẽ làm các dân cử địa phương áp lực được chính phủ trung ương thật sự giúp chúng ta, chứ không phải hứa miệng để lấy phiếu trong các kỳ bầu cử. Cộng đồng chúng ta có lãnh đạo uy tín thì chắc chắn cựu Tổng Thống Bush đã phải can thiệp không ít thì nhiều cho các nhà tranh đấu được thả ra khỏi ngục tù cộng sản. Nên nhớ một năm Hoa Kỳ viện trợ cho Việt Nam hơn một tỷ đô, viện trợ hoặc huấn luyện cho tất cả các sinh hoạt mang tính quốc gia tại Việt Nam về đủ môi phương diện, kinh tế, văn hoá giáo dục, y tế, hành chánh, quốc hội, và cả quốc phòng nữa. Nội việc giao thương với Hoa Kỳ, nhập siêu của Việt Nam năm 2008 đã lên đến hơn 10 tỷ đô. Hoa Kỳ hiện nay là nước đầu tư lớn nhất tại Việt Nam, và Hoa Kỳ là nơi mà Việt Nam xuất cảng nhiều nhất so với các quốc gia khác, có thể áp lực một số vấn đề nhân đạo được chứ?

Chúng tôi xin nêu một thí dụ về sức mạnh của cộng đồng nếu chúng ta có một lãnh tụ có tầm cở, để yêu cầu Tổng Thống Obama áp lực Việt Nam thả Luật sư Lê Thị Công Nhân, Luật sư Nguyễn Văn Ðài, và Linh Mục Nguyễn Văn Lý, nếu không thì toàn thể cộng đồng chúng tôi sẽ bỏ phiếu cho đảng cộng hòa vào kỳ bỏ phiếu tới. Nếu chúng ta có một lãnh tụ có khả năng, được cộng đồng thương yêu và tin tưởng, thì khi vị này lên tiếng kêu gọi về một nguyện vọng chính đáng có lợi cho chúng ta, hay cho đồng bào ở quốc nội, thì chắc chắn đồng hương sẽ ũng hộ nguyện vọng này hết mình như đã làm trong quá khứ. Chúng ta sẽ diễn tập một lần về việc "chỉ bỏ phiếu cho một đảng thì sẽ biết hiệu quả ngay". Hãy tưởng tượng nguyên cả đảng dân chủ không có một lá phiếu nào của người Việt vào năm 2010, thì liệu bà Loretta Sanchez hay ông Lou Correa có hộc tốc bay về Washington DC vấn tội ông Obama hay không? Theo tình hình hiện nay, chúng ta chưa thể làm điều này, vì không có một lãnh tụ tầm cở có thể ban hiệu lệnh thiên hạ, nhiệm vụ của chúng ta là phải tìm ra người này.

Người làm việc lớn thì thường bỏ qua những tiểu tiết, kẻ làm việc nhỏ thì lại chú ý những tiểu tiết này để chống phá, nên chúng ta chưa có được một lãnh tụ. Nhưng ra ngõ gặp anh hùng là tục ngữ nói về truyền thống bất khuất của dân tộc ta, khi bị trị tự nhiên xuất hiện vị cứu tinh của dân tộc. Canh khuya không dám dang chân ngủ - Vì sợ sơn hà xã tắc xiêu. Hai câu thơ khẩu khí này của Lý Công Uẫn lúc làm chú tiểu trong chùa, sau này trở thành vua, lãnh đạo dân chúng đánh tan quân Tống xâm lược nước ta. Anh hùng xuất thiếu niên, vị lãnh tụ của cộng đồng Việt Nam có thể là lớp người trẻ, cũng có thể là thế hệ thứ nhất, vị này sẽ làm các công việc chắc chắn lớn hơn và không dẫm chân lên các công việc mà các cộng đồng địa phương đang làm, nhưng người này có uy tín thì sẽ có khả năng hợp nhất cộng đồng và đoàn thể lại không còn đấu đá nhau nữa, hợp nhất lại các tổ chức quân đội, không để tại một địa phương mà có đến hai lễ kỷ niệm Ngày Quân Lực 19 tháng 6 như tại San Jose nữa. Vị lãnh tụ này chắc sẽ có khả năng hoà giải những bất đồng, và thống nhất sức mạnh tập thể để làm các công việc chung, giống như Ðinh Bộ Lĩnh ngày xưa thu phục 12 sứ quân vậy.

Hãy lấy vụ nộp hồ sơ hải đảo cho Liên Hiệp Quốc tháng 5 vừa rồi mà làm tiền đề cho việc tìm người lãnh đạo. Ðây là một vấn đề serious và có thể, chứ không phải là không tưởng. Hãy nhớ lại gần 50,000 đồng hương già trẻ lớn bé ngồi lại với nhau tay vẫy cờ vàng trong một đêm cao điểm đấu tranh 53 ngày chống cờ máu trong vụ Trần Trường năm 1999 tại Bolsa, Little Saigon, thủ phủ của người Việt lưu vong. Hãy nhớ hàng triệu Mỹ kim mà đồng hương nức lòng quyên góp cho thương phế binh trong những đại nhạc hội gây quỹ hàng năm. Hãy nhớ hàng chục triệu đô la mà đồng hương quyên góp cho kháng chiến, dầu cho thực chất cuộc kháng chiến này dzõm và để lại quá nhiều tai tiếng, nhưng đây là một quyết tâm đoàn kết vô bờ bến, vì dân vì nước của người Việt quốc gia mà nhiều đời sau sẽ còn nhắc nhở.

Bài này chúng tôi viết ra hoàn toàn không đề cao người nào, chỉ trích ai, không lobby ai, chỉ nêu một số thí dụ có thực đã xảy ra trong quá khứ của cộng đồng Việt Nam mà ai cũng biết rõ ràng, mong quý vị đóng góp ý kiến để tìm ra một người lãnh đạo chung, có như thế chúng mới không phải hy sinh nhiều thời gian, nhiều công sức mà chỉ đạt được những kết quả nhỏ nhoi.

Song Hoài

    Trở Về Quê Hương

    Rồi mai đây, ta về quê hương
    Lặng nhìn sông núi tỏ niềm thương
    Ðàn con viễn xứ nay về Tổ
    Dựng lại quê hương, phá ngục tù

    Nước non chinh chiến tự ngàn thu
    Chẳng thấy yên vui chỉ hận thù
    Giặc từ ngoài Bắc vào xâm lấn
    Chồng chất bao nhiêu nợ máu xương

    Rồi mai đây, ta về quê hương
    Cờ vàng ba sọc đỏ yêu thương
    Bay trong nắng ấm tình dân tộc
    Rạng tiếng hoan ca khắp phố phường

    Rồi mai đây, ta về quê hương
    Hòa cùng cây cỏ thở hơi sương
    Nén hương thắp lại mồ chiến sĩ
    Ðể nhớ ơn xưa thuở chiến trường

    Ðể cùng Thương Tiếc bao đời lính
    Vị quốc vong thân để tiếc thương
    Rồi mai đây, ta về quê hương
    Hồn lâng lâng nhẹ gót phong sương

    Cho đời thôi bớt sầu ly xứ
    Trả mộng tang bồng đỡ vấn vương


CŨNG ĐÃ CÓ NGÀY TÀN ... - Lê Phàm Nhân

Lê Phàm Nhân
- Trích đăng từ nguyệt san Con Ong Việt số 106 tháng 8,2009

Barrack Hussein lên ngôi, thấm thoát đã được nửa năm. Lời nói trong khi tranh cử, và việc làm sau khi nhậm chức, đã bắt đầu hiện ra rõ rệt trước mắt cử tri Hoa kỳ và con mắt quan sát khắp năm châu. Tóm tắt mà nói, có hai lãnh vực chính: đối ngoại và đối nội.

Barrack Obama
Về đối ngoại, mới có trong vòng 6 tháng, Barrack Hussein đã đi gần khắp năm châu. Đi để làm hai việc. Một là, đưa đệ nhất phu nhân da đen đầu tiên của Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ đi du lịch, trình làng, kể cả việc ghé lại Ghana, Phi châu, để chơi trò “Thầy Carnot về thăm làng cũ”, với chi phí khổng lồ do thuế má người dân đài thọ. Thứ hai, đi chu du chỉ nói chuyện “huề vốn”, chứ không hề có thương lượng chiến lược đối ngoại, để củng cố vai trò của đại cường Hoa Kỳ trên chính trường toàn cầu, chuyện mà nhiều nước nhược tiểu bị áp bức đang để mắt ngóng trông. Gọi rằng “đi du lịch”, là vì vậy. Tệ hơn là “nói chuyện huề vốn”, Barrack còn lên tiếng “xin lỗi” nhiều nước, mà giới truyền thông và dân chúng Mỹ lâu nay vẫn gọi là “bad guys”, như Iran, Bắc Hàn, Cuba, Venezuela ...! Nói tóm lại, Barrack đã từ khước vai trò lãnh đạo của Hoa Kỳ trên thế giới, để vừa rảnh tay học việc, vừa để quay về chỉ lo chuyện đối nội.

Về đối nội, trọng tâm công tác của Barrack là củng cố quyền hành cho đảng Dân Chủ nói chung, và chiếc ghế Tổng Thống cho mình nói riêng, mong sao ít lắm cũng là một nhiệm kỳ nữa. Phương thức không có chi là khó hiểu: Phân tách kỹ càng, nhận diện rõ mặt các khối cử tri chỉ chuyên đòi hỏi quyền lợi cho phe nhóm họ, đặt quyền lợi cá nhân và phe nhóm lên trên quyền lợi quốc gia Hoa Kỳ. Rồi Barrack dùng quyền của hành pháp, dùng tài nguyên của quốc gia, thỏa mãn tối đa đòi hỏi của những khối cử tri này, để lấy lòng, để kiếm phiếu, bất chấp sự chống đối của công chúng và dư luận truyền thông. Ví dụ như chuyện “Tea Parties” âm ỷ kéo dài, chống tăng thuế. Ví dụ như chuyện “Health Care Reform”, gây phẫn nộ sâu rộng trong các “townhall meetings”, đang lan tràn khắp nước. Không ngần ngại dẫm lên dư luận, để lấy lòng các khối cử tri đó, miễn sao cho ngày bầu cử lần tới, góp chung lại được trên 50% tổng số phiếu, để tiếp tục cầm quyền, là hoàn thành được mục tiêu chính trị tối hậu.!

Đọc chuyện vạn lý trường chinh bên Tàu, nhớ lại ngày còn bôn ba đó đây, có lần Mao Trạch Đông dừng lại bên suối, uống rượu cùng đồng chí Chu Ân Lai. Mao vỗ bụng đắc chí, hề hà san sẻ với họ Chu giấc mộng chia ba thiên hạ: Âu, Mỹ và ... Hoa! Nửa thế kỷ sau khi họ Mao nhắm mắt lìa đời, Mỹ châu đang lột xác. John F. Kennedy là Tổng Thống sau cùng thuộc đảng Dân Chủ Mỹ, được lịch sử Mỹ nhắc nhớ với câu nói: “Ask not what your country can do for you. Ask what you can do for your country”. Ronald Reagan là Tổng Thống Cộng Hòa được lưỡng đảng Mỹ ca ngợi không tiếc lời, vì đã thắng cuộc chiến tranh lạnh trong thế kỷ thứ 20, xô ngã khối sắt máu khổng lồ Liên bang Sô Viết. Và Ronald Reagan được nhắc nhở với câu nói: “We all love freedom. But freedom is not free. We must be strong to defend freedom”. Đại để, tự do không phải là... tình cho không biếu không. Phải mạnh mới gìn giữ được tự do ...

Ngược dòng lịch sử, nước Mỹ đã tượng hình với những di dân chạy trốn áp bức, từ khắp nơi đổ vào tân lục địa trong thế kỷ thứ 18. Văn minh tứ xứ góp lại, chan hòa lên tài nguyên mầu mỡ của vùng đất mới, cộng với ý chí chống bất công áp bức, đã biến tân lục địa trở thành một đại cường, trong một thời gian nhanh chóng kỷ lục, chỉ có ba thế kỷ. Và quốc gia trẻ trung này đã hãnh diện mang tên là Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ (The United States of America), vì văn hóa và kỹ thuật từ bốn phương hợp về ...

Lịch sử loài người là một chuỗi dài những lỉnh kỉnh cá lớn đớp cá bé. Khi bị áp bức, bị dồn vào chân tường, thì con người phải phản ứng, phấn đấu để tự tồn. Từ đó, đã nảy sanh ra nhân kiệt, đã tạo nên được địa linh. Sau đó, nhân kiệt truyền lại cho con cháu, xuống nhiều đời, thì lại trở thành ươn hèn hư đốn, lại sanh ra áp bức, bất mãn. Chu kỳ lẩn quẩn này đã tái diễn nhiều nghìn năm, qua lịch sử thăng trầm của nhiều triều đại vua chúa trong lịch sử Âu Á. Sang thế kỷ mới này, Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ cũng bắt đầu có dấu hiệu bị chi phối bởi cái vòng thăng trầm lẩn quẩn trên đây, bởi bản chất của con người.

Cuộc tranh cử tháng 11 năm 2008 tại Hoa Kỳ, đã cho thế giới có một dịp quan sát thật gần vào nền dân chủ ở Mỹ: kết quả đã mang lại một nguyên thủ quốc gia gốc Phi châu lần đầu tiên. Bên ngoài nhìn vào, kết quả bầu cử đó rất ngoạn mục, cho dầu có bị ít nhiều hoen ố bởi câu chuyện “Acorn”! Dù có bị tai tiếng, nhưng cũng phải nhìn nhận là, kết quả bầu cử có phần phản ảnh ... lòng dân, qua lá phiếu của cử tri, chứ không đến nỗi như ở Bắc Hàn, ở Libya, ở Cuba, ở Trung cộng, hay ở Việt Nam.

Lòng dân của cử tri Hoa Kỳ bây giờ, không còn là lòng dân trong tinh thần hy sinh cho quốc gia, như qua câu nói trên đây của John Kennedy nữa. Lòng dân Hoa Kỳ bây giờ, cũng không phản ảnh ý thức giá trị của Tự Do, như trong câu nói của Ronald Reagan nữa. Lòng dân Hoa Kỳ bây giờ, là lòng của các cậu ấm cô chiêu, hậu duệ nhiều đời của các nhân kiệt dựng quốc truyền xuống. Đặc biệt, “lòng dân” trong tâm tưởng của giới cử tri đã vào được tân lục địa, không phải vì chối bỏ áp bức, mà vì mạo hiểm mọi cách để vào được đất hứa, để cải thiện đời sống. Trong lòng dân Hoa Kỳ bây giờ, nước Mỹ đã thừa mạnh để tự tồn, việc gì phải bận tâm chuyện tự do của người khác ở đâu đâu, như kiểu ông Reagan. Trong lòng dân Hoa Kỳ bây giờ, câu nói của Ông Kennedy, đã trở thành ... quân tử tầu! Đừng đòi hỏi ta đóng góp cho đất nước. Đất nước này đã thừa mạnh, thừa giàu rồi. Đã đến phiên ta hỏi: Phần của ta đâu, chia chác cho ta hưởng tí ... Trợ cấp xã hội, quyền lợi y-tế tài chính, tự do phá thai, đồng tính, tránh nghĩa vụ quân sự v.v... Một mặt, người ta không thể nói tất cả dân chúng Hoa Kỳ bây giờ đều như vậy. Nhưng mặt khác, sang thế kỷ mới này, rõ ràng là con số đó đã lớn lên, đến một tỉ lệ quá bán. Đủ để đánh bại một ứng viên John McCain với thành tích suốt đời xương máu phục vụ quốc gia, quân đội trên chiến trường, và dày dạn kinh nghiệm đấu tranh trên chính trường. Và lần đầu tiên trong lịch sử chính trị Hoa Kỳ, đủ để nghiêng phần thắng lợi về tay một “con ma nhà họ hứa”, ngoài “nghề hứa” ra, chưa hề có mảy may kinh nghiệm lãnh đạo.

Barrack đã nắm được yếu tố nhân tâm này. Barrack đã hứa thỏa mãn đòi hỏi của cử tri trong khi tranh cử. Nhờ đó, Barrack đã thắng cử. Và Barrack đang làm tiếp mọi việc trong quyền hạn, để tiếp tục thỏa mãn họ, để bắt bù-loong vào chân chiếc ghế hành pháp trong cuộc bầu cử tới. Barrack quả là một tài năng chính trị mới, nhưng không phải là loại chánh khách có lý tưởng quốc gia như Kennedy, hay có lý tưởng tự do như Reagan. Mà Barrack là thiên tài vô địch, trong thủ đoạn chính trị thực tế trần truồng: lấy phiếu để cầm quyền. Quyền hành là tất cả. Hoàn cảnh và kỹ thuật chi tiết ở mỗi quốc gia tuy có khác, nhưng nói chung, thì các thể-chế đang cầm quyền ở Libya, ở Bắc Hàn, ở Iran, ở Trung cộng, ở Nga, ở Hà Nội, cũng rất sở trường về thủ đoạn chính trị bám cứng lấy quyền bính này.

Dưới chánh sách của Barrack, Chú Sam đang bịt mắt che tai với thế sự bên ngoài. Đây là cơ hội bằng vàng, từ thế chiến thứ nhất cho đến nay, mới có một lần, để cho Nga Tàu hoàn toàn rảnh tay “dàn dựng” mọi việc cần thiết, để xây đắp con đường tiến tới hoàn tất giấc mộng lớn của họ: giấc mộng chia nhau quyền bá chủ thiên hạ. Thay vì thiên hạ chia làm ba chân vạc Âu, Mỹ và Hoa, như họ Mao mơ ước trước đây, thì từ đầu tân thế kỷ này, cuộc cờ thế giới đang dần dần thiên về thế ... tứ cực: Âu, Mỹ, Nga, Hoa: Liên Hiệp Âu-châu bên trời Âu. Mỹ và Canada bên tân lục địa. Liên Bang Nga ở Tây Á, Bắc Á và Đông Âu. Và cuối cùng là Tàu cộng, hùng cứ Đông Nam Á.

Tòa Nhà Trắng, với chủ nhân ông Barrack Obama, với chính sách bịt tai che mắt với thế giới bên ngoài, là một cơ hội bằng vàng, một dịp hi hữu hiếm có cho Nga Tầu. Cho nên một mặt, Nga và Tàu cộng đang rất là thân thiện với Mỹ, cầu chúc cho Obama “phúc như Đông Hải, thọ tựa Nam Sơn”... Mặt khác, họ biết rằng cơ hội bằng vàng này, không dễ có lần thứ hai. Cho nên, nói theo kiểu Việt cộng, cả Nga lẫn Trung cộng đều đang “làm ngày không đủ, tranh thủ làm đêm”!

Obama vừa tuyên thệ, là Vladimir Putin siết ngay gọng kềm ở Bắc Á với các tiểu quốc như Chechnia, Georgia ... vừa trước đây vẫn trông cậy vào sự giúp đỡ của George W. Bush để hy vọng giữ được độc lập của họ. Bên đông âu, Nga cũng đã hung hăng ngay trở lại với Ba Lan, Tiệp Khắc, Hung Gia Lợi ... về vụ màn chắn hỏa tiễn, vụ ống dẫn khí đốt thiên nhiên v.v... mặc dù các nước này, nay đã là hội viên của Khối Minh Ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) trong Liên Hiệp Âu châu. Còn nhớ, liền ngay sau khi Liên Bang Sô Viết tan rã năm 1991, Tổng Thống thứ 41 của Mỹ Georges Herbert Bush đã đưa ngoại biên của Hoa Kỳ sang mãi tận Kazakhstan, Uzbekistan, Tajikistan, với lá cờ hoa bay phất phới đó đây. Bây giờ, không chắc Obama có biết những xứ này ở đâu trên bản đồ thế giới ... Xin mạn phép tạm dừng chuyện dài của Liên bang Nga ở vùng tây bắc Á và đông âu lại nơi đây, để nhìn sang vùng Đông Nam Á, nơi có giải đất hình chữ S của chúng ta.

Ở đông nam Á châu, có hai nước lớn, với dân số đông nhất nhì thế giới. Đó là Ấn độ và Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, vẫn được gọi ngắn gọn là Trung Hoa Cộng sản, hay Trung Cộng. Ấn độ hiện đang có bang giao tốt đẹp với Pháp Đức, Anh Mỹ ... Ấn độ có vũ khí hạt nhân và hàng không mẫu hạm. Ấn độ ngày nay không còn là miếng mồi hấp dẫn, mà Trung cộng dám chủ quan nhắm đến, như Hiro Hito của quân phiệt Nhật đã một lần chơi bạo trong thế chiến thứù hai giữa thế kỷ trước. Câu chuyện “Colonel Saito” ở Cầu Sông Kwai vẫn còn được nhắc nhở...

Nhiệm kỳ “che tai bịt mắt” với thế sự bên ngoài của đảng dân Chủ Mỹ hiện nay, có lâu lắm cũng chỉ là vài năm, chứ không mãi mãi. Biết vậy, Trung cộng đang thực tế, làm nhanh làm bạo tất cả những gì có thể làm được, để mở rộng biên cương trên đất trên biển, cố thực thi giấc mộng Đại Hán của Mao Xếnh Xáng và di huấn của Đặng Tiểu Bình... Từ Hoa Lục nhìn ra biển đông, tầm mắt của giới lãnh đạo Tầu cộng bị vướng víu bởi các “chốt” Nam Hàn, Nhật Bản, Đài Loan, vừa đã có khả năng tự vệ hữu hiệu, lại vừa có cái dù che của “Uncle Sam”. Chú Sam này, từ nửa thế kỷ trở lại đây, lúc nào cũng rất lật lọng vì quyền lợi nhất thời và giai đoạn, vì không có sách lược đường dài ... Chú Sam cho thuê chiếc dù che ở bờ biển đông, để giữ cho dầu-sôi lửa-bỏng càng xa biên cương Hạ Uy Di càng tốt, chứ cũng chẳng tử tế gì. Chú Sam chưa quên bài học Pearl Harbor tháng chạp năm 1941.

Người Việt chúng ta cũng không thể nào quên chuyện Henry Kissinger đã bán đứng Nam Việt Nam cho Trung cộng tháng giêng năm 1973 tại Hoà Đàm Ba-Lê, để kéo Tầu cộng vào làm đồng minh, hầu chiến thắng cuộc chiến tranh lạnh. Và ngay năm sau, 1974, Trung cộng đã đưa chiến hạm ra tấn chiếm Hoàng Sa và Trường Sa trên thềm biển đông của Việt Nam, khi mà biển đông lúc bấy giờ đang lúc nhúc tàu bè của hạm đội số 7 Hoa Kỳ! Khốn nạn thật ... Mẹ Việt Nam quằn quại niềm đau thân phận nhược tiểu. Chỉ có con người cộng sản Việt đã xem diễn biến đó là một bước tiến thắng lợi, vì đã đẩy đưa chúng đến gần quyền hành hơn. Quyền bính là tất cả, dù có dâng đất nước của ông cha cho ngoại nhân!

Dưới mắt Hồ Cẩm Đào và Ôn Gia Bảo, hướng tiến thuận lợi nhất trong thời gian Barrack bịt mắt che tai này, không còn hướng nào tốt hơn là hướng nam và đông nam. Về hướng đông nam, họ đưa tàu bè binh lính đến củng cố Hoàng Sa Trường Sa, xây phi đạo, lập khu tiếp liệu, cắm tiêu mốc ngang ngược trên biển đông sát hải phận Đà nẵng, bắt bớ ngư thuyền người Việt, giam cầm đánh đập, tịch thu thuyền bè dụng cụ. Về hướng nam, từ trên đi xuống, trước hết là linh đình làm lễ khánh thành địa điểm biên giới mới, có Bộ Trưởng Ung Văn Khiêm của Bắc Bộ Phủ tham dự, đẩy lùi hình ảnh Ải Nam Quan và Thác Bản Giốc vào ký ức đau thương...

Tiếp tục đi xa hơn về hướng nam, Trung cộng đã xử dụng xa lộ Trường Sơn, đưa đông đảo “công nhân thợ thuyền”(!), máy móc trang cụ xuống mãi cao nguyên Trung Phần, có bộ-đội nhân-dân của cộng sản Bắc Việt an ninh lộ trình, để khai thác quặng nhôm “beauxite” tại công trường Đak-Nông.

Ngang ngược bấy nhiêu chưa đủ, Trung cộng còn cho tàu hải quân xuống cấm tiêu mốc mang bốn chữ chệt “Thổ Địa Giới Tiêu” mãi tận hải phận đảo Côn Sơn, ngoài khơi hai tỉnh Sóc Trăng và Bạc Liêu của Nam Việt ... Chuyện ngang ngược kiểu này, chỉ xảy ra lâu lắm rồi, khi các chiến thuyền Vikings dở trò bạo ngược man rợ ở Bắc Âu. Sang đầu thế kỷ thứ 21, chuyện bạo ngược man rợ lại tái diễn ở hải phận Côn Đảo ngoài khơi Bạc Liêu, khi mà chiếc bóng cao khều đen ngòm của Barrack Hussein Obama vừa che khuất ánh lửa bập bùng cầm trên tay của Nữ Thần Tự Do trên hải cảng Nữu Ước.

Người Việt hải ngoại và sinh viên học sinh trong quốc nội mạnh mẽ lên tiếng phản đối. Nguyễn minh Triết và Nguyễn tấn Dũng đến nay vẫn câm như hến. Chẳng những vậy, còn thừa lệnh quan thầy phương bắc, phụ giúp một tay để “hợp thức hóa” vụ lấn đất chiếm biển này, qua trò Hà Nội đệ trình Liên Hiệp Quốc hai hồ sơ “Xin mở rộng thềm lục địa cho Việt Nam” vào hai ngày 6 và 7 tháng 5 năm 2009, mà thực chất là, tự mình thưa-ông con-ở bụi-này, tự mình trình làng những ranh giới mới mà Lê công Phụng đã thừa lệnh nhượng bộ, khi tên này làm trưởng Phái Đoàn thương thuyết với Trung cộng hai năm trước đây. Sau khi hoàn tất đại công tác bán nước, Phụng đã được tưởng thưởng chức vụ “Đại sứ Toàn Quyền” của Xã Hội Chủ nghĩa Việt Nam tại Mỹ, ngay khi Barrack Obama vừa mới được Đại Hội đảng Dân Chủ Hoa Kỳ chọn làm ứng cử viên chạy đua vào Tòa Nhà Trắng mùa thu năm 2008. Ánh sáng hy vọng ở cuối đường hầm, của những nhóm lửa đấu tranh cho dân chủ, tự do, nhân quyền ở các nước nhỏ Chechnia, Georgia, Tây Tạng, Nepal, Sikkim, Bhoutan, Miến Điện và Việt Nam, ngày càng hắt hiu leo lét...

Từ ngày Obama nhậm chức cho đến nay, truyền thông chỉ ghi nhận được hai “hoạt động ngoại giao” của hành pháp Mỹ. Chuyện thứ nhất, là lời “tuyên bố để đời” của thủ lãnh đại cường Barrack Obama tại Ankara Thổ Nhĩ Kỳ. Ba tháng sau ngày nhậm chức, Obama và đoàn tùy tùng hùng hậu, bay sang Roma họp thượng đỉnh. Trên đường trở về, có ghé qua thủ đô Ankara để thăm viếng quốc gia Hồi giáo Turkey. Đúng ngay vào ngày dừng chân đó, Bắc Hàn đã bất thần phóng thử nghiệm một hỏa tiễn tầm xa ra biển đông, qua đầu Nhật Bản. Nam Hàn và Nhật phản đối quyết liệt. Obama đang họp báo ở Ankara, bỗng nổi hứng phát ngôn với lời lẽ và giọng điệu khàn khàn chát chúa quen thuộc như khi tranh cử ở Chicago Illinois trong năm trước: “Đó là một vi phạm trầm trọng thỏa ước an ninh của Liên Hiệp Quốc. Vi phạm cần phải được trừng trị. Và lời nói phải có giá trị của nó” (Violation must be punished. And words must mean something!). Các quốc gia ở Trung đông lúc này đang khó chịu vì nỗ lực của Iran cố thực hiện vũ khí nguyên tử, nên lời tuyên bố xanh rờn của Obama được tán thưởng nhiệt liệt.

Ở Bình Nhưỡng, lãnh tụ Kim Jong Il nổi khùng, đuổi hết kiểm soát viên Liên Hiệp Quốc ra về, hăm dọa tàu bè hải quân Mỹ đừng tiến gần hải phận Bắc Hàn, và ngang nhiên đe dọa sẽ trả đũa đích đáng nếu Hoa Kỳ có “hành động khiêu khích”. Cả tỉ con mắt khắp nơi nhìn vào Hoa Thịnh Đốn, mong đợi một phản ứng ngoạn mục, tương xứng với lời tuyên bố xanh dờn của Obama ở Ankara. Hillary Clinton được Obama gửi đến trụ sở LHQ ở New York, để cùng Susan Rice (Đại sứ của Obama tại LHQ) cố vận động Hội đồng Bảo An LHQ ra một nghị quyết để cảnh cáo Bắc Hàn. Nhưng hoàn toàn công cốc. Bắc Hàn phây phây. Kim Jong Il thừa thắng xông lên, noi gương anh dũng của Tổng Thống râu xồm Ahmadinejad của Iran, hăm dọa sẽ xóa sổ Mỹ trên bản đồ, nếu Hoa Kỳ kiếm chuyện! Washington vẫn êm ru. Thế giới thấy rõ, “Obama’s words mean nothing”. Từ đó, Obama cụt hứng chuyện đối ngoại, quay lại với các mánh mung kiếm phiếu, hợp với sở trường của chàng hơn. Được báo chí phỏng vấn, Tổng trưởng Ngoại giao Hillary Clinton vớt vát chữa thẹn: “Họ (Bắc hàn) cũng giống như đứa trẻ con bướng bỉnh, lúc nào cũng muốn người ta chú ý đến mình”. Nhân viên ngoại giao cấp thấp của Bình Nhưỡng trả đũa: “Bà già lẩm cẩm này, sao không về đi shopping đi, còn nói năng láp giáp làm gì ...”

Trong bối cảnh thiếu vệ sinh của màn trao đổi chữ nghĩa ngoại giao trật chìa đó, bỗng cựu Tổng Thống Bill Clinton, chồng của Hillary, bay sang Bình Nhưỡng. Bill bắt tay bắt chân, chụp hình với lãnh tụ Bắc Hàn Kim Jong Il, vừa mới lóp ngóp ngóc dậy từ giường bệnh. Và Kim cho Bill dắt hai nữ nhân viên của Al Gore về Mỹ. Hai nữ nhân viên này vừa bị tòa án Bắc Hàn kết tội 12 năm khổ sai vì tội “hoạt động gián điệp”, mới hai tháng trước đó. Barrack không bình luận một lời, vì còn chưa hết ngượng với lời tuyên bố tuyên cha ở Ankara. Riêng Hillary, thì câng câng tự đắc, coi đó như là thắng lợi lớn nhất trong sự nghiệp ngoại giao của mình! Ở bề trái, người ta không rõ phú-ông Bill Clinton có đấm mõm nắm xôi nào vào mồm “thằng bờm” Kim Jong Il hay không. Người ta chỉ biết rằng hai nhân vật này đồng-bệnh tương-lân, đồng-khí tương-cầu. Kim rất hâm mộ Bill, vì thành tích chơi “thổi kèn” của Bill trong thư viện của White House khả kính, vào một buổi chiều năm xưa. Ngược lại, Bill lại rất nể nang, trầm trồ thú tiêu khiển kiểu đế vương của Kim: quanh năm chỉ Hennessy X.O., từng “trung đội” gái luân phiên, luôn luôn thay đổi hương sắc, tam cá nguyệt này thì tóc bạch kim bắc âu, lục cá nguyệt kia, thì màu rám nắng mặn mà chắc nịch của quần đảo Carribean ...

Câu chuyện về Barrack, và Hillary vừa kể trên đây, là ví dụ một cái nhìn, về những sinh hoạt mới đây, có thật, của hành pháp và ngoại giao của Mỹ, trong 6 tháng đầu của nhiệm kỳ Obama. Barrack Obama có những dự án chi tiêu khổng lồ, không phải bạc tỉ hay chục tỉ, mà là trăm tỷ, ngàn tỉ (trillions of dollars), hứa hẹn là để ... kích động kinh tế. Ngân sách Chú Sam đang thâm hụt. Chú Sam đang nợ như chúa chổm. Nợ riêng Trung cộng trên dưới 700 tỉ đô la. Cho nên Chú sam há miệng mắc quai, khi Trung cộng tung hoành tác quái ở biển đông. Nhưng không phải Trung cộng muốn làm mưa làm gió thế nào cũng được. Trong tháng 7 năm 2009, di dân người Hán đã đụng độ xung đột với thổ dân địa phương theo đạo Hồi, ở thủ phủ Urumqi, vùng sa mạc Tân Cương ở phía tây. Bắc Kinh cho điều động bộ đội đến đàn áp. Thổ dân người Hồi phản ứng mãnh liệt. Thương tích và tử vong của riêng người Hồi tại đây đã lên đến trên một nghìn sáu trăm người. Tổng thống Trung cộng Hồ cẩm Đào đã phải bỏ ngang hội nghị thượng đỉnh ở Âu châu, trở về Bắc Kinh theo sát diễn tiến.

Theo báo “The Christian Science Monitor”, thì phản ứng mạnh mẽ nhất không đến từ người Hồi ở vùng Urumqi, mà đến từ thủ đô Ankara và nội các chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ. Tổng trưởng Bộ Kỹ Nghệ và Thương Mại Turkey trong tuần qua, đã kêu gọi tẩy chay hàng hóa Trung cộng. Đương kiêm Thủ Tướng Turkey, ông Erdogan đã tuyên bố trên hệ thống truyền hình quốc gia rằng “Nói một cách giản dị nhất, việc đàn áp dã man những người anh em Uighurs của chúng ta ở Urumqi, là tương đương với sự diệt chủng, không còn cách diễn dịch nào khác hơn được nữa”. Tổng Thống Thổ Nhĩ Kỳ, ông Abdullah Gul, vừa chính thức thăm viếng thủ phủ Urumqi của Tân Cương chỉ một thời gian ngắn trước khi cuộc xung đột xảy ra vào ngày 5 tháng 7 vừa rồi.

Sau mỗi lần có thiên tai như lũ lụt, động đất, phong ba bão táp, Trung cộng thường làm một công đôi ba việc: cưỡng bách di dân đến các vùng xa xôi như Tây Tạng, Tân cương, hay vùng cao nguyên dọc biên giới Ấn độ, để vừa giải quyết thiên tai, vừa nhân tiện trấn chiếm lãnh thổ. Trước đây, đã có những cuộc nổi dậy đẫm máu của người Tây Tạng chống di dân gốc Hán hống hách trong vùng thung lũng quanh thủ đô Lhassa. Bắc Kinh đã đàn áp thẳng tay, gây nên làn sóng phẫn nộ khắp hoàn vũ. Và bây giờ, trầm trọng hơn nhiều, là cuộc đổ máu đang tiếp diễn vì xung đột giữa người Hán và người Hồi ở Urumqi. Lá quốc kỳ mầu máu của Trung cộng, có 5 ngôi sao vàng, tượng trưng cho 5 sắc dân Hán Mãn Mông Tạng và Hồi. Ngôi sao sau cùng đó, bắt đầu rạn nứt ở Tân Cương ...

Không phải đi đâu, Hồ Cẩm Đào và Ôn Gia Bảo cũng chỉ gặp có Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Tấn Dũng, hay Barrack và Hillary! Đi đêm thường, thế nào cũng gặp ma. Và bóng ma lần này, là bóng ma ... Hồi giáo! Bóng ma đã gây kinh hoàng ở Hoa Kỳ, ở Pháp, ở Anh, ở Tây ban Nha, ở Nam Dương, Phi Luật Tân, ở Iraq, ở Pakistan, ở Afghanistan ... To lớn như Phát Xít Đức, hùng mạnh như Quân Phiệt Nhật, khổng lồ tàn bạo như Liên Bang Sô Viết, cũng đã có ngày tàn. Chuyện Tây Tạng, chuyện Việt Nam, đang thật là đen tối, nhưng không phải đã là hoàn toàn vô vọng ...

Lê Phàm Nhân