Friday, August 21, 2009

Linh mục Nguyễn Văn Lý thử thách lớn với một chế độ - Nguyễn Duy Thành


Nguyễn Duy Thành

Trong bài diễn văn nhậm chức của Tổng Thống Bush có đoạn: "...Tất cả những ai sống trong chế độ độc tài tàn bạo và những ai sống trong vô vọng , có thể biết là Hoa Kỳ sẽ không làm ngơ trước các sự áp bức, hoặc bào chữa cho kẻ áp bức. Khi quý vị đứng lên tranh đấu cho sự tự do của quý vị . Chúng tôi sẽ đứng vào hàng ngũ của quý vị ...".

Những ai đang bị áp bức trên thế giới, trong đó có hơn 80 triệu người dân Việt Nam đều cảm động, và hy vọng vào đoạn văn hùng hồn của vị Tổng Thống Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ.

Nhưng cũng hơn ai hết. Người Việt Nam thất vọng nhiều nhất khi thấy chính vị Tổng Thống này đã đi ngược lại lời cam kết của mình. Bởi, trước khi đến Việt nam để tham dự Hội Nghị Thượng Đỉnh Diễn Đàn Hợp Tác Kinh Tế Á Châu Thái Bình Dương (APEC) ngày 17 -11- 2006, ông Bush đã ra lệnh lấy tên Việt Nam ra khỏi danh sách CPC.

Nhận xét về sự kiện bất ngờ này. Xin mượn lời than van của Hòa Thượng Thích Quảng Độ để kết luận:

- "Bây giờ ông ấy đến Việt Nam không đứng chung với chúng tôi. Ông ấy đứng chung với những người đàn áp chúng tôi ..." .

Cũng từ thời gian đó, Việt Nam liên tiếp nhận được hàng loạt ân huệ do Hoa Kỳ ban phát, mà món quà lớn nhất là trở thành hội viên không chính thức của Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc, và mối bang giao quan hệ Việt - Mỹ được xem như là sáng sủa nhất kể từ ngày hai quốc gia không còn là cựu thù nữa. Giới quan sát chính trị cũng phải chóng mặt để phân tích, vì xen kẽ giữa mối quan hệ này là sự tiếp cận của Trung Cộng, đáp trả những cuộc ngoại giao cấp cao của Hoa Kỳ đến Hà Nội thăm viếng, thì Trung Cộng cũng gởi những yếu nhân có cấp tương đương đến Việt Nam viếng thăm. Hay Hải Quân Hoa Kỳ cặp bến Sài Gòn, thì Chiến Hạm Trịnh Hòa cũng cặp bến Đà Nẵng, những cuộc ngoại giao đan chéo vào nhau, khiến Việt Nam trở nên một vị trí chiến lược quan trọng, trong tầm ngắm của các nhà hoạch định chính sách thuộc hai siêu cường quốc. Trong chừng mức nào đó để nhận xét, người ta đều nhận ra chính sách của Hoa Kỳ đối với Việt Nam cũng không có gì mới mẽ, nghĩa là vẫn một bài bản Cây Gậy Và Củ Cà Rốt để muốn Việt Nam cải thiện về nhân quyền và dân chủ. Nhưng phía Việt Nam đã không tỏ thiện chí cải cách, mà còn bắt bớ giam cầm nhiều hơn đối với các nhà đấu tranh dân chủ. Trong đó có Linh Mục Nguyễn Văn Lý bị chính giới chức an ninh Việt Nam dùng tay bịt miệng không cho nói trước phiên tòa xét xử công khai, hình ảnh này đã tạo nên một sự ghê sợ của thế giới đối với chính quyền Cộng Sản Việt Nam. Cùng lúc, chính sách của Trung Cộng đối với lãnh đạo Việt Nam chẳng có gì lạ, tuy bức màn ngoại giao chính trị chưa được vén lên nên xem chừng như bí mật, nhưng sự thiếu trong sáng, sự cúi phục ươn hèn của đảng Cộng Sản Việt Nam đã cho người ta thấy. Họ đã bị rơi vào cạm bẫy của tiền bạc hay mỹ nhân kế, mà những kế lược hạ đẳng này, tổ tiên của người Phương Bắc vẫn thường áp dụng qua đường lối quân sự và chính trị trong thời cổ sử.

Rút cuộc, kế lược hạ đẳng áp đạt cho kẻ hạ cấp của Trung Cộng, xem bộ đã thắng thế hơn sách lược sòng phẳng mà Hoa Kỳ đã áp dụng với Việt Nam, bằng chứng là từ tháng 8 năm 2008 đến nay, mối quan hệ ngoại giao Việt - Mỹ chỉ dừng lại ở thang bậc Đại Sứ. Trong khi quan hệ Việt - Trung ngày một thắt chặt, nếu không muốn nói là bóp chặt cổ hơn để cho những nguyên thủ quốc gia Việt Nam đương thời, tự mình biến thành những ông quan huyện ngồi chờ chiếu chỉ từ vua truyền xuống. Tệ trạng chính trị này đã biến nhóm lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam mất hết chủ quyền, không dám lên tiếng khi ngư dân bị bắn chết trên ngư trường của tổ quốc mình, hay công nhân Trung Cộng được phép tự do hành nghề, trong khi người lao động Việt Nam thất nghiệp gia tăng. Giới trí thức nhận ra hiểm họa này đã lên tiếng đấu tranh, thì Trung Cộng ra lệnh lãnh đạo Việt Nam giam cầm, mà đợt bắt bớ vô cớ gần đây của công an cộng sản đã khiến giới chính trị của Hoa Kỳ phải quan tâm về mặt nhân quyền.

Mặc dầu, từ năm 2006 đến nay, tuy Việt Nam không bị Thượng viện Hoa Kỳ đưa trở lại danh sách các nước cần quan tâm đặc biệt (CPC). Nhưng sự kiện 37 vị Thượng nghị sĩ Hoa Kỳ đồng ký tên lần này, để yêu cầu Cộng Sản Việt Nam trả tự do cho Linh Mục Nguyễn Văn Lý là dấu hiệu khác thường, mà có thể Hoa Kỳ đang muốn áp dụng ngay vào thời điểm lãnh đạo Việt Nam nghiêng hẳn về phía Trung Cộng. Sự kiện này suy xét lướt qua thì thấy bình thường như những lời kêu gọi trước đây, nhưng suy luận trong góc độ quan hệ Việt - Mỹ hiện tại, thì sự vụ này sẽ tạo cho giới lãnh đạo Việt Nam một sự lúng túng, vì việc đòi hỏi đưa Việt Nam vào CPC đang chờ Thượng Viện Hoa Kỳ thông qua. Nếu Việt Nam không chịu đáp ứng đòi hỏi này thì kết quả sẽ ra sao ? Quan hệ Mỹ - Việt sẽ như thế nào trong tương lai ? Vì thế, lá thư đề ngày 1 tháng 7 năm 2009 gởi đến người đứng đầu nhà nước Việt Nam là Nguyễn Minh Triết, đã được 37 vị Thượng Nghị Sĩ Hoa Kỳ chiết tính và lượng định đúng đắn, những điểm sai sót mang tính vi hiến và bất công mà nhóm Thượng Nghị Viện nêu ra trong lá thư, đã hoàn toàn diễn tả đúng thực tế phiên tòa xét xử Linh Mục Nguyễn Văn Lý. Cho nên, nếu Cộng Sản Việt Nam không đáp ứng đòi hỏi này, thì khả thi chỉ số Thượng Viện Hoa Kỳ thông qua để đưa Việt Nam vào CPC là khá khả tín. Mặt khác, 37 vị Thượng Nghị Sĩ nắm khá rõ chi tiết thủ tục pháp lý về ân xá, đặc xá của Bộ Nội Vụ Việt Nam đối với tù nhân. Bởi, lá thư gởi ngày mồng 1 tháng 7 năm 2009, tức chỉ còn đúng 2 tháng, tức nhằm ngày 2 tháng 9 là Lễ Quốc Khánh của nước CHXHCNVN. Đây là ngày Bộ Nội Vụ Việt Nam luôn luôn có quy lệ giảm án hay tha bổng cho tù nhân, xét theo quy định thì Linh Mục Nguyễn Văn Lý đã thụ án được một phần ba mức án tính từ ngày bị bắt, rất hợp lệ để tha bổng với một lý do gì đó ! Nếu nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam biết khôn ngoan và tính toán, thì chớ nên tạo sự rắc rối và bất hòa trong mối quan hệ Mỹ- Việt, vì quan hệ song phương này dựa trên tinh thần sòng phẳng, có lợi hỗ tương, không bị mất lãnh hải, lãnh thổ như mối quan bất chính với Trung Cộng hiện nay. Cho nên, sự kiện đòi trả tự do cho Linh Mục Nguyễn Văn Lý trong thời điểm này, là một thử thách với giới lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam.

Ngõ hầu giúp đỡ cho các nhà đấu tranh dân chủ chân chính. Rất mong, quý cá nhân, quý hội đoàn nhanh chóng hành động thúc đẩy, hay ngỏ lời cám ơn với Thượng Viện Hoa Kỳ. Để Linh Mục Nguyễn Văn Lý sớm được trả tự do.

Trân trọng cầu nguyện và kính chúc Linh Mục Nguyễn Văn Lý khỏe mạnh, vững chí và may mắn.

Nguyễn Duy Thành


Xướng ca vô loài - Nguyễn Dư

Nguyễn Dư

Sách vở thường nói rằng xã hội Việt Nam ngày xưa có "Sĩ, nông, công, thương". Như vậy là còn thiếu. Người ta đã cố ý không kể một hạng người là bọn xướng ca vô loài vì không biết sắp xếp bọn này vào đâu cho ổn.

Xướng ca bị coi là vô loài, bị khinh rẻ không thua gì thằng mõ.
Bị khinh từ năm xửa năm xưa, từ thời vua Lê Nhân Tôn (1447) xa tít.

"Dân Thanh Hóa thấy vua đến, trai gái đem nhau hát rí ren ở hành tại. Tục hát rí ren một bên con trai, một bên con gái, dắt tay nhau hát, hoặc tréo chân tréo cổ nhau, gọi là cắm hoa kết hoa, thói rất là xấu. Đài quan Đồng Hanh Phát bẩm với thái uý Khả rằng: "Lối hát ấy là thói dâm tục xấu, không nên cho người hát nhảm ở trước xa giá". Khả liền sai cấm hẳn." (Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử kí toàn thư, tập 3, Khoa Học Xã Hội,1968, tr. 139).

Trai gái bá vai bá cổ nhau ca hát là thói dâm tục rất xấu, cấm không được nhảm nhí trước kiệu vua. Muốn tốt đẹp, trang nghiêm thì ... vào cung vua mà múa với hát!

Năm 1462, vua Lê Thánh Tôn quy định rằng "Nhà phường chèo con hát và những kẻ phản nghịch, ngụy quan, có tiếng xấu, bản thân và con cháu đều không được đi thi, nếu mang sách hay mượn người làm hộ, thì trị tội theo luật." (Đại Việt sử kí toàn thư, sđd, tr.183).

Phường chèo, con hát được bỏ cùng một rọ với đám phản nghịch, ngụy quan, có tiếng xấu. Cứ đà này thì có ngày mất mạng như chơi chứ chẳng đùa. Luật lệ nghiêm khắc và vô lý của Lê Thánh Tôn đã đẩy một số người trở về làng cũ học cày cho xong, học chữ thánh hiền chỉ tổ toi cơm tốn gạo.

Phường chèo, con hát bị vùi dập có lẽ chỉ vì:

"Xã hội ta xưa quan niệm lũ xướng ca vô loài là một tầng lớp vô luân. Họ bị coi là vô luân không phải vì họ sa đọa, chính sự sống của họ cũng không phải là sa đọa, mà chỉ vì những vai trò của họ đóng khi xướng hát: họ bị coi là vô luân ở đây vì người con có thể đóng một vai vua và người cha đóng vai bày tôi quỳ lạy, anh em ruột có thể đóng đôi vợ chồng, và vợ chồng lại có thể đóng vai mẹ con hoặc cha con... Tất cả cái vô luân là ở đây, ở đấy luân thường đã không còn nữa, mặc dầu chỉ trong những lúc trình diễn." (Toan Ánh, Phong tục Việt Nam, Khai Trí, 1969, tr. 429).

Mặc dù bị vua quan và nhà nho khinh ghét, mặc dù không được đi thi để ra làm quan lớn, bọn phường chèo, con hát vẫn tiếp tục hành nghề và vẫn được nhiều người dân thường ưa thích.

"Khoảng năm Cảnh Hưng, phường hát chèo bội mới pha thêm lối tuồng, cũng đóng vai trò vẽ mặt ra múa hát đùa cợt, không khác gì ở hý trường. Các nhà tang gia hay đua nhau mượn phường chèo đóng tuồng để khoe khoang. Các quan chính phủ ghét hung lễ lại dùng lẫn lộn cả cát lễ, bèn nghiêm cấm, đã hơn mười năm. Đến năm Canh Tuất (1790) lại thấy dân gian bày trò hát bội ấy. Các con nhà lương gia tử đệ có người bỏ cả chức nghiệp đi theo học hát, khăn áo dáng bộ như đàn bà, thường khi ở nhà cũng nghêu ngao tập hát chèo, trước mặt khách cũng không thẹn thò gì cả. Lại còn trò đánh bạc chọi gà sinh ra nhan nhản. Tập tục đến thế thật đáng buồn!" (Phạm Đình Hổ, Vũ trung tuỳ bút, Văn Học, 1972, tr. 57).

May thay ... cơ trời vần xoay, rồi cũng đến một ngày mai sáng sủa hơn.

"Lệ cũ, cứ con nhà hát xướng không được vào nhà học hiệu, thi đỗ ra làm quan. Tiếc rằng không mở rộng đường cho kẻ tuấn dị tiến thân, để thu lấy nhân tài xuất chúng. Từ khi Lộc Khê Hầu (Đào Duy Từ) là con nhà hát xướng, vì không được ra thi, mới lẻn vào giúp nhà Nguyễn ở trong Nam, bấy giờ những kẻ đương sự mới hối rằng cái cách tìm kiếm nhân tài như thế là không rộng. Nhưng cũng chưa công nhiên bãi bỏ lệ cũ. Từ khi bà Trương quốc mẫu, người Như Kinh, là kẻ hát xướng được tuyển vào cung hầu Tần Quang Vương, sinh ra Trịnh Nhân Vương (Trịnh Cương), Biện trưởng cung, người Á Lữ, sau lại đắc sủng với Nhân Vương, nên các họ về giáo phường mới được kể bằng hàng với các họ nhà lương gia. Sau này các họ nhà đại khoa hiển hoạn cũng thường có người do giòng họ hát xướng mà phát đạt lên, nên những kẻ sĩ phu cũng cùng họ giao du tự nhiên, và rồi những nhà hát xướng cũng quên hẳn thế hệ nhà mình tự đâu mà ra. Xem đó thì biết thế vận phong tục mỗi ngày một khác." (Vũ trung tùy bút, sđd, tr. 79-80).

Phải công nhận là ... mê gái cũng có cái hay! Bên trên mê gái thì bên dưới cũng được nhờ! Vua chúa một khi quen hơi đào hát thì bao nhiêu cái nhảm nhí ngày xưa bỗng chốc được dẹp qua một bên. Luật lệ được tẩy xóa. Xin cảm ơn và tuyên dương cô đào hát họ Trương! Giọng ca tiếng hát và có lẽ cả thân hình của cô đã cảm hóa được lòng người, phá bỏ được bất công. Nhờ cô mà con cháu mở mày mở mặt.

Nhưng thói đời, bia miệng thì cứ trơ trơ. Mặc dù vua chúa đã thôi lấy thịt đè người, đè con hát từ lâu rồi, nhưng thành kiến xướng ca vô loài vẫn cứ bám rễ trong đầu nhiều người đến tận đầu thế kỷ 20. Mẹ và em gái Tản Đà bất đắc dĩ phải "đắp đổi tháng ngày bằng điệu phách câu ca", bị "người ta hùa cả nhau vào bài xích việc xướng ca là việc giăng hoa đĩ bợm." (Nguyễn Mạnh Bổng, 1944).

Bỗng dưng xướng ca lại được tặng thêm hỗn danh đĩ bợm. Tại sao vậy? Xướng ca có liên hệ gì với đĩ à?

Vậy đĩ là gì, là ai?

Trong văn học, người Tàu gọi các cô làm nghề xướng ca là kỹ nữ. Kỹ nữ nguyên nghĩa chỉ là người con gái làm nghề ca xướng, múa hát. Chữ kỹ (bộ nữ) của tiếng Hán được ta đọc Nôm thành đĩ. Kỹ nữ của Tàu trở thành Con đĩ của ta. Kỹ nữ và con đĩ là hai chị em ruột. Con đĩ ngày xưa chỉ có nghĩa là người con gái làm nghề hát xướng chứ không phải là con đĩ làm nghề mại dâm như ngày nay!

Thật hay đùa vậy?

Xưa kia, trước khi làng mở hội cho mọi người vui chơi thì các vị chức sắc phải tổ chức tế lễ ngoài đình. Có rước phụng nghênh hồi đình (rước long kiệu từ miếu về đình) rất long trọng. Nghi trượng gồm nào cờ quạt, voi ngựa, nào bát bửu, cờ biển. Rồi đến phường đồng văn đánh trống, gõ thanh la, theo sau là mấy người con gái, đôi khi là con trai giả gái, vừa vỗ trống vừa múa hát gọi là con đĩ đánh bồng. Theo sau con đĩ đánh bồng là cờ vía, lọng vàng, lệnh kiếm, phường bát âm, long đình, kiệu thánh ... và sau cùng là bô lão, chức sắc của làng. (theo Phan Kế Bính, Việt Nam phong tục, Tổng Hợp Đồng Tháp, 1990, tr. 96-100).

Xem vậy thì vai trò của con đĩ ngày xưa cũng không có gì là tệ lắm, được múa hát diễn hành trước cả long đình, kiệu thánh, các bô lão, chức sắc của làng.

Nếu chỉ múa hát thôi thì chẳng có gì là xấu. Có xấu chăng là kể từ ngày các con đĩ bị giới trưởng giả, mấy ông trí thức mời về nhà hát. Chính những vị tai mắt, khoa bảng, đã mở đường hoặc tiếp tay làm biến chất, làm hư các con đĩ.

Buổi hát ban đầu rất lịch thiệp. Các quan ăn uống vui chơi, các cô hầu rượu, múa hát những bài do các quan yêu cầu.
    Hồng Hồng Tuyết Tuyết
    Mới ngày nào còn chửa biết chi chi
    Mười lăm năm thấm thoắt có xa gì
    Ngảnh mặt lại đã đến kỳ tơ liễu (...)
    (Dương Khuê, Hồng Tuyết)
Những chầu hát cô đầu dần dần bị những người thiếu tư cách biến thành nơi cợt nhả, bá vai gối đùi.
    Nhân sinh quý thích chí
    Còn gì hơn hú hí với cô đầu
    (...)
    Chơi cho thủng trống tầm bông.
    (Trần Tế Xương, Chơi ả đào)
Rồi chẳng bao lâu, buổi hát chỉ còn là cái cớ cho những trận trác táng, tằng tịu, dâm loàn.
    Cũng ra đĩ rạc
    Bấy lâu nay đã toác toạc toàng toang
    Chán chê rồi về đến đầu làng
    Toan tấp tểnh những đường tu lý (...)
    (Trần Tế Xương, Đĩ rạc đi tu)
Con đĩ vốn chuyên nghề hát xướng dần dần trở thành gái làng chơi.
    Thiên hạ bao giờ cho hết đĩ
    Trời sinh ra cũng để mà chơi
    Dễ mấy khi làm đĩ gặp thời
    Chơi thủng trống long dùi âu mới thích
    (...)
    Mai sau này giỗ có văn nôm
    Cha đời con đĩ cầu Nôm.
    (Nguyễn Khuyến, Đĩ cầu Nôm)
Các nhà hát tư mọc lên, lập thành xóm cô đầu. Vàng thau lẫn lộn, khó mà phân biệt được con hát thật với con gái làng chơi. Từ đây trở đi người ta đồng hóa đĩ với gái làng chơi, gọi gái làng chơi là đĩ.

Sự biến chất này cũng tương tự như ý nghĩa của từ Thanh lâu (lầu xanh) và Hồng lâu (lầu hồng). Lầu xanh lúc đầu dùng để chỉ nhà sang trọng. Đến khoảng đời Đường thì được dùng để chỉ nơi ở của kỹ nữ. "Như vậy thì ngày nay Thanh Lâu không còn có nghĩa là nhà cao cửa đẹp mà chỉ có nghĩa là nhà kỹ nữ." (Diên Hương, Thành ngữ điển tích, Phương Lai, 1954), và cuối cùng trở thành:
    Lầu xanh có mụ Tú bà,
    Làng chơi đã trở về già hết duyên
    (Nguyễn Du, Kiều)
Lầu xanh rõ ràng đã trở thành nơi chứa gái làng chơi, gái giang hồ.
    Ngảnh mặt lại lầu xanh thương những kẻ
    Trầm luân chưa khỏi kiếp hồng nhan
    (Tôn Thọ Tường, Đĩ già đi tu)
Từ điển Génibrel (1898) và Gustave Hue (1937) cũng chép lầu xanh là maison de prostitution (nhà đĩ, nhà thổ).

Lầu hồng xưa kia là chỗ ở của con gái nhà giàu:
    Đêm ngày lòng những giận lòng
    Sinh đà về đến lầu hồng xuống yên
    (Kiều)
Sau này lầu hồng cũng bị trở thành maison des chanteuses (nhà chứa con hát), và sau cùng là nhà chứa đĩ.
    Giang hồ từ thủa mười lăm,
    Đến năm mười chín còn nằm trông xuân,
    Xuân kia còn độ mấy lần,
    Tấm thân phơi chốn bụi trần mà thương (...)
    (Hoàng Ngọc Phách, Giọt lệ hồng lâu)
Nhà chứa đĩ thời Tây được gọi là nhà đỏ, nhà thổ. Chữ thổ không phải là chữ Hán, cũng không phải là chữ Việt. Thổ là âm của tiếng Pháp tolérance (cũng như thổ mộ là âm của tombereau). Nhà thổ tức là maison de tolérance (nhà chứa đĩ) của Pháp. Xã hội ta thích ứng thật nhanh chóng với mọi hoàn cảnh!
    Vị Xuyên có Tú Xương
    Dở dở lại ương ương
    Cao lâu thường ăn quỵt
    Thổ đĩ lại chơi lường.
Tú Xương đã nắm bắt được chuyển biến của xã hội đương thời, đưa một dịch vụ ăn khách là thổ đĩ vào văn học.

Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê) định nghĩa "nhà chứa" là nơi nuôi gái mãi dâm, tổ chức cho gái mãi dâm hành nghề, trong xã hội cũ. Đúng ra thì phải gọi là gái mại dâm (gái bán dâm), các ông đi chơi gái thì gọi là khách mãi dâm (khách mua dâm). Nhầm lẫn người mua với người bán âu cũng là thói quen đã có từ lâu. Nhưng nếu phân biệt được chủ với khách, người cho với kẻ nhận thì vẫn hơn. Nhất là trong thời buổi nhiễu nhương có cả các cậu, các ông bán dâm cho người cùng phái.

Người Hà Nội gọi các cô gái điếm thời Tây là đượi. Có người cho rằng đượi là nói trại của đười (con đười ươi, cùng họ với khỉ, tườu) vì các cô điếm đầu tóc bù xù, nửa người nửa ngợm, nửa đười ươi. Giải thích này nghe không xuôi tai vì phần đông các cô đượi đều ăn mặc hấp dẫn, son phấn, đầu tóc chải chuốt, phi dê (frisés). Có như vậy mới mong câu được khách chứ. Đầu bù tóc rối như đười ươi (mà đã có ai được thấy đầu tóc đười ươi chưa nhỉ?), thì đến tượng đồng đen, cột nhà cháy nó cũng chê, thì làm sao mà bán trôn nuôi miệng được? Có lẽ đượi chỉ là biến âm của đĩ mà thôi. Đọc trại với ý khinh bỉ và phân biệt. Đượi là me tây, đĩ là me ta. Đượi và đĩ còn có tên là gái ăn sương. Tên nghe khá lãng mạn, nói lên được nỗi vất vả lúc đêm khuya thanh vắng.

Kiếm ăn chung với các cô đượi là bọn ma cô (maquereau), bọn bồi xăm (chambre). Thời Pháp còn có nhà Lục xì. Vũ Trọng Phụng viết tiểu thuyết Làm đĩ (1936) và phóng sự Lục xì (1937) nhưng tiếc rằng Tuyển tập Vũ Trọng Phụng (Văn học, 1987) không đăng những truyện này nên rốt cuộc vẫn không biết Lục xì là gì. Cái phiền của tuyển tập là vậy! Người khác chọn giùm mình. Cho đọc cái gì thì đọc cái ấy! Tra tìm trong từ điển Hán, Nôm thì không thấy Lục xì. Từ điển Gustave Hue có từ Lục xì nhưng lại không giải thích, chỉ cho biết Lục xì là một từ phon. (tôi đoán phon. là viết tắt chữ phonétique, nghĩa là đọc theo âm). Nếu vậy thì Lục xì có thể là âm cuối của chữ syphilis (bệnh hoa liễu, còn gọi là giang mai, nôm na là bệnh lậu hay tim la). Nhà Lục xì là nơi khám bệnh hoa liễu cho các cô điếm thời Tây.

Thực dân Pháp đem vào nước ta một loại kỹ nữ mới là vũ nữ, các cô gái nhảy, ca ve (cavalière). Gái nhảy phải biết ... nhảy đầm, không cần biết hát. Các cô hành nghề tại các đăng xinh (dancing). Ông nào chồn chân muốn nhảy thì mua vé, chọn gái nhảy. Nhiều cô ... làm thêm giờ phụ trội, nhảy cả tại phòng riêng.

Trở lại với các nàng kỹ nữ.

Chữ kỹ ban đầu còn có nghĩa, còn được dịch là ả đào, đào hát, con nữ phường chèo. Sau này được dịch thẳng là đĩ, con gái mại dâm (Đào Duy Anh), con đĩ nhà thổ (Thiều Chửu).

Kỹ nữ và con đĩ, tuy là đồng hội đồng thuyền, cùng là xướng ca vô loài nhưng cũng được phân biệt đối xử. Những lúc hứng bốc lên dạt dào thì thi sĩ gọi bọn này là kỹ nữ nghe cho thanh tao, lãng mạn! Nói đến kỹ nữ là người ta liên tưởng đến những số phận long đong, lỡ làng. Một kỹ nữ gảy khúc tỳ bà đã làm xúc động ông tư mã Giang Châu. Một kỹ nữ lênh đênh trên sông Hương ngợp ánh trăng đã làm mềm lòng nhiều thế hệ:
    Khách ngồi lại cùng em trong chốc nữa;
    Vội vàng chi, trăng sáng quá, khách ơi!
    Đêm nay rằm: yến tiệc sáng trên trời
    Khách không ở, lòng em cô độc quá.
    Khách ngồi lại cùng em! Đây gối lả
    Tay em đây mời khách ngả đầu say,
    Đây rượu nồng. Và hồn của em đây
    Em cung kính đặt dưới chân hoàng tử.
    ...
    Lời kỹ nữ đã vỡ vì nước mắt.
    Cuộc yêu đương gay gắt vị làng chơi.
    Người viễn du lòng bận nhớ xa khơi
    Gỡ tay vướng để theo lời gió nước.
    Xao xác tiếng gà. Trăng ngà lạnh buốt.
    Mắt run mờ, kỹ nữ thấy sông trôi
    Du khách đi.
    - Du khách đã đi rồi!
    (Xuân Diệu, Lời kỹ nữ)
Người ta dễ thông cảm, xót thương cho số phận các nàng kỹ nữ và dửng dưng thậm chí khinh bỉ các nàng kỹ nữ nhập tịch Việt Nam, trở thành con đĩ bình dân!

Thành ngữ, ca dao của ta có rất nhiều câu ám chỉ bọn gái đĩ già mồm. Sau những trận chơi cho thủng trống tầm bông, cho toác toạc toàng toang, các ông không quên núp sau lưng vợ, lên mặt đạo đức khuyên các cô làm đĩ chín phương, để một phương lấy chồng.

Kẻ ít học cũng a dua nói leo vài câu vô nghĩa:
    Đĩ xơ đĩ xác, đĩ xạc đĩ xờ
    Đĩ ở trên bờ, đĩ lặn xuống ao
Cũng có người thành thực hơn, ra mặt chê nhưng đúng hơn là ganh tị với đĩ:

Làm đĩ có tàn, có tán, có hương án thờ vua, có chuông chùa niệm Phật.

Toàn là chê, chửi, trách đĩ. Tha hồ cho sướng miệng!

Ngày xưa người ta gọi trẻ con là thằng cu, cái đĩ. Cu là dương vật. Đĩ là gái làng chơi. Cu và đĩ mang nghĩa xấu, được mê tín ngày xưa dùng với mục đích để ma quỷ chê đứa bé, không ám hại nó.

Ngôn ngữ hiện đại có từ kép đĩ điếm. Điếm nghĩa là cái kho, cái nhà chứa đồ. Đĩ điếm là từ kép nửa Việt nửa Hán, có nghĩa là nhà chứa đĩ hay là ổ mại dâm. Gái làng chơi có thêm tên gọi tắt là gái điếm.

Cuộc đời ba chìm bảy nổi đã hóa thân nàng kĩ nữ thành con đĩ, con điếm.

Người xưa đồng hóa con hát với đĩ điếm và gọi bọn này là xướng ca vô loài.

Năm 1945, bộ trưởng bộ Giáo Dục-Mĩ Thuật Hoàng Xuân Hãn đã làm một cuộc cách mạng văn hóa, đưa hát xướng vào chương trình bậc trung học. Hát xướng trở thành môn học bắt buộc. Xướng ca chính thức thoát khỏi cái nhục vô loài.

Ngày nay nước ta có trường dạy âm nhạc, kịch, tuồng, chèo, cải lương. Đủ các bộ môn xướng ca. Nghệ sĩ xuất sắc được tặng danh hiệu, gắn huân chương. Ai dại mồm dại miệng tuyên bố xướng ca vô loài chắc sẽ bị cả triệu người tát cho vỡ mặt.

Như vậy là nước ta hết đĩ rồi chăng?

Hết làm sao được! Ngày nào còn các cậu, các ông lang bang, thèm của lạ thì ngày đó còn các cô, các bà làm cái nghề xưa nhất trên mặt trái đất này! Xướng ca vừa được phục hồi danh dự, được tôn vinh thì xã hội lại đẻ ra các nàng sờ nách ba (snack bar), bia ôm, mát xa (massage) ... Có người mua thì có kẻ bán, còn người bán thì còn kẻ mua. Ngoạn mục thay cái đèn cù của kinh tế thị trường!

Có điều lạ và bất công là phường chèo, gánh hát có cả kép hát nhưng ngôn ngữ bình dân gần như bỏ quên bọn này. Sách vở của ta chỉ đả động đến con đĩ chứ không nói đến thằng đĩ. Không biết xã hội phong kiến ngày xưa có kỹ nam không? Ngày nay thì nhiều nước có. Không những có kỹ nam mà còn có cả kỹ sư ! Ấy chết, xin đừng vội hiểu lầm là các ông các bà kỹ sư là ... bậc thầy của đĩ ! Chữ kỹ (bộ thủ) của kỹ sư viết khác chữ kỹ (bộ nữ) của kỹ nữ. Kỹ sư là người có tài năng, chuyên về một kỹ thuật gì.

Các cô kỹ nữ, các ông kỹ nam tân thời có tên gọi đáng yêu là ca sĩ. Sĩ này được trọng vọng hơn cả sĩ của "Sĩ, nông, công, thương". Thần tượng của vô số người. Dưới ánh đèn mờ, khói thuốc âm u, nhạc dìu dặt, mơ màng nghe các cô hát, các cô ca, các cô la, thỉnh thoảng được ngắm một cái ngoáy, một cái ưỡn thì chao ôi ... xướng ca quả là sướng quá!

Nguyễn Dư
-----------------------------------
    XƯỚNG CA LÀ LOẠI VÔ LOÀI
    Lính Già Lăng Cha Cả

    Tùy người tùy hạng trên đời mà thôi
    Mỹ Tâm xứng đáng vang trời
    Tay rờ đầu “bác” mỉm cười khinh khi
    Từ chối rước đuốc xưa kia (rước đuốc ở thành Hồ mừng thế vận hội của TC)
    Đồng sàng dị mộng Tâm chê không làm
    Nước ngoài hèn mạt gian tham
    Lệ Thu, Thái Thảo vợ hiền Ngọc Trâu (đầu trâu mặt ngựa)
    Khánh Hà chị ruột cùng tầu
    Về quê hái “hỏng” dép râu chê cười
    Hương Lan khế ngọt ngon sơi
    Chế Linh, tố Cộng ngay nơi quê người
    Rằng là: “lũ Vẹm tanh hôi”
    ‘Dân Chàm hãm hại tôi thời bye bye’
    ‘Năm Hợi chót lỡ đua đòi ‘
    ‘Tôi về bái lậy chúng nơi thành Hồ’
    Trường Vũ, Chí Tài nhi nhô
    Phạm Duy nhạc sĩ côn đồ nhố nhăng
    Bú mồm em vợ hung hăng
    Úi giời đã quá “thụt” tăng ngon lành
    Nhà Bè Nước chẩy trong xanh
    “Ăn chè” xả láng em anh tỏ tình
    Đức Huy khoái tỷ cốm chanh
    Đau như bò đá nhãi ranh lừa kìa (*)
    Ý Lan vác cái mặt xia
    Giả vờ từ thiện đi về lấy le
    Elvis Phương cũng yêu nghề
    Câm như miệng hến hát thuê dưỡng già
    Trịnh Hội có số đào hoa
    Gái cưng cán Cộng thả ga nắn rờ
    Nhạn Gò Công cũng trở cờ
    Nổi danh Góc Trọ Buồn so gái bần
    Phương Dung bái lậy Cộng quân
    Chỉ vì lợi nhuận khổ thân em mà
    Nguyễn Hưng nhẩy nhót qua loa
    Cũng về hái “hỏng” tổ cha Hưng hèn !
    Tuyết Mai heo nái ngứa quen
    Hồi xuân khó chịu về làm Phở Ta
    Chồng kế “bài trả” thua Kỳ
    “Khóc ngoài quan ải mỗi khi tụt quần
    Phú Nhuận trai tráng rất gân
    Trời ơi kích ngất trai tân đã đời
    Thợ nói (MC) khoái tỷ lả lơi
    Chi ra dăm triệu cuộc đời lên hương
    Đơn Dương tên Vẹm chơi lường
    Thanh Lan hình chụp “cởi truồng” to hô
    Phu nhân Hạnh Phước bây giờ
    Kết hôn với giặc bất ngờ khổ đau
    Nhiều bà mạnh phụ qua cầu
    Mắc mưu nghị quyết nào đâu có ngờ
    Hoài Linh nay cháu già Hồ
    Đảng Cộng kết nạp ma cô rẻ tiền
    Còn nhiều tên nữa bon chen
    Rảnh rang post tiếp khắp miền đọc chơi
    Đại hội ca nhạc vé mời
    Hiện diện chúng nó nghỉ chơi không thèm.
    Don Hồ khí phách đáng khen
    Xưa kia vượt biển không quên Cộng thù
    Mười mấy thợ hát quá ngu
    Ra đường cúi mặt rút dù dzọi nhau. (không muốn nhìn ai vì mắc cỡ)
(*). Cô Ca sĩ trẻ măng tên KHÔI mới 22 tuổi trả lời báo chí tỉnh bơ “Tôi đã trường thành, ông Huy đã 62 tuổi. Không ai cầm tay ông Huy đặt vào tay tôi và ngược lai. Tôi phải đánh đổi thân xác của tôi mấy năm nay rồi là quá đủ”. (trích Web. Viễn Xứ)



Phiếm: Chiến tranh hay quả lựu đạn màu ... Bùm! - Nguyễn Duy Thành

Nguyễn Duy Thành

Vẫn chưa kiểm chứng được nguồn tin xuất phất từ đâu mà ngày 18-08-2009, trên các báo điện tử xuất hiện nhiều hình ảnh và tin tức cho rằng Việt Nam và Trung Cộng sắp bùng nổ chiến tranh, và từ đó “đồng bào trên mạng” xôn xao chạy qua chạy về như “chạy giặc” để hỏi han nhau.Vậy, xin làm “Ông Cò Quận 9” cầm “xúp lê” thổi tuýt ... tuýt để bà con đứng lại mà cùng nhau lạm bàn cho “ra nhẽ”, vì chuyện gì trên đời này cũng đều là “cu tý”, nhưng chuyện quốc gia đại sự thì không thể bỏ qua, phải không bà con đọc giả?

Trước hết, xin đặt ra 2 vấn đề để nói.

Phía Việt Nam: Giới quân sự Hà Nội đang ra lệnh tổng động viên và tái ngũ thành phần tuổi từ 18 đến 50, tất cả phải tập trung thao dợt quân sự và học tập chính trị.

Vậy, Việt Nam chuẩn bị quân sự để làm gì, đánh Trung Cộng?

Câu hỏi này cũng là một lập luận, nhưng khả thi hiện thực để cấu thành lý do khởi động cho một cuộc chiến tranh thì không thể, bởi vì Việt Cộng luôn quan niệm con Kiến thì dại gì đấu với con Voi, nếu có cũng là “Gà què ăn quẹt cối xay”, nhất là mọi phương diện của quân đội CSVN hiện nay rất nghèo nàn, hay nói cách khác Việt Cộng không đủ sức mạnh và ý chí để chủ động khai hỏa trong cuộc chiến này, dù là phát súng được bắn đi dưới ý thức và tinh thần bảo vệ Hoàng Sa và Trường Sa khi có “tàu lạ” xuất hiện. Do đó, không cần bàn thêm lập luận này.

Phía Trung Cộng: Tức là Trung Cộng quyết định đánh Việt Nam, nghĩa là dạy cho Việt Nam một bài học thứ hai, bởi từ ngày 17 tháng 2 năm 1979 đến nay chưa đánh đứa đệ tử này lần nào, bây chừ phải đánh cho nó nhớ, để nó thần phục suốt đời. Lý luận này nghe qua rất có lý, nhưng thật thừa thãi, bởi lẽ Trung Cộng có tốn phát đạn nào đâu mà Việt Nam vẫn bị mất Hoàng Sa- Trường Sa và Biển Đông! Sướng hơn nữa là họ không cần máy bay, xe tăng , đại bác nhưng vẫn làm chủ được Tây Nguyên, lại còn viết bảng tiếng Tàu thông báo “Khu vực cấm”. Bố tiên sư thằng nào vào đây thì chết! Mọi chuyện sáng như bóng đèn 500 “ki lô oát”, thì có chi nữa mà đấm đá cu cò, hơn nửa Trung Cộng không dại dột gì chủ động khai mở cuộc chiến vào lúc này, vì:

1. Chủ động mở cuộc chiến tranh với Việt Nam nghĩa là Trung Cộng tự cô lập hóa chính mình, là tự động hiến dâng một đàn em đồng minh tin cậy, một đệ tử trung thành cho đối thủ Hoa Kỳ, nghĩa là tự làm đổ bể luôn kế hoạch bành trướng về khu vực Đông Nam Á, bởi 3 mặt Đông, Tây, Bắc còn lại của Trung Cộng đều bị đồng minh của Hoa Kỳ bịt kín, phần còn lại là sa mạc và đồng khô cỏ cháy, duy nhất họ chỉ phát triển ra phía Việt Nam và biển khơi. Đây là lý do vô cùng quan trọng mà bằng mọi giá Trung Cộng phải bám vào CSVN Việt Nam, dưới chiêu thức vừa dọa vừa ôm, vì lãnh đạo bên “mô” cũng sướng.

2. Hiện tại kinh tế của Trung Cộng phát triển, có khi vượt qua Hoa Kỳ và Nhật Bản. Vì thế, vô cớ đánh Việt Nam là vi phạm công ước quốc tế, chiến tranh sẽ tác động, dẫn đến sự nguy hại và giảm sút quyền lợi của Hoa Kỳ, cũng như các quốc gia có quyền phủ quyết tại Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc, vì các nước này đều đang là đối tác thương mại với Việt Nam, và tác động này cũng ảnh hưởng đến các nhà đầu tư tại quốc nội Trung Cộng. Cho nên, quân phương Bắc chẳng dại gì đập vở chén cơm đang ngon miệng của mình.

3. Cục tình báo Hoa Nam của Trung Cộng đang cấy sâu trong Bộ chính trị của đảng Việt Cộng, họ thừa hiểu nội tình của quốc dân Việt Nam đang muốn lật đổ chế độ Cộng Sản để dân chủ hóa thể chế chính trị, nếu mở cuộc chiến tranh lúc này nghĩa là Việt Nam có cơ hội dân chủ hóa để đi đến thể chế Cộng hòa, khi đó sẽ vô hiệu hóa hết các sự kiện Hoàng Sa - Trường Sa - Biển Đông và Bauxite Tây Nguyên. Xa hơn nữa, sự thay đổi về thể chế chính trị của Việt Nam, sẽ là ngọn lửa thắp lên cho phong trào đòi dân chủ của các sắc tộc tại Tây Tạng-Tân Cương - Vân Nam, tất cả Mông - Hồi- Mãn - Hán xông lên đòi tự trị, và sẽ xé Trung Hoa ra từng mảnh nhỏ như Liên Bang Xô Viết trước đây, cái đại họa căn này là sự lo sợ lớn nhất của chính trị bộ Trung Cộng. Bởi thế, nhóm đầu não Bắc Kinh không dại gì châm lửa để tự đốt mình. Nếu ai đó lập luận theo thời điểm của cuộc chiến Việt-Trung năm 1979, thì thế chiến lược hiện thời xét theo yếu tố chủ quan hay khách quan, nay đã khác xa, xa như ... 30 năm rồi.

Có vô vàn lý do, nhưng chỉ đưa ra 3 điểm căn bản nói trên để thấy rằng, bất cứ một cuộc chiến tranh nào từng xảy ra trên thế giới, đều có các yếu tố là: tất yếu, chọn lựa, chủ động và bị động để tạo thành khói lửa. Xét theo mối quan hệ Việt Trung hiện thời, sự tất yếu hay chọn lựa để mở ra một cuộc chiến tranh đều không nằm ở hai phía, và sự chủ động tất nhiên là nằm ở Trung Cộng. Bởi, phía Việt Nam thì tháng nào cũng có một ông “Quan” trong chính trị bộ đi qua Bắc Kinh, để gặp “Hoàng Thượng” và hô .. vạn tuế .. thì cớ gì họ chủ động bóp cò ... bùm ... bùm ... pằng ... pằng …

Nếu phân tích như trên thì chắc chắn sẽ có câu hỏi đặt ra là:

Tại sao 2 đảng Cộng Sản Việt Nam và Trung Cộng đều chuẩn bị về quân sự? Để trả lời như Bà già chơi bài Tứ Sắc. Vì, không chỉ Việt Nam mà nội tình chính trị của Trung Cộng cũng chẳng êm ấm gì!

Riêng Việt Nam thì có 2 điểm nổi bật nhất là:

Đối Nội: Hơn 60 năm độc đảng cai trị, thì chưa bao giờ Việt Cộng lâm vào tình trạng bị công chúng phản kháng như hiện nay, nỗi lo sợ này có thể kìm hãm và dập tắt bằng bạo lực, nhưng nguy cơ đáng sợ nhất mà chính Việt Cộng tự thú nhận là sự tự thoái hóa của đảng và đoàn viên, từ đó dẫn đến sự “tự diễn biến” trong guồng máy quyền lực. Vì thế, nếu không có sự chỉnh đốn, tăng cường về nhân sự, cũng như biện pháp và cách thức giáo dục về đường lối và chủ trương của đảng, thì rất sớm hệ thống cầm quyền sẽ bị phân hóa và tan rã mỗi khi có biến động, dù là biến động chính trị nhỏ nhất, mặt khác Việt Cộng nhận thức ra được sự đàn áp của họ không thể dập tắt phong trào đấu tranh ôn hòa của Công Giáo đang xảy ra, cũng như các thành phần khác sẽ bùng nổ lớn trong tương lai, việc trá hình dùng “xã hội đen” chỉ tạo ra sự hỗn loạn trong xã hội, có khi sự binh biến xuất phát từ sự bất mãn của quân đội hay công an, hoặc một nhóm cựu lãnh đạo nào đó được sự ủng hộ từ phía người đấu tranh! Bởi thế, lợi dụng ngay vào thời điểm phản kháng, phản đảng đang lên cao. Bộ chính trị ra lệnh xuống Quân ủy quyết định đưa ra chiêu bài yêu nước là có thể giải tỏa, giải độc mọi vấn đề, mọi thành phần. Việt Cộng có được chiêu thức thâm cao, mưu ma chước quỷ này, thì cũng học được từ cha ông của người Trung Cộng, Trong Binh Pháp Tôn Tử có ghi rõ, là đang trong thế bị động có thể biến hóa qua thế làm chủ bằng 4 phương pháp:

1. Làm chủ chí khí; 2. Làm chủ nhân tâm; 3. Làm chủ nhân lực; 4. Làm chủ sự biến đổi.

Xin lấy một ví dụ thực tế để chứng minh và cam đoan nó sẽ xảy ra trong tương lai là. Khi bộ chính trị Việt Cộng nhận được mật báo là ngày G sẽ có một cuộc biểu tình lớn của Công giáo, hay Phật giáo, hay tổ chức đối kháng nào đó, thì lập tức từ trung ương lệnh xuống địa phương phải chọn đúng ngày G, để ra lệnh triệu tập lứa tuổi từ 18 đến 50 phải tập trung học tập chính trị hay thao dợt quân sư, như vậy cuộc biểu tình chỉ còn là người già và đàn bà con gái, vận dụng cách này Việt Cộng không bị mang tiếng với thế giới là dùng “xã hội đen”, nhưng vẫn bẻ gãy được cuộc biểu tình, vì trong tâm lý người ta có thể vắng mặt trong buổi biểu tình, nhưng nhà nước sẽ phạt tù nặng cho những ai chống lại nghĩa vụ quân sự, vì đây là trọng tội, có thể tạm thời tiên đoán trong tương lai gần, các thanh niên, thiếu nữ dưới dạng tuổi này mà thuộc thành phần Công giáo hay Phật giáo, chắc chắn sẽ được nhà nước “ưu tiên mời” tham gia nghĩa vụ quân sự nhiều hơn, thâm độc hết chỗ nói!

Cũng từ chiêu bài bảo vệ đất nước này, Việt Cộng giải tỏa được nhiều dư luận lâu này chỉ trích là đảng yếu hèn, qua đó họ cũng làm suy yếu đi nhân lực của thành phần đối kháng, và điểm quan trọng là họ khéo léo dụ dỗ được nhiều người vào đảng- đoàn cộng sản nhiều hơn.

Đối ngoại: Dùng chiêu bài yêu nước này để “thấu cáy” với đàn anh Trung Cộng, vì lời tuyên bố của Ngoại Trưởng Hoa Kỳ là “US is back to Asia”, cũng như cuộc viếng thăm quan trọng của Thượng Nghị Sĩ Chủ tịch Đông Á – Thái Bình Dương là Jim Webb có vợ Việt Nam đến thăm quê Bà Xã, chẳng lẽ vị khách thuộc cựu chiến binh Việt Nam này không thuộc cái câu “vuốt mặt phải nể lổ mủi” hay “nhất vợ nhì trời”. Chỉ cần một chút dựa hơi như vậy, thì mấy ông “Quan” Việt Cộng đánh “Xí Tố” với “Hoàng Thượng” Bắc Kinh rồi, với câu nói thẳng thừng “Hoàng Thượng ép “chơi” em vừa vừa thôi, coi chừng chịu không nỗi thì em ly dị theo thằng Mỹ mà khốn đời”. Chuyện chánh sự quốc gia thực sự nó cũng như chuyện nhà, suy luận nôm na là như “Rứa đó”

Từ đó có thể kết luận rằng, chỉ số khả tín để tin có cuộc chiến tranh Việt – Trung ở mức độ rất thấp, có khi là không. Những dấu hiệu qua hình ảnh hay tin tức rò rỉ qua công luận chỉ là một quả Lựu Đạn màu mà thỉnh thoảng Việt Cộng thường ném ra cho nổ ... Bùm ... để giải tán đám đông và cũng cố chế độ, màn kịch này chẳng khác nào tấn tuồng “họp khẩn cấp” để bắt LS Lê Công Định (họp khẩn cấp gì mà trên bàn họp mỗi công an đều có một Ly Bia, mà đã có thời gian ngồi nhậu thì làm sao gọi là khẩn cấp).

Tuy nhiên, đã là con dân nước Việt ly hương khắp bốn phương trời, nay nghe cố quốc sắp có loạn binh đao thì ai mà không thao thức động lòng. Cũng chính vì nắm bắt được yếu tố tâm lý này, mà Việt Cộng hay ném Lựu Đạn màu ra hải ngoại. Nếu vậy, thì đồng bào hải ngoại cũng nên hướng về đảng để “ủng hộ”, bằng cách gởi Email hay điện thoại thông báo cho con cháu, thân nhân và bằng hữu nên viện dẫn mọi lý do an toàn để bất hợp tác với chế độ, cũng nên giải thích cho họ biết là tiếp tay cầm súng chiến đấu cho Việt Cộng là kéo dài sự bất công và tăm tối, ngoài ra các cuộc biểu tình nên tập trung khơi gợi, kêu gọi quốc nội hãy Bài Trung Giải Cộng, khi mọi người chỉa mũi nhọn đấu tranh bắt buộc Việt Cộng cắt đứt quan hệ ngoại giao với Trung Cộng, nghĩa là đánh trúng “Tử Huyệt” cả hai, và tự để họ xâu xé với nhau. Đó cũng là cách “phản pháo” tốt nhất của cộng đồng hải ngoại chống lại những quả Lựu Đạn màu do Việt Cộng ném ra.

Hoặc, đặt một giả định rất xấu rằng, nếu có cuộc chiến Việt - Trung xảy ra, thì biết đâu chính đây là sinh lộ cho tổ quốc và dân tộc Việt Nam! Đồng niệm rằng nhân sinh tự cổ chí kim, mấy ai mong chờ quốc tán gia ly. Nhưng chiến tranh là chiến tranh, tất cả do Việt Cộng gây ra, bây giờ họ phải đối diện. Biết đâu hai anh Cộng đánh nhau thì Việt Nam có thể chế: Cộng Hòa.

Bà con đọc Báo đồng ý không? Xin cho tràng pháo tay để vui ngày giải Cộng.

Thỉnh thoảng tập làm “Gia Cát Lạng” để gởi đến đọc giả đôi lời “đoán Hưu đoán Vượn”, với hy vọng Việt Nam mãi mãi thanh bình, sớm được độc lập và dân chủ.

Kính chúc quý vị yên tâm-vui khỏe.

Nguyễn Duy Thành
(20/08/2009)



Việt Nam: Tư Tưởng Lung Lay, Đảng Bầy Nhầy - Phạm Trần


Phạm Trần

Hoa Thịnh Đốn: - Sau 79 năm họat động, đảng Cộng sản Việt Nam đã tự mãn đến kiêu căng thắng hai Cuộc chiến chống Pháp và chống Mỹ, nhưng xem ra lại đang tự hủy diệt bởi những kẻ nội thù “tự diễn biến” ngay trong lòng Chế độ.

Sự việc này đã được chứng minh bởi chính Tô Huy Rứa, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung Ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo Trung Ương và những cán bộ đứng đầu ngành Tư tưởng và Văn hóa của đảng CSVN.

Rứa viết trên Báo Nhân Dân ngày 030/8 (2009) rằng một trong những nhiệm vụ hiện này là phải: “Chủ động phòng, chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa và đấu tranh chống các quan điểm sai trái, bác bỏ các luận điệu tuyên truyền phản động, làm thất bại âm mưu, hoạt động "diễn biến hòa bình", gây bạo loạn, lật đổ, hình thành lực lượng đối lập của các thế lực thù địch.”

Trước đó tại Hội nghị tổng kết công tác tuyên giáo năm 2008 và triển khai nhiệm vụ năm 2009 (02/03/2009), Trương Tấn Sang, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trung Ương Đảng cũng yêu cầu cán bộ ngành Tư tưởng phải: “Chủ động phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” và đấu tranh chống các quan điểm sai trái, bác bỏ các luận điểm tuyên truyền phản động, làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng.”

Đáng chú ý là tuy hai người nói cách nhau 5 tháng, nhưng lại cùng sử dụng một câu giống nhau nên không biết ai viết cho ai, hay có cán bộ nào đó đã mớm lời cho cả hai cùng nói như con Vẹt ?
Sự trùng hợp này không quan trọng bằng việc đảng đã nhìn nhận trong nội bộ hiện nay đang có những cán bộ, đảng viên “tự diễn biến”“tự chuyển hướng”, hay nói cách khác là đã “tự ý đi chệch hướng” ra khỏi lối mòn tụt hậu, lỗi thời và bảo thủ rã rệu của đảng dựa trên nền tảng Chủ nghĩa Mác-Lênin và Tư tưởng Cộng sản Hồ Chí Minh.

Tình trạng tư tưởng trong đảng viên ngày một xuống dốc đã được Sang cảnh giác tại Hội nghị tháng 3/2009: “Hội nghị Trung ương 9 (khoá X) đã thẳng thắn nhắc nhở: “Công tác tư tưởng còn thiếu sắc bén, thiếu sức thuyết phục, chưa nắm chắc tư tưởng cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhất là những việc mới phát sinh để kịp thời xử lý. Chỉ đạo, quản lý và hoạt động của báo chí, xuất bản, văn hoá, văn nghệ còn nhiều hạn chế, yếu kém, việc khắc phục còn chậm. Một số mặt tiêu cực về tư tưởng có biểu hiện phức tạp và nghiêm trọng hơn, tiềm ẩn nguy cơ gây mất ổn định chính trị - xã hội. Các vấn đề văn hoá, giáo dục, đào tạo chưa được quan tâm đúng mức”.

“.... Dự báo tình hình năm 2009 và một vài năm tới có thể sẽ khó khăn hơn năm 2008. Các thế lực thù địch tiếp tục chống phá Đảng, Nhà nước, sự nghiệp đổi mới của nhân dân ta quyết liệt hơn. Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, những hạn chế, yếu kém trên một số lĩnh vực kinh tế, xã hội chưa được khắc phục, gây khó khăn cho sự ổn định và phát triển đất nước.”

Năm tháng sau, Tô Huy Rứa cũng báo động trên Báo Nhân Dân (3/8/2009): “Xu thế hình thành thế giới đa cực với những tương quan chính trị - kinh tế - quân sự mới ngày càng rõ. Trong bối cảnh đó, cùng với tăng cường hợp tác giải quyết những vấn đề toàn cầu, xu hướng cạnh tranh giữa các nước, nhất là các nước lớn sẽ ngày càng gay gắt, quyết liệt hơn, đặc biệt trên các địa bàn chiến lược, trong đó có Biển Đông. Tình hình mới đó sẽ tác động nhiều mặt đối với nước ta cả tích cực và tiêu cực trong thời gian tới. Dự báo tình hình vài ba năm tới có thể sẽ còn khó khăn hơn do kinh tế thế giới còn tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường, do nước ta đã hội nhập sâu vào kinh tế thế giới. Hàng loạt những vấn đề mới, phức tạp đặt ra cần tỉnh táo xử lý trên tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội, mặt khác, các vấn đề an ninh chính trị, an ninh nội bộ, an ninh tư tưởng sẽ diễn biến phức tạp hơn nếu ta không có giải pháp kịp thời, phù hợp. Các thế lực thù địch trong và ngoài nước sẽ lợi dụng để tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước ta ...”

CÔNG TÁC TRƯỚC MẮT
Bài viết của Rứa được đưa ra để đánh dấu kỷ niệm 79 năm Ngày truyền thống ngành Tuyên giáo (1/8/1930 - 1/8/2009), nhưng đã xẩy ra vào lúc có “một bộ phận không nhỏ” cán bộ, đảng viên muốn vượt ra khỏi gông cùm Cộng sản hủ lậu.

Vì vậy, Rứa mới hô hào: “Công tác tư tưởng trong tình hình hiện nay cần tập trung thực hiện có hiệu quả cao mục tiêu vừa cơ bản, vừa cụ thể là góp phần vào việc thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội X của Đảng, củng cố, tăng cường sự thống nhất về tư tưởng, chính trị trong Đảng, sự đồng thuận về chính trị và tinh thần trong nhân dân, tiếp tục giữ vững và mở rộng trận địa tư tưởng của Đảng, bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác-Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phát huy mạnh mẽ sức mạnh của nền dân chủ XHCN. Công tác tư tưởng phải góp phần trực tiếp, tích cực thực hiện có hiệu quả cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, các tổ chức đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh, phấn đấu từ nay đến Đại hội XI của Đảng ngăn chặn, từng bước đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, khắc phục một bước quan trọng tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên.”

Tình trạng suy thoái, mất phẩm chất của nhiều cán bộ, đảng viên còn được cụ thể hóa tại Cuộc hội thảo về “Những giải pháp và điều kiện thực hiện phòng chống suy thoái tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên” do Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức ngày 21-04-2009 tại Hà Nội.

Tạp chí Tuyên giáo viết: “Gần 10 ý kiến trao đổi, thảo luận thẳng thắn những vấn đề đòi hỏi cả lý luận và thực tiễn cần lý giải để tìm ra nguyên nhân căn bệnh suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên hiện nay. Các ý kiến thảo luận tập trung vào những vấn đề: Những đánh giá trong các văn kiện của Đảng về tình trạng sa sút phẩm chất chính trị, đạo đức của cán bộ, đảng viên; những biểu hiện của sự suy thoái, mức độ, tính chất của sự suy thoái; những điều kiện để phòng, chống suy thoái; đặc biệt các ý kiến thảo luận khá sôi nổi về các nguyên nhân và giải pháp nhằm khắc phục sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ đảng viên...”

Trước tình trạng suy thoái tư tưởng trong nội bộ đảng CSVN nghiêm trọng như thế này thì cán bộ ngành tuyên truyền phải làm gì ?

Lương Khắc Hiếu, Phó Giao sư, Tiến sỹ ngành Tư tưởng trả lời trên Tạp chí Tuyên giáo ngày 19/07/2009: “Là người trực tiếp truyền bá hệ tư tưởng và đường lối chính trị của giai cấp công nhân, cán bộ tuyên giáo phải có hiểu biết sâu sắc về lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và khả năng vận dụng chúng vào thực tiễn cách mạng nhà nước. Nắm vững tư tưởng Hồ Chí Minh, cương lĩnh, đường lối, chính sách của Đảng và những đóng góp sáng tạo của Đảng ta vào kho tàng lý luận cách mạng, hiểu biết những kinh nghiệm lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam, của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Có thế giới quan khoa học và niềm tin tư tưởng vững chắc, biết đánh giá đúng đắn các hiện tượng và quá trình xã hội đang diễn ra theo lập trường của giai cấp công nhân và của Đảng.

Cần có những hiểu biết cần thiết về những quan điểm tư tưởng khác nhau và đấu tranh không khoan nhượng với quan điểm tư tưởng đi ngược lợi ích giai cấp, lợi ích dân tộc và trái với hệ tư tưởng Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, có dũng khí đấu tranh bảo vệ quan điểm, đường lối của Đảng, không dao động trước sự tấn công của kẻ thù tư tưởng, trước âm mưu "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch.”

Phản ảnh về tình trạng yếu kém của ngành tuyên truyền hiện nay, Phùng Hữu Phú, Ủy viên TƯ Đảng, Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Tuyên giáo Trung Ương nhìn nhận với Báo Điện tử Trung ương đảng ngày 31/7 (2009): “Tuy có nhiều thành tựu đóng góp vào sự nghiệp giải phóng và xây dựng đất nước nhưng trong những năm qua, ngành Tuyên giáo vẫn còn nhiều hạn chế, thiếu sót so với yêu cầu, so với mong muốn của Đảng.

Đội ngũ Đảng viên còn nhiều yếu kém, bất cập, độ nhanh nhạy còn hạn chế. Có những lúc chúng ta còn bị động trước những tình huống nảy sinh trong thực tiễn. Chúng ta chưa đủ sức lý giải một cách thuyết phục những vấn đề phức tạp nảy sinh trong cuộc sống hàng ngày. Chúng ta đấu tranh chưa đủ mạnh, chưa đủ sức thuyết phục với những luồng tư tưởng trái chiều và những luận điệu xuyên tạc, vu khống của những thế lực thù địch, cho nên trên chặng đường phía trước, chúng ta còn rất nhiều việc phải làm, rất nhiều việc phải phấn đấu.”

Chẳng có ai thèm vu khống cho đảng CSVN với những hành động áp bức, hãm hại dân do chính cán bộ, đảng viên gây ra. Cũng chẳng có “thế lực thù địch”, hay “diễn biến hòa bình” nào có thể ngụy tạo ra được những hành động gây chia rẽ, hận thù giai cấp do đảng CSVN chủ động.
Và ngòai bản thân tham nhũng, thối nát của đảng, không ai có khả năng tạo được “những luồng tư tưởng trái chiều và những luận điệu xuyên tạc” để lũng đọan, tha hóa đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Vì vậy nếu có nhiều đảng viên đang “tự diễn biến” , “tự chuyển hóa” thì cũng là chuyện bình thường. Ngay trong lòng đảng mà đã rỗ như tổ Ong thì còn chỗ nào lành để không hòa tan ? .

Phạm Trần