Monday, August 17, 2009

BỐN NHÓM VIỆT KIỀU ĐƯỢC PHÉP MUA NHÀ Ở VIỆTNAM

Theo Báo Effet tháng 8.2009

‘Ủy Ban Về Người Việt Nước Ngoài’ ngày 22.07.2009 vừa qua có ra một thông cáo hướng dẫn thiết lập một số giấy tờ cần thiết để Việt Kiều được mua nhà trong nước. Bộ Công An sẽ tích cực giúp đở về thủ tục cư trú của Việt Kiều theo ‘Luật Nhà Ở’.

Dưới đây, Ép-phê đăng tải những Việt Kiều thuộc ‘4 nhóm đối tượng’ sẽ được ân huệ của chính phủ cho mua nhà. Xin bạn đọc hãy đọc thật kỹ, trước khi có quyết định, để không bị lừa thêm một lần nữa:

1. Thành phần thứ nhất: Là những người có chiến công, có thành tích chiến đấu với lập trường vững chắc, phụng sự chủ nghĩa xã hội, yêu đảng, hoặc phục vụ lâu năm trong nghành ngoại giao, công tác ở nước ngoài (thành phần nằm vùng, cò mồi …. ghi chú của HVNVTD) .

2. Thành phần thứ hai: Những người làm thương mãi, bỏ vốn đầu tư (từ 1.000.000 $US trở lên), thành lập cơ sở sản xuất, công ty kinh doanh làm ăn lâu dài tại Việt Nam.

3. Thành phần thứ ba: Những người trí thức, có tư tưởng tiến bộ, sáng tác những tác phẩm lớn, có tác dụng giáo dục quần chúng, đi vào con đường hạnh phúc của chủ nghĩa xã hội.

4. Thành phần thứ tư: Những nhà khoa học lớn, tốt nghiệp ở nước ngoài, với lập trường chính trị theo khuynh hướng chủ nghĩa xã hội (kèm theo chứng từ kiểm tra tư tưởng của Sứ quán sở tại), có khả năng sáng chế hay phát minh những lợi ích thiết thực về khoa học.

Xin lưu ý: ‘Luật Nhà Ở’, ban hành ngày 04.09.1976 (vẫn có hiệu lực), điều 22 quy định: Nếu chủ nhà rời khỏi ViệtNam quá 90 ngày thì nhà nước sẽ tiếp thu và quản lý, ngoai trừ có giấy phép đi công tác nước ngoài.

Ngoài ‘4 nhóm’ kể trên, không có Việt Kiều nào được phép mua nhà hoặc đứng sở hữu chủ bất động sản trên nước Việt Nam. Từ 34 năm qua, cứ lâu lâu, chính phủ cho tung tin ‘giựt gân’ một lần rằn: ‘Sắp sửa cho mua nhà’, rồi im lặng luôn không nghe nhắc nhở gì tới nữa ! Sự thật, tuy không nói ra, trong thâm tâm cho đến chết, đảng vẫn coi khối người Việt hải ngoại là ‘một thế lực thù nghịch’, một loại ‘kẻ thù không đội trời chung’, không bao giờ tha thứ. Cho nên, chuyện ‘cho đứng tên mua nhà trong nước’ vẫn là chuyện ngàn năm thần thoại. Nếu tin đó là chuyện thật thì tiền mất tật mang là điều không thể tránh khỏi.

(Ghi chú của HVHNVTD: Vậy những người đã được mua nhà, được trả lại các cơ sở sản xuất làm ăn hay đươc phép đầu tư dài hạn tại Việt Nam đều nằm một trong 4 nhóm người có cộng tác với chế độ và được cộng sản ưu ái ban ơn. Điều nầy nhắc nhở cho những ai ở trong các nhóm trên thì đừng bao giờ vỗ ngực tự xưng là người quốc gia, là thành phần chống cộng !)

Source: http://www.hoivanhoanguoiviettudo.com/

Vinh Danh Người Lính Mồ Côi - Vũ Quý Hạo Hiên

Người thượng sĩ mồ côi yên nghỉ thầm lặng ở Wesminter


Vũ Quý Hạo Hiên

WESTMINSTER (NV) - Trong 41 năm, người chiến binh được tưởng thưởng huy chương cao nhất Hoa Kỳ đã nằm yên nghỉ trong một mộ phần gần như vô danh, không một lời tưởng niệm. Cho đến khi một cựu chiến binh khác tình cờ biết chuyện, đã vận động thành phố Westminster và binh chủng thủy quân lục chiến làm một buổi lễ long trọng vinh danh người anh hùng của chiến cuộc Việt Nam.

Cố thượng sĩ Kenneth Lee Worley
Người lính không thân nhân với mộ phần trong nghĩa trang Westminster Memorial Park là cố Thượng Sĩ Kenneth Lee Worley. Anh đã thiệt mạng khi lấy thân mình nhảy đè lên một quả lựu đạn, cứu cả một nửa tiểu đội thoát chết.

Chính phủ Hoa Kỳ đã truy tặng huy chương Medal of Honor, Huy chương Danh dự, là huy chương cao nhất của quân đội Hoa Kỳ. Anh cũng được nhận huy chương Purple Heart, dành cho người bị thương trong chiến đấu.

Nhưng rồi chuyện của anh đã rơi vào quên lãng. Thi hài anh được đưa đến chôn tại Westminster vì quân đội không tìm ra thân nhân. Phải hơn bốn mươi năm sau, một người nghiên cứu sử nghiệp dư tình cờ nhắc đến anh khi nói chuyện với một cựu chiến binh lớn tuổi, người ta mới nhớ ra anh là ai.

Người nghe được chuyện Thượng Sĩ Worley là ông B.J. Savage, một cựu phó cảnh sát trưởng Westminster và cũng là một cựu chiến binh nhưng không tham chiến tại Việt Nam. Ông Savage đã vận động được thành phố Westminster tài trợ một buổi lễ vinh danh người anh hùng, và gắn một tấm bảng đồng tưởng niệm trong khuôn viên tòa thị chính.

Khi hy sinh, Thượng Sĩ Worley chỉ một thân một mình. Sinh ra và lớn lên tại Farmington, New Mexico, nhưng ngay cả thành phố nơi anh sinh ra cũng không có ai để biết đến hành động hy sinh anh hùng của anh. Phải tới ngày hôm nay, người ta mới biết và đang gây quỹ để làm bia tưởng niệm.

Ông Savage nói với Người Việt, “Anh ta mồ côi cha mẹ từ nhỏ, ở với họ hàng xa, học tiểu học ở Farmington. Rồi đến trung học, anh học ở Truth Or Consequences, New Mexico.”

Ông ngừng lại và bật cười, “Tên thành phố như vậy đó, Truth Or Consequences.”

Ðến lúc đăng lính vào thủy quân lục chiến, Worley đã đăng lính ở Fresno. Khi đó, người thanh niên này đang sống với gia đình Feyerherm, một gia đình nuôi.

Một người em gái trong gia đình này viết về anh trên trang web American Valor: “Kenny đến ở trong gia đình chúng tôi ở Modesto, California khi anh 17 tuổi. Anh sống với chúng tôi cho tới khi anh gia nhập thủy quân lục chiến. Anh là người anh của tôi theo tất cả các nghĩa của chữ đó và chúng tôi yêu anh hết sức,” bà Donel Swisher viết.

Hiện sống tại Escondido, bà Swisher dự định sẽ đến dự buổi lễ vinh danh người anh nuôi. Bà viết thêm, “Khi anh đến ở trong gia đình chúng tôi, tôi chỉ mới 13 tuổi và tôi dám khẳng định là khi quân đội bảo chúng tôi là anh được truy tặng Huy chương Danh dự, chúng tôi không ai ngạc nhiên. Anh là một người hùng từ ngày đầu tiên anh đến với chúng tôi.”

Tuy Thượng Sĩ Worley từng ở với gia đình Feyerherm, nhưng theo luật pháp, một gia đình nuôi kiểu foster family không được xem là thân nhân như gia đình nuôi kiểu adoption. Vì vậy, khi thiệt mạng, anh được xem là người lính không thân nhân.

Cá nhân ông B.J. Savage cũng từng là thủy quân lục chiến, giải ngũ năm 1963. Ông làm cảnh sát Westminster trong 30 năm, lên đến chức phó cảnh sát trưởng cho tới khi về hưu. Năm nay 68 tuổi, ông nói:

“Mối liên hệ duy nhất giữa người anh hùng Worley và Westminster là ngôi mộ này đây. Mộ phần này là một miếng đất được tặng.”

Ông Savage kể: “Khi mất, anh không có thân nhân. Lúc đó, nghĩa trang này thuộc về gia đình McWhinney. Gia đình McWhinney đã hiến tặng phần đất này cho quân đội để chôn cất anh Worley.”

Ông kể vì sao ông tìm ra được ngôi mộ này: “Có một nhà nghiên cứu sử nghiệp dư ở Newport Beach. Ông ấy đang nghiên cứu đề tài khác thì tìm ra ngôi mộ này. Anh phải biết là ở nước Mỹ không có mấy người được trao huy chương Medal of Honor đâu. Nên tình cờ nói chuyện, ông ấy mới bảo tôi là trong nghĩa trang Westminster Memorial Park có một ngôi mộ của một người được Medal of Honor, tôi mới tìm hiểu thêm.”

Tìm được ngôi mộ Thượng Sĩ Worley, ông Savage bèn lên Internet tìm hiểu thêm về người này. Văn bản khi truy tặng Huy chương Danh dự cho Thượng Sĩ Worley viết về sự việc xảy ra ngày 12 Tháng Tám năm 1968 khi toán quân của ông Worley đóng chốt qua đêm trong một căn nhà ở xã “Bo Ban” tỉnh Quảng Nam. Văn bản viết tiếp:

“Vào mờ sáng, các chiến sĩ thủy quân lục chiến giật mình thức giấc khi trung đội trưởng lên tiếng báo động ‘lựu đạn’... Dù biết hậu quả của việc mình làm, Thượng Sĩ Worley, trong một hành động anh dũng cao độ, liền lập tức nhảy chồm lên trên quả lựu đạn gần đồng đội mình nhất, lấy thân mình chịu hết sức nổ cực lớn của trái lựu đạn.”

Worley hy sinh, cứu sống 5 người đồng đội đang ngủ trong cùng phòng. Huy chương Danh dự đã được truy tặng cho anh trong một buổi lễ tại Tòa Bạch Ốc năm 1970.

Một thân một mình, ông Savage gom góp tài liệu về người thượng sĩ anh hùng, viết một lá thư và gởi đến cho Hội Ðồng Thành Phố Westminster.

Ông Savage muốn có một buổi lễ đặt bảng tưởng niệm trong khuôn viên tòa thị chính, ngay chỗ cột cờ, nơi hiện đang có nhiều bảng tưởng niệm từ các cuộc chiến khác. Ông dự trù sẽ có mặt của dàn nhạc và đoàn cờ danh dự Sư Ðoàn 1 Thủy Quân Lục Chiến từ Camp Pendleton, là sư đoàn nơi Thượng Sĩ Worley từng phục vụ. Nhưng có dàn nhạc, có đoàn cờ, là có chi phí. Chưa kể những phí tổn khác.
Ông B. J. Savage và tấm mộ bia
Ông ước tính chi phí cho một buổi lễ và một tấm bảng tưởng niệm là $7,000, và ông đến buổi họp hội đồng thành phố để xin tài trợ số tiền này. Trong buổi họp Tháng Tư 2009, hội đồng thành phố đã đồng loạt bỏ phiếu chấp thuận yêu cầu của ông, chuẩn chi $7,000.

Nghị Viên Tạ Ðức Trí nói với báo Người Việt, “Ðây là một điều rất tốt, thành phố nên làm. Ðây là một người đã tham chiến tại Việt Nam, thành phố được sự ủng hộ tuyệt đối của hội đồng thành phố để tưởng nhớ sự hy sinh này.”

Ðến ngày 12 Tháng Tám, ông Savage tính lại, xin được Sư Ðoàn 1 cho giảm bớt chi phí vận chuyển, xin được công ty làm bảng tưởng niệm giảm bớt giá thành.

Thấy tiết kiệm được vài ngàn, ông lại trở lại thành phố. Phát biểu trước hội đồng thành phố, ông nói “Bây giờ buổi lễ chỉ cần $5,000 thôi, xin chỉnh lại chi phí.” Hội đồng thành phố lại bỏ phiếu, lại đồng ý chuẩn chi bớt xuống còn $5,000.

Ông cho báo Người Việt biết, “Buổi lễ sẽ có Thẩm Phán Liên Bang David O. Carter, cũng là một cựu chiến binh Việt Nam; sẽ có Thiếu Tướng Richard Mills là sư đoàn trưởng Sư Ðoàn 1 Thủy Quân Lục Chiến.”

“Qua chừng này năm, đã đến lúc anh Worley được nhận sự vinh danh xứng đáng.”

Vũ Quý Hạo Hiên


VIỆT NAM: DỤ VIỆT KIỀU NUÔI ĐẢNG - Phạm Trần

Phạm Trần

Hoa Thịnh Đốn: - Vào lúc niềm tin vào đảng của một số không nhỏ cán bộ, đảng viên sa sút nghiêm trọng nhất từ trước tới nay, Bộ Ngoại giao Cộng sản Việt Nam tung ra kế họach tổ chức Hội nghị Người Việt Nam Ở Nước Ngoài (NVNONN) vào tháng 11/2009 tại Hà Nội để dụ Việt kiều tiêm thuốc hồi sinh nuôi đảng.

Nhà nước CSVN cho biết Hội nghị này dự trù quy tụ 1000 người kể cả 300 người trong nước và 650 đại biểu kiều bào, tất nhiên phải là thành phần có cảm tình hay ủng hộ đảng CSVN ở nước ngoài.

Theo chỉ thị từ Uỷ ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài thuộc Bộ Ngoại giao Hà Nội, các đối tượng sau đây sẽ được móc nối về nước tham dự Hội nghị :

- “Lãnh đạo và những người hoạt động trong các hội đòan hướng về đất nước: hội người Việt Nam, hội doanh nghiệp, hữu nghị, câu lạc bộ, các tổ chức từ thiện, nhân đạo NGO (Non-Government Organizations, Phi Chính phủ), giới, ngành nghề.

- Trí thức, chuyên gia, doanh nhân kiều bào làm ăn thành đạt, Thanh niên, sinh viên, tài năng trẻ.

- Cá nhân tiêu biểu hoạt động trong các lĩnh vực v8an hóa-nghệ thuật, thể dục thể thao, xã hội, tôn giáo.

- Những nngười hoạt động trong lĩnh vực truyền thông.

Những nhân vật mới nổi hoạt động trong chính quyền địa phương; những nhân vật cao cấp trong chế độ cũ có tinh thần dân tộc, muốn tham gia Hội nghị trong tinh thần xây dựng và hòa hợp dân tộc.”

MỤC TIÊU HỘI NGHỊ

Nguyễn Thanh Sơn, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao - Chủ nhiệm Uỷ ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài cho Báo chí trong nước biết: “Hội nghị sẽ có những hội thảo chuyên đề về 4 lĩnh vực: Đại đoàn kết dân tộc, Phát triển và bảo tồn bản sắc văn hoá Việt Nam, Tri thức kiều bào với việc phát triển kinh tế Việt Nam và Doanh nhân kiều bào đối với sự nghiệp xây dựng phát triển đất nước.”

Chi tiết hơn, trong Thư gửi Ban Lãnh đạo Hội người Việt Nam tại Pháp, Tòa Đại sứ Hà Nội tại Paris đã không ngần ngại nói rõ kế họach khai thác tiềm năng và trí tuệ Việt kiều của Hội nghị này, đó là:

1. “Xây dựng Cộng đồng Người Việt Nam Ở Nước Ngoài (NVNONN) đoàn kết vững mạnh, thành đạt và hướng về quê hương, đất nước”, nội dung: Các chính sách, biện pháp hỗ trợ cộng đồng tăng cường đòan kết và nâng cao vị trí trong xã hội sở tại. Xây dựng và phát triển các tổ chức hội đòan tích cực trong cộng đồng NVNONNN, khuyến khích và hỗ trợ các hoạt động từ thiện, nhân đạo hướng về quê hương, đất nước. Thực hiện chính sách đại đòan kết dân tộc, đấu tranh với các hoạt động đi ngược kại lợi ích của cộng đồng và đất nước. Công tác tuyên truyền, vận động thế hệ trẻ kiều bào hướng về quê hương, đất nước.

2. “Gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa và truyền thống dân tộc trong cộng đồngg NVNONN”, nội dung: Chính sách và biện pháp giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa truyền thống dân tộc trong cộng đồng; đẩy mạnh công tác tiếng Việt trong cộng đồng NVNONN. Phát huy vai trò là cầu nối, quảng bá hình ảnh và văn hóa Việt Nam với thế giới. Chính sách và biện pháp tăng cường công tác thông tin đối với cộng đồng NVNONN.
Thời đại Hồ Chí Minh

3. “Doanh nhân kiều bào góp phần vào sự nghiệp chấn hưng đất nước”, nội dung: đánh gía tiềm năng, thế mạnh kinh tế của doanh nghioệp, doanh nhân kiều bào; phát huy vai trò cầu nối cho kinh tế trong nước với thế giới của doanh nghiệp, doanh nhân kiều bào; các chính sách thu hút đầu tư, tài chính, kiều hối, kinh doanh dịch vụ … Kinh nghiệm quản lý kinh tế vĩ mô; dự báo chiến lược; các biện pháp đồi phó với các tác động tiêu cực của khủng hỏang kinh tế thế giới đồi với kinh tế Việt Nam.”

Ngoài ra Nguyễn Thanh Sơn cũng không giấu diếm dự kiến thầm kín của đảng khi tuyên bố tại Hà Nội ngày 2/6/2009 rằng: “Đây không chỉ là diễn đàn cho kiều bào ta trên khắp thế giới được bày tỏ quan điểm với Lãnh đạo Đảng, Nhà nước mà còn để trao đổi với nhau về những tâm tư, nguyện vọng, mong muốn của mình để có ý kiến đóng góp thiết thực nhất cho công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Đảng và Nhà nước ta luôn đánh giá cao tiềm năng chất xám của kiều bào ở nước ngoài, hy vọng thông qua Hội nghị NVNONN toàn thế giới lần thứ nhất này, sẽ có những bài phát biểu, tham luận, những chuyển giao công nghệ quý báu từ trí thức kiều bào, các nhà khoa học người Việt ở các quốc gia tiên tiến trên toàn thế giới nhằm góp phần thực hiện thành công những chương trình phát triển kinh tế của đất nước.”

Vẫn theo Báo chí trong nước, Sơn còn cho biết: “Các đại biểu kiều bào sẽ được Ban tổ chức đài thọ toàn bộ kinh phí ăn ở, đi lại trong thời gian tham dự Hội nghị. Đây là cố gắng rất lớn của Đảng và Chính phủ với mong muốn đưa tinh thần đại đoàn kết dân tộc đến với tất cả kiều bào và có những hội nghị thực sự biểu dương sức mạnh tri thức của NVNONN.”

Nhưng từ trước tới nay, người Việt ở nước ngòai đã có thái độ ra sao với đảng và nhà nước CSVN, Sơn khoe: “Các chính sách đối với kiều bào như: Luật quốc tịch, Luật cư trú đi lại, chính sách nhà ở, đầu tư, Những quy định về chế độ hồi hương, thăm thân, những thuận lợi trong việc chuyển kiều hối về nước ... cũng đáp ứng được sự mong mỏi và đem lại niềm tin rất lớn cho bà con. Lượng kiều bào trở về quê hương ngày càng đông trong thời gian gần đây, cho thấy bà con ngày càng gắn bó với quê hương, mong muốn xây dựng một cộng đồng vững mạnh.”

Sơn còn nói thêm: “Sự đoàn kết nhất trí hướng về quê hương, đất nước và niềm tin tưởng ngày càng lớn hơn vào sự lãnh đạo, quan tâm của Đảng và nhà nước với kiều bào góp phần cô lập, đẩy lùi sự hung hãn của các thế lực thù địch ở bên ngoài cũng như trong cộng đồng NVNONN.”

TẠI SAO PHẢI TỔ CHỨC

Nếu đã thành công “vẻ vang” như thế thì cần gì phải bỏ tiền ra tổ chức Hội nghị người Việt Nam ở nước ngoài để mưu tìm sự ủng hộ tinh thần và vật chất của những người muốn làm ăn hay giúp đỡ đảng CSVN ?

Có mấy lý do để giải thích:

Thứ nhất, kể từ khi đảng CSVN tung ra Nghị quyết 36-NQ/TW: "Về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài", ngày 26 tháng 3 năm 2004, nhà nước Việt Nam tiếp tục thất bại ê chề trong công tác chủ động sinh họat của người Việt Nam ở nước ngòai (NVONN), kể cả số công nhân lao động của Hà Nội tự ý ở lại nước ngòai sau khi Liên bang Sô Viết sụp đổ năm 1992 , hay được gửi đi lao động ở nước ngoài sau năm 1975.

Thứ nhì, tuy số tiền của NVONN, đa số là người Việt tị nạn Cộng sản, gửi về giúp cho gia đình hàng năm từ 4 đến 6 tỷ Mỹ kim, nhưng số người Việt bỏ tiền ra đầu tư vào Việt Nam hay trở về Việt Nam sinh sống vẫn chỉ đếm trên đầu ngón tay, dù cho đảng CSVN đã thay đổi Luật Quốc tịch, chủ trương Miễn thị thực và giản dị hóa các thủ tục mua nhà, tậu đất đối với NVONN.

Theo một báo cáo trong nước cho đến nay, có khoảng 3.000 dự án của NVONN đầu tư về nước với tổng vốn gần 2 tỉ Mỹ kim nhưng phần đông vào các lĩnh vực dịch vụ như Du lịch, Nhà đất hay Cơ sở làm ăn nhỏ.

Thứ ba, con số Trí thức 300 ngàn người, phần lớn thuộc thế hệ thứ hai của người Việt tị nạn mà đảng và nhà nước CSVN rất thèm muốn đã tiếp tục lạnh nhạt trước mánh khóe mồi chài muốn họ mang “chất xám” về giúp nước nên đảng CSVN, trong mấy năm gần đây đã bỏ tiền ra tổ chức vài Hội nghị, hay lập ra Câu Lạc Bộ Khoa học-Kỹ thuật Việt kiều (CLB KHKTVK) ở Sài Gòn tháng 12/2005 để câu khách mà vẫn bị bỏ rơi.

Lý do đơn gỉan vì đảng CSVN vẫn chỉ muốn rút ruột NVONN, trong khi giới Lãnh đạo vẫn chưa gột tẩy được mặc cảm thua kém, không chịu học hỏi và tiếp tục nghênh ngang, hống hách với chiếc “nón Cối đảng viên” để nghi kỵ người Việt ở nước ngòai trở về, dù có nhiều trí thức ở tuổi cuối đời muốn thật lòng cống hiến khả năng để nâng cao đời sống cho người dân trong nước.

Thứ tư, cho dù Nghị quyết 36 chủ trương “luôn luôn coi cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam”, hay như họ minh thị trong Điều I, Chương II của Nghị quyết 36 rằng: “Cơ sở của sự đoàn kết là ý thức dân tộc và lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc và mục tiêu chung của mọi người Việt Nam là giữ vững nền độc lập dân tộc, thống nhất của Tổ quốc, làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Xoá bỏ mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử do quá khứ hay thành phần giai cấp; xây dựng tinh thần cởi mở, tôn trọng, thông cảm, tin cậy lẫn nhau, cùng hướng tới tương lai”, nhưng đảng CSVN đã chứng minh họ không bao giờ muốn “hòa giải” với người Việt bỏ nước ra đi sau biến cố 1975 mà chỉ muốn NVONN tự ý bồng bế nhau về đứng xếp hàng sau cán bộ để “hòa hợp” vào chế độ. Nói cách khác là phải chấp nhận quyền cai trị độc tài, độc tôn, phản dân chủ của một nhà nước tiếp tục bám lấy Chủ nghĩa lỗi thời Mác-Lênin và tư tưởng Cộng sản Hồ Chí Minh.

Thứ năm, về công tác thông tin – tuyên truyền thì đảng CSVN đã hoàn tòan bị các Cơ quan truyền thông của người Việt tỵ nạn chôn vùi không ngóc đầu lên nổi. Chủ trương đem sách, báo trong nước ra phổ biến ở nước ngoài không thành công; kế hoạch phủ sóng Truyền hình và Truyền thanh trong các Cộng đồng người Việt cũng thất bại.

Ngay cả chuyện đem lá cờ Đỏ Sao Vàng của đảng để cạnh tranh với Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ của Việt Nam Cộng Hòa ở nước ngoài cũng bị phủ nhận, hoặc có làm cũng chỉ lén lút nên nỗ lực phô trương thế lực của Ban Tuyên giáo đã hòan tòan thất bại ở nước ngòai.

Ngòai ra cũng phải kể đến các Cuộc biểu tình của NVONN chống những cán bộ cầm đầu đảng và nhà nước đi ra nước ngòai ở khắp nơi, nhất là tại những quốc gia có đông người Việt tị nạn Cộng sản như Hoa Kỳ, Gia Nã Đại, Pháp, Úc, Tân Tây Lan v.v...

MỤC TIÊU CHÍNH TRỊ

Ngòai những lý do đã có chứng minh nêu trên, cũng cần nói đến lý do thầm kín của việc Tổ chức Hội nghị Người Việt Nam Ở Nước Ngoài (NVNONN) tháng 11/2009.

Trước tiên là sự ra đời tại Hà Nội ngày 10/08/2009 của Tổ chức gọi là “Hiệp hội Doanh nhân Việt Nam ở nước ngoài” do Hà Nội thành lập.

Theo tin của Báo Điện tử đảng CSVN: “Đăng ký tham dự Đại hội có gần 300 doanh nhân, doanh nghiệp kiều bào đến từ gần 40 quốc gia, vùng lãnh thổ; hơn 40 đại biểu của các cơ quan trung ương và địa phương; gần 80 đại diện lãnh đạo các tập đoàn, tổng công ty, hiệp hội ngành nghề và doanh nghiệp trong nước.”

Phạm Gia Khiêm, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao nói rằng: "Việc thành lập Hiệp hội doanh nhân Việt Nam ở nước ngoài hôm nay là cột mốc đầu tiên rất quan trọng trên con đường xây dựng một mạng lưới đại đoàn kết, tập hợp doanh nghiệp Việt Nam trên toàn thế giới, hướng tới một cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam ở nước ngoài hùng mạnh, có vị thế xứng đáng, góp phần làm rạng danh dân tộc Việt Nam với bạn bè quốc tế và đóng góp thiết thực vào sự phát triển chung của đất nước.”

Theo báo của đảng thì “Hiệp hội là một tổ chức xã hội nghề nghiệp của cộng đồng doanh nghiệp, doanh nhân VNONN nhằm huy động năng lực của cá nhân và tập thể doanh nghiệp vì lợi ích của doanh nghiệp, cộng đồng và của đất nước Việt Nam.”

Như vậy là rõ như ban ngày Tổ chức này sẽ được đảng và nhà nước CSVN sử dụng để giúp đảng tồn tại về mặt kinh tế.

Bằng chứng đã viết trong Điều lệ của Hội như sau:

Điều 2. Tôn chỉ, mục đích:

1. Hiệp hội doanh nhân Việt Nam ở nước ngoài là một tổ chức xã hội nghề nghiệp của cộng đồng doanh nghiệp, doanh nhân Việt Nam ở nước ngoài, nhằm huy động năng lực của cá nhân và tập thể doanh nghiệp vì lợi ích của doanh nghiệp, cộng đồng và của đất nước Việt Nam.

2. Tạo môi trường để hợp tác và trao đổi thông tin giữa các doanh nghiệp, doanh nhân, các hiệp hội trong và ngoài nước nhờ đó thúc đẩy mối quan hệ hợp tác trên các lĩnh vực kinh tế, thương mại, khoa học và công nghệ, góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

3. Liên kết, phối hợp và hỗ trợ các hội viên nhằm tạo điều kiện thuận lợi góp phần vào sự ổn định, phát triển và thành đạt của các hội viên trong các hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh, thương mại và dịch vụ tại Việt Nam và ở nước ngoài.

Điều 3. Tư cách pháp nhân:

1. Hiệp hội Doanh nhân Việt Nam ở nước ngoài (Hiệp hội) có tư cách pháp nhân, có con dấu, logô, tài sản và tài khoản riêng.

2. Hiệp hội đặt trụ sở tại Hà Nội, thủ đô của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và có các chi hội, chi nhánh văn phòng đại diện ở trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật.

Điều 4. Nguyên tắc và phạm vi hoạt động :

1. Hiệp hội hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, tự chủ về tài chính, tuân thủ luật pháp Việt Nam.

2. Hiệp hội có phạm vi hoạt động trên toàn lãnh thổ nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và tại các nước có người Việt Nam sinh sống và làm việc. Hoạt động của Hiệp hội chịu sự quản lý nhà nước của Bộ Ngoại giao và các Bộ, ngành khác về lĩnh vực có liên quan.
Chính Mi:thằng việt gian dâm đản họ Hồ

3. Hiệp hội doanh nhân Việt Nam ở nước ngoài hội là thành viên tập thể của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam.

Thứ hai là do nhu cầu khẩn trương của tình chính trị ở trong nước. Hội nghị NVNONN được tổ chức để thu hút sự chú ý của người Việt trong và ngòai nước vào lúc đảng CSVN chuẩn bị Đại hội đảng kỳ thứ XI, dự trù vào trung tuần tháng 1/2011, và đang phải đối phó với tình trạng suy thóai tư tưởng nghiêm trọng trong hàng ngũ cán bộ, đảng viên.

Kề từ Hội nghị 9 của Ban Chấp hành Trung ương đảng X tổ chức đầu tháng 1/2009, Nông Đức Mạnh, Tổng Bí thư đảng và các cấp lãnh đạo đảng đã thay phiên nhau báo động về tình trạng “tự diễn biến” và “tự chuyển hóa” đang lan rộng trong nội bộ đảng.

Các lời báo động này đã để lộ ra một tình trạng chia rẽ, mất tin tưởng vào đường lối chính trị tiếp tục kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Cộng sản Hồ Chí Minh của đảng.

Tình hình này xem ra đang ảnh hưởng đến sự lãnh đạo của đảng trên nhiều lĩnh vực, nhưng quan trọng nhất là sự hòai nghi, mất tin tưởng của nhân dân và không ít đảng viên về thái độ khiếp nhược trước hành động bành trướng chủ quyền lãnh thổ của Trung Hoa trên đất liền và ở biển Đông và việc đảng CSVN nhượng quyền khai thác Bauxite cho Bắc Kinh tại Tây Nguyên.

Vi vậy, bất kỳ việc gì nhằm giảm đi áp lực nội bộ để lấy lại niềm tin trong nhân dân vào lúc này như việc tổ chức Hội nghị Người Việt Nam Ở Nước Ngoài cũng có lợi cho đảng CSVN.

Vấn đề đặt ra là liệu dư âm của Hội nghị bù nhìn này sẽ tồn tại được bao lâu ?

Phạm Trần


Sunday, August 16, 2009

Hiểm họa của dân tộc Việt - Lê Thành Nhân

    Trung Cộng khai thác mỏ bauxite Tây Nguyên!
    Hiểm họa của dân tộc Việt
Lê Thành Nhân

Trong những ngày qua, dư luận đồng bào trong và ngoài nước lên án đảng CSVN, đứng đầu là Nguyễn Tấn Dũng bất chấp dư luận đồng bào, không quan tâm đến ý kiến đóng góp của các nhà khoa học chuyên môn, lờ đi những bản lên tiếng của những người đã từng giữ chức vụ cao trong đảng CSVN như cựu Đại Tướng CSVN Võ Nguyên Giáp, và cựu Đại Sứ CSVN tại Trung Cộng từ năm 1974-1989, Nguyễn Tấn Vĩnh. Bộ chính trị đảng CSVN vẫn cao ngạo cho rằng: “việc khai thác quặng bauxite tại Tây Nguyên là dự án lớn của nhà nước và Bộ Chính Trị đã ba lần nghe, kết luận và nhà nước đã phê chuẩn dự án này”... trước sự quyết định độc tài đảng trị ấy, dư luận xôn xao trong quần chúng rằng: “....Tây Nguyên sẽ chết vì khai thác bauxite”, “Khai thác quặng bauxite ở Tây Nguyên nhiều nguy cơ, chưa có giải pháp”... nhiều nhà khoa học phân tích cặn kẻ có tính thuyết phục đưa lên các trang điện trong và ngoài nước, người am tường chính trị quân sự thì cho rằng “lâm nguy an ninh của tổ quốc vì cho Trung Cộng đến Tây Nguyên”, nhà văn hoá thì cho rằng “phá hủy nền văn hóa đa dạng của Tây Nguyên”, “báo chí không được đăng tin về bauxite”.... tất cả đó tạo một không khí nặng nề, ngột ngạt trong người dân Việt Nam hiện nay. Là người Việt quan tâm đến tình hình đất nước chúng ta không thể không tìm hiểu một biến cố lớn như thế đối với đất nước Việt Nam.

I. Bauxite Tây Nguyên nằm ở đâu trên nước Việt Nam?

Đắc Nông, trước đây là vùng đất thuộc tỉnh Đắc Lắc, từ năm 2004 đã tách rời thành một tỉnh riêng, thủ phủ đặt tại thị xã Gia Nghĩa. Tỉnh Đắc Nông nằm phía Nam Cao Nguyên Trung Phần, Bắc giáp với tỉnh Đắc Lắc, Đông giáp với tỉnh Lâm Đồng, Tây giáp với biên giới Cambodia, và Nam giáp với tỉnh Bình Phước. Diện tích 6514.5 km2 và dân số khoảng 400,000 (năm 2006), gồm người Việt (Kinh), Ê Đê, Nùng M’Nông và người Tày. Nguồn lợi kinh tế chính của tỉnh Đắc Nông là trồng cafe, tiêu, cao su. Đắc Nông cũng là vùng hứa hẹn của nền du lịch với những thác nước rất đẹp trong cảnh thiên nhiên hùng vĩ như thác Ba Tầng, thác Diệu Thanh, thác Dray Nur, thác Dray Sáp, Thác Trinh Nữ, đồi thông Nam Nung. Khí hậu tỉnh Đắc Nông rất ôn hòa và lý tưởng, trung bình 24 độ C.

Đắc Nông có nền văn hoá truyền thống cổ truyền đa dạng của nhiều dân tộc mang bản sắc riêng. Nơi đây còn lưu giữ nhiều pho sử thi truyền miệng rất độc đáo như sử thi Đam San dài hàng ngàn câu. Các tập tục xưa cổ, kiến trúc nhà sàn, nhà rông và tượng nhà mồ còn chứa bao điều huyền bí hấp dẫn. Các loại nhạc cụ dân tộc từ lâu đời đã trở nên nổi tiếng và là niềm tự hào của cả vùng Tây Nguyên, của văn hoá dân gian Việt Nam. Bộ đàn đá của người M'Nông, bộ chiêng đá phát hiện tại huyện Đăc R'lâp cách đây ngàn năm, đàn T’rung, đàn K’lông Pút, đàn Nước, Kèn, Sáo ... Nếu đúng dịp, du khách sẽ được tham dự những lễ hội độc đáo còn nguyên chất dân gian. Trong lễ hội, cả buôn làng cầm tay nhau nhảy múa xung quanh đống lửa theo nhịp của tiếng cồng,tiếng chiêng.

Với vùng đất cây xanh, cảnh đẹp, không khí trong lành, nhiệt độ ôn hòa, nền văn hoá đa dạng như thế ở dưới tầng lớp đất Bazin màu mở ấy khoảng 0.5-1m có quặng bauxite là một nguyên liệu chế ra chất nhôm dùng trong các loại kỹ nghệ.

Theo tài liệu BAUXITE MINING, POST ENVIRONMENTAL & SOCIAL IMPACT CONCERNS By: Consultancy on Development (CODE) – Vietnam, thì mỏ bauxite được tìm thấy ở tỉnh Đắc Nông có khả năng sản xuất từ 6500-7600 triệu tấn, lớn hàng thứ 4 trên thế giới. Đắc Nông là vùng đất cao nguyên nơi đầu nguồn của hai con sông lớn Đồng Nai và Serepok. Đảng CSVN cho phép các nhà đầu tư Trung Cộng mở 4 cơ xưởng khai thác quặng bauxite ở tỉnh Đắc Nông.
Theo tài liệu của Tập Đoàn Công Nghiệp Than và Khoáng Sản Việt Nam (TKV) tháng 7/2007 thì Đắc Nông có 6 vùng có mỏ bauxite với diện tích tổng cộng là 1971 km2 chiếm 1/3 diện tích tỉnh Đắc Nông ở các địa điểm như sau:

- Tuy Đức: 354 km2
- Đắc Song: 300 km2
- Bắc Gia Nghĩa: 329 km2
- Nhân Cơ: 510 km2
- 1 tháng 5: 197 km2
- Quảng Sơn: 159 km2

Mỏ beauxit còn tìm thấy ở Bảo Lộc thuộc tỉnh Lâm Đồng và hiện nay đang khai thác, mặc dù mỏ bauxite này không lớn như ở tỉnh Đắc Nông.

II. Những tác hại, rủi ro, nguy hiểm khi khai thác mỏ bauxite ở Tây Nguyên:

Lớp đất trên cùng tại Tây Nguyên là phù sa Bazine (Topsoil 0-2m), sau đó đến lớp mõ bauxite từ (2-12m)

Mỏ beauxit ở Đắc Nông nằm dưới mặt đất từ 0.5-1m, trong tiến trình khai thác người ta phải lấy đi lớp đất xốp ở trên mặt, sau đó lấy phần đất/đá có chất bauxite đưa vào nhà máy để biến chế thành chất alumina. Nhớ rằng, Alumina không phải là Aluminium (nhôm), mà alumina là một hợp chất gồm nhôm và oxy với ký hiệu hóa học là Al2O3. Khai thác mỏ beauxite ở Đắc Nông chỉ chế biến từ quặng bauxite ra Alumina rồi đem bán cho ngoại quốc chứ không phải luyện nhôm ròng (aluminium) để xử dụng cho kỹ nghệ hoặc bán nhôm với giá cao. Trung bình cứ hai tấn bauxite thì biến chế một tấn alumina, và cứ 2 tấn alumina thì làm ra một tấn Aluminium (nhôm). Hiện nay, Alumina trên thị trường giá vào khoảng $350-370 USD/ tấn. Tiến trình biến chế từ bauxite đến alumina có 5 giai đoạn, mỗi một giai đoạn phải xử dụng rất nhiều nước thêm với các hóa chất cần thiết để luyện kim, và sau đó thải ra một loại nước mang theo chất độc hoá học. Trong các giai đoạn luyện chất alumina, nguy hiểm nhất là nó để lại một chất cực kỳ độc hại đó là “bùn đỏ” (red-mud). Theo những tài liệu ngoại quốc và những chuyên viên chuyên ngành trong nước thì việc khai thác bauxite ở Đắc Nông trong khi chưa có những giải pháp đúng đắn để bảo vệ môi trường, để bảo vệ nguồn nước, để bảo vệ tài nguyên thiên nhiên thì nó sẽ là một tác hại lâu dài cho tương lai của người dân Tây Nguyên và dân cư sống ở hạ nguồn hai sống Đồng Nai và Serepok. Cao Nguyên Trung Phần là “lá phổi” của Việt Nam, nếu lá phổi bị ô nhiễm trầm trọng chẳng khác nào Việt Nam bị bệnh ho lao.

Đối với việc khai thác mỏ bauxite, sự tác hại này đe doạ thường trực đến cả muôn đời sau.

1. Tác hại thứ nhất: xử dụng quá nhiều diện tích đất đai tây nguyên, muốn khai thác bauxite, phải cần khoảng 500 km2 chung quanh cơ xưởng bauxite để di chuyển lớp đất thừa trong tiến trình chế biến alumina. Đắc Nông có 4 nhà máy như vậy tốn gần 2000 km2, thêm với 1971 km2 beauxite tổng cộng gần 4000 km2, chiếm gần 2/3 diện tích tỉnh Đắc Nông (6514 km2). Sự di chuyển đất này sẽ tạo những lớp bụi mù tung bay trong không khí, ảnh hưởng môi trường sống của con người. Thân và lá cây vùng Tây Nguyên bị phủ đầy bụi hóa chất màu đỏ không thể nào phát triển được. Còn con người thì luôn luôn hít thở không khí với chất độc bụi đỏ vào phổi, lâu rồi sẽ sinh bệnh ung thư đường phổi.

Trong ngành khai thác quặng mỏ, bauxite là phương pháp khai thác chiếm nhiều diện tích đất đai nhất. Quặng bauxite trải rộng trên mặt đất, vì vậy sự khai thác bauxite tác hại hủy diệt cây cối, hoa màu, chim muông cầm thú. Tây nguyên là rừng, khi khai thác bauxite thì rừng bị phá hủy trung bình 30-50 ha/triệu tấn bauxite. Diện tích bề mặt cần xử dụng để lấy bauxite trung bình 150 ha / triệu tấn, và diện tích mặt bằng cần để sản xuất alumina là 450 ha/triệu tấn. Với số đất được trưng dụng lớn lao như vậy, thử hỏi có bao nhiêu nhân công từ bỏ nông nghiệp trồng cafe, hạt tiêu, cao su được đưa vào làm việc trong nhà máy bauxite ở Đắc Nông (****) Tính trung bình phải mất 2.5 ha mới tạo ra một việc làm .... 2.5 ha để trồng cây xuất cảng như trà, cafe, tiêu, cao su .... sẽ giúp cho một người dân có đời sống sung túc hơn khi phải xây công ty luyện bauxite. Và liệu những người dân ở đó có trình độ để được thu nhận vào làm việc trong công ty khai thác bauxite hay không?

2. Tác hại thứ hai: Làm kiệt quệ nguồn nước ở Tây Nguyên. Trong tiến trình luyện kim, việc loại bỏ những chất thừa thải để rửa sạch kim loại sẽ tốn rất nhiều nước, các giai đoạn lọc bauxite và giai đoạn chế biến từ bauxite sang alumina cần 14,832 triệu m3 nước/năm, trong khi nước để tiêu dùng cho sinh hoạt người dân Đắc Nông là 0.432 triệu m3/năm mà thôi. Như vậy những xưởng bauxite sẽ vơ vét nước trên các sông hồ, và cả nguồn nước ngầm ở dưới lòng đất của Tây Nguyên mới đủ. Tình trạng khan hiếm nước ở Tây Nguyên vì xử dụng quá đà cho kỹ nghệ khai mỏ bauxite sẽ làm cho một Cao Nguyên cây cối xanh tươi, thác nước thơ mộng, chim chóc đầy đàn ... sẽ trở thành sa mạc khô cằn trong những năm tháng tới. Vì thiếu nước, vì cây cối bị ủi láng bình địa để lấy bauxite, vì bụi mù đỏ tung bay dầy trời và mang đầy hoá chất trải khắp vùng trời Tây Nguyên....Tây Nguyên sẽ trở thành vùng đất chết đầy chất độc hại môi trường sống.

3. Tác hại thứ ba: Gây ô nhiễm trong nước uống và sinh hoạt hằng ngày: Nước dùng trong tiến trình luyện alimina sẽ bị thải ra mang chất độc hóa học, với kỷ thuật khái thác vô trách nhiệm của chế độ CSVN hiện nay, nước thải đó sẽ tan biến vào lòng đất hòa với nguồn nước thiên nhiên làm cho nước trên ao hồ, sông, suối, giếng bị ô nhiễm chất hoá học tác hại khôn lường cho sức khoẻ của người dân. Trong tiến trình chế biến từ bauxite đến alumina sản sinh ra hàng hà sa số chất toxic (chất độc), đây là một loại hoá chất tác hại cho nguồn nước và cần phải có kỷ thuật cao để chận đứng sự tác hại do chất toxic gây ra ở hai thượng nguồn sông Đồng Nai và Serepok. Người dân sống dưới hạ hạ nguồn đều phải gánh chịu hậu quả này.

Chúng ta còn nhớ công ty Vedan của Đài Loan không có hệ thống lọc nước sau tiến trình sản xuất đã gây ô nhiễm sông Thị Vải để lại bao nhiêu độc chất trên đó, và cả giòng sông Thị Vải giờ đây như là một giòng nước trộn sửa, nhưng đây không phải là giòng sửa mẹ là là một giòng độc dược. Những độc chất thải ra trong khi biến chế Alumian còn độc hại gấp bội lần so với vụ chất độc giòng sông Thị Vải.

4.Tác hại thứ tư: Bùn đỏ (red-mud) nguy nhất, tác hại tột cùng: Bùn đỏ là chất thải ra nhiều nhất trong tiến trình tinh luyện từ bauxite đến Alumina đó là một loại pha trộn chất độc hóa học mang màu đỏ sền sệt như bùn cho nên gọi là bùn đỏ. Phân chất trong bùn đỏ này thì nó chứa những hoá chất độc hại như: 30-60% Helmatic-Fe2O3, 10-20% Trihydrate Aluminium-Al2O2, 3-50% Silicon Dioxide-SiO2, 2-10% Sodium Oxide-Na2O, 2-8% Calcium Oxide-CaO, 2-50% Titanium Dioxide-TiO2 .... cùng một số chất hóa học khác nữa như, Nitrogen, Potasium, Chromium, Zinc ...... (1) Đặc biệt bùn đỏ này không khử trừ được, không tiêu diệt được, nó tồn tại mãi mãi, nó trơ ra, nhưng mà hễ nó đụng vào đâu là hủy diệt môi trường sống ở đó.

Hiện nay trên thế giới chưa có một quốc gia tân tiến nào có thể giải quyết chất bùn đỏ này kể cả Hoa Kỳ cũng chưa có cách hủy diệt nó, cho nên Hoa Kỳ có những mỏ bauxite ở nhiếu tiểu bang nhưng họ không khai thác vì sợ ô nhiễm môi trường sống. Người Mỹ chỉ đi mua Alumina của thế giới đem về tinh chế ra nhôm (aluminium) để dùng trong kỹ nghệ. Hiện nay Úc Đại Lợi là nước khai thác mỏ bauxite lớn nhất thế giới và có độ an toàn cao, vì họ có nhiều lợi thế để cất dấu lớp bùn đỏ độc hại đó, nhờ địa hình của nước Úc bằng phẳng, ở dưới có lớp đá ngầm bảo vệ, dân cư những vùng có mỏ bauxite rất thưa thớt cho nên thuận lợi cho việc chế biến Alumina từ bauxite tại chỗ. Một vài quốc gia khác thì dùng những phương pháp dấu bùn đỏ cạnh bờ biển, và những hố chôn bảo vệ kỹ lưỡng.

Còn tại Việt Nam thì công ty bauxite làm ngay tại Đắc Nông và hàng triệu tấn bùn đỏ này sẽ được chôn cất trong lòng đất Tây Nguyên. Như vậy với những hoá chất trộn lẫn đó có tác hại như một lại bom bẩn hủy hoại con người và môi trường sống. Lượng bùn đỏ ở Tây Nguyên thẩy vào hố chứa trung bình là 1733 tấn/1 ngày (****)

Dự án Tân Rai có lượng bùn đỏ thải ra môi trường: 826.944m3/năm, lượng bùn oxalate thải ra môi trường 28.800m3/năm, lượng nước độc thải ra từ nhà máy 4,625 triệu m3/năm. Khối lượng quặng bauxite khai thác của dự án này lên tới 2,32 triệu m3/năm, dẫn đến nguy cơ tổng lượng bùn đỏ phải tích tụ trên cao nguyên cả đời dự án Tân Rai 80-90 triệu m3. Nhưng tổng dung tích của hồ chứa của dự án chỉ có 20,25 triệu m3, số bùn đỏ còn lại không biết chứa ở đâu?” (****) chắc chắn rằng sẽ chảy vòng vòng trên miền Cao Nguyên Trung Phần hoặc theo sông Đồng nai và sông Serepok về dưới hạ nguồn nuôi sống người dân!

5. Tác hại thứ năm: Vế phương diện khai thác với tham vọng chính trị hơn là khoa học và kinh tế: Trong tiến trình khai thác mỏ bauxite chế thành Alumina, cần một nhà máy nhiệt-điện (Thermo-Electricity) tại chỗ có đủ công suất cao để làm việc, đằng này kế hoạch dùng nhà máy nhiệt-điện từ Quảng Ninh câu dây cáp lên Đắc Nông, với khoảng cách quá xa như vậy, liệu rằng những dây cáp điện có đủ sức chịu đựng trong tiến trình sản xuất hay không?

Đặc tính ít học độc tài của chế độ CSVN dẩn đến tai hoạ nguy hiểm hủy diệt đời sống con người, người dân Tây Nguyên hạnh phúc sống với núi rừng thiên nhiên trồng trọt, nay những đất sinh sống ấy bị cấm đóan đẩy họ đi vào những vùng được chỉ định, đầy bụi mù vi khuẩn, luôn luôn bị canh chừng vì sợ nổi loạn .... như vậy hành động này chắng khác gì hủy hoại tài nguyên “rừng vàng, biển bạc” và phá hủy vùng đấy Bazine màu mở Tây Nguyên.

Dân số Đắc Nông hiện nay 400,000 nhưng sau khi biến thành khu kỹ nghệ bauxite, hàng trăm công xưởng phụ sẽ mọc lên để đáp ứng nhu cầu, dân số sẽ tăng lên gấp bội, môi trường sống càng phức tạp, liệu rằng bộ chính trị đảng CSVN có bao giờ nghĩ đến vấn đề này hay không? hay sống chết mặc bây tiền thầy bỏ túi?

Tệ hại hơn nữa là dự án chẳng có kế hoạch nào để đem lại đất đai sau khi đã khai thác quặng bauxite. Sự mất mát lớp đất xốp trên bề mặt sẽ rất dễ tạo nên lũ lụt, trụt đất, chuồi đất ở vùng Tây Nguyên nơi chưa bao giờ xẩy ra những thiên tai này.

6. Tác hại thứ sáu: Thiệt hại cuộc sống người dân: Hiện nay, muốn khai thác hảng bauxite phải cạo lớp đất ở trên, ủi rừng, phá 2/3 diện tích tỉnh Đắc Nông, bao nhiêu nguồn lợi sinh sống của dân cư bị san bằng phá sạch, liệu rằng nhà cầm quyền đảng CSVN có tìm kế sinh nhai cho những người dân bất hạnh này không? Hay vẩn dùng hệ thống quy hoạch cướp nhà cướp đất, cướp ruộng, cướp vườn, ăn chận, ăn bớt của CSVN đối với người dân Tây Nguyên. Trong chương trình khai thác không thấy có kế hoạch nào sau khi khai thác xong sẽ biến những vùng đất đó thành đất có thể canh tác trở lại. Hay là sau khi khai thác xong, trở thành những căn cứ quân sự của Tàu Cộng đang đổ người (lính trá hình) sang khai thác bauxite. Nếu không có kế hoạch để hồi sinh đất lại thì chẳng khác nào tỉnh Đắc Nông trở thành vùng đất chết không có môi trường sống như ở những nơi bị bom nguyên tử.

III. Một vấn đề nguy hại hơn cả mọi vấn đề: Tàu Cộng khai thác mỏ Bauxite Tây Nguyên
Điểm "xanh" trên tổ quốc Việt Nam,
địa điểm chiến lược tại sao đảng CSVN
đem "kẻ thù Bắc Phương truyền kiếp vào đây?"
Ngày 9/04/2007 nhật báo Nhân Dân Trung Cộng (People Chinese) đăng bản tin tựa đề: Một công ty của Trung Cộng đang đầu tư vào khai thác bauxite tại Việt Nam (2), bài báo viết: “Chalo, một công ty dẫn đầu về khai thác quặng mỏ của Trung Cộng, đang “chờ” cấp môn bài để xây cất công ty khai thác mỏ bauxite ở Đắc Nông Cao Nguyên Trung Phần Việt Nam ..... và nó trở thành một dự án lớn nhất đầu tư tại Việt Nam của Trung Cộng”

Điểm "xanh" trên tổ quốc Việt Nam, địa điểm chiến lược tại sao đảng CSVN đem "kẻ thù Bắc Phương truyền kiếp vào đây?"

Những tin đồn trong những ngày gần đây, cho rằng hiện nay Trung Cộng đem nhân viên kỹ thuật, đem lính canh đến bảo vệ tại vùng Đắc Nông. Như chúng ta đã biết, Trung Cộng đã thiết lập căn cứ hải quân tối tân ở Tam Á thuộc đảo Hải Nam mục đích để mở rộng ảnh hưởng ra biển Đông Thái Bình Dương, trước mắt thanh toán hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Nay để Trung Cộng khai thác mỏ bauxite tại Tây Nguyên thì chẳng khác gì mở đường cho họ đem hàng ngàn, hàng vạn người Trung Cộng, hoặc lính Trung Cộng trá hình đến cư trú và làm việc tại nơi đây. Sau này trở thành một Chợ Lớn thứ hai ở Tây Nguyên, hoặc có thể biến thành một căn cứ quân sự quan trọng nằm trên cột xương sống Việt Nam.

Ai cũng biết rằng hiện nay Trung Cộng đang xâm lăng nước ta về mọi mặt kinh tế, chính trị, quân sự, an ninh ... họ muốn Việt Nam thành một tỉnh lỵ của Tàu mà không cần đem quân xâm lấn mà, chỉ dùng những đòn phép ma mãnh chủ trương từng bước và có kế hoạch nhất định: bước một, tạo chính quyền bù nhìn CS Việt Nam làm thừa sai của Trung Cộng, nay nhân dân đã thấy Việt Cộng đóng vai rất được việc Trung Cộng muốn. Bước hai, xâm lấn theo kiểu tằm ăn dâu, lấn tới một ngày một ít, được đằng chân lân đằng đầu, được vùng đất biên giới thì đến hai đảo Hoàng Sa và Trường Sa, bây giờ tiến vào Tây Nguyên. Song song với kế hoạch tằm ăn dấu ấy, Trung Cộng dùng biện pháp xâm lăng kinh tế làm cho nền kinh tế vốn yếu kém của nước ta càng kiệt quệ, dân ta phụ thuộc hàng hoá Tàu càng nhiều càng tốt. Đến khi điều kiệnchín mùi, Việt Nam hoàn toàn bị tê liệt, thì Trung Cộng sẽ tuyên bố những điều mà chúng ta không ngờ trước được, như năm 2007 Trung Cộng đùng một cái tuyên bố Trường Sa và Hoàng Sa thuộc quyền quản lý của huyện Tam Sa .... và lịch sử của Trung Cộng đang dạy học con cái của họ xem Việt Nam là huyện của Tàu ....

Hiện nay không ai có thể đến tại vùng Đắc Nông để xem ai là người thực sự xây dựng công trình chế biến mõ bauxite, các ngõ đường vào công trình xây dựng khai thác mỏ bauxite đều canh gác nghiêm ngặt ... sự canh gác nghiêm ngặt như vùng cấm địa chẳng khác nào người dân không được bén mảng vùng Ải Nam Quan và các vùng đất biên giới đã mất. Sự cấm ngặt không cho bất cứ người dân nào đến các công trình bauxite ở Đắc Nông chắc chắn có gì thật bí ẩn trong đó .... có thể đó là bí mật an ninh quốc gia tức là Nguyễn Tấn Dũng thuần phục cho lính Trung Cộng đến Tây Nguyên khai thác tài nguyên bauxite.

Đài RFA trong chương trình phát thanh ngày 06/03/2009 vừa qua có đưa tin Trung Quốc đã có mặt trên Tây Nguyên như sau: “Vấn đề an ninh đất nước như thủ tướng (CSVN) Dũng hứa đã bị dư luận nghi ngờ khi phát hiện một số lớn công nhân người Trung Quốc đã có mặt tại khu vực có quặng mỏ, mặc dù chính quyền (CSVN) đánh tiếng cho rằng họ là công nhân sẽ làm việc trong các công ty Trung Quốc nhưng hình như thông tin này không làm dư luận an tâm. (điều này đã xác nhận có người Trung Cộng ở Tây Nguyên)

Nhà văn hóa Nguyễn Huệ Chi, lên tiếng về vấn đề này cũng đồng tình với những lo ngại mà nhiều người cho là trước mắt:

- Việc khai thác sẽ gây xáo trộn cho người dân tộc trên vùng Tây Nguyên nhưng nghiêm trọng hơn là người ta đem những người mà dân tộc Việt Nam cảnh giác từ hàng ngàn năm nay vào đấy khai thác mới đáng nói.

Tiến Sĩ Khoa Học Nguyễn Văn Khải cũng tỏ ra quan ngại khi để cho người nước ngoài khai thác khi nhà nước không có một kiến thức nào về vấn đề này: - Nhà nước không làm được việc thì chờ cho thế hệ sau này làm, chứ giao cho nước ngoài thì con cháu chúng ta còn gì?

Trong việc để Trung Quốc khai thác quặng bauxite tại Tây Nguyên chúng ta thử đặt một số vần đề với nhà cầm quyền CSVN như sau:

Một là, cách đây vài thập niên, nghĩa là vào năm 1980 Việt Nam có đề nghị khai thác mở bauxite ở Cao Nguyên Trung Phần và nhờ khối COMECON hợp tác (thời đó COMECON là khối cộng sản Đông Âu đứng đầu là Liên Sô). Sau khi nghiên cứu họ thấy không có lợi cho môi trường sinh thái cao nguyên nên họ đã đề nghị trồng cafe, tiêu, hạt điều và cao su có lợi hơn .... vậy tại sao năm 2009, bộ chính trị CSVN lại cho Trung Cộng đến khai thác và hủy diệt mọi nhu cầu sinh thái tại tây nguyên ... áp lực nào của Trung Cộng đối với bộ chính trị đảng CSVN?

Hai là, hiện nay Trung Cộng cũng có nhiều mỏ bauxite, tại sao họ không khai thác ngay trên đất nước của họ mà đến để khai thác tại Việt Nam, có phải đây là âm mưu thả chất độc đối với dân tộc Việt Nam trong những bước thâm độc xâm lăng của Trung Cộng hay không?

Ba là, nhìn chung việc khai thác mỏ bauxite ở Đắc Nông và Tây Nguyên không đem lại kinh tế cho cho Việt Nam, vậy thì Bộ Chính trị Đảng CSVN vẫn bất chấp mọi dư luận để Trung Cộng vào khai thác, như vậy có phải bộ chính trị Đảng CSVN âm thầm cấu kết với ngoại bang để chấp nhận sự hiện diện của lính Trung cộng ở Tây Nguyên hay không?

Việc khai thác mỏ bauxite ở Tây Nguyên đảng CSVN có đem đến nguồn lợi kinh tế bào cho người dân Việt Nam hay chỉ nghe theo sự mua chuộc của Trung Cộng để hợp thức hoá Trung Cộng hiện diện ở Tây Nguyên Việt Nam?

Lê thành Nhân