Tuesday, August 11, 2009

Sydney: Chào mừng Thiếu Tướng Lê Minh Đảo viếng thăm Úc Châu tháng 8 năm 2009 - Trần Văn Thinh



Buổi nói chuyện Thứ Bảy ngày 8 tháng 8 năm 2009 với chủ đề Vị trí trận chiến Xuân Lộc trong Quân Sử VNCH do gia đình Sư Đoàn 18BB tại Úc Châu tổ chức lúc 2 giờ chiều tại: TTVHSHCĐ/NVTD/NSW 6-8 Bibbys Road, Bonnyrigg Sydney NSW.

Chính thức khai mạc: Ban tổ chức Ls Hoàng Lập Chí kính mời mọi người đứng lên Chào quốc kỳ việt nam cộng hòa - Việt Úc và phút mặc niệm.

Sau nghi thức: Ban tổ chức chào mừng quan khách quý đồng hương, và giới thiệu phái đoàn đến từ Hoa Kỳ, Canada Thiếu tướng Lê Minh Đảo, Bảo Định Nguyễn Hữu Chế và tại Úc Châu: NT Trần Văn Quan, Đỗ Trung Chu, ông sơ lược vị Trí trận chiến Xuân Lộc trong Quân Sử VNCH.

Tiếp theo với sự tham dự:

Ông Mai Đức Hòa Chủ Tịch Tổng Hội Cựu Quân Nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa Úc Châu
Ông Trương Công Hải Chủ Tịch Hội Cựu Quân Nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa Sydney NSW.
Ông Nguyễn Việt Long: Chủ Tịch Hội Cựu Quân Nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa Victoria,
Ls Võ Trí Dũng: Chủ Tịch Cộng Đồng NgườI Việt Tự Do Sydney NSW
Chiến Sĩ Võ Đại Tôn
Ông Đoàn Bá Cang: nguyên Đại Sứ VNCH
Ông Lưu Trường Quang: nguyên Giám Đốc SBS Radio Việt ngữ Úc Châu
và có sự hiện diện tham dự các gia đình quân binh chuẩn thuộc QLVNCH

Ngoài ra còn có các Hội đoàn Đoàn Đoàn thể, các cơ quan truyền thông Việt ngữ và qúy đồng hương người Việt tỵ nạn cộng sản, trong bầu không khi mọi người lắng nghe Thiếu tướng Lê Minh Đảo, diễn gỉa trận đánh cuối cùng Xuân Lộc tháng 4 năm 1975, đồng hương đón nhận qua sự tình bày của Thiếu tướng Lê Minh Đảo, được tán thưởng bằng nhiều tràng pháo tay kính trọng gởi đến chiến sĩ VNCH Sư Đoàn 18 Bộ Binh thuộc Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa

Buổi nói chuyện được chấm dứt vào lúc 5:giờ 40 phút chiều cùng ngày, nhiều mgười nán lại chụp hình lưu niệm với Thiếu tướng Lê Minh Đảo và phái đoàn.

Trần Văn Thinh
Sydney 08/08/2009

Phóng sự hình ảnh














NGUY CƠ MẤT NƯỚC VÀ MẤT DÂN TỘC VIỆT NAM - Phạm Đình Hưng

Cựu Thẩm phán Phạm Đình Hưng

Bài thuyết trình tại Dại Hội Thường Niên Khu Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị Nam Cali ngày 19-07-2009.

Tình hình đất nước Việt Nam hiện nay vô cùng bi đát về mọi mặt. Dưới quyền cai trị độc tài chuyên chính và toàn trị của đảng Cộng sản Việt Nam từ 34 năm nay, nước Việt Nam thống nhất hiện là một trong 10 nước nghèo nhứt trên thế giới và đang tự nguyện đưa đầu vào ách thống trị của Trung Quốc.

Hôm nay, tôi xin nói về một chủ đề nóng bỏng. Đó là Nguy Cơ Mất Nước và Mất Dân Tộc Việt Nam đang ló dạng trên quê hương thân yêu của chúng ta. Mới đây, trong một cuộc phỏng vấn dành cho ký giả Đinh Quang Anh Thái, ông Hà Sĩ Phu Nguyễn Xuân Tụ ở Đà Lạt cũng đã nói lên nguy cơ “Mất nước và Mất dân tộc” giống như tôi.

(Đinh Quang Anh Thái/Người Việt, “Mất dân tộc còn tệ hơn mất nước”, Người Việt số 8616 ngày 10 tháng 7, 2009, California, Hoa kỳ).

Nội dung bài thuyết trình của tôi hoàn toàn căn cứ vào các sự kiện cụ thể, các sách báo đứng đắn, các sử liệu chính xác và các nguồn tin khả tín của Trung Quốc.

Ngay từ năm 1962, chánh trị gia Ngô Đình Nhu, Cố vấn chánh trị của cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm, đã có một nhận định chính xác về tương lai của nước Việt Nam. Trong quyển sách biên khảo rất công phu tựa đề “Chánh Đề Việt Nam”, tác giả Ngô Đình Nhu đã khẳng định rằng trong cuộc chiến tranh nồi da xáo thịt giữa Bắc Việt cộng sản (nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa) và Miền Nam tự do (nước Việt Nam Cộng Hòa), nếu Bắc Việt thắng thì cả nước Việt Nam sẽ lệ thuộc Trung Quốc. Lời tiên đoán nầy của nhà chánh trị Ngô Đình Nhu ngày nay đã trở thành một sự thật đau lòng cho tất cả người Việt, ở trong nước và ngoài nước.

I. Nguyên nhân sâu xa của hai cuộc chiến tranh Việt Nam

Hai cuộc chiến tranh Việt Nam kéo dài 30 năm từ 1945 đến 1975 đã xảy ra trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh (Cold War) giữa Thế giới Tự do và hệ thống các nưóc xã hội chủ nghĩa. Theo tác giả Ngô Đình Nhu, nguyên nhân sâu xa của hai cuộc chiến tranh thảm khốc nầy là sự xung đột lâu đời của nước Nga với các nước Tây Âu và sự thù hận của Trung Quốc đối với các nước trong bác quốc liên quân đã tấn công và xâu xé nước Trung Hoa trong thế kỷ 19. Thua kém các nước Tây Âu và Bắc Mỹ về mặt khoa học kỹ thuật, hai đế quốc cộng sản Liên xô và Trung Quốc đã lợi dụng chủ nghĩa cộng sản của hai người Đức ở Tây Âu (Karl Marx và Frederic Engels) như một phương tiện để đánh phá các nước Tây phương từ trong nội bộ của các nước tư bản và từ các thuộc địa của các nước nầy ở châu Á và châu Phi.

Riêng tại Việt Nam, Liên xô và Trung Quốc đã sử dụng một cán bộ cộng sản đệ tam quốc tế từ năm 1924 là Hồ Chí Minh để tiến hành chiến tranh đánh phá Pháp và Hoa Kỳ nhằm mục đích bành trướng chế độ cộng sản trên khắp ba nước Đông Dương và Đông Nam Á. Hai cuộc chiến tranh gọi là “giải phóng dân tộc” và “thống nhất đất nước” thật sự là hai cuộc chiến tranh “ủy nhiệm” do hai đế quốc cộng sản Nga-Hoa chỉ đạo và viện trợ vì quyền lợi của họ. Trong hai cuộc chiến tranh Việt Nam, vai trò và ảnh hưởng của Trung Quốc lớn hơn Liên xô vì các lý do sau đây:

1. Giáp giới Việt Nam, Trung Quốc là một đại quốc luôn luôn có tham vọng xác lập địa vị mẫu quốc đối với Việt Nam. Nhưng Trung Quốc đã mất ảnh hưởng đối với Việt Nam từ giữa thế kỷ 19. Giúp đỡ cho đảng Cộng sản Việt Nam tiến hành chiến tranh sau đệ nhị Thế chiến tức là giúp đỡ cho Trung Quốc tái lập ảnh hưởng đối với Việt Nam.

2. Để tránh đụng chạm với Pháp, Liên xô từ 1945 đến 1950 đã không công nhận chánh quyền Hồ Chí Minh; Josef Stalin năm 1951 chỉ đồng ý cho Trung Quốc viện trợ đảng Cộng sản Việt Nam đánh Pháp nhưng từ chối viện trợ trực tiếp cho Hồ Chí Minh. Trái lại, ngay sau khi thống nhứt nước Trung Hoa năm 1949, Mao Trạch Đông đã lập tức công nhận chánh quyền Hồ Chí Minh năm 1950 và viện trợ dồi dào cho đảng Cộng sản Việt Nam về võ khí, lương thực, thuốc men, nhân lực (cố vấn chánh trị, cố vấn quân sự, binh sĩ) và huấn luyện đào tạo các cấp chỉ huy Việt Minh Viện trợ quân sự của Trung Hoa đã “giải tỏa Việt Minh khỏi vòng vây của quân đội Pháp”. Giải phóng quân Trung Quốc còn chủ động tham gia các trận đánh lớn ở Đông Khê, Thất khê và Điện biên phủ dưới quyền chỉ huy của hai tướng Trần Canh và Vi Quốc Thanh. Chiến thắng Điện biên phủ ngày 7 tháng 5 năm 1954 đã giúp cho đảng Cộng sản Việt Nam chiếm được nửa nước Việt Nam.

(Xem tập tài liệu “Ghi Chép Thực Về Việc Đoàn Cố Vấn Quân Sự Trung Quốc Viện Trợ Việt Nam Chống Pháp”, Nhà Xuất bản Lịch sử Đảng Cộng sản Trung Quốc, Bắc kinh, 2002)

Trong cuộc chiến tranh gọi là “chống Mỹ, cứu nước” từ năm 1956 đến năm 1975, Trung Quốc đã tăng cường viện trợ vô cùng hùng hậu cho Bắc Việt cộng sản về phương tiện chiến tranh và chuyên viên phòng không, đồng thời cho quân Tàu trú đóng tại các tỉnh biên giới Việt-Trung để gìn giữ an ninh lãnh thổ giúp cho quân đội Bắc Việt điều động xuống chiến trường miền Nam Việt Nam. Liên xô chỉ viện trợ (có hoàn lại) cho Bắc Việt một số võ khí nặng ( phi cơ, chiến xa, đại pháo) trị giá 10 tỷ đô la.

3. Từ khi từ Moscowa về Diên An (thủ đô của Hồng quân Trung Quốc) năm 1938 đầu quân Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh đã tận tình phục vụ Trung Quốc nhiều hơn Liên xô vì Ông ta đã bị thất sủng trong một thời gian dài từ 1932 đến 1938 và suýt bị Stalin giết chết năm 1935. Theo tiết lộ của một nhân vật Tình báo Tàu trong một cuộc họp mật giữa Tổng Cục Tình báo Hoa Nam và Tổng Cục 2 Việt Nam, Hồ Chí Minh đã gia nhập đảng Cộng sản Trung Quốc. Khi trở về hoạt động tại Hoa Nam và trong hang Pác Bó ở tỉnh Cao Bằng, ông Hồ đã thi hành công tác của một đảng viên do đảng cộng sản Trung Quốc giao phó. Ngoài viên chánh ủy Tổng Cục Tình báo Hoa Nam, một nhân vật cao cấp trong phái đoàn thương thuyết của Trung Quốc về ranh giới mới trên đất liền và biển cả giữa Trung Quốc và Việt Nam còn đe dọa Trung Quốc sẽ công bố các cam kết bí mật của Hồ Chí Minh với đảng Cộng sản Trung Quốc để làm tiêu tan sự nghiệp (legacy) của Hồ Chí Minh và đảng Cộng sản Việt Nam

II. Tham vọng bá quyền của Trung Quốc và các hành động bán nước của đảng Cộng sản Việt Nam

Từ ngàn xưa, Hán tộc luôn luôn nuôi tham vọng bành trướng xuống phía Nam và tìm đường đi ra biển từ hai tỉnh Vân Nam và Quảng Tây. Nhưng họ đã vấp phải sự đối kháng mãnh liệt và hữu hiệu của dân tộc Việt Nam, một dân tộc thông minh và kiêu dũng trong dòng Bách Việt ở phía Nam sông Dương Tử đã bẻ gãy tất cả các cuộc xâm lăng võ trang từ phương Bắc để bảo tồn độc lập của nước Việt Nam.

Trước tham vọng bành trướng xuống phía Nam của Trung Quốc hiện nay, Việt Nam là nạn nhân đầu tiên của thiên triều Bắc kinh. Từ xưa đến nay, người Tàu luôn luôn xem nước Việt Nam là một quận, huyện của Trung Quốc. Trải qua 2000 năm lịch sử, nước Việt Nam chúng ta đã phải hứng chịu nhiều đau khổ và tũi nhục trong 1000 năm Bắc thuộc trước khi Ngô Quyền tranh thủ được nền độc lập của nước nhà năm 938. Tổ tiên chúng ta đã bao lần anh dũng chống ngoại xâm từ phương Bắc để gìn giữ độc lập của nước nhà và duy trì sự toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam. Tinh thần quốc gia dân tộc của tổ tiên chúng ta rất vững mạnh và kiên cường. Thành tích giữ nước vẻ vang của Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi và Quang Trung Nguyễn Huệ đã nhắc nhở người Việt Nam chúng ta đương thời nhiệm vụ chiến đấu để bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia và sự toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam chống lại âm mưu thôn tính của Trung Quốc với sự tiếp tay của bọn tay sai bán nước là đảng Cộng sản Việt Nam.

Trong thời đại ngày nay, Trung Quốc đã áp dụng một chiến lược thôn tính Việt Nam rất tinh vi và hiểm độc. Để thực hiện dễ dàng tham vọng bành trướng xuống phía Nam của Trung Quốc, người Tàu cần phải phá tan tinh thần đoàn kết của người Việt Nam và tiêu diệt sinh lực của dân tộc Việt. Nhằm mục đích thâm độc nầy, đảng Cộng sản Trung Quốc đã sai khiến Hồ Chí Minh và đảng Cộng sản Việt Nam liên tục tiến hành chiến tranh trong 30 năm để tàn phá nặng nề đất nước Việt Nam, giết chết cả chục triệu người dân Việt và chia rẽ dân tộc Việt về ý thức hệ, thành phần giai cấp, địa phương, tôn giáo và đảng phái. Cuộc xâm lăng Việt Nam của Trung Quốc đã thật sự bắt đầu từ năm 1950 với kế hoạch viện trợ cho Hồ Chí Minh và đảng Cộng sản Viêt Nam đánh Pháp để chiếm đoạt quyền lãnh đạo quốc gia. Trong thời gian viện trợ cho Việt Cộng gây nội chiến dưới chiêu bài đánh đuổi thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Trung Cộng đã có đủ thời giờ điều nghiên các vị trí chiến lược trọng yếu của Việt Nam và bố trí cán bộ gốc Hoa và thân Tàu vào các chức vụ chỉ huy trong Quân đội, Công an, Tình báo, bộ máy Nhà nước và các cấp ủy đảng để sẵn sàng thực hiện âm mưu thôn tính Việt Nam. Đồng thời với việc âm thầm chỉ đạo Đảng và Nhà nước cộng sản Việt Nam, Trung Quốc đã áp dụng chiến lược “Diễn Biến Hòa Bình” để từng bước lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam thay vì sử dụng võ lực tấn công ồ ạt như đã làm trong quá khứ. Với sự hợp tác tự nguyện của Hồ Chí Minh, hậu duệ của ông ta và tập đoàn lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam, kế hoạch tầm ăn dâu nầy của Trung Quốc đã đạt nhiều kết quả trong âm mưu đô hộ Việt Nam. Theo lịnh của Trung Quốc, Hồ Chí Minh và đảng Cộng sản Việt Nam đã đả kích chủ nghĩa quốc gia dân tộc là cục bộ địa phương cần phải gạt bỏ và thay thế bằng chủ nghĩa quốc tế đại đồng. Để phục vụ thiên triều Bắc kinh, Hồ Chí Minh và đảng Cộng sản Việt Nam đã không ngần ngại dâng hiến quan thầy Tàu một phần đáng kể lãnh thổ do tiền nhân chúng ta dầy công xây đắp và bảo vệ. Các hành động bán nước kể sau của Hồ Chí Minh và đảng Cộng sản Việt Nam cần phải được phơi bày ra trước ánh sáng để lịch sử và các thế hệ trẻ Việt nam sanh sau năm 1975 cùng thế giới văn minh phán xét:

1. Chuyển nhượng cho Trung Quốc hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Do quyết định của Hồ Chí Minh và bộ Chánh trị đảng Cộng sản Việt Nam, Thủ tướng nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (miền Bắc cộng sản), Phạm văn Đồng đã chánh thức gởi đến Thủ tướng Quốc vụ viện Trung Quốc Chu Ân Lai giác thư ngày 14 tháng 9 năm 1958 ủng hộ bản Tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Trung Quốc xác định chủ quyền của nước nầy trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Vào thời điểm nầy, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam Cộng Hòa (miền Nam tự do) vì nằm dưới vĩ tuyến 17. Khi Hải quân Trung Quốc tiến chiếm quần đảo Hoàng Sa và bị Hải quân Việt Nam Cộng Hòa chận đánh ngày 19 tháng 1 năm 1974 để bảo vệ sự toàn vẹn của lãnh thổ Việt Nam, Hà nội đã giữ thái độ im lặng hoàn toàn. Quyết định bán nước và thái độ bàng quang của Hà nội đã chứng minh Hồ Chí Minh và đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn đặt quyền lợi của Cộng sản quốc tế trên quyền lợi quốc gia. Đây là hành động phản bội Tổ quốc đầu tiên của đảng Cộng sản Việt Nam đã phạm trong thời bình để trả nợ chiến tranh cho Trung Quốc và đền đáp ơn nghĩa của Trung Quốc đã giúp đỡ Hồ Chí Minh và đảng Cộng sản Việt Nam lên ngai vàng tại Bắc bộ phủ và ngự trị trên miền Bắc Việt Nam sau chiến thắng Điện biên phủ nhờ sự trợ giúp của tướng Trung Quốc Vi Quốc Thanh và pháo binh Trung Cộng. Tham vọng quyền lực đã thúc đẩy Hồ Chí Minh và đảng Cộng sản Việt Nam tích cực phục vụ Trung Quốc, mở đường cho Hán tộc bành trướng xuống Đông Dương và Đông Nam Á, tiến chiếm biển Đông (South China Sea), đặt căn cứ hải quân trên quần đảo Hoàng Sa, khống chế con đường đi ra hải phận quốc tế của Việt Nam và kiểm soát giao lưu hàng hải quốc tế giữa Thái bình dương và Ấn độ dương. Quyết định chuyển nhượng âm thầm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc chứng tỏ đảng Cộng sản Việt Nam là chủ nhân thật sự của đất nước Việt Nam có quyền cho không hay bán một phần lãnh thổ mà không cần phải thông báo Quốc Hội hay xin Quốc Hội phê chuẩn

Hậu quả của giác thư Phạm văn Đồng năm 1958 vô cùng trầm trọng. Hiện nay, chúng ta không thể biết ngày nào có thể thâu hồi quần đảo Hoàng Sa về Tổ quốc Viêt Nam. Ngày đó chỉ đến sau khi đế quốc cộng sản Trung Hoa tan rã.

2. Cắt đất ở biên giới Việt-Hoa dâng cho Trung Quốc

Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, đảng Cộng sản là một nhà cầm quyền đã dám cắt một phần đất của Tổ Quốc để dâng cho ngoại bang bất chấp luật pháp nghiêm minh của tiền nhân: trong Quốc Triều Hình Luật do Nguyễn Trải soạn thảo có một điều khỏan phạt tử hình người dân bán đất thuộc quyền sở hữu của mình cho ngoại nhân.

Sau chuyến đi năm 1992 của bộ ba Đỗ Mười-Lê Đức Anh-Phạm văn Đồng đến Thành Đô, thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên, cầu hòa và dập đầu xưng thần với thiên triều Bắc kinh, đảng Cộng sản Việt Nam đã chuẩn bị một cống phẩm đầu tiên để lấy lòng quan thầy: dâng hiến Trung Quốc một phần đất liền dọc theo sáu tỉnh biên giới Việt-Hoa coi như trả một phần món nợ viện trợ của Trung Quốc trong cuộc chiến tranh Việt Nam lần thứ hai để đánh chiếm miền Nam, đào sâu thêm hận thù dân tộc và giết chết thêm cả chục triệu người Việt Nam vô tội. Cống phẩm nầy đã được dâng lên Bắc kinh bằng việc ký kết hiệp ước phân định lại biên giới Việt Hoa ngày 30-12-1999 theo chỉ thị của Lê Khả Phiêu, người lãnh tụ số 1 của đảng Cộng sản Việt Nam đã bị Bắc kinh sai khiến một cách dễ dàng vì đã lở dại sa vào mỹ nhân kế của người Tàu. Được Quốc Hội bù nhìn phê chuẩn nhanh chóng, hiệp ước bán nước nầy đã chuyển nhượng cho Trung Quốc trên 1,000 kí lô mét vuông đất liền ở biên giới Việt Hoa, tách rời khỏi lãnh thổ Việt Nam một số địa danh quan trọng như phía Bắc Sa Pa, ãi Nam Quan, thác Bản Giốc. Không màng đến trọng tội bán nước, nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam đã cùng với Trung Quốc tổ chức liên hoan ăn mừng việc hoàn thành công tác cắm cọc biên giới mới có lợi cho Trung Quốc.

3. Phân chia lại Vịnh Bắc Việt (Golf of Tonkin)

Hiệp ước 1887 ký kết giữa đại diện Pháp quốc Patenotre và đại diện Đại Thanh Lý Hồng Chương đã phân chia Vịnh Bắc Việt theo tỷ lệ như sau: Việt Nam: 63%, Đại Thanh: 37%. Nhưng năm 2000, Trung Quốc đòi phân chia lại Vịnh Bắc Việt theo tỷ lệ 50/50. Dưới tác động và ảnh hưởng của Trung Quốc, Tổng Bí thư đảng Lê Khả Phiêu, Chủ tịch nước Trần Đức Lương và Chủ tịch Quốc Hội Nông Đức Mạnh đã thỏa hiệp ký kết hiệp ước về Vịnh Bắc Việt ngày 25-12-2000 để đáp ứng yêu sách của Trung Quốc nhưng chỉ muốn xin lại 6% mà thôi. Theo hiệp ước mới nầy, Việt Nam mất 14,000 kí lô mét vuông biển trong Vịnh Bắc Việt. Trước sự ngoan ngoản của các lãnh đạo Đảng và Nhà nước cộng sản Việt Nam, Thủ tướng Chu Dung Cơ của Trung Quốc, người thay thế Lý Bằng, thông báo sẽ chuyển giao cho Việt Nam cộng sản 2 tỷ Mỹ kim dưới hình thức đầu tư. Số tiền lớn nầy được Trung Quốc xem như tiền mua một phần biển của Việt Nam trong Vịnh Bắc Việt. Một sự thật không thể chối cải là Cộng sản Việt Nam đã bán biển cho Trung Quốc để lấy 2 tỷ Mỹ kim và đã không bảo vệ quyền lợi của quốc gia Việt Nam bằng nhà cầm quyền thực dân Pháp. Vì vụ bán nước lần thứ ba nầy quá lớn, Quốc Hội bù nhìn của Cộng sản Việt Nam đã trì hoản đến năm 2004 mới âm thầm phê chuẩn hiệp ước phân định lại Vịnh Bắc Việt. Trong khi gia tăng áp lực đối với đảng Cộng sản Việt Nam để nhanh chóng ký kết hiệp ước bán biển trong Vịnh Bắc Việt, Thủ tướng Quốc vụ viện Trung Quốc Lý Bằng đã nhiều lần bộc lộ cảm tình với Nông Đức Mạnh, Chủ tịch Quốc Hội Việt Nam cộng sản, và bày tỏ ý muốn Nông Đức Mạnh sẽ là Tổng Bí thư đảng Cộng sản Việt Nam. Nông Đức Mạnh là hậu duệ của Hồ Chí Minh được Trung Quốc hậu thuẫn mạnh mẽ để tiếp nối sự nghiệp bán nước của cha y.

4. Hợp tác đánh cá và khai thác tài nguyên của biển cả

Các cống phẩm “dâng đất biên giới, hiến biển Vịnh Bắc Việt” của tập đoàn lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam vẫn chưa thỏa mãn tham vọng thôn tính Việt Nam của Trung Quốc. Bộ Chánh trị đảng Cộng sản Việt Nam lại nhận thêm một yêu sách mới: Chuyển nhương cho Trung Quốc 22,000 (hai mươi hai ngàn) kí lô mét vuông biển Việt Nam từ Quảng Ninh đến Quảng Ngải dưới hình thức hợp tác đánh cá và khai thác tài nguyên của biển cả giữa hai nước Trung Quốc và Việt Nam. Đáp ứng yêu cầu của Trung Quốc, một hiệp ước thứ ba đã được bí mật ký kết năm 2000 để giao cho Trung Quốc trọn quyền kiểm soát và khai thác biển Đông nằm trong lãnh hải, vùng tiếp cận lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam ở phía Bắc Quảng Ngải (vĩ tuyến 15). Căn cứ vào hiệp ước nầy, Trung Quốc đã ngang nhiên cấm đánh cá trong các vùng biển của Việt Nam, bắn giết và bắt phạt ngư dân Việt Nam vi phạm các biện pháp hành chánh của họ, xua đuổi hai công ty British Petrolium và Exxon-Mobile không được hợp tác với Việt Nam cộng sản thăm dò và khai thác dầu khí trong các vùng biển của Việt Nam. Nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam không dám phản đối Trung Quốc để bảo vệ quyền lợi của quốc gia và ngư dân Việt Nam.

Hiệp ước hợp tác đánh cá và khai thác tài nguyên ký kết với Trung Quốc năm 2000 đã được nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam xem như một hợp đồng nên khỏi cần được Quốc Hội bù nhìn phê chuẩn. Hiệp ước nầy đã mở đường cho đế quốc cộng sản Trung Hoa chiếm hữu biển Đông và công bố bản đồ “Lưỡi Bò”bao gồm 80% biển Đông và thu hẹp lãnh hải Viêt Nam dưới 12 hải lý.

Để chánh thức hóa sự chuyển nhượng vĩnh viễn cho Trung Quốc quần đảo Hoàng Sa (nằm trên vĩ tuyến 17) và các vùng biển Việt Nam ở phía Bắc vĩ tuyến 15 (Quảng Ngải), nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã không đệ nạp Liên Hiệp Quốc hồ sơ thềm lục địa Việt Nam ở phía Bắc vĩ tuyến 15 và tuyên bố không có tranh chấp trong vùng biển nầy (vì đã chuyển nhượng cho Trung Quốc)

5. Hợp tác khai thác bô xít (bauxite) tại Cao nguyên Trung Phần

Dưới hình thức hợp tác khai thác bô xít để lấy Alumina, Trung Quốc đã và đang tiến hành âm mưu xâm chiếm Cao nguyên Trung phần, một vị trí chiến lược sanh tử của Việt Nam. Sau khi khống chế các vùng biển của Việt Nam ở phía Đông, Trung Quốc có khả năng thành lập một khu tự trị của người Hoa và người sắc tộc thiểu số trên Cao nguyên Trung phần ở phía Tây và tách rời nước Việt Nam ra hai miền để làm suy yếu sức mạnh của dân tộc Việt Nam. Kế hoạch “Diễn Biến Hòa Bình” sẽ giúp cho Trung Quốc thôn tính và Hán hóa Việt Nam với sự tiếp tay của tập đoàn lãnh đạo Cộng sản Việt Nam hiện nay do Nông Đức Mạnh, Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Phú Trọng và Trương Tấn Sang cầm đầu. Dưới sự lãnh đạo của đảng Cộng sản, Việt Nam đang đứng trước hiểm họa Bắc thuộc lần thứ hai.

Hậu quả về an ninh quốc gia của vấn đề Trung Quốc khai thác bô xít trên cao nguyên Trung phần nghiêm trọng hơn vấn đề ô nhiễm môi sinh và nhiễm độc nguồn nước của các con sông Là Ngà, Đồng Nai, Sông Bé và Sài gòn cung cấp nước tiêu dùng cho dân cư các tỉnh Bình Dương, Bình Phước, Đồng Nai và thành phố Sài gòn. Hai hâu quả tai hại nầy sẽ quyết định sự sinh tồn của đất nước và dân tộc Việt Nam. Mặc dầu có sự chống đối của một số cựu tướng lãnh cộng sản như Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên và một số đông trí thức trong nước do giáo sư Nguyễn Huệ Chi đứng đầu, đảng Cộng sản Việt Nam vẫn nhứt quyết tiến hành dự án khai thác bauxite tại Cao nguyên Trung phần vì theo lời của viên chánh ủy cơ quan Tình báo Hoa Nam “tiền đã trao, cháo phải múc”.

III. Âm mưu sáp nhập nước Việt Nam vào Trung Quốc và Hán hóa dân tộc Việt Nam

Tham vọng thôn tính Việt Nam của Trung Quốc đã được bộc lộ rõ rệt trong một cuộc họp mật giữa Tổng Cục Tình báo Hoa Nam và Tổng Cục 2 Việt Nam. Tài liệu mật về cuộc họp nầy đã được công bố trên Internet và đăng tải trên nhựt báo Sài gòn Nhỏ số 226 ra ngày 03-07-2009.

Tổng kết cuộc họp, viên Chánh ủy Tổng Cục Tình báo Hoa Nam đã nêu ra một số ý chánh, trích dẫn nguyên văn như sau:

- Hội nghị đã “bàn về chuyện hợp nhất hai quốc gia trong tương lai”

- “Hợp kết Trung Quốc Việt Nam có thể là một mốc lịch sử vĩ đại trên đường phát triển

của tổ quốc”

- “Trong tình thế hiện nay, Việt Nam không còn chọn lựa nào khác, không còn con đường nào khác hơn là trở về với Tổ quốc Trung Hoa vĩ đại”

- “Việc Việt Nam trở về với tổ quốc Trung Hoa vĩ đại là việc trước sau sẽ phải đến. Không sớm thì muộn. Mà sớm thì hơn muộn. Trong lịch sử, Việt nam từng là quận, huyện của Trung Quốc, là một nhánh của cây đại thụ Trung Hoa.”

- “Sự lựa chọn (giữa Trung Quốc và Hoa kỳ) chỉ còn có một. Và ở đây, các đồng chí Việt Nam tỏ ra có lựa chọn đúng. Ngày nay, Trung Quốc vĩ đại phải dành lại vị trí đã có của mình. Có Việt Nam nhập vào, Trung Quốc đã vĩ đại lại càng thêm vĩ đại.”

- “Trong tướng lĩnh, phần nhiều là người của ta, do ta đào tạo, cất nhắc. Công nầy là nguyên chủ tịch Lê (tức là Lê Đức Anh), người rất biết nhìn xa trông rộng”.

- “Tăng cường viết và nói hằng ngày, hằng giờ, biện luận cho dân thấy cái lợi của việc sát nhập”.

- “Một khi Việt Nam đã nhập vào Trung Quốc thì vùng Tây nguyên của Việt Nam là của chung nước ta”.

- “Phải trấn an các cán bộ các cấp, từ trung ương đến địa phương để họ thấy rằng sau khi hợp nhất, mọi vị trí, quyền lợi, bổng lộc của họ không bị suy suyển. Các đơn vị hành chánh sẽ được giữ nguyên trong một thời gian dài trước khi áp dụng mô hình hành chánh chung của toàn quốc”.

- “Trong thời đại hiện nay ., sự sát nhập trở lại của Việt nam và toàn bán đảo Đông Dương tiếp theo là điều tất yếu”.

- “Việc cuối cùng là mô hình quản trị Việt nam trong tổ quốc thống nhứt. Tỉnh hay khu tự trị”.

Trong khi tổng kết hay hiểu thị, viên chánh ủy Tàu họ Lương còn tiết lộ hai bí mật liên quan đến Hồ Chí Minh và Nông Đức Mạnh, nguyên văn như sau:

1. “ Trung Quốc và Việt Nam là một. Đó là chân lý đời đời. Đó cũng là lời của Hồ đồng chí (tức là Hồ Chí Minh) trong lễ tuyên thệ gia nhập đảng Cộng sản Trung Quốc. Hồ đồng chí tôn kính còn dạy: Trung Quốc và Việt Nam như môi với răng. Môi hở thì răng lạnh. Có nghĩa là hai nước là hai bộ phận trong cùng một cơ thể”.

2. “Nông đồng chí (tức là đồng chí Nông Đức Mạnh) từng tự hào nhận mình là người Choang (Zhuang) trong cuộc gặp gở các đại biểu trong Quốc vụ viện. Mà dân tộc Choang là gì? Là một bộ phận của đại gia đình các dân tộc Trung Quốc”.

Nông Đức Mạnh là con tư sinh của Hồ Chí Minh đã có với người nữ cán bộ hộ lý tên Nông thị Ngác bí danh Nông thị Trưng trong thời gian ẩn trú trong hang Pác Bó ở Cao Bằng năm 1940.

Nói tóm lại, nếu bản tổng kết cuộc họp mật giữa Tổng Cục Tình báo Hoa Nam và Tổng Cục 2 Việt Nam sẽ được Trung Quốc thực hiện nay mai với sự cộng tác của các Thái thú Trung Quốc trong đảng Cộng sản Việt Nam thì nước Việt Nam sẽ bị xóa tên trên bản đồ thế giới, dân tộc Việt sẽ bị Hán hóa và trở thành một dân tộc thiểu số trong đế quốc cộng sản Trung Hoa giống như Tây Tạng, Mông Cổ, Mãn Châu và Hồi Cương dưới quyền thống trị của Hán tộc. Đồng bào người Việt ở trong nước và ngoài nước có lưu ý đến các vụ nhà cầm quyền Trung Quốc thẳng tay đàn áp và giết người dã man đã và đang xảy ra tại Tây Tạng và Tân Cương hay không? Đứng trước nguy cơ mất nước và mất dân tộc hiện nay, chỉ có Nhân dân Việt Nam mới có đủ sức mạnh cứu nước và dân tộc ra khỏi đại họa thống trị và đồng hóa của đế quốc cộng sản Hán tộc. Đã đến lúc toàn dân Việt ở trong và ngoài nước phải dũng cảm đứng dậy liên kết chiến đấu đập tan họa nội xâm và họa ngoại xâm, thành lập nền Đệ Tam Cộng Hòa Việt Nam trên nền tảng dân chủ pháp trị để bảo vệ sự sinh tồn của Tổ quốc và Dân tộc Việt Nam

Phạm Đình Hưng
California, ngày 19 tháng 7 năm 2009



Monday, August 10, 2009

Hai tháng Chín: Quốc Khánh hay Quốc Nhục ? - Nguyễn Quang Duy

Nguyễn Quang Duy

Bấy lâu nay đảng cộng sản vẫn trơ trẽn, lãng phí tiền thuế của dân, rềnh rang tổ chức ngày cướp được chính quyền. Năm nay một đòan văn công hằng trăm người đã được sửa soạn để sang Melbourne Crown Casino mừng “ngày vui của đảng cộng sản Việt Nam”, ngày đã cướp được chính quyền. Ngày này sẽ được trực tiếp truyền hình và phát về Việt Nam tuyên truyền lường gạt đồng bào quốc nội “Úc châu mừng Quốc Khánh 02/09/2009”.

Quốc khánh phải là ngày vui của toàn dân tộc. Một sự thật không thể chối cãi dân tộc Việt chưa có ngày vui này. Người Việt Tự Do ngược lại xem ngày 2 tháng 9 là ngày quốc nhục.

Cộng sản cướp chính quyền

Ngày 09/03/1945, người Pháp đã bị người Nhật loại khỏi chính trường Đông Dương. Vua Bảo Đại tuyên bố hủy bỏ các hòa ước đã được triều đình Huế ký kết trước đó với Pháp. Sau đó đến lượt người Nhật đầu hàng. Vua Bảo Đại và chính phủ Trần trọng Kim đại diện chính danh và hợp pháp cho Việt Nam Độc Lập Tự Do.

Chính phủ Trần trọng Kim vừa lo thu hồi độc lập, vừa lo nạn đói, lo cải cách xã hội và giáo dục, lo soạn thảo hiến pháp, lo xây dựng một quốc gia dân chủ và giầu mạnh. Nhưng an ninh quốc gia lại bị Việt Minh cộng sản đe dọa, vì tổ chức này chủ trương dùng bạo lực nổi dậy cướp chính quyền.Trong tình hòa hợp dân tộc, ít nhất năm lần chính phủ Trần Trọng Kim đã tiếp xúc với đại diện Việt Minh cộng sản mời hợp tác nhưng không thành.

Nhân ngày 17/08/1945, công chức chính phủ Trần trọng Kim đã tổ chức một cuộc biểu tình lớn. Việt Minh cộng sản lợi dụng cơ hội, trà trộn vào hàng ngũ công chức, chăng những cờ cộng sản, những biểu ngữ riêng và hô những khẩu hiệu riêng. Trong hồi Ký Thượng tướng quân đội Cộng sản Hoàng Cầm, viết rất rõ về hành động của kẻ cướp nước như sau: “… Theo hiệu lệnh đã quy định, ba đội viên tuyên truyền xung phong xông lên, chĩa súng dồn "ban tổ chức" vào một góc, lập tức một đội viên tự vệ của chúng tôi tiến nhanh tới chân kỳ đài vung lưỡi dao bén sắc chém đứt dây lá cờ "quẻ ly" của chính quyền bù nhìn do Nhật dựng lên …”

Ngày 19/08/1945, Việt Minh tổ chức biểu tình cướp chính quyền. Trong hồi ký, Bác Sĩ Nguyễn Xuân Chữ, chủ tịch của Ủy Ban Giám Đốc Chính Trị Miền Bắc, đã diễn tả hành động này như sau: “… sau những lời vẫn có vẻ thân mật nhưng không đi đến một quan điểm chung, thanh niên đã vào nói chuyện tôi hôm trước, tiến tới chỉa một ngọn súng lục vào mổ y sĩ và nói: Trong đại sự, phải gạt bỏ tình nghĩa riêng tây, tôi yêu cầu ông mở cửa …” Bác Sĩ Nguyễn Xuân Chữ cho biết ông đã chỉ tay vào khẩu súng và nói: “Ông không cần phải giơ súng ra. Tôi không sợ bị đe dọa, nhưng tôi buồn cho tương lai nước nhà.”

Ngày 02/09/1945 là ngày đảng cộng sản tuyên bố cướp được chính quyền. Ngày này tại Quảng Trường Ba Đình Hà Nội, lãnh đạo cộng sản Hồ Chí Minh đã đọc “Bản Tuyên Ngôn Độc Lập” và tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Mở đầu là lời trích từ bản Tuyên Ngôn Độc Lập năm 1776 của Hoa Kỳ: "Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền đựơc sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc." Toàn bản Tuyên Ngôn không đá động gì đến đảng cộng sản, đến chủ nghiã xã hội hay chủ nghĩa cộng sản.

Rồi từ ngày 02/09/1945 Hồ chí Minh và đảng cộng sản đã từng bước cướp đi mọi quyền làm người. Những quyền mà ông cha ta đã phải đổ bao xương máu giành lại từ Tầu Tây Nhật.

Cộng sản trước bắt tay với Pháp tiêu diệt mọi thành phần, mọi tầng lớp không theo cộng sản. Sau đảng cộng sản làm nhiệm vụ quốc tế đưa đất nước vào 4 cuộc chiến gây bao tang thương, chết chót, hận thù. Mà trong đó đã có 2 cuộc chiến với các quốc gia cộng sản khác, Cam Bốt và Trung Cộng. Hai cuộc chiến sau chỉ vì những tranh chấp nội bộ quốc tế cộng sản. Vì thế khi nhắc đến Việt Nam mọi người đều nghĩ ngay đến xứ sở của chiến tranh.

Theo lệnh Nga Tầu, đảng cộng sản thi hành đấu tranh giai cấp, cải cách ruộng đất, cải tạo tư sản,… gây bao tang thương đổ vỡ cho dân tộc Việt Nam. Sử dụng súng đạn Nga Tầu, đảng cộng sản xé bỏ các hiệp định quốc tế Genève và Paris, xua quân cưỡng chiếm miền Nam chém giết dân lành vô tội, đưa cả nước vào nhà tù cộng sản.

Mất tự do hàng triệu người đã bỏ nước ra đi, hy sinh trên biển cả hay tha hương trên đất khách quê người. Đảng cộng sản còn đày hàng triệu lao nô Việt để lấy ngoại tệ trả nợ chiến tranh hay để duy trì quyền lực.

Sau sáu mươi năm cầm quyền, đảng cộng sản nay đứng đầu thế giới về tham nhũng. Ngược lại, Việt Nam là một nước nghèo và lạc hậu nhất thế giới. Văn hoá, xã hội, giáo dục thì suy đồi khủng hoảng. Tình cảnh Việt Nam đã được đồng bào Quốc nội diễn tả như sau: (trích Lời kêu gọi cho Quyền thành lập và hoạt động đảng phái tại Việt Nam) hay "... là sự hư hỏng lương tâm, tồi tệ nhân cách, bế tắc giáo dục, gian dối thông tin, tùy tiện luật pháp, hỗn loạn xã hội; là cán bộ đảng viên lộng quyền và tham nhũng tràn lan và ngang nhiên; là Nhân dân bị bóc lột tài sản và công sức, bị hăm dọa cuộc sống và nghề nghiệp; là dân tình điêu đứng và phẫn uất; là giới trẻ mất niềm tin, lý tưởng sống và định hướng tương lai; là các tôn giáo bị lũng đoạn và tước đoạt; là đồng bào hải ngoại ngao ngán và bất hợp tác; là biên cương Tổ quốc bị ngoại bang lấn chiếm và đe dọa; là chính thể bị phê phán lạc hậu, độc tài và Quốc thể bị coi thường; ... ""... Việt Nam hôm nay trở thành Quốc gia bị tụt hậu quá xa so với các Nước trong khu vực và thế giới. Quốc nhục này và các quốc nạn khác khó bề tẩy xóa ..." (trích Tuyên Ngôn Tự Do Dân Chủ 2006).

Độc lập dân tộc không còn giữ được, đảng cộng sản lộ nguyên hình tay sai cho ngoại bang Trung cộng. Hoàng Sa, Trường Sa, Nam Quan, Bản Giốc, vịnh Bắc Bộ và nhiều phần đất nước đã được dâng hiến cho đảng cộng sản Trung Hoa. Đảng Cộng sản Việt Nam lại cấu kết với Trung Cộng tận dụng mọi tài nguyên đất nước.

Mọi tiếng nói kêu đòi công bằng, dân chủ và bảo vệ tổ quốc Việt Nam đều bị đảng cộng sản bắt bớ, khủng bố, sách nhiễu... Đảng Cộng sản Việt Nam đang tiếp tục cuộc chiến chống lại mọi thành phần dân tộc, không chấp nhận độc quyền cộng sản.

Hai Tháng Chín Ngày Quốc Nhục

Ngày Quốc nhục vì là ngày đảng cộng sản đã sử dụng bạo lực để cướp chính quyền.

Ngày Quốc nhục vì Hồ chí Minh và đảng cộng sản đã phản bội Tổ Quốc và Dân tộc theo lệnh Tầu Nga xây dựng một chế độ cộng sản tại Việt Nam.

Ngày Quốc nhục vì từ đó Hồ chí Minh và đảng cộng sản đã từng bước cướp đi mọi quyền làm người, mà ông cha ta đã phải đổ bao xương máu giành lại từ Tầu Tây Nhật.

Ngày Quốc nhục vì đảng cộng sản làm nhiệm vụ quốc tế đưa đất nước vào 4 cuộc chiến, đấu tranh giai cấp, cải cách ruộng đất, … gây bao tang thương chết chót cho dân tộc. Hồ chí Minh đã chết đúng vào ngày quốc nhục 02/09/1969. Cũng là ngày để chúng ta xét tội Hồ chí Minh và đảng cộng sản Việt Nam.

Ngày Quốc nhục vì đảng cộng sản xé bỏ các hiệp định quốc tế Genève và Paris, làm nhiệm vụ quốc tế, sử dụng súng đạn Nga Tầu, xua quân cưỡng chiếm miền Nam chém giết dân lành vô tội, đưa cả nước vào nhà tù cộng sản.

Ngày Quốc nhục vì hàng triệu dân Việt không sống được dưới chế độ độc tài đảng trị đã phải bỏ nước ra đi tha hương nơi đất khách quê người.

Ngày Quốc nhục vì Việt Nam nay là một nước nghèo nàn và lạc hậu nhất thế giới. Văn hoá, giáo dục, xã hội suy đồi.

Ngày Quốc nhục vì đảng cộng sản đã dâng Hoàng Sa, Trường Sa, Nam Quan, Bản Giốc, vịnh Bắc Bộ và nhiều phần đất nước cho ngoại bang Trung Cộng.

Ngày Quốc nhục vì đảng cộng sản đã và đang đàn áp mọi tiếng nói dân chủ và yêu nước. Chúng sẽ tiếp tục đàn áp nếu chúng ta không cùng lên tiếng hổ trợ cho cuộc đấu tranh của đồng bào Quốc nội.

Ngày Quốc nhục vì đảng cộng sản đã lấy ngày cướp nước 2-9 làm ngày "Quốc Khánh" của Việt Nam. Tiếp tục dùng tiền thuế cuả dân tuyên truyền cho công trạng cướp và phá hoại đất nước của chúng. Năm nay lại một đoàn văn công hằng trăm người đã được sửa soạn để sang Melbourne Crown Casino mừng “ngày cướp nước”. Ngày này sẽ được trực tiếp truyền hình và phát về Việt Nam tuyên truyền lường gạt đồng bào quốc nội “Úc châu mừng Quốc Khánh 2/9/2009”. Tủi nhục nếu chúng ta không tích cực hành động bẻ gẫy trò bịp bợm này.

Đóng góp và tham gia biểu tình phản đối trò bịp bợm “Úc châu mừng Quốc Khánh 02/09/2009”

Cộng đồng đã lên tiếng kêu góp không tiếp tay đảng cộng sản chào mừng “quốc khánh Việt Cộng”, không quảng cáo, không bán vé, không mua vé, không đi xem, kêu gọi tẩy chay và tích cực tham gia các cuộc biểu tình chống lại trò bịp bợm ném đá dấu tay của đảng cộng sản Việt Nam.

Đóng góp và tham gia biểu tình là đồng thanh cho đảng cộng sản biết cộng đồng Úc châu chúng ta coi ngày này là ngày quốc nhục.

Đóng góp và tham gia cuộc biểu tình cũng là tiếp tay hỗ trợ cho công cuộc đấu tranh đòi tự do và dân chủ cho Việt Nam. Đòi đảng cộng sản phải bảo vệ lãnh thổ tổ tiên để lại, phải công bố lộ trình cho một cuộc bầu cử tự do, công bằng với giám sát quốc tế bầu ra một Quốc hội Lập Hiến và một chính phủ dân chủ.

Đóng góp và tham gia cuộc biểu tình là gia tăng tiếng nói, gia tăng sức đấu tranh tạo điều kiện quốc nội đứng lên giải thể chế độ độc tài cộng sản.

Như thế đóng góp và tham gia cuộc biểu tình chính là góp tay góp sức xoá bỏ ngày “Quốc nhục mất nước” để tạo ngày vui chung toàn dân tộc Việt Nam: Ngày Tự Do Dân Chủ cho Việt Nam.

Ông bà ta đã dạy "một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao." Cũng thế cuộc đấu tranh giành chính nghiã, cho tự do, cho dân chủ, cho vẹn toàn lãnh thổ chỉ có thể thành công với sự góp công góp sức cuả mỗi người trong cộng đồng chúng ta.

Nguyễn Quang Duy
Melbourne, Úc Đại Lợi
10/08/2009


HẬU QUẢ BA NĂM XÁO TRỘN TẠI MIỀN TRUNG (1964 - 1967) - Mường Giang

Mường Giang

Theo J.Race viết trong The lost revolution cho biết ý đồ xâm lăng Miền Nam VN của Hồ Chí Minh và cộng đảng, đã có từ năm 1958 khi Hà Nội ra lệnh cho các cán bộ nằm vùng tại VNCH, khui lại các hầm vũ khí được cán binh chôn dấu trước khi tập kết ra Bắc, khi đất nước chia hai vào tháng 7-1954. Cũng trong năm này, khi Lê Duẩn từ miền Nam trở ra Bắc, thì Hà Nội lập tức họp Trung ương đảng lần thứ 15 để thành lâp đảng bộ miền Nam, tức Mặt Trận Giải Phóng vào ngày 20- 12-1960, tấn công VNCH bằng hai mặt trận chính trị và võ trang, mà mở đầu là ba cuộc nổi loạn, gọi là đồng khởi tại Trà Bồng (Quảng Ngãi), Mõ Cầy (Bến Tre) và Bắc Ruộng (Bình Thuận).

Ngày nay dù có bị bôi bác đến mức nào chăng nửa, thì sự thật cũng là sự thật. Ðó là thành quả sau chín năm hiện hữu của nền đệ nhất Cọng Hòa Miền Nam từ 1955 đến ngày 01-11-1963, đã tạo được một chính quyền hợp hiến và nền an ninh trật tự, suốt từ Bến Hải vào tới Cà Mâu. Nên ai muốn nói gì thì nói, tính cho tới ngày mất nước, mất đạo sau tháng 4-1975, Giáo Hội Phật giáo-Việt Nam Thống Nhất (GHPGVNTN) tại Miền Nam VN, nhờ hoàn cảnh thuận tiện của đất nước, nên đã thăng hoa rực rỡ nếu đem so sánh với thời kỳ từ năm 1954 trở về trước, hay với Giáo Hội Phật Giáo Quốc Doanh của Bắc Việt từ 1945-1975, vì đã thực hiện rất nhiều công trình lợi ích cho xã hội, trong đó quan trọng nhất vẩn là lãnh vực giáo dục.

Từ năm 1964 Viện Hóa Ðạo hoạt động rất mạnh, đào tạo được một số tăng ni trẻ tuổi, có kiến thức văn hoá lẫn Phật pháp cao và đã trở thành những cao tăng, học giả, kiến thức cũng như đạo đức vang vọng khắp năm châu. Nhiều người trong số này, được gởi sang tu học tại Ấn Ðộ, Tích Lan, Nhật, Pháp kể cả Hoa Kỳ. Khắp nơi chùa chiền được tu bổ cũng như xây dựng thêm, nổi tiếng như các chùa Việt Nam Quốc Tự, Vĩnh Nghiêm.

Tại các tỉnh thị, thành phố kể cả các thị trấn lớn từ bên này cầu Hiền Lương-Quảng Trị, vào tận Cà Mâu, Hà Tiên ... ở đâu cũng có các Khuông Hội Phật Giáo và các trường tiểu-trung học Bồ Ðề. Theo thống kê của Tổng Vụ Giáo Dục, thuộc Viện Hóa Ðạo, tính tới ngày 16-06-1967, khắp Miền Nam đã có 80.000 học sinh tiểu trung học, do 400 giáo chức, dạy dỗ tại 112 trường Bồ Ðề.

Ngoài ra Ðại Học Vạn Hạnh tại Sài Gòn, cũng đã được khai giảng từ niên khóa 1967, do sư ông Thích Minh Châu ( Ðinh Văn Nam) làm viện trưởng. Bên cạnh còn có thượng tọa Thích Thiện Ân tốt nghiệp tại Mỹ, là khoa trưởng Văn Khoa và Nhân Văn. Vì nhà trường áp dụng theo lối giáo dục Hoa Kỳ, cấp chứng chỉ cho các khóa học hằng ba tháng ... nên sinh viên theo học rất đông, để có chứng chỉ hoãn dịch. Sau tháng 5-1975, tất cả các cơ sở cũng như chùa chiền, nhà thờ của Phật giáo, đạo Thiên Chúa, Tin Lành, Cao Ðài, Hòa Hảo. đều bị giặc Hồ cướp đoạt tích biên, để đảng làm của riêng hay công sở. Nhiều chức sắc tôn giáo, bị giam tù đến chết nơi ngục thất, trong số này có nhiều tuyên uý, bị gạt đi tù tận các trại giam nơi biên giới Hoa-Lào-Việt.

Nay đọc lại những bài báo cũ của Lý Chánh Trung, đăng rải rác trên các tờ Ðất Mới, Ðối Diện, Ðiện Tín, Tin Sáng, Lập Trường ... công khai nhục mạ, chống đối chính quyền Miền Nam VN, đồng thời hết lòng trung hiếu, ca tụng Hồ Chí Minh và VC, ta mới thấy thấm thía về cái giá tự do, mà người VN từ sau ngày 30-04-1975 đã đổi bằng máu lệ, vàng tiền cùng sinh mạng, khi liều chết vượt biển tìm tự do trên biển Ðông. Tất cả đều là tội lỗi oan nghiệt, qua những tiếng khóc nức nở của các nạn nhân chiến tranh trong suốt 20 năm qua. Tất cả đều do Hồ Chí Minh và cộng đảng, vì tham lợi đảng phái và sự nghiệp cá nhân, mà bất chấp mọi thủ đoạn gây nên cảnh núi xương sông máu, khiến cho không biết bao nhiêu triệu đồng bào phải vong thân khổ lụy, lôi kéo theo đất nước và dân tộc Việt sắp bị Tàu đỏ thôn tính và đồng hóa trong một tương lai gần, có thể đếm được trên đầu mười ngón tay.

Sau khi Hiệp định Geneve được ký kết vào năm 1954, tại Huế CS gài lại một số cán bộ nằm vùng làm cơ sở, móc nối dụ dỗ nhiều thành phần khoa bảng, thượng lưu của đất thần kinh vào đảng. Huế muôn đời vẫn còn đó, nên ai làm sao có thể quên được những tên tuổi trí thức đương thời như Lê Khắc Quyến, Nguyễn Tuyên, Bùi Tường Huân, Nguyễn Duy Tài, Trần Quang Thuận ... và Ðai Học Huế với một số sinh viên theo giặc, lợi dụng tự do tín ngưỡng và nền dân chủ pháp trị phôi thai của VNCH, để “dùng chính quả tim mình, làm trái phá mở đường rước xe tăng và bộ đội Hà Nội vào đô hộ dân tộc”.

Huế những năm chống Mỹ cứu đảng, từ 1964-1967 qua các giáo sư sinh viên CS nằm vùng trong đại học như Trần Quang Long, Ngô Kha, Phan Duy Nhân, Lê Thanh Xuân, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Trần Vàng Sao, Lê Minh Trường, Nguyễn Ðắc Xuân. Những người này đến đại học trốn lính và mượn phương tiện Quốc Gia, để vót nhọn thơ thành chông xuyên qua gan những người lính trận VNCH, đang bảo vệ mạng sống cho mình. Cũng sẽ mài thơ như kiếm sắt, chặt đầu đồng bào Miền Nam theo đạo Thiên Chúa tại Huế, Ðà Nẳng, để đào sâu thêm sự chia rẽ lương giáo.

Chính Hoàng Phủ Ngọc Tường, tên phản tặc sát nhân đồng bào Huế trong Tết Mậu Thân 1968, đã vênh váo thừa nhận là bọn chúng chỉ lợi dụng sự học hành, để tranh đấu, nổi loạn, ném lựu đạn đuổi Mỹ, chống Quốc Gia, hoàn thành sự nghiệp rước cọng sản về dầy mã tổ Hồng Lạc, như ngày nay chúng ta đã thấy. Tóm lại sự nhục nhã của một thời loạn lạc nay đã là một pho sử miệng, muôn đời cười chê đám trí thức no cơm ấm cật, dư thừa thể xác ký sinh, nên không biết làm gì hơn bằng làm tay sai cho giặc, đâm sau lưng chiến sĩ và đồng bào mình.

Sau khi hổn loạn chính trị miền Trung được dập tắt vào giữa năm 1966. Tại Thừa Thiên-Huế, Trung tá Phan Văn Khoa làm Tỉnh Trưởng, được lệnh Trung Ương mở lại hồ sơ có liên quan tới Hoàng Phủ Ngọc Tường và các nhân vật tại trường Bồ Ðề (Huế), có dính dấp tới VC nhưng Trưởng Ty Cảnh Sát Quốc Gia tỉnh này là Ðoàn Công Lập, một cán bộ VC nằm vùng, đã cố tình che chở cho đồng bọn, bằng cách thi hành án lệnh một cách chậm trể và sơ sài, giúp cho những tên trên có đủ thời gian thoát thân, để hoàn tất kế hạch tổng tấn công và tắm máu đồng bào Huế vào Tết Mậu Thân năm 1968.

Ngay trong ngày 27-1-1973, khi Lê Ðức Thọ cùng Kissinger đang nâng ly mừng hiệp ước ngưng bắn tại Nam VN được ký kết ở Ba Lê, thì cũng trong thời gian đó, khắp hang cùng ngõ hẹp trên lãnh thổ VNCH, bộ đội VC đã tấn công dành dân chiếm đất. Tại Bình Thuận, cùng lúc VC tấn công 21 xã ấp, từ Tuy Phong vào tới ranh giới Bình Tuy, nhưng quy mô nhất vẫn là tại Sa Huỳnh tỉnh Quảng Ngãi, trong ý đồ của Hà Nội là chiếm vùng này để cắt đôi lãnh thổ VNCH. Ngày 25-03-1973, VC tấn công và bao vây Trại Tống Lê Chân cách An Lộc 15 km, do TĐ 92 Biệt Ðộng Quân trấn giữ.

Trong bờ, khói lửa triền miên, thì ở ngoài biển Ðông qua sự đồng tình của Nixon-Kissinger, cùng với tờ văn tự bán nước của Hồ Chí Minh-Phạm Văn Ðồng ký năm 1958, Trung Cộng xua tàu chiến cưỡng chiếm quần đảo Hoàng Sa ngày 17-01-1974. Tháng 10-1974 quận Thường Ðức tỉnh Quảng Nam bị thất thủ. Kế tiếp tỉnh Phước Long, mở đầu cho cuộc xâm lăng công khai của CS Bắc Việt, qua cái gọi là Hiệp định ngưng bắn hòa bình mà Mỹ đã dàn dựng với cọng sản quốc tế tại Pháp năm 1973. Máu đổ thành sông, thây cao hơn núi, đó cũng là nhờ phần công đức của một ít người miền Nam, ăn cơm Quốc Gia thờ Ma VC, đâm lén những vết dao trí mạng vào hông đồng bào, đồng đội mình.

Rồi trong lúc cọng sản Bắc Việt đêm ngày tấn công VNCH trên khắp các mặt trận, kể cả tại Sài Gòn cũng như các thành phố lớn khác. Người lính VNCH lúc đó vừa phải trực diện với cái chết từng giây phút tại mặt trận, để bảo vệ mạng sống ký sinh cặn bã của bọn phản chiến, thiên cộng đang ẩn núp khắp nơi ở hậu phương, trong chùa, nhà thờ, tòa soạn, trường học. Bọn này đang sống như người ngoại cuộc, dửng dưng trước sự đau khổ chết chóc của đồng bào, dù chúng cũng là người VN cũng phải ăn và thở để mà sống, nên cũng phải có trách nhiệm làm người đi bằng chân chứ không phải bò lết như súc vật ?

Càng bi thảm hơn là lúc cộng sản đang tiến quân như vũ bão, thì hậu phương Miền Nam có những bộ óc hư hoại điên khùng, hết bày trò ký giả đi ăn mày, tới biểu tình đòi hòa hợp. Tất cả đang say men phản chiến của đám Hippy nghiện ngập ma túy “The Beatles” đã làm loạn tại Mỹ, của Bertraud Russell, Jean Paul Sartre, Herbert, Marcuse công khai tán tụng Hồ Chí Minh và cọng sản, hô hào hòa bình, đòi quân dân miền Nam phải buông súng đầu hàng, để chim bồ câu trắng từ Hà Nội bay tới, mang hạnh phúc no ấm cho đồng bào miền Nam, như trong ca khúc phản chiến của Tôn Thất Lập.

Tai Hoa Kỳ, Pháp, Nhật nhiều con ông cháu cha của VNCH được học bổng du học, vừa có tương lai, lại tha hồ trốn nghĩa vụ quân dịch nhưng nhiều tên no cơm ấm cật, tán tận lương tâm, chạy theo phản chiến chống lại đồng bào mình. Trong số trên, hung hăng nhất vẫn là Nguyễn Thái Bình theo học ngành kỹ sư. Tên Việt gian này vì làm loạn quá tại Mỹ nên bị trục xuất về nước và ngay khi phi cơ vừa đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhất-Sài Gòn, đã dở trò không tặc cướp máy bay, nên bị lực lượng an ninh bắn chết năm 1972.

Ðồng thời hằng ngày trên các tờ Hành Trình, Ðối Diện, Ðất Nước, Tin Văn, Vấn Ðề, Ðiện Tín ... với Nhất Hạnh, Lý Chánh Trung, Nguyễn văn Trung (chủ biên Hành Trình), Thế Nguyên (Trình bày), Nguyễn Ngọc Lan, Nguyễn Trọng Văn (Tin Văn), Lữ Phương, Chân Tín ... công khai phỉ báng chính quyền qua các bài viết ca tụng cọng sản một chiều. Các sự kiện này, nếu xảy ra trên đất Bắc hay tại VN sau ngày 30-04-1975, liệu bọn sâu bọ mang lớp người trên, có được toàn mạng trước Bắc Bộ Phủ hay không? Ðó mới là chân lý ‘ không có gì bằng độc lập tự do’ dù là tối thiểu tại VNCH từ 1955-1975.

Các bài báo và sách vở loại này, hiện được đảng tái bản và lưu hành tràn lan tại các tiệm sách hải ngoại, muốn biết cứ mua mà đọc cho biết. Ðiều này cũng đâu có gì lạ, vì từ tháng 6-1967 tới tháng 4-1975, các tờ báo trên là cơ quan tuyên truyền của Mặt Trận GPMN do cán bộ văn công Hà Nội là Nguyễn văn Bổng chỉ đạo. Còn Vũ Hạnh, Minh Trang, Ngụy Ngữ thì len lỏi vào các tạp chí Bách Khoa, Văn để phun nọc.

1966 là năm cực kỳ hỗn loạn tại miền Nam. Ðây là hậu quả của ba năm xáo trộn chính trị, sau khi nhà Ngô bị sụp đổ vào ngày 1-11-1963. Quyền lực của chính phủ quốc gia rơi rớt đâu có khác gì cỏ rác, được chuyền từ tay bọn loạn tướng Dương văn Minh, Trần Thiện Khiêm tới Nguyễn Khanh, Nguyễn Cao Kỳ và tạm chấm dứt tranh giựt vào cuối năm 1967 khi tướng Nguyễn Văn Thiệu, được bầu làm Tổng Thống nền đệ nhị cọng hòa miền Nam. Cũng từ đó, an ninh trật tự mới được vãn hồi.

Ðối với các sử gia hiện đại, thì giai đoạn 1964-1967 là thời kỳ của LOẠN TƯỚNG - KIÊU TĂNG, vì say mê giấc mộng kê vàng, mờ mắt trước tiện nghi vật chất Mỹ và quyền lực của thế nhân, đã gây nên cuộc khủng hoảng chính trị nội bộ, trong lúc xã hội đang thăng hoa, trên con đường phát triển tột bực về vật chất lẫn tinh thần.

Quân Ðoàn I hỗn loạn vì cuộc nội chiến đẫm máu từ ngày 10/3/1966 - 24/6/1966, giữa quân đội trung ương và phe ly khai tại Huế, Ðà Nẳng, Quảng Ngãi của Nguyễn văn Mẫn, Phan xuân Nhuận, Ðàm quang Yêu chỉ với lý do bộ ba ‘Thiệu-Kỳ-Có‘ chưa kịp lập chính phủ dân sự theo ý muốn của phe đối lập cũng như đã cách chức Nguyễn Chánh Thi.

CS Bắc Việt đã ợi dụng cơ hội trên để tổ chức lực lượng võ trang, qua cái gọi là “lực lượng tranh thủ cách mạng” của Bùi Tường Huân, Lê Tuyên, Lê Khắc Quyến trà trộn trong phe ly khai, xúi giục Phật Tử đem bàn thờ Phật từ chùa ra ngoài đường, để ngăn chận các cuôc tiến quân từ Sài Gòn ra dẹp loạn. Ðồng thời chọn các chùa đình làm công sự phòng thủ, mục đích gây cảnh đổ vỡ chết người, để phe đối lập và Hà Nội có cớ hội, tố cáo chính quyền VNCH đàn áp Phật Giáo VN, qua báo chí trong và ngoài nước, nhất là tổ chức Liên Hiệp Quốc lúc nào cũng chực chờ chia phần ăn ké các chiến lợi phẩm, để dâng công làm vui bác đảng.

Trong lúc người quốc gia đâm chém tận tuyệt, thì CS nằm vùng trong trường học, chùa nhà thờ, đêm ngày không những vót thơ văn thành chông giết người, mà còn lợi dụng những hoá chất học cụ trong phòng thí nghiệm, để làm thành những chai bom đặc nổ cháy, có sức công phá không thua gì lưu đạn. Ngô Kha giáo sư, em rể Trịnh Công Sợn, chỉ huy du kích VC qua tên “chiến đoàn Nguyễn Ðại Thức” chận đánh TQLC. Hoa Kỳ trên đèo Hải Vân, bị bắt làm tù binh và chết trong khám. Trần quang Long cũng bị thương, được thả, tiếp tục theo VC rồi chết tại Tây Ninh trước 1975. Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ngọc Phan, Nguyễn Ðắc Xuân chỉ huy Ðoàn Phật Tử Quyết Tử phá làng đốt xóm, thất bại trốn ra bưng và theo bộ đội Bắc Việt trở về Huế trong tết Mậu Thân 1968, chôn sống, giết đồng bào, đau thương không kể xiết, ngàn năm bia miệng còn truyền.

Tóm lại lý do chính của các cuộc biến động chính trị năm 1966, ngoài việc đảo lộn đen trắng để bôi bác chính quyền VNCH qua màn đàn áp tôn giáo, bịa chuyện từ cửa miệng sư Bất Hạnh việc trực thăng võ trang Mỹ, hạ cánh xuống làng quê Nam VN, để bắt cóc đàn bà, con gái, mà băng nhạc Thúy Nga 40 đã từng dàn dựng. Tất cả các sự kiện trên, đều không phải là sự trùng hơp hay ngẫu hứng, mà là hành động có nghị quyết chỉ thị của đảng, trước một khúc quanh lịch sử, trong cuộc chiến tranh Ðông Dương lần thứ II (1960-1975), khi người Mỹ và các nước Ðồng Minh của Hoa Kỳ chính thức đổ quân vào giúp VNCH, ngăn chận cuộc xâm lăng Miền Nam, của Ðế quốc đệ tam cọng sản quốc tế.

Theo các tài liệu hiện còn lưu trữ, từ ngày 7-9/2/1966 Mỹ và Nam VN đã họp thượng đỉnh tại Honolulu. Phía Hoa Kỳ gồm có TT.Johnson và các phụ tá J.Gardner, Orville Freman, Robert Koman, James Humprey, Phía VNCH, phái đoàn do các tướng Thiệu, Kỳ, Có, Thắng. cầm đầu. Sau đó, hơn nửa triệu quân Mỹ cũng như Ðồng Minh (Úc, Tân Tây Lan, Ðại Hàn, Thái Lan, Phi Luật Tân và Ðài Loan) liên tục vào giúp VNCH.

Nói chung, từ năm 1966 ố 1973 quân Mỹ đã hiên diện khắp nơi, chiến đấu bên cạnh QLVNCH lấy lại thế chủ động chiến trường, làm cho CS từ trong Nam ra ngoài Bắc đều giao động lung túng. Năm 1966 cũng là thời điểm Ðồng Minh và Mỹ tại VNCH hành quân “ TÌM VÀ DIỆT DỊCH”, phá tan gần như tất cả các căn cứ sào huyệt của VC kể cả Cục R tại Củ Chi, Hố Bò, Tây Ninh. Trong lúc đó, QLVNCH thì đặt trọng tâm “Bình Ðịnh Nông Thôn” sàng lọc, khám phá những thành phần VC nằm vùng. Hai kế hoạch hành quân một lúc, cộng thêm với sự có mặt của các sư đoàn tinh nhuệ Hoa Kỳ, Ðại Hàn, Úc, Tân Tây Lan tại Sài Gòn cũng như các tỉnh, đã đánh bật VC ra khỏi nông thôn, thành thị từ lúc đó.

Và hậu quả của các biến cố chính trị khắp hậu phương miền Nam, mà trọng điểm ở Huế, Ðà Nẳng.. qua ba năm xáo trộn (1964-1967) cũng chỉ là sự thay đổi sách lược đấu tranh cưởng chiếm miền Nam, của Võ Nguyên Giáp và Nguyễn Chí Thanh trước cường độ leo thang của chiến tranh mỗi ngày một ác liệt. Cũng từ đó, chiến dịch “Chống Mỹ cứu đảng” hầu như lan tràn khắp nước, chẳng những lôi kéo các tôn giao vào mê hồn trận, mà còn dụ bịp các tâm hồn nam nữ học sinh trong trắng, nhất là giới trung lưu con ông cháu cha, thừa mứa thì giờ và tiền bạc, nên rất dễ sa vào miệng lưởi tuyên truyền của các cán bộ đảng viên CS chuyên nghiệp..

Viết tại Xóm Cồn Hạ Uy Di

Tháng 8-2009
Mường Giang