Saturday, August 1, 2009

TAM TÒA? CHUYỆN NHỎ! - Nguyễn Ngọc Tỉnh


Nguyễn Ngọc Tỉnh

Người người hiệp thông

Sau khi gửi thư đề ngày 21-07-2009 cấp báo về việc trên 20 giáo dân thuộc giáo xứ Tam Toà, Quảng Bình đã bị Công an Quảng Bình đánh đập tàn nhẫn và đang bị giam giữ, Toà Giám mục Giáo phận Vinh đã nhận được rất nhiều thư hiệp thông đến từ khắp nơi trong nước và cả từ nước ngoài. Người đầu tiên gửi thư hiệp thông là cha Phạm Văn Phương, giáo xứ Ngọc Xá, giáo phận Bắc Ninh, kế đến là cha Phạm Trung Thành, Giám Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế. Tiếp theo sau là nhiều linh mục cũng như giáo dân. Đặc biệt có luật sự Lê Trần Luật, luật sư của anh chị em Thái Hà hiện đang gặp nhiều khó khăn, cũng biên thư hiệp thông và tuyên bố sẵn sàng giúp nếu anh chị em tín hữu Tam Toà cần sự “hỗ trợ pháp lý” (23-07-2009). Còn trong giới sinh viên, ngay sau khi hay tin anh Giu-se Nguyễn Văn Thông, Trưởng ban Đại diện Sinh viên Công Giáo địa phận Vinh tại Hà Nội bị bắt ngày 26-07-2009 thì ngày 27-07-2009 Hội Sinh viên Công Giáo Tổng Giáo Phận Hà Nội đã ra thông báo khẩn kêu gọi các bạn sinh viên hiệp thông cầu nguyện và ra tuyên cáo yêu cầu chính quyền trả tự do cho anh Thông. Còn ở hải ngoại, hưởng ứng lời kêu gọi của Liên hiệp Truyền Thông Công Giáo ngày 25-07-2009 thì cùng ngày, cha Nguyễn Thanh Liêm, Chủ tịch Liên đoàn Công Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ đã có thư hiệp thông gửi đức cha Nguyễn Văn Nhơn, Chủ tịch HĐGM/VN nhân vụ Tam Toà. Và thư hiệp thông mới nhất là của đức cha Osca Solis thuộc Uỷ Ban Á châu Thái Bình Dương của Giáo phận Los Angeles, Hoa Kỳ gửi cha Nguyễn Thanh Liêm.
Lãnh đạo giáo phận Vinh

May cho Tam Toà là từ năm 2006 Tam Toà thuộc giáo phận Vinh (nếu còn thuộc giáo phận Huế, chẳng biết Tam Toà có được số phận may mắn hơn đan viện Thiên An hay không?). Người đứng đầu giáo phận Vinh là đức cha Phao-lô Ma-ri-a Cao Đình Thuyên, vị cao tuổi nhất trong các giám mục đương chức đã nổi tiếng từ vụ Thái Hà với lời tuyên bố đanh thép: “Việc của Thái Hà cũng là việc của Vinh”. Tuy đang ở nước ngoài, nhưng qua lá thư đề ngày 22-07-2009 viết tại Hoa Kỳ “gửi cha Tổng Đại Diện, quý cha, quý tu sĩ, chủng sinh và toàn thể anh chị em, cách riêng giáo dân Tam Toà, nhất là những anh chị em bị đánh đập và bắt giữ”, ngài tỏ ra an tâm, vì như lời ngài nói: “Tôi tin tưởng vào sự khôn ngoan và nhiệt thành của quý cha với gần 500 ngàn giáo dân giáo phận Vinh”. Khi cùng một số linh mục Vinh đến thăm Thái Hà, những lời tuyên bố cũng như cách làm của đức cha Thuyên cho thấy ngài đã có một chọn lựa dứt khoát: Đoàn kết mới đem lại sức mạnh, và tình đoàn kết phải được thể hiện qua việc làm, đúng như lời thánh Gia-cô-bê: đức tin không đi đôi với việc làm là đức tin chết. Nay nổ ra vụ Tam Toà, một địa điểm trong giáo phận của đức cha Thuyên, ngài viết: “Tôi an tâm hơn khi biết quý cha cùng tất cả anh chị em đang cùng ‘một lòng một ý’ làm nên sức mạnh của những người tin Chúa, và đang hết mình vì giáo phận trong tình hiệp thông và liên đới.” Và cứ nhìn những gì đã diễn ra trong giáo phận Vinh trong vụ Tam Toà cũng thấy đức giám mục Vinh có lý để an tâm: 7 giờ sáng Chúa nhật 26-07 vừa qua, tất cả các tín hữu Công Giáo đều tập trung về một trong 18 nhà thờ giáo hạt để cầu nguyện với con số tổng cộng trên 200.000. Các linh mục một lòng đoàn kết, cho thấy các ngài là những mục tử cương quyết cùng nhau bảo vệ đoàn chiên.

Sự im lặng đáng sợ

Trong khi ở trong nước cũng như từ nước ngoài, các tín hữu bày tỏ tình hiệp thông với Tam Toà như vừa nói ở trên, thì ở trong nước các giám mục hoàn toàn im hơi lặng tiếng, khiến nhiều người ngạc nhiên. Thật ra thì nếu nhìn lại các sự việc đã diễn ra trong những năm gần đây, ta sẽ không ngạc nhiên trước sự im lặng của các ngài, khi xảy ra vụ cha Nguyễn Văn Lý chẳng hạn. Chắc hẳn sự im lặng của các giám mục đã khiến Chủ tịch Nguyễn Minh Triết nghĩ mình có lý do để tuyên bố với hãng CNN Hoa Kỳ: “HĐGM/VN và Toà Thánh Va-ti-can cũng đồng tình và ủng hộ việc xét xử linh mục Nguyễn Văn Lý” (Tuổi Trẻ ngày 07-07-2007). Ngay ngày hôm sau, 08-07-2007 đức cha Nguyễn Văn Hoà, Chủ Tịch HĐGM/VN đã phản ứng ngay. Ngài viết: “Câu trả lời của cụ Chủ tịch Nước Nguyễn Minh Triết ‘HĐGM/VN và Toà Thánh Va-ti-can cũng đồng tình với chúng tôi’ là không đúng sự thật.”

Giả sử Chủ tịch Nước nói như thế này: “Ông linh mục Nguyễn Văn Lý vi phạm luật pháp Việt Nam thì bị xử lý theo luật pháp Việt Nam, và bản án 8 năm tù giam là thoả đáng, bằng cớ là trong số các vị giám mục là lãnh đạo của ông linh mục Lý, không có vị nào lên tiếng phản đối hết”. Trong giả thuyết đó, chẳng biết đức cha Chủ tịch HĐGM/VN sẽ phản ứng như thế nào?.

Trở lại vụ Thái Hà

Vụ Thái Hà nổ ra ngay trước Hội nghị các giám mục tại Xuân Lộc. HĐGM/VN đã nhận được thư ông Nguyễn Thế Thảo, chủ tịch UBND/Tp Hà Nội tố cáo “Toà Tổng giám mục Hà Nội mà đứng đầu là Tổng giám mục Ngô Quang Kiệt và Nhà thờ Thái Hà, mà đứng đầu là linh mục Vũ Khởi Phụng cùng các giáo sỹ Nguyễn Văn Khải, Nguyễn Văn Thật, Nguyễn Ngọc Nam Phong … đã kích động, lôi kéo giáo sỹ, giáo dân hoạt động tôn giáo trái pháp luật và có những hành vi vi phạm pháp luật, gây mất an ninh trật tự trên địa bàn Thành phố”, văn thư đề ngày 23-07-2008. Trong văn thư trả lời đề ngày 25-09-2008, đức cha Nguyễn Văn Nhơn, Chủ tịch HĐGM/VN trả lời rằng các vị nói trên “Không làm bất cứ điều gì ngược lại giáo luật hiện hành của Giáo Hội Công Giáo.” Lời thanh minh chỉ có bấy nhiêu. Hoá ra Đức Cha Chủ tịch HĐGM/VN không biết hay không nhớ tài liệu vô tiền khoáng hậu trong lịch sử Giáo Hội Công Giáo Việt Nam chỉ cách Đại hội tại Xuân lộc có 6 năm, đó là lá thư ngỏ gửi lãnh đạo các cơ quan lập pháp của Nhà Nước Việt Nam nhân Hội nghị thường niên của HĐGM tại Hà Nội từ ngày 7 đến ngày 12-10-2002 trong đó các giám mục phản đối cơ chế xin-cho của chế độ. Và tội tầy đình của đức cha Ngô Quang Kiệt Tổng Giám mục Hà Nội là đã công khái phản bác cơ chế xin-cho đó trong cuộc họp với UBND Tp Hà Nội ngày 20-09-2008.

Một chút tưởng tượng

Nếu sau lời tuyên bố đức cha Ngô Quang Kiệt không làm bất cứ điều gì ngược lại giáo luật hiện hành của Giáo Hội Công Giáo, mà đức cha Chủ tịch HĐGM/VN nói thêm: “Khi phản đối cơ chế xin-cho, đức cha Ngô Quang Kiệt đã lấy lại lập trường của HĐGM/VN sau Hội nghị 2002 trong thư chung đã gửi các cơ quan luật pháp vào thời điểm nói trên”. Nếu có được một lời khẳng định như thế, mọi sự sẽ hoàn toàn khác so với những gì chúng ta chứng kiến thời gian vừa qua.

Thư ngỏ của HĐGM/VN năm 2002 vừa nói hoàn toàn đi theo nguyên tắc đồng hành với Dân Tộc của thư chung năm 1980. Nhưng nay nhìn lại, ta có cảm tưởng HĐGM/VN chỉ muốn đưa ra những nguyên tắc trừu tượng mà thôi chứ không đi vào thực tế, vì khi nổ ra những vấn đề xã hội như tham nhũng, dân oan, và gần đây nhất là vụ bauxite Tây Nguyên thì không thấy động tĩnh gì từ phía HĐGM, trong khi người người đều mạnh mẽ lên tiếng trước hiểm hoạ khôn lường đe doạ đến sự tồn vong của Dân Tộc.

Những vấn đề lớn

Có vẻ như khi nổ ra vấn đề bauxite, các giám mục Việt Nam đang bận tâm lo chuẩn bị cho chuyến đi “ad limina” nên phải tránh mọi động thái khiến Nhà Nước kiếm cớ gây khó dễ. Nay đi về bình an rồi thì lại phải lo nhiều chuyện lớn khác: nào là chuẩn bị mừng Năm Thánh 2010 kỷ niệm 50 năm thành lập hàng giáo phẩm Việt Nam, nào là ứng xử ra sao cho hợp với hoàn cảnh, vì cuối năm nay Chủ tịch Nước thăm Toà Thánh Va-ti-can, đưa quan hệ Việt Nam – Va-ti-can lên một tầm cao mới, biết đâu là thiết lập quan hệ ngoại giao bình thường, và biết đâu Giáo Hội Việt Nam sẽ được vui mừng tiếp đón Đức Thánh Cha nhân chuyến công du của ngài sang Nam Triều Tiên vào năm 2011 ?. Bên cạnh những chuyện đại sự như thế, nhà thờ và nhà dòng Mến Thánh Giá Thủ Thiêm đâu có là gì, Tam Toà cũng thế, chỉ là chuyện nhỏ … Chẳng biết có phải đây là lý do khiến các giám mục Việt Nam giữ miệng làm thinh như ta đang chứng kiến.

Vài suy nghĩ

Hồi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thăm Va-ti-can, có người bảo: sắp có bang giao giữa Toà Thánh và Việt Nam rồi. Tôi nói với mấy người bạn: Cứ chờ đi. Hồi Hội nghị Pa-ri, phải mất 6 tháng mới thoả thuận được về hình thù của cái bàn hội nghị, thì nay các phái đoàn của Toà Thánh cứ việc đi đi về về mòn cả dép, chưa chắc gì đã có bang giao. Điều này xem ra đúng. Mà giả như nay mai có một vị sứ thần Toà Thánh ở Hà Nội, thì ta cũng chớ vội mừng: thử hỏi tại thủ đô Hà Nội, ông đại sứ của cường quốc số 1 là Hoa Kỳ, đã làm được gì để chính quyền cộng sản Việt Nam bớt độc tài, thối nát ?. Còn chuyện đức giáo hoàng sang Việt Nam, thì trong hoàn cảnh bình thường, có người tín hữu nào lại không mong điều đó. Nhưng trong hoàn cảnh thực tế, có lẽ mơ điều đó chỉ là mơ chuyện hão huyền. Và giả như để có được một cuộc viếng thăm như thế, cái giá phải trả là ngậm miệng làm thinh mặc cho các nhà đấu tranh cho dân chủ cứ nối tiếp nhau vào tù, mặc cho chuyện khai thác Tây Nguyên cứ việc tiếp tục, dù chẳng lợi lộc gì về kinh tế, môi trường bị huỷ hoại, an ninh quốc phòng bị xâm phạm, nguy cơ tiếp nối “một ngàn năm nô lệ giặc Tàu” là không tránh khỏi, mặc cho ngư dân ở nhà thì chết đói, mà ra biển thì bị tàu Trung Quốc tấn công, v.v… Cái giá phải trả thật là quá cao so với niềm vui được đón tiếp đức giáo hoàng. Điều ta còn phải lo âu là nếu lãnh đạo tôn giáo vì muốn yên thân lo việc đạo mà nhắm mắt làm ngơ cho bạo quyền mặc sức lộng hành, phỉ báng sự thật, bóp chết tự do, chà đạp công lý, thì liệu đạo Chúa Ki-tô trên đất nước này có còn là men trong bột, là muối cho đời nữa chăng ?

Kết luận

Là công dân Việt Nam, tôi thấm thía nỗi đau của người nông dân bị cướp đất, của ngư dân phải ở nhà nhịn đói, không dám đi ra biển, của những trí thức muốn xây dựng đất nước, nhưng chỉ vì dám nghĩ khác đảng cộng sản mà phải vào tù. Là tín hữu Chúa Ki-tô, tôi xót xa khi thấy anh chị em đồng đạo ở Thái Hà, ở Tam Toà bị bách hại. Nhất là tôi thất vọng trước vẻ thờ ơ lạnh lùng của những bậc cha mẹ của tôi trong đời sống đức tin. Nhưng tôi an tâm vững chí khi nhớ lại lời ông Moóc-đo-khai nói với hoàng hậu Ét-te:
    “Đến lúc này mà con vẫn cứ ngậm miệng làm thinh thì người tín hữu sẽ nhận được sự trợ giúp và giải cứu từ một nơi khác” (Et 4,14).
Sài-gòn, ngày 31 tháng 07 năm 2009
Pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh
pascaltinh@gmail.com

Đại hội bất thường của Cộng Đồng Người Việt Tự Do Úc Châu - tiểu bang Queensland - Hoàng Nguyên

Hoàng Nguyên

Kính thưa quý vị,

Chiều hôm qua, Cộng Đồng Người Việt Tự Do Úc Châu, tiểu Bang Queensland đã triệu tập một đại hội bất thường để điều chỉnh phần danh xưng trong bảng điều lệ Anh ngữ. Mặc dù danh xưng tiếng Việt của CĐ là Cộng Đồng Người Việt Tự Do Úc Châu- Tiểu Bang Queensland nhưng trước đây danh xưng này không có ghi trong văn bản Anh ngữ, nay đại hội quyết định ghi thêm vào.

Việc tổ chức một đại hội bất thường ắt phải có lý do. Bạch Phượng của bản đài tường thuật như sau:

"BS Bùi Trọng Cường cho biết trong tình hình hiện nay, với nghị quyết 36, cộng sản VN đang tìm đủ mọi cách để lủng đoạn cơ chế CĐ NVTDUC như tạo ra những tranh chấp, lập ra những cộng đồng khác, v.v. nhằm gây xáo trộn và hoang mang cho đồng hương.

Cũng theo BS Bùi Trọng Cường, để ngăn chận âm mưu tiếm danh “cộng đồng”, các BCH CĐ NVTDUC liên bang và tiểu bang đã có ý kiến là đăng ký cả danh xưng tiếng Việt với cơ quan thẩm quyền tại mỗi tiểu bang. "

Kính thưa quý vị,

Theo lời tường thuật trên, chống trả nghị quyết 36 là lý do sâu xa, còn mục đích trước mắt là ngăn ngừa sự tiếm danh. Vậy tại sao trong thời điểm này lại cần một đại hội bất thường để ngăn ngừa sự tiếm danh?. Thưa quý vị, không biết có liên quan đến việc lo ngại sự tiếm danh hay không, nhưng gần đây có một hiện tượng đáng nhắc lại.

Kính thưa quý vị,

Theo chúng tôi được biết thì trong tháng qua, ở tiểu bang New South Wales (Sydney) có một tổ chức được ra đời mệnh danh là "Cộng Đồng Người Việt Tỵ Nạn Úc Châu". Thắc mắc mà đa số chúng ta muốn biết là tại sao Úc Châu, tiểu Bang NewSouth Wales đã có Cộng Đồng rồi, đó là Cộng Đồng Người Việt Tự Do Úc Châu - tiểu bang New South Wales, và CĐ này là một bộ phận của cơ chế CĐ liên bang, sinh hoạt chặt chẽ từ bấy lâu nay, mà bây giờ lại có thêm một số người muốn lập ra một CĐ khác?. Như vậy có lẽ những người chủ xướng tổ chức CĐ mới này cảm thấy không thỏa mãn với sinh hoạt hay điều lệ của CĐ sẵn có chăng?. Câu trả lời nằm trong bức thư ngỏ cua ông Võ văn Trung, thay mặt Ban Điều Hành Lâm Thời của tổ chức mang danh Cộng Đồng Người Việt Tỵ Nạn Úc Châu. Bức thư có đoạn như sau:

"Trong suốt thời gian dài trên 3 thập niên qua, đã có biết bao nhiêu Cộng đồng, Hội đoàn và Đoàn thể của người Việt được thành lập ra nhưng đa số đều hoạt động với tính cách kỷ niệm nhiều hơn là đấu tranh mang lại tự do, dân chủ cho toàn dân Việt Nam." (hết trích)

Kính thưa quý vị,

Thì ra quý vị chủ trương CĐ "Tỵ Nạn" ấy cảm thấy là CĐ NV Tự Do ÚC (và cả các đoàn thể khác) đấu tranh chưa đủ mạnh để mang lại tự do, dân chủ cho toàn dân VN. Mỗi người có một quan điểm khác nhau, cũng cùng là nửa ly nước, có người thấy đó là nửa ly nước đầy, có người thấy là nửa ly nước bị vơi. Trước việc một tổ chức mới được thành lập với danh xưng Cộng Đồng, chúng tôi xin được đưa một quan niệm về vai trò của Cộng Đồng.

CĐ của chúng ta chống Cộng và đó là lập trường. Song vai trò của CĐ không chỉ là đấu tranh chính trị mà còn là phát triển về mặt xã hội, bảo tồn văn hóa như giúp đỡ đồng hương trong quá trình hội nhập, tổ chức những sinh hoạt mang tính dân tộc vân vân. Do đó, trên chiều sâu nền tảng, CĐ là một tổ chức xã hội có lập trường chính trị chứ không phải là một tổ chức chính trị.

Nói như vậy không có nghĩa là CĐ NVTD ÚC không có những mũi tấn công chính trị vào VC một cách mạnh mẽ, một bằng chứng điển hình là trận đánh mà CĐ đã đẩy lùi chương trình VTV 4 của VC. Ngăn chận sự xâm nhập của VC đúng là trách nhiệm một phần của CĐ, nhưng việc vươn cánh tay dài về đấu tranh cho quốc nội mà bắt CĐ bao thầu luôn thì e là hơi quá tầm cho một cơ cấu mang nặng tính xã hội.

Về phương diện đấu tranh, trong ba thập niên qua, ở hải ngoại nói chung, và Úc châu nói riêng, đã có nhiều phong trào, lực lượng, đảng phái, liên minh chính trị. Đó là những mũi dùi đấu tranh cho tự do dân chủ cho VN. Mục đích chính, nếu không nói là duy nhất, của những tổ chức này là đấu tranh chính trị.

Đứng trên quan điểm vừa nói, chúng ta sẽ thấy CĐ NV TD ÚC là nửa ly nước đầy, hay dễ dãi hơn một chút, CĐ NV TD ÚC là một ly nước gần đầy, nghĩa là đã làm nhiệm vụ một cách tương đối tốt đẹp, so cùng các CĐ bạn ở hải ngoại. Còn theo quan điểm của các vị chủ trương CĐ "Tỵ Nạn" thì CĐ của quý vị ấy dường như bao thầu luôn vai trò của các phong trào, lực lượng, liên minh, đảng phái chính trị.

Kính thưa quý vị,

Nhân tiện đây, chúng tôi xin có vài hàng bàn về hai chữ nhóm chữ, một là "Cộng Đồng Người Việt Tự Do" và hai là "Cộng Đồng Người Việt Tỵ Nạn".

Cả hai tính từ Tự Do và Tỵ Nạn đều có ý nghĩa chính trị, nhưng chữ Tự Do rộng nghĩa hơn. Tuy không có con số thống kê chính thức nhưng chúng ta đều biết có rất nhiều người Việt sống ở Úc, ở hải ngoại, yêu tự do, chống độc tài CS, mà không có tư cách tỵ nạn chính trị chính thức. Chẳng hạn như những người đi rời VN theo diện đoàn tụ gia đình. Điểm chính để phân biệt chúng ta và VC là chúng ta yêu tự do, chống độc tài, còn VC là độc tài, VC kềm kẹp tự do của đồng bào. Cho dù không sang Úc trong tư cách tỵ nạn, hễ yêu tự do, chống độc tài thì cùng đứng chung dưới một lập trường của người Việt Tự Do.

Nếu một mai VC đổi tên, bỏ mất chữ CS, nhưng vẫn độc tài, thì chính nghĩa của hai chữ Tự Do vẫn soi sáng lập trường của CĐ chúng ta.

Kính thưa quý vị,

Trong một đoạn khác, bức thư ngỏ của ông Võ văn Trung cũng có ghi như sau:

"CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT TỴ NẠN ÚC CHÂU cũng nhận định rằng, nếu tập thể người Việt tỵ nạn chân chính không có những hành động cụ thể hơn nữa về văn hóa và truyền thống của dân tộc Việt Nam tại hải ngoại, nơi chúng ta đang sinh sống thì e rằng thế hệ kế tiếp của chúng ta sẽ bị mai một và đồng hóa như những người bản địa trên khắp thế giới." (hết trích)

Một lần nữa, đây cũng là vấn đề cái nhìn về nửa ly nước.

Kính thưa quý vị,

Việc một tổ chức mang danh Cộng Đồng Người Việt Tỵ Nạn Úc Châu ra đời đã tạo nên một số sự bàn tán. Một số dư luận phản đối, một số khác thì cho rằng phản đối sự thành lập tổ chức CĐ NV Tỵ Nạn là không biết tôn trọng quyền tự do lập của người khác. Về pháp lý, quả thật một nhóm năm bảy người nào cũng có quyền lập hội và cũng có quyền sử dụng hai chữ Cộng Đồng trong danh xưng. Song về tình, về mặt truyền thống, Úc châu xưa nay đã có một cơ cấu CĐ nổi tiếng là bền chắc, nên việc lập ra một CĐ khác quả không hay bằng việc tham gia vào CĐ sẵn có và hướng sinh hoạt của CĐ này theo chiều hướng mong muốn.

Sự e dè của BS Bùi Trọng Cường là "cộng sản VN đang tìm đủ mọi cách để lũng đoạn cơ chế CĐ NVTD ÚC như tạo ra những tranh chấp, lập ra những cộng đồng khác, v.v. nhằm gây xáo trộn và hoang mang cho đồng hương" thật không phải là không có lý.

Hoàng Nguyên
hoang4eb@gmail.com

Friday, July 31, 2009

Hàn quốc tính sổ lại về chiến tranh Việt Nam - Ngô Văn

Ngô Văn

Hơn bốn thập niên trước, Nam Hàn cùng với các nước đồng minh đã gởi quân đội sang giúp miền Nam Việt Nam chiến đấu chống lại làn sóng đỏ. Chuyện này công khai, cả thế giới đều biết chứ không bị giấu diếm như việc Liên xô, Trung cộng, Bắc Triều Tiên ... đưa binh lính, vũ khí đến miền Bắc, giúp Hà Nội xâm lược miền Nam.

Sau khi chiến tranh chấm dứt, nhà cầm quyền CSVN vẫn muốn giấu kín chuyện này, nhưng rồi thành trì cộng sản Liên xô bị sụp đổ, cộng thêm việc cơm không ngon, canh không ngọt với Trung quốc và Bắc Triều Tiên, nên những gì Hà Nội muốn giấu diếm dần dần được chính các nước đó tiết lộ ra trong một chừng mực nào đó, để vừa kể công, vừa dằn mặt Hà Nội hầu đòi hỏi quyền lợi.

Trong cuộc chiến 1954 – 1975 CSVN đã vay nợ nhiều nước trong khối Xã Hội Chủ Nghĩa để có những phương tiện chiến tranh tàn phá đất nước và gieo rắc đau thương tang tóc cho hàng triệu người dân Việt Nam. Điều này đã được chính cố thủ tướng CSVN thừa nhận qua câu nói: "Cứ 30/4 tới có triệu người vui thì có cả triệu người buồn". Liên Xô và Trung Quốc đã công bố nhiều tài liệu về việc vay nợ này của Hà Nội; tuy nhiên Bắc Triều Tiên thì chưa. Vì một lý do nào đó, hoặc có thể vì Hà Nội không chịu trả số tiền mà Bình Nhưỡng bảo là họ đã cho CSVN vay trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam, nên mới đây báo đài Bình Nhưỡng đã loan tin là lãnh đạo của họ trong chuyến công du Việt Nam vào năm 2005 đã đến viếng thăm và đặt vòng hoa tưởng niệm tại nghĩa trang quân đội Bắc Triều Tiên ở Hà Nội. Nếu không có sự tiết lộ này thì chẳng mấy ai biết đến việc chính quyền cộng sản Bắc Triều Tiên đã gởi quân đội sang phòng thủ Hà Nội, để cho bộ đội miền Bắc dồn mọi nỗ lực xua quân xâm vào đánh chiếm miền Nam Việt Nam.

Sư đoàn Mãnh Hổ Ðại Hàn tham chiến tại Việt Nam
Về phía Nam Hàn thì tuy đưa quân sang tham chiến, nhưng cho đến nay, qua nhiều đời tổng thống, chính phủ quốc gia này vẫn không thừa nhận chuyện binh lính của họ bị mất tích hay bị bắt làm tù binh trong chiến tranh Việt Nam. Nhưng vào trung tuần tháng 7 vừa qua, chính quyền Hàn quốc đã thừa nhận chuyện này, chẳng phải vì Tổng thống Lý Minh Bác muốn làm khác với các chính quyền trước; mà vì không thể nào bác bỏ được những bằng chứng cụ thể vừa mới được đưa ra do nỗ lực tìm kiếm của gia đình một người lính Hàn quốc bị mất tích tại Việt Nam trong thời kỳ chiến tranh. Đó là hạ sĩ An Hạc Thọ (Ahn Hak-soo). Năm 1966, hạ sĩ Thọ (23 tuổi) theo đơn vị sang Việt Nam tham chiến, hai năm sau bỗng nhiên người ta thấy hạ sĩ Thọ xuất hiện trên đài phát thanh Bình Nhưỡng, cho hay là mình đã rời bỏ hàng ngũ, tìm đường sang tỵ nạn ở Bắc Triều Tiên, và đang được đối xử hết sức nhấn đạo. Hạ sĩ Thọ còn kêu gọi bạn bè đồng ngũ nên tìm cách đào thoát như mình và không quên lên án lẽ chính quyền Nam Hàn là tay sai của đế quốc Mỹ, bắt dân làm lính đánh thuê v.v....

Chính phủ Nam Hàn lúc đó đã ghi vào hồ sơ quân bạ của hạ sĩ An Hạc Thọ là kẻ đào ngũ, chạy theo giặc. Gia đình hạ sĩ Thọ ở Nam Hàn tuy không bị xếp vào thành phần thân cộng, nhưng chẳng hề lãnh được một đồng nào từ tiền lương suốt trong hai năm mà hạ sĩ Thọ chưa lãnh. Vì biết tính của con mình, nên cha mẹ hạ sĩ Thọ không tin con mình đào ngũ chạy theo cộng sản, và cho rằng, có thể trong một cuộc giao tranh nào đó anh đã bị bộ đội cộng sản Việt Nam bắt làm tù binh, rồi giao cho Bắc Triều Tiên để tuyên truyền. Gia đình của hạ sĩ Thọ đã nhiều lần yêu cầu tòa án quân sự xét lại bản án, nhưng không được đáp ứng vì hai lý do. Thứ nhất chẳng bao giờ có chuyện binh lính Nam Hàn mất tích hay bị bắt làm tù binh trong chiến tranh Việt Nam, và thứ hai là chính Thọ đã lên đài phát thanh Bình Nhưỡng nói thẳng là mình đào ngũ. Gia đình của hạ sĩ Thọ không còn cách nào khác hơn là tiếp xúc với những người tỵ nạn Bắc Triều Tiên ở khắp nơi để hỏi thăm tin tức. Dù sau hơn 10 năm trời không có được kết quả nào, nhưng gia đình hạ sĩ Thọ vẫn không nản lòng, và vẫn tiếp tục đi tìm kiếm. Mới đây, qua một người tỵ nạn Bắc Hàn định cư ở Seoul, họ mới biết được một số tin tức của hạ sĩ Thọ. Theo lời của người tỵ nạn này thì hạ sĩ Thọ đã bị xử tử hình vào năm 1975 khi tìm cách trốn thoát khỏi Bắc Hàn. Theo lời kể của hạ sĩ Thọ thì ông ta bị bắt làm tù binh trong một trận giao tranh ở ngoại ô Sài Gòn, sau đó bị dẫn ra Bắc, rồi giao cho người của sứ quán Bắc Triều Tiên ở Hà Nội. Khi đưa sang Bình Nhưỡng ông bị giam một thời gian dài, sau đó bị đưa lên đài đọc những lời đã viết sẵn. Lời tường thuật của người tỵ nạn vừa kể được xem là khả tín nếu không muốn nói là đúng sự thực. Là một người hoàn toàn xa lạ với gia đình hạ sĩ Thọ, lại sống ở Bắc Triều Tiên vào lúc hạ sĩ Thọ bị bắt, thì ông ta không thể nào biết được nhiều chi tiết liên quan đến hạ sĩ Thọ tại chiến trường Việt Nam, như số quân, đơn vị, tên người chỉ huy của hạ sĩ Thọ, và nhất là địa danh nơi xảy ra trận giao tranh khiến hạ sĩ Thọ bị bắt làm tù binh.

Hạ sĩ An Hạc Thọ (áo trắng)
Sau khi thẩm xét lý lịch và những lời chứng của người tỵ nạn Bắc Hàn vừa kể, Sở quan An ninh quân đội Hàn Quốc đã đi đến kết luận là, chứng nhân này sẽ chẳng bao giờ biết được những thông tin như thế, nếu như không được chính hạ sĩ Thọ kể lại cho ông ta nghe.

Khi không còn kết tội hạ sĩ An Hạc Thọ là kẻ đào ngũ nữa, thì coi như chính quyền Hàn quốc thừa nhận là có chuyện binh lính của họ bị mất tích hay bị bắt làm tù binh tại chiến trường Việt Nam, việc phải khôi phục lại danh dự cho người hạ sĩ này chỉ là vấn đề thời gian.

Mặc dù trong những ngày cuối tháng 7/2009, dư luận ở Hàn quốc nóng lên vì vấn đề này, nhưng chính quyền Bình Nhưỡng vẫn giữ yên lặng. Những người am hiểu về Bắc Triều Tiên không ngạc nhiên về thái độ im lặng này, vì họ biết rằng có nhiều xác xuất là rồi đây chính quyền Bình Nhưỡng sẽ bằng cách nào đó dùng chuyện này làm điều kiện để đòi chính quyền CSVN phải trả nợ; nếu Hà Nội từ chối thì có thể Bình Nhưỡng sẽ cho công bố thêm những chi tiết liên quan khác để làm Hà Nội mất mặt, như là một cách làm áp lực để đòi nợ từ một con nợ vẫn nổi tiếng là lật lọng.

Ngô Văn

“Trung Quốc làm chủ, Việt Nam làm thuê” - Ngô Nhân Dụng

Ngô Nhân Dụng

Gần đây chúng tôi mới nói chuyện với một người Việt từng tham dự những cuộc biểu tình trước tòa lãnh sự Trung Quốc để phản đối việc Bắc Kinh thành lập huyện Tam Sa ở đảo Hải Nam; anh đã từng bị công an đuổi bắt. Tôi hỏi đùa một câu vô duyên: Sao, đã biết sợ công an chưa? Câu trả lời của anh thật bất ngờ: Không sợ, vì họ cũng là người Việt cả. Tôi chỉ sợ công an Trung Quốc!

Công an Trung Quốc làm gì những người Việt biểu tình ở Hà Nội hay Sài Gòn? Không, họ không cần làm gì cả. Họ chỉ cần theo dõi, ghi chép. Họ sẽ có tên tuổi, địa chỉ, tình trạng vợ con, kế sinh nhai, đường đi lối về hàng ngày của tất cả những người từng nói hay hành động chống quyền lợi Trung Quốc ở Việt Nam. Họ lập một cuốn sổ đen. Khi hữu sự, họ sẽ sẵn sàng. Hình ảnh “cuốn sổ đen” đó đang ám ảnh rất nhiều người Việt yêu nước.

Nghe anh bạn nói, tôi ngờ vực không tin. Nhưng nếu quý vị được nghe cả giọng nói bình thản, dửng dưng không xúc động của anh, quý vị sẽ hiểu mối lo sợ này là có thật. Mạng lưới công an Trung Cộng đã hoạt động ở Sài Gòn-Chợ Lớn từ thời Việt Nam Cộng Hòa. Dù bây giờ nó không bành trướng lên tới mức đáng sợ như trên, thì mối lo sợ vẫn có thật. Không lẽ công an Việt Nam cũng cộng tác “chiến lược và toàn diện” với công an Trung Quốc trong mật vụ này hay sao?

Gần đây một nhà báo ở Sài Gòn mới bị một đám côn đồ “lạ mặt” hành hung vô cớ. Tình cờ, anh cũng là một nhà báo từng viết trên mạng những bài về đòi bảo vệ chủ quyền Việt Nam trên các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Anh cũng viết rất nhiều về vụ Bô Xít, và những vụ “tầu lạ” đâm chìm thuyền đánh cá Việt Nam ra biển. Ðám “người lạ” đánh anh nhà báo và đám “tầu lạ” đâm thuyền ngư phủ Quảng Ngãi có liên hệ gì với nhau không?

Một điều chúng ta biết chắc là chính quyền Cộng Sản Trung Quốc quyết tâm bành trướng ảnh hưởng không riêng trong vùng Ðông Nam Á mà ra khắp thế giới, ở bất cứ nơi nào trên thế giới có tài nguyên thiên nhiên để khai thác, Trong mục này đã có lần kể chuyện chúng tôi gặp một sinh viên người Congo ở Quảng Châu. Khi nói chuyện với nhau, anh ta bày tỏ nỗi ngạc nhiên không hiểu sao người Trung Quốc sang nước anh nhiều thế. Và họ đi khắp nơi, cả những vùng núi non xa xôi anh không bao giờ nghĩ đến mà họ cũng mò tới. Sau cuộc gặp gỡ đó, tôi đọc một bản tin cho biết hơn 200 nhà kinh doanh Trung Quốc ở Congo mới lén bỏ trốn về nước, để lại hàng ngàn công nhân bản xứ đến đập phá nhà cửa, máy móc, cơ xưởng vì họ không được trả lương! Ðám doanh nhân này là những người Trung Quốc sang Congo khai thác mỏ. Hồi đầu năm 2009 giá nguyên liệu kim khí tụt xuống khắp thế giới, các đại gia Trung Quốc chỉ tính làm ăn chụp giật, thấy lỗ vốn bèn bỏ của chạy lấy người!

Hôm rồi, một anh bạn từ Pháp qua chơi kể rằng anh đã đi khắp các nước Phi Châu vì công việc của sở. Tình cờ, anh cũng kể có lần đi đến thăm một chi nhánh của hãng anh ở Côte d'Ivoire, anh tới một thị xã xa xôi hẻo lánh. “Ông biết không? Mình đang bước đi ngoài phố bỗng giật mình thấy một da vàng mặc áo may ô ưỡn cái bụng phệ trên chiếc ghế trước cửa nhà! Ông ấy đang ngồi xỉa răng! Ở giữa cái xứ chỉ thấy toàn mầu da đen, mình tưởng là gặp đồng bào Việt! Hỏi chuyện rồi mới biết ông ấy là một cố vấn cho chính quyền tỉnh, do Bắc Kinh gửi tới! Ông ấy được mang cả gia đình vợ con sang Côte d'Ivoire để làm cố vấn!”

Không thể nói chính phủ Bắc Kinh chỉ nhắm riêng vào nước Việt Nam mình khi họ đi tìm các nguồn tài nguyên để khai thác. Trung Quốc đang cần công nghiệp hóa. Họ đi tới bất cứ nơi nào tìm quặng mỏ. Họ vừa bị hụt vụ mua 18% cổ phần trong công ty Rio Tinto ở Úc Châu, bắt người đứng đầu công ty Anh-Úc này ở bên Tầu, gán cho tội “gián điệp.” Ở Trung Ðông các nước Á Rập Hồi Giáo cũng chống Trung Quốc sau vụ đàn áp người Uyghur tại Tân Cương. Dân chúng những nước Trung Á cùng chung gốc Turk (Thổ) đã biểu tình chống Trung Quốc, trong khi Bắc Kinh lo hối lộ chính quyền các nước này để mua dầu lửa và khí đốt. Dù ăn hối lộ, chính quyền các nước này cũng không dám đàn áp dân họ để bênh vực Thiên triều. Ở Algerie có những vụ tập kích đánh vào xe chở người Trung Quốc. Cũng vì vụ Tân Cương cả. Nhu cầu nguyên liệu và nhiên liệu khiến chính quyền Bắc Kinh phải tiếp tục bành trướng, khắp thế giới. Ðó sẽ là hiện tượng quan trọng nhất ở Á Châu trong thế kỷ 21, đặc biệt là trong vùng biển Ðông của nước ta.

Vì Ðông Nam Á vẫn là một trọng tâm của tham vọng bành trướng này. Chỉ vì lý do địa dư; đó là những nước láng giềng, nhỏ, còn yếu, và quyền lợi còn khác biệt nhau rất nhiều. Trong các nước ASEAN có nước dân chủ, có nước độc tài, có nước Phật Giáo, có nước Hồi Giáo, có nước độc tài Cộng Sản, có nước độc tài quân phiệt, có nước chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa như Việt Nam, có nước theo Thiên Chúa Giáo như Phi Luật Tân. Tình trạng này khiến ASEAN còn chưa thể liên kết chặt chẽ, và Bắc Kinh thì đã gõ cửa xin vào tham dự, đến năm nay Mỹ mới bước vô. Người Mỹ từng coi Tây Bán Cầu với những nước Châu Mỹ La tinh, là “sân sau” của họ, không muốn cường quốc nào đụng tới. Bây giờ Trung Quốc có thể cũng mong tới ngày cả miền biển Ðông Á và Ðông Nam Á trở thành “cái ao trước cửa” cho họ thả câu.

Ðứng về mặt đạo đức, chúng ta lên án tham vọng bá quyền này, của bất cứ quốc gia nào. Trên thực tế, bất cứ chính quyền độc tài một nước lớn nào cũng nuôi những tham vọng như vậy, và có khả năng khích động dân chúng ngả theo khuynh hướng đó. Thế kỷ trước, Nhật Bản đã làm như vậy. Ngay một Ðảng Cộng Sản nho nhỏ của các ông Lê Duẩn, Lê Ðức Thọ cũng có thời muốn làm bá chủ toàn cõi Ðông Dương kia mà! Cho nên phải coi tham vọng bá quyền của Trung Quốc là một sự thật không thể tránh được, các nước Ðông Á phải đối phó chứ không thể chỉ lên án suông mà thôi.

Trong cuộc phỏng vấn của Nhật báo Người Việt, đăng ngày hôm qua, Giáo Sư Carl Thayer đã nói, “Có Hoa Kỳ hiện diện, Trung Quốc không thể múa gậy vườn hoang.” Ðúng như vậy. Các nước Ðông Nam Á đều mong nước Mỹ trở lại vùng này để tạo thế cân bằng với Trung Quốc. Trung Quốc đã lập căn cứ hải quân ở đảo Hải Nam (Thời Tây Hán gọi tên là Châu Nhai và Ðạm Nhĩ) với 6 hàng không mẫu hạm và 20 tầu ngầm nguyên tử. Chỉ có hạm đội Thứ Bẩy của Mỹ đáng vai đối thủ. Nhưng chúng ta đã có dư kinh nghiệm về cả Hoa Kỳ lẫn Trung Quốc. Nước nào cũng chỉ nghĩ tới quyền lợi quốc gia của họ mà thôi. Người Việt Nam không thể trông nhờ vào ngoại lực. Muốn kháng cự được sức bành trướng của hơn một tỷ dânTrung Quốc thì người Việt phải lo lấy nước Việt chứ không thể trông cậy vào ai khác. Trong hai ngàn năm lịch sử tổ tiên chúng ta vẫn sống như vậy, bây giờ cũng không khác.

Nhưng dân tộc Việt Nam muốn đủ sức cự địch với sức bành trướng của Trung Quốc nếu chính quyền cũng chứng tỏ quyết tâm bảo vệ chủ quyền dân tộc và toàn dân đoàn kết một lòng kháng cự. Hiện nay chúng ta không thấy những dấu hiệu đó. Ðiều đáng lo ngại đối với dân tộc Việt Nam bây giờ không phải là những đoàn quân Trung Quốc tiến qua biên giới như hồi năm 1979. Phương cách xâm lăng đó đã lỗi thời rồi, mà không cần thiết nữa. Ðiều lo lắng nhất là một kế hoạch “tàm thực,” (tầm ăn dâu), hay nói theo kiểu bà con trong nước, gọi là Diễn Biến Hòa Bình. Cộng Sản Trung Quốc không cần gây chiến với Việt Nam. Họ đang gậm nhấm nước Việt Nam từ từ, như đã gậm dần dần cho tới khi nuốt chửng đất đai của người Uyghur, người Mông Cổ, nước Ðại Lý, nước Tây Tạng.

Ngày hôm qua Nhật Báo Người Việt cũng đăng thiên phóng sự viết về chuyến đi thăm miền đất cực Ðông của nước ta, mũi Sa Vỉ, bờ biển Trà Cổ, thành phố Móng Cái, giáp giới Trung Hoa. Ký giả Thiên Thư viết tựa đề: “Trung Quốc làm chủ, Việt Nam làm thuê.” Ðó là “tám chữ vàng” mô tả một sự thật. Có những mảnh đất cho người Trung Quốc thuê 50 năm, còn dài hạn hơn nhiều nông dân Việt Nam chỉ được thuê đất 35 năm. Người Trung Quốc sang mở nhà hàng, khách sạn, sân Golf, và cả cờ bạc, đĩ điếm. Người Trung Quốc làm chủ, người Việt Nam làm thuê. Hai bên cùng có lợi. Các quan chức lợi nhất. Tổng cộng thành 20 chữ vàng, có thể coi là một chính sách, chủ trương lớn của đảng và nhà nước ... Trung Quốc!

Nếu chưa đọc, xin mời quý vị đọc lại thiên phóng sự này. Nhiều nhà báo trong nước đã kể chuyện và chụp hình những “làng Trung Quốc” ở Việt Nam, từ miền Bắc vào tới miền Trung và Cao nguyên. Nhưng ở thành phố Móng Cái, ở mũi Sa Vĩ, có những trung tâm thương mại Trung Quốc mà người Việt muốn xin việc làm phải nói hai thứ tiếng. Con cháu người Việt khôn ngoan ở đây sẽ biết rằng muốn có tương lai phải học tiếng Quảng hay tiếng Phổ thông. Tiếng đầu lòng con học nói có thể là “Nỉ Hào Ma?”. Người bạn ở Sài Gòn đang sợ công an Trung Quốc, anh vẫn tin tưởng rằng anh không cần sợ công an Việt Nam. Vì họ cũng là người Việt như mình cả. Niềm tin đó còn có cơ sở vững chắc hay không?

Nhiều người Việt ở Nam California đã nói đùa rằng có ngày Bắc Kinh sẽ đổi tên huyện Tam Sa thành Tứ Sa. Vì ngoài Hoàng Sa, Trường Sa của nước ta, cộng với Tây Sa của họ, họ còn muốn có thêm chữ Sa thứ tư là Bôn Sa (Bolsa) nữa! Trung Quốc sẵn sàng đầu tư sang Bolsa mở nhà hàng, khách sạn, thương xá, cư xá cho người già, khu giải trí, vân vân; chỉ cần lúc nào cũng theo đúng 8 chữ vàng: “Trung Quốc làm chủ, Việt Nam làm thuê.”

Nhưng tầm ăn dâu ở Á Châu thì dễ, sang tới Mỹ sẽ khó hơn nhiều. Vì ngay người Hoa và người Việt gốc Hoa ở Mỹ cũng sợ Bắc Kinh xâm nhập. Cho nên dân Bolsa không cần lo. Nếu có một huyện Tứ Sa thì chắc chữ Sa thứ tư sẽ là mũi Sa Vĩ trong tỉnh Móng Cái. Ở Quảng Châu đã có bãi Sa Diện (Mặt Cát, sách thường in nhầm là Sa Ðiện), nay có thêm Sa Vĩ (Ðuôi Cát) nối với nhau như khẩu hiệu “núi liền núi, sông liền sông” từ 50, 60 năm trước!

Tám chữ vàng “Trung Quốc làm chủ, Việt Nam làm thuê” không nhất thiết chỉ áp dụng trong các khách sạn, nhà hàng. Tại sao không áp dụng (hợp tác chiến lược và toàn diện), ngay trong hoạt động của ngành công an hai nước? Người Trung Quốc có thể còn muốn áp dụng tám chữ vàng trong tất cả mọi phạm vi, từ trên xuống dưới, như công cuộc trị quốc và bình thiên hạ mà họ vẫn theo đuổi từ thời Tần Hán đến giờ. Trong tâm thức, họ có thể nghĩ đó là sứ mệnh ông Trời đã buộc dân Hán tộc phải thi hành! Người Việt Nam tất nhiên nghĩ khác, hai ngàn năm nay vẫn nghĩ ngược lại. Vậy người Việt Nam phải làm gì?

Ngô Nhân Dụng
*****
    Từ mũi Sa Vĩ nhìn về Móng Cái:
    Trung Quốc làm chủ, Việt Nam làm thuê
Phóng sự của Thiên Thư

Ðã rong ruổi qua nhiều miền biên ải nhưng mỗi khi quay về Trà Cổ lòng cứ thắt lại. Dã tâm của phương Bắc cỏ cây nước Nam ngàn năm khắc cốt. Cha ông đã ngã xuống để rừng dương ôm chặt biển nước Nam, thây vạn người giữ từng tấc đất để giờ đây kẻ hèn nhát, luồn cúi dâng rẻ bờ thiêng đất tổ cho láng giềng tham lam.
Mũi Sa Vĩ vẫn là đất của Việt Nam, nhưng ...
Ðình Trà Cổ nằm khiêm tốn so với những công
trình của người Trung Quốc. (Hình: Thiên Thư)


Tôi về thăm Trà Cổ vào những ngày cuối Tháng Bảy dương lịch, khi cả nước tổ chức 'về nguồn', đại giỗ cho những người con đất Việt đã chiến đấu và hy sinh trong các cuộc chiến tranh. Duy chỉ có vành đai biên giới phía Bắc này khói hương không được tỏa. Ba mươi năm qua những con người nằm xuống trong những cuộc chiến đấu với bọn xâm lược Trung Quốc không được ghi nhận, ở nghĩa trang, trên bia mộ, trong sách sử và truyền thông cả nước không được nhắc đến.

Có những quá khứ bị buộc phải bịt kín và lờ đi để phục vụ cho lợi ích hiện tại, nhưng tương lai sẽ như thế nào sau những gì đang diễn ra. Có thể lâu lâu tôi về đây mà ngây ngấy đâm lo, rồi nỗi lo của tôi cũng vơi đi theo nhịp sống hối hả của thị thành, nhưng những người dân miền biên ải thì đêm chẳng yên giấc, nỗi lo mất nước luôn thường trực như những gì buộc họ phải khắc cốt ghi tâm.

Ðứng từ mũi cực Đông Sa Vĩ phóng tầm mắt về phía Ðông Bắc có thể trông thấy cột mốc biên giới trên biển Việt-Trung, cứ vài phút lại thấy canô của lực lượng biên phòng phóng vút trên mặt sóng. Bên kia vùng biển của Trung Quốc, những cảng biển cầu tàu hiện đại và những công trình kiên cố trải dài trắng rực cả vành đai biên giới. Trên một hải phận có thể thu gọn vào tầm mắt này vẫn thường diễn ra xung đột, không ai khác chính người dân đã trực tiếp đấu tranh, phản kháng các vụ ngư dân Trung Quốc vi phạm chủ quyền, thả lưới quăng thuốc nổ trên hải phận của ta, hút cát dọc sông biên giới, xâm phạm ngư trường một cách táo tợn dù lực lượng biên phòng hai nước tuần tra 24/24.

Một ông lão ở làng chài nhìn thời vận mà thốt lên, “Danh nghĩa là đất của mình nhưng Trung Quốc đã thuê trong 50 năm tới, không chỉ Trà Cổ, Móng Cái, mà cả cái tỉnh Quảng Ninh này, từ cái sân golf, khách sạn, các khu trung tâm mua sắm, quảng trường, cho đến cái quán ăn vỉa hè đều có chủ là người Trung Quốc. Sống trên đất Việt nhưng người Việt chỉ là kẻ làm thuê lại phải tiêu dùng mọi thứ hàng hóa của Trung Quốc thì có đau không, có lo không?”

Mũi Sa Vĩ-Trà Cổ vẫn là của ta nhưng chuyện gì đang xảy ra nơi đây?

Vành đai biên giới Việt-Trung.
(Hình: Thiên Thư)
Ngày trước, đứng từ mũi Sa Vĩ địa đầu phía Ðông của Tổ quốc có thể chiêm ngưỡng được vẻ đẹp của bờ biển Trà Cổ cong và dài 17 cây số được mệnh danh là thơ mộng nhất Việt Nam. Nhưng bây giờ nhìn từ bức phù điêu Trà Cổ chỉ là một bãi lầy xộc xệch, bờ biển bị băm nát, rào kín bởi các dự án của Trung Quốc, có chăng chỉ là hai cây đa do ông Trần Ðức Lương (cựu chủ tịch nước) và Nguyễn Tấn Dũng (đương kim thủ tướng) trồng, nó ốm yếu trước gió biển Ðông Bắc thổi vào. Gần đó là bức phù điêu hình 3 ngọn phi lao ghi câu thơ “Từ Trà Cổ đến rừng dương đến Cà Mau rừng đước ...” của Tố Hữu mà nhiều ý kiến cho rằng ở vị trí này nên khắc bài thơ Nam Quốc Sơn Hà, đó mới là khí phách của dân tộc Việt Nam.

Bạc nhược thay! Án ngữ mũi Sa Vĩ ngày nay là sân golf 18 lỗ bành trướng của Trung Quốc. Ðể lấy đất làm sân golf này, người ta đã cho di dời cả ngôi miếu thờ thần hoàng làng, rồi bứng cả đồn biên phòng nằm sát mép biển vào sâu trong bờ. Bao quanh sân golf là rừng phi lao cao kín, lớp ngoài là dây kẽm gai che chắn mọi sự tò mò từ bên ngoài.

Sân golf án ngữ, khách sạn bao vây đã khiến làng chài Trà Cổ thay đổi đi nhiều. Giờ đây làng chài đã hoang vắng, ngư phủ đã thôi ra khơi, một số chuyển sang nghề nuôi thủy sản, chủ yếu là tôm nhưng từ khi sân golf hoạt động khách sản mọc lên như nấm mùa mưa thì cá tôm mỗi năm mỗi thất, môi trường càng ô nhiễm, vì nước thải từ sân golf và khách sạn đều được tuồn thẳng ra biển, bà con đã phản ánh nhiều nhưng chẳng cơ quan nào đứng ra cứu giúp. Có chăng chỉ là biên bản kết luận nước thải từ sân golf quốc tế Móng Cái đạt tiêu chuẩn và được Sở Khoa Học-Công Nghệ Quảng Ninh cho phép thải trực tiếp ra biển. Cũng xin nói thêm, từ Vịnh Hạ Long đến Trà Cổ, tất cả các khách sạn lớn ven biển, hầu hết có vốn đầu tư của Trung Quốc, đều được phép đặt ống nước thải đổ trực tiếp ra biển, cạnh đó thì khách du lịch vẫn bơi tắm hồn nhiên, với kiểu làm du lịch này thì quá vô nhân đạo với một kỳ quan thế giới.

Trong khi đó, phía Việt Nam đã cho phép phía Trung Quốc đầu tư xây dựng thêm một số cơ sở hạ tầng như khách sạn 5 sao, gắn kết với hoạt động của sân golf đã có, bờ biển Trà Cổ đang và sẽ tiếp tục được quy hoạch và kêu gọi nhà đầu tư Trung Quốc vào khai thác. Những gì cha ông để lại, đã phải đánh đổi bằng xương máu để gìn giữ thế mà tại sao người ta lại nỡ đối xử với Sa Vĩ như thế?!

Từ mũi Sa Vĩ theo con đường nhựa đến mái đình Trà Cổ, hai bên đường đã thay đổi nhiều, nhà cao tầng, khách sạn nhà trọ mọc lên nhiều, nhưng vẫn thấp thoáng những cụ già ngồi vá lưới trong những căn nhà ọp ẹp buồn đến cay mắt. Trà Cổ đã thay đổi rất nhiều nhưng ngôi đình Trà Cổ là vẫn thế gần 600 năm qua. Nếu đình Trà Cổ là báu vật là cột mốc khẳng định chủ quyền văn hóa của Việt Nam tại vùng biên ải này thì người dân Trà Cổ sống làm người nước Nam, có chết vẫn “thẳng người” làm ma nước Nam như một bô lão trong làng đã khẳng định.

Tôi vào đình thắp nhang rồi cùng lũ trẻ xem bài chòi, những câu ca dao, những hồi mõ dài vang lên mỗi khi có chòi nào “tới” khiến tim tôi rung lên, những đôi mắt ánh lên nụ cười, đó là thứ tình yêu thiêng liêng tôi tìm thấy nơi đây của người Trà Cổ...

Thành phố Móng Cái ngày nay

Quảng trường Hòa Bình ở thành phố Móng Cái
do người Trung Quốc làm chủ. Hình: Thiên Thư
Rời Vịnh Hạ Long trong cơn mưa chiều lất phất, dự tính sẽ đến Móng Cái sau 4 giờ ngồi xe nhưng kẹt xe và đường xấu khiến hành trình gian nan này kéo dài gần 6 tiếng. Ðoạn đường này có lẽ không dành cho những người yếu tim. Ðường đến Móng Cái đã xuống cấp trầm trọng do những chiếc xe container tải hàng từ Trung Quốc về đã ngày đêm cày xới con đường này không thương tiếc. Con đường đèo vốn hẹp và nhiều cua gắt liên tục nhưng các các bác container xứ này chẳng ai nhường ai, đua, vượt hơn cả trên phim hành động. Nguy hiểm rình rập nhưng dân 3 miền vẫn rủ nhau về Móng Cái như trẩy hội, kẻ không ruộng nương tha phương lên đây làm cửu vạn, người có vốn lên đây đánh hàng đi buôn.

Xứ biên ải này không phải là nơi dễ kiếm tiền như người ta nghĩ. Làm cửu vạn hay đứng bán hàng thuê cho chủ Trung Quốc cũng chẳng đơn giản chút nào. Ðồng tiền kiếm được nơi đây là đồng tiền mồ hôi và máu. Thế nhưng, người ta vẫn bỏ quê ra đây kiếm tiền, theo họ dù vất vả thay vì ở quê đói hả họng. Có người để vợ, để chồng, có gia đình dắt díu nhau mướn nhà thuê tạm bợ, rồi cũng qua ngày. Người ta chưa có số liệu thống kê có bao nhiêu cửu vạn ở đất Móng Cái với gần 10 cái chợ và trung tâm mua sắm này. Sáng mắt ra đã thấy họ khuân vác những núi hàng hóa như diễn xiếc. Chiều về cả nhà loay hoay với miếng thịt mỡ ăn quẹt ba ngày vẫn còn, ốm gục cả người nhưng vẫn cày khỏe như trâu. Thế mà bọn chủ người Tàu nói với tôi rằng chúng không thích mướn lao động người Việt vì người Việt lười hơn người của nó, nó chỉ cho thấy cái quảng trường Hòa Bình gần cửa khẩu được phía nó xây dựng với tốc độ nhanh chóng mặt, lao động của nó làm việc cật lực mà chi phí lại thấp hơn người Việt.

Ðỡ vất vả hơn cửu vạn có lẽ là những người bán hàng thuê cho chủ người Tàu ở chợ Trung Tâm Móng Cái. Chợ này chỉ họp từ 8 giờ sáng đến 12 giờ là đóng cửa vì chủ người Tàu phải về bên kia. Trung bình mỗi tháng tiền lương của người bán hàng là một triệu đến một triệu hai, nhưng đòi hỏi phải biết tiếng Tàu, nhanh lẹ, vui vẻ, khôn khéo. Công việc tuy nhẹ nhàng nhưng những người bán hàng thuê thường kiếm thêm một công việc nữa làm thêm vào buổi chiều nếu muốn tồn tại ở đất này.

Ðêm xuống, trên phố chỉ còn lại những người bán hàng rong, du khách và người có tiền, còn những người lao động nghèo đã sập cửa trọ ngủ sớm để sáng mai dậy sớm đi cõng hàng trên lưng. Chợ đêm Móng Cái đông vui náo nhiệt với những gian hàng quần áo, giày dép, hàng lưu niệm giá rẻ, cạnh đó là khu ẩm thực với các món ăn kiểu Tàu, nào là rau muống nướng, nào là xì dầu và ngập đầy tỏi sống trên bàn ăn. Cũng thật lạ, hầu hết chủ các quán ăn, nhà hàng ở thành phố này đều là người Tàu, còn phục vụ là người Việt. Ở các quán nhậu ở chợ đêm thường tập trung thanh niên choai choai người Việt, ăn nhậu no say, rồi phóng xe bạt mạng không nón bảo hiểm, thỉnh thoảng chúng dừng lại đánh lộn, đâm chém, gái bán hoa giành khách cũng đấu đả khiếp rợn.

Không thể không nhắc đến những người Việt giàu có ở mảnh đất này, nhìn những chiếc Mẹc, Audi, Lexus, BMW đời mới lướt như mắc cửi quẩn quanh thành phố cũng đủ biết họ ăn nên làm như thế nào, biệt thự mọc lên như nấm, người ta đua nhau đầu tư quy hoạch các khu biệt thự vườn. Nhưng ở vùng biên ải này tiền kiếm được đa phần là từ buôn hàng lậu và buôn tiền và từ tiền mà ra đôi khi đi tù, ăn đạn cũng do tiền.

Ở các quán ăn, nhà hàng sang trọng thì càng vắng bóng người Việt, nếu có thì cũng là tay chủ lớn, luôn cặp kè cùng các cô bé chưa quá hai mươi. Các cô xinh chẳng kém gì mấy em “chân dài” Hà Thành, cũng thanh lịch, cũng sành điệu, cũng điêu ngoa và giang hồ bậc nhất. Trà Tàu và tỏi là những thứ thường trực trên bàn ăn, còn nước mắm thì chẳng bao giờ xuất hiện nơi đây, nó gần như bị xóa sổ khỏi khẩu vị của người Việt ở Móng Cái, ngay cái thứ nước chấm của món gỏi cuốn khá ngon trong chợ Móng Cái cũng được người ta đặc chế công phu từ nước muối để thay nước mắm. Trên bàn, khi ăn những chủ người Tàu ăn-nói-nhìn luôn nhịp nhàng khéo léo hơn chủ Việt, chốc chốc những cô gái Việt phục vụ bàn được mời cốc bia phải vặn vẹo thụt lùi trước bàn tay sờ mó của những gã đàn ông Tàu trong sự thờ ơ thỉnh thoảng tán thưởng của chủ nhà hàng người Tàu. Hết bàn này đến bàn khác, công việc bưng bê thức ăn của những cô gái này đôi khi cũng lắm tủi nhục nhưng phải luôn miệng cười tươi chào hỏi bằng đôi thứ tiếng.

Những ngày này việc một đại gia người Việt khét tiếng giàu có và ăn chơi ở xứ Móng Cái bị công an bắt đã trở thành đề tài trên bàn ăn. Rồi tin những người buôn tiền người Việt bị bắt ở Ðông Hưng cũng gây rúng động giới đổi tiền. Những tin tức phiền toái lại được dẹp qua, thay vào đó các chủ làm ăn bàn tính việc sẽ chọn lô nào trong khu thương mại Móng Cái Plaza đồn rằng của con trai ông Trần Ðức Lương sắp khánh thành sau một thời gian gián đoạn do kinh tế suy thoái. Có gì tốt xấu người ta cứ phơi ra trên bàn ăn vừa có bia hiệu vừa có trà Tàu nghi ngút khói. Còn tôi, chẳng ăn được gì vì nhà hàng không có nước mắm nhưng lại dậy mùi tỏi sống, cũng chẳng quen uống trà nóng thế là loay hoay tính tiền bước ra phố tìm một quán ăn còn gốc Việt, dù nó nằm hút trong con đường nhỏ.

Sau chiến tranh biên giới Tháng Hai năm 1979, thị trấn Móng Cái bị tàn phá nặng nề, mãi đến năm 1991, sau khi quan hệ Việt-Trung trở lại bình thường thị sự trao đổi buôn bán qua lại cửa khẩu Bắc Luân ngày càng tăng lên. Thành phố Móng Cái được thành lập ngày 25 Tháng Chín năm 2008 trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của thị xã Móng Cái cũ.

Móng Cái cũng như nhiều thành phố vùng giáp biên khác, nhiều cửa hàng, trung tâm thương mại, khách sạn, khu vui chơi giải trí được đầu tư bởi các công ty, tập đoàn lớn của Trung Quốc. Một trong 2 khu giải trí, kinh doanh lớn nhất thành phố trẻ Móng Cái là của của công ty Hồng Vận và công ty liên doanh Hải Ninh-Lợi Lai. Như nhiều nhà đầu tư Trung Quốc khác, 2 công ty này được thuê đất 50 năm với nhiều loại hình kinh doanh như sòng bạc, khách sạn, sàn nhảy, dịch vụ, mua sắm hàng hiệu (nhái), cửa hàng đồ ăn Trung Quốc. Cuối tuần, khách du lịch từ Trung Quốc, Hongkong, Ðài Loan đến Móng Cái nghỉ ngơi rất đông, các nhà hàng, khách sạn cho đến sân golf dường như hoạt động hết công suất. Tất cả tiền đều chảy vào túi chủ Trung Quốc, chẳng có thứ gì của Việt Nam được tiêu dùng, trừ những người phục vụ luôn là người Việt Nam biết hai thứ tiếng.

Riêng với Trung Tâm Thương Mại Hồng Vận hiện nay đã bị phía Việt Nam đóng cửa, đình chỉ thi công và hoạt động mà lý do thì bị bịt kín. Ðược biết đây là vụ việc liên quan đến an ninh chính trị, trong thời gian thi công tại Trung Tâm Thương Mại Hồng Vận này phía Trung Quốc đã cho đào đường hầm thông qua biên giới, may mắn là phía Việt Nam kịp thời phát hiện, chẳng ai biết Trung Quốc đã đào đến đâu, Việt Nam xử lý làm sao với cái đường hầm và nghĩ sao về tình bạn hữu nghị Việt-Trung. Vậy mà người ta vẫn không run tay ký quyết định cho phép các dự án của Trung Quốc đóng chiếm các vị trí quan trọng của quốc gia.

Phóng sự của Thiên Thư