Monday, July 27, 2009

Một vài đóng góp với cuốn DVD ‘SỰ THẬT VỀ HCM’ - Nguyễn Thị Bé Bảy


Nguyễn Thị Bé Bảy

Sau khi xem “Sự thật về Hồ Chí Minh” trong you tube được đưa lên các diễn đàn điện tử, chúng tôi xin có những ý kiến như sau :

1. Về ‘’Phong trào Cải Cách Ruộng Đất ”


Trong đề mục này, có phần phỏng vấn Dương Thu Hương, Dương Thu Hương nói rằng:

“ Ngay trước cổng nhà tôi là một người bị chết treo năm cải cách ruộng đất và lúc 8 tuổi, tôi đã phải theo các em học sinh để chứng kiến các cuộc đấu đá địa chủ. Sau lưng nhà tôi, ngay đường xe hỏa, một người khác bị vu là địa chủ nên tự đặt cổ vào đường ray. Khi tôi 8 tuổi, buổi sáng khi đi tưới rau. Tôi thấy hình ảnh những người chết đó và điều đó làm cho tôi vô cùng khủng khiếp.”

Trong khi đó, ở quyển “ Trăm Hoa Vẫn Nở Trên Quê Hương ”, trang 193, Dương Thu Hương xác nhận lý lịch qua cuộc phỏng vấn do Nguyên Linh Giang thực hiện và đăng trên báo Lao Động ngày 28/08/89:
(trích)
- PV: Có người hỏi tôi: “ Có phải Dương Thu Hương viết Những Thiên Đường Mù là con gia đình địa chủ ?”
- DTH : (Cười): Bố tôi là đội trưởng đội giảm tô. Cũng may là ông cụ không giết oan ai.
(ngưng trích)

Để có thể hình dung ra một Đội Trưởng Đội Giảm Tô trong phong trào Cải Cách Ruộng Đất, xin mời quí vị nghe học giả Hoàng Văn Chí mô tả trong quyển Từ Thực Dân Tới Cộng Sản, trang 221-222:
(trích)
Cộng sản thực hiện Cải Cách Ruộng Đất bằng hai chiến dịch liên tiếp: chiến dịch Giảm Tô vào những năm 1953 và 1954, và chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất đích thực vào những năm 1954 và 1956 ....

Cả hai chiến dịch Giảm Tô và Cải Cách Ruộng Đất đích thực đều nhằm một mục đích tức là tiêu diệt toàn bộ giai cấp địa chủ để tiến tới việc thành lập chế độ vô sản chuyên chính ở nông thôn. Cả hai chiến dịch đều áp dụng một chiến thuật duy nhất, và chiến dịch thứ nhất và chiến dịch thứ nhì chỉ khác nhau ở mức độ tàn bạo và ở các loại tài sản tịch thu của các địa chủ. Nói một cách rõ hơn thì chiến dịch thứ nhất cốt tiêu diệt sơ bộ những phần tử có máu mặt ở nông thôn mà cộng sản gọi là những “ phản động chính” và tịch thu tiền bạc, nữ trang hoặc châu báu, tức là những của nổi mà họ dấu diếm hoặc giao cho quyến thuộc cất giữ. Chiến dịch thứ hai nhắm vào những người có đủ bát ăn, mệnh danh là “ phản động phụ ”....

Chiến Dịch Giảm Tô:

Vài tháng sau cuộc “ Đấu tranh Chính trị” chấm dứt, một đoàn cán bộ đã được huấn luyện tại Trung Quốc giả dạng làm nông dân bí mật tới làng. Nhờ tổ đảng địa phương mách mối, họ làm quen với một vài cố nông túng bấn nhất trong làng, và xin cho cư ngụ trong nhà. Họ thực hành một chính sách gọi là “ ba cùng”, nghĩa là cùng làm việc với chủ nhà (mà không lấy công), cùng ăn với chủ nhà (nhưng góp phần mình), và cùng ngủ một giường với chủ nhà. Nếu chủ nhà có vợ, như trường hợp thông thường, thì một nữ cán bộ tới ngủ cùng với bà vợ, và một nam cán bộ ngủ với ông chồng.

Họ ở như vậy trong ba tháng. Anh nông dân rất hài lòng vì bỗng dưng có người giúp việc công không. Họ làm đủ mọi công việc, cầy bừa hoặc gặt gái, tùy theo vụ. Họ quét nhà, trông trẻ và trò chuyện luôn mồm. Họ tìm hiểu đời tư của chủ nhà, rất chăm chú nghe và tỏ vẻ thông cảm mỗi khi chủ nhân kể cho nghe một cảnh cực khổ của mình. Chẳng bao lâu, người dân chất phát coi họ là đồng tình đồng cảm với mình và có bao nhiêu tâm sự “ to nhỏ ” với họ cho kỳ hết. Họ chịu khó nghe và giảng giải cho anh thấy rõ nguyên nhân của mọi nỗi khổ của đời anh. Tỉ dụ trường hợp của một anh nông dân bị vợ bỏ, đi lấy chồng khác, thì cán bộ giải thích ngay rằng: “ Giá anh không bị tên địa chủ độc ác ấy bóc lột thì anh đâu đến nỗi túng thiếu. Anh đã sắm cho chị ấy đủ thứ thì việc gì chị ấy lại nỡ bỏ anh !” Tóm lại, theo cán bộ thì mọi khổ đau mà anh nông dân đã phA 3i chịu đều xuất phát từ sự bóc lột tàn bạo của bọn địa chủ lang sói. Đấy chính là điều mà họ cố nhồi vào óc mấy anh bần cố nông đã chứa họ trong nhà.

Sau đó họ bầy vẽ cho nông dân biết rằng chỉ có một phương pháp duy nhất để cải thiện đời sống của mình là tin theo chính sách của Đảng, đứng vùng lên tiêu diệt cho hết bọn địa chủ cường hào ác bá trong làng. Công tác tích cực nhồi sọ này tiếp diễn mỗi ngày đến 18 giờ, cho tới khi người nông dân trước kia hiền lành ngoan ngoãn, nay sẵn sàng đứng dậy chống lại chủ đất của mình. Người nông dân được giác ngộ này được gọi là cái “ rễ ”, và công tác kể trên được gọi là“bắt rễ”.
Tới giai đoạn này, người cán bộ chấm dứt mọi hành vi xách động của mình trong làng, và từ đó chỉ ở miệt trong nhà mà anh đã “ ba cùng ”. Từ đấy cán bộ chỉ hành động qua cái rễ của anh, mà anh cấp dưỡng tiền nong và dùng làm gián điệp thường xuyên. Anh cổ động cái “rễ” mà ta tạm gọi là A đi kết nạp B, rồi đến lượt B đi kết nạp C, và cứ thế mãi. Công việc này gọi là “xâu chuỗi ”; và B, C, D ... được gọi là “ cốt cán”...

Sau vài ba tháng hoạt động như vậy, người cán bộ thu thập được đầy đủ chi tiết về cái làng mà anh phụ trách, để đích thân báo cáo trước một phiên họp bí mật của Đoàn Cải Cách Ruộng Đất trong tỉnh. Tại đây, sau khi tham khảo ý kiến của Đoàn, anh cán bộ đề nghi qui định thành phần cho tất cả dân làng, đặc biệt là thành phần địa chủ, và gán cho người nào những “ tội” gì?
Tới lúc đó Đội cải Cách Ruộng Đất mới ra mắt công khai, Ủy ban hành chính xã và chi bộ Đảng ở xã tức thì bị giải tán. “ Đội ” đứng lên điều khiển mọi công việc trong làng, cắt cử một đội công an mới gồm toàn nông dân cốt cán và ra lệnh phong tỏa làng. Thường thường mỗi làng ở Băùc Việt có một lũy tre xanh bao quanh và có hai cổng. Họ đóng cổng lại, canh gate suốt ngày đêm và không cho ai ra vào nếu không có giấy phép của Đội Cải cách Ruộng đất. Đội liên lạc với Đoàn bằng một đường dây điện thoại mới dựng lên. Khách bộ hành hể thấy hàng cột tre còn đang xanh mang dây điện thoại là biết ngay trong làng nào đó ở phía đầu dây đang có đấu tố khủng khiếp. Người nào khôn hồn hãy tránh ngay đường dây ấy, nếu không có thể bị tai bay vạ gió, nguy hiểm đến tính mạng không chừng.

Chiến dịch chính thức mở đầu như vậy và được thực hiện làm sáu bước liên tiếp, mà bước cuối cùng là “ phiên xử án ”.

... Cải cách Ruộng đất còn một hình thức khác cần phải nói tới là chính sách “ cô lập địa chủ ”. Số người chết vì chính sách nầy còn đông gấp mười số người bị Tòa án Nhân dân Đặc biệt kêu án tử hình.

.... Mọi cuộc đấu tổ chức ngoài trời, thường là sân banh, hay tốt hơn là trên sườn đồi ..... Trên tầng cao nhất của khán đài treo ba bức ảnh khổng lồ, Hồ Chí Minh ở giữa, Malenkov bên phải và Mao Trạch Đông bên trái, trên mỗi chân dung lãnh tụ có cờ mỗi nước. Hai bên khán đài là những biểu ngữ rất lớn mang những khẩu hiệu như “ Phóng tay phát động quần chúng đấu tranh giảm tô (hoặc đấu tranh cải cách ruộng đất) và đả đảo tên địa chủ. Việt gian, phản động, cường hào, gian ác ...”

Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, mọi cuộc họp đều được tổ chức về đêm để tránh máy bay oanh tạc. Những cuộc đấu tố giữa trời đều được đốt sáng bằng đuốc, lửa khói cao ngất từng mây, tạo nên một quang cảnh quái đản, một cảnh tượng trong ác mộng. Người tham dự có cảm tưởng đang chứng kiến một cảnh quỷ sứ đương hành hạ những vong hồn rơi xuống địa ngục.

Khán đài soi sáng bằng đèn điện. Đôi khi có máy phát điện nhỏ nhưng thường là di-na-mô xe đạp. Bốn năm chiếc xe đạp buộc phía sau khán đài, mỗi chiếc có người đạp luôn chân. Cán bộ Đội Cải Cách Ruộng Đất nấp phía sau khán đài để nhắc và ra lệnh cho chủ tọa đoàn. Đôi khi có cố vấn Tàu mặc quần áo Việt cùng ngồi với họ ...
(trích rải rác từ trang 229-279)

Đấy là hình ảnh của những ông cán bộ trong Đội Giảm Tô hay Đội Cải Cách Ruộng Đất mà bố của Dương Thu Hương là Đội trưởng.

Lúc ấy, người dân tại các vùng bị đấu tố đã đặt ra câu: “Nhất Đội, Nhì Trời”, nghĩa là quyền lực của cán bộ trong Đội Giảm Tô hay Đội Cải Cách còn lớn hơn ông Trời !!!

Nhưng Dương Thu Hương đã khẳng định: “Cũng may là ông cụ không giết oan ai” !

Như vậy, tức là những người bị đấu tố và bị kết án tử hình tại những nơi do bố của Dương Thu Hương phụ trách đều đáng tội chết cả !

Kính thưa Linh Mục Nguyễn Hữu Lễ, ông Trần Quốc Bảo và ông Chu Lynh,

Tổng hợp những lời nói của Dương Thu Hương về Cải Cách Ruộng Đất, cho thấy người đàn bà này không đáng tin, không đáng được xem là “một nhân chứng sống” của Cải Cách Ruộng Đất, một phong trào đã giết hại hàng trăm ngàn người.

Về con số người bị giết hại, cũng không thể tin vào tài liệu của đảng cộng sản Việt Nam, cho rằng chỉ có 172.008 người bị giết !

Trong quyển Từ Thực Dân Đến Cộng Sản, cụ Hoàng Văn Chí viết: “Cho tới nay chưa một ai có thể ước lượng được số người chết trong hai chiến dịch long trời lở đất này (đấy là danh từ chính thức của cộng sản khi đề cập đến Cải Cách Ruộng Đất) nhưng theo lời của những người vượt tuyến vào Sàigòn năm 1957 thì khắp các vùng nông thôn Bắc Việt, nhân dân mang toàn khăn tang trắng. Điều này rất dễ hiểu vì ngoài những người bị Tòa án Nhân dân Đặc biệt lên án xử tử và hành quyết công khai còn vô số những người chết trong các trại giam và những người tự tử ngay sau khi bị vu là địa chủ. Số người tự tử và chết trong trại giam đã nhiều, nhưng chưa thấm vào đâu với số bố mẹ, con cái địa chủ chết đói vì chính sách bao vây kinh tế. Đấy chẳng qua chỉ là kết quả thực tế của phương châm: Thà giết mười người vô tội còn hơn để thoát một kẻ thù ”. Đấy là chính sách của đảng Lao động, áp dụng trong Cải Cách Ruộng Đất ...” (ngưng trích)

Nếu theo ước tính của cụ Hoàng Văn Chí, số người chết vì chính sách bao vây kinh tế, cô lập đ ịa chủ nhiều gấp 10 lần con số bị Toà án Nhân Dân chính thức kêu án, thì con số đó phải lên đến :
172.008 x 10 = 1,720.080 (một triệu bảy trăm hai mươi ngàn không trăm tám mươi người ) !

2. Về “ Sửa Sai ”

Trong DVD “ Sự Thật Hồ Chí Minh ”, chiến dịch Sửa Sai được diễn giải rằng:

“Cuộc cách mạng được gọi là long trời lở đất đượ c chấm dứt vào mùa thu năm 1956, với 170 ngàn người bị đấu tố đến chết; đảng cộng sản đã chịu nhận sai lầm và tiến hành Sửa Sai.”

Trong khi đó, cụ Hoàng văn Chí cho biết:

“ Sửa Sai là một chiến dịch, một bộ phận của chương trình Cải Cách Ruộng Đất. Như vậy, có nghĩa là định tâm Sửa Sai đã có từ trước khi phát động phong trào Cải Cách Ruộng Đất. Các độc giả chắc còn nhớ, ngay từ đầu năm 1953, cộng sản đã phát động một chiến dịch gọi là Đấu Tranh Chính Trị để dọn đường cho chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất, nghĩa là để chuyển dần từ một trạng thái bình thường đến một trạng thái khủng bố. Bây giờ là lúc cộng sản làm ngược lại. Sau ba năm khủng khiếp, cộng sản muốn bình thường hóa tình hình trở lại. Vì vậy nên mới có chiến dịch Sửa Sai. ” (TTDĐCS, trang 283)

Kính thưa Linh Mục Nguyễn Hữu Lễ, ông Trần Quốc Bảo, ông Chu Lynh,

Như vậy Sửa Sai không có nghĩa là cộng sản Việt Nam chịu nhận ra sai lầm của họ trong Cải Cách Ruộng Đất ! Vì Cải Cách Ruộng Đất được tiến hành với mục đích “ tiêu diệt toàn bộ giai cấp địa chủ để tiến tới việc thành lập chế độ vô sản chuyên chính ở nông thôn.”
(TTDĐCS, trang 222)

3. Thảm sát tại Huế trong Tết Mậu Thân 1968

DVD Sự Thật Hồ Chí Minh đã đưa ra những câu hỏi với cộng sản:

“Ai ? Bằng cách nào ? và Tại sao ? đã giết hàng ngàn người Huế ?...”

Thiết tưởng, những câu hỏi này đã được giải đáp bằng rất nhiều tài liệu, của VNCH cũng như của cộng sản.

Nhưng một điều quan trọng cần phải được nói đến là : vụ thảm sát tại Huế trong Tết Mậu Thân 1968 không thể xảy ra nếu không có sự tiếp tay của thành phần CS nằm vùng như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân, Tôn Thất Dương Tiềm v…v…(và những “người bạn”, những “đồng chí ” của những tên nằm vùng này, trong đó phải kể đến Trịnh Công Sơn, Đinh Cường.....) .

Chính những tên CS nằm vùng này đã chỉ điểm, bắt bớ, tập trung và giết chết đồng bào tại Huế bằng nhiều cách: bắn, đập đầu, chôn sống ....

Hoàng Phủ Ngọc Tường và Nguyễn Đắc Xuân đã bị đồng bào ở Huế kêu đích danh là “ những tên đao phủ thành phố Huế ” !




Giải khăn sô cho Hếu Mậu Thân 1968

Thế nhưng, DVD Sự Thật Hồ Chí Minh lại còn hỏi “Ai ” đã giết đồng bào Huế, đồng bào Huế bị giết “ bằng cách nào? và “ tại sao? ” họ bị giết ?

Thật là một thiếu sót lớn, nếu không biết ai là thủ phạm, và những ai đã tiếp tay vô cùng đắc lực trong vụ thảm sát Tết Mậu Thân tại Huế !

Phải biết chính thành phần nằm vùng này đã góp phần vào “ chiến thắng ” của quân xâm lăng cộng sản quốc tế do CS Bắc Việt làm tay sai, đã gieo tang tóc, gây băng hoại, và phá nát giang sơn Việt Nam !

Kính thưa Linh Mục Nguyễn Hữu Lễ, ông Trần Quốc Bảo và ông Chu Lynh,

Chúng tôi chỉ xin đóng góp vài ý kiến rất thô thiển đối với vài vấn đề chính yếu trong DVD Sự Thật Hồ Chí Minh, không ngoài mục đích làm sáng tỏ thêm “ sự thật ”.

Kính mong linh mục Nguyễn Hữu Lễ, và quý ông Trần Quốc Bảo, Chu Lynh không phật lòng.

Trân trọng kính chào quý vị,
Nguyễn thị Bé Bảy
Springfield, Virginia
Ngày 21 tháng 7 năm 2009

Vatican bổ nhiệm Bốn Giám Mục cho Giáo Hội CG tại Việt Nam

Joseph Alois Ratzinger

VATICAN. Hôm 25-7-2009, Phòng Báo Chí Tòa Thánh cho biết ĐTC Biển Đức 16 đã tiến hành việc bổ nhiệm GM cho 4 giáo phận tại Việt Nam: Thái Bình, Phát Diệm, Phan Thiết và Xuân Lộc.

- Trước hết ĐTC nhận đơn từ chức vì lý do tuổi tác của Đức Cha Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Sang, 77 tuổi (1932), GM giáo phận Thái Bình và bổ nhiệm người kế nhiệm là Đức Cha Phêrô Nguyễn Văn Đệ, 63 tuổi, thuộc dòng Don Bosco, cho đến nay là GM Phụ tá giáo phận Bùi Chu.

- Thứ hai là ĐTC bổ nhiệm Cha Giuse Nguyễn Năng làm tân GM giáo phận chính tòa Phát Diệm. Đức tân GM năm nay 56 tuổi, sinh ngày 24-11 năm 1953 tại Phúc Nhạc, Phát Diệm, học tiểu chủng viện Sàigòn từ năm 1962 đến 1970, rồi lên Đại chủng viện Thánh Piô 10 Đà Lạt từ năm 1975 đến 1978. Trong thời gian thụ huấn, thầy Giuse Năng phục vụ trong Tu Hội Tông Đồ Nhỏ ở Bạch Lâm, Thống Nhất, Đồng Nai (1977-1988) rồi tại giáo xứ Thuận Hoa, Biên Hòa (1988-1990) cho đến khi thụ phong Linh mục ngày 9-6-1990 thuộc giáo phận Xuân Lộc.

Sau khi thụ phong, cha Giuse Năng làm cha sở và quản hạt Thuận Hoa, Biên Hòa trong 8 năm trời (1990-1998) cho đến khi được gửi sang Roma du học tại Đại học Giáo Hoàng Urbaniana và đậu tiến sĩ thần học tín lý năm 2002. Trở về nước, Cha Giuse Năng làm Giám đốc đại chủng viện Xuân Lộc.

Giáo Phận Phát Diệm có 152 ngàn tín hữu Công Giáo trên tổng số 920 ngàn dân cư, với 69 giáo xứ, 55 LM, 34 đại chủng sinh và 140 nữ tu. Giáo phận trống tòa từ hơn 2 năm nay sau khi Đức Cha Giuse Nguyễn Văn Yến năm nay 67 tuổi (1942), xin từ chức ngày 14-4 năm 2007.

- Bổ nhiệm thứ ba ĐTC quyết định cho Giáo Hội tại Việt Nam là ngài nhận đơn từ chức vì lý do của Đức Cha Phaolô Nguyễn Thanh Hoan, 77 tuổi, GM giáo phận Phan Thiết và cử người kế nhiệm là Đức Cha Giuse Vũ Duy Thống, 57 tuổi (1952) cho đến nay là GM Phụ tá Tổng giáo phận Thành Phố Hồ chí Minh.

- Sau cùng, ĐTC bổ nhiệm Cha Tôma Vũ Đình Hiệu làm tân GM Phụ tá giáo phận Xuân Lộc. Đức tân GM năm nay 55 tuổi, sinh ngày 30 tháng 10 năm 1954 tại Ninh Mỹ, giáo phận Bùi Chu, theo học tại tiểu chủng viện Xuân Lộc, trước khi lên Đại chủng viện thánh Piô 10 Đà Lạt. Do tình trạng chính trị khó khăn của đất nước, Thầy Tôma Hiệu phục vụ tại giáo xứ Tân Mai trong 10 năm trời (1977-1988) trước khi về Tòa GM Xuân Lộc làm bí thư của Đức Cha Nguyễn Minh Nhật từ năm 1988 đến 1999 là năm thầy thụ phong Linh Mục (22-1-1999).

Sau khi thụ phong, Cha Tôma Hiệu tiếp tục phục vụ tại tòa GM rồi được gửi sang Pháp năm 2000 học thần học luân lý tại Học viện Công Giáo Toulouse, đậu cao học thần học tại đây năm 2006 rồi trở về nước, làm Chưởng ấn tòa GM Xuân Lộc. (SD 25-7-2009)

G. Trần Đức Anh OP
Source: http://vietcatholic.net/News/Html/69438.htm

Tư Tưởng Cắc Kè - Bút Sử


Trong tháng 7, 2009 này, một phim tài liệu với tựa “Sự Thật về Hồ Chí Minh” đã được tung ra do nhóm linh mục Nguyễn Hữu Lễ thực hiện. Được biết trong nước một số người đã vào các link và www.youtube. com để xem. Người ta còn download vào máy để làm ra những copy tìm cách phổ biến. Ngoài tài liệu hình ảnh sưu tầm từ mọi nơi, ban thực hiện còn có những phỏng vấn nhiều sử gia, nhà báo, nhà nghiên cứu, lãnh đạo tinh thần, đảng viên ly khai từ các nơi trên thế giới ... Đây là một việc làm xứng đáng được hoan nghênh, và đúng ra cộng động tỵ nạn đã nên thực hiện phim như thế từ lâu.

Nhà báo Pháp Oliver Todd, tác giả cuốn "Cruel April," trong phim khi phỏng vấn đã nói đại ý rằng người Việt Nam nói chung hiểu vấn đề qua hình ảnh hơn là các phương tiện khác như sách báo, thế nên việc tuyên truyền bằng hình ảnh rất quan trọng đối với cộng sản. Một Hồ Chí Minh với gương mặt phúc hậu (mặt thật thì nhọn và xương), với râu trắng dài như ông tiên, tai đầy tròn như Phật; sau ngày ông qua đời hình ảnh này được phổ biến mọi nơi, trên những giấy tiền, cộng thêm một hệ thống tuyên truyền ngày ngày rỉ rả thêu dệt huyền thoại để người nghe bị in vào đầu một bóng dáng như toàn thiện.

Phim tài liệu với nhiều chứng minh sự thật về con người lịch sử Hồ Chí Minh này là một đối chọi đáng kể đối với Đảng Cộng Sản trong nước ngày nay. Thật vậy, nhũng gì mà Đảng đang ra công nhồi nhét vào đầu óc mọi người về Hồ Chí Minh đều đi ngược lại những gì trong phim. Không đưa ra hết mọi mặt, nhưng phim đã trình bày đa phần quan trọng về nhân vật họ Hồ.

Những người đàn bà trong đời Hồ Chí Minh, đặt biệt nhất là Nông Thị Xuân. Hình cô Xuân, một phụ nữ rất xinh đẹp vào khoảng tuổi dưới 30 khi ông Hồ lúc 1956 đã trên 66. Vũ Thư Hiên nói rằng chính vì cô Xuân muốn làm vợ “bác Hồ” mà đã bị thủ tiêu, chết vì bị đập đầu nhưng Đảng tạo ra một tai nạn lưu thông để che mắt. Bùi Tín khẳng định Nguyễn Tất Trung chính là con của ông Hồ và cô Xuân hiện đang sống tại Hà Nội mà chính Trung cũng dần dà biết ra mình là con của của người lãnh tụ cộng sản. Trước cô Xuân ông Hồ còn nhiều mối tình khác nữa như Tăng Tuyết Minh, Nguyễn Thị Minh khai ...

Phim còn đề cập ông Hồ có rất nhiều bút danh và bí danh, có thể nói trên 50 (có thể chỉ là bút danh), nhưng người viết đã từng phổ biến là Hồ Chí Minh có gần 200 tên. Đây là tài liệu chính thức của Viện Bảo Tàng Hà Nội khi cho ra đời, 2003, cuốn “Những Tên Gọi, Bí Danh, và Bút Danh của Hồ Chủ Tịch”, trong đó họ đã ghi ra một cách rất chi tiết 174 tên, cộng thêm hơn 30 tên đang nghiên cứu. Tuy nhiên, bút danh Trần Dân Tiên thì không được tiết lộ, mặc dù văn công Hà Minh Đức đã công bố Trần Dân Tiên chính là Hồ Chí Minh trong cuốn “Tác Phẩm Văn của Chủ Tịch Hồ Chí Minh”, xuất bản 1985.

Phim còn nhấn mạnh hiện tượng UNESCO mà Đảng đã cố tình tạo dựng ra một “Hồ Chí Minh là danh nhân văn hoá thế giới” khi chưa hề có chuyện UNESCO tuyên dương như vậy. Còn nhiều chi tiết khác phim đã trình bày, nhưng ở đây người viết muốn khai thác cái gọi là “tư tưởng Hồ Chí Minh”.

Nếu Ngục Trung Nhật Ký là của Hồ Chí Minh thì dĩ nhiên tư tưởng của ông phải ẩn hiện trong đó. Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích đưa ra dẫn chứng: Ông Đặng Thái Mai khi nhận công tác dịch thuật cuốn thơ từ chữ Hán ra Việt đã thấy hình bìa in 1932-1933. Khi Đặng Thái Mai hỏi ông Hồ tại sao ông cho rằng Hồ Chí Minh làm những bài thơ này khi bị tù tại Trung Quốc từ 1942-1943? Hồ Chí Minh lặng thinh không trả lời. Những bài thơ nói rất nhiều về chuyện Trung Hoa, chiến tranh chống Nhật, ca tụng Tưởng Giới Thạch v.v..

Thật ra tư tưởng Hồ Chí Minh, như nhà nghiên cứu lịch sử Trần Gia Phụng nói trong phim, là một chế biến để cứu nguy chế độ. Sau ngày cộng sản Đông Âu và Liên Sô sụp đổ thì khẩu hiệu “chủ nghĩa Marx Lenin bách chiến bách thắng” đã không còn hợp thời, nên 1992 Hiến Pháp của Đảng được sửa đổi và trong đó có thêm phần “tư tưởng Hồ Chí Minh”. Nhưng rồi Đảng lại không biết trình bày cái tư tưởng đó như thế nào, ngoài những khẩu hiệu kêu gọi toàn dân nên như thế này, thế kia ... Ông Trần Ngọc Thành, quê Nghệ An, một cựu đảng viên, hiện sống tại Ba Lan, cho rằng ông chỉ thấy “tư tưởng Hồ Chí Minh” chỉ là những câu như: cần kiệm, chí công vô tư, chủ nghĩa yêu nước ... Ông nói đó là những thứ sáo rỗng.

Jean Lacouture, một nhà giáo người Pháp thân cộng, cũng cho rằng Hồ Chí Minh là một người hành động. Ngay chính ông William Duiker, tác giả cuốn “Ho Chi Minh A Life”, cuốn sách mà Đảng muốn dịch thành tiếng Việt với điều kiện không dịch phần vợ con của ông Hồ, nhận xét rằng ông Hồ không có tư tưởng gì cả so với những lãnh tụ làm chính trị khác trên thế giới. Giáo sư Douglas Pike (không có trong phim) xác định Hồ chỉ là một người giỏi tổ chức, không phải nhà cách mạng (organization man, not revolutionary man,) ông có tài gây ra phong trào (to organize the movement).

Ai cũng nhận thấy rằng không gì hơn là lấy chính lời của ông Hồ để chứng minh ông có tư tưởng hay không. Chính Hồ Chí Minh khi hỏi vê “tư tưởng” ông đã trả lời với nhà báo rằng ông không có tư tưởng gì cả, cái đó đã có ông Mao, ông Marx lo rồi. Đảng trả lời sao đây khi mà hiện nay trong nước càng đẩy mạnh cái gọi là “GiáoTrình Tư Tưởng Hồ Chí Minh” cho thành phần sinh viển đại học và cao đẳng?

Nếu lấy câu “gậy ông đập lưng ông” áp dụng cho chính sách giáo dục trong nước ngày nay thì cũng rất hợp thời. Bởi vì sau khi học và nghiên cứu kỹ lưỡng về những thành tích và hoạt động của ông Hồ trong suốt chiều dài cuộc đời làm chính trị của ông thì có thể sinh viên sẽ đi đến một kết luận về tư tưởng của ông Hồ. Đó không gì hơn là “Tư Tưởng Cắc Kè”.

Ông Vũ Ngự Chiêu trong phim “Sự Thật về Hồ Chí Minh” đã đưa ra nhận định rất đáng ghi nhận. Ông cho rằng Hồ Chí Minh hành động với chủ ý của mình theo từng giai đoạn, từng hoàn cảnh và nhu cầu. Hồ dựa vào các thế lực ngay vào thời điểm mà ông ta cần và lúc đó tư tưởng của Hồ là tư tưởng của các thế lực đó.

Giai đoạn 1919, Hồ ca ngợi chủ trương của Tổng Thống Hoa Kỳ Wilson về chính sách thuộc đia, khi ông mới nhuốm nhém là thành viên của Đảng Xã Hội bên Pháp. Ông gia nhập Đảng Cộng Sản Pháp 1920 nên cái gì của Pháp cũng đẹp. Ông qua Nga 1923 thì tìm thấy thần tượng là chủ nghĩa Marx Lenin, một thứ ánh sáng soi đường, là thứ cẩm nang thần kỳ. Trong giai đoạn phải hợp tác với Tưởng Giới Thạch bên Tàu thì lại tôn vinh Tôn Dật Tiên với thuyết Tam Dân. Khi được OSS (cơ quan tình báo của Hoa Kỳ) mướn làm liên lạc viên đem thông tin qua lại giữa ranh giới Tàu và Việt khi đối đầu với Nhật thì Hồ Chí Minh đề cao những người Mỹ là “vĩ nhân.” Trơ trẽn hơn hết là sau khi cướp được chính quyền Trần Trọng Kim, ngày 02/09/1945, Hồ Chí Minh đọc “tuyên ngôn” lại dùng nguyên văn những câu trong Tuyên Ngôn Độc Lập của Hoa Kỳ.

Vũ Ngự Chiêu

Đó là đại loại tư tưởng của ông Hồ mà ông Vũ Ngự Chiêu gọi là “Tư Tưởng Cắc Kè”.

Đảng Cộng Sản Việt Nam lãnh đạo bởi Hồ Chí Minh, sau ngày ông chết đã nhuộm đỏ luôn miền Nam. Di sản của Hồ để lại vẫn là Đảng Cộng Sản Việt Nam, một bộ phận rất gương mẫu của quốc tế cộng sản, mà trước đó Hồ Chí Minh được thế giới cộng sản xem là dễ sai dễ bảo nhất. Những hành động và tư cách thể hiện cái “không tư tưởng” của Hồ đã làm cho lãnh tụ của ông ta không một chút tôn trọng.

Trong “Ho Chi Minh, A Biography” của Pierre Brocheux, trang 145, ghi: “Khrushchev also wrote that Stalin showed little sympathy for Ho, whom he called “a communist troglodyte” – Khrushchev đồng thời viết rằng Stalin tỏ ra không chút nào thiện cảm với Hồ, người mà ông gọi là “người cộng sản ngu dốt, như dã nhân kém văn minh thời tiền sử.”

Vấn đề ở đây một cách thực tế là đến thế kỷ 21 với thông tin nhanh nhẹn toàn cầu bằng internet, bằng radio, bằng telephone, khó mà có thể che dấu hay thêu dệt huyền thoại như Đảng đã từng làm trong quá khứ. Dù cố gắng ngày đêm ra công vẽ bùa hộ mạng cho chế độ, nhưng nỗ lực đó sẽ tồn tại được bao lâu? Nhà báo Oliver Todd nói rằng chỉ còn hai huyền thoại là Hồ Chí Minh và Che Guevara (cộng sản gốc Argentine), hai nhân vật lãnh đạo cộng sản được đánh bóng để tuyên truyền.

Phim tài liệu “Sự Thật về Hồ Chí Minh” đã góp phần vào việc xoá tan huyền thoại Hồ Chí Minh để đi đến mục đích của Phong Trào Quốc Dân Đòi Trả Tên Saigon. Mong rằng chúng ta sẽ đón nhận thêm về phần phim có tiếng Anh cho giới trẻ hải ngoại.

Bút Sử
7/2009

Mời Quý Vị xem và phổ biến Video về bộ mặt thật tên HCM














Source: http://vietnamdanchu.spaces.live.com...A339!448.entry

Saturday, July 25, 2009

SỰ THẬT về HỒ CHÍ MINH - Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất

SỰ THẬT về HỒ CHÍ MINH,
KHÔNG BIẾT hay KHÔNG DÁM NÓI


Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất


Buổi chiều Thứ Bẩy vừa qua, tôi không đi dự ra mắt DVD “Sự Thật Về Hồ Chí Minh” của Lm Nguyễn Hữu Lễ vì bận việc quá. Nhưng rồi tôi cũng phải xoay xở cho bằng được về để coi cho biết. Không phải chỉ để coi qua như coi một phim chuyện, hay một DVD ca nhạc, mà cố ý coi để hiểu biết sự thật về HCM ra làm sao, tên già dịch này ghê gớm như thế nào mà thấy người ta quảng cáo quá chừng chừng.

Xem hết cuốn DVD, tôi thực sự cảm thấy buồn, chán nản, và thất vọng nữa. Những chuyện mà nhà làm phim, Lm Nguyễn Hữu Lễ, gọi là sự thật về Hồ Chí Minh và về đảng VGCS, theo tôi nghĩ, đó mới chỉ là những thứ rong rêu bám vào chung quanh sự thật chứ không phải là sự thật. Cái sự thật trần trụồng và chính xác nhất thì vẫn còn nằm kín bên trong cái lớp vỏ bùn đất rong rêu dầy đặc kia. Hồ Chí Minh giết người: đúng. Hồ Chí Minh chơi chạy: đúng. Hồ Chí Minh bán đồng chí: đúng. Hồ Chí Minh ăn cắp thơ văn: đúng. Hồ Chí Minh lưu manh bịp bợm: đúng. Vân vân và vân vân. Tất cả tội ác của Hồ được phơi bầy trong cuốn DVD đều thật cả, không có cái gì là không thật. Nhưng sự thật chính xác nhất là cái gì thì người ta lại không tìm ra, hay không muốn khui ra thì không biết. Tôi buồn, chán nản, và thất vọng là vì vậy. Tôi tin rằng người dân không hiểu biết nhiều về HCM, và nhất là bọn cán bộ đảng viên gà mờ nếu xem dĩa DVD này, sẽ thở phào nhẹ nhõm: Tưởng gì, té ra cũng vậy thôi. “Bác Hồ” có những sai phạm cá nhân. Chuyện đó thường tình mà. “Bác” cũng là người với những bất toàn của một con người. Nhưng dù sao “Bác” cũng vẫn là một người yêu nước. “Bác” đã có công thống nhất Tổ Quốc và dành lại độc lập cho Dân Tộc ….

Thế là huề cả làng. Đi đoong cái công lao và tiền bạc của cha Lễ.

Sự Thật Chính Mi

Tôi phải đi tìm định nghĩa của sự thật trước rồi mới xác định nó được. Sự thật về một con người là con người đó với tất cả bản tính trời sinh (attribute) của nó, hay gọi là bản chất, nghĩa là những thuộc tính không thay đổi của một con người. Bản chất xấu đưa con người đi đến làm điều ác. Tội ác cũng có từng loại và mức độ khác nhau. Chẳng hạn, giết một người gây đau khổ cho một gia đình. Nhưng giết nhiều người làm thương tổn đến một cộng đồng hay cả một dân tộc. Hồ Chí Minh phạm đủ mọi thứ tội ác xấu xa, nhưng cái bản chất xấu xa nhất trong con ngưòi của hắn là làm tay sai cho ngoại bang, và từ đó đi đến chỗ bán đứng Tổ Quốc cho ngoại bang. Đó mới chính là sự thật chính xác nhất về HCM. Nhưng rất tiếc toàn bộ đĩa DVD của Lm Nguyễn Hữu Lễ đã không xác định được điều này.

HCM có làm tay sai cho ngoại bang không, có bán nước không, chúng tôi sẽ chứng minh dưới đây bằng những văn kiện chính thức của đảng CSVN và bằng sách vở báo chí, hoàn toàn không vì thù ghét cá nhân mà kết tội hồ đồ.

- Tờ Người Cùng Khổ (Le Paria) của Nguyễn Ái Quốc năm 1931 viết: Tổ quốc không nhất thiết phải bao gồm những người cùng một màu da hoặc cùng một ngôn ngữ. Tổ quốc là sức mạnh chính trị của giai cấp. Vô sản Đông Dương không có tổ quốc.

Như thế HCM tự xác nhận mình là người vô tổ quốc. Một người không có tổ quốc mà bảo rằng hắn tranh đấu cho độc lập của dân tộc là nói láo, hoàn toàn láo.

- Sau đây là một đoạn trích trong lá thư xin việc của HCM viết ngày 06-06-1938, sau gần 7 năm không được Quốc Tế Cộng Sản giao công tác (HCM Toàn Tập - Tập 3 trang 90): Đồng chí hãy phân tôi đi đâu đó. Hoặc là giữ tôi ở lại đây. Hãy giao cho tôi làm một việc gì mà theo đồng chí là có ích. Điều tôi muốn đề nghị với đồng chí là đừng để tôi sống quá lâu trong tình trạng không hoạt động và giống như là sống ở bên cạnh, ở bên ngoài của Đảng.

Tôi sẽ rất biết ơn đồng chí, thưa đồng chí thân mến, cho phép tôi được hội kiến. Tôi tin rằng như vậy sẽ tốt hơn. Đã từ lâu rồi đồng chí không gặp tôi.

Một người đi xin việc với một chính quyền ngoại bang thì rõ ràng là công bộc của ngoại bang chứ còn là gì nữa. Nói khó nghe một tí là đầy tớ hay là tay sai của ngoại bang thì cũng thế thôi.

- Tờ báo cáo dưới đây (trích trong HCM Toàn tập - Tập 2) HCM gởi cho ban Phương Đông, Quốc Tế Cộng Sản yêu cầu gởi tiền cho hắn hoạt động để thực hiện các công tác bành trướng chủ nghĩa cộng sản tại Đông Nam Á. Hồ đã được điện Cẩm Linh trả lương để thực hiện ý đồ xâm lược VN của Liên Xô:

BÁO CÁO GỬI BAN PHƯƠNG ĐÔNG QUỐC TẾ CỘNG SẢN (06-1927)

1. Từ tháng 11-1924, tôi được Ban phương Đông và Đảng Cộng sản Pháp phái đến Quảng Châu để làm việc cho Đông Dương.

Tôi tiếp tục đi Mátxcơva để trình bày yêu cầu của tôi.

4. Yêu cầu của tôi: Ngay bây giờ tôi không thể lập một dự trù ngân sách chi tiết cho công tác của tôi ở Đông Dương (đi qua Xiêm). Vì vậy, tôi chỉ có thể lập dự trù theo cách áng chừng với những con số phù hợp với hoàn cảnh. Biết sự khó khăn về liên lạc từ Đông Dương đi Mátxcơva, và định thời gian cư trú ở thuộc địa này khoảng chừng 2 năm, tôi trình bày với các đồng chí một yêu cầu về ngân sách tính theo Mỹ kim như sau:

Lương tháng 150 đôla trong 2 năm
(cho tôi và những người giúp việc) 3.600 $
Quỹ để công tác trong 2 năm
(mỗi tháng 200 đôla) 4.800 $
Tiền chi bất thường 1.100 $
Tổng cộng 9.500 $

Tất nhiên, ở đây tiền lương chỉ là tượng trưng vì ngoài phần trợ giúp tối cần thiết cho chúng tôi, phần còn lại sẽ chuyển sang quỹ công tác. Và nếu các đồng chí vui lòng chấp thuận thì ngân sách này chỉ được thực hiện từ ngày tôi đến Băng Cốc.

Trong khi chờ đợi quyết định của các đồng chí, xin các đồng chí vui lòng:

1. đưa tôi vào bệnh viện, 2. khi tôi ra bệnh viện cho phép tôi được học vài kinh nghiệm cần thiết cho công tác của tôi,
3. và cho tôi lên đường càng sớm càng tốt.

Gửi các đồng chí lời chào cộng sản.

Làm việc do lòng tốt muốn giúp đỡ người khác thì tốt đấy. Nhưng làm việc được trả lương thì lại khác. Đây mới là bằng chứng xác thực nhất HCM là tay sai của Liên Sô.

- Dưới đây nữa là bức thư đề ngày 31-10-1952 của HCM viết cho Stalin để xin chỉ thị về đề án Cải Cách Ruộng Đất phác họa cho Việt Nam:

Đồng chí Stalin kính mến !

Tôi gửi cho đồng chí đề án cải cách ruộng đất của Đảng Lao Động Việt Nam . Đề án này tôi đã hoàn thành với sự giúp đỡ của 2 đồng chí Liu Shaoshi và Van Szia-Sian. Đề nghị đồng chí tìm hiểu và đưa ra chỉ thị về đề án này.

Kính gởi tới đồng chí lời chào cộng sản.

Chỉ một phần nhỏ trích dẫn trên trong kho tài liệu về HCM cho thấy Hồ là một tên vô tổ quốc (đúng hơn tổ quốc của hắn là Đế Quốc CS Nga), tự nguyện làm đầy tớ cho Liên Sô, lãnh lương của Liên Sô, và nhận chỉ thị của điện Cẩm Linh thi hành các chánh sách của đế quốc Liên Sô về Việt Nam. Như thế tưởng đã đủ để đi đến kết luận rằng HCM là tên Việt gian tay sai của của đế quốc đỏ Liên Sô. Từ là một tên tay sai ngoại bang cai trị đất nước ta, HCM bán đất nước ta cho ngoại bang là chuyện không có gì là lạ. Chúng tôi xin nêu ít nhất 2 bằng chứng cụ thể trên giấy trắng mực đen sau đây:

- Thứ nhất, hồi tháng 6 năm 1956, Thứ trưởng Ngoại giao Ung Văn Khiêm dưới quyền của HCM nói với Li Zhimin, Xử lý Thường vụ Toà Đại Sứ Trung quốc tại Bắc Việt, rằng: theo những dữ kiện của Việt nam, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là môt bô phận lịch sử của lãnh thổ Trung quốc.

Saigon - Hanoi - Paracels Islands Dispute – 1974
Frank Ching (Far Eastern Economic Review, Feb. 10, 1994)

- Thứ hai, ngày 04 tháng 09 năm 1958, chính phủ Trung Quốc đã tuyên bố bề rộng của lãnh hải Trung Quốc là mười hai hải lý, được áp dụng cho tất cả các lãnh thổ của nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa, bao gồm cả Quần Đảo Ðông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa. Mười ngày sau đó tức là ngày 14-9-1958, Phạm Văn Đồng, thủ tướng dưới quyền HCM, gởi một công hàm ngoại giao cho Chu Ân Lai ủng hộ lời tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc nguyên văn như sau:

Thưa Đồng chí Tổng lý,

Chúng tôi xin trân trọng báo tin để Đồng chí Tổng lý rõ:

Chính phủ nước Việt-nam Dân Chủ Cộng Hoà ghi nhận và tán thành bản tuyên bố , ngày 4 tháng 9 năm 1958, của Chính phủ nước Cộng Hoà Nhân dân Trung-hoa, quyết định về hải phận của Trung-quốc.

Chính phủ nước Việt-nam Dân Chủ Cộng Hoà trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung-quốc, trong mọi quan hệ với nước Cộng hòa Nhân dân Trung hoa trên mặt bể.

Chúng tôi xin kính gửi Đồng chí Tổng lý lời chào rất trân trọng.


Chỉ với những văn kiện và trích dẫn trên tưởng đã đủ để đi đến kết luận rằng HCM chính là một tên đại Việt gian tay sai bán nước. Cái huyền thoại Hồ là người yêu nước, có công thống nhất đất nước, đem lại độc lập cho Tổ Quốc chỉ là một huyền thoại ảo, là nói láo, đại láo khoét. Ngược lại Hồ là một tên tội đồ của Dân Tộc.

Không Biết hay Không Dám Nói

Những nhân vật xuất hiện trên đĩa DVD để phanh phui sự thật về HCM thì nhiều lắm. Toàn là những tai to mặt lớn cả, bằng cấp bề bề, địa vị ngất ngưởng. Ngoài hai nhà làm phim là Lm Nguyễn Hữu Lễ và ông Trần Quốc Bảo, chúng tôi điểm danh một số người có tên tuổi sau đây, ta, tầu, tây đủ cả, và ghi nhận đại khái những nhận định của họ về HCM như sau:

- Ông Minh Võ: HCM, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp đều không hiểu chủ nghĩa cộng sản đến nơi đến chốn.

Nhà biên khảo Minh Võ cho rằng Hồ và đám đệ tử Chinh, Đồng, Giáp v.v. không hiểu chủ nghĩa CS đến nơi đến chốn. Nói như thế có nghĩa là chủ nghĩa CS là một chủ nghĩa cũng tốt đẹp, hay ít ra không đến nỗi tệ lắm. Theo ông Minh Võ thì cứ hiểu chủ nghĩa CS cho thấu đáo và tường tận đi đã, rồi mới đem áp dụng thì đã chẳng có chuyện gì. Muôn sự chỉ vì Hồ Chí Minh và bọn đệ tử đã không hiểu chủ nghĩa CS, chứ nếu thấu hiểu đàng hoàng đến nơi đến chốn thì đất nước đã chẳng đến nỗi tanh banh tenh béc như thế này. Đó là một sự tiếc rẻ của ông Minh Võ. Ông chỉ chê bọn đầu sỏ CS ngu dốt, thật ra chúng chẳng có tội gì.

- Bùi Tín: Hồ bị chủ nghĩa Marx mê hoặc. (Bùi Tín còn lên tiếng đòi quyền lợi cho Nguyễn Tất Trung, đứa con rơi vô thừ nhận của Hồ)

- Jean Francois Revel: Mục tiêu đấu tranh của HCM không phải là độc lập của VN mà là sát nhập VN vào Quốc Tế CS.

Tuy là một người Pháp, nhưng triết gia Revel có một cái nhìn tuy chưa phải là sự thật, nhưng khá gần với sự thật. Một người Pháp nói được như thế cũng là tốt lắm rồi.

- Olivier Todd: Hồ là tín đồ cuồng tín của chủ nghĩa CS.

- Jean Sainteny: Hồ hoàn toàn gắn bó với chủa Nghĩa CS.

- Bernard Fall: Hồ trung thành vô điều kiện với Stalin.

- Trương Vĩnh Kính: Hồ đánh phá và lũng đoạn các tổ chức Quốc gia, thủ tiêu các nhà yêu nước.

- Vũ Ngự Chiêu: Hồ là một nhà độc tài có nhiều tham vọng.

- Nhà báo Balan Robert: HCM là một tay giệt chủng, có tội với dân tộc mình.

Đây là lời kết tội HCM khá nặng nề của một người ngoại quốc mà chúng ta rất ít gặp, nhưng còn xa với sự thật mà chính nó là.

- Ông Bùi Diễm: Tư tưởng Hồ không lấy gì làm xuất sắc lắm, và đạo đức của Hồ không lấy gì tốt đẹp cho lắm.

Nói như ông cựu đại sứ Bùi Diễm thì ta phải hiểu là HCM cũng có tư tưởng chứ không phải không có. Chỉ có điều là tư tưởng của Hồ không được xuất sắc lắm. Về đạo đức cũng vậy, Hồ có đạo đức, chỉ là không được tốt đẹp lắm thôi. Theo ông Bùi Diễm thì HCM cũng giống như một thí sinh đi thi, đậu thì có đậu đấy (hạng bình thứ) nhưng chỉ không đậu cao thôi (hạng ưu). Ngài cựu đại sứ VNCH người ta đồn là rất thân với Xịa nói thế ai muốn hiểu thế nào thì hiểu. Riêng người viết thì nghĩ rằng ông Bùi Diễm không thể nào cạn tàu ráo máng với cộng sản được, vì “người ta” đâu có thể để cho ông làm thế.

- Ông Nguyễn Ngọc Bích: HCM có nhiều ngày sanh khác nhau chứng tỏ một con người thiếu thành thật.

Ông giáo sư bể dâu Nguyễn Ngọc Bích tố Hồ Chí Minh ra trò lắm, nhưng rất tiếc ông đã không đánh lưỡi 7 lần trước khi nói (ngạn ngữ Pháp: tourner la langue 7 fois avant de parler), nên ông bị hố và trở thành mình tự chửi mình. Ông Bích tố cáo HCM có nhiều ngày sanh khác nhau chứng tỏ một con người thiếu thành thật. Thế nhưng Nguyễn Chí Thiện cũng có cả lô ngày và năm sanh khác nhau thì ông Bích lại coi Thiện như anh em ruột thịt. Chẳng bao giờ ông Bích thắc mắc về sự thiếu thành thật của Nguyễn Chí Thiện cả.

Nói tóm lại, toàn bộ đĩa DVD của cha Lễ, người ta chỉ nghe kể ra các tội lỗi, các thói xấu của HCM mà không thấy một ai nêu rõ đựợc bản chất tay sai bán nước của hắn. Đấy là tôi không đề cập đến những phát biểu cố ý làm nhẹ đi các tội ác của đảng CS vì e bài viết sẽ dài quá mà chỉ chú tâm vào vấn đề chính là cái huyền thoại HCM. Vậy huyền thoại HCM là gì? Thưa là một người yêu nước, có công thống nhất đất nước, đem lại độc lập tự chủ cho dân tộc. Với công lao to lớn này, Hồ xứng đáng được gọi là quốc phụ, là cha già của dân tộc VN. Muốn đánh đổ cái huyền thoại này, đĩa DVD phải chứng minh Hồ chỉ là một tên tay sai của Liên Sô. Hồ phát động chiến tranh, giết hại đồng bào của mình để mở rộng đế quốc đỏ Liên Sô chứ không phải vì độc lập của Tổ Quốc. HCM đã từng tuyên bố: Theo chỉ chị của Quốc Tế CS, tôi (HCM) đã hoàn thành sứ mạng Bolchevick hóa Đông Dương. Và trong diễn văn khai mạc Ðại Hội 3 đảng CSVN năm 1960, Hồ phát biểu: Cách mạng Việt Nam là một bộ phận của lực lượng hòa bình xã hội chủ nghĩa trên thế giới. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một thành viên trong đại gia đình xã hội chủ nghĩa đứng đầu là Liên Xô vĩ đại. Chúng ta có nhiệm vụ giữ vững vị trí tiền đồn của chủ nghĩa xã hội ở Ðông Nam Á và trên thế giới. Sự thể này đã được chính Khrushchev, Tổng Bí Thư đảng CS Liên Sô xác nhận và viết trong kết luận của chương về Hồ Chí Minh và Chiến tranh Việt Nam như sau: Cuộc chiến này (chiến tranh VN) không chỉ vì tương lai của người dân Việt Nam. Nhân dân Việt Nam đang đổ máu và xả thân cho phong trào Cộng sản thế giới. (chứ không phải cho dân tộc VN, lời chú của người viết).

Công trình của Lm Nguyễn Hữu Lễ là nhằm đánh đổ huyền thoại HCM. Những luận chứng rõ ràng và đanh thép như trên để làm việc này thì lại không thấy một ai trong nhóm tham dự vào việc đi tìm sự thật về HCM nêu ra. Quý vị không biết hoặc thậm chí không muốn biết là, trên bình diện chính trị, chỉ có tội bán nước của HCM mới đánh đổ được cái huyền thoại yêu nước của hắn thôi. chỉ nhắc lại những điều “khổ lắm biết rồi nói mãi” trên các sách báo, chẳng hạn như HCM giết người, HCM gạt gẫm đàn bà, có vợ bỏ vợ, có con bỏ con, HCM ăn cắp thơ của người khác, HCM bán đứng bạn bè cho Tây, thủ tiêu đồng chí v.v... chẳng ăn thua gì, không giết nổi cái huyền thoại về hắn đâu. Những tài liệu HCM làm tay sai cho Liên Sô, cho Tầu cộng, bán nước ra sao có thể tìm thấy ở bất cứ văn khố hay thư viện nào trên khắp thế giới. Thế mà trong suốt đĩa DVD, chúng ta không thấy một ai trưng dẫn. Quí vị này toàn là những người có học thức cao, VN và ngoại quốc. Do đó câu hỏi cần đặt ra là họ có biết hay không biết, có đọc hay không đọc các tài liệu quan trọng về HCM. Chúng tôi không tin họ không biết và không đọc, bởi vì họ là những nhà viết sử, những nhà báo chuyên về các vấn đề của VN. Tại sao họ biết mà không dám nói thì đây là một điều lạ, một câu hỏi quan trọng, rất quan trọng cần phải đặt ra cho mọi người.

Vì Tôi Là Linh Mục

Trong bất cứ một phiên tòa nào, kể cả tòa án nhân dân của CS, cũng đều gồm có đủ ba thành phần gồm chánh án, bị cáo, và biện lý (đại diện ngành công tố). Dĩ nhiên luật sư là người đứng về phía bị cáo. Bị cáo có bị kết tội hay không, tội nặng hay tội nhẹ, tùy thuộc không ít vào thái độ của biện lý. Muốn tội nặng, biện lý ghép nghi can vào những trường hợp nặng nhất, đưa ra những bằng chứng khó chối cãi nhất. Nhưng nếu muốn cho tội nhẹ đi, biện lý chỉ cần ghép vào trường hợp bất cẩn, không tự chủ được, hoặc vô tình v.v. với những chứng cớ vu vơ thiếu chính xác. Vai trò của luật sư chỉ thực sự vất vả nếu biện lý cương quyết bắt tội. Còn nếu như biện lý muốn nhẹ tay thì luật sư coi như cứ việc ù ơ dí dầu cũng có tiền bỏ túi.

Trong vụ xử Chúa Giêsu, Tổng Trấn Pilate đứng vào thành phần chánh án. Ông biết Chúa là người công chính, không phải là một chính khách có tham vọng, và là người vô tội. Ông rất muốn tha Chúa, nhưng phe biện lý ở đây là các tư tế và kỳ mục trong đạo Do Thái, họ nhất quyết gán cho Chúa tội chính trị là Ngài muốn xưng vương Do Thái, ngụ ý lớn hơn nữa là chống lại Hoàng Đế Caeza của La Mã. Đây là một tội không thể tránh được cái chết nếu đúng. Pilate hỏi đi hỏi lại Chúa: Ông có phải là vua Do Thái không. Lần thứ hai Chúa chỉ trả lời: Đấy là ngài nói. Tổng Trấn chỉ cần Chúa trả lời “NO” như ông gợi ý là ông ta có lý do để trả tự do cho Chúa. Nhưng một đàng Chúa Giêsu đã không trả lời đúng như Pilate gợi ý, một đàng phe tố cáo (biện lý) nhất định đổ cái tội chết lên đầu Ngài, nên Tổng Trấn Pilate đành chịu thúc thủ. Trong trường hợp này ta thấy rõ sự lợi hại của vai trò biện lý trong phiên tòa.

Sở dĩ tôi phải dài dòng như vậy là muốn chứng minh rằng đang có một âm mưu rửa tội cho Hồ Chí Minh mà DVD là một lợi thế. Cứ cho việc đi tìm “Sự thật về HCM” là một phiên tòa cho dễ hiểu. Cũng cần lưu ý, đây là một phiên tòa lương tâm xét xử một vụ án chính trị chứ không phải thuần túy hình sự mặc dù bị cáo (HCM) đã phạm rất nhiều tội ác mà tội nào cũng đều đáng chém đầu cả. Trong phiên tòa này, ngồi ghế chánh án để xét xử là 80 triệu đồng bào VN. Đại diện công tố viện là những người được phỏng vấn. Bị cáo là cái huyền thoại HCM. Muốn trừ đi cái huyền thoại này, hay nói khác đi là kết án tử hình nó, thì nhất định phải chứng minh được rằng HCM là tên Việt gian tay sai bán nước. Trọng trách này nằm trong tay biện lý tức những người được cha Lễ mời phỏng vấn. Những tội ác khác Hồ đã phạm như giết vợ, thủ tiêu đồng chí v.v. chỉ có thể cùng lắm giết hắn về thể xác (physically) chứ không thể trừ khử đi cái huyền thoại về hắn được. Cứ xem, Tần Thủy Hoàng đốt sách, chôn học trò, giết người vô số kể, nhưng người Trung Hoa bây giờ vẫn kể ông ta là người đã có công đầu tiên làm nên một nước Tầu thống nhất như ngày nay. Cái bản chất tay sai với tinh thần ái quốc không thể hòa lẫn được trong một con người. Thiếu gì bọn lãnh tụ cộng sản trên thế giới, họ cũng tàn ác, cũng sa đọa, nhưng họ không làm tay sai cho Liên Sô. Tito chẳng hạn, ông ta không theo mà còn chống Liên Sô nữa là đàng khác. Hay như Mao Trạch Đông, ông không làm đầy tớ mà còn kình địch với Liên Sô. Một chứng minh cụ thể là trong Thế Chiến II, để chống lại Nhật, Liên Sô giúp Tưởng Giới Thạch chứ đâu có giúp Mao Trạch Đông. Chỉ có HCM theo và làm tôi tớ cho Liên Sô tận tình. Khi Liên Sô đổ, Hồ lại quay sang thờ Tầu cộng. Đó rõ ràng thể hiện bản chất làm tôi tớ cho ngoại bang của HCM.

Cái bản chất này của Hồ đã bị bỏ quên trong việc cha Lễ đi tìm sự thật về HCM. Như trên tôi đã khẳng định, những người được được cha Lễ trao phó trách nhiệm đi tìm sự thật, họ biết sự thật là cái gì và ở đâu, nhưng họ không nói. Với tư cách là người giữ vai trò biện lý trong phiên tòa xử huyền thoại HCM, họ không dám nói. Cần nhác lại vụ xử Chúa Giêsu. Mặc dù Chúa vô tội, nhưng đóng vai biện lý là các tư tế và kỳ mục trong dân cố tình gán ghép Chúa vào tội chết nên Pilate muốn cứu Chúa cũng không cứu được. Trong vụ xét xử huyền thoại HCM, tội chứng đã hiển nhiên: Hồ là Việt gian tay sai bán nước. Vai biện lý tức những người được phỏng vấn lại đi tìm những tội chứng vớ vẩn không đâu. Rõ ràng họ muốn cứu nó chứ không muốn tử hình cái huyền thoại này. Do đó toàn dân VN trong vai chánh thẩm muốn trừ khử tên gian ác này cũng khó làm nổi. Muốn biết nguyên nhân tại sao những thành phần trong vai biện lý không muốn xử tử hình huyền thoại HCM thì cần phải tìm hiểu họ là ai, thuộc thành phần nào.

Để cho dễ nhận diện, ta có thể phân liệt những người này ra làm ba thành phần như sau: người ngoại quốc, người tỵ nạn, và đám phản tỉnh cuội.

1. Thành phần ngoại quốc - Họ là những nhà trí thức lại có tiếng tăm. Chắc chắn là họ muốn đóng khung trong khuôn khổ nghiên cứu để khỏi bị mang tiếng thiếu vô tư. Cũng có thể họ nghiên cứu không được thấu đáo. Chúng ta cũng biết những nhà nghiên cứu họ chỉ căn cứ trên sách vở tài liệu, mấy khi họ lăn lộn vào cuộc sống thực mà tìm tòi. Cũng có thể họ có những quan điểm và xu hướng chính trị riêng tư chúng ta không biết. Do đó chúng ta không thể phiền trách họ được.

2. Thành phần tỵ nạn - Họ cũng có phần nào giống như những người ngoại quốc vừa nói trên. Họ muốn giữ bộ mặt trí thức của họ là những nhà nghiên cứu để không bị mang tiếng là chống cộng cực đoan hay quá khích. Thái độ đó khiến họ trở thành những kẻ luôn luôn đứng bên lề lịch sử để hưởng lợi. Có thể có những lý do thầm kín khác mà họ không thể tỏ ra bên ngoài. Điểm cần lưu ý là trong thành phần tỵ nạn này có rất nhiều người là đảng viên của Việt Tân. VT đã từng tuyên bố công khai rằng HCM là người yêu nước và có công với Tổ Quốc. VT tuyên bố như thế, bây giờ chúng ta đòi đảng viên của họ nói ngược lại Hồ là tay sai bán nước, chuyện đâu có dễ dàng. Ông Nguyễn Ngọc Bích, một thành viên VT cốt cán, tố khổ Hồ là người thiếu thành thật đã là quá sức ông ta rồi, giới hạn và sự cho phép đối với ông ta chỉ có đến thế thôi.

3. Thành phần phản tỉnh cuội - Thành phần này chiếm đa số trong đám người cha Lễ cậy nhờ đi tìm sự thật về HCM. Đây là thành phần đáng nghi ngờ thứ hai sau VT. Dương Thu Hương mới viết sách thổi HCM lên đến tận tầng mây xanh. Như thế thì bà Hương nói sự thật về HCM ra sao, chúng ta không cần nghe cũng biết được. Hay như Bùi Tín, Bùi Bằng Đoàn bố Bùi Tín là cận thần của HCM. Nếu Bùi Tín kết tội HCM là Việt gian bán nước, thì ông ta phải nói sao về ông bố mình. Không lý ông vẫn gân cổ lên cãi “nhưng bố tôi vẫn là người yêu nước”. Ai nghe được. Vũ Thư Hiên cũng thế nữa. Hiên ngày còn bé được HCM cho ngủ chung giường. Bố của Hiên là Vũ Đình Huỳnh là tà loọc rất thân cận với HCM. Đòi Vũ Thư Hiên kết tội HCM là Việt gian bán nước có khác gì buộc Hiên phải tố cáo cha mình là tòng phạm bán nước. Cho nên khi cả cái đám phản tỉnh cuội này đi tìm sự thật về HCM thì chúng ta có thể biết sự thật là cái gì rồi. Khỏi cần phải thắc mắc chi cho mệt. Cha Lễ mời đám người này cộng tác với mục đích gì? Chúng ta nên hỏi cha Lễ, sự thật mà ngài muốn tìm là sự thật gì, nó ở bên nào của dẫy núi Pyrénées?

Mọi người đã xem và đã thấy, DVD “Sự thật về HCM” do Lm Nguyễn Hữu Lễ khổ công thực hiện đã không đáp ứng được cái mà mọi người mong đợi, tức là trừ khử đi được cái huyền thoại về HCM. Sự thất bại này như tôi đã trình bầy trên, nó nằm trong vấn đề nhân sự, những người thực hiện DVD. Vấn đề là cha Lễ vô tình hay chủ tâm lựa chọn những người cộng tác. Nếu chỉ là vô tình thì chắc chắn trăm phần trăm là cha Lễ đã chưa bao giờ hát bài “Vì tôi là linh mục”. Còn nếu đây là chủ ý của cha Lễ thì rõ ràng ngài đã có mục đích riêng của ngài. Cha Lễ nói vậy nhưng không phải vậy. Ngài nói muốn xóa đi cái huyền thoại HCM, nhưng không phải vậy đâu, ngài đang remodel nó đấy. Ai giúp sáng kiến cho cha Lễ làm DVD? Ai cố vấn cho cha Lễ về nội dung? Ai giới thiệu với cha Lễ những người được phỏng vấn. Trả lời một loạt các câu hỏi như thế chúng ta có thể tìm ra được sự thật của vấn đề. Vấn đề này là đĩa DVD “Sự thật về HCM” đã không xóa bỏ được huyền thoại về HCM. Trái lại nó là một kế hoạch hoạch rất tinh vi và thâm độc, kín đáo và tài tình trong âm mưu duy trì và củng cố cái ngôi thần tượng HCM trong lòng người dân Việt và mãi mãi con cháu sau này.

Kết Luận

Câu kết luận của tôi cũng là câu mở đầu bài viết của tôi. Vắn tắt thôi. Xem hết cuốn DVD, tôi thực sự cảm thấy buồn, chán nản, và thất vọng. Hy vọng rằng cha Nguyễn Hữu Lễ tìm ra được chính sự thật về HCM và nhìn ra sự thất bại của mình và ngài sẽ có cách xử lý vấn đề. Những tội ác giết người, cướp của, hiếp dâm, tham ô, ăn cắp v.v... của HCM và đảng VGCS nhân dân VN có thể tha thứ, nhưng tội làm Việt gian bán nước của chúng thì nhất định không thể tha thứ được, không tòa án nào miễn tố, và lịch sử sẽ truyền lại cho muôn đời con cháu mai sau ghi nhớ. Hiểu được chân lý đó đã rồi hãy làm chuyện đánh đổ huyền thoại HCM.

Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất