Thursday, July 23, 2009

Tội ác chống nhân loại của cộng sản Việt Nam - Đỗ Ngọc Uyển

Tù Cải Tạo
Tội ác chống nhân loại của csViệt Nam
Đỗ Ngọc Uyển

Sau khi chiếm được chính quyền tại Miền Bắc Việt Nam vào năm 1954, Hồ Chí Minh đã bê nguyên cái mô hình "hoc tập cải tạo" của Mao Trạch Đông từ Trung Cộng vào Miền Bắc Việt Nam. Đây là một kế hoạch nằm trong chính sách giết người có chủ đích, có tính toán dưới cái chiêu bài giả hiệu là "cải tạo" những người chống đối chủ nghĩa xã hội để trở thành công dân của nước xã hội chủ nghĩa. Với kế hoạch "cải tạo giết người" này, Hồ Chí Minh đã giết và thủ tiêu 850,000 người dân Miền Bắc trong những cái gọi là "trại học tập cải tạo."

Sau ngày 30-04-1975, lũ Việt gian cộng sản cũng tiếp tục kế hoạch giết người này, và chúng đã giết và thủ tiêu 165,000 quân, cán, chính VNCH và những người quốc gia trong 150 "trại cải tạo" của chúng trên toàn lãnh thổ Việt Nam.

"Học Tập Cải Tạo" Bắt Đầu tại Miền Bắc Việt Nam

Để xây dựng xã hội chủ nghĩa tại Miền Bắc Việt Nam, Hồ Chí Minh đã tiêu diệt tất cả những thành phần chống đối bằng những kế hoạch khủng bố sắt máu như: Rèn Cán Chỉnh Quân, Cải Tạo Công Thương Nghiệp, Cải Cách Ruộng Đất, và đàn áp những phong trào Nhân Văn Giai Phẩm, Trăm Hoa Đua Nở … Số nạn nhân của những vụ khủng bố này không ai biết là bao nhiêu, nhưng có thể ước tính là trên một triệu người, bởi vì chỉ riêng vụ gọi là Cải Cách Ruộng Đất đã có 700,000 nạn nhân. Nói chung, cho tới đầu năm 1960 toàn thể xã hội Miền Bắc đã bị "cào bằng," không còn giai cấp (social class). Các giai cấp trí, phú, địa, hào đã bị đào tận gốc, trốc tận rễ. Không ai có quyền tư hữu và mọi người đều nghèo khổ, đói rách như nhau. Mỗi năm, mỗi người được phát 2 thước vải thô Nam Định chỉ có thể may được một cái quần hay một cái áo, và hàng tháng được phát 15kg gạo, 200gr đường … Chưa hết, với chủ trương tuyệt diệt những thành phần chống đối, Hồ Chí Minh đã chỉ thị cho cái quốc hội bù nhìn "ban hành" một nghị quyết về "học tập cải tạo." Đây là một mẻ lưới "vĩ đại" cuối cùng nhằm vét hết những thành phần có thể gây cản trở cho công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa của y. Các trại "cải tạo" của Hồ Chí Minh được rập theo đúng khuôn mẫu các trại "lao cải" (laogai hay laojiao) của Mao Trạch Đông. Theo lệnh của Hồ, quốc hội cộng sản đã "ban hành" một Nghị Quyết (Resolution) về "học tập cải tạo" mang số 49-NQTVQH ngày 20-6-1961. Căn cứ vào nghị quyết này, hội đồng chính phủ đã "đẻ" ra cái Thông Tư (General Circular) số 121-CP ngày 8-9-1961 để áp dụng trong toàn nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà. Những nạn nhân bị chi phối bởi cái nghị quyết trên gồm những thành phần sau đây:

1. Tất cả những gián điệp nguy hiểm, những biệt động; tất cả những quân nhân và viên chức hành chánh của chính quyền quốc gia trước đây.
2. Tất cả những nhân vật nòng cốt của các tổ chức và đảng phái đối lập.
3. Tất cả những thành phần ngoan cố thuộc giai cấp bóc lột và những kẻ chống phá cách mạng.
4. Tất cả những kẻ chống phá cách mạng đã bị tù và hết hạn tù nhưng không chịu cải tạo.

Bốn thành phần trên đây đều có một đặc điểm chung mà cộng sản gọi là "những thành phần ngoan cố, chống phá cách mạng." (obstinate counter-revolutionary elements). Thời gian "cải tạo" được ấn định là 3 năm, nhưng sau 3 năm mà chưa "tiến bộ" thì "cải tạo" thêm 3 năm nữa và cứ như thế tiếp tục tăng thêm 3 năm nữa cho đến khi nào "học tập tốt, cải tạo tốt" thì về, thực tế là vô thời hạn. Ngoài Hồ Chí Minh và những tên đồng đảng ra, không ai biết được số nạn nhân bị đưa đi "cải tạo" là bao nhiêu; nhưng có thể ước tính là nhiều triệu người, căn cứ vào con số nạn nhân chết trong các "trại cải tạo" là 850,000 người do Tổ Chức Tưởng Niệm Nạn Nhân Cộng Sản (The Victims of Communism Memorial Foundation) đưa ra: (… When Ho Chi Minh sent 850,000 Vietnamese to their graves in reeducation camps ...)

"Học Tập Cải Tạo" tại Miền Nam Việt Nam

Cộng sản ước tính rằng tại Miền Nam có 1,300,000 người đã tham gia vào chính quyền Quốc Gia và Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, và mỗi gia đình có 5 người; như vậy là có 6,500,000 người có nợ máu với chúng. Những người nào phục vụ trong quân đội hay trong chính quyền thì phải đi "cải tạo" và những thành phần còn lại trong gia đình thì phải đi những "khu kinh tế mới;" cũng là một cách đưa đi đầy ải tại những vùng rừng núi xa xôi, hẻo lánh. Đây là một kế hoạch "tắm máu trắng" đã được nghiên cứu và tính toán rất kỹ của của tập đoàn Việt gian cộng sản.

Một tháng sau khi xâm chiếm được Miền Nam, lũ bán nước cộng sản áp dụng Nghị Quyết số 49-NQTVQH ngày 20-06-1961 và Thông Tư số 121-CP ngày 08-09-1961 của chúng để đưa một triệu quân, cán, chính VNCH và những người quốc gia chống cộng đi "học tập cải tạo," thưc chất là đưa đi tù để trả thù (revenge). Đây là cung cách hành xử man rợ của thời trung cổ. Và bằng lối hành xử dã man, rừng rú này, cộng sản đã phạm 5 trong số 11 Tội Ác chống Nhân Loại [1] (Crimes against Humanity) theo luật pháp quốc tế được dự liệu tại Điều 7 của Đạo Luật Rome (Article 7 of The Rome Statute) như sau:

Tội ác thứ 1 - Tội cầm tù hay tước đoạt tự do thân thể một cách nghiêm trọng, vi phạm những điều luật căn bản của luật pháp quốc tế (Imprisonment or other severe deprivation of physical liberty in violation of fundamental rules of international law)

Những người bị cộng sản cầm tù (imprisonment) sau ngày 30-04-1975 là những người bị cộng sản trả thù vì lý do chống cộng tức lý do chính trị. Cộng sản không thể mang những người này - công dân của một một quốc gia độc lập đã bị Việt gian cộng sản, tay sai của Quốc Tế 3, xâm chiếm bằng vũ lực (aggression) một cách phi pháp - ra toà án để kết tội. Cộng sản nguỵ biện một cách láo xược rằng những người này là những tội phạm chiến tranh (war criminals) theo điều 3 của đạo luật về tội chống phá cách mạng ban hành ngày 30-9-1967 của chúng (article 3 of the 30 October 1967 law on counter-revolutionary crimes) và rằng nếu mang ra tòa án xét xử thì những người này có thể bị kết án từ 20 năm tù đến chung thân hay tử hình; nhưng vì chính sách "khoan hồng" và sự "chiếu cố" của đảng nên những người này được đưa đi "học tập cải tạo" thay vì đưa ra toà án xét xử. Đây là một sự nguỵ biện trơ trẽn và lếu láo. Luật rừng rú của đảng cộng sản không có một chút gì gọi là công lý của thời đại văn minh mà chỉ là một công cụ man rợ của thời trung cổ để khủng bố người dân Miền Bắc dưới sự thống trị của chúng, và không thể mang ra áp dụng cho công dân của một quốc gia văn minh như VNCH được.

Tóm lại, giam cầm người không chính thức kết án, không xét xử (imprisonment without formal charge or trial) là vi phạm nhân quyền và là Tội Ác chống Loài Người.

Tội ác thứ 2 - Tội tra tấn, hành hạ (Torture)

Đối với cộng sản, các quân, cán, chính Việt Nam Cộng Hoà và những người quốc gia chống cộng là kẻ thù không đội trời chung của chúng. Do đó, một khi đã sa cơ rơi vào tay chúng là dịp để chúng trả thù bằng tra tấn và hành hạ. Mục đích trả thù của chúng là nhằm tiêu diệt hết khả năng chống cự của cả thể chất lẫn tinh thần của người tù. Sau đây là vài đòn thù tiêu biểu:

a. Hành hạ bằng cách bỏ đói - Đây là một đòn thù thâm độc nhằm tiêu diệt ý chí của người tù về lâu về dài. Người tù bị đói triền miên, không còn nghĩ đến chuyện gì khác ngoài miếng ăn. Quanh năm suốt tháng không một bữa được ăn no; càng ăn càng đói và đói cho tới khi chết. Ngay cả trong giấc ngủ cũng chỉ mơ đến miếng ăn. Bát cơm và miếng thịt là một ước mơ xa vời. Trên nguyên tắc, mỗi người tù được cấp mỗi tháng 12kg gạo. Nhưng thực tế, người tù chỉ được cấp ngô, khoai, sắn, bo bo… tương đương với 12kg gạo mà chúng gọi là "quy ra gạo." Ngô, khoai, sắn và bo bo mà chúng cho tù ăn là những thứ được cất giữ lâu ngày trong những kho ẩm thấp, bị mục nát, hư hỏng và đầy sâu bọ. Với số lượng và phẩm chất lương thực như thế, tính ra chỉ cung cấp đươc khoảng từ 600 đến 800 calories một ngày, không đủ để sống cầm hơi, lại phải làm công việc khổ sai nặng nhọc cho nên đã có rất nhiều tù nhân chết vì đói, vì suy dinh dưỡng. Sau đây là một ví dụ: vào cuối năm 1978, tại trại 2 thuộc liên trại 1 Hoàng Liên Sơn có một anh bạn tù vì "lao động" nặng nhọc và suy dinh dưỡng đang nằm chờ chết. Anh em bạn tù thấy vậy bèn hỏi xem anh ta có muốn nhắn gì về cho vợ con hay người thân không? Anh bạn tù sắp chết nói rằng anh ta chỉ muốn được ăn no một bữa khoai mì luộc! Nghe vậy, có một anh tù, vì thương bạn, đã mạo hiểm chui qua hàng rào, đào trộm vài củ khoai mì do chính tù trồng, mang về luộc, rồi mang lên cho bạn thì anh bạn đã chết. Thỉnh thoảng tù cũng được cho ăn cơm nhưng lại độn hai phần sắn hay khoai với một phần gạo, và mỗi bữa ăn, mỗi người được phân phát một chén nhỏ với nước muối. Đến mùa "thu hoạch" ngô và khoai mì do tù trồng, anh em tù cũng được cấp phát ngô và khoai mì luộc. Mỗi bữa ăn được phân phát hai cái bắp ngô, chỉ đếm được chừng 1000 hạt, và khoai mì thì được cấp phát hai khúc, mỗi khúc ngắn độ một gang tay. Còn thịt thì chỉ được cấp phát vào những dịp đặc biệt như ngày tết Nguyên Đán, ngày lễ độc lập của chúng, ngày sinh nhật "Bác"của chúng; mỗi phần ăn được khoảng 100gr thịt heo hay thịt trâu.

Bỏ đói tù là một thủ đoạn tra tấn/hành hạ (torture) đê tiện, có tính toán của cộng sản. Ngoài việc huỷ diệt ý chí của người tù, sự bỏ đói còn nhằm huỷ hoại thể chất của người tù để không còn sức đề kháng chống lại bệnh tật. Do đó, đã có rất nhiều anh em mắc những chứng bệnh do suy dinh dưỡng như lao phổi, kiệt sức, phù thũng, kiết lỵ, ghẻ lở…, và có rất nhiều cái chết rất đau lòng chỉ vì đói, vì suy dinh dưỡng, vì thiếu thuốc men và không được chữa trị…

b. Hành hạ thể xác - Cộng sản vẽ ra khẩu hiệu "lao động là vinh quang." Chúng bắt người tù phải làm công việc khổ sai nặng nhọc như cuồc đất, đào đất, làm đường, đào ao, chặt cây, đốn gỗ, cưa xẻ, làm gạch. Người tù đã thiếu ăn, kiệt sức; chúng lại đặt ra những chỉ tiêu cao để người tù không thể đạt được, và chúng kiếm cớ để hành hạ thể xác:

* Cắt tiêu chuẩn lương thực từ 12kg xuống còn 9kg và nhốt vào conex, khoá chặt. Người tù bị nhốt như vậy có khi hàng tháng. Với sức nóng mùa Hè và khí lạnh mùa Đông không thể chịu đựng nổi, người tù bị chết vì sức nóng và chết vì rét.
* Cắt tiêu chuẩn lương thực xuống còn 9kg; nhốt trong sà lim; hai chân bị cùm siết chặt đến chảy máu; da thịt bị nhiễm trùng, lở loét; người tù bị nhốt như vậy trong nhiều tháng trời và khi được thả ra chỉ còn da bọc xương, đi không nổi phải bò.
* Chúng cột người tù vào một cây cột và bắt người tù phải đứng thẳng hoặc nằm hay ngồi cả tuần lễ có khi lâu hơn.
* Chúng trói người tù theo kiểu cánh bướm "butterfly style or contorted position" bằng cách bắt một cánh tay bắt chéo qua vai và cánh tay kia bắt qua sau lưng và cột chặt hai ngón tay cái với nhau.
Chúng cột người tù trong tư thế bị trói như vậy vào một cái cột và bắt đứng trong nhiều tiếng đồng hồ. Người tù chịu không nổi, bị ngất xỉu.

Trên đây chỉ là vài cách hành hạ (torture) thể xác tiêu biểu. Cộng sản còn nhiêu kiểu hành hạ độc ác khác như nhốt người tù vào chuồng cọp hay bỏ xuống những giếng nước khô cạn, bỏ hoang lâu ngày, đầy những ổ rắn rết …

c. Tra tấn tinh thần - Mục đích của cộng sản là làm cho tinh thần người tù luôn luôn bị căng thẳng để gây tổn thương trầm trọng cho sức khoẻ thể chất và tinh thần (causing serious injury to physical and mental health) bằng hai phương pháp sau đây:

* Nhồi sọ chính trị (Political indoctrination) - Để mở đầu kế hoạch "cải tạo," cộng sản bắt người tù phải học 9 bài chính trị. Mỗi bài phải học từ một tuần lễ đến 10 ngày gồm: lên lớp, thảo luận trong tổ, trong đội. Cuối mỗi bài học, người tù phải viết một bản gọi là "thâu hoạch" để nộp cho chúng. Nội dung những bài học gọi là chính trị này chỉ là những bài tuyên truyền rẻ tiền như: Mỹ là tên đầu sỏ đế quốc, là con bạch tuộc có hai vòi: một vòi hút máu nhân dân Mỹ và một vòi hút máu nhân dân nước ngoài. Ta đánh Mỹ cũng là giải phóng cho nhân dân Mỹ thoát khỏi sự bóc lột của đế quốc Mỹ. Đế quốc Mỹ là con hổ giấy. Mỹ giầu nhưng không mạnh. Ta nghèo nhưng ta mạnh. Dưới sự lãnh đạo của đảng quang vinh, ta đã đánh thắng tên đế quốc sừng sỏ nhất thời đại. Nguỵ quân, nguỵ quyền là tay sai của đế quốc Mỹ, có nợ máu với nhân dân và là tội phạm chiến tranh. Bài học cuối cùng là bài "lao động là vinh quang" để chuẩn bị bắt người tù làm những việc khổ sai nặng nhọc.

Những bài tuyên truyền rẻ tiền và ấu trĩ trên đây chỉ có thể áp dụng cho người dân bị bưng bít và thiếu học ở Miền Bắc đã bị cộng sản u mê hoá chứ không có tác dụng gì đối với những người đã sống dưới chính thể tự do tại Miền Nam. Tuy nhiên, cái không khí khủng bố của trại tù đã làm cho một số anh em hoang mang và căng thẳng tinh thần. Do đó, đã có một số người tự sát và trốn trại. Những người trốn trại chẳng may bị bắt lại đã bị chúng mang ra toà án nhân dân của chúng kết tội và bắn chết ngay tại chỗ. Đây là đòn khủng bố tinh thần phủ đầu của cộng sản theo kiểu "sát nhất nhân, vạn nhân cụ."

* Tự phê (Confession) - Tiếp theo phần "học tập chính trị" là phần "tự phê." Người tù phải viết một bản tiểu sử kể từ khi còn nhỏ cho tới khi vào tù; phải kê khai thành phần giai cấp của dòng họ từ ba đời trước cho đến con cháu sau này; phải kê khai những việc làm trong quá khứ và phải kết tội những việc làm đó là gian ác cũng như phải tự kết tội mình có nợ máu với nhân dân. Người phát thư cũng bị kết tội là đã chuyển thư tín giúp cho bộ máy kìm kẹp của nguỵ quân, nguỵ quyền. Các vị tuyên uý trong quân đội bị kết tội là đã nâng cao tinh thần chiến đấu của nguỵ quân. Các bác sĩ quân y thì bị kết tội là đã chữa trị cho các thương, bệnh binh để mau chóng phục hồi sức chiến đấu của nguỵ quân. Tóm lại, tất cả nguỵ quân, nguỵ quyền đều là những thành phần ác ôn, có nợ máu với nhân dân và phải thành khẩn khai báo những tội ác cũng như phải thành khẩn lao động sản xuất để sớm được đảng cứu xét cho về đứng "trong lòng dân tộc." Trong suốt thòi gian bị tù, người tù phải liên tiếp viết những bản tự phê; phải moi óc tìm và "phịa" ra những "tội ác" để tự gán và kết tội mình, và nếu bản viết lần sau thiếu vài "tội ác" so với bản viết lần trước, anh sẽ bị kết tội là vẫn còn ngoan cố và thời gian học tập sẽ còn lâu dài.

"Tự phê" một đòn tra tấn tinh thần rất ác ôn. Nó làm cho người tù bị căng thẳng tinh thần triền miên kể cả trong giấc ngủ và đã có một số anh em gần như phát điên, la hét, nói năng lảm nhảm và có người đã tự vẫn…

Tội ác thứ 3 - Tội giết người (Murder)

Những anh em trốn trại bị bắt lại đã bị cộng sản mang ra xử tại toà án nhân dân của chúng và bị bắn chết ngay tại chỗ. Đây là tội ác giết người (murder) bởi vì trên danh nghĩa cũng như theo pháp lý thì những người này chỉ là những người đi học tập. Và khi một người đi học tập mà trốn trại học tập là chuyện rất thường tình, không có tội lỗi gì đối với pháp luật. Nhưng đối với bọn vô nhân tính cộng sản thì không thể nói chuyện lý lẽ với chúng được. Vào một ngày cuối năm 1975, tại trại giam Suối Máu, Biên Hoà, chúng mang hai anh sĩ quan cấp uý trốn trại bị bắt lại ra xử tại toà án nhân dân rừng rú của chúng được thiết lập ngay trong trại giam. Trước khi mang ra xử, chúng đã tra tấn hai anh này đến mềm người, rũ rượi, xụi lơ, không còn biết gì nữa. Ngồi trên ghế xử, tên "chánh án" cùng ba tên đồng đảng giết người mặt sắt đen sì, răng đen mã tấu, dép râu, nón cối, ngập ngọng giọng Bắc Kỳ 75 đọc xong "bản án giết người" đã viết sẵn và ngay lập tức chúng mang hai anh ra bắn chết cạnh hai cái hố đã đào sẵn. Buổi trưa hôm đó bầu trời Biên Hoà có nắng đẹp, nhưng khi tiếng súng giết người nổ vang lên, mây đen bỗng kéo đến phủ tối cả bầu trời và đổ xuống những hạt mưa nặng hạt. Tất cả anh em trong trại giam lặng lẽ cúi đầu tiễn đưa hai đồng đội sa cơ, thất thế.

Ngoài cách giết người rừng rú trên đây, cộng sản còn chủ tâm giết người bằng nhiều cách khác như cho ăn đói và bắt làm khổ sai nặng nhọc để chết dần chết mòn; để cho chết bệnh, không cung cấp thuốc men, không chữa trị; bắt làm những việc nguy hiểm chết người như gỡ mìn bằng tay không…

Tôi ác thứ 4 - Tội bắt làm nô lệ (Enslavement)

Người tù phải sản xuất lương thực như trồng sắn, trồng ngô, trồng khoai, trồng rau để tự nuôi mình; ngoài ra, còn phải sản xuất hàng hoá, sản phẩm để bán ra ngoài thị trường. Tại các trại tù trong vùng rừng núi Hoàng Liên Sơn, người tù phải đốn gỗ, cưa xẻ, chặt giang, chặt nứa, chặt vầu để trại tù mang đi bán. Tai trại tù Hà Sơn Bình có những đội cưa xẻ, đội mộc, đội gạch để sản xuất bàn, ghế, giường, tủ và gạch để bán. Tại trại tù Z30D, Hàm Tân, người tù phải trồng mía, sản xuất đường; mỗi tháng bán hàng tấn đường ra ngoài thị trường Cộng sản bắt người tù phải làm công việc như người nô lệ thời trung cổ khi phe thắng trận bắt người bên phe thua trận phải làm nô lệ lao động (slave labour) thay vì mang đi giết. Đây là sự vi phạm nhân quyền một cách man rợ của thời trung cổ và là một Tội Ác chống Loài Người.

Tội ác thứ 5 - Tội thủ tiêu mất tích người (Enforced disappearance of persons)

Theo các tài liệu nghiên cứu có giá trị hàn lâm tại Hoa Kỳ và Âu Châu thì số nạn nhân chết trong các "trại cải tạo" là 165,000 người. Hiện nay, ngoài cộng sản ra, không ai biết nơi chôn cất các nạn nhân này. Suốt 33 năm nay, chúng không cho thân nhân cải táng để mang hài cốt về quê quán. Đây là đòn thù vô nhân đạo đối với những nạn nhân đã nằm xuống, và là hành vi độc ác (inhumane act) gây đau khổ tinh thần triền miên, suốt đời cho thân nhân các nạn nhân. Chỉ có một số rất ít, không đáng kể, thân nhân các nạn nhân đã chạy chọt, tìm được cách cải táng người thân của họ; còn tuyệt đại đa số 165,000 người tù chính trị được coi như đã bị thủ tiêu mất tích. Đây là chủ tâm trả thù dã man của cộng sản và là một Tội Ác chống Nhân Loại.

Mới đây nhất, trong cuộc họp với tổng thống George W. Bush tai Bạch Cung ngày 24-6-2008, Việt cộng Nguyễn Tấn Dũng hứa sẽ tiếp tục tìm kiếm và trao cho Hoa Kỳ hài cốt những quân nhân Mỹ mất tích (MIA) trong cuộc chiến VN. Trong khi đó quân cộng sản giết người đang chôn giấu để thủ tiêu mất tích hài cốt của 165,000 quân, cán, chính VNCH và những người quốc gia đã bị chúng sát hại, sau ngày 30-04-1975, trong 150 "trại tù cải tạo" của chúng trên toàn cõi VN. Điều này chứng tỏ rằng lũ Việt gian cộng sản tiếp tục nuôi dưỡng hận thù đối với người Việt quốc gia, ngay cả đối với những người đã nằm xuống, trong khi miệng chúng luôn luôn hô hào hoà hợp hoà giải. "Đừng nghe những gì cộng sản nói; hãy nhìn kỹ những gì chúng làm."

Ngoài 5 tội ác chống loài người kể trên, vào năm 1980, cộng sản đã có kế hoạch đưa gia đình những người tù từ Miền Nam để cùng với những thân nhân của họ đang bị tù tại Miền Bắc đi "định cư" tại những "khu kinh tế mới" ở Miền Bắc mà thí điểm đầu tiên là khu Thanh Phong/Thanh Cầm, một khu rừng thiêng nước độc tại Miền Bắc, nơi đang có những "trại cải tạo." Ý đồ của âm mưu thâm hiểm này là đưa đi đầy chung thân, khổ sai, biệt xứ để giết dần, giết mòn tất cả những người tù cùng với gia đình họ. Đây là một kế hoạch diệt chủng (genocide) được nghiên cứu và tính toán rất kỹ của tập đoàn Việt gian cộng sản. Nhưng trời bất dung gian, chúng không thực hiện được âm mưu diệt chủng này vì cục diện thế giới thay đổi dẫn đến sự phá sản của chủ nghĩa cộng sản trên toàn thế giới, và chúng đã phải thả những nạn nhân của chúng ra để họ đi định cư tại Hoa Kỳ với tư cách là những người tỵ nạn chính trị (political refugees).

Cái nghị quyết số 49-NQTVQH ngày 20-06-1961 của tên đại Việt gian bán nước Hồ Chí Minh - cho tới ngày hôm nay vẫn còn hiệu lực - là một dụng cụ đàn áp thâm hiểm nhất để chống lại nhân quyền (the most repressive tool against human rights). Suốt nửa thế kỷ vừa qua, bằng cái nghị quyết phản động này, lũ bán nước cộng sản đã và đang tiếp tục đưa hàng triệu, triệu người Việt Nam đi "học tập cải tạo" mà không qua một thủ tục pháp lý nào cả. Với 5 Tội Ác chống Nhân Loại (Crimes against Humanity) như đã trình bày trên đây, bọn Việt gian cộng sản phải bị mang ra xét xử tại Toà Án Hình Sự Quốc Tế [2] (International Criminal Court).

Số Nạn Nhân Bị Giam Cầm, Số Nạn Nhân Chết và Số "Trại Tù Cải Tạo"

Theo sự ước tính của các tài liệu nghiên cứu có tính hàn lâm tại Hoa Kỳ và Âu Châu đã được phổ biến "… According to the published academic studies in the United States and Europe…" thì số nạn nhân và số các "trại tù cải tạo" được ước tính như sau:

* 1 triệu nạn nhân đã bị giam giữ không bị chính thức kết tội hay xét xử (without formal charge or trial).
* 165,000 nạn nhân chết tại các "trại tù cải tạo."
* Có ít nhất 150 "trại tù cải tạo" sau khi Sàigòn sụp đổ.

Thời Gian "Cải tạo"

Có những nạn nhân đã bị giam giữ tới 17 năm, và theo Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ thì đại đa số nạn nhân bị giam giữ từ 3 tới 10 năm, và tính trung bình mỗi người phải trải qua 5 trại giam.

"…according to the U.S. Department of State, most term ranging from three to 10 years…". Nếu lấy con số trung bình là 7 năm tù cho mỗi người thì số năm tù của một triệu nạn nhân là 7 triệu năm. Đây là một tội ác lịch sử không tiền khoáng hậu của bọn Việt gian cộng sản; vượt xa cả tội ác một ngàn năm của bọn giặc Tầu và một trăm năm bon giặc Tây cộng lại.

Món Nợ của Hoa Kỳ Đối Với Đồng Minh.

Chính phủ Hoa Kỳ công nhận những người bị giam cầm (imprisonment) này là những ngưòi tù chính trị, và đã điều đình với phỉ quyền cộng sản để cho những người này được thả ra để cùng với gia đình đi đinh cư tỵ nạn tại Mỹ ưu tiên theo Chương Trình Ra Đi Có Trật Tự (Orderly Departure Program) đối với những người bị giam cầm từ 3 năm trở lên. "… The U.S. government considers reeducation detainees to be political prisoners. In 1989 the Reagan administration entered into an agreement with the Vietnamese government, pursuant to which Vietnam would free all former AVN soldiers and officials held in reeducation camps and allow them to immigrate to the United States … that gives priority to those who spent at least three years in reeducation…"

Hoa Kỳ coi việc đưa những người tù chính trị này sang định cư tỵ nạn tại Mỹ là để trả một món nợ quốc gia đối với đồng minh trong thời chiến. Những người này đã bị giam cầm vì đã cộng tác mật thiết với Hoa Kỳ trong cuộc chiến. "… Resettling this group will be a step toward closing out this nation's debt to its Indochina wartime allies. "These people have been detained because of their closed association with us during the war," said Robert Funseth, the senior deputy assistance secretary of state for refugee affairs who spent most of this decade negotiating their resettlement …"

Phải nói môt cách chính sác rằng những người tù chính trị Việt Nam đi định cư tỵ nạn tại Mỹ theo một chương trình ra đi đặc biệt (a special program) nằm trong khuôn khổ của Chương Trình Ra Đi Có Trật Tự (Orderly Departure Program) chứ không phải theo chương trình HO (Humanitarian Operation) tưởng tượng nào cả. Cái gọi là chương trình HO chỉ là sự suy diễn từ các con số thứ tự của các danh sách những người tù chính trị đã được cộng sản trao cho Hoa Kỳ để phỏng vấn đi tỵ nạn tại Mỹ theo thứ tự: H.01, H.02. H.10, H.11, H.12…

Cộng sản và tay sai có thể lợi dụng cái danh xưng "HO" không Chính không Thực và Lập Lờ này cho những âm mưu đen tối của chúng. Chúng có thể tuyên truyền lếu láo rằng: "Không những đảng đã tha chết cho bọn tội phạm chiến tranh này, mà còn tổ chức cả một "Chiến Dịch Nhân Đạo/HO" để cho đi định cư tại ngoại quốc. Ra đến ngoại quốc đã không biết ơn lại còn đi đấu tranh, biểu tình chống lại đảng …" Sự kiện tù chính trị là một sự kiện có tính chính trị và lịch sử; phải xử dụng Danh cho Chính. Không thể Lộng Giả Thành Chân cái nguỵ danh "HO" để xuyên tạc sự thật lịch.

Học tập cải tạo" là một nguỵ danh để che đậy 5 Tội Ác chống Loài Người (Crimes against Humanity) được dự liệu tại Điều 7 của Đạo Luật Rome (Article 7 of The Rome Statute) của bè lũ Việt gian cộng sản đối với quân, dân, cán, chính VNCH đã bị chúng giam cầm (imprisonment) một cách phi pháp sau ngày 30-04-1975. Đây cũng là một tội ác có tính lịch sử của lũ Việt gian cộng sản. Cái nguỵ danh "tù cải tạo/HO" phải được Chính Danh là: Tù Nhân Chính Trị và Nạn Nhân của Tội Ác chống Loài Người của Hồ Chí Minh và bè lũ cộng sản. Cũng cần phải nói thêm rằng khi dùng cái danh từ "cải tạo" của cộng sản là mắc mưu chúng bởi vì chúng tuyên bố lếu láo rằng vì các anh có "nợ máu" với nhân dân nên các anh phải đi "cải tạo," và khi tự gọi mình là "tù cải tạo" tức là tự nhận mình có tội. Cũng như khi tự gọi mình là một "HO"- một cái nguỵ danh đã bị lộng giả thành chân để chỉ một người "tù cải tạo" - là tự từ bỏ cái căn cước người tù chính trị của mình. Cho nên, Chính Danh là vấn đề rất quan trọng cả về chính trị và lịch sử. Dùng Nguỵ Danh để che đậy và bóp méo một sự kiện lịch sử là tội đại gian và có tội đối với lịch sử.

Đỗ Ngọc Uyển
Tháng 10 năm 2008
Sanjose, California

Tài liệu tham khảo:

-http://en.wikipedia.org/wiki/Reeducation_camp
-http://www.ofc.berkeley.edu/~sdenney/Vietnam-Reeducation-Camps-1982
-http://www.victimsofcommunism.org/history_communism.php
-http://untreaty.un.org/cod/icc/STATUTE/99_corr/cstatute.htm (Rome Statute of International Criminal Court)
-http://www.optionaljournal.com/best/?id=110010372" (The Wall Street Journal, Monday, July 23, 2007 – Best of The Web Today by James Tananto)
http://query.nytimes.com/gst/fullpage.html?res=953D7103DF936A25753C1A96F948260&sec= &spon=…(The New York Times, October 15, 1989
- THE NATION; The Next Wave From Vietnam: A new Disability by Seth Mydans)
- U.S Department of State – Fact sheet - Bureau of Population, Refugee and Migration – Washington DC – January 16, 2004

Chú thích

[1] 11 tội ác chống nhân loại được dự liệu trong Điều 7 của Đạo Luật Rome gồm có: 1- Murder; 2- Extermination ; 3- Enslavement; 4- Deportation or forcible transfer of population; 5- Imprisonment or other severe deprivation of physical liberty in violation of fundamental rules of international law; 6- Torture; 7- Rape, sexual slavery, enforced prostitution, forced pregnancy, enforced sterilization or other form of sexual violence of comparable gravity; 8- Persecution against any identifiable group or collectivity on political, racial, national, ethnic, cultural, religious, gender as defined in paragraph 3, or other grounds that are universally recognized as impermissible under international law in connection with any crime within the jurisdiction of the court; 9- Enforced disappearance of persons; 10- The crime of apartheid; 11- Other inhumane acts of a similar character causing great suffering, or serious injury to body or to mental or physical health;

[2] Toà Án Hình Sự Quốc Tế (International Criminal Court) là toà án độc lập và thường trực được thành lập theo Đạo Luật Rome (The Rome Statute) để điều tra và xét xử 4 loại tội ác sau đây: 1- Crimes against humanity (Tội ác chống nhân loại); 2- The crime of genocide (Tội ác diệt chủng); 3- Crimes of war (Tội ác chiến tranh); 4- Crimes of aggression (tội ác xâm lược).


Thư kính gửi Lm.Nguyễn Thái Hợp - Nguyễn Phúc Liên


Kính thăm Linh mục Nguyễn Thái Hợp,

Đây là Lá Thư vừa mang tính cách tư nhân giữa Cha và tôi vì Cha và tôi đã quen biết nhau từ năm 1967 cùng học tại Thụy sĩ, vừa mang tính cách công khai về TRÁCH NHIỆM và BỔN PHẬN của Công dân VN nói chung và người Công giáo nói riêng trước sự lâm nguy của Đất Nước với tham vọng xâm lăng của Trung quốc.

Đọc trên Diễn Đàn Internet cách đây mấy ngày, tôi được biết Cha đại diện cho Ban Tổ Chức đứng mời tham dự cuộc TỌA ĐÀM VỂ BIỂN ĐÔNG VÀ HẢI ĐẢO. Tôi cảm thấy vui mừng vì thấy phía Công Giáo lên tiếng về tiền đồ của Đất Nước trước cuộc xâm lăng. Nhưng tôi cũng cảm thấy e ngại, lo lắng không biết khuynh hướng TỌA ĐÀM có bị ảnh hưởng bởi chỉ đạo Chính trị của CSVN hay không, rồi sau cuộc TỌA ĐÀM có những hành động cụ thể thi hành BỔN PHẬN và TRÁCH NHIỆM của mình trước cảnh Đất Nước lâm nguy hay không. Hôm nay, cũng vào Diễn Đàn để đọc, tôi thấy BBC loan tin như sau: “Linh mục Nguyễn Thái Hợp, chủ nhiệm câu lạc bộ cho BBC biết lý do tổ chức hội thảo là vì "Biển Đông và hải đảo là vấn đề thời sự lớn mà người Việt Nam nói chung, chứ không chỉ riêng người Công giáo, rất quan tâm"”.

Tôi có những lo lắng như trên bởi lẽ đây là vấn đề lớn cho tòan Dân tộc và Đất Nước như lời Linh mục nói, và đồng thời bởi lẽ tôi đã biết trước đây khuynh hướng Chính trị của Linh mục.

Nhưng Giặc đến nhà, mọi người phải đánh
mà không phân biệt khuynh hướng Chính trị

Tôi quen biết Linh mục từ thời năm 1967 cùng học Đại học tại Thụy sĩ. Linh mục ở tại ALBERTINUM, Place Georges Python, tôi ở số 6 Avenue de Rome, cách Albertinum chừng 50 mét. Linh mục rất thích đánh Cờ Tướng và đã có lần đến Phòng cũa tôi để chơi Cờ. Hồi ấy, tôi mang Thông Hành Lào với tên Thao BOUNSOU mà mọi người đều gọi tôi là THAO. Cùng thời ấy, có Linh mục TRỊNH VIỆT YÊN, Linh mục NGUYỄN VĂN KHẤN, Linh mục TÔ NGỌC LIÊN, Thầy PHẠM VĂN TUẤN, Thầy VÕ ĐỨC MINH (bay giờ là Giám mục Nha Trang), Thầy PHẠM CAO THANH, Thầy NGUYỄN ĐỨC MƯU (bay giờ là Chủ nhiệm báo DÂN CHÚA Hoa kỳ), các Sinh viên như : ĐINH VĂN BAN, ĐINH QUANG NGỌC, PHẠM XUÂN CẢNH, PHẠM VĂN QÙYNH, NGUYỄN ĐẮC HÓA, PHẠM THỊ TÀI, NGUYỄN THỊ THANH... Đó là những Sinh viên Công giáo và chúng tôi đều biết khuynh hướng Chính trị Thiên tả của Cha thời ấy.

Tôi nhắc lại những quen biết này và khuynh hướng thiên tả của Cha không phải là để công kích Cha trong lúc này, nhưng là để hy vọng rằng cuộc TỌA ĐÀM mà Cha đại diện mời tham dự ngày nay không còn bị ảnh hưởng chỉ đạo bởi khuynh hướng cũ. Tôi cũng là bạn cùng lớp với Linh mục PHAN KHẮC TỪ. Chúng tôi hy vọng rằng sau những chục năm sống trực tiếp dưới Cơ Chế CSVN, Cha cũng như Linh mục Phan Khắc Từ, Linh mục Thiện Cẩm ... đã thấm thía cái mặt thực tàn ác của CSVN và chỗi dây đi trong chính trực và trong Công lý Xã Hội, nhất nữa đây là vấn đề cứu nguy Đất Nước trước cảnh xâm lăng, bảo vệ ven tòan Lãnh Thổ.

Dân tộc và Đất Nước như dòng NƯỚC SÔNG triền miên chảy đến muốn đời. Chính trị chỉ là GỢN SÓNG lăn tăn trên dòng nước sông, khi ẩn khi hiện. Không có dòng nước sông thì không có gợn sóng. Không thể lấy gợn sóng mà thay đổi được dòng nước sông triền miên.

Nạn Trung quốc xâm lăng, cũng như Chính trị của gợn sóng CSVN đang muốn thay đổi dòng NƯỚC SÔNG triền miên của DÂN TỘC VIỆT trên ĐÁT NƯỚC VIÊT. Hãy bảo vệ dòng NƯỚC SÔNG triền miên muôn đời ấy.

Nguy cơ Tầu xâm lăng Kinh tế

Cuộc TỌA ĐÀM của phía Công Giáo mà Cha đứng ra mời đặt chủ điểm vào Biển Đông và Hải Đảo. Đó là vấn đề xâm lăng Lãnh Thổ và Lãnh Hải.

Tôi muốn nhắc lại đây nguy cơ xâm lăng Kinh tế của Tầu. Đây là vấn đề vô cùng quan trọng cho cuộc sống hàng ngày của đại đa số dân Việt Nam (75% dân số). Nếu trước đây, Cha có khuynh hướng Khuynh tả, có lẽ là do sự quan tâm về đời sống của đại đa số dân nghèo. Vậy thì chính lúc này, trước hệ thống Kinh tế Mafia của đảng CSVN làm cho kẻ giầu tột bực và người nghèo kiết xác, và trước việc hàng hóa Tầu tự do lan tràn vào Việt Nam để giết chết Kinh tế, Cha cũng như những Trí thức Công giáo trong cuộc TỌA ĐÀM không thể không quan tâm đề cập và hành động để cứu nguy Kinh tế Việt Nam trước cảnh hàng hóa Tầu xâm lăng và Cơ Chế CSVN không những không phản ứng gì, mà còn vì tham nhũng, vì muốn giữ quyền hành cai trị, đã cúi đầu nhận những phế thải Kinh tế của Trung quốc với chương trình xâm lăng Kinh tế thực sự của Tầu.

Đây là vấn đề xâm lăng Xã Hội. Thực vậy, Độc lập được đo bằng khả năng Kinh tế. Cá nhân nghèo dễ chịu lụy vì miếng ăn. Xã hội nghèo dễ cúi đầu vâng theo những bất công do nước Giầu áp đặt.

Kết Luận

Thư đã dài. Tôi chỉ xin tóm tắt như sau:

  • Cầu mong cho cuộc TỌA ĐÀM, do Cha đại diện đứng ra mời, đừng lấy tiêu chuẩn Khuynh hướng Chính trị mà thảo luận, quyết định. Đừng lấy gợn sóng Chính trị lăn tăn mà trấn át dòng NƯỚC SÔNG của Dân tộc.


  • Như tôi đã viết trong bài dưới đây TỪ THẢO LUẬN ĐẾN HÀNH ĐỘNG, cuộc Hội Thảo của Công Giáo phải kết thúc bằng HÀNH ĐỘNG, nếu không phía Công giáo không những vẫn còn mang tiếng, mà có thể còn bị kết án TÒNG PHẠM với Tầu xâm lăng và với KẺ PHẢN QUỐC rước Tầu vào nhà.


  • Xin cho vào Chương trình TỌA ĐÀM về hiểm họa xâm lăng Kinh tế của Trung quốc. Đây là vấn đề tối quan hệ cho Xã Hội Việt Nam.


  • Cuối thư, tôi xin được nhắc lại lời Thánh PHÊRÔ: “Việc té xuống không quan trọng, mà điều quan trọng hơn cả là biết đứng dậy đi tiếp.”

    Kính thăm Cha,

    Nguyễn Phúc Liên
    (THAO)


    Nói Chuyện Với Ông Duyên Lãng Hà Tiến Nhất - Trần Thế Cung

    Trần Thế Cung

    Độ hơn một tháng trước tôi có đọc và chuyển lên mạng bài Tại sao tôi ủng hộ Lời Kêu Gọi của Hòa thượng Thích Quảng Độ của cựu Đại Tá Hòang Đạo Thế Kiệt. Gần đây tôi lại được đọc bài của ông Hà Tiến Nhất: “Tại sao tôi không ủng hộ Lời Kêu Gọi của Hòa thượng Thích Quảng Độ”.

    Tuy bài của cựu Đại Tá Hòang Đạo Thế Kiệt không đả động gì đến ông Hà Tiến Nhất mà chỉ nêu ra những lý luận ủng hộ hay chống đối Lời Kêu Gọi, đã được phổ biến trên mạng, không hiểu sao ông Hà Tiến Nhất lại lôi đích danh Đại Tá Hòang Đạo Thế Kiệt (mà ông nói là một cựu chỉ huy trong ngành CTCT mà ông kính trọng) ra chỉ trích một cách hàm hồ, nặng nề.

    Tôi không hiểu tại sao ông Hòang Đạo Thế Kiệt giữ im lặng. Nhưng tôi không viết bài này để bênh vực ông. Ông không cần ai bênh vực cả. Tôi viết vì thấy ông Hà Tiến Nhất có một thái độ rất ‘mục hạ vô nhân’, và nhất là bài viết của ông chứa đầy những xuyên tạc, gian ý, nhằm bôi nhọ Hòa Thượng Thích Quảng Độ và Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất cùng những người ủng hộ.

    Tôi sẽ không viết tràng giang đại hải, suy diễn bừa bãi rồi đề quyết theo ý đồ của mình. Đấy không phải là phê bình và tranh luận đứng đắn mà chỉ là cãi vã theo kiểu sư nói sư phải vãi nói vãi hay.

    Bây giờ tôi sẽ lần lượt nói chuyện với ông Hà Tiến Nhất về 4 điểm quan trọng nhất mà ông nêu ra.

    Một là,
    (trích dẫn):

    “Câu hỏi đặt ra là đại tá Hoàng Đạo Thế Kiệt căn cứ vào đâu để cho rằng HT Thích Quảng Độ chống cộng sản và cùng đứng về một phía lằn ranh với ông. Nếu đại tá Kiệt căn cứ vào lời kêu gọi, hay thậm chí qua cả cái quá trình đấu tranh của HT Thích Quảng Độ mà cho rằng ngài chống cộng sản và ngài cùng đứng chung trong hàng ngũ quốc gia với đại tá thì e rằng ông đã sai, và sai lầm một cách thảm hại. Nếu cho rằng HT Quảng Độ là người quốc gia chống cộng thì phải giải thích thế nào và phải dùng chữ nghĩa gì để định loại các hoạt động gọi là đấu tranh tại miền Nam trước đây của Phật Giáo Ấn Quang mà trong đó HT Quảng Độ là một thành viên lãnh đạo có thế giá? Vào thập niên 1960, Phật Giáo Ấn Quang nay gọi tắt là Phật Giáo Thống Nhất đấu tranh không khoan nhượng để dứt khoát lật đổ cho bằng được các chính quyền VNCH. Đó là lịch sử, nghĩa là việc có thật được ghi chép trong sách vở để lưu truyền lại cho hậu thế. Xin nhớ rằng đây cũng là mục tiêu tối hậu của bọn VGCS miền Bắc xâm lược”.

    Trả lời:

    Trong bản trích Bạch Thư của Đại Lão Hòa Thượng Thích Tâm Châu, mới được phổ biến gần đây, có đọan viết (trích dẫn):

    “ - Vào khoảng năm 1980, 1981, chính Thượng Tọa Thích Trí Thủ Viện Trưởng Viện Hóa Đạo Ấn Quang cùng các vị cao cấp nhất phe tranh đấu Ấn Quang đã tích cực vận động thành lập và tham gia vào Giáo Hội Phật Giáo VN tại chùa Quán Sứ (Hà Nội), mà người ta thường gọi là "Giáo Hội Quốc Doanh", hay "Giáo Hội Nhà Nước".

    Chỉ có các Thượng Tọa: Thiện Minh, Huyền Quang, Đức Nhuận ,Quảng Độ và một số nhỏ các vị khác không tán thành, nên bị bắt hay bị giết”.

    Không biết ông Hà Tiến Nhất đã đọc bản tài liệu này chưa, và nghĩ thế nào? Tôi thì hoàn toàn tin vào sự chính xác của lời thuật này của Hòa Thượng Thích Tâm Châu, vì không ai có đủ hiểu biết về nội tình Phật giáo Việt-Nam bằng Hòa Thượng. Hòa Thượng lại là người Quốc gia, đối nghịch với nhóm Thích Trí Quang, thì không lẽ lại bênh vực mấy người mà ông Hà Tiến Nhất nhất định nghi là tay sai cộng sản? Còn trên thực tế thì trong 4 vị chống đối đó, một người (Thượng Tọa Thích Thiện Minh) đã bị CS giết trong tù, 2 người kia (Thượng Tọa Thích Huyền Quang và Thượng Tọa Thích Quảng Độ) bị tù và quản chế hàng hai chục năm, còn một người (Thượng Tọa Thích Đức Nhuận) thì phải rút về ở ẩn.

    Hơn thế, Thượng Tọa Thích Quảng Độ, cùng với Thượng Tọa Thích Thiện Minh, còn chống lại khuynh hướng thiên tả của nhóm Ấn Quang ngay từ những năm đầu 1970. Cũng theo Bạch Thư của Đại Lão Hòa Thượng Thích Tâm Châu thì 2 vị Thượng Tọa này đã không tán thành việc thành lập phong trào Hòa Hợp Hòa Giải Dân tộc do Thượng Tọa Thích Trí Quang lãnh đạo cho nên đã bị nhóm này bôi bẩn và đả kích kịch liệt.

    Chỉ với 2 yếu tố đó thôi, đã chứng tỏ Hòa Thượng Thích Quảng Độ là người Quốc gia, chống cộng ngay từ khi khối Ấn Quang còn rất mạnh. (Thật ra những điều mà Hòa Thượng Thích Tâm Châu viết trong các đọan trích dẫn cũng chỉ xác nhận lại những gì mà nhiều người đã biết từ lâu. Xin xem thêm bài “Đấu trí” của nhà báo Tú Gàn, mới phổ biến gần đây, để hiểu rõ hơn về nhóm Ấn Quang).

    Hai là,
    làm sao giải thích được quá khứ chống phá các chính quyền VNCH của Giáo hội Phật giáo Ấn quang.

    Trả lời
    Theo tôi thì sở dĩ ông Hà Tiến Nhất hỏi như thế là vì ông chưa đọc kỹ các tài liệu liên hệ, hoặc đọc rồi mà cố tình bỏ qua những chứng cớ chứng tỏ không phải mọi người trong nhóm Ấn quang là đều là cộng sản (mà còn chống cộng là khác), đặc biệt là 4 vị mà Hòa Thượng Thích Tâm Châu đã kể rõ tên từng người, như đã trích dẫn ở trên. Nhiều người chỉ vì tích cực chống lại chính quyền của Tổng thống Ngô Đình Diệm, bị tố cáo là kỳ thị và đàn áp tôn giáo, nên đã đứng trong khối Ấn quang.

    Nhưng Đại Đức (lúc ấy) Thích Quảng Độ không hề giữ một vai trò nào quan trọng nào cả. Những người tích cực và nổi tiếng nhất là Thượng Tọa Thích Tâm Châu và các Đại Đức Thích Hộ Giác, Thích Đức Nghiệp, Thích Giác Đức. Những thành phần quá khích nhất thuộc phe Ấn Quang là các Thượng tọa Thích Trí Quang, Thích Thiện Hoa, Thích Thiện Minh, Thích Minh Châu, Thích Nhất Hạnh… Lúc đó tôi chưa hề nghe đến tên thầy Thích Quảng Độ chứ đừng nói đến giữ vai trò quan trọng, như ông Hà Tiến Nhất nói, “là một thành viên lãnh đạo có thế giá”. Không biết ông lấy tài liệu này ở đâu?

    Tôi cũng không biết ông Hà Tiến Nhất lấy ở đâu ra tài liệu nói rằng thầy Thích Quảng Độ đã đem 500 tăng ni đi đón cộng sản vào Saigon, và đã tổ chức lễ sinh nhật của Hồ Chí Minh tại chùa Ấn Quang. Ngay trong bản Bạch thư Hòa Thượng Thích Tâm Châu cũng chỉ nói nhóm Ấn quang tổ chức chứ không hề nói thầy Quảng Độ đứng ra làm 2 việc đó. (Xin ông Hà Tiến Nhất cho biết có phải tự ông thêm vào không?)

    Đối với riêng tôi, tôi biết rất rõ về nội tình Phật giáo, thì dứt khoát nhóm Thích Trí Quang, Thích đôn Hậu, Thích nhất Hạnh v.v. đã có quá nhiều tội lỗi, không thể tha thứ được. Nhưng đối với những người chỉ vì chống kỳ thị, đàn áp tôn giáo mà đứng vào nhóm Ấn Quang, chứ không phải vì theo Việt cộng, và đã sớm chống lại chúng, thì tôi coi đó là người Quốc Gia, đặc biệt là 4 vị vừa đề cập ở trên. (Bài “Lằn Ranh Quốc/cộng, có nói rõ về điểm này).

    Nhân đây tôi cũng muốn viết thêm đôi chút về tổ chức gọi là “Giáo Hội Phật Giáo Ấn Quang”. Đây là một nhóm tu sĩ quá khích, do Thượng Tọa Thích trí Quang cầm đầu. Nhóm này đối nghịch, và ly khai ra khỏi Giáo Hội Phật Giáo Việt-Nam do Thượng tọa Thích Tâm Châu lãnh đạo. Nó chính thức ra đời vào tháng 10/1966 và tồn tại đến khỏang 1980/1981, khi Việt cộng ra lệnh phải hợp nhất với Giáo hội Phật-giáo Quốc Doanh của nhà nước cộng sản.

    Từ lúc này nó tan vỡ thành nhiều mảnh. Mảnh thì đi theo quốc doanh; mảnh thì bỏ cuộc; mảnh thì tiếp tục tranh đấu để thành lập trở lại một giáo hội dân lập, sau được chính thức gọi là Giáo Hội Phật Giáo Việt-Nam Thống Nhất, do Hòa Thượng Thích Huyền Quang, và hiện nay do Hòa Thượng Thích Quảng Độ làm quyền Tăng Thống. (Lúc đầu để ông Thích Đôn Hậu – lúc ấy đã tỉnh ngộ rồi- đứng làm Tăng Thống, cho đỡ bị Việt cộng đàn áp).

    Đấy là sự thật, là lịch sử, không thể bẻ queo được. Giáo Hội Phật Giáo Việt-Nam Thống Nhất hiện tại không những hòan tòan không phải là Giáo hội Phật giáo Ấn Quang/Trí Quang trước kia, mà còn đi con đường khác nhau, chống nhau, triệt hạ nhau. Nếu còn có ít nhiều liên lạc giữa các cá nhân 2 bên thì đó chỉ là những liên lạc bình thường giữa những Phật tử với nhau. Những người cứ cố cột Giáo Hội Phật Giáo Việt-Nam Thống Nhất hiện nay với Giáo Hội Ấn Quang hồi trên 40 năm trứơc của Thích trí Quang chắc chắn là chỉ có tà ý, nhằm bôi nhọ Hòa Thượng Thích Quảng Độ, và đánh phá Giáo Hội Phật Giáo Việt-Nam Thống Nhất.

    Ba là,
    Nếu cộng sản chấp nhận…

    Ông Hà Tiến Nhất viết rằng “Nếu năm 81 Giáo hội Phật giáo Ấn Quang được VC thỏa mãn các đòi hỏi, cho nắm hết các tổ chức Phật giáo thì liệu có còn tranh đấu nữa không…?”

    Trả lời

    Xin lỗi, tôi không hiểu tại sao ông Hà Tiến Nhất lại có thể nêu lên câu hỏi này. Nó hàm ý nhục mạ tất cả các cuộc tranh đấu giành lại tự do tôn giáo của các tôn giáo, bất kể là Phật giáo, Công giáo hay Hòa hảo, Cao đài, Hồi giáo… Lý do tại sao phải tranh đấu thì con nít cũng hiểu rồi: cộng sản đã tước đọat hết quyền tự do tôn giáo của ngừơi dân, nên các tôn giáo phải đòi lại. Đòi cái gì? Đòi được tự do hành đạo, và đòi trả lại các phương tiện hành đạo. Đòi không được thì phải tranh đấu. Nếu quý vị Hòa thượng Thích Huyền Quang, Thích Quảng Độ, không chấp nhận gia nhập Giáo Hội Quốc doanh để làm tay sai cho bạo quyền cộng sản mà tiếp tục tranh đấu thì đấy cũng là điều tự nhiên thôi. Việc xẩy ra đã gần 30 năm trước, tại sao bỗng dưng ông Hà Tiến Nhất lôi ra, đặt ngược vấn đề là nếu được thỏa mãn các đòi hỏi (ngụ ý các quyền lợi vật chất bẩn thỉu) thì liệu Hòa Thượng Thích Quảng Độ có còn tranh đấu chống nhà nước cộng sản nữa không? Rõ ràng ông ta đã hạ thấp các cuộc tranh đấu của các tôn giáo thành tranh đấu đòi quyền lợi riêng tư, và nếu được thỏa mãn thì sẽ chấp nhận cộng sản. Nếu nói như ông thì chẳng có ai là người yêu nước yêu đạo, tranh đấu cho cái gì cao cả cả. Nói như ông cũng có nghĩa là Phật Giáo, Thiên Chúa Giáo, Hòa Hảo, Cao Đài, Hồi Giáo… đều là những người hay tổ chức tranh đấu cho những quyền lợi vật chất bẩn thỉu cả! (Như vụ cầu nguyện đòi lại đất nhà thờ ờ Hà-Nội, Thái-hà…)

    Không hiểu sao ông lại suy diễn quá xa và quá độc như vậy? Để làm gì?

    Bốn là,

    ông Hà Nhất Tiến còn đưa ra một chữ Nếu trọng đại khác nữa để chống lại Lời Kêu Gọi của Hòa Thượng Thích Quảng Độ và những người ủng hộ ông: nếu VGCS chấp nhận thi hành yêu cầu (tôi nhấn mạnh phần yêu cầu như sẽ đọc được bên dưới) của Hòa Thượng Thích Quảng Độ, thì những người ký tên ủng hộ lời kêu gọi của ngài có tuân thủ những gì mà mình đã ký không. Trả lời đi thì sẽ thấy chuyện gì ngay thôi.

    Trả lời

    Đọc câu viết trên hẳn ai cũng thấy ngay sự đắc chí của ông Hà Tiến Nhất. Nhưng ông đã vì say mê chống đối mà vô tình để lộ sự u muội của mình một cách thảm hại.

    Thứ nhất là bài viết của cựu Đại Tá Hòang Đạo Thế Kiệt đã trình bày rất rõ là các yêu sách của Hòa Thượng Thích Quảng Độ chính là những thách thức mà người có ý thức chính trị biết ngay là Việt cộng không thể nào chấp nhận được, và thực tế cũng đã chứng tỏ như thế, cho nên cái gỉa thuyết “Nếu VC chấp nhận” chỉ là hoang tưởng, ngớ ngẩn, (cũng như gỉa thuyết: Nếu VC yêu nước…) nêu ra chỉ nhằm xuyên tạc Hòa Thượng Quảng Độ và những tổ chức và cá nhân ủng hộ Ngài;

    Thứ hai là ông Hà Tiến Nhất đã không hiểu thế nào là kết ước và ủng hộ. Tôi có thể ủng hộ một lập trường hay kế họach nào đó của một người hay tổ chức đấu tranh dân chủ trong nước, nhưng đó hòan tòan không phải là một sự kết ước bắt buộc phải thi hành, với bất cứ ai, nhất là “theo lệnh triệu tập của Việc cộng”! Ông cần tìm hiểu cho rõ trước khi hạ bút lên án người khác, nhất là nhà lãnh đạo một Giáo Hội, kẻo bị người ta cười cho là bình luận gia ấu trĩ, hàm hồ, gian xảo, dốt mà làm tàng.

    (Tưởng cần nói rõ là lời tuyên bố ủng hộ Lời Kêu Gọi của Hòa Thượng Thích Quảng Độ chỉ là một trong 7 điểm của bản Tuyên Cáo Chống Dự án Bô-xít của trên 100 đoàn thể và gần 1000 cá nhân chứ không phải là một bản tuyên bố riêng rẽ chỉ nhằm để ủng hộ Lời Kêu Gọi).

    Thứ ba, Đại Tá Hòang Đạo Thế Kiệt cũng đã giải thích cặn kẽ là vị thế của người dân trong nước và người tỵ nạn ngòai nước khác nhau. Hai bên là hai thực thể khác nhau (dân bị CS thống trị, và người Mỹ gốc Việt), có cách hành xử khác nhau, không bị ràng buộc với nhau, tuy vẫn có thể liên lạc, hỗ trợ nhau (hầu hết là trên phạm vi tinh thần).

    Nhưng ông Hà Tiến Nhất lại không đếm xỉa đến sự khác biệt đó mà đánh đồng hai bên với nhau. Ông coi người Việt hải ngọai cũng như đồng bào trong nước, cùng là thần dân của bạo quyền VC, do đó nếu lên tiếng ủng hộ Lời Kêu Gọi của ai đó trong nước là đương nhiên sẽ bị Việt cộng triệu tập! Ôi trời! không hiểu sao ông lại có thể suy diễn kỳ lạ như vậy? Ông có hậu ý gì không?

    Bốn điểm tôi vừa trả lời ông Hà Tiến Nhất đã vạch trần cho đồng hương thấy rõ 4 điểm trụ cột mà ông Hà Tiến Nhất nêu ra để từ đó dài dòng xuyên tạc, cáo gian, nhằm triệt hạ Hòa Thượng Thích Quảng Độ, Giáo Hội Phật Giáo Việt-Nam Thống Nhất và những người Quốc gia ủng hộ Ngài, đã bị bẻ gãy.

    Phần còn lại của bài phê bình của ông Hà Tiến Nhất chỉ là những suy diễn dông dài, nói lấy được, để mà mắt người đọc, cố làm cho mấy người nông cạn hiểu lầm. (Chẳng hạn, đương sự bảo ông Đại Tá Hoàng Đạo Thế Kiệt và các người ký tên ủng hộ Lời Kêu Gọi đã nhắm mắt ký bừa, chẳng hiểu gì cả! Hàm hồ đến độ đó, làm như đương sự không hề biết đến bài của Đại Tá Hòang Đạo Thế Kiệt viết, mà chính đương sự đã căn cứ vào đó để đả kích, thì thật hết nói!)

    Nhưng khi 4 trụ cột nêu ra đã bị đánh đổ, mọi người đã thấy cái gian tà của người viết thì đương nhiên những luận cứ xuyên tạc kế tiếp cũng bị đổ theo, chẳng cần phí thì giờ bàn thêm nữa.

    Nói tóm lại, xin đồng hương xét xem: Ai sai lầm thảm hại? Ai thẳng thắn, ai cáo gian? Ai nhắm mắt viết bừa? Ai là Quốc gia chân chính? Ai viết để chia rẽ và làm lợi cho cộng sản? Ông Hà Tiến Nhất có đáng tin không?

    Trần Thế Cung
    Ngày 22–7-2009


    Wednesday, July 22, 2009

    Núi Cô Tô vẫn thuộc Việt Nam Công Hòa - Nguyễn Khắp Nơi


    Hình chụp Núi Cô Tô tháng 11 Năm 1968
    Nguyễn Khắp Nơi

    Lễ kỷ niệm 49 năm thành lập Binh Chủng Biệt Động Quân đã được anh em Biệt Động Quân New South Wales Úc Đại Lợi tổ chức rất trọng thể tại Trung Tâm Sinh Hoạt Cộng Đồng Sydney, vào ngày thứ Bẩy 4 tháng Bẩy 2009 vừa qua. Trong dịp này, tôi đã được hân hạnh nói về một trong những chiến thắng oai hùng của binh chủng Biệt Động Quân:

    Chiến thắng tại Núi Cô Tô, Châu Đốc, năm 1970

    Núi Cô Tô, còn được gọi là Núi Bái Voi, là một trong bẩy ngọn núi nổi tiếng của dẫy Thất Sơn, tỉnh Châu Đốc, sát bên các tỉnh Kiến Phong, Phong Dinh, Ba Xuyên, Bạc Liêu, Chương Thiện và Kiên Giang. Đây là những vùng đất trù phú nhất của miền Nam, đã một thời được coi là “Vựa Lúa” của Việt Nam cũng như của vùng Đông Nam Á. Vì là một vùng đất trù phú, có núi non hiểm trở, lại dễ xâm nhập bằng đuờng bộ từ phía Cao Miên và đường biển từ Vịnh Thái Lan, nên Việt Cộng đã biến vùng núi Thất Sơn trở thành một căn cứ dưỡng quân và kinh tài lớn nhất ở vùng IV.Vùng núi này được gọi là “Thất Sơn” bởi vì nó bao gồm bẩy ngọn núi chính:

    Bẩy ngọn núi của Dẫy Thất Sơn

    1. Núi Trà Sơn (tên của một vị sư tên là Trà,

    2. Núi Két (Giống hình mỏ con két),

    3. Núi Bà Đội Om (giống một người đàn bà đội nón om của người Miên),

    4. Núi Cấm (cấm không được lai vãng),

    5. Núi Tượng (giống vòi con voi),

    6. Núi Dài (dài 8000m, dài nhất trong các ngọn núi),

    7. Núi Cô Tô – còn có tên khác là Núi Tô hoặc Núi Bái Voi – có hình như một cái tô lật úp.

    Núi Cô Tô dài 5800m, ngang 3700m, cao 614m, thuộc địa phận quận Tri Tôn. Dân trong vùng đa số là người Việt gốc Miên, gọi là Khmer Krom. Từ khi khởi động chiến tranh năm 1954, Việt Minh đã biến vùng Thất sơn trở thành một căn cứ địa mà chúng cho là bất khả xâm phạm. Kể từ năm 1956, căn cứ này trở thành nơi dưỡng quân chính của Sư Đoàn 1 CSBV (gồm 3 trung đoàn 95A, 18 B và 101D ), bộ tư lệnh của chúng đóng ở bên kia biên giới Cao Miên. Bọn chúng đã dùng địa thế hiểm trở của ngọn núi Cô Tô để biến những hang động thiên nhiên ở đây thành nơi dưỡng quân, bệnh viện và kho chứa lương thực thật là an toàn. Để ngăn ngừa sự xâm nhập và tiêu diệt bọn cộng phỉ, chính phủ VNCH đã cho thành lập Biệt Khu 44, bao gồm địa phận các tỉnh Kiến Phong, Châu Đốc và một phần của tỉnh Kiên Giang.

    Hình Núi Cô Tô chụp từ Satellite (Google Earth)

    Sau cuộc tổng công kích tết Mậu Thân, tàn quân của Việt Cộng kéo về vùng núi Thất Sơn để chữa trị và bổ xung quân số, tạo nên một căn cứ địa thật lớn mà Quân lực Việt Nam Cộng Hòa nhất định phải dẹp tan. Từ tháng 2 năm 1969, Quân Đoàn IV đã quyết đinh mở một cuộc tảo thanh trong vùng Thất sơn, triệt hạ bằng được mật khu trong vùng núi Cô Tô. Lực lượng hành quân bao gồm Lữ Đoàn Mike Force (Lực Lượng Tác Chiến Lưu Động) từ Nha Trang đưa về, quân số cơ hữu của Biệt Khu 44 và Sư Đoàn 9 Bộ Binh. Tin tình báo cho biết, tiểu đoàn 510 của CSBV đang bảo vệ căn cứ này cùng với 1 bộ chỉ huy cấp trung đoàn đóng tại hang núi Tuk Chup.

    Cô Tô là núi đá hoa cương, rất cứng, lại có hang động thiên nhiên thật nhiều, thế nên, mặc dù trước khi đổ quân, pháo binh đã bắn rất nhiều vào khu núi và không quân cũng đã mở thật nhiều đợt oanh tạc, nhưng bọn Việt Cộng ẩn nấp trong hầm sâu vẫn được an toàn.

    Đường bộ di chuyển đến chân núi lại cực kỳ khó khăn, phải lội qua những con suối nước chẩy rất xiết. Khi tới chân núi thì lại không có đưởng mòn để đi lên, những chiến binh của ta đã phải dùng dây có móc sắt ném lên để rồi từng người lính leo dần lên. Bọn Việt Cộng nấp trong hang đá cứ thế mà bắn ra, làm cho cuộc tiến quân bị kéo dài và và thiệt hại nhiều cho những đơn vị đầu tiên. Đến tháng 9 năm 1970, Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 4 quyết định sử dụng một chiến đoàn, trong đó, 2 tiểu đoàn 42 và 44 Biệt động quân là nỗ lực chính để tấn công Núi Cô Tô. Cuộc hành quân đặt dưới sự điều động của bộ Tư lệnh Sư đoàn 9 Bộ binh, do chuẩn tướng Trần Bá Di làm Tư Lệnh.Hướng đạo dẫn đường đoàn quân là các hồi chánh viên ở Tri Tôn. Các đơn vị Biệt động quân di chuyển từ bãi đổ quân nơi chân núi vào khu vực hành quân. Các chiến sĩ Biệt Động Quân đã phải lội qua những con suối, con lạch mà mực nước có nơi lên đến ngang ngực. Khi đến vị trí tập trung, tiểu đoàn còn phải phá đường qua rừng tràm để khởi động cuộc tấn công. Điểm kháng cự chính của Cộng quân là một hang động nằm ở khoảng cao độ 1/3 tính từ chân núi lên đến đỉnh về hướng Đông Bắc. Một trung đội quyết tử của Cộng quân được bố trí đóng chốt tử thủ tại đây. Toán Cộng quân này được trang bị các vũ khí tối tân, hỏa lực rất mạnh, trong đó có cả đại bác không giật 57 ly.Trong trận đánh quyết định vào ngày 21 tháng 10 năm 1970, tiểu đoàn 44 đổ quân đánh từ chân núi đánh lên, tiểu đoàn 42 sẽ từ trên đánh xuống.Tiểu đoàn 42 đã đổ quân vào ban đêm, dùng chiến thuật gọng kìm: 2 đại đội án ngữ khu lưng chừng núi, đánh lên, hai đại đội còn lại sẽ được đổ ngay trên đỉnh núi, đánh xuống.

    Hai đại đội “Đánh xuống” được trang bị hoàn toàn bằng lựu đạn cá nhân: Từ vị Tiểu đoàn trưởng cho tới người lính xung kích, đều cột súng dài vào người, lựu đạn nhét đầy túi quần túi áo, nón sắt cũng lột ra để đựng lựu đạn, đã được trực thăng vận ngay lên đỉnh núi Cô Tô để từ trên đánh xuống.

    Tới giờ G, các chiến sĩ Mũ Nâu từ trực thăng nhẩy xuống đỉnh núi, rồi cứ từng tổ 3 người vừa nhào xuống núi vừa thẩy lựu đạn vào trong các hang núi có bọn Việt Cộng đặt chốt sẵn. Đánh xung kích kiểu này có lợi thế là thật bất ngờ và mãnh liệt: Lựu đạn được thẩy vào từng hang đá, từng góc núi. Toán này thẩy lựu đạn chưa diệt được hết bọn VC thì toán kế tiếp đã trờ tới thẩy tiếp lựu đạn vào hang diệt trọn ổ. Nhưng bất lợi là không dùng súng, nếu rủi ro bị tên địch nào sống sót bắn trả lại, sẽ không kịp lấy súng ra để chống cự. Tuy nhiên, vì bị đánh quá bất ngờ, vả lại, bọn Việt Cộng cũng không thể ngờ những chiến binh Biệt Động đã dùng chiến thuật quá thần tốc như vậy, nên đa số bọn chúng chưa kịp bắn phát đạn nào thì đã bị “Sinh Bắc Tử Nam” hết rồi.

    Tới lưng chừng núi, 2 đại đội này dừng lại đóng chốt để 2 đại đội kia lặng lẽ dùng dây leo núi leo lên chờ sẵn ở ngoài những hang động. Bọn Việt Cộng còn sống sót, tưởng là những “Thần Chết” đã đi khỏi rồi, vội vàng bò ra ngoài để xem tình thế, đã bị tỉa hết từng đứa. Những ổ kháng cự còn lại, cũng bị các chiến sĩ Mũ Nâu bò vào từng khe núi mà tiêu diệt.

    Với kinh nghiệm “Tỉa từng người, diệt từng chốt” tối hôm qua, sáng sớm ngày hôm sau, Biệt Động Quân không tấn công lớn nữa, mà cho các đại đội phân chia ra từng tổ 3 nguời bò đi khắp núi để lục soát và tiêu diệt những chốt còn lại của Việt Cộng. Lý do là vì: Hang động quá nhiều, tập trung binh lính ở một chỗ sẽ rất dễ bị bắn sẻ hoặc bị tập kích. Đến trưa, số Cộng quân đóng chốt bên ngoài các hang đá đã bị tiêu diệt hết, nhưng vẫn còn súng từ trong bắn ra. Anh em Biệt Động dùng loa phóng thanh kêu gọi bọn này ra đầu thú, chỉ có một số ít dám ra mà thôi, số còn lại cố thủ trong hang sâu, lính ta bò vào bị bọn chúng thẩy lựu đạn hoặc bắn ra rất dữ dội. Cuối cùng, các chiến sĩ mũ nâu phải dùng lựu đạn hơi ngạt CS2 hun chúng suốt đêm tới sáng. Trời sáng, lộ rõ quang cảnh: Thổi khói vào từ một chỗ, nhưng khói phun ra lại ở rất nhiều nơi: Có tới từ 10 tới 12 lối ra. Anh em chiến sĩ cứ tiếp tục phun hơi ngạt vào và theo những chỗ có khói thoát ra mà thả lựu đạn xuống.

    Kết quả thật khả quan: Từng toán từng toán cộng quân ho sặc sụa đầy nước mắt buớc ra đầu hàng, kê khai tất cả những gì chứa trong hang núi. Theo đó, anh em chiến sĩ Biệt Động Quân đã khám phá ra một hang núi thật lớn. Hang này bao gồm một hệ thống nhiều hang nhỏ chằng chịt với nhau, dùng làm bệnh viện cho cả một trung đoàn Việt cộng. Ba ngày sau, anh em binh sĩ theo lời khai của tù binh, đã khám phá ra một hang lớn nữa, đó là nơi đặt bản doanh của tiểu đoàn 510 do tên Châu Kem làm Tỉểu đoàn trưởng. Tại hai hang động này, chiến sĩ ta đã tịch thu được rất nhiều vũ khí cùng quân trang quân dụng, thuốc men, dụng cụ y khoa, tiền bạc và rất nhiều quân lương.

    Cuộc hành quân tảo thanh Cộng quân ở núi Bá Voi chấm dứt vào ngày 20 tháng 11 1970 với kết quả là hàng trăm Cộng quân bị bỏ xác tại trận, toàn bộ hệ thống kinh tài, kho võ khí, tiếp vận của Cộng quân dành cho lực lượng Cộng quân địa phương tại vùng Châu Đốc, Rạch Giá bị phá hủy. Căn cứ Cô Tô, một căn cứ mà bọn Việt Cộng rất tự hào là “Bất khả xâm phạm” đã bị phá hủy tan tành. Tiểu đoàn 510 của Cộng sản Bắc Việt đã bị xóa sổ, biệt tăm biệt tích cho tới khi chiến tranh chấm dứt.

    Về phía tiểu đoàn 42 và 44 BĐQ, có 81 chiến binh vừa tử trận vừa bị thương.

    Qua bữa thứ Hai 06 07 2009, tôi đã được một độc giả gọi điện thoại báo cho một tin thật là khó tin:

    “Ông vừa nói về chiến thắng núi Cô Tô, phải không? Tôi báo cho ông một tin mừng: Núi Cô Tô ở Châu Đốc vẫn còn thuộc về Việt Nam Cộng Hòa đó! Bằng chứng là Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ vẫn còn hiện diện ở trên cám mỏm đá của Núi Cô Tô. Cờ được sơn thật là rõ nét, không thể nào lầm được!”

    Hình chụp năm 2008:
    Cờ Việt Nam Cộng Hòa vẫn còn trên đỉnh núi Cô Tô, Châu Đốc

    Tôi không tin, hỏi ông có bằng chứng gì không mà dám nói? Ông bạn mới quen hẹn gặp tôi khoảng một giờ sau, sẽ đem tới cho tôi coi những tấm hình mới chụp đường hoàng.

    Đúng giờ, ông bạn mới tên Minh tới gặp tôi thật, ông kể rằng:

    “Vào năm 2008, hai vợ chồng tôi có về Châu Đốc thăm bạn bè. Hai người lính ngồi nhậu lai rai, kể lại những trận chiến ngày xưa, nhất là trận đánh ở Núi Cô Tô. Người bạn vui vẻ cho biết, anh hồi đó đang ở Tiểu Đoàn 42, có tham dự trận đánh này. Sau trận đánh, anh và đồng đội đã vẽ rất nhiều cờ Việt Nam Cộng Hòa trên những mỏm đá trên núi Cô Tô. Nay, một số cờ Vàng đã bị xóa đi rồi, nhưng một số vẫn còn trơ gan cùng tuế nguyệt.

    Sáng sớm ngày hôm sau, hai anh em đã dẫn nhau leo lên núi Cô Tô, và đúng như lời anh bạn đã nói, những lá cờ Việt Nam Cộng Hòa vẫn còn đó, tôi đã vội vàng chụp mấy tấm hình lá cờ,đem về làm kỷ niệm.

    Buổi chiều Chủ Nhật vừa qua, tôi được một người bạn ở Sydney có tham dự lễ 49 năm Biệt Động Quân, cho biết là “Có nghe Nguyễn Khắp Nơi nhắc tới trận chiến này”, nên tôi liền gọi điện thoại cho anh để báo tin và tặng những tấm hình này cho anh và cho độc giả của Việt Luận làm tài liệu.”

    Xin cám ơn anh Minh và mời quý độc giả cùng thưởng lãm tấm hình độc đáo này.

    Khoảng một tiếng đồng hồ sau, lại có một anh bạn khác, tên Phùng, tới gặp tôi, xin cái phù hiệu Biệt Động Quân để đem về Việt Nam tặng cho người bạn cũ, là lính Cọp Đen ngày xưa. Anh Cọp này bị bệnh nặng, muốn có cái huy hiệu Biệt Động, để, nếu có chết, sẽ yêu cầu vợ con chôn cái huy hiệu này theo quan tài.

    Khi được tôi cho xem tấm hình cờ Việt Nam Công Hòa trên núi Cô Tô, anh Phùng cũng đã xác nhận với tôi là:

    “Đúng! Chính mắt tôi cũng đã nhìn thấy những lá cờ Việt Nam Cộng Hòa còn rõ nét trên đỉnh núi Cô Tô.”

    Tôi thắc mắc, hỏi anh:

    “Bọn Việt Cộng rất sợ, rất kỵ những gì còn lại của Việt Nam Cộng Hòa chúng ta, nhất là Lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ. Lý do nào mà bọn chúng lại không xóa hết đi những lá cờ trên núi Cô Tô đi?”

    Người bạn mới của tôi suy nghĩ một lúc, rồi mới trả lời:

    “Bọn Việt Cộng vẫn còn cay cú về trận Cô Tô lắm! Từ lúc bắt đầu cuộc chiến, chúng đã khoe khoang “Mật khu Núi Cô Tô là bất khả xâm phạm” Sau đó, bị quân đội ta đánh cho tan hoang, chúng hận thù ghê lắm. Nay chiến tranh chấm dứt rồi, chúng mới lại được dịp khoe lại cái mật khu cũ, để lá cờ VNCH còn lại để ra oai đó mà. Mặc kệ cho chúng khoe khoang, đối với chúng ta, nơi nào có cờ VNCH, nơi đó là đất của chúng ta, phải không, anh bạn?Hơn nữa, cái gì đúng thì sẽ lưu danh muôn thủa, bây giờ khác lắm rồi, anh Khắp Nơi ạ! Bọn Việt Cộng có đàn áp, có bắt buộc người dân tới đâu đi nữa, cũng không thể đi vào tâm tư của từng người một. Dân chúng họ nhớ tới thời Cộng Hòa Tự Do của chúng ta lắm, họ hết sợ cái đám Cộng Sản rồi, họ có cờ của mình, họ cứ việc trưng (ở trong nhà). Nhất là những thanh niên trẻ, họ nghe nhạc Lính của mình, họ nhìn lại những hình ảnh oai hùng của người Lính Việt Nam Cộng Hòa ngày xưa, họ đọc những bài viết về thủa xưa thịnh trị của Miền Nam, họ thích lắm. Các thanh niên này đã tìm mua những bộ quân phục của Lính mình ngày xưa, gắn phù hiệu binh chủng vào, mặc đi đầy đường đầy phố hết trơn á! Tại anh không về Việt Nam, nên không biết đó thôi. Hồi trước, ở khu Dân Sinh và các chợ trời, có bán đầy những bộ quân phục và huy hiệu lính, nhưng bây giờ, tìm đỏ con mắt cũng không có. ”

    Lạ quá nhỉ! Cờ Việt Nam Cộng Hòa còn? Thanh niên trẻ thì thích nghe nhạc Lính? Thích mặc quân phục của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa?

    Không lẽ mai đây, chính quyền Việt Cộng cũng trở thành . . . chính quyền của Việt Nam Cộng Hòa Do Dân và Vì Dân, có Nhân Quyền, có Tự Do báo Chí, Tự Do Tín Ngưỡng?

    Biết đâu đấy! Lòng dân muốn là cái gì cũng phải được!

    Bánh xe lịch sữ đã quay, đang quay và còn quay mãi. Chủ Nghĩa Cộng Sản trước sau gì cũng bị quay vào quá khứ mà thôi.

    Người Việt của tôi, là thế đấy!

    Nguyễn Khắp Nơi

    Tài liệu tham khảo:

    Chiến Tranh Việt Nam Toàn Tập, Nguyễn Đức Phương
    Lược Sử Tiểu Đoàn 42, Vương Hồng Anh 99

    Bản đồ Thất Sơn
    ( Đây là bản đồ hành quân tỉ lệ 1/25.000 - Bấm vào chữ Thất Sơn để phóng lớn bản đồ)

    Source: vietluanonline.com