Friday, July 17, 2009

Những Vấn Đề Về Biển và Những Tranh Chấp Chủ Quyền Tại Đông Á - Đào Văn Bình

Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ
(website của U.S. Department of State)
Bản Điều Trần của Ô. Scot Marciel – Phụ Tá Thứ Trưởng Ngọai Giao
trước Ủy Ban Đối Ngọai của Thượng Viện Hoa Kỳ
ngày 15/07/09 về:

Maritime Issues and Sovereignty Disputes in East Asia
(Những Vấn Đề Về Biển và Những Tranh Chấp Chủ Quyền Tại Đông Á)


Bản dịch của
Đào Văn Bình

Thưa TNS Chủ Tịch Jim Web và quý vị trong Tiểu Ban. Tôi rất hân hạnh được điều trần trước quý vị ngày hôm nay về vấn đề biển và những tranh chấp chủ quyền tại Đông Á. Hải đồ chạy xuyên qua Đông Á là một trong vài thủy lộ tấp nập và quan trọng nhất về mặt chiến lược của thế giới. Nó là huyết mạch chính yếu đã và đang tiếp sức vào sự phát triển kinh tế to lớn của các quốc gia trong vùng và đồng thời cũng đem lại sự phồn thịnh kinh tế cho Hoa Kỳ. Hằng tỷ đô la về thương mại - hầu hết ngọai thương của Á Châu với thế giới, trong đó có Hoa Kỳ - hằng năm đều thông qua thủy lộ này. Hơn phân nửa số hạm đội thương thuyền của thế giới mỗi năm đều dong buồm qua Biển Nam Hải.

Hoa Kỳ từ lâu đã có quyền lợi sinh tử trong việc duy trì sự ổn định, tự do đi lại và quyền có những họat động thương mại hợp pháp tại những thủy lộ của Đông Á. Trong nhiều thập niên, việc Hoa Kỳ tích cực can dự vào Đông Á – kể cả việc triển khai sự hiện diện của Hải Quân Hoa Kỳ trong vùng- là yều tố trung tâm gìn giữ hòa bình và duy trì những quyền quyền lợi nói ở trên. Điều đó tiếp tục đúng cho tới ngày hôm nay. Thông qua ngọai giao, thương mại và sự hiện diện quân sự chúng ta đã bảo vể những quyền lợi sinh tử của Hoa Kỳ. Những mối liên hệ với đồng minh của chúng ta vẫn mạnh, khu vực này vẫn yên ổn, và như quý vị đã biết, Hải Quân Hoa Kỳ tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ cần thiết với tất cả khả năng của mình (full range) đề bảo vệ đất nước và duy trì quyền lợi.

Sự hiện diện (về quân sự) và chính sách của chúng ta nhằm hỗ trợ cho việc tôn trọng luật hàng hải quốc tế, kể cả Công Ước của LHQ về Luật Biển. Mặc dù Hoa Kỳ không phê chuẩn công ước đó, như TNS chủ tịch đã biết, nội các hiện hành và các tổng thống tiền nhiệm cũng đều hỗ trợ việc tôn trọng những quy ước này và tàu bè của chúng ta cũng tuân thủ những quy định theo truyền thống về việc xử dụng các đại dương.

Vấn đề về biển và những tranh chấp chủ quyền tại Đông Á rất đa diện và phức tạp. Nếu được phép của TNS chủ tịch, tôi xin tập trung vào ba chủ đề:

- Trước hết, việc tranh chấp chủ quyền đa phương tại Biển Nam Hải.

- Thứ hai, những biến cố liên quan đến Trung Quốc và những họat động của tàu chiến Hoa Kỳ trong vùng biển quốc tế và trong Khu Vực Độc Quyền Khai Thác Kinh Tế của quốc gia đó.

- Và sau hết, khuôn khổ chiến lược của những vấn đề rất hiển nhiên và Hoa Kỳ phải phản ứng như thế nào.

Trung Quốc, Việt Nam, Đài Loan, Phi Luật Tân, Mã Lai, Nam Dương và Brunei đều tuyên bố chủ quyền của mình trên Biển Nam Hải, kể cả những phần đất phụ thuộc của nó (land features). Bề rộng mỗi bên đòi về phần mình khác biệt rất xa, cũng như cường độ đòi hỏi. Việc tuyên bố chủ quyền tập trung vào khu vực gồm trên 200 đảo nhỏ, đá và đá ngầm của hai Quần Đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Cho dù có tranh chấp chủ quyền, Biển Nam Hải vẫn yên tĩnh (at peace). Sự căng thẳng giữa các bên lên xuống bất thường. Cho đến ngày hôm nay, sự tranh chấp chưa đưa tới xung đột về quân sự. Năm 2002, các quốc gia ASEAN và Trung Quốc đã ký vào “Bản Hướng Dẫn Cho Các Bên Trong Vùng Biển Nam Hải”. Dù không có hiệu lực cưỡng hành nhưng nó cũng đề ra những nguyên tắc hữu ích, chẳng hạn như các quốc gia cần “giải quyết tranh chấp bằng phương thức hòa bình”“cố gắng tự chế”“tái khẳng định tôn trọng và cam kết quyền tự do lưu thông trên mặt biển cũng như trên không của vùng Biển Nam Hải theo đúng những nguyên tắc của luật quốc tế đã được thế giới công nhận, kể cả Công Ước 1982 về Luật Biển của LHQ.”

Quan trọng hơn nữa, Bản Hướng Dẫn năm 2002 đã bày tỏ thiện chí của các quốc gia tìm cách hợp tác đa phương để giải quyết các tranh chấp. Chúng ta hoan nghênh thỏa thuận này vì nó hạ bớt căng thẳng giữa các quốc gia và cũng cố thêm vị trí của tổ chức Hiệp Hội Các Quốc Gia Đông Nam Á (ASEAN). Thỏa hiệp đó không lọai bỏ được những căng thẳng cùng những hành động đơn phương của các quốc gia trong vùng - nhưng nó là bước khởi đầu, một căn bản tốt qua đó để nói lên những tranh chấp ở trong vùng bằng hình thức ngọai giao.

Chính sách của chúng ta tiếp tục là không đứng về phía nào trong cuộc tranh chấp chủ quyền tại Biển Nam Hải. Nói khác đi, chúng ta không ngả theo bên nào trong việc tuyên bố chủ quyền trên các đảo và những phần phụ thuộc. Tuy nhiên chúng ta quan ngại về những lời tuyên bố về “hải phận” hoặc bất kỳ vùng biển nào không bắt nguồn từ lãnh thổ. Những tuyên bố như thế không phù hợp với luật quốc tế cũng như Công Ước Về Luật Biển.

Chúng ta còn quan ngại tới sự căng thẳng giữa Việt Nam và Trung Quốc vì cả hai đang tìm cách khai thác trữ lượng dầu và hơi đốt nằm dưới Biển Nam Hải. Bắt đầu từ mùa hè 2007 Trung Quốc yêu cầu Hoa Kỳ và những công ty dầu khí ngọai quốc ngưng công việc thăm dò với Việt Nam nếu không - sẽ phải gánh chịu những hậu quả không báo trước trong việc buôn bán với Trung Quốc.

Chúng ta phản đối bất cứ hành động nào nhằm đe dọa các công ty Hoa Kỳ. Trong chuyến thăm viếng Việt Nam năm 2008, Thứ Trưởng Ngoại Giao lúc bấy giờ là John Negroponte đã xác nhận quyền của các công ty Hoa Kỳ đang hoạt động tại Biển Nam Hải và ông tin rằng những tranh chấp phải được giải quyết bằng giải pháp hòa bình chứ không phải bằng biện pháp cưỡng ép. Chúng ta cũng đã trực tiếp nêu quan tâm đó với Trung Quốc. Tranh chấp chủ quyền giữa các quốc gia không thể giải quyết bằng cách gây áp lực với các công ty không có liên quan gì tới các bên tranh chấp.

Chúng ta cũng thúc dục các bên tự chế, tránh những hành động gây hấn để giải quyết các tương tranh. Chúng ta cũng chỉ rõ rằng chúng ta phản đối sự đe dọa hoặc dùng vũ lực để giải quyết các tranh chấp cũng như bất cứ hành vi nào ngăn cản quyền tự do đi lại trên biển. Chúng ta mong muốn một giải pháp phù hợp với luật quốc tế kể cả Công Ước Của LHQ Về Luật Biển.

Ngòai ra cũng còn một số những tranh chấp liên quan đến biển ở Đông Á. Nhật Bản và Trung Quốc có những khác biệt về giới hạn của Vùng Đặc Quyền Khai Thác Kinh Tế cũng như chủ quyền trên Đảo Senkaku. Những tranh chấp này ít gây chú ý hơn là những tranh chấp ở Biến Nam Hải. Chúng ta tiếp tục theo dõi diễn biến của tất cả những tranh chấp này khi mà những tranh cãi có thể leo thang rất nhanh ở một khu vực mà tinh thần quốc gia biểu lộ mạnh mẽ.

Giờ đây tôi xin trình bày về diễn biến mới xảy ra liên quan đến Trung Quốc và tàu chiến của Hoa Kỳ họat động tại vùng hải phận quốc tế bên trong Khu Vực Độc Quyền Khai Thác Kinh Tế của quốc gia đó. Vào Tháng Ba 2009, tàu khảo sát Impeccable tiến hành nhiệm vụ thường lệ phù hợp với luật quốc tế và ở trong hải phận quốc tế ở Biển Nam Hải. Những hành vi khiêu khích của tàu đánh cá Trung Quốc khiến cho cả hai phía ở vào tình trạng nguy hiểm, ngăn cản việc tự do đi lại trên biển và không phù hợp với nghĩa vụ của các tàu di chuyển trên biển là phải tôn trọng sự an tòan của các tàu khác. Chúng ta lập tức phản đối những hành động đó với nhà cầm quyền Trung Quốc và đòi hỏi rằng những dị biệt phải được giải quyết bằng phương thức đối thoại chứ không phải bằng cách tàu-đối diện-tàu khiến thủy thủ và tàu ở vào tình trạng hiểm nguy.

Điều lo ngại của chúng ta tập trung vào điểm mà Trung Quốc cho rằng họ có thẩm quyền hợp pháp đối với những tàu khác đang đi lại trong Khu Vực Độc Quyền Khai Thác Kinh Tế của họ và phương thức nguy hiểm mà Trung Quốc xử dụng để xác định thẩm quyền của họ.

Quan điểm về quyền hạn này của Trung Quốc không phù hợp với luật pháp quốc tế. Chúng ta đã trình bày rõ điều đó trong những cuộc thảo luận với Trung Quốc và nhấn mạnh rằng các tàu của Hoa Kỳ sẽ tiếp tục tuần hành một cách hợp pháp trong các hải phận quốc tế như đã từng làm trong quá khứ.

Tôi có thể nói rằng từ giữa Tháng Năm đã không có thêm cuộc khiêu khích nào của tàu đánh cá Trung Quốc.

Để kết thúc, tôi muốn nhìn vào cả hai mối lo ngại của chúng ta- những lo ngại về Khu Vực Độc Quyền Khai Thác Kinh Tế của Trung Quốc và những tuyên bố về lãnh hải lấn qua/choàng qua (overlapping) vùng của các quốc gia khác trong một khuôn khổ chiến lược rộng lớn hơn. Nói một cách cụ thể, những điều này có ý nghĩa gì đối với công pháp quốc tế và cho sự triển khai quyền lực mạnh mẽ (tại vùng này) và Hoa Kỳ phải phản ứng như thế nào?

Biến cố Impeccable và những tranh chấp chủ quyền trong vùng Biển Nam Hải là những vấn đề hiển nhiên và đòi hỏi phản ứng rõ ràng từ Hoa Kỳ. Ở tầm mức chiến lược, trên một mức nào đó cả hai vấn đề đã làm nổi bật quyết tâm của Trung Quốc trong vấn đề khẳng định chủ quyền trên biển của họ. Trong một vài trường hợp, chúng ta không đồng quan điểm hoặc thậm chí không hiểu nổi sự giải thích về luật biển của Trung Quốc.

Tuy vậy, chúng ta tin rằng còn có những giải pháp xây dựng để giải quyết những vấn đề khó khăn này. Chúng ta tôn trọng quyền tự do đi lại của các chiến hạm Hải Quân Hoa Kỳ trong Vùng Đặc Quyền Khai Thác Kinh Tế, chúng ta đã thúc giục Trung Quốc trình bày những dị biệt qua đối thoại. Tuần rồi trong các buổi Đàm Luận Tư Vấn Về Quốc Phòng (Defense Conslultative Talks) tại Bắc Kinh, Thứ Trưởng Quốc Phòng Michele Flournoy đã đưa ra vấn đề này và Trung Quốc đồng ý tổ chức một buổi hội luận đặc biệt trong khuôn khổ Thỏa Hiệp Tư Vấn Về Hàng Hải Quân Sự (ký năm 1988) để bàn thảo và tìm cách giải quyết những dị biệt.

Còn đối với việc tranh chấp chủ quyền trên Biển Nam Hải, chúng ta đã khuyến khích các bên tìm kiếm giải pháp trong khuôn khổ Công Uớc LHQ Về Luật Biển cùng những thỏa hiệp đã có giữa ASEAN và Trung Quốc.

Sự khẳng định chủ quyền của một số các quốc gia trong vùng Biển Đông đã đưa tới những câu hỏi quan trọng đôi khi rắc rối cho cộng đồng thế giới liên quan đến việc thông quá các thủy lộ và nguồn tài nguyên. Có rất nhiều mù mờ (ambiguity) trong sự tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc trên Biển Nam Hải, vừa về mặt biên giới thực sự và liệu đó có phải là sự khẳng định lãnh hải của mình trên tòan bộ vùng biển hay chỉ trên các phần đất phụ thuộc (land features). Trong quá khứ, mù mờ này tác động không bao nhiêu đối với quyền lợi của Hoa Kỳ. Tuy nhiên, nó đã trở thành mối lo ngại khi các công ty năng lượng của chúng ta phải chịu áp lực từ Trung Quốc cũng như một vài khối/mô nằm xa ở ngòai khơi

(offshore blocks) cũng nằm trong đòi hỏi của Trung Quốc khi những khối/mô này không nằm trong công bố chủ quyền của họ. Sẽ là điều lợi ích cho tất cả các bên khi Trung Quốc làm sáng tỏ hơn về bản chất (nội dung) trong những công bố của họ.

Chúng ta cần phải cảnh giác để quyền lợi của chúng ta được bảo vệ và tăng tiến. Khi chúng ta có những lo ngại, chúng ta sẽ nêu ra một cách thẳng thắn như chúng ta đã làm khi Trung Quốc áp lực các công ty Hoa Kỳ.

Chúng ta ghi nhận Trung Quốc đã có những biện pháp hòa giải để giải quyết những tranh chấp về biên giới. Chẳng hạn, năm ngoái, Việt Nam và Trung Quốc đã ký thỏa hiệp phân định lại biên giới. Chính sách tổng quát của Trung Quốc đối với Đông Nam Á đề cao tình hữu nghị và láng giềng tốt (* cái này phải xét lại). Cũng lại như thế, việc triển khai chống hải tặc của Trung Quốc tại Vịnh Aden đã đóng góp tích cực vào mối lo chung của thế giới. Chúng ta phấn khởi trước những bước như vậy và hy vọng Trung Quốc sẽ ứng dụng tiến trình xây dựng như thế trong việc công bố chủ quyền trên biển và biên giới của họ.

Thưa TNS chủ tịch, chúng ta có quan hệ rộng rãi với Trung Quốc nó bao gồm rất nhiều nhiều vấn đề chiến lược sinh tử trọng yếu cho cả hai quốc gia. Chúng ta đồng ý chặt chẽ (agree closely) với họ trên một số vấn đề; còn những vấn đề khác chúng ta có những khác biệt hòan tòan. Mối liên hệ song phương đó khiến chúng ta có thể dàn xếp và tôn trọng những khác biệt và trình bày trong tinh thần trách nhiệm qua đối thọai.

Bản dịch của Đào Văn Bình

(Dấu * là phụ chú của người dịch)


Tưởng Nhớ Ðức Tổng Giám Mục Saigon - Lm Vũ Xuân Hạnh

Phaolô Nguyễn Văn Bình
Khẩu hiệu Giám Mục
"Hãy đi rao giảng/Euntes Docete Mt 28:19-20"
(1.9.1910- 01.7.1995)


Lm Vũ Xuân Hạnh

(Saigon, Việt Nam - 30/06/2005) - Cách đây mười năm, ngày Ðức Tổng Giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình về Nhà Cha (1.7.1995), chúng tôi còn đang là đại chủng sinh của Chủng viện thánh Giuse thành phố Saigon. Ðại Chủng viện rất vinh dự được Ðức Tổng chọn làm nơi an dưỡng trong những năm cuối đời. Ðặc biệt hơn, sau khi tạ thế, Ðức Tổng còn gởi lại thân xác của mình trong nhà nguyện Ðại Chủng viện. Những kỷ niệm mà Ðức Tổng để lại trong thời gian an dưỡng tại Ðại Chủng viện, dù đã mười năm qua, chúng tôi vẫn còn nhớ như in. Chúng tôi muốn ghi lại những kỷ niệm ấy như một lá thơ gởi đến Người Cha Chung của giáo phận sau mười năm xa cách. Ðó cũng là tâm tình biết ơn dâng kính Ðức Tổng mà mỗi chủng sinh ngày ấy, và linh mục hôm nay, muốn thể hiện.

Cuộc chia tay nào cũng để lại sự bùi ngùi tiếc nhớ. Cha ra đi để lại nơi mỗi chúng con niềm thương nhớ lớn lao.

Mỗi lần có dịp về thăm mái nhà Chủng viện, chúng con như còn thấy đâu đây những dấu vết của người cha khả kính. Bởi vậy mà niềm thương nhớ của chúng con sâu lắng và da diết hơn.

Chúng con nhớ, hồi sức khỏe cha còn khá, dù bận rộn với nhiều công việc của giáo phận, cha đã không ít lần đến thăm chúng con. Giữa cuộc sống đầy bon chen vụ lợi, cha dạy chúng con: "Các anh phải biết yêu thương chân thành". Trong lòng cuộc sống đó, mỗi người đều có những ngày vui, những ngày hạnh phúc, hay những ngày đau khổ, những ngày bất an, cha dạy chúng con "Các anh phải cầu nguyện, các anh phải thấy cuộc đời mình thuộc về Chúa".

Sau này, khi sức khỏe trở nên yếu nhiều, nhất là sau những cơn đau ngặt nghèo, cha thường ra Vũng Tàu nghỉ ngơi. Sau những lần trở về thánh phố, vào những buổi chiều, khi sức khỏe khá hơn, cha đều vào thăm chúng con. Có khi là những giờ giải trí, cha ngồi nhìn chúng con chơi thể thao. Vốn là người yêu thích thể thao, Cha như vui lây với chúng con trong từng đường banh, từng cú đập bóng chuyền vừa mạnh vừa dứt khoát của chúng con. Có khi cha vào thăm chúng con qua những lần huấn đức, hay những buổi chuyện trò...

Chúng con còn nhớ rất rõ một trong những lần huấn đức ấy. Ðó là chiều ngày 04.12.1993. Những lời căn dặn chân thành của một người cha, lời dạy nghiêm túc của một người thầy ngày ấy, rất cần cho đời sống linh mục của chúng con hôm nay, khiến chúng con nhớ mãi. Ngày hôm ấy, cha nêu lên cho chúng con hình ảnh thánh Gioan Tiền hô, người dọn đường của Chúa Cứu Thế. Ðể tiến đến chức linh mục, người chủng sinh phải "dọn đường" bằng tu rèn đạo đức, tri thức ... Những chủng sinh của cha ngày ấy, bây giờ đã là linh mục, nhưng tất cả đều hiểu rằng, không chỉ chủng sinh mới "dọn đường". Người linh mục càng cần phải "dọn đường" nhiều hơn để luôn đánh thức mình, để đừng bao giờ ngủ vùi trong sự tự mãn, trong an phận mà không cần cố gắng, không cần làm giàu kinh nghiệm đạo đức, kinh nghiệm mục tử của mình.

Cũng buổi chiều hôm ấy, cha còn dùng chính tấm gương mục tử của Chúa Giêsu để dạy chúng con: Người mục tử phải biết yêu thương, chăm sóc, dạy dỗ đàn chiên. Con chiên nào lạc bầy, người mục tử nhân lành không những đi tìm chúng, nhưng khi tìm được rồi, còn vác chiên lên vai trở về trong niềm vui lớn lao (Lc 15, 5). Cha còn căn dặn chúng con dứt khoát không vướng víu với tiền bạc: "Một linh mục ham tiền không phải là mục tử tốt lành". Lời của cha còn đó, âm vang mãi trong lòng chúng con.

Khoảng thời gian gần hai năm cuối đời, vì biết sức khỏe mình đã yếu, cha vào ở hẳn trong Ðại Chủng viện để được gần gũi với chúng con. Chúng con không thể quên đêm 24.12.1994, trước khi cử hành thánh lễ mừng Chúa Giáng sinh, cha ngồi trên xe lăn và chúng con đưa cha đi xem hang đá, xem cách trang hoàng chủng viện của chúng con. Và trong giờ canh thức Giáng sinh, chính cha đã ban huấn từ khai mạc.

Chúng con nhớ mãi ngày hội thao chào mừng lễ thánh Cả Giuse, bổn mạng Chủng viện, 20.03.1995, do chính tay cha cắt băng khai mạc.

Sáu ngày sau đó, 26.03.1995, chúng con lại kéo nhau đến chúc mừng tuổi linh mục của cha tròn 58 năm. Lần này cha chia sẻ với chúng con về tình yêu Thiên Chúa mà cha cảm nhận. Chính Chúa đã gìn giữ cha, đã dìu dắt cha suốt 58 năm trong sứ vụ tông đồ. Và cha kêu gọi chúng con cùng cảm tạ Chúa với cha.

Còn biết bao nhiêu kỷ niệm mà cha đã để lại nơi tâm hồn của mỗi chúng con. Chúng con nhớ từng nụ cười, nhớ từng lời nói, nhớ từng bước đi của cha. Chúng con, những chủng sinh ngày ấy, không quên những tiếng ho nặng nhọc của cha mỗi buổi sáng trên dãy hành lang vào nhà nguyện ... Dù sức khỏe đã quá mỏi mòn, vậy mà ngày nào cha cũng dâng thánh lễ với chúng con. Sự hiện diện của cha trong nhà nguyện nhắc nhở chúng con về bổn phận đạo đức, về đời sống cầu nguyện mà mỗi chủng sinh và cả linh mục nữa, phải thủ đắc làm hành trang cho đời tu của mình.

Chúng con vẫn biết cuộc ly biệt nào cũng để lại nơi lòng người ở lại những trống vắng và niềm tiếc thương. Sự ra đi của cha ngày ấy, đã làm rất nhiều trái tim rung cảm. Chúng con còn nhớ, trong lễ tang của cha, rất nhiều người đã xúc động và rơi lệ. Nhưng dẫu tiếc thương, người đời chỉ còn biết buông lời cảm thán: thế là hết! Nhưng chúng con cảm nhận rõ ràng chưa hết. Dù đã mười năm, sự hiện diện sinh động của cha như còn phảng phất đâu đây, trong tâm hồn của mỗi chúng con, những chủng sinh ngày ấy... Chúng con xin mượn cách nói của cha mà nói rằng, cha yêu nhất Chủng viện ... Hình bóng của cha không phai mờ trong chúng con, bởi cha đã yêu chúng con trước, cha yêu nhất kia mà...

Thực tế có đau lòng, nhưng trong niềm tin vững chắc vào sự sống đời sau, chúng con cảm nhận một niềm an ủi lớn lao: giờ đây cha đang yểm trợ Giáo Hội, đang bảo vệ đoàn chiên và đang cầu bàu cho chúng con. Chúa đã sai cha ra đi, và Chúa đã gọi cha trở về. Cha đã trung thành với ơn gọi, "đã chạy hết chặng đường và đã giữ vững niềm tin" (2 Tm 4, 7).

Vâng, thưa cha, hạt lúa mì gieo vào lòng đất phải mục thối đi mới sinh nhiều hoa trái. Cha đã khuất. nhưng hoa trái của lòng tin do cha gieo vãi vẫn còn đó và lớn lên. Một lần nữa, nhân kỷ niệm mười năm cha xa cách chúng con, chúng con cúi mình kính chào cha. Mãi mãi chúng con thương nhớ cha, thương nhớ một người cha khả ái, vô cùng khả kính của chúng con. Xin tạm biệt cha. Hẹn gặp cha trên quê trời. Cha nhớ cầu nguyện cho chúng con với.

Tiểu Sử Ðức Tổng Giám Mục Phaolô Nguyễn Văn Bình:

Tổng Giám mục Nguyễn Văn Bình - lễ cuối đời
- Sinh ngày 01.09.1910 tại Sài Gòn.

- Thụ phong linh mục ngày 27.03.1937 tại Rôma.

- Tấn phong Giám mục ngày 30.11.1955 tại Sài Gòn.

- Bổ nhiệm Giám mục giáo phận Cần Thơ ngày 20.09.1955.

- Bổ nhiệm Giám mục giáo phận Sài Gòn ngày 24.11.1960.

- Từ trần ngày 01.07.1995 tại thành phố Saigon.

(Ðại Chủng viện Thánh Giuse Sài Gòn rất vinh dự được Ðức Tổng chọn làm nơi an dưỡng trong những năm cuối đời. Ðặc biệt hơn, sau khi tạ thế, Ðức Tổng còn gởi lại thân xác của mình trong nhà nguyện Ðại Chủng viện ...)

Lm. Vũ Xuân Hạnh

Thi sĩ Hữu Loan - Vân Khanh

Tiểu sử

Hữu Loan
Hữu Loan tên thật là Nguyễn Hữu Loan, sinh ngày 02/04/1916 tại quê ở làng Vân Hoàn, xã Nga Lĩnh, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Ông học thành chung ở Thanh Hóa sau đó đi dạy học và tham gia Mặt trận bình dân năm 1936, tham gia Việt Minh ở thị xã Thanh Hóa (nay là thành phố Thanh Hóa). Năm 1943, ông về gây dựng phong trào Việt Minh ở quê và khi cuộc Cách mạng tháng Tám nổ ra, ông làm Phó chủ tịch Uỷ ban khởi nghĩa Nga Sơn. Trước năm 1945, ông đã từng là cộng tác viên trên các tập san Văn Học, xuất bản tại Hà Nội. Sau Cách mạng tháng Tám, ông được cử làm Uỷ viên Văn hóa trong Uỷ ban lâm thời tỉnh Thanh Hóa, phụ trách các ty: Giáo dục, Thông tin, Thương chính và Công chính. Kháng chiến chống Pháp, Hữu Loan tham gia quân đội Nhân dân Việt nam, phục vụ trong Đại đoàn 304. Sau năm 1954, ông làm việc tại Báo Văn nghệ trong một thời gian.

Trong thời gian 1956-1957, ông tham gia Phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm do nhà văn Phan Khôi chủ trương. Sau khi phong trào Nhân Văn Giai Phẩm bị dập tắt vào năm 1958, nhà thơ Hữu Loan phải vào trại cải tạo vài năm, tiếp đó bị giam lỏng tại địa phương.

Hiện ông đang sống tại quê nhà.

Hữu Loan chưa xuất bản tập thơ nào, dưới đây là một số bài thơ đã được phổ biến của ông:

Màu Tím Hoa Xim
Hữu Loan

Nàng có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng
Có em chưa biết nói
Khi tóc nàng xanh xanh
Tôi người Vệ quốc quân
xa gia đình
Yêu nàng như tình yêu em gái
Ngày hợp hôn
nàng không đòi may áo mới
Tôi mặc đồ quân nhân
đôi giày đinh
bết bùn đất hành quân
Nàng cười xinh xinh
bên anh chồng độc đáo
Tôi ở đơn vị về
Cưới nhau xong là đi
Từ chiến khu xa
Nhớ về ái ngại
Lấy chồng thời chiến binh
Mấy người đi trở lại
Nhỡ khi mình không về
thì thương
người vợ chờ
bé bỏng chiều quê…

Nhưng không chết
người trai khói lửa
Mà chết
người gái nhỏ hậu phương
Tôi về
không gặp nàng
Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối
Chiếc bình hoa ngày cưới
thành bình hương
tàn lạnh vây quanh
Tóc nàng xanh xanh
ngắn chưa đầy búi
Em ơi giây phút cuối
không được nghe nhau nói
không được trông nhau một lần
Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím
áo nàng màu tím hoa sim
Ngày xưa
một mình đèn khuya
bóng nhỏ
Nàng vá cho chồng tấm áo
ngày xưa…

Một chiều rừng mưa
Ba người anh trên chiến trường đông bắc
Được tin em gái mất
trước tin em lấy chồng
Gió sớm thu về rờn rợn nước sông
Đứa em nhỏ lớn lên
Ngỡ ngàng nhìn ảnh chị
Khi gió sớm thu về
cỏ vàng chân mộ chí
Chiều hành quân
Qua những đồi hoa sim
Những đồi hoa sim
những đồi hoa sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa sim
tím chiều hoang biền biệt
Có ai ví như từ chiều ca dao nào xưa xa
Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh chưa có mẹ già chưa khâu
Ai hỏi vô tình hay ác ý với nhau
Chiều hoang tím có chiều hoang biết
Chiều hoang tím tím thêm màu da diết
Nhìn áo rách vai
Tôi hát trong màu hoa
Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh mất sớm, mẹ già chưa khâu…

Màu tím hoa sim, tím tình trang lệ rớm
Tím tình ơi lệ ứa
Ráng vàng ma và sừng rúc điệu quân hành
Vang vọng chập chờn theo bóng những binh đoàn
Biền biệt hành binh vào thăm thẳm chiều hoang màu tím
Tôi ví vọng về đâu
Tôi với vọng về đâu
Áo anh nát chỉ dù lâu…

(1949, khóc vợ Lê Đỗ Thị Ninh)
    Lời tự thuật của HỮU LOAN
Hữu Loan
Tôi sinh ra trong một gia đình nghèo, hồi nhỏ không có cơ may cắp sách đến trường như bọn trẻ cùng trang lứa, chỉ được cha dạy cho dăm chữ bữa có bữa không ở nhà. Cha tôi tuy là tá điền nhưng tư chất lại thông minh hơn người. Lên trung học, theo ban thành chung, tôi cũng học tại Thanh Hóa, không có tiền ra Huế hoặc Hà Nội học. Đến năm 1938, lúc đó cũng đã 22 tuổi, tôi ra Hà Nội thi tú tài, để chứng tỏ rằng con nhà nghèo cũng thi đỗ đạt như ai. Tuyệt nhiên tôi không có ý định dấn thân vào chốn quan trường. Ai cũng biết thi tú tài thời Pháp rất khó khăn. Số người đậu trong kỳ thi ó rất hiếm, hiếm đến nỗi 5-6 chục năm sau những người cùng thời còn nhớ tên những người đậu khóa ấy, trong đó có Nguyễn Đình Thi, Hồ Trọng Gin, Trịnh văn Xuấn, Đỗ Thiện và ... Tôi - Nguyễn Hữu Loan.

Với mảnh tú tà i Tây trong tay, tôi rời quê nhà lên Thanh Hóa để dạy học. Nhãn mác con nhà nghèo học giỏi của tôi được bà tham Kỳ chú ý, mời về nhà dạy cho hai cậu con trai. Tên thật của bà tham Kỳ là Đái thị Ngọc Chất, bà là vợ của của ông Lê Đỗ Kỳ , tổng thanh tra canh nông Đông Dương, sau này đắc cử dân biểu quốc hội khóa đầu tiên. Ở Thanh Hóa, Bà tham Kỳ có một cửa hàng bán vải và sách báo, tôi thường ghé lại xem và mua sách, nhờ vậy mới được bà để mắt tới.

Bà tham Kỳ là một người hiền lành, tốt bụng, đối xử với tôi rất tốt, coi tôi chẳng khác như người nhà. Nhớ ngày đầu tiên tôi khoác áo gia sư, bà gọi mãi đứa con gái - lúc đó mới 8 tuổi- mới chịu lỏn lẻn bước ra khoanh tay, miệng lí nhí: 'Em chào thầy ạ, chào xong, cô bé bất ngờ mở to đôi mắt nhìn thẳng vào tôi. Đôi mắt to, đen láy, tròn xoe như có ánh chớp ấy đã hằng sâu vào tâm trí tôi, theo tôi suốt cả cuộc đời. Thế là tôi dạy em đọc, dạy viết. Tên em là Lê Đỗ Thị Ninh, cha làm thanh tra nông lâm ở Sài Gòn nên sinh em trong ấy, quen gọi mẹ bằng má. Em thật thông minh, dạy đâu hiểu ấy nhưng ít nói và mỗi khi mở miệng thì cứ y như một 'bà cụ non'. Đặc biệt em chăm sóc tôi hằng ngày một cách kín đáo: em đặt vào góc mâm cơm chỗ tôi ngồi ăn cơm lúc thì vài quả ớt đỏ au, lúc thì quả chanh mọng nước em vừa hái ở vườn; những buổi trưa hè, nhằm lúc tôi ngủ trưa, em lén lấy áo sơ mi trắng tôi treo ở góc nhà mang ra giếng giặt ...

Có lần tôi kể chuyện ' bà cụ non' ít nói cho hai người anh của em Ninh nghe, không ngờ chuyện đến tai em, thế là em giận!. Suốt một tuần liền em nằm lì trong buồng trong, không chịu học hành ... Một hôm, bà tham Kỳ dẫn tôi vào phòng nơi em đang nằm thiếp đi. Hôm ấy tôi đã nói gì, tôi không nhớ nữa, chỉ nhớ là tôi đã nói rất nhiều, đã kể chuyện em nghe, rồi tôi đọc thơ ... Trưa hôm ấy, em ngồi dậy ăn một bát to cháo gà và bước ra khỏi căn buồng. Chiều hôm sau, em nằng nặc đòi tôi đưa lên khu rừng thông. Cả nhà không ai đồng ý: 'mới ốm dậy còn yếu lắm, không đi được đâu' Em không chịu nhất định đòi đi cho bằng được. Sợ em lại dỗi nên tôi đánh bạo xin phép ông bà tham Kỳ đưa em lên núi chơi .....

Xe kéo chừng một giờ mới tới được chân đồi. Em leo đồi nhanh như một con sóc, tôi đuổi theo muốn đứt hơi. Lên đến đỉnh đồi, em ngồi xuống và bảo tôi ngồi xuống bên em.Chúng tôi ngồi thế một hồi lâu, chẳng nói gì. Bất chợt em nhìn tôi, rồi ngước mắt nhìn ra tận chân trời, không biết lúc đó em nghĩ gì. bất chợt em hỏi tôi:

-Thầy có thích ăn sim không ?
Tôi nhìn xuống sườn đồi: tím ngắt một màu sim. Em đứng lên đi xuốn sườn đồi, còn tôi vì mệt qúa nên nằm thiếp đi trên thảm cỏ ... Khi tôi tỉnh dậy, em đã ngồi bên tôi với chiếc nón đầy ắp sim. Những quả sim đen láy chín mọng.
-Thầy ăn đi.

Tôi cầm quả sim từ tay em đưa lên miệng trầm trồ: “Ngọt qúa.”

Như đã nói, tôi sinh ra trong một gia đình nông dân, quả sim đối với tôi chẳng lạ lẫm gì, nhưng thú thật tôi chưa bao giờ ăn những quả sim ngọt đến thế!

Cứ thế, chúng tôi ăn hết qủa này đến qủa khác. Tôi nhìn em, em cười. hai hàm răng em đỏ tím, đôi môi em cũng đỏ tím, hai bên má thì ... tím đỏ một màu sim. Tôi cười phá lên, em cũng cười theo!

Cuối mùa đông năm ấy, bất chấp những lời can ngăn, hứa hẹn can thiệp của bà tham Kỳ, tôi lên đường theo kháng chiến. Hôm tiễn tôi, em theo mãi ra tận đầu làng và lặng lẽ đứng nhìn theo. Tôi đi lên tới bờ đê, nhìn xuống đầu làng ,em vẫn đứng đó nhỏ bé và mong manh. Em giơ bàn tay nhỏ xíu như chiếc lá sim ra vẫy tôi. Tôi vẫy trả và lầm lũi đi ... Tôi quay đầu nhìn lại ... em vẫn đứng yên đó ... Tôi lại đi và nhìn lại đến khi không còn nhìn thấy em nữa ...

Những năm tháng ở chiến khu, thỉnh thoảng tôi vẫn được tin tức từ quê lên, cho biết em vẫn khỏe và đã khôn lớn. Sau này, nghe bạn bè kể lại, khi em mới 15 tuổi đã có nhiều chàng trai đên ngỏ lời cầu hôn nhưng em cứ trốn trong buồng, không chịu ra tiếp ai bao giờ ....

Chín năm sau, tôi trở lại nhà, về Nông Cống tìm em. Hôm gặp em ở đầu làng, tôi hỏi em , hỏi rất nhiều, nhưng em không nói gì, chỉ bẽn lẽn lắc hoặc gật đầu. Em giờ đây không còn là cô học trò Ninh bướng bỉnh nữa rồi. Em đã gần 17 tuổi, đã là một cô gái xinh đẹp ...

Yêu nhau lắm nhưng tôi vẫn lo sợ vì hai gia đình không môn đăng hộ đối một chút nào. Mãi sau này mới biết việc hợp hôn của chúng tôi thành công là do bố mẹ em ngấm ngầm 'soạn kịch bản'.

Một tuần sau đó, chúng tôi kết hôn. Tôi bàn việc may áo cưới thì em gạt đi, không đòi may áo cưới trong ngày hợp hôn, bảo rằng là: 'yêu nhau, thương nhau cốt là cái tâm và cái tình bền chặt là hơn cả'. Tôi cao ráo, học giỏi, Làm thơ hay ... lại đẹp trai nên em thường gọi đùa là anh chồng độc đáo. Đám cưới được tổ chức ở ấp Thị Long, huyện Nông Công, tỉnh Thanh Hóa của gia đình em, nơi ông Lê Đỗ Kỳ có hàng trăm mẫu ruộng. Đám cưới rất đơn sơ, nhưng khỏi nói, hai chúng tôi hạnh phúc hơn bao giờ hết!

Hai tuần phép của tôi trôi qua thật nhanh, tôi phải tức tốc lên đường hành quân, theo sư đoàn 304, làm chủ bút tờ Chiến Sĩ. Hôm tiễn tôi lên đường, Em vẫn đứng ở đầu làng, nơi chín năm trước em đã đứng. Chỉ giờ em không còn cô bé Ninh nữa, mà là người bạn đời yêu quý của tôi. Tôi bước đi, rồi quay đầu nhìn lại ... Nếu như chín năm về trước, nhìn lại chỉ thấy một nỗi buồn man mát thì lần này, tôi thật sự đau buồn. Đôi chân tôi như muốn khuỵu xuống.

Ba tháng sau, tôi nhận được tin dữ: vợ tôi qua đời! Em chết thật thảm thương: Hôm đó là ngày 25 tháng 5 âm lịch năm 1948, em đưa quần áo ra giặt ngoài sông Chuồn (thuộc ấp Thị Long, Nông Cống), vì muốn chụp lại tấm áo bị nước cuốn trôi đi nên trượt chân chết đuối! Con nước lớn đã cuốn em vào lòng nó, cướp đi của tôi người bạn lòng tri kỷ, để lại tôi nỗi đau không gì bù đắp nổi. Nỗi đau ấy, gần 60 năm qua, vẫn nằm sau thẳm trong trái tim tôi.

Tôi phải giấu kính nỗi đau trong lòng, không được cho đồng đội biết để tránh ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu của họ. Tôi như một cái xác không hồn ... Dường như càng kèm nén thì nỗi đau càng dữ dội hơn. May sao, sau đó có đợt chỉnh huấn, cấp trên bảo ai có tâm sự gì cứ nói ra, nói cho hết. Chỉ chờ có thế, cơn đau trong lòng tôi được bung ra. Khi ấy chúng tôi đang đóng quân ở Nghệ An, Tôi ngồi lặng đi ở đầu làng, hai mắt tôi đẫm nước, tôi lấy bút ra ghi chép. Chẳng cần phải suy nghĩ gì, những câu những chữ mộc mạc cứ trào ra:
    Nhà nàng có ba người anh đi bộ đội
    Những em nàng có em chưa biết nói
    Khi tóc nàng đang xanh ...
    ... Tôi về không gặp nàng ....
Về viếng mộ nàng, tôi dùng chiếc bình hoa ngày cưới làm bình hương, viết lại bài thơ vào chiếc quạt giấy để lại cho người bạn ở Thanh Hóa. Anh bạn này đã chép lại và truyền tay nhau trong suốt những năm chiến tranh. Đó là bài thơ Màu Tím Hoa Sim.

Đến đây, chắc bạn biết tôi là Hữu Loan, Nguyễn Hữu Loan, sinh ngày 02-04-1916 hiện tại đang 'ở nhà trông vườn' ở làng Nguyên Hoàn - nơi tôi gọi là chỗ 'quê đẻ của tôi đấy' thuộc xã Mai Lĩnh, huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa.

Em Ninh rất ưa mặc áo màu tím hoa sim. Lạ thay, nơi em bị nước cuốn trôi dưới chân núi Nưa cũng thường nở đầy những bông hoa sim tím. Cho nên tôi viết mới nổi những câu:
    Chiều hành quân, qua những đồi sim
    Những đồi sim, những đồi hoa sim
    Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết
    Màu tím hoa sim, tím cả chiều hoang biền biệt
    Và chiều hoang tím có chiều hoang biếc
    Chiều hoang tim tím thêm màu da diết.
Mất nàng, mất tất cả, tôi chán đời, chán kháng chiến, bỏ đồng đội, từ giã văn đàn về quê làm ruộng, một phần cũng vì tính tôi 'hay cãi, thích chống đối, không thể làm gì trái với suy nghĩ của tôi'. Bọn họ chê tôi ủy mị, hoạch hoẹ đủ điều, không chấp nhận đơn từ bỏ kháng chiến của tôi. Mặc kệ!. Tôi thương tôi, tôi nhớ hoa sim của tôi quá! với lại tôi cũng chán ngấy bọn họ quá rồi!

Đó là thời năm 1955 - 1956, khi phong trào văn nghệ sĩ bùng lên với sự xuất hiện của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm chống chính sách độc tài, đồng thời chống những kẻ bồi bút cam tâm lừa thầy phản bạn, dốc tâm ca ngợi cái này cái nọ để kiếm chút cơm thừa canh cặn. Làm thơ phải có cái tâm thật thiêng liêng thì thơ mới hay. Thơ hay thì sống mãi. Làm thơ mà không có tình, có tâm thì chả ra gì! Làm thơ lúc bấy giờ là phải ca tụng, trong khi đó tôi lại đề cao tình yêu, tôi khóc người vợ tử tế của mình, người bạn đời hiếm có của mình. Lúc đó tôi khóc như vậy họ cho là khóc cái tình cảm riêng ... Y như trong thơ nói ấy, tôi lấy vợ rồi ra mặt trận, mới lấy nhau chưa được hơn một tháng, ở nhà vợ tôi đi giặt rồi chết đuối ở sông ... Tôi thấy đau xót, tôi làm bài thơ ấy tôi khóc, vậy mà họ cho tôi là phản động. Tôi phản động ở chỗ nào? Cái đau khổ của con người, tại sao lại không được khóc?

Bọn họ xúc phạm đến tình cảm thiêng liêng của tôi đối với người vợ mà tôi hằng yêu quý, cho nên vào năm 1956, tôi bỏ đảng, bỏ cơ quan, về nhà để đi cày. Họ không cho bỏ, bắt tôi phải làm đơn xin. Tôi không xin, tôi muốn bỏ là bỏ, không ai bắt được! Tôi bỏ tôi về, tôi phải đi cày đi bừa, đi đốn củi, đi xe đá để bán. Bọn họ bắt giữ xe tôi, đến nỗi tôi phải đi xe cút kít, loại xe đóng bằng gỗ, có một bánh xe cũng bằng gỗ ở phía trước, có hai cái càng ở phía sau để đủn hay kéo. Xe cút kít họ cũng không cho, tôi phải gánh bộ. Gánh bằng vai tôi, tôi cũng cứ gánh, không bao giờ tôi bị khuất phục. Họ theo dõi, ngăn cản, đi đến đâu cũng có công an theo dõi, cho người hại tôi .... Nhưng lúc nào cũng có người cứu tôi! Có một cái lạ thơ của tôi đã có lần cứu sống tôi ! Lần đó tên công an mật nói thật với tôi là nó được giao lệnh giết tôi, nhưng nó sinh ở Yên Mô, thường đem bài Yên Mô của tôi nói về tỉnh Yên Bình quê nó ra đọc cho đỡ nhớ, vì vậy nó không nỡ giết tôi.

Ngoài Yên Mô, tôi cũng có một vài bài thơ khác được mết chuộng sau năm 1956, khi tôi về rồi thấy cán bộ khổ qúa, tôi đã làm bài Chiếc Chiếu, kể chuyện cán bộ khổ đến độ không có chiếc chiếu để nằm!

Định mệnh đưa đẩy, dắt tôi đến với một phụ nữ khác, sống cùng tôi cho đến tận bây giờ. Cô tên Phạm Thị Nhu, cũng là phụ nữ có tâm hồn sâu sắc. Cô vốn là một nạn nhân của chiến dịch cải cách ruộng đất, đấu tố địa chủ năm 1954- 1955.

Lúc đó còn là chính trị viên của tiểu đoàn, tôi thấy tận mắt những chuyện đấu tố. Là người có học , lại có tâm hồn nghệ sĩ nên tôi cảm thấy chán nản qúa, không còn hăng hái nữa. Thú thật, lúc đó tôi thất vọng vô cùng. Trong một xã thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa, cách xa nơi tôi ở 15 cây số, có một gia đình địa chủ rất giàu, nắm trong gần năm trăm mẫu tư điền.

Trước đây, ông địa chủ đó giàu lòng nhân đạo và rất yêu nước. Ông thấy bộ đội sư đoàn 304 của tôi thiếu ăn, nên ông thường cho tá điền gánh gạo đến chỗ đóng quân để ủng hộ. Tôi là trưởng phòng tuyên huấn và chính trị viên của tiểu đoàn nên phải thay mặt anh em ra cám ơn tấm lòng tốt của ông, đồng thời đề nghị lên sư đoàn trưởng trao tặng bằng khen ngợi để vinh danh ông. Thế rồi, một hôm, Tôi nghe tin gia đình ông đã bị đấu tố. Hai vợ chồng ông bị đội Phóng tay phát động quần chúng đem ra cho dân xỉ vả, rồi chôn xuống đất, chỉ để hở hai cái đầu lên. Xong họ cho trâu kéo bừa đi qua đi lại hai cái đầu đó, cho đến chết. Gia đình ông bà địa chủ bị xử tử hết, chỉ có một cô con gái 17 tuổi được tha chết nhưng bị đội Phóng tay phát động đuổi ra khỏi nhà với vài bộ quần áo cũ rách. Tàn nhẫn hơn nữa, chúng còn ra lệnh cấm không cho ai được liên hệ, nuôi nấng hoặc thuê cô ta làm công. Thời đó , cán bộ cấm đoán dân chúng cả việc lấy con cái địa chủ làm vợ làm chồng.

Biết chuyện thảm thương của gia đình ông bà địa chủ tôi hằng nhớ ơn, tôi trở về xã đó xem cô con gái họ sinh sống ra sao vì trước kia tôi cũng biết mặt cô ta. Tôi vẫn chưa thể nào quên được hình ảnh của một cô bé cứ buổi chiều lại lén lút đứng núp bên ngoài cửa sổ ,nghe tôi giảng Kiều ở trường Mai Anh Tuấn.

Lúc gần tới xã, tôi gặp cô ta áo quần rách rưới, mặt mày lem luốc. Cô đang lom khom nhặt những củ khoai mà dân bỏ sót, nhét vào túi áo, chùi vội một củ rồi đưa lên miệng gặm, ăn khoai sống cho đỡ đói. Quá xúc động, nước mắt muốn ứa ra, tôi đến gần và hỏi thăm và được cô kể lại rành rọt hôm bị đấu tố cha mẹ cô bị chết ra sao. Cô khóc rưng rức và nói rằng gặp ai cũng bị xua đuổi; hằng ngày cô đi mót khoai ăn đỡ đói lòng, tối về ngủ trong chiếc miếu hoang, cô rất lo lắng, sợ bị làm bậy và không biết ngày mai còn sống hay bị chết đói.

Tôi suy nghĩ rất nhiều, bèn quyết định đem cô về làng tôi, và bất chấp lệnh cấm, lấy cô làm vợ.

Sự quyết định của tôi không lầm. Quê tôi nghèo, lúc đó tôi còn ở trong bộ đội nên không có tiền, nhưng cô chịu thương chịu khó, bữa đói bữa no .... Cho đến bây giờ cô đã cho tôi 10 người con - 6 trai, 4 gái - và cháu nội ngoại hơn 30 đứa!

Trong mấy chục năm dài, tôi về quê an phận thủ thường, chẳng màng đến thế sự, ngày ngày đào đá núi đem đi bán, túi dắt theo vài cuốn sách cũ tiếng Pháp, tiếng Việt đọc cho giải sầu, lâu lâu nổi hứng thì làm thơ. Thế mà chúng vẫn trù dập, không chịu để tôi yên. Tới hồi mới mở cửa, tôi được ve vãn, mời gia nhập Hội Nhà Văn, tôi chẳng thèm ra nhập làm gì.

Năm 1988, tôi 'tái xuất giang hồ' sau 30 năm tự chôn và bị chôn mình ở chốn quê nghèo đèo heo hút gió. Tôi lang bạt gần một năm trời theo chuyến đi xuyên Việt do hội văn nghệ Lâm Đồng và tạp chí Langbian tổ chức để đòi tự do sáng tác, tự do báo chí - xuất bản và đổi mới thực sự.

Vào tuổi gần đất xa trời, cuối năm 2004, công ty Viet VTB đột nhiên đề nghị mua bản quyền bài Màu Tím Hoa Sim của tôi với giá 100 triệu đồng. Họ bảo, đó là một hình thức bảo tồn tài sản văn hóa. Thì cũng được đi. Khoản tiền 100 triệu trừ thuế đi còn 90 triệu, chia 'lộc' cho 10 đứa con hết 60 triệu đồng, tôi giữ lại 30 triệu đồng, phòng đau ốm lúc tuổi già, sau khi trích một ít để in tập thơ khoảng 40 bài mang tên Thơ Hữu Loan.

Sau vụ này cũng có một số công ty khác xin ký hợp đồng mua mấy bài thơ khác nhưng tôi từ chối, thơ tôi làm ra không phải để bán.

* Hữu Loan.
    Thánh mẫu hài đồng
    (Tục bút thơ Màu Tím Hoa Sim)


    Nàng ngả cánh tay
    còn rất nhiều ngấn sữa
    cho ta gối đầu
    ngay đêm đầu tân hôn
    chuyện ngược đời:

    - Sao không phải tay ta
    đỡ trước vai nàng
    ngả cánh tay to rắn
    của mình cho đầu
    nàng gối
    ta to gấp bốn gấp năm, và gấp đôi nàng tuổi
    Ta lo lắng sợ tay nàng không chịu nổi
    tay nàng như một nhánh huệ trong bình
    Anh nương nhẹ đầu anh
    cho khỏi đau nhánh huệ
    Nhưng kỳ lạ thay
    nàng chẳng hề gì chi,

    có ta thấy mình
    bỗng nhiên trở nên
    vô cùng nhỏbé
    Nằm gọn trong vòm ngực
    măng tơ
    và rúc tìm
    tham lam
    cuống quít
    ngẩn ngơ
    ta chỉ là một hài nhi
    khát mẹ !

    Nàng càng riết chặt thêm
    ta càng thêm bé
    trong vòng tay thành đai
    tôi nghe nàng
    thổn thức bên tai:

    - Anh của riêng em
    Anh rất lớn của em
    (Anh lớn thật, nhưng hiện đang rất bé)
    Và hai tay ghì cổ nàng
    Tôi kêu:
    Mẹ ơi!
    Mẹ, mẹ!
    bằng một giọng hài nhi
    mới học kêu bập bẹ
    trong hơi thở bừng bừng
    như bốc men

    - Lời vô thức?
    hay là tôi đối thoại?
    Sau đêm ấy là nàng đi
    đi mãi!

    Em đi tím đất chiều hoang
    ta như mất mẹ khóc tang hai lần

    Xin được kính cẩn hôn chân
    những cô gái
    ngay từ tấm bé
    đã mang chất Mẹ
    Loài Người

    Em trong Mẹ
    Mẹ trong Em
    - Em
    ngôi thánhmẫu
    Hài đồng

    Hữu Loan