Wednesday, May 27, 2009

Đế Quốc Bắc Phương Thôn Tính Biển Đông - Luật Sư Nguyễn Hữu Thống

    Đế Quốc Bắc Phương Thôn Tính Biển Đông.
    Đại Hán Trên Đường Suy Thoái
Luật Sư Nguyễn Hữu Thống

Trở Về Với Nhân Loại Văn Minh?

Ngày 13-5-2009 là thời hạn cuối cùng cho các quốc gia duyên hải đăng ký đơn yêu cầu Ủy Ban Phân Ranh Thềm Lục Địa Liên Hiệp Quốc cho mở rộng thềm lục địa từ 200 hải lý đến mức 350 hải lý. Đến ngày đó có hơn 50 quốc gia hội viên Liên Hiệp Quốc đã đệ đơn thỉnh nguyện (submission), hoặc từng phần hoặc toàn bộ, về việc định ranh thềm lục địa cho quốc gia mình.

Sau những tính toán và do dự, vào ngày chót Trung Quốc đã đệ đơn thỉnh nguyện tại Ủy Ban Phân Ranh. Đơn nạp chậm nhưng không trễ.

Từ năm 1994 khi Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển có hiệu lực chấp hành, Bắc Kinh không bao giờ lý vấn đến Công Ước mà họ đã ký tại Đại Hội Liên Hiệp Quốc về Luật Biển Kỳ III năm 1982. Năm 1992, họ tự tiện ban hành Luật Biển áp dụng riêng cho Trung Quốc, bất chấp các điều khoản và các thủ tục điều giải và tố tụng quy định trong Công Ước. Đó là những phương thức ôn hòa và đối thoại bình đẳng áp dụng cho các quốc gia văn minh trên thế giới dầu có gia nhập Công Ước hay không. Đối với các quốc gia không ký Công Ước Luật Biển, các quy luật cố định của Luật Tục Lệ Quốc Tế do Tòa Án Quốc Tế The Hague ban hành vẫn có giá trị toàn cầu. Ba nguyên lý căn bản trong Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, Hòa Bình, Hữu Nghị và Công Lý, có hiệu lực đối với tất cả các quốc gia hội viên Liên Hiệp Quốc. Riêng về Luật Biển các đường lối giải quyết mâu thuẫn và tranh chấp là hòa giải, điều đình và thỏa hiệp. Sau mới nhờ tới các cơ quan trọng tài và tòa án về Luật Biển.

Vì vậy, do hành vi đệ đơn thỉnh nguyện, Trung Quốc đã minh thị thừa nhận thẩm quyền của Liên Hiệp Quốc qua Ủy Ban Phân Ranh Thềm Lục Địa. Mà không thừa nhận sao được, vì Trung Quốc vẫn tự hào là một hội viên thường trực của Hội Đồng Bảo An có quyền phủ quyết?

Vì đã thừa nhận Công Ước, từ nay Trung Quốc phải tuân hành Công Ước với những điều khoản và những phương thức điều giải và tố tụng nêu trên. Một trong nững phương thức này là không sủ dụng bạo hành võ trang.

Dầu sao đây cũng là một bước tiến đáng kể choTrung Quốc có cơ hội trở về với nhân loại văn minh.

Mà nếu đã chịu tuân hành Luật Pháp Quốc Tế và Luật Tục Lệ Quốc Tế thì từ đây về sau, Trung Quốc không còn được sử dụng Luật Rừng Xanh của loài cầm thú và loài tôm cá, với mạnh được yếu thua và cá lớn nuốt cá bé.

Nhìn lại lịch sử cận kim, trong thập niên 1960, cuộc Cách Mạng Văn Hóa đã phá nát Trung Quốc về văn hóa, kinh tế, nhân sự và những giá trị tinh thần. Qua thập niên 1970 Trung Quốc bắt đầu phục hồi. Được gia nhập Liên Hiệp Quốc năm 1971 thay thế Đài Loan, Trung Quốc trở thành một ngũ cường. Sau khi thiết lập bang giao với Hoa Kỳ năm 1979, Trung Quốc hội nhập vào cộng đồng thế giới. Từ đó, với chính sách “mèo đen mèo trắng” của Đặng Tiểu Bình, chủ nghĩa xã hội độc quyền bị thay thế bởi chủ nghĩa thực dụng về mặt kinh tế.

Vấn Đề Thềm Lục Địa

Năm 1982, phái đoàn Trung Quốc đến Montego Bay Jamaica tham dự Đại Hội Liên Hiệp Quốc về Luật Biển. Lúc này các cường quốc Anh, Mỹ không ký Công Ước vì họ chưa thỏa mãn về quy chế khai thác hải sản tại biển sâu ngoài vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của các quốc gia duyên hải. Ba ngũ cường còn lại, Liên Sô, Pháp và Trung Quốc đóng vai chủ chốt. Tự ái quốc gia được thỏa mãn, Trung Quốc hoan hỷ ký Công Ước. Ký xong Trung Quốc mới thấy lo. Ký Công Ước thì phải theo Công Ước. Những điều khoản Công Ước lại quá rõ rệt: Các quốc gia duyên hải chỉ được hưởng quy chế 12 hải lý Biển Lãnh Thổ và 200 hải lý vùng Đặc Quyền Kinh Tế để đánh cá đồng thời là Thềm Lục Địa 200 hải lý để thăm dò và khai thác dầu khí.

Tại Biển Nam Hoa hay Biển Đông Nam Á mà người Việt gọi là Biển Đông, từ các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa về Hoa Lục có 2 rãnh biển sâu tới 2600m trong hải phận Hoàng Sa phía bắc, và sâu hơn 5000m tại hải phận Trường Sa phía nam. Theo Tòa Án Quốc Tế The Hague và Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, vì đáy biển không phải là sự tiếp nối tự nhiên của lục địa từ đất liền ra ngoài biển, Trung Quốc không có triển vọng đòi mở rộng thềm lục địa pháp lý 200 hải lý thành thềm lục địa địa chất 350 hải lý tính từ Biển Lãnh Thổ ra khơi.

Trong mọi trường hợp, các hải đảo Trường Sa nằm quá xa bờ biển Trung Quốc, (từ 550 hải lý đến 900 hải lý) nên không thuộc chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc. Vùng biển Hoàng Sa và Trường Sa có triển vọng có dầu khí do các chất hữu cơ tích lũy trong các thủy tra thạch (sediment) từ các nguồn nước phù sa Sông Hồng Hà và Sông Cửu Long, con sông dài nhất Đông Nam Á, từ cao nguyên Tây Tạng đổ ra biển. Không có con sông lớn nào từ đảo Hải Nam hay từ Hoa Lục chẩy ra Biển Đông.

Trong khi đó, tại vùng bờ biển Việt Nam, thềm lục địa địa chất hay nền lục địa (continental margin) chạy thoai thoải từ dẫy Trường Sơn ra vùng biển Hoàng Sa phía đông Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi. Độ sâu nhất quanh đảo Hoàng Sa là 900m. Về mặt địa chất và địa hình đáy biển, các đảo Hoàng Sa là một hành lang của dẫy Trường Sơn chạy từ Cù Lao Ré ra các đảo Tri Tôn, Hoàng Sa và Phú Lâm. Đây là những cao nguyên của thềm lục địa Việt Nam trên mặt biển. Năm 1925 nhà địa chất học quốc tế, Tiến Sĩ Khoa Học A. Krempt, Giám Đốc Viện Hải Học Đông Dương, sau hai năm nghiên cứu về địa chất, đo đạc và vẽ bản đồ hải đảo và đáy biển, đã lập phúc trình và kết luận “Về mặt địa chất những đảo Hoàng Sa là thành phần của Việt Nam” (Géologiquement les Paracels font partie du Vietnam).

Tại Trường Sa cũng vậy. Về mặt địa chất, độ sâu và địa hình đáy biển, các đảo Trường Sa là sự tiếp nối tự nhiên của lục địa Việt Nam từ đất liền ra ngoài biển. Tại bãi Tứ Chính nơi khai thác dầu khí, biển sâu không tới 400m, và tại vùng đảo Trường Sa và cồn An Bang, độ sâu chỉ tới 200m. Bãi Tứ Chính nằm cách bờ biển Việt Nam 190 hải lý và cách lục địa Trung Hoa 800 hải lý. Như đã trình bày, Trường Sa cách Hoa Lục bằng một rãnh biển sâu tới 5062m, nên không được hưởng quy chế Thềm Lục Địa Mở Rộng (Extended Continental Shelf). Mà dầu có mở rộng tối đa đến mức 350 hải lý, cũng không lấp được khoảng trống 800 hải lý từ đất liền ra hải đảo. Vì những lý do nói trên, các đảo Trường Sa không thuộc chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc trong mọi trường hợp.

Đuối về pháp lý, Trung Quốc không bao giờ đặt vấn đề tranh luận công khai về Biển Đông với các quốc gia Đông Nam Á. Mà cũng không dám đưa vụ tranh chấp hải đảo tại Nam Hải ra trước các cơ quan hòa giải, trọng tài hay tố tụng như Ủy Ban Hòa Giải, Hội Đồng Trọng Tài hay Tòa Án Luật Biển. Đó cũng là nhận định của học giả Trung Quốc Lô Chi-Kin trong Luận Án Tiến Sĩ đệ trình Đại Học Kinh Tế Chính Trị Luân Đôn năm 1986: “On its position over the islands, China has been most reluctant to subject the disputes to international legal arbitration”.

Biển Lịch Sử hay Lưỡi Rồng Trung Quốc.

Căn cứ vào những điều kiện tâm lý nói trên, chúng ta ghi nhận Trung Quốc đã tiến bộ khi nạp đơn thỉnh nguyện ngày 13-5-2009 tại Ủy Ban Phân Ranh Thềm Lục Địa Liên Hiệp Quốc. Tuy nhiên họ chỉ xuất trình mỗi một tấm Bản Đồ Lưỡi Bò để đòi chủ quyền hải phận theo hình lưỡi bò mà trước kia họ gọi là Biển Lịch Sử hay Lưỡi Rồng Trung Quốc.

Năm 1982, sau khi ký Công Ước về Luật Biển, Bắc Kinh tập hợp 400 học giả Trung Quốc, ngày đêm nghiên cứu, thảo luận trong suốt 10 năm để kết luận rằng Nam Hải là biển lịch sử của Trung Hoa từ hơn 2000 năm. Rồi họ hội nghị với 100 nhà trí thức Đài Loan để nhất trí xác nhận sự kiện lịch sử này.

Theo Bắc Kinh, Lưỡi Rồng Trung Quốc có một diện tích bao la bằng phân nửa lục địa Trung Hoa. Nó chiếm hơn 80% hải phận Biển Đông Nam Á, cách bờ biển Quảng Ngãi (Việt Nam) 40 hải lý, cách Natuna (Nam Dương) 30 hải lý, cách Sarawak (Mã Lai) và Palawan (Phi Luật Tân) 25 hải lý. Nó chiếm trọn 3 túi dầu khí đang khai thác là Bãi Tứ Chính (Vanguard Bank) của Việt Nam, bãi Natuna của Nam Dương và bãi Cỏ Rong (Reed Bank) của Phi Luật Tân.

Chiếu Điều 76 và 77 Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, các quốc gia duyên hải có chủ quyền tuyệt đối và đặc quyền chuyên hữu 212 hài lý (gồm 12 hải lý Biển Lãnh Thổ và 200 hải lý Thềm Lục Địa) tính từ đường cơ sở của bờ biển quốc gia (thông thường là mực nước thủy triều xuống thấp). Trong trường hợp này Lưỡi Bò Trung Quốc đã “liếm sâu” 172 hải lý vào thềm lục địa Việt Nam, 182 hải lý vào thềm lục địa Nam Dương và 187 hải lý vào các thềm lục địa của Mã Lai và Phi Luật Tân. Đây là những vi phạm thô bạo vào chủ quyền lãnh thổ của 4 quốc gia hội viên của Hiệp Hội các Quốc Gia Đông Nam Á (ASEAN). Để chống lại âm mưu xâm lấn thô bạo này, sự kết hợp giữa Việt Nam phía Tây và các quốc gia phía Đông Nam như Nam Dương, Mã Lai, Brunei và Phi Luật Tân là việc phải làm.

Đó là Sách Lược Bắc Cự Bá Quyền.

Kết Hợp Đông Nam.

Thuyết Biển Lịch Sử của Trung Quốc khiến chúng ta liên tưởng đến Thuyết Biển Lịch Sử Địa Trung Hải của Đế Quốc La Mã hồi đầu thế kỷ thứ nhất. La Mã gọi Địa Trung Hải là “Biển của Chúng Tôi” (Mare Nostrum). Vùng biển này còn rộng hơn cả Biển Đông Nam Á. Nó chạy từ Tây Ban Nha qua Pháp, Ý, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ đến toàn vùng biển Trung Đông và Bắc Phi.

Khách quan mà xét, trong thế kỷ 21, nếu còn nói đến Biển Lịch Sử Trung Quốc tại Đông Nam Á thì chỉ là đại ngôn hay một trò hề lố bịch. Lý do giản dị và dễ hiểu là Biển Đông Nam Á tọa lạc tại miền nhiệt đới Đông Nam Á, trong khi Trung Hoa nằm giữa miền ôn đới với Đông Trung Quốc Hải, Biển Hoàng Hải và Bắc Hải.

Tranh Nghị hay Bất Khả Tranh Nghị?

Điều khôi hài hơn nữa là, sau khi đòi cưỡng chiếm hơn 80% hải phận Biển Đông Nam Á mà không viện dẫn được điều khoản hay nguyên tắc nào của Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển hay của Tòa Án Quốc Tế The Hague, Bắc Kinh còn võ đoán khẳng định rằng vấn đề chủ quyền của Trung Quốc tại biển Nam Hải là bất khả tranh nghị!

Trong kỷ nguyên hiện nay, với Luật Pháp Quốc Tế thay thế Luật Rừng Xanh, và với hội trường thay thế chiến trường, chúng ta khẳng định rằng không có điều gì, việc gì hay vấn đề gì là bất khả tranh nghị theo lối cả vú lấp miệng em của phe bá quyền Trung Quốc. Luận điệu này chỉ có thể đưa ra trong những triều đại độc tài phong kiến và độc tài đảng trị đời Tần Thủy Hoàng, Hán Vũ Đế, Minh Thành Tổ và Mao Trạch Đông.

Rút kinh nghiệm sinh hoạt nghị trường và sinh hoạt hội đoàn, mọi người đồng ý rằng có tranh luận mới tìm ra Chân Lý. Theo lời minh triết của cổ nhân “Từ tranh luận mới nẩy ra ánh sáng và sự thật.” (De la discussion jaillit la lumière; Light flashes from discussion; Truth springs from discussion). Sở dĩ ngày nay Bắc Kinh không dám tranh luận vì không có cơ sở pháp lý để đòi cưỡng chiếm hơn 80% thềm lục địa của các quốc gia ven bờ biển Đông Nam Á. Hơn nữa Điều 77 Luật Biển công nhận thềm lục địa thuộc chủ quyền tuyệt đối của các quốc gia duyên hải mà ngoại bang không được quyền cưỡng chiếm.

Điều mà chúng ta muốn nhắn nhủ nhà cầm quyền Bắc Kinh là Thuyết Biển Lịch Sử ngày nay đã bị nhân loại văn minh vứt vào thùng rác lịch sử.

Thật vậy, áp dụng Luật Tục Lệ Quốc Tế và Công Pháp Quốc Tế, Tòa Án Quốc Tế The Hague và Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển đã minh thị phán quyết và quy định như sau:

“Biển Lịch Sử là nội hải tọa lạc về phía bên trong đất liền, hay về phía bên trong đường cơ sở của biển lãnh thổ". (The International Court of Justice has defined “historic waters” as “internal waters”. Waters on the landward side of the baseline of the territorial sea form part of the internal waters of the State”: UK vs. Norway, 1951, ICJ 116, 130; Art. 8 LOS Convention 1982).

Và công trình 10 năm nghiên cứu của 500 trí thức và học giả Trung Hoa rốt cuộc chỉ là công “dã tràng se cát Biển Đông, nhọc nhằn mà chẳng nên công cán gì!”

Như vậy Biển Đông Nam Á hay Nam Hải không phải là Biển Lịch Sử của Trung Quốc vì nó là ngoại hải, cách bờ biển Trung Hoa đến 2000km.

Vấn Đề Chính Danh: Chủ Quyền hay Vị Trí?

Nói về danh xưng, chúng ta phải đặt vấn đề chính danh. Biển Nam Hoa chỉ là tên gọi do các nhà thám hiểm hàng hải quốc tế đặt ra khi họ vượt Ấn Độ Dương qua Eo Biển Malacca tới Thái Bình Dương. Trên bản đồ thế giới có nhiều tên biển tương tự như vậy.

Từ thế kỷ 15 phong trào thám hiểm đại dương bột phát với Columbus tại Mỹ Châu, Vasco de Gama và Magellan tại Á Châu.

Khi vượt Đại Tây Dương qua Mũi Hảo Vọng đến Ấn Độ Dương, các tàu xuyên dương chạy tới vùng biển của các quốc gia duyên hải như Saudi Arabia, Yemen, Iraq, Ba Tư, Ấn Độ, Thái Lan, Miến Điện, Mã Lai. Tại Ấn Độ Dương, về phía tây bắc có biển Arabia (Arabian Sea) tiếp giáp Yemen, Oman, Saudi Arabia, Iraq, Ba Tư. Như vậy, Biển Arabia không thuộc chủ quyền riêng biệt của Saudi Arabia, cũng như Ấn Độ Dương không thuộc chủ quyền riêng biệt của Ấn Độ.

Tại Thái Bình Dương cũng vậy. Tại Biển Nhật Bản (Sea of Japan) các quốc gia duyên hải là Nhật Bản, Đại Hàn, Bắc Hàn và Công Hòa Nga nên không thuộc chủ quyền riêng biệt của Nhật Bản.

Nói tóm lại về mặt danh xưng, nếu Ấn Độ Dương không thuộc chủ quyền riêng biệt của Ấn Độ, Biển Nhật Bản không thuộc chủ quyền riêng biệt của Nhật Bản, thì Biển Nam Hoa hay Nam Hải (South China Sea) cũng không thuộc chủ quyền riêng biệt của Trung Quốc. Biển này tiếp giáp các quốc gia Đông Nam Á như Việt Nam, Tân Gia Ba, Nam Dương, Mã Lai, Brunei và Phi Luật Tân.

Theo Tự Điển Từ Hải xuất bản năm 1948 “Nam Hải thuộc chủ quyền lãnh thổ chung của 5 quốc gia là Trung Quốc, Việt Nam, Mã Lai, Phi Luật Tân và Đài Loan” (đúng ra là Nam Dương tại miền nhiệt đới). Khi các nhà thám hiểm hàng hải quốc tế đến vùng biển gần Ấn Độ, họ gọi đó là Ấn Độ Dương. Không phải để xác định chủ quyền hải phận của Ấn Độ, mà chỉ ghi nhận vị trí vùng biển này tiếp giáp Ấn Độ.

Tại Thái Bình Dương cũng vậy. Khi tầu vượt qua Eo Biển Malacca đến miền duyên hải Trung Quốc, muốn cho tiện, họ gọi đó là Biển Nam Hải (ngoại nhân xưng Nam Trung Quốc Hải). Mục đích chỉ để thông báo cho các thủy thủ biết vị trí vùng biển này tiếp giáp Trung Quốc.

Về mặt lịch sử, từ đời Tần Thủy Hoàng, Nam Hải là một quận của Trung Quốc thuộc tỉnh Quảng Đông, cách huyện Hải Phong 50 dặm về phía nam. Theo các học giả Trung Quốc, Nam Hải, trước kia mang tên Trường Hải, là “vùng biển kéo dài từ Eo Biển Đài Loan đến Quảng Đông” The Southern Sea stretches from the Taiwan Strait to Kwantung: A New Practical Chinese-English Dictionary, Hongkong 1971).

Năm 1982, sau khi ký Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, Trung Quốc phủ nhận Công Ước bằng cách vẽ lại bản đồ và đòi chủ quyền lãnh thổ toàn vùng Biển Đông Nam Á, bất chấp mọi phản kháng của các quốc gia duyên hải trong khu vực. Từ 1955, với Chính Sách Đại Hán do Mao Trạch Đông đề xướng, Bắc Kinh coi Biển Nam Hải là một thứ nội hải của họ theo kiểu Đế Quốc La Mã ngày xưa coi Địa Trung Hải là “Biển Của Chúng Tôi” (Mare Nostrum).

Ngày nay thuyết Biển Lịch Sử chỉ còn là một khẩu thuyết vô bằng. Bàn về yêu sách Lưỡi Rồng của Trung Quốc, các học giả tại Trung Tâm Hải Dương Đông Tây (Hawaii) phải kêu lên rằng: “Không có điều khoản hay ngyên tắc nào trong Công Pháp Quốc Tế cho phép Trung Quốc đòi như vậy!”.

Ngày 13-5-2009 Chính Phủ Bắc Kinh nạp phúc trình tại Ủy Ban Phân Ranh Thềm Lục Địa, không phải để yêu cầu được hưởng quy chế Thềm Lục Địa Mở Rộng 350 hải lý như 50 quốc gia duyên hải khác. Mà để đòi Liên Hiệp Quốc xác nhận chủ quyền hải phận của họ từ bờ biển Quảng Đông, qua các bờ biển Việt Nam, Nam Dương, Mã Lai, Brunei và Phi Luật Tân. Vùng hải phận này chiếm hơn 80% Biển Đông Nam Á, dài hơn 900 hải lý và rộng hơn 600 hải lý. Theo ngoa ngôn của Bắc Kinh, nó có một diện tích bao la bằng phân nửa toàn thể lục địa Trung Hoa.

Kết quả dễ thấy nhất là đơn thỉnh nguyện của Trung Quốc trước sau rồi cũng sẽ bị Ủy Ban Phân Ranh Thềm Lục Địa Liên Hiệp Quốc không cứu xét hay bác bỏ.

Việc Trung Quốc có thực sự muốn trở về với Nhân Loại Văn Minh hay không còn là vấn đề chúng ta phải cảnh giác theo dõi.

Có điều hiển nhiên là, ngày nay, Đế Quốc Đại Hán đang đi trên đường suy thoái.

Luật Sư Nguyễn Hữu Thống
Ủy Ban Luật Gia Việt Nam Bảo Vệ Dân Quyền
(Hạ tuần tháng 5-2009)


Hoa Thịnh Đốn: Cờ vàng tung bay trong ngày Chiến sĩ Trận Vong - Tuyết Mai


Tuyết Mai

Theo lời mời của Ban Tổ Chức The National Memorial Day Parade, thuộc Hội Cựu Chiến Binh HK, Liên Hội Cựu Chiến Sĩ VNCH vùng HTĐ và Phụ Cận đã tham dự cuộc Diễn Hành nhân dịp Lễ Chiền Sĩ Trận Vong , được tổ chức vào lúc 2 giờ chiều ngày 25 Tháng 5, 2009 trên Đại Lộ Constitution ở Washington, D.C.

Ở Hoa Thịnh Đốn, hằng năm, trong ngày Lễ Chiến sĩ Trận Vong, Tổng Thống HK trang trọng đặt vòng hoa ở Đài Tử Sĩ, Arlington National Cemetery và đọc diễn văn ca ngợi sự hy sinh cao quý của những chiến sĩ đã quên mình, hy sinh để bao vệ nền độc lập và sự tự do cho đất nước Hoa Kỳ. Bên cạnh việc đặt vòng hoa còn có hằng ngàn xe mô tô từ các tiểu bang về, biểu diễn trên các đường phố ở HTD. Ngoài ra cũng có hằng ngàn người đến viếng thăm Đài tưởng niệm World War II và Vietnam Veterans Memorial, được khánh thành năm 1982, nằm trong khu du lịch chính của HTĐ. Đây là nơi tưởng niệm những chiến sĩ trong Quân Lực HK đã hy sinh hay đã mất tích trong chiến tranh ở VN.

Mặc dầu diễn hành trong Ngày Chiến Sĩ Trận Vong là một truyền thống ở các thành phố nhỏ khắp nơi ở HK, nhưng tại HTĐ, là Thủ Đô và là Bộ Chỉ Huy của Quân Lực HK, trong 70 năm qua không có một cuộc diễn hành nào của quân đội để vinh danh các chiến sĩ đã hy sinh tính mạng của họ để bảo vệ nền độc lập và tự do của HK. Vì vậy năm 2005 Hội Cựu Chiến binh HK quyết định khơi phục lại ý nghĩa cao đẹp của ngày lễ này bằng cuộc Diễn hành Chiến Sĩ Trận Vong. Đây là lần thứ ba, cuộc diễn hành đã thu hút vài trăm ngàn người dọc theo Đại lộ Constitution từ đường số 7 đến đường Virginia.

Đây là một ngày truyền thống của HK, một ngày có ý nghĩa vô cùng, trong đó có chúng ta, ngưòi Việt Nam tham gia để bày tỏ lòng biết ơn sâu xa đối với những anh hùng vị quốc vong thân, nhờ có sự hy sinh cao quý của rất nhiều chiến sĩ mà chúng ta có được những ngày bình yên, tự do trên đất nước HK .

Đây là lần thứ ba Liên Hội Cựu Chiến Sĩ vùng HTĐ đã nhận lời mời của Hội Cựu Chiến Binh HK tham dự cuộc Diễn Hành. Trong cuộc diễn hành này có sự tham gia của nhiều quân binh chủng trong QLVNCH và các cộng đồng dân, cán chính VNCH.



Vì Vietnam bắt đầu bằng chữ V nên xếp hàng thứ 113 trong cuộc diễn hành. Đi đầu là những phụ nữ trong áo dài vàng (những Bà Mẹ VN) và áo dài xanh (Phụ Nữ Lâm Viên) cầm banner “Republic of Vietnam Veterans Associations Coalition” , kế đến là các quân nhân trong quân phục cầm cờ vàng VNCH đi giữa, bên trái là cờ HK và bên phải là quân kỳ VNCH. Kế đến là quân nhân các quân binh chủng trong QLVNCH gồm có Nhảy Dù, Hải Quân, các sĩ quan Võ Bị Thủ Đức …cầm cờ các quân đoàn và cờ các quân binh chủng. Nối tiếp đoàn diễn hành là các phu nhân của các sĩ quan Võ Bị Thủ Đức, đồng phục áo dài xanh dương, khăn vành màu xanh rất đẹp, cầm lá đại kỳ VNCH trải rộng theo bề nằm, theo sau là các quân nhân thuộc Lực Lượng Trừ Bị Tình Nguyện.


BTC cho biết Liên Hội Cựu Chiến Sĩ VNCH /HTĐ và Phụ cận nhận lời mời tham dự cuộc diễn hành này vì đây là dịp để chúng ta nêu cao lá cờ vàng ba sọc đỏ dưới bầu trời tự do, trước hằng trăm ngàn du khách và dân chúng ở HTĐ. Đây là cơ hội để đồng bào, đồng đội trong QLVNCH thấy lại hình ảnh của chiến sĩ VNCH năm xưa, dù tuổi đời chồng chất, nay vẫn còn đây, nhất là chúng ta cho CS thấy dù ở chân trời góc bể nào, nơi nào có dấu chân của người Việt Quốc Gia thì cờ vàng ba sọc đỏ thân yêu vẫn tung bay nơi đó. Nhất là trong giai đoạn này, phô trương màu cờ vàng là điều hết sức quan trọng, nếu chúng ta không quan tâm và tiếp tục việc làm có ý nghĩa này thì trong tương lai, một ngày không xa CSVN sẽ mang lá cờ đỏ sao vàng diễn hành trên đường phố HTĐ.

Tưởng cũng nên nhắc lại ý nghĩa Ngày Chiến Sĩ Trận Vong, nguyên thủy là ngày 30 Tháng 5, được công nhận từ năm 1911. Đây là ngày lễ quốc gia, trước đây được biết đến là “Decoration Day” để tưởng nhớ những chiến sĩ thuộc “Union” đã hy sinh trong cuộc nội chiến (American Civil War). Nhưng sau Thế Chiến Thứ Nhất thì ý nghĩa ngày lễ này được nới rộng, tưởng niệm những chiến sĩ hy sinh trong bất cứ chiến tranh nào hay trong lúc phục vụ trong quân đội. Sau đó, đến năm 1971, ngày lễ này đuợc dời lại ngày Thứ Hai cuối cùng của Tháng Năm để dân chúng có một dịp lễ dài ba ngày cuối tuần. Sự dời đổi này đả làm mất đi phần nào ý nghĩa cao đẹp của ngày lễ.


Theo tài liệu thì đến Tháng năm 2009 có trên bảy chiến sĩ người Mỹ gốc Việt đã hy sinh ở chiền trường Iraq. Trong lúc chúng ta đựơc bình yên, êm ấm dưới mái gia đình thì có biết bao nhiêu chiến sĩ đang chịu gian khổ, ngày đêm giáp mặt với tử thần, từ sự sống bước qua cõi chết chỉ trong gang tấc, trong phút giây. Những chiến sĩ là những anh hùng, sẳn sàng hy sinh mạng sống của mình cho sự tự do và sự binh yên của đồng bào ở hậu phuơng.

Bên cạnh những chiến sĩ còn có biết bao nhiều thương phế binh bị tàn phế, hay đã vịnh viễn ra đi. Tất cả đã hy sinh để bảo vệ nền độc lập và tự do của HK, nhờ đó mà chúng ta có được những ngày bình yên hôm nay. Chúng ta nên dành một ngày trong năm để tưởng nhớ, để tỏ lòng biết ơn sâu xa đến sự hy sinh vô cùng to lớn của những chiền sĩ đã đền nợ nước trong ngày “Chiến sĩ trận vong”.

Tuyết Mai

Nguồn: http://vietvungvinh.com/Portal.asp?goto=VietNam/2009/20090526_03.htm

Tuesday, May 26, 2009

Đại Hội Bất Thường CĐNVTD-VIC

CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT TỰ DO
TIỂU BANG VICTORIA
PO Box 2115 Footscray VIC 3011

*
* *

Vào lúc 2 giờ chiều ngày thứ Bảy 23 tháng 5 năm 2009, Đại Hội Bất Thường của Cộng Đồng Người Việt Tự Do tiểu bang Victoria đã diễn ra tại văn phòng Cộng Đồng vùng Footscray. Sau nghi thức chào cờ và mặc niệm, ông Nguyễn Thế Phong, Chủ Tịch Cộng Đồng đã lược qua chương trình và tuyên bố lý do tổ chức Đại Hội Bất Thường.

Chương trình nghị sự gồm có các điểm chính như sau:

  1. Đề cử và thành lập chủ tọa đoàn của Đại Hội.
  2. Biểu quyết về vai trò và tư cách của các ông Vương Thiên Vũ (Chủ tịch HDTVGS) và Võ Việt Hào (Thư Ký HDTVGS).
  3. Phần trình bày và trả lời thắc mắc của ông Võ Ngọc Anh (tự Võ Long Ẩn) thuộc Hội Thiện Chí Tỵ Nạn về những bằng chứng liên quan đến cuộc biểu tình chống CSVN tại Crown Casino ngày 16/02/2009.
  4. Ông Nguyễn Thế Phong trình bày về những yêu cầu bổ túc và tu chính Nội Quy CĐ mà Bộ Tiêu Thụ Sự Vụ tiểu bang Victoria (Consummer Affairs of Victoria) đã yêu cầu và lấy biểu quyết của đại hội.
  5. Ban Chấp Hành tường trình về đơn thưa kiện Chủ Tịch CDNVTD-VIC của ông Võ Ngọc Anh (Hội Thiện Chí Tỵ Nạn) tại tòa County Court Victoria với tội danh mạ lỵ và đòi bồi thường.

Về các cơ quan truyền thông, chúng tôi ghi nhận sự có mặt của cô Phượng Hoàng – Đài phát thanh SBS, cô Thiên Thư – Đài Viễn Xứ, anh Nguyễn Long đài Sóng Nhạc 88.9FM. Đặc biệt cần nhấn mạnh là sự có mặt rất đông của quý bà, quý cô. Điều này cho thấy rằng con cháu Bà Trưng, Bà Triệu không những chỉ đảm đang việc nhà mà việc nước, việc Cộng Đồng cũng rất hăng say tham dự.

Chiếu theo nội quy của Cộng Đồng NVTD- Vic, sau khi nhận được thư yêu cầu của 12 Hội Đoàn, Đoàn Thể, Ban Chấp Hành Cộng Đồng đã triệu tập Đại Hội Bất Thường để giải quyết các vấn đề nêu trên. Đây là dịp để cho các ông ông Vương Thiên Vũ, Võ Việt Hào và Võ Ngọc Anh (tự Võ Long Ẩn) có cơ hội trình bày quan điểm cũng như giải thích về những việc làm của các ông một cách minh bạch trước mặt đồng hương và đại diện các Hội Đoàn, Đoàn Thể trong tinh thần dân chủ, nhưng rât tiếc là các ông đã không có mặt(!?)

Để cho buổi họp diễn ra trong tinh thần dân chủ và khách quan, một chủ tọa đoàn đã được đề cử và thành lập gồm có các ông: Lê Đình, Anh –Hội Cựu Sinh Viên VN Úc Châu, Nguyễn Việt Long – Hội Cựu Quân Nhân, Nguyễn Quốc Thịnh – Đảng Việt Tân và Lê Trung Bộ - Hội Cao Niên.

Trước khi biểu quyết về việc làm và hành vi của hai ông Vương Thiên Vũ và Võ Việt Hào, chủ tọa đoàn đã lắng nghe ý kiến của những người tham dự thẳng thắn trình bày. (Xin nghe phần âm thanh)

Kết quả của cuộc biểu quyết là 72 phiếu bất tín nhiệm hai ông Vương Thiên Vũ (Chủ Tịch HDTVGS) và Võ Việt Hào (Thư Ký HDTVGS), và một phiếu bất tín nhiệm nhưng không ghi đúng theo điều lệ cho nên bị xem là bất hợp lệ, trên tổng số 73 phiếu bầu trực tiếp và kín. Vì thời gian buổi họp kéo dài quá lâu cho nên 15 người đã ra về trước khi việc bỏ phiếu bắt đầu.

Buổi họp dự định chỉ kéo dài khoảng 2 giờ đồng hồ, nhưng vì đồng bào một lòng dứt khoát giải quyết vấn đề cho nhanh gọn nên đã kéo dài đến gần 4 giờ; mặc dầu trời đã nhá nhem tối mà phòng họp lại không có đủ ánh sáng. Vì tinh thần hăng say đó cho nên ngay cả lúc Chủ Toạ Đoàn tuyên bố chấm dứt buổi họp mà đồng bào vẫn còn bàn cãi, thảo luận sôi nổi không chịu ra về.

Chúng ta thường nghe câu "Một tấm hình có giá trị bằng ngàn lời nói" nhưng thực sự có những lúc lời nói có cái giá trị không thể phủ nhận được. Vậy kính xin quý vị nghe những lời nói của đồng bào qua một số sound clips dưới đây.

Melbourne, ngày 23 tháng 5 năm 2009

---o0o---

Thâu thanh và một vài hình ảnh
http://www.lyhuong.info/net/amthanh/tt/HopMelbourne_23-05-09.mp3


Chào Quốc Kỳ & Mặc Niệm




Giải thích về lý do buổi họp Đại Hội Bất Thường




Đọc một số điêu lệ trong bản nội quy


Chủ tọa đoàn (4 người đếm từ phải sang trái)


Đồng bào đóng góp ý kiến


















Giơ tay biểu quyết


Ghi vào phiếu (Bất Tín nhiệm hoặc Tín nhiệm)




Thâu nhận phiếu






Tuyên bố kết quả





Nguồn: http://lyhuong.net/viet/index.php?option=com_content&view=article&id=1047:1047&catid=39:sinhhoatcongdong&Itemid=58

Monday, May 25, 2009

Cái đuôi chồn Nam Nhân - Cao Chính Kiến

Cao Chính Kiến

Trước việc CSVN càng ngày càng lún sâu vào vũng lầy nhượng đất dâng biển của tổ quốc cho TC để được TQ bảo hộ cho quyền lực; và nhất là mới đây Hà Nội lại sắp đặt cho TC được đặc quyền khai thác quặng nhôm ở Tây Nguyên, ảnh hưởng nghiêm trọng đến vấn đề an ninh, an sinh và môi trường, Hoà Thượng Thích Quảng Ðộ đã lên tiếng báo động trước quốc dân về mối đại nguy cơ này, cũng như hô hào dân chúng bày tỏ thái độ, dưới cái nhìn của môt nhà tu, bằng lời kêu gọi Bất tuân dân sự, công bố ngày 29/3/2009. Liền ngay sau đó, truyền thông VC mở một chiến dịch bịa đặt, xuyên tạc những việc làm này của Hoà Thượng Thích Quảng Ðộ để mong đánh gục uy tín và tầm ảnh hưởng của Ngài đối với quốc dân và dư luận thế giớị Ðồng thời, trên mạng lưới điện tử toàn cầu cũng xuất hiện một số bài bản rập khuôn cung cách của Hà Nội, dưới vỏ bọc chống cộng quyết liệt, để tiếp tay VC đánh phá Hoà Thượng Thích Quảng Ðộ. Những bài bản này có cùng một thứ "văn hoá" chợ cá cầu-ông-lã nh và trần-quố c-toản.

Một trong các bài loại này ký tên Nam Nhân, tự xưng là "quân nhân VNCH", liên quan không những tới Hoà Thượng Thích Quảng Ðộ, mà còn tới cả ông Bác sĩ Trần Xuân Ninh nữạ Cách sử dụng ngôn ngữ trong bài của Nam Nhân vượt qua thứ "văn hoá" của đầu đường xó chợ, còn kiến thức của Nam Nhân thì hơn hẳn kiến thức của một nữ giảng sư đại học Sư phạm Thái Bình khi giải thích "Tự Lực Văn Ðoàn là một gánh hát cải lương" và trội xa kiến thức một viên phó hiệu trưởng trường trung học ở Bắc Ninh, khi dạy thế dùm một giáo viên về giờ địa lý, ông đã sang sảng giảng "ở Việt Nam có nhiều mỏ KHOAI LANG" (nguyên là chữ mỏ kim loại trong tờ giáo án, người giáo viên đã viết tắt là K.L, nhưng viên hiệu phó này đã không hiểu mà đọc là mỏ khoai lang).

Bài viết của Nam Nhân với tựa đề "ông thiện Võ Nguyên Giáp của Bác sĩ Trần Xuân Ninh", gồm hai phần: phần thứ nhất "đánh" Hoà Thượng Thích Quảng Ðộ, phần thứ nhì "đập" ông Bác sĩ Trần Xuân Ninh. Những nội dung đánh phá, xuyên tạc về Hoà Thượng Thích Quảng Ðộ đã được phản biện nhiều, miễn bàn tiếp tục. Ði thẳng vào phần thứ hai của bài viết của Nam Nhân.

Qua phần thứ hai này, khi viết rằng bài của ông Bác sĩ Trần Xuân Ninh đề cao Võ Nguyên Giáp, nói Giáp là ông thiện, Nam Nhân hoặc đã tự chứng tỏ là người chỉ biết đọc được chữ, nhưng lại hoàn toàn mù nghĩa, hoặc cố tình xuyên tạc bẻ cong lời viết của ông Ninh để có lý cớ đặt ra những câu hỏi nhằm đánh lừa những độc giả chưa có dịp đọc bài của ông Ninh viết về Võ Nguyên Giáp.

Ông Ninh đã viết nguyên văn là: "nói Giáp ÐÓNG vai ông thiện là bởi vì có sự bàn bạc sắp đặt của Hồ Chí Minh và nhóm đệ tử thân nhất gồm Phạm Va (n Ðồng, Trường Chinh và Võ Nguyên Giáp".

Trong cả mấy bài viết về Võ Nguyên Giáp của ông Bác sĩ Trần Xuân Ninh đăng trên trang điện tử tamthucviet.com, người đọc không thấy chỗ nào ông Bác sĩ Ninh khẳng định Võ Nguyên Giáp là ông thiện cầ

Ai có đầu óc bình thường thì cũng phải hiểu rằng "Ðóng vai ông thiện" không đồng nghĩa với "ông thiện", mà còn ngược lại. Trong bài, ông Ninh đã chỉ viết: "Võ Nguyên Giáp như đã nói, đã đóng vai ông thiện trong quân đội...", "nói đóng vai ông thiện là bởi vi`..." và "Giáp được chọn đóng vai ông thiện ..."

Ông Bác sĩ Trần Xuân Ninh đã dùng những dữ kiện lịch sử để đập tan huyền thoại về Võ Nguyên Giáp mà CSVN và tay chân đang thổi phồng lên, (cũng như đám thời cơ hí hửng dây máu ăn phần), với dụng ý biến Giáp thành một cái biểu tượng ái quốc yêu dân để chúng núp sau đó mà biến thái từ độc tài cộng sản tam vô thành độc tài tài phiệt nhằm duy trì quyền lực. Cái gian của Nam Nhân là ở chỗ đó. Và cái dở của Nam Nhân cũng là ở chỗ tự xưng "quân nhân VNCH , để che cái gian, nhưng khổ nỗi là quân nhân VNCH không có người nào ngu như vậy.

Ðọc bài viết của Nam Nhân về Ðại lão Hoà Thượng Thích Quảng Ðộ, người ta không khỏi nghĩ tới những bài của Trần Thanh, những Trương Minh Hoà, những Trần Lệ Tuyền, Tuấn Phan v.v... vì cùng một kiểu lý luận, cùng một loại ngôn từ. Và tự hỏi phải chăng chỉ là nhiều tên ký của cùng một ngòi bút? Hay là của một nhóm văn nô của cộng sản biến thái?. Hay là một ban tuyên vận của một vài đảng chính trị thời cơ.

Hỏi thế thì hỏi, nhưng cũng không cần trả lời, hay tìm hiểu cho mất công, vì rằng những lời nói xàm không thể nào có tác dụng gì lên quần chúng hải ngoại ngày nay đã trưởng thành trong nhận thức chính trị, nhờ sống trong môi trường tự do dân chủ. Do đó có cái thích thú mà nhìn ra những con chồn lùi, quanh quẩn lấm lét để tìm cách dấu cái đuôi.

Cao Chính Kiến