Wednesday, May 20, 2009

Sau 62 Năm MỞ LẠI VỤ ÁN PHẠM QUỲNH



1. Sau 62 Năm MỞ LẠI VỤ ÁN PHẠM QUỲNH

Không có Công lý, khi kẻ giết một người thì bị trừng phạt, có khi phải đền mạng, còn kẻ giết hàng triệu người lại được đúc tượng, xây lăng, ướp xác.

Theo lời một số nhân chứng và thân nhân ông Phạm Quỳnh, ông đã bị lực lượng vũ trang Việt Minh bắt giữ ngày 23/8/1945 tại Huế và bị giết chết ngày 6/9/1945 tại khu rừng Hắc Thú thuộc tỉnh Quảng Trị, nằm về phía bắc thành phố Huế.

Ông đã bị đập vỡ sọ bằng cuốc và vùi thây dưới một giao thông hào cùng với hai nạn nhân khác là Ngô Đình Khôi, anh cố Tổng thống VNCH Ngô Đình Diệm, và người con trai Ngô Đình Huân.

Mười một năm sau, 1956, do sự chỉ dẫn của một nhân chứng, thân nhân của các nạn nhân mới tìm được nơi chôn xác và cải táng. Theo thân nhân ông Phạm Quỳnh, di cốt của ông đã không còn nguyên vẹn và chỉ được xác nhận nhờ cặp kính cận thị, vật bất ly thân của ông.

Nhưng, Phạm Quỳnh là ai ?


Có thể nói rằng không người Việt Nam có văn hóa nào không biết Phạm Quỳnh, hay không nghe tên ông. Vì học giả Phạm Quỳnh là ngôi Sao Bắc Đẩu của văn hóa Việt Nam tiền bán Thế kỷ 20. Vì nhà báo Phạm Quỳnh là người đã khai đường mở lối cho nền báo chí Việt Nam. Vì nhà cai trị Phạm Quỳnh trong phẩm trật Thượng Thư triều đình Huế là người có lòng yêu nước, có tầm nhìn xa và có đầu óc cách mạng. Viết về sự nghiệp của ông cần nhiều pho sách, và không phải là mục đích của bài viết này, xin hẹn để một dịp khác.

Mục đích của bài viết này là đi tìm thủ phạm đã giết Phạm Quỳnh, những chính phạm đã gây ra tội ác này - không chỉ với bản thân Phạm Quỳnh mà còn với dân tộc Việt Nam, và với nhân loại.

Thật vậy, trong tội ác này các thủ phạm không chỉ giết Phạm Quỳnh mà còn hủy diệt một tinh hoa của đất nước Việt Nam, và loại trừ một thành viên ưu tú trong cộng đồng nhân loại.

Trong vụ án này có chính phạm và những tòng phạm, hay nói cách khác, kẻ ra lệnh và người thi hành. Ngày nay, mọi người đều biết lực lượng vũ trang của Việt Minh tại Huế vào năm 1945 đã bắt và giết Phạm Quỳnh. Nhưng, ai là kẻ ra lệnh?

Việt Minh lúc ấy là tên tổ chức kháng chiến chống Pháp dưới quyền chỉ huy và điều khiển của Đảng Cộng sản Việt Nam do Hồ Chí Minh lãnh đạo. Những người theo Việt Minh lúc đầu hầu hết là những người yêu nước đã đáp lời kêu gọi của Hồ Chí Minh để tham gia kháng chiến, đánh đuổi thực dân Pháp, giành lại độc lập cho Việt Nam. Không mấy ai biết “kháng chiến, chống Pháp” chỉ là một chiêu bài được Đảng CSVN dùng để cướp chính quyền, cai trị toàn lãnh thổ Việt Nam dưới thể chế độc tài cộng sản. Vì vậy, CSVN đã thẳng tay diệt trừ những cá nhân và những thành phần có thể là chướng ngại vật trên đường tiến tới quyền lực và củng cố quyền lực của họ, trong đó có những người ở ngoài và cả ở trong hàng ngũ kháng chiến.

Đó là lý do vì sao Phạm Quỳnh bị giết.

Phạm Quỳnh không phải là người xa lạ với Hồ Chí Minh. Ngoài việc ông là một nhân vật rất nổi tiếng thời bấy giờ, về văn hóa cũng như chính trị, Phạm Quỳnh đã có những giao tiếp cá nhân với Hồ Chí Minh từ thời Pháp thuộc khi phong trào giành độc lập đang nhen nhúm trong giới được gọi là “sĩ phu” thời ấy. Trong cuốn nhật ký do chính tay Phạm Quỳnh ghi chép vào thời gian ông sang Pháp năm 1922, ông có ghi vắn tắt gặp Hồ Chí Minh (lúc đó còn mang bí danh Nguyễn Ái Quốc) hai lần, một lần vào ngày 13/7/1922: “ăn cơm an-nam với Phan Văn Trường và Nguyễn Ái Quốc ở nhà Trường”, một lần vào ngày 16/7/1922: "ở nhà.- Trường, Ái Quốc và Chuyền đến chơi". (Chuyền là Nguyễn Thế Truyền). (Xem phóng ảnh đính kèm do người viết chụp từ nguyên bản Nhật ký hiện do Nhạc sĩ Phạm Tuyên, con trai út của ông lưu giữ).

Trong nhật ký, ông chỉ ghi vắn tắt, không nói rõ chi tiết hay nội dung những câu chuyện trao đổi, có thể vì không muốn là bằng cớ để tự buộc tội mình một khi lọt vào tay mật thám Pháp, nhưng chắc chắn không phải những người này gặp nhau chỉ để đánh chén hay nói chuyện trời mưa trời nắng. Sau này, trong thiên “Hành trình Nhật ký”, ông ghi rõ thêm là có “nói chuyện nước nhà” với “mấy ông chí sĩ”. Qua những câu chuyện ấy, Hồ Chí Minh đã biết tư tưởng và quan điểm chính trị của những người đối thoại, trong đó có Phạm Quỳnh.

Hai mươi mốt năm sau, tình hình Việt Nam chuyển động mạnh do ảnh hưởng của trận Thế Chiến II ở vào giai đoạn chót mà Quân Phiệt Nhật đang làm bá chủ miền Đông Á, trong đó có Việt Nam, hất cẳng Pháp khỏi thuộc địa Đông Dương, nhưng chính Nhật cũng đang trên đường bại trận.

Các đảng phái chính trị, những người Việt Nam yêu nước đều rộn rịp hoạt động để chuẩn bị nắm thời cơ. Khi ấy, Phạm Quỳnh đang là Thượng thư Bộ Lại, một chức chưởng tại triều đình Huế thời ấy có thể xem như thủ tướng, đã có cái nhìn chính xác và thực tế về tương lai nước Việt Nam. Theo nhân chứng Hoàng Tâm V.T., lúc ấy là Tri phủ Quận Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi, trong một lần đi kinh lý các tỉnh miền Trung, ngày 22/1/1945, Thượng thư Bộ Lại Phạm Quỳnh đã nói với ông trong phòng riêng như sau: “Này ông phủ, chiến tranh ở Âu Châu đã đến độ chấm dứt và ở Thái Bình Dương chiến tranh cũng đã vào thời kỳ kết thúc. Đây là vận hội tốt cho rất nhiều nước bị trị được trả tự do. Nhưng ta không nên nghĩ rằng tự do ấy sẽ được hiến dâng cho ta trên khay bạc, mâm vàng. Ta phải tranh đấu nhiều, ông hiểu tôi muốn nói tranh đấu nhiều là sao rồi, đó là tranh đấu quyết liệt và toàn diện ...”

Tuy nói vậy, Phạm Quỳnh chỉ làm nhiệm vụ của một nhà cai trị của triều đình Huế dưới quyền Vua Bảo Đại. Không có tài liệu hay nhân chứng nào cho thấy ông có những hoạt động liên hệ đến một đảng phái hay phe nhóm nào.

Những tháng đầu năm 1945 tình hình Việt Nam có những biến chuyển lớn khi Nhật đảo chính Pháp, lật đổ chế độ thuộc địa ở Đông Dương ngày 9/3/1945 và tuyên bố trả độc lập cho ba nước Việt, Miên, Lào trên bán đảo này để gia nhập khối Đại Đông Á do Nhật đứng đầu.

Theo hồi ký “Con Rồng Việt Nam” của Bảo Đại, ngày 11/3/1945 Vua Bảo Đại và Thượng thư Bộ Lại Phạm Quỳnh đã cùng toàn thể thượng thư nội các Nam triều ký vào bản “Tuyên ngôn độc lập” do Phạm Quỳnh soạn thảo, hủy bỏ tất cả các hiệp ước Pháp-Việt trước đó. Một tuần sau, ngày 19/3, nội các Nam triều từ chức. Vua Bảo Đại giao cho Học giả Trần Trọng Kim lập chính phủ Việt Nam độc lập đầu tiên để hợp tác với Nhật sau khi tham khảo ý kiến nhiều người. Phạm Quỳnh không giữ chức vụ gì trong nội các mới và trở về ở tại tư thất Hoa Đường nằm trên bờ sông An Cựu, Huế. Chính tại ngôi biệt thự này, ông đã bị Việt Minh bắt và đưa đi thủ tiêu.

Trước đó, Đảng CSVN do Hồ Chí Minh đứng đầu núp dưới tên Mặt Trận Việt Minh đã lợi dụng khoảng trống quyền lực sau khi Nhật đầu hàng (14/ 8) và chính phủ Trần Trọng Kim tê liệt, cướp chính quyền tại Hà Nội ngày 19/8/1945, và đòi Vua Bảo Đại thoái vị. Tuy đã đầu hàng nhưng quân đội Nhật tại Việt Nam chưa bị giải giới, còn nguyên sức mạnh và có thể dẹp tan cuộc đảo chính của Việt Minh với lực lượng vũ trang thô sơ, nhưng Vua Bảo Đại đã không chấp nhận đề nghị của viên đại sứ Nhật tại Huế vì sợ gây nội chiến. Do đó, nội các Trần Trọng Kim tuyên bố giải tán sau khi họp phiên cuối cùng ngày 23/8/1945. Hai ngày sau, 25/8, Vua Bảo Đại ra chiếu thoái vị và ngày 30/8 trao quốc ấn và bảo kiếm cho phái đoàn đại diện Việt Minh do Trần Huy Liệu cầm đầu tại cửa Ngọ Môn, và tuyên bố: “Thà làm dân một nước độc lập còn hơn làm vua một nước nô lệ.”

Câu nói hay đẹp ấy không biết ai mớm cho nhà vua thiếu trách nhiệm với đất nước đã hợp pháp hóa chính quyền Việt Minh do cộng sản cầm đầu chẳng khác nào “giao trứng cho ác”, trong lúc những người quốc gia yêu nước bị ruồng bố và tàn sát. Trong đó có Phạm Quỳnh, cựu Thượng thư Bộ Lại của triều đình Bảo Đại.

Dựa theo những nguồn tin xác thực, nhà viết sử Trần Gia Phụng thuật lại như sau trong bài “Trường hợp Phạm Quỳnh”: “Trong khi đó, lấy cớ tìm kiếm vũ khí còn tàng trữ tại nhà các vị có chức quyền trước đây, Việt Minh cho người lục soát biệt thự ‘Hoa Đường’ ngày 23-8-1945. Tuy không tìm được gì, họ vẫn ‘mời’ Phạm Quỳnh và người con rể là Nguyễn Tiến Lãng đi ‘họp’ với Ủy ban cách mạng Trung Bộ đóng ở tòa Khâm sứ Pháp cũ. Đây là thủ thuật bắt người của chính quyền cộng sản rất mới lạ lúc đó, và rất quen thuộc với người Việt Nam sau này. Có lẽ cần chú ý việc Phạm Quỳnh về trí sĩ mà không phòng thân, hoặc không lo tìm đường mà trốn tránh, ngay cả sau khi Việt Minh đảo chánh, chứng tỏ bản thân Phạm Quỳnh nghĩ rằng ông chẳng phải là tay sai của Pháp để phản dân hại nước, và ông cũng chẳng theo một đảng phái chính trị nào, nên chi có gì phải sợ đề phòng. Nếu quả thật ông là tay sai của Pháp thì ông đã cao bay xa chạy, và Việt Minh không dễ bắt được ông như vậy.

“Nguyễn Tiến Lãng bị giam riêng, không cùng chỗ với nhạc gia. Ông Lãng và gia đình không biết tin tức gì của Phạm Quỳnh, cho đến những ngày Việt Minh sửa soạn đưa ông Lãng ra tòa, nhóm họp tại Điện Thái Hòa vào khoảng đầu năm 1946, thì báo chí Việt Minh công bố rằng ông Phạm Quỳnh, cùng ông Ngô Đình Khôi và con trai trưởng đang làm thông ngôn cho Nhật là Ngô Đình Huân, đã bị xử tử hình, nhưng không cho biết ngày giờ các ông bị giết, cũng như đã chôn các ông ở đâu. Về sau, gia đình mới được biết Phạm Quỳnh đã bị giết ngày 6-9-1945 tại vùng cách Huế khoảng 20 cây số. Có lẽ cần ghi nhận thêm lúc bấy giờ, chủ tịch Ủy ban khởi nghĩa của phong trào Việt Minh ở Huế là Tố Hữu.”

Tiếp xúc với người viết tại nhà ông ngày 18/7/2007, ông Phạm Tuân xác nhận những điều trên đây và nhấn mạnh di cốt của thân phụ ông không còn đầy đủ, sọ bị nứt một đường dài, và chỉ nhận ra được do cặp kính cận gãy gọng.

Trong cuốn “Hồi ký người lính già”, Đại tá (CSVN) Đặng Văn Việt có nói đến việc ông Phạm Quỳnh đã bị bắt và giết như thế nào, nhưng cũng chỉ nói một nửa sự thật, phần sự thật được cho phép nói.

Nhưng “tòa” nào đã xử và kết tội ông Phạm Quỳnh? Những ai ngồi xử và diễn ra tại đâu? Ngày nào? Hay, ai đã ra lệnh giết Phạm Quỳnh?

Ông Trần Gia Phụng lưu ý người đọc: “Phạm Quỳnh bị bắt ngày 23-8-1945, và bị giết ngày 6-9, nghĩa là ông không bi nhóm Việt Minh địa phương Huế giết liền khi họ nổi dậy. Ông bị giam giữ một thời gian rồi mới bị giết sau khi nhóm Trần Huy Liệu đến Huế dự lễ thoái vị của Vua Bảo Đại. Khi có sự hiện diện của đại diện trung ương, các cán bộ Việt Minh địa phương không dám tự tiện ra tay, mà chắc chắn phải có ý kiến của trung ương. Nhóm Trần Huy Liệu cũng không thể tự quyết định được việc này. Như vậy phải chăng chính nhóm Trần Huy Liệu đã đem lệnh từ Hà Nội vào Huế giết Phạm Quỳnh? Và lệnh đó từ đâu, nếu không phải là từ Hồ Chí Minh?”

Theo hồi ký viết năm 1992 của bà Phạm Thị Thức, người con gái của Phạm Quỳnh, sau khi Phạm Quỳnh bị giết, bà cùng người chị là Phạm Thị Giá đã ra Hà Nội gặp Hồ Chí Minh qua sự giúp đỡ của người cận vệ của ông ta là ông Vũ Đình Huỳnh. Bà Thức cho biết Hồ Chí Minh chối, không nhận đã ra lệnh giết Phạm Quỳnh và đổ tội cho cán bộ địa phương. Họ Hồ bảo: “Hồi ấy tôi chưa về... Và trong thời kỳ khởi nghĩa quá độ và có thể có nhiều sai sót đáng tiếc.”

Sự thật ra sao?

Nếu ngày 6/9/1945 Hồ Chí Minh “chưa về” thì ai đọc “tuyên ngôn độc lập” tại Hà Nội ngày 2/9/1945? Ai ra lệnh cho bộ máy tuyên truyền của nhà nước cộng sản trong nhiều năm trời sau đó vu cáo Phạm Quỳnh là “Việt gian”, tay sai thực dân Pháp, và bôi xóa tên Phạm Quỳnh trong văn học sử Việt Nam?

Nếu Phạm Quỳnh chỉ là nạn nhân của “nhiều sai sót đáng tiếc” thì Tố Hữu, kẻ nắm chức chủ tịch Ủy ban khởi nghĩa của Việt Minh ở Huế lúc giết Phạm Quỳnh không thể thăng tiến đều đều trên nấc thang đảng CSVN để sau này lên đến phó thủ tướng.

Vì vậy, câu trả lời của Hồ Chí Minh chỉ là một lời nói dối sống sượng. Nó còn cho thấy thái độ coi mạng người như cỏ rác của kẻ cầm đầu Đảng CSVN, xem việc giết người chỉ là “sai sót đáng tiếc”, rồi thôi, không điều tra, không trừng phạt kẻ có tội, không phục hồi danh dự và bồi thường cho nạn nhân. Không khác nào chuyện bắt của dân con gà, con vịt.

Thật ra, Phạm Quỳnh không phải là nạn nhân của “nhiều sai sót đáng tiếc ... trong thời kỳ khởi nghĩa quá độ”. Ông đã là một trong hơn một triệu nạn nhân của chính sách tàn bạo được hoạch định từ cấp cao nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong bản danh sách đen ấy, có lẽ Phạm Quỳnh đã được xếp hạng “ưu tiên” vì những lý do đặc biệt.

Mặc dù không có hành động nào chống lại Việt Minh lúc ấy, Phạm Quỳnh được coi là mối nguy cho chính quyền non yếu của Hồ Chí Minh trong giai đoạn sơ khai vì ông đang là người có uy tín rất lớn với mọi giới trong xã hội Việt Nam, lại có tài năng lãnh đạo và cai trị mà Hồ Chí Minh biết rõ điều ấy do thành tích của ông và qua sự giao tiếp cá nhân như đã nói ở phần trên. Và điều quan trọng hơn cả, cũng qua giao tiếp cá nhân, Hồ Chí Minh biết rõ Phạm Quỳnh không chấp nhận chủ nghĩa cộng sản và không thể khuyến dụ.

Khi bị giết, Phạm Quỳnh mới 53 tuổi - cái tuổi chín mùi của tài năng, sung mãn sinh lực và già dặn kinh nghiệm.

Đó là lý do vì sao Hồ Chí Minh không giết Vua Bảo Đại mà lại giết cựu Thượng thư Phạm Quỳnh. Trong cuộc “cách mạng tháng mười” năm 1917 tại Nga, bọn cộng sản Bôn-sê-vích, đàn anh và đồng chí của Hồ Chí Minh, không chỉ giết Sa Hoàng Nicolai II mà còn tàn sát cả gia tộc vua, giết luôn cả tôi tớ của hoàng gia. Dưới mắt Hồ Chí Minh, Bảo Đại là một kẻ vô hại, dù đang làm vua nhưng chỉ ngồi làm vì trên ngai vàng, không có tài năng gì và chỉ thích ăn chơi, nhu nhược, không thể lãnh đạo một lực lượng đối nghịch nào chống lại cộng sản. Nhưng, Phạm Quỳnh thì có thể bất cứ lúc nào trở thành một kẻ thù nguy hiểm. Hồ Chí Minh đã nhận xét không sai về Vua Bảo Đại. Sau khi thoái vị, trao quyền cho Hồ Chí Minh, công dân Vĩnh Thụy vui vẻ nhận chức “cố vấn tối cao” và đi Hong Kong nghỉ mát.

Với Phạm Quỳnh, Hồ Chí Minh còn có một lý do thầm kín khác để cần phải trừ khử. Hồ Chí Minh tự biết thua kém Phạm Quỳnh về mọi mặt, và ngược lại, Phạm Quỳnh cũng biết rõ quá khứ u ám của Hồ Chí Minh, kẻ tự nhận là Nguyễn Ái Quốc. Hồ Chí Minh cùng lứa tuổi với Phạm Quỳnh, khi gặp nhau tại Pháp năm 1922 cả hai cùng khoảng 30. Khi ấy, Phạm Quỳnh đã là một học giả lẫy lừng, một nhà báo nổi tiếng, “hoạn lộ” thênh thang, sang Pháp cùng với Vua Khải Định dự Hội chợ Marseille, và được mời diễn thuyết tại Trường Thuộc địa Paris (École Coloniale) - chính cái trường mà năm 1911, Hồ Chí Minh dưới tên Nguyễn Tất Thành đã viết đơn cho tổng thống Pháp xin đặc ân theo học nhưng bị từ chối (trong đơn này, HCM khai là sinh năm 1892, cùng năm sinh với Phạm Quỳnh). Cho tới lúc gặp Phạm Quỳnh, Hồ Chí Minh không có nghề nghiệp ổn định, không có tên tuổi nhất định, lý lịch mù mờ, và đã gia nhập Đảng Cộng sản Pháp được vài năm, hoàn toàn vô danh trong xã hội Việt Nam.

Là một cán bộ cộng sản, Hồ Chí Minh không thể không biết tài năng và lập trường chính trị của Phạm Quỳnh, nhất là sau mấy lần gặp gỡ ở Paris. Vì vậy, khi cướp được chính quyền năm 1945, Hồ Chí Minh đã ra tay trừ khử Phạm Quỳnh.

Phạm Quỳnh cũng không phải “chỉ là nạn nhân của một chế độ buổi giao thời hỗn loạn” như có người nói. Ông đã là nạn nhân tất yếu của chính sách đẫm máu của người cộng sản được thi hành một cách có kế hoạch, có hệ thống.

Phạm Quỳnh và những nạn nhân khác đã chết vì đứng ở thế đối kháng với cộng sản, dù không, hay chưa có hành động gì tích cực. Họ cần được tôn vinh, chứ không cần được “giải oan” vì họ đã không bi xét xử và kết tội bởi một tòa án nhân danh công lý. Họ đã bị thủ tiêu một cách mờ ám và phi pháp trong bóng tối mà chính kẻ cầm đầu chế độ cũng không dám nhận trách nhiệm. Chế độ bất lương ấy càng không có tư cách để “giải oan” cho những nạn nhân của nó, mà chính chế độ ấy cần phải bị lên án và kết tội.

Trong lễ khánh thành Đài Tưởng Niệm hơn 100 triệu nạn nhân cộng sản trên thế giới tại Washington DC ngày 12/6 vừa qua, Tổng Giám Mục Pietro Sambi nói rằng: “Hàng triệu người đã bị cộng sản giết hại. Chúng ta không biết mặt họ, không biết tên tuổi họ, nhưng Thượng đế biết.” Có lẽ cần thêm: “Và Thượng đế biết những kẻ đã giết họ.”

Những nạn nhân ấy đòi hỏi Công Lý, chứ không xin được giải oan. Công lý không chỉ cần cho người sống, nhưng cũng cần cho những người đã bị giết chết như những con vật không phương thế tự vệ.

Không có Công lý, khi kẻ giết một người thì bị trừng phạt, có khi phải đền mạng, còn kẻ giết hàng triệu người lại được đúc tượng, xây lăng, ướp xác.

ST

Nguồn: http://vietland.net/main/showthread.php?t=6045

Kỷ niệm 50 năm Diễn Hành Truyền Thống Ngày Quân Lực - Phạm Hòa

Kỷ niệm 50 năm Diễn Hành Truyền Thống Ngày Quân Lực
do Bộ Quốc Phòng HK và Thành phố Torrance, Cờ Vàng VNCH tung bay.


Phạm Hòa

LOS ANGELES - Nỗi xúc cảm và kiêu hảnh chan hòa với tiếng nhịp bước quân hành, tiếng vổ tay vang dội, càng lúc càng giòn rã, tiếng hô hào trong gió, rền vang vọng lại, tiếng Việt, tiếng Mỹ, âm thanh vang dội, ấm cúng bao quanh trên đại lộ thật lớn rạp hàng cây cao vút, các vị Tướng lãnh Tư Lệnh Quân Đội, Sĩ Quan Cao Cấp của Quân Lực Hoa Kỳ, những Nghị Sĩ, Dân Biểu, Thị Trưởng, Hội Đồng Thành Phố và Quan Khách trên một khán đài dài, hàng trăm chiếc ghế trắng bao quanh những tấm băng màu xanh, đõ và trắng của Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ họ đại diện cho tất cả Quân Binh Chủng và công dân Hoa Kỳ về tham dự Kỹ Niệm 50 năm Diễn Hành truyền thống ngày Quân lực Hoa Kỳ, tất cả đã đứng Nghiêm Chào tay thật uy nghi và đã đứng từ lúc nào, chờ đợi toán Quốc Kỳ của Cựu Quân Nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa tiến vào khán đài.

Con đường chính của thành phố Torrance thật rộng và hùng vĩ với những hàng cây cổ thụ to, từ xa ngọn cờ Vàng nổi bật trên tất cả màu sắc khác Quốc Kỳ Việt Nam Cộng Hòa hùng dũng tung bay trong gió tiến vào khu vực khán đài chính, Quốc Kỳ Việt Nam Cộng Hòa và Hoa Kỳ tung bay thật mạnh và ngưòi cựu quân nhân QLVNCH vẫn nắm chặt tay và chân đều bưóc tiến và khuất phục gian khổ như đã từng chiến thắng những chông gai trưóc và sau cuộc chiến.

Năm nay với sự tăng cường hậu duệ QLVNCH trang bị quân phục đơn vị thiện chiến cọp ba đầu rằn Biệt Động Quân, tay cầm M16, balô nón sắt khăn choàng cổ màu tím hoa sim với Huy hiệu Binh Chủng Biệt Động Quân oai hùng, đi phía sau Quốc Kỳ, súng chào tay và sánh bưóc cùng thế hệ cha anh trong vang dội của hoan hô và vổ tay nồng nhiệt, chiếc xe jeep lùn thời chiến tranh ngày nào vẫn lăn bánh hiên ngang hùng dũng, như chứng nhân và sự hiện hữu của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và trong kỹ niệm 50 năm diễn hành truyền thống Quân Lực Hoa Kỳ đã gây nhiều chú ý đến các cơ quan Truyền Hình, truyền thông và báo chí đã đề cập và đăng tải sự hiện diện của cựu quân nhân QLVNCH trong diễn hành quân lực Hoa Kỳ, và ngày hôm sau hình ảnh và bài viết về sự xuất hiện cuả Toán Quốc Kỳ VNCH đã được nổi bật trên Trang nhất báo Chủ Nhật báo chí địa phương và trên các truyền hình trên thế giới.

Cảnh Sát địa phương cho biết đã có hơn 60 ngàn người hiện diện trên khoàng đuờng gần 2 cây số, kỷ niệm 50 năm diễn hành truyền thống ngày Quân Lực Hoa Kỳ tại thành phố Torrance, Tiểu bang California từ năm 1949 đến nay.

Tiếng hoan hô và vỗ tay càng lớn những bưóc chân càng oai hùng của những Cựu Quân Nhân QLVNCH càng bưóc mạnh và đều đặn hơn cho dù tuổi đời chồng chất, vẫn đều nhịp bước trong tiếng trống quân hành, gợi nhớ trong ký ức hình ảnh diễn hành ngày Quân Lực 19-6 trong lòng thành phố Sàigòn sau Mùa Hè Đỏ Lửa trở về Thủ đô từ chiến trường rực lửa Trị Thiên, Bình Long, Kontum, An Lộc. Trên nền trời xanh những phản lực cơ gào thét như xé tan bầu khí quyển, tiếng xích và động cơ, những hàng khói đen từ thoát ra từ phía sau những thiết gíáp trở về từ Chiến Trường Iraq và A phú Hãn một âm thanh vang rền hòa lẫn trong bầu trời đến thật nhanh và kéo dài trong tâm tưởng vang rền của mọi ngưòi tham dự.

Cuối buổi diễn hành các Quân Nhân Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa quay quần bên nhau với nhiều hình ảnh lưu niệm và Thượng Sĩ Davidson một quân nhân từng tham chiến tại Việt Nam hiện vẫn còn trong quân ngũ Hoa Kỳ tìm gặp các cựu Quân Nhân QLVNCH và nhắc nhớ nhũng địa danh của Việt nam: Đông Hà, Khe Sanh, Chu Lai, Đà Nẵng, rồi Kontum, Pleiku, Cam Ranh, Long Bình, Tân Sơn Nhất, Tây Ninh, Cần Thơ và Biên Hòa, rồi xin chụp hình kỷ niệm và hẹn gặp lại với nhiều lưu luyến.

Cuối ngày trên bầu trời xanh tự do của Hoa Kỳ ngọn cờ vàng được gắn trên antenna của chiếc M151A2 biểu tượng cho Công Lý và Chính Nghĩa vẫn tung bay làm nền tảng, phía trưóc toán quân nhân Hoa Kỳ và Cựu quân nhân QLVNCH cùng đứng bên nhau với niềm kiêu hảnh, phía sau đoàn phi cơ phản lực và trực thăng phi diễn rền vang ầm ỉ, và động cơ của Quân Xa thiết giáp trên đường nhắc nhở chúng ta đang vẫn còn trong chiến tranh với khủng bố, thù hằn, bất công, áp bức và thế hệ thứ hai của quân lực Việt Nam Cộng Hòa và chiến sĩ Hoa Kỳ vẫn phải tiếp tục hy sinh xương máu mình trên chiến trường Iraq, A Phú Hản và nhiều nơi trên thế giới, như hơn một lần 350,000 quân nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, 58, 256 Quân nhân Hoa Kỳ và hơn 6,000 quân nhân đồng minh đã anh dũng hy sinh trên chiến trưòng Việt Nam và hàng ngàn quân nhân mất tích trên chiến trường và trong các trại tù.

Văng vẳng đâu đây giọng nói ấm và truyền cảm của người MC nhắc nhở đến mọi người và thế hệ mai sau luôn nhớ ơn và tri ân những anh hùng, đã nằm xuống để gìn giữ tự do và công bình cho nhân loại và như ngọn cờ Vàng mãi tung bay trong gió thách đố cho sự bền vững dài lâu, cho nhân tâm đạo lý, cho no ấm an sinh và trường tồn của chính nhân và đại nghĩa.

Cựu Trưởng Toán 723/Đ72/SCT Nha Kỹ Thuật/Bộ TTM/QLVNCH
Hội Trưởng Hội Ái Hữu Quân Trường Đồng Đế Nha Trang (THSQ-QLVNCH)
Phạm Hòa




Thủ tướng Đức Angela Merkel nói: ''Chủ nghĩa cộng sản đã tạo nên những con người dối trá!''

Bức tường Berlin đã sụp đổ

VietCatholic News
17 May 2009


ĐỨC QUỐC - Năm 2009 Phương Tây sẽ mừng kỷ niệm 20 năm thoát khỏi hiểm họa cộng sản trên toàn cõi Đông Âu, khởi đầu được bắt đầu bằng các phong trào cầu nguyện đòi dân chủ từ Đông Đức. Trong 20 năm vừa qua bao nhiêu tội ác, bất công, tù tội, giết người … do chủ nghĩa cộng sản gây ra tại Đông Âu được lột trần trước ánh sáng và công lý. Những bản án tố cáo sự tàn ác của cs được trực tiếp và gián tiếp, được người trong cuộc lẫn ngoài cuộc ghi lại trong sử sách nhân loại.

Mới đây nhất lời phát biểu của nữ thủ tướng, Dr. Angela Merkel vào ngày 07/5/2009 dịp nước Đức nhớ lại Phong trào nổi dậy đòi dân chủ tại Đông Đức cộng sản vào năm 1989 chống đối cuộc bầu cử gian lận ngày 07/5/1989 tại Đông Đức, là bản kết án hùng hồn nhất về một chủ nghĩa bất nhân, một chủ nghĩa gây bại hoại cho nhân loại: "Chủ nghĩa cộng sản đã tạo thành con người dối trá". Bà Merkel kết án mạnh mẽ: "Đông Đức đã trở thành một hệ thống nhà tù kiểm soát chặt chẽ người dân nhất thế giới". Tuy nhiên điều phá hủy được hệ thống vô luân này chính là niềm khát khao công lý và sự thật của người dân Đức, đó chính là "nền tảng cho nền dân chủ" , chúng ta đang hưởng được tự do và công lý trong 20 năm qua, hôm nay "chúng ta không thể và không muốn quên đi tất cả những bất công đã xảy ra do cộng sản gây ra" , những nhận định sắc bén này bà Merkel muốn nhắc nhở cho người dân Đức và cho thế giới tự do.

Nếu một nhân vật nào đó nói như thế thì chưa chắc có thể dựa trên một nền tảng chứng minh chắc chắn, nhưng với Angela Merkel, một người đã sống trong lòng cs và được đào tạo lớn lên từ đây thì không có lời nào chứng minh hùng hồn hơn được bằng những phát biểu của bà nói về tội ác cộng sản.

Cứ nhìn lại lịch sử trước đây 20 năm tại Đông Âu thì rất rõ ràng, chỗ nào cũng giăng đầy bảng đỏ chữ trắng tuyên truyền như “Chủ nghĩa Mác - Lê Nin muôn năm”, “Chủ nghĩa Mác - Lê Nin bách chiến bách thắng”, “Đảng cộng sản muôn năm”… Muôn năm như thế để cộng sản ác độc tạo ra nhiều thế hệ nhằm ca tụng một chủ nghĩa dối trá phi nhân hơn 70 năm trời. Tội ác cs đã gây ra những con số chết chóc khủng khiếp cho chính dân chúng của họ, có lẽ chỉ có ác thú mới làm được như sử gia Rudolph J. Rummel đã nêu ra trong sách "Death by Government":

Cộng sản đấu tố dã man địa chủ
trong việc cải cách ruộng
- Cộng sản Nga giết 61.911.000 người.
- Cộng sản Trung Hoa giết 35.236.000 người.
- Cộng sản Khmer đỏ giết 2.035.000 người.
- Cộng sản Việt Nam giết 1.670.000 người.
- Cộng sản Ba Lan giết 1.585.000 người.
- Cộng sản Nam Tư giết 1.072.000 người.

Nhìn về VN với một ví dụ rất điển hình của sự khát máu và tàn ác qua tên đồ tể của "Cải cách ruộng đất" Đặng Xuân Khu (1907-1988), tự xưng là Trường Chinh, được sự đồng ý của Hồ Chí Minh cướp đất gây đại họa giết 172.000 người, và hơn 500.000 nạn nhân vô tội khác do chính tên đầu sỏ Trường chinh gây ra. Bao nhiêu cảnh giã man giết người trong cải cách ruộng đất với khẩu hiệu: "Trí, phú, địa, hào đào tận gốc" chẳng khác gì hơn sự diệt chủng rùng rợn của bọn cs Khmer đỏ, thế mà csVN còn dựng lên tượng đài của tên đồ tể Đặng Xuân Khu tại một quảng trường lớn thuộc huyện Xuân Trường để tuyên dương công trạng giết người tàn ác này.

Nhận định của nữ thủ tướng Angela Merkel về cs Đông Đức không những có cơ sở chắc chắn, mà còn được nổi bật khi so sánh với lời tuyên bố của ông Mikhail Gorbachev: "Tôi đã bỏ hơn nửa cuộc đời đấu tranh cho lý tưởng cộng sản, nhưng ngày nay tôi phải đau buồn mà nói rằng "cộng sản chỉ biết tuyên truyền và nói láo".

Tại VN dịp kỷ niệm 55 năm ngày mở đường Trường Sơn cũng như kỷ niệm 55 năm chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ đã có những bài báo từ Nga hé lộ cho biết công lớn của người Nga ở Điện Biên. Tin mới nhất từ tác giả Sergey Balmasov phê phán cs Bắc Việt đã vô ơn quên hẳn những tình cảm về thời được Nga giúp trong cuộc chiến - theo tác giả, "chiến thắng vang dội (đó) không thể có nếu thiếu sự ủng hộ từ Nga". Lý do được tác giả dẫn chứng rằng "Pháo phòng không của Liên Xô đã tiêu diệt hoàn toàn hệ thống phòng thủ của Pháp" ở cứ điểm 17 nghìn quân tại Điện Biên.

csVN vẫn dấu diếm và dối trá trong sự việc lớn này tại Điện Biên và dành công lớn cho chính mình.

Trong những ngày vừa qua dân cư trên mạng đã khám phá ra một điều rất thú vị có thể chứng minh csVN đang dã tâm dâng hiến đất cho Tàu cộng qua trang website www.vietnamchina.gov.vn. Hiểu nôm na là trang website kết nghĩa anh em với Tàu cộng lấy tên miền gov.vn do chính phủ Việt Nam làm quản lý admin, nhưng nội dung đang phổ biến bằng tiếng Việt cho biết rất nhiều miền đất và hải đảo VN đang thuộc về người Tàu.

Có thể csVN đang dối trá toàn dân trong việc hiến dâng bờ cõi thiêng liêng của tổ quốc cho ngoại bang chăng?

Về dự án bauxite tại Tây Nguyên, đang được toàn dân thuộc mọi tầng lớp, kể cả Võ Nguyên Giáp chú ý nói đến những hiểm họa về môi sinh và bệnh tật, trong khi đó csVN lại kêu gào thế giới về thảm trạng Da Cam trong chiến tranh. Liệu csVN có đảm bảo những thảm trạng dị tật từ bauxite theo thời gian không? Vì sao các quốc gia khác phải đóng cửa các mỏ quặng bauxite của họ? Chắc chắn thảm họa bauxite sẽ to lớn hơn chất độc da cam.

csVN ngu dại hoặc cố tình dối trá dân chúng khi không để ý đến tin tức từ ChinaDaily, Xinhua đưa đi: "Ngày 11.5.2009, hội đồng Nhà nước Trung Quốc thông qua kế hoạch ba năm, hỗ trợ ngành công nghiệp khai thác chế biến kim loại màu (nhôm, đồng …) theo hướng tái cấu trúc và hiện đại. Theo đó, sẽ thành lập 3 – 5 doanh nghiệp chủ đạo trong ngành, và đến năm 2011 có 10 doanh nghiệp hàng đầu nắm đến 90% sản lượng đồng, 70% sản lượng nhôm, 60% kẽm … Các nhà máy nhôm, đồng… ô nhiễm sẽ bị đóng cửa, chính phủ (Tàu) khuyến khích và tài trợ vốn cho các doanh nghiệp đầu tư khai thác mỏ ở nước ngoài, kể cả hình thức liên doanh liên kết". (http://www.sgtt.com.vn/detail30.aspx...009/0512/51324).

Bauxite tại Tây Nguyên đang là ngòi bom nổ chậm đổ xuống dân tộc VN, mà csVN đang giã tâm tiếp tay với Tàu cộng.

Hẳn là không có sự ngẫu nhiên khi các cuộc cầu nguyện đòi Công Lý và Sự Thật được phát xuất từ Thái Hà – Hà Nội và can đảm hơn người dân Thái Hà cùng ghi danh “HÃY CỨU LẤY TÂY NGUYÊN KHỎI THẢM HOẠ BAUXITE ĐỎ”, điều này đúng với nhận định thêm của thủ tướng Angela Merkel vào cuối bài diễn văn: "Hậu quả tàn ác của cs đẩy con người vào đường cùng là dối trá với nhau, tuy nhiên khi sự dối trá được phơi bầy và người dân can đảm moi ra những điều gian lận (trong bầu cử) thì dẫn họ đến các phong trào đòi hỏi công lý. Và cuối cùng người dân Đông Đức biết kết thúc với trò chơi dối trá này. Như thế người dân can đảm tìm đến nhau, tạo dựng các phong trào nói về công lý và sự thật".

Cuối cùng, hy vọng ông Nguyễn Tấn Dũng còn lương tâm và lòng tự trọng nghĩ lại câu nói của chính mình để xứng đáng với chức vụ thủ tướng và nhiều hơn nữa đừng dối trá cướp từng mảnh đất nhỏ của người dân VN để rồi hèn nhát dâng hiến bờ cõi tổ quốc cho giặc Tàu ngàn năm: "Tôi xin nói suy nghĩ riêng của mình. Tôi yêu nhất, quý nhất là sự trung thực, ghét nhất, giận nhất là sự giả dối".

Nguồn: http://www.vietcatholicnews.com/News/Html/67266.htm


Miếng Mồi Ngon Của Việt Cộng Nhưng Khó Nuốt? - Luật sư Lê Duy San

    Người Việt Hải Noại: Miếng Mồi Ngon Của Việt Cộng Nhưng Khó Nuốt?
Luật sư Lê Duy San

- Việt Cộng đánh gía Người Việt Hải Ngoại như thế nào ?
- Những chính sách của Việt Cộng để dụ dỗ Người Việt Hải Ngoại.
- Những trò lưu manh của Việt Cộng để phá hoại sự đoàn kết của Người Việt Hải Ngoại.

Sau khi nuốt trọn được miền Nam Việt Nam vào năm 1975 và áp đặt một chế độ độc tài đảng trị trên toàn thể lãnh thổ Việt Nam, bọn Cộng Sản Việt Nam đã đưa cả trăm ngàn quân nhân và công chức của chế độ VNCH mà chúng coi là thành phần tối nguy hiểm vào nhà tù mà bọn chúng gọi là trại cải tạo. Chưa đủ, để tịch thu nhà cửa và ăn cướp tài sản của đồng bào, chúng còn đẩy cả triệu đồng bào mà chúng coi là thành phần hút máu mủ nhân dân hoặc ăn bám xã hội lên rừng núi mà chúng gọi là vùng kinh tế mới hoặc ra biển cả làm mồi cho cá.

Nhưng sau một thập niên quản trị đất nước (1975-1985) với chính sách hộ khẩu và hợp tác xã, chúng đã đưa Việt Nam vào danh sách những nước nghèo đói nhất thế giới. Để cứu đói và cũng là để cứu đảng, chúng đã phải cởi trói chính sách kinh tế của chúng phần nào, cho phép dân chúng làm ăn, buôn bán nhỏ, chấp nhận tiền bạc cũng như đồ đạc của người Việt Hải Ngoại gửi về cho thân nhân.

Mặc dù cởi trói đã được 5 năm (1985-1990) tình trạng nghèo đói của đất nước vẫn không khá hơn, vì bọn Việt Cộng vẫn ngoan cố, nên vẫn bị Hoa Kỳ cấm vận. Nhận thấy, tinh thần chống Cộng của người Việt đã giảm sút, không còn cao như lúc Măt Trận Hoàng Cơ Minh mới ra đời, nhất là từ khi ông Hoàng Cơ Minh đã bị Việt Công giết. Việt Cộng không còn lo ngại gì nữa, nên đã xuống nước và chấp nhận bang giao với Hoa Kỳ để được hủy bỏ cấm vận.

Kể tứ năm 1991, sau khi được Hoa Kỳ hủy bỏ cấm vận, các nước ùn ùn vào đầu tư tại Việt Nam. Tuy nhiên ăn được tiền của ngoại quốc cũng không phải là dễ. Người ngoại quốc nào bỏ tiền ra đầu tư ở Việt Nam cũng mong mang được lợi nhuận về nước. Họ đầu tư ở Việt Nam, chẳng qua họ thấy nhân công ở Việt Nam rẻ chứ không phải vì họ yêu nước Việt Nam. Trái lại, bọn Việt Cộng nhận thấy, người Việt Hải Ngoại dù ra đi vì bất cứ lý do gì, cũng không bao giờ ghét bỏ tổ quốc. Ai mà chẳng sinh ra ở Việt Nam ? Ai mà chẳng có họ hàng, thân thích, bạn bè ở Việt Nam ? Chỉ số tiền hàng năm Người Việt Hải Ngoại đem về tiêu ở Việt Nam hoặc gửi về giúp đỡ thân nhân, bạn bè và người nghèo khổ cũng đã lên tới 4 tỷ đô la. Chỉ cần 1% số người này đem tiền về Việt Nam làm ăn, hay đem chất xám về giúp nước, mỗi năm Việt Cộng sẽ kiếm thêm được bao nhiêu tỷ nữa? Đây qủa là một miếng mồi ngon của Việt Cộng.

Chính vì vậy, ngay từ khi Hoa Kỳ vừa hủy bỏ cấm vận, bọn Cộng Sản đã dùng ngay chiêu bài Hoà Hợp, Hòa Gỉai để dụ dỗ những người Việt Hải Ngoại vẫn còn thơ ngây về hợp tác hoặc làm ăn với chúng. Thực ra bọn Việt Cộng có bao giờ thực tâm muốn Hòa Hợp, Hòa Gỉai với ai. Chúng chỉ muốn Hoá Giải những sự chống đối, chúng chỉ muốn lùi một bước để rồi sẽ tiến hai bước. Chỉ tiếc rằng người Việt Quốc Gia, vì ngu dốt, vì ham danh, hám lợi, nên dù đã từng bị lừa bịp nhiều lần rồi mà vẫn bị lừa. Tuy nhiên số người này không phải là nhiều, nên ngày 26/3/04, Bộ Chính Trị của Việt Cộng đã phải ban hành nghị quyết 36 đối phó với người Việt Hải Ngọai.

A. Việt Cộng đánh giá người Việt Hải Ngoại như thế nào?

Sau 15 năm sống còn nhờ vào tiền của người Việt Hải Ngoại gửi về, bọn lãnh đạo Việt Cộng không còn dám coi thường những người mà bọn chúng trước kia gọi là những thành phần đĩ điếm, tay sai đế quốc Mỹ nữa, trái lại chúng “đánh giá” rất cao, coi cộng đồng người Việt Hải Ngoại là “là khúc ruột ngàn dậm, là một bộ phận không thể tách rời khỏi dân tộc”.

Chúng đã phải nhìn nhận 80% những người Việt Hải Ngoại, không những đã ổn đinh được cuộc sống mà còn có vị trí trong đời sống kinh tế, xã hội và chính trị trong nước họ định cư. Nhiều người có tiềm lực kinh tế, có khả năng quan hệ với các doanh nhân bản xứ để làm cầu nối cho các doanh nghiệp trong nước cũng như cho bọn chúng.

Tuy nhiên, chúng cũng nhận thấy rằng hầu hết người Việt Hải Ngoại không tin vào sự đổi mới của chúng, không tin vào sự Hòa Giải, Hoà Hợp của bọn chúng, không những thế, nhiều người khác vẫn còn chống đối và vạch trần sự lừa phỉnh, bịp bợm của bọn chúng.

B. Những chính sách của Việt Cộng để dụ dỗ người Việt Hải Ngoại.


Nhận thấy tầm quan trọng của người Việt Hải Ngoại cũng như tinh thần chống Cộng của người Việt Hải Ngoại vẫn còn mạnh mẽ, trong nghị quyết 36, bọn Việt Cộng đã phải đưa ra một số chính sách đối phó để đánh phá và lôi cuốn những thành phần ham danh, hám lợi nhưng vẫn chưa rứt khoát tin tưởng ở chúng.

1. Biện pháp I: Chiêu bài Hoà Hợp, Hoà Giải.

Như đã trình bầy ở trên, thực ra bọn Việt Cộng không bao giờ chúng thực tâm muốn Hoà Hợp, Hoà Giải vì bọn chúng đang ăn trên ngồi trốc, đang nắm độc quyền quản trị đất nước, đời nào chúng lại dại dột nhường ghế, chia quyền cho người khác? Chẳng qua đây chỉ là một phương thức để Hoá Gỉai những sự chống đối của những thành phần chống đối nhưng không có lập trường chống Cộng vững chắc, còn ham danh, hám lợi, cũng như để dụ dỗ những thành phần trí thức ngu muội, chỉ biết chủ nghĩa Cộng Sản qua sách vở mà không hề biết trên thực tế, chủ nghĩa Cộng Sản đã được bọn chúng thực thi ra sao.

Biện pháp Hoà Hợp, Hoà Giải đã được bọn chúng đem ra áp dụng từ lâu. Từ năm 1945-1946, chúng cũng đã đem ra áp dụng để thành lập chính phủ Liên Hiệp. Rồi năm 1974-1975, chúng cũng đưa ra để dụ dỗ những người quốc gia nhẹ dạ. Năm 1990-1991 chúng cũng đưa ra và cho đến bây giờ chúng cũng vẫn đưa ra. Tóm lại, bất cứ lúc nào chúng muốn hóa giải việc gì, là chúng lại đem chiêu bài Hòa Hợp, Hòa Giải ra áp dụng. Bởi vì chúng biết lòng căm thù của người Việt Hải Ngoại mỗi ngày một giải đi theo thời gian. Vì vậy chiêu bài Hoà Hợp, Hoài Gỉai của chúng lúc nào đem ra áp dụng cũng vẫn có gía trị.

2. Biện phái II: Chính sách Giao Lưu Văn Hóa.

Nhược điểm của người Việt Hải Ngoại, tức những người xa quê hương nhớ nhà, nhớ quê hương. Càng xa lâu, càng nhớ nhiều. Lợi dụng nhược điểm này, chúng tung ra hải ngoại sách báo, băng nhạc và phim ảnh gọi là Giao Lưu Văn Hóa.

Lúc đầu, chúng còn đưa ra nhưng phim ảnh có mục đích tuyên truyền. Nhưng sau chúng thấy bất lợi vì không nhưng không được đồng bào Hải Ngoại hưởng ứng mà còn chống đối kịch liệt nên sau chúng chỉ đưa ra những phim ảnh vô thưởng, vô phạt, không những hoàn tòan có tính cách giải trí, mà nhiều khi còn cố ý chỉ trích chính quyền, nhưng chỉ về vấn đề tham nhũng, một vấn đề không thể dấu diếm được để tỏ ra ta đây (chính quyèn Cộng Sản) cũng tự do, dân chủ để lừa gạt những người Việt Hải Ngoại nhẹ dạ, dễ tin.

Thực ra có bao giờ chúng chịu Giao Lưu Văn Hóa với người Việt Hải Ngoại? Thử hỏi đã có cuốn sách nào nói về tự do, dân chủ, nói về nhân quyền của ngoại quốc, chứ đừng nói tới của người Việt Hải Ngoại, được chúng cho lưu hành trong nuớc? Ngay người trong nước, chỉ cần dịch một tài liệu của ngoại quốc rồi đăng trên diên đàn điện tử cũng bị coi là phản động và cho đi tù.

3. Biện pháp 3: Cho hưởng một vài quyền lợi.


Để dụ dỗ người Việt Hải Ngoại về nước du lịch hay làm ăn, hợp tác nhiều hơn, Việt Cộng đề ra nhiều chính sách, chủ trương nhằm tạo điều kiện dễ dàng như về gía cả, không còn phân biệt người trong nước với người nước ngoài. Chấp thuận cho người Việt Hải Ngoại mua nhà đất trong nước với một vài điều kiện nào đó. Quy chế miễn visa, miễn thị thực chữ ký. Cho phép người Việt Hải Ngoại được phép kinh doanh hoặc mở một vài công ty cũng như hợp tác vào vài hoạt động khoa học, văn hóa v.v…Vinh danh một số trí thức và thương gia về nước phục vụ cho chúng.

Cả ba biện pháp trên đều thất bại bởi vì chúng không có thực tâm mà chỉ là để dụ dỗ, tuyên truyền. Hơn nữa, tình trạng tham nhũng ở Việt Nam bây gìơ đã hết thuốc chữa. Tham nhũng từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên, không ai bảo được ai, nên số người Việt Hải Ngoại về nước làm ăn hay kinh doanh mỗi ngày một ít. Tuy nhiên bọn chúng vẫn giả ngây, giả ngô và tổ chức một cuộc hội thảo tại thành phố Saigon ngày 28/12/08 giữa bọn chúng và một số Việt Gian Hải Ngọai trong số đó có Giáo Sư Tạ Văn Tài để tìm hiểu nguyên nhân dưới đề tài “Làm sao để phát huy nguồn lực trí thức Việt Kiều đóng góp vào công cuộc phát triển đất nước ?...”

Gần 30 bài tham luận từ nước ngoài đã được gửi về đóng góp ý kiến và 16 tham luận viên đã tới để trực tiếp trình bày. Nhưng những lý do, những nguyên nhân thực sự như: vì chế độ hiện tại của Việt Nam là một chế độ độc tài chuyên chế, một chế độ trị nước không phải bằng luật pháp mà là một chế độ công an trị, vì chế độ hiện tại của Vịệt Nam là một chế độ không tôn trọng nhân quyền , không đặt quyền lợi dân tộc lên trên hết v.v… nên không ai muốn về nước giúp cho một chế độ như vậy. Các tham luận viên chỉ nói tới những lý do vớ vẩn như vì quen sống ở những nước văn minh, có đủ tiện nghi vật chất, không được đãi ngộ xứng đáng, môi trường làm việc không được đầy đủ phương tiện kỹ thuật, còn nghi ngờ về cách đối xử “giở giăng, giở đèn” của nhà cầm quyền VN v.v…

C. Những chiến thuật của Việt Cộng để phá hoại Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại.

Không chiêu dụ được, không dụ dỗ được, bọn Việt Cộng đã dùng những chiến thuật sau để phá hoại Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại.

1. Chiến thuật “Tầm ăn dâu”.

Phần lớn các Hội Đoàn lập ra đều có mục đích xã hội và vô vị lợi. Vì thế chúng thường dùng chiêu bài làm việc xã hội, từ thiện để dễ dàng được các Hội Đoàn hỗ trợ. Rồi từ đó, chúng dần dần để lộ ra bộ mặt thật của chúng để làm cho Hội Đoàn đã hỗ trợ chúng bị chia rẽ để chúng dễ dàng xâm nhập và quậy phá.

Các Hội Đoàn, lúc đầu thường do các người có lập trường chống Cộng, có nhiệt huyết lập ra, nên lúc đầu sự hoạt động rất hăng say và có quy củ. Nhưng sau một thời gian hoạt đông bắt đầu mệt mỏi, nên sự hoạt động cũng lỏng lẻo. Bọn Việt Cộng bắt đầu xâm nhập hoặc cho tay sai vào nằm vùng, chờ cơ hội hoạt động. Lúc đầu có thề chúng chỉ già vờ vô tình đưa ra một vài lời tuyên bố có lợi cho Cộng Sản, rồi sau đó, chờ cơ hội thuận tiện, chúng có thể đưa ra cả một bài tuyên truyền cho Cộng Sản. Thế là Hội đoàn đó có thể tách ra làm hai hoặc tan rã hoặc ở trong tình trạng tê liệt.

Trên các diễn đàn điện tử, báo chí cũng vậy, chúng cũng luôn luôn tim cách xâm nhập để gây chia rẽ và xáo trộn.

2. Chiến thuật “Cá mè một lứa”

Sau ngày 30/4/1975, bọn chúng đã ăn cướp được của đồng bào miền Nam không biết bao nhiêu tiền của nhờ vào chính sách đổi tiền, đánh tư sản mại bản, cải tạo công thương nghiệp, vùng kinh tế mới và sau này, ăn cướp đất đai của đồng bào, chúng trở thành bọn tư bản đõ. Nhưng để dân chúng nửa tin, nửa ngờ, chúng tung ra một danh sách có cả tên của những người đã từng phục vụ trong chế độ Việt Nam Cộng Hòa cũ mà nhiều người biết chắc không thể nào giầu có được.

Đối với những người Việt Hải Ngoại chống Cộng cũng vậy. Chúng luôn luôn tìm cách ly gián và gây sự nghi ngờ lẫn nhau.

Thực vậy, số người Việt Hải Ngoại chống Cộng đã hiếm, mà số người có khả năng chống Cộng bằng ngòi bút lại càng hiếm hơn. Vì vậy, một người chống Cộng, khi đọc bài của một người khác thấy họ có tinh thần chống Cộng rất cao thì rất mừng, săn sang kết nạp, mời mọc tham gia, công tác. Nhưng sau một vài bài chống Cộng, họ viết một bài cũng chống Cộng, nhưng trong đó có lồng vào một vài câu hay một vài đọan họ đả kích một người quốc gia có uy tín hay có lập trường chống Cộng cao. Nếu ta vì quá tin tưởng họ, không đọc kỹ mà phổ biến thì sự việc sẽ ra sao?

Những người chống Cộng thực sự và họ biết ta, không bao giờ họ lại ngây thơ mà chỉ trích ta, cùng lắm họ chỉ lưu ý ta mà thôi hoặc nếu cần, họ sẽ viết một bài để vạch mặt thẳng tên Việt Công nằm vùng đã viết bài kia. Nhưng những người chống Cộng khác, họ không biết ta, tính lại nóng nẩy sẽ chụp ngay lấy để mạt sát, để chụp mũ. Cho nên chúng ta đừng lấy làm ngạc nhiên khi thấy người chống Cộng thì ít mà kẻ chống người chống Cộng lại nhiều. Vì thế, bọn Việt Cộng đã khai thác triệt đề khía cạnh này để đưa Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại tới chỗ “Cá Mè Một Lứa”, chẳng còn biết ai là người chống Cộng, ai là Việt Gian Cộng Sản nữa.

Mong rằng tất cả những người Việt Hải Ngoai có tinh thần chống Cộng cao, hãy đề cao cảnh giác và luôn luôn phải bình tĩnh, đừng để xa vào cái bẫy của Việt Cộng.

Luật sư Lê Duy San