Tuesday, May 19, 2009

CỨU NƯỚC - Đỗ Thái Nhiên


Đỗ Thái Nhiên

Ngày 09/03/2009, báo Lao Động của CSVN loan tin: Ngày 04/03/09, tại Hà Nội Ban Thường Trực Ủy Ban Trung Ương MTTQVN và quân chủng Hải Quân đã thống nhất các biện pháp tuyên truyền về biển, đảo tới các tầng lóp quần chúng nhân dân. Bản tin này kết luận bằng cách nhắc lại một câu nói của tiền nhân: “Ta phải giữ cho cẩn thận, đừng để cho ai lấy một phân núi, một tấc sông của tổ tiên.”

Ngày 17/03/2009, Chương trình Nghiên Cứu Biển Đông cùng với Học Viện Ngoại Giao đã tổ chức tại Hà Nội, một cuộc hội thảo với đề tài: “Tranh Chấp Chủ Quyền Tại Biển Đông: lịch sử, địa chính trị, và luật pháp quốc tế”. Tiến Sĩ Nguyễn Xuân Diện, Phó Giám Đốc Thư Viện Hán Nôm viết về cuộc hội thảo này như sau: “Hội thảo đã diễn ra trong một ngày (Kết thúc lúc 5giờ 30 chiều) với một tinh thần khẩn trương. Các trao đổi bên lề và các thảo luận tại hội trường thực sự sôi nổi, chất lượng và khoa học. Đây là cuộc hội ngộ của những tấm lòng yêu nước nhiệt thành và quyết tâm dấn thân vào mọi nỗ lực giữ bằng được biển Đông”.

Các tin tức nêu trên làm một số người nức lòng. Có người không ngần ngại cho rằng Hà Nội đã bật đèn xanh cho một phong trào dân tộc thượng tôn, toàn dân cứu nước. Tại hải ngoại có vài cá nhân/tổ chức công khai, hoặc kín đáo kêu gọi mọi người Việt Nam hãy kết hợp với CSVN để quyết liệt chống Tàu. Vài người còn nêu bật phương châm: “Cứu nước trước. Chống Cộng sau”

Câu hỏi cần đặt ra là: Liệu chừng lần này CSVN có thực sự muốn cùng với toàn dân cứu nước hay không? Câu trả lời nằm trong các bản tin sau đây:

1. Tin về việc CSVN bảo vệ “lưỡi bò Trung Quốc” trên biển Đông.

a. Tuy chưa bao giờ chính thức công bố, nhưng bằng nhiều hình thức truyền thông khác nhau, Trung Quốc đã cho toàn thế giới biết Trung Quốc khẳng định trọn bộ biển Đông là biển của Trung Quốc. Lãnh hải của Trung Quốc trên biển Đông do Trung Quốc đơn phương vẽ ra chiếm 75% biển Đông và có hình dạng giống cái lưỡi bò. Trên lưỡi bò kia có Hoàng Sa, Trường Sa và vô số các đảo khác. Ngày 10/03/2009 Philippines ban hành đạo luật Cộng Hòa 9522 xác định chủ quyền đối với hơn 7100 đảo, bao gồm một phần của Trường Sa. Trọng tâm của đạo luật 9522 là quyết tâm xé bỏ lưỡi bò Trung Quốc chứ không là một phần Trường Sa. Vì vậy, sự việc CSVN cùng Trung Quốc phản đối đạo luật 9522 của Philippines cần được hiểu là CSVN đã tích cực bảo vệ lưỡi bò giùm cho Trung Quốc.

b. Công ước của Liên Hiệp Quốc về luật biển ra đời ngày 10/12/1982. Ngày 25/07/1994, CSVN phê chuẩn công ước biển 1982. Công ước này qui định: các quốc gia ven biển được hưởng một vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa mở rộng bên ngoài 200 hải lý. Vẫn theo luật biển 1982: Muốn thềm lục địa được quốc tế bảo vệ, Việt Nam phải nộp hồ sơ thông báo cho Ủy-Ban-Ranh-Giới-Thềm-Lục-Địa của Liên Hiệp Quốc để cơ quan này ghi nhận thế nào là địa hình và diện tích của thềm lục địa Việt Nam. Hạn chót để Việt Nam đệ nạp hồ sơ kia là ngày 13/05/2009. Sở dĩ mãi cho tới bây giờ, CSVN vẫn chưa tiến hành thủ tục xác nhân thềm lục địa như vừa kể là vì thềm lục địa Việt Nam đương nhiên phủ nhận lưỡi bò của Trung Quốc. Nói rõ ra: CSVN không xác nhận lãnh hải Việt Nam chỉ vì muốn bảo vệ sự nguyên vẹn lưỡi bò Trung Quốc.

2. Tin về việc CSVN “giải phóng” Trung Quốc ra khỏi cơn túng thiếu bauxite-nhôm:

Mặc dầu cả nước ngăn cản, cả thế giới ngăn cản, CSVN vẫn một lòng trung thành với Trung Quốc đến độ mở cửa đón công nhân Trung Quốc lũ lượt vào Tây Nguyên khai thác bauxite. Công việc khai thác này để lộ ba nghịch lý lớn:

a. Trên lãnh thổ Trung Quốc, bauxite đã tàn phá môi sinh quá nặng nề. Đó là lý do khiến Trung Quốc quyết dịnh đóng cửa 100 mỏ bauxite ở Hà Nam trước khi kéo công nhân và máy móc qua Việt Nam khai thác bauxite.

b. Công ty ngoại quốc vào Việt Nam kinh doanh, phải thuê mướn công nhân Việt Nam. Đặc biệt, Trung Quốc vào Việt Nam kinh doanh lại ngang nhiên mang theo nhiều ngàn công nhân Tàu cho mỗi đơn vị kinh doanh.

c. Ngày 04/02/2009, tại Hà Nội, Nguyễn Tấn Dũng, thủ tướng CSVN mạnh mẽ cam kết: “An ninh Việt Nam vẫn được bảo đảm” trước sự kiện Trung Quốc kéo vào Tây Nguyên. Kinh nghiệm sống với CS đã dạy người Việt Nam rằng CS bao giờ cũng làm ngược lại những gì họ cam kết.

Ba nghịch lý kể trên cho thấy CSVN quyết tâm lấy đất đai của Tổ Tiên Việt Nam làm bãi rác cho người Tàu nhằm cứu Trung Quốc thoát khỏi nạn khan hiếm chất nhôm tinh luyện từ bauxite.

3. Tin về việc CSVN ra tay cứu nguy nạn thất nghiệp đang bành trướng ở Trung Quốc:

Theo tin Báo Tuổi Trẻ: Ngày 27/03/2009 Tổng Hội Xây Dựng Việt Nam có tổ chức một cuộc hội thảo chung quanh chủ đề Hoạt Động Xây Dựng Tại Việt Nam. Nhân cuộc hội thảo này, ông Trần Ngọc Hùng, Chủ tịch Tổng Hội Xây Dựng Việt Nam đã thông báo cho toàn thể tham dự viên biết các sự kiện sau đây:

a. Doanh nghiệp Trung Quốc được hỗ trợ của nhà nước Việt Nam như giảm thuế, nên giá bỏ thầu thường thấp hơn các công ty nước ngoài khác. Vì vậy, nhiều công trình trọng điểm về điện, xi măng, hóa chất đều về tay nhà thầu Trung Quốc.

b. Nhà thầu Trung Quốc thường đem theo hàng ngàn công nhân vào Việt Nam với đầy dủ trang thiết bị. Trong khi những trang thiết bị Việt Nam có thể sản xuất để bán cho Trung Quốc. Mặt khác, mỗi công trình Trung Quốc mang vào Việt Nam tối thiểu hai ngàn công nhân.

c. Trang thiết bị Tàu và công nhân Tàu đổ vào Việt Nam như kể trên đang làm “triệt tiêu nội lực” (chữ dùng trong cuộc hội thảo) kinh tế Việt Nam.

d. Năm 2007 Trung Quốc đẩy vào Phi Châu 750 ngàn công nhân hoạt động trong các lãnh vực: xây dựng, nông nghiệp, khoáng sản. Tháng 02 năm 2009 Bộ Trưởng Thương Mãi Trung Quốc nói với đài BBC rằng: Thất nghiệp là “thách thức lớn nhất” mà Trung Quốc đang đối diện.

Trong khi đó trong một báo cáo của Bộ Lao Động Thương Binh Xã Hội CSVN cho biết chỉ ba tháng đầu năm 2009 Việt Nam đã có tới 700.000 người thất nghiệp.

Sự việc CSVN tạo điều kiện để nhà thầu Tàu, công nhân Tàu với vô số nhóm 2000 người (chưa kể vợ con) tự do tung hoành trên toàn lãnh thổ Viêt cho thấy CSVN quyết tâm cứu nguy nạn thất nghiệp tại Trung Quốc. Do mải mê cứu nguy Tàu, CSVN lờ đi thảm cảnh kinh tế Việt Nam tiêu tan nội lực, dân Việt Nam đói, thợ Việt Nam thất nghiệp.

Tóm lại, bài viết này có mục tiêu nêu bật hai thái độ ứng xử của CSVN:

Thứ nhất là ứng xử đối với đồng bào Việt Nam: CSVN ban phát cho đồng bào Việt Nam hai quyền tự do không có trong nhân quyền. Đó là tự do đói và tự do thất nghiệp. Nhằm che đậy phần nào cung cách ứng xử tệ hại kia, CSVN ra lệnh cho Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam cùng với binh chủng hải quân kéo cao ngọn cờ dân tộc nay đã tả tơi. Bên dưới ngọn cờ tả tơi là tấm biểu ngữ với hàng chữ: “Quyết tâm bảo vệ từng thước núi tấc sông của tổ tiên bằng nước bọt”.

Thứ hai là ứng xử với Trung Quốc: CSVN nỗ lực tỏ lòng trung thành với Trung Quốc bằng kịch bản ba cứu: Một là cứu “Lưỡi bò” Trung Quốc không bị xé rách. Hai là cứu Trung Quốc thoát cơn khan hiếm bauxite-nhôm. Ba là cứu Trung Quốc giảm thiểu đại họa thất nghiệp.

Mang hai kiểu ứng xử kể trên đặt cạnh nhau, không ai là không nhận biết: Quả thực, chế độ Hà Nội đã và đang cực kỳ mẫn cán trong công việc cứu nước. Tuy nhiên, xin được nhấn mạnh rằng nước ở đây là nước Tàu chứ không là nước Việt Nam. CSVN chỉ biết cứu nước Tàu. Nước Việt Nam là nơi CSVN ngày càng tăng cao cường độ bóc lột và hành hạ đồng bào khốn khổ của chính họ. Mặt khác trong kịch bản ba cứu có kịch bản cứu thất nghiệp Trung Quốc là đáng chú ý nhất. Lá cờ bauxite chỉ cho phép Trung Quốc “đóng quân” ở những nơi nào có quặng bauxite. Ngọn cờ “Nhà thầu Trung Quốc trúng thầu xây dựng” mở đường cho Trung Quốc tung hoành trên khắp lãnh thổ Việt Nam.Với ngọn cờ xây dựng, Trung Quốc chia “quân” ra làm nhiều đơn vị khác nhau. Mỗi đơn vị tối thiểu 2000 người, chưa kể vợ con, tùy tiện “tiếp thu” những phần lãnh thổ trọng yếu của Việt Nam. Mỗi tiếp thu kia là một đòn chí tử làm tiêu tán nội lực của dân tộc Việt Nam. Mỗi tiếp thu kia chẳng khác nào một bọc ung thư đang nhảy cóc trên cơ thể Mẹ Việt Nam. Chừng nào những bọc ung thư quái ác vừa kể nhảy đúng vào tim, vào gan hay vào óc của Mẹ Việt Nam, Chừng đó MẸ SẼ QUA ĐỜI. Đó là tội ác, quỷ phải khóc, thần phải sầu của chế độ Hà Nội.

Đỗ Thái Nhiên



gương thành công của Quốc Gia Nghĩa Tử Nguyễn Thị Bích Yến - Đỗ Văn Phúc

    Để cho sự hy sinh của Cha Anh mình có đưọc ý nghĩa

    Giới thiệu gương thành công của Quốc Gia Nghĩa Tử Nguyễn Thị Bích Yến
Kỷ niệm 55 năm ngày mãn khoá, khoá 10 Trần Bình Trọng, Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam (01/06/1954 – 01/06/2009)

Đỗ Văn Phúc

Đại Uý Nguyễn Khắc Thi, sinh trưởng tại huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị, nơi có bà mẹ có con trai bị giặc cắt đầu đêm trước, để tở mờ sáng hôm sau đã “không nói một câu, đem khăn gói đi lấy đầu”. Trước ngày nhập ngũ, Nguyễn Khắc Thi phục vụ trong nghành công an của chính phủ Quốc Gia Việt Nam. Anh bị Việt Minh phục kích giết hụt nhiều lần. Lần nghiêm trọng nhất là anh bị chúng dùng mã tấu chặt phía sau ót tưởng đã mất mạng, để lại một vết sẹo sâu và dài. Sau khi hồi phục, anh liền tình nguyện vào khoá 10 trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt (tiền thân của trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam). Ra trường vào ngày 1 tháng 6 năm 1954, với một vạch kim tuyến vàng trên vai áo, Thiếu Úy Thi được thuyên chuyển phục vụ nhiều đơn vị trước khi về làm Đại đội trưởng Đại đội Trọng pháo 44 đóng tại Dục Mỹ khoảng năm 1960 (có lẽ là tiền thân của Tiểu đoàn Pháo Binh thuộc Sư Đoàn 23 Bộ Binh, vì lúc đó, Đại Tá Hoàng Xuân Lãm đang là Tư Lịnh Sư Đoàn 23 BB tại Ban Mê Thuột).

Đường binh nghiệp của anh Thi không được suôn sẻ lắm, nên cho đến gần cuối năm 1964, anh vẫn còn mang cấp Trung Úy, dù đã chuyển qua binh chủng Lực Lượng Đặc Biệt ưu tú, đầy hào hùng. Anh làm Trưởng một trại LLĐB cấp A tại vùng biên giới thuộc Quân Khu 4.

Trong một trận đánh và bị địch phục kích, Trung Úy Thi bị đạn vào đùi trên, nơi có các động mạch lớn và khó thể cầm máu. Trong khi chờ đợi tải thương, do máu ra nhiều, Trung Úy Nguyễn Khắc Thi đã trút hơi thở cuối cùng, hy sinh đền nợ nước.

Anh để lại một vợ trẻ, và một bầy con bảy cháu mà cháu lớn tuổi chỉ mười ba; cháu út vừa sinh chưa thấy mặt cha.

Người goá phụ, Đỗ Thị Bích Nhạn, tuổi chưa đến 30, bao năm vò võ thay chồng chăm sóc đàn con. Vì anh đi chiến trận nay đây mai đó, chị phải thuê căn nhà xập xệ trong một hẻm nhỏ lầy lội trên đường Trương Minh Giảng, Sài Gòn để ở. Lương nhà binh không đủ cho bản thân, nói chi đến gia đình đông đúc. Vì thế, chị phải xuôi ngược, mở quán, làm thêm thức ăn bỏ mối để lo cho các con.

Sau khi anh hy sinh, gia đình hoàn toàn lâm vào cảnh cùng khốn. Nhưng chị quyết không để sự hy sinh của anh thành uổng phí. Chị đã tiếp tục làm ăn khổ cực, quyết cho các con tiếp tục ăn học. Được Quân Đội cung cấp một chiếc C-47 đưa thi hài anh về quê quán tại làng Lễ Môn, quận Gio Linh chôn cất chu đáo xong, chị lăn xả ngay vào cuộc sống mới. Vừa lo sinh kế, vừa để khuây khoả nỗi mất mát lớn lao.

Năm 1965, chị được Bộ Tư Lệnh Lực Lượng Đặc Biệt giúp đỡ cho thầu Câu Lạc Bộ tại Trung Tâm Huấn Luyện Động Ba Thìn (dưới quyền Thiếu Tá Phạm Duy Tất, sau này là Đại tá Chỉ Huy Trưởng C2, rồi BĐQ vùng 2). Gia đình được cấp một căn trong Cư Xá Lê Văn Duyệt gần Bộ Tư Lệnh LLĐB tại Nha Trang. Căn bên cạnh dành cho các chị Nữ Trợ Tá Xã Hội LLĐB. Vì thế, các cháu phần nào cũng được sự săn sóc của các chị Trung Uý Nguyễn Hồng Đào, các Trung Sĩ Phan Thị Liên, Nguyễn Thị Nương, chị Thạch … Chị làm đủ nghề, ngay cả việc nhận giặt áo quần cho binh sĩ Hoa Kỳ thuộc Liên Đoàn 5 LLĐB.

Cháu đầu lòng, Nguyễn Thị Bích Yến, từ đây thay mẹ chăm sóc đàn em nheo nhóc. Có nhiều ngày, bảy chị em chỉ lót lòng chén cơm nguội chan nước mắm để đi học. Nhưng sớm ý thức hoàn cảnh của mình, nên các cháu đều chăm lo học hành.

Ba chị em đầu được nhận vào trường Trung Học Quốc Gia Nghĩa Tử tại Sài Gòn. Dù trong thời kỳ chiến tranh tàn khốc, khó khăn về kinh viện, sự săn sóc của chính phủ và Quân đội VNCH có thể nói là rất chu đáo để đến đáp lại sự hy sinh cao quý của người quân nhân.

Năm 1972, người goá phụ đảm đang đã cố gắng làm thêm việc kiếm thêm tiền, hy sinh hạnh phúc của mình để lo cho Bích Yến đi du học tại Hoa Kỳ.

Bích Yến tốt nghiệp truờng Đại Học Texas tại Austin, là một trong 10 trường đại học công lập nổi tiếng nhất tại Mỹ. Cô nhận văn bằng Kỹ sư Hoá Học năm 1977 và khởi nghiệp là công chức của City of Austin. Sau đó, cô được hãng Motorola thu dụng và làm việc tại đây cho đến ngày nay.

Ngay từ năm 1980, Bích Yến đã được công nhận về những phát minh trong kỹ thuật bán dẫn CMOS (complementary metal oxide semiconductor) cho các sản phẩm IC (integrated circuit) tiên tiến. Cô có nhiều công lớn trong việc chuyển các phát minh ra ứng dụng trong sản xuất, mà đã tạo cho Motorola một thế đứng rất cao trong việc cạnh tranh về kỹ thuật với các hãng lớn khác. Từ những năm cuối thế kỷ 20, Bích Yến đã là một trong những chuyên gia thượng thặng của hãng. Cô lãnh đạo một nhóm chuyên gia của bốn phòng nghiên cứu thí nghệm để phát triển các thành phẫm mới trong lãnh vực áp dụng kỹ thuật cấp nano (tức 1 phần ngàn của micro). Tổng cộng, Bích yến có trên 100 bằng sáng chế, va nhiều bằng sáng chế đang được cứu xét. Bích yến cũng được mời di thuyết trình về kỹ thuật bán dẫn CMOS hiện tại và trong tương lai tại các trường dạ-học và các hội nghị tại nhiều quốc gia.

Với những thành tựu đó, Bích Yến được các vinh danh và phần thưởng như sau:
    • Được đề nghị là Nữ Kỹ sư xuất sắc trong hai năm 1987 và 1989 (Nominations for the Woman Engineer of the Year)
    • Là nữ chuyên gia đầu tiên của Motorola/Freescale nhận giải Sáng Chế Xuất Sắc (Distinguished Innovation award in 1991 and Master of Innovation in 1993)
    • Được bầu vào Hội Đồng Cố Vấn Khoa Học từ năm 1992. (Motorola Science Advisory Board Associate (SABA)
    • Recipient of the High Impact Technology Award in 1997
Năm 2001, cô được trao giải cao nhất của hãng. Đó là giải Dan Noble Fellow.

Qua năm 2004, cô được chọn để trao giải Woman of Color Technology Award.

Nhưng trên tất cả những thành tựu trong nghề nghiệp, Nguyễn Bích Yến đã thành công trong việc lo cho me, các em gái và em trai vừa vượt biển, vừa theo chương trình đoàn tụ để cùng nhau đến bến bờ tự do cũng như tạo mọi điều kiện vật chất, khích lệ tinh thần cho các em tiếp tục học hành thành đạt.

Đối với Cộng Đồng, Bích Yến cùng chồng là Kỹ sư Trần Ziệp có nhiều đóng góp cho các chương trình trợ giúp những người Việt mới định cư. Cô rất sốt sắng tham gia vào nhiều công tác của các hội đoàn, nhất là các hội đoàn thiện nguyện của Phụ Nữ. Năm 1999, Ban Chấp Hành Cộng Đồng Austin đã ghi công của cô qua việc trao tặng bằng tuyên dương cá nhân xuất sắc. Vừa qua, Bích yến đã được Tạp Chí Phụ Nữ Cali phỏng vấn, giới thiệu.

Bích Yến là một tấm gương rất tốt cho các em thế hệ 1.5 và thế hệ 2; nhất là đối với các con em của các chiến sĩ Việt Nam Cộng Hoà đã hy sinh. Vì chắc chắn, nơi suối vàng, vong linh các anh hùng tử sĩ cũng hãnh diện và an lòng rằng sự hy sinh của họ cũng có nhiều ý nghĩa.

Nhân ngày Father Day năm nay, chúng tôi xin giới thiệu gương thành công của Nguyễn Thị Bích Yến làm quà kính tặng các bậc làm cha, nói chung; và các chiến sĩ VNCH nói riêng và ước mong các em, các cháu thế hệ 1.5, thế hệ 2 sẽ nghĩ đến cha anh mình mà luôn thăng tiến, thành đạt để góp sức trong cuộc đấu tranh cho tự do dân chủ sớm vãn hồi trên quê hương.

Và cũng xin dành kính tặng các cựu SVSQ Khoá 10 Trần Bình Trọng, nhân kỷ niệm 55 năm ngày quý anh mãn khoá (01/06/1954 – 01/06/2009) để tưởng nhớ đến một đồng môn của quý anh: cố Đại Úy Nguyễn Khắc Thi.

Đỗ Văn Phúc


Từ Công An Nhân Dân Đến Điện Báo Tin Paris - Kim Dung


Kim Dung

Thiên hạ kháo với nhau rằng đòn thù của những người thù với ta không đau bằng những đòn thù của những người trước đây là bạn của ta … quả không sai một chút nào. Ít nhất là không sai trong trường hợp tờ điện báo Tin Paris của ông Hứa Vạng Thọ.

Nói theo một cách khác, điện báo Tin Paris đã chứng minh câu nói đó rất ư là hùng hồn qua bài viết “phong trào kháng chiến chống giặc Tàu tại gia” - nguyên văn - cố tình đả kích thầy Quảng Độ không thương tiếc. Đau thay, qua văn phong đến cách lý luận của bài đả kích này, nếu có thể gọi đó là văn phong và lý luận, chúng ta chỉ thấy được những làn hơi đứt khoảng, những ý tưởng vụn vặt, những tâm tư thù hận.

Bài viết không mạch lạc đã đành mà cũng không trôi chảy để tải được ý. Cố hiểu lắm cũng không thể hiểu tại sao tác giả lại đả kích Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ, và đả kích vì lý do gì.

Chỉ biết tác giả cố tình đả kích và đả kích rất thù hận, hỗn xược. Thế thôi!

Ước gì đọc giả hiểu rõ tại sao họ phang … ngang như vậy. Đồng ý hay không lại là chuyện khác, nhưng ít ra khi cho đăng một bài đả kích, nhất là đả kích hận thù như vậy, nhóm chủ trương nên giữ lấy lề, và kính trọng đọc giả, họ không thể làm rộng đường dư luận rất ư là trái mùa qua một bài viết hoàn toàn bất chấp cú pháp. Nói nào ngay văn phong của bài đả kích này thua xa bài báo được đăng trên trang Công An Việt Cộng, vô tình hay cố ý, cũng được tung ra trong cùng một thời gian để đả kích ngài Thích Quảng Độ. Như họ!

Điện báo Tin Paris và báo Công An Nhân Dân cùng một thời điểm mạ lỵ Đại Lão Thích Quảng Độ không tiếc lời.

Và nói nào ngay, bài báo của Công An Việt Cộng đã nêu lý do, họ phân định rõ ràng đâu là bạn, đâu là thù, lằn ranh Quốc và Cộng với họ bao giờ cũng đậm nét. Còn nhóm chủ trương Tin Paris thì ngược lại. Họ chỉ đả kích và đả kích, ngoài ra không có gì là rõ ràng, kể cả lằn ranh Quốc và Cộng. Tất cả chỉ mờ mờ nhân ảo.

Việt Cộng phân định chúng ta rất là rõ ràng, còn nhóm chủ trương Tin Paris đã phân biệt ai là bạn, ai là thù sau 34 năm làm người mất nước, mất quê hương?

Với lối chống Cộng của họ, xin hỏi, đã giúp gì trong công cuộc chung qua do sự phân biệt đục ngầu, qua lập trường cứ thay đổi với tốc độ chóng mặt hơn cả mức lên xuống của nền chứng khoán ở Mỹ.

Khi bênh, khi chống, hay gặp ai cũng chống, làm gì cũng đả kích là cách chống Cộng hữu hiệu nhất mà họ chọn hay sao?

Đại Lão Hòa Thượng Quảng Độ đã chống đối mãnh liệt, can đảm ngay trong lòng của địch, từ lúc nhóm chủ trương Tin Paris mới co giò bỏ chạy, đang cố an thân, hoàn hồn trong bối cảnh đầy dẫy thịt và rượu bên kia phương trời Tây. Ngài đòi hỏi Tự Do Dân Chủ - Tự Do Tôn Giáo cho một nước Việt Nam lạc hậu thụt lùi so với các nước Á Châu trong vùng.

Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ vì dân tộc, vì quê hương. Ngày nào Việt Nam còn quốc nạn và pháp nạn, ngày ấy ngài Quảng Độ còn tiếp tục đấu tranh, không thay đổi. Và chúng ta, những con dân nước Việt may mắn được tạm cư trên những bến bờ tự do, trong đó có nhóm chủ trương Tin Paris, sau khi hoàn hồn, có quyền thay đổi, ngay cả phản bội để quay qua chống luôn những người đã và đang bỏ thân ra để đấu tranh cho quê hương, cho dân tộc.

Dù đồng ý hay không với phương cách của Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ, chúng ta cũng phải công nhận rằng ngài chống nhà cầm quyền trực diện, suốt hơn 30 năm qua. Bởi vậy, với tư cách của một con dân nước Việt, nếu còn chút liêm sĩ và tự trọng, chúng ta phải kính trọng ngài. Nhóm chủ trương Tin Paris ở bên này trời với chăn êm nệm ấm, quấn thêm vào người cả trăm thứ bảo đảm thêm cho tự do, nhân quyền nơi họ đang sinh sống, họ có quyền gì đả kích ngài, hỗn xược với ngài?

Nhóm chủ trương Tin Paris khoan cho là họ hay vì người tài nước chúng ta không thiếu. Hãy chứng minh với mọi người rằng họ có lòng, và can đảm đủ để làm 1/1000 những gì ngài đã làm, và làm rất âm thầm trước khi chúng ta ở hải ngoại biết về ngài, sửng sốt, kinh ngạc, và thán phục về sự quả cảm, coi thường cái chết của ngài.

Và cuối cùng, nhóm chủ trương Tin Paris khoan cho là họ hay trong khi họ đã không đưa ra một phương cách gì để bổ sung vào, hay thay thế phương cách của ngài Thích Quảng Độ.

Tin Paris đừng làm người cứ đi bên cạnh cuộc đời và cứ chỏ miệng chưởi bới, đả kích thiếu xây dựng. Hãy chứng minh với mọi người rằng họ có ý thức tập thể để đoàn kết, ý thức chính trị để hợp quần, trong một cuộc chiến mà phe Quốc gia đã có lắm điều thua thiệt.

Đấu tranh chỉ có thắng hay bại, chứ đấu tranh tự nó không khó. Có điều, đấu tranh chung với nhóm người cứ ra vẻ đấu tranh để mượn thế gây chia rẽ, đả kích 10 phương 8 hướng, từ Quốc cho đến Cộng, như nhóm chủ trương Tin Paris, mới khó.

Kim Dung


Monday, May 18, 2009

TRẦN THANH: LÝ VÀ TÌNH - Bảo quốc Kiếm


Bảo quốc Kiếm

Hôm qua, nhân đọc được bài viết của Tiến sỹ Trần Thanh, được giới thiệu bởi ông Chủ diễn đàn Tinparis.net thật lâm ly, bi thiết. Do quá cảm động, tôi đã ghi vội vài lời đúng theo ngữ ngôn mà Trần Thanh đã dùng trong bài viết ấy. Hôm nay, vui vẻ hơn, tôi muốn cùng nhau tìm ra những Tình và Lý mà ông Tiến sỹ này đã dạy.

Nông dân tôi bản chất thật thà, chất phác. Và rồi do sự đẩy đưa của số phận kém hèn, tôi đã nhiễm những sắc tố của chợ búa và du côn. Như trong các bài trước tôi đã viết, thật sự tôi đã được sự giúp đỡ của mấy thím, mấy chị bán cá trong chợ Đông ba Huế. Tôi cũng được thương yêu bởi những tay anh chị trong các băng đảng. Từ các Đại ca Hoàng minh Giám, Lê văn Cón, đến Vĩnh vẽ, Vĩnh đồng hồ, Luạ bạch đằng, Quỳnh Đào duy từ, Lân Kim long ….; thậm chí cả hai anh Trọng và Phú tại Phủ cam cũng thương luôn.

Kể như vậy để làm gì ? Để thưa rằng, trong sự hiền hoà chất phác của nông dân, những ảnh hưởng xã hội cũng đã giúp tôi tự đứng vững trước những vô vàn bão táp. Nhắc lại cũng để nói lên lời cám ơn với họ trong chặng đường còn lại của cuộc đời. Nhưng đều quan trọng hơn hết đối với tôi, là từ nơi họ, tôi nhận ra mấy điểm chính:

1. Sai khác chính là sự sống. Sai khác không phải hủy diệt nhau.

Đây chỉ là một cảm niệm thấp kém trước thiên sai vạn biệt của cuộc đời. Nhờ vào chút suy tư này tôi bình thản trước mọi bất đồng. Tự nghĩ rằng, nếu không có a hẳn không có b, và ngược lại. Nhờ sự tương tác của a và b mà hoạt cảnh trần gian mới có. Nói cách khác, sự sống là một va chạm như các nhà khoa học nói chuyện Bigbang.

2. Sự quyền biến để đi tìm sự sống được thể hiện qua ba dạng của tâm thức, mà tôi tạm gọi là khẩu thuyết, thân hành và trí lự. Điều này xảy ra khi mà tôi có một cảm giác rất vui để nhìn hai ba bà bán cá tranh nhau, chửi nhau, nói dóc, nói láo. Cái nghề của họ toàn nhờ nơi cửa miệng. Cái dạng này phổ biến cùng khắp, chỉ khác nhau ở “tấm lá chắn”. Qua những năm dài trong tù, tôi cũng chứng nghiệm với các bậc phụ mẫu chi dân, khoa bảng y chang.

3. Do sự sống đa dạng, nên mỗi cảnh giới con người sẽ tự tìm sự phù hợp cho mình. Nếu như những người chợ búa dùng khẩu thuyết làm chuẩn, thì nơi các băng đảng không cần chuyện này. Với họ, một chữ ĐỤC là xong mọi chuyện. Gọn gàng, nhanh chóng vô vùng.

4. Thế nhưng, đối với giới gọi là khoa bảng chắc phải khác, bởi vì nó là trí lự. Tôi chưa thể mon men đến cửa này, nên không hiểu rõ lắm. Nhưng do hai cảnh giới trên, tôi có thể nhận ra cảnh giới này dễ dàng. Cái đó gọi là “kinh nghiệm nông dân”. Và từ kinh nghiệm này, cho tôi những phương cách hữu hiệu nhất khi cần để giải quyết vấn đề.

Vì vậy, không phải vô cớ bắt quý vị nghe một chuyện tào lao. Ngược lại, đây là căn bản tri thức của tôi trong chuyện đi tìm cái Tình và cái Lý qua bài “Một vài nhận định về Lời Kêu Gọi "bất tuân dân sự" của hòa thượng Thích Quảng Ðộ” của Trần Thanh. Vì vậy, nếu Tiến sỹ Trần Thanh bước vào cảnh giới nào của ông, thì tôi cũng “hoá thân” vào đó để ứng xử cho phù hợp. Tôi sẽ lần theo từng câu của Trần Thanh để xem sao. Mở đầu, ông ta viết:

“Ngày 29/3/2009 vừa qua, hòa thượng Thích Quảng Ðộ trong nước đã ra Lời Kêu Gọi "một tháng biểu tình tại gia để chống việc lấy vàng dân tộc đổi nhôm nước ngoài".

Xin quý vị lưu ý đến cái tựa đề. Mục đích của việc biểu tình chỉ nhằm để chống lại việc khai thác quặng mỏ bô-xít (chống Trung Cộng). Như vậy không phải là chống cộng sản. Mục đích của việc chống cộng của chúng ta là phải hủy diệt cái chế độ đó chớ không phải công nhận nó vẫn tiếp tục tồn tại và chỉ yêu cầu nó "sửa sai". Lời Kêu Gọi của Thích Quảng Ðộ chính là một cạm bẫy”.

Nhưng sau đó, ông Thanh lại viết:

” Mệnh đề hai: - Việt gian cộng sản chính là nguồn gốc gây ra trăm ngàn tai họa cho đất nước, kể cả việc rước voi Trung Cộng về giày xéo mả tổ. Sở dĩ Trung Cộng xâm chiếm hải đảo Hoàng-Trường Sa và công khai ra vào nước ta như đi chợ để khai thác mỏ là vì bọn chó việt gian cộng sản đã tự nguyện mở cửa dâng hiến. Chúng ta đánh là phải đánh vào cái gốc chớ không đánh vào cái ngọn. Nếu triệt được cái gốc thì cái ngọn sẽ tự nhiên chết”.

Xin thưa trước rằng, là một nông dân thiếu học, tôi không có tham vọng giải thích bản văn của Đại lão Hoà thượng Thích quảng Độ. Việc ấy thuộc quyền các ngài trong Văn phòng II Viện hoá đạo. Nhưng vì phải luận thử với Trần Thanh, nên tôi xin phép mạo muội trình bày chút ngu ý khi đọc câu: ”Xin lưu ý đến cái tựa đề. Mục đích của việc biểu tình chỉ nhằm để chống lại việc khai thác quặng mỏ bô xít (chống Trung cộng). Như vậy không phải là chống Cộng sản”.

Vâng, từ cái tựa đề: ”Lấy vàng Dân tộc đổi nhôm nước ngoài”. Đó chính là chỗ tôi tâm đắc nhất. Xin phép đưa ra vài suy nghĩ nhỏ của riêng tôi, xem sao.

Cái gì là VÀNG DÂN TỘC ?

Theo thiển ý, vàng Dân tộc bao gồm:
- Đồng bào Việt nam
- Văn hiến Việt nam
- Tổ quốc Việt nam

Thế thì, khi Cộng sản cho phép bọn “giặc thù truyền kiếp” khai thác quặng mỏ tại Cao nguyên Trung phần, tức là chúng đã bán đứng Đồng bào, Văn hiến và Tổ quốc Việt nam. Đại lão Hoà thượng Thích quảng Độ đã vận dụng toàn tâm của một người con dân Lạc Việt, cất cao tiếng gọi khi Tổ quốc bị lâm nguy, Văn hiến bị xâm thực, Đồng bào bị xâm phạm. Thế thì ngài có lỗi chăng ? Chúng ta thử lần lượt xét một vài ảnh hưởng đối vớì BA THỨ VÀNG trên đây xem sao:

a. Đối với Đồng bào:

Như nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước đã lên tiếng, trong đó có cả những “lão thành Cộng sản” đã quyết liệt vạch rõ những nguy hiểm về môi trường, an ninh do hậu quả khai thác Bô xít, tôi không cần lập lại. Bên cạnh đó, với một diện tích nhỏ bé, dân số đông đảo, thì việc để cho Trung cộng “toàn quyền khai thác” là một tính toán đần độn. Trong lúc đồng bào đang thất nghiệp, đói nghèo, thì dù cho bất cứ ai đấu thầu trên đất nước mình, việc tất yếu là phải sử dụng công nhân sở tại. Các chuyên viên cao cấp thuộc ngành cũng phải giới hạn ở mức độ 1/3. Còn công nhân thường thì người nhà phải ít nhất là 90%. Có như thế, thì việc mở mang kinh tế mới có ý nghĩa đối với đồng bào mình. Do đó, khi thấy cho phép “toàn quyền khai thác”, thì ai cũng có thể hiểu ngay rằng đấy không phải là thuần vấn đề kinh tế. Nhận thức được nguy biến thầm lặng ấy, Hoà thượng Thích quảng Độ mới chính thức lên tiếng.

b. Đối với Văn hiến Việt.

Không cần phải dài dòng giải thích, ai cũng biết được rằng, chính “Trung hoa thiên triều” đã cộng nhận “Việt nam văn hiến chi bang”, nghĩa là chúng ta có một nền văn minh Lạc Việt độc lập, một nền văn hoá tự chủ, một truyền thống chống ngoại xâm oanh liệt nhất hoàn cầu. Nói như thế không phải tự khoe, mà trong thực tế, không những “thiên triều Trung hoa” đã chịu thảm bại sau gần ngàn năm đô hộ, mà cả “Nguyên Mông bất bại”, “Tây độc vô địch” đã phải chào thua “một” Dân tộc nhỏ bé này. Vậy thì ngày nay, Cộng sản Việt nam tự dâng hiến biển trời, nay còn dâng cả cửa ngỏ Tam biên cho Tàu cộng, không phải là làm nhục Văn hiến Việt hay sao ? Cảnh báo của Hoà thượng Thích quảng Độ như vậy là hoà hợp với Cộng sản sao ?

3. Đối với Tổ quốc Việt nam:

Khởi đi từ Tổ tông Lạc Việt, qua các đời Hùng vương, rồi truyền thừa cho đến ngày nay, Dân tộc chúng ta đã đổ biết bao xương máu để gầy dựng non sông Việt nam. Một tấc đất là một tấc máu. Chính vì có một địa lý thuận lợi ở biển Đông, nên Việt nam đã trở thành con mồi của mọi kẻ bá quyền trên thế giới, mà trực tiếp là quân thù phương Bắc. Nhưng tham vọng của Bắc tà, Tây độc … đều chịu thảm bại. Đến giai đoạn hiện đại, con Rắn Thần đã biến hoá thành Chủ nghĩa Cộng sản để chia đôi thế giới bằng cuộc chiến tranh bạo lực độc ác nhất. Thảm thương thay, đất nước Việt lại sinh ra loài Rắn con mang lấy họ Hồ, họ …. để thực hiện một cuộc tương tàn tương sát trong dòng máu Lạc Việt. Vẫn tiếng nói, vẫn làn da, vẫn mái tóc, vẫn màu mắt … rất Việt nam; nhưng linh hồn chúng đã thuộc về ác quỷ. Do vậy, khi bàn tay nhuộm máu anh em, thì chúng vui cười thoải mái, hãnh diện kể công; mà đặc biệt phối hợp là thảm sát Mậu thân 1968. Mà tội khổ nhất là chúng đang tâm bán đứng Tổ quốc mình một cách không thương tiếc. Từ Hồ chí Minh, Phạm văn Đồng … nay đến Nông (Hồ) đức Mạnh, Nguyễn tấn Dũng … đang cúi đầu dâng hiến đất Tổ cho Tàu cộng. Đây là mối nhục không thể im lặng. Thế nhưng trước cường quyền vô đạo đang thống trị trên quê hương, lại được những tên “cai thầu chiến tranh hoàn vũ” đưa tay nâng đỡ để “đôi bên cùng hưởng lợi”, thì sự phản kháng không còn dễ như xưa. Cái văn hoá “duy vật Tây phương” thực sự đang khống chế đa phần lớp trẻ. Vì vậy, cuộc đấu tranh này không dễ chút nào. Cái khẩu hiệu cũ rích”Theo Đảng có gạo mà ăn” không những thâm nhập ở trong nước, mà tệ hại hơn chúng lại xâm nhập mạnh vào những tay “khoa bảng áo cơm” tại hải ngoại. Chính vì vậy, khi tiếng nói phát ra từ tâm huyết của một người thương nòi tiếc giống bị chúng hùa nhau nguyền rủa. Đó là niềm đau Tổ quốc. Ảnh hưởng khai thác Bô xít Tây nguyên không nằm trong vòng kinh tế, mà thực sự là một âm mưu chính trị rất nguy hiểm. Chính vì chỗ này mà Hoà thượng Thích quảng Độ phải lên tiếng báo động. Vậy ngài là Cộng sản chăng ?

Để có thể hiểu rõ luận cứ của Trần Thanh, Hứa vạn Thọ, Trưong minh Hoà, Trần lệ Nhân …. chúng ta nhận rõ quan điểm đổi chiều của chúng trong việc viết mấy chữ “việt gian cộng sản”. Như mọi người đều biết, chủ nghĩa Cộng sản phát đi từ Tây phương, mà người đứng đầu chính danh là Karl Marx, Lênin của nước Nga lại “vận dụng”, và Mao trạch Đông của Trung hoa lại mù loà thêm thắt. Chính vì vậy mà Hồ chí Minh đã khuyên đảng Cộng sản rằng: ”Chúng ta đi theo chủ nghĩa Mác Lênin, và tư tưởng Mao trạch Đông”. Điều ấy mang ý nghĩa gì ? Đó là một sự “xỏ lá”, vì thực sự Hồ chí Minh phục vụ cho một mưu đồ khác. Tôi nói như vậy, vì xét cho tận cùng thì giữa Mác, Lênin và Mao trạch Đông hoàn toàn không giống nhau cả lý thuyết lẫn thực tế. Hồ chí minh cũng không giống cả ba. Chuyện này sẽ trình bày riêng.

Có một điều hơi giống nhau giữa ba tên Lênin, Mao trạch Đông và Hồ chí Minh, đó là ĐẠI ÁC. Và đa số đồng bào chúng ta cũng nhận ra Cộng sản chính là ở chỗ này. Thế nhưng, nay nhóm người này chỉ gọi Cộng sản Việt nam bằng hai chữ VIỆT GIAN. Trong giới hạn của từ này, nghĩa là Cộng sản chỉ mang tội bán nước, chứ tất cả tội ác diệt chủng, làm suy đồi văn hoá, diệt tinh thần Dân tôc, đầu độc các thế hệ tương lai, buôn bán phụ nữ, trẻ em …. chúng đều THA hết. Đây là một âm mưu THA TỘI cho Cộng sản sau khi chúng đã tiêu diệt văn hoá Việt nam. Chuyện này mới xảy ra mấy năm gần đây. Do chỗ này, tôi nhận ra ngay những ngôn từ “mất dạy” của chúng khi viết, khi nói trên hệ thống Paltalk. Nền văn hoá VÔ TỔ QUỐC, PHI DÂN TỘC, PHẢN VĂN HOÁ VIỆT được âm thầm tái dựng sau mấy trăm năm bị lãng quên !!! Tại sao bọn chúng thực hiện âm mưu này ? Bởi vì, tất cả tội ác vừa nêu đều làm lợi cho chúng, và tội bán nước không liên quan đến linh hồn chúng ! Thậm nguy.

Căn cứ trên thực tế, Hồ chí Minh nhận tư tưởng Mao làm chủ đạo chiến lược, thế thì chống Trung cộng, tức chống chủ nghĩa Mao, tức chống tư tưởng Cộng sản Việt nam. Thế thì, Trần Thanh nói rằng “chỉ nhằm để chống lại việc khai thác quặng mỏ bô-xít (chống Trung Cộng). Như vậy không phải là chống cộng sản” , đúng hay sai ?

Để dễ dàng nhận diện, xin đọc thêm câu này:

“Chúng ta đánh là phải đánh vào cái gốc chớ không đánh vào cái ngọn. Nếu triệt được cái gốc thì cái ngọn sẽ tự nhiên chết”.

Kết hợp hai câu trên lại với nhau, thì bộ mặt Tàu phù cộng Hán lộ ra ngay. Ông bảo rằng đánh thì phải đánh cái GỐC. Nhưng GỐC LÀ TƯ TƯỞNG. Vậy thì ĐÁNH VÀO TRUNG CỘNG, ĐÁNH VÀO TƯ TƯỞNG MAO, tức là đánh vào GỐC, sao ông lại bảo “không phải là chống Cộng” ? Nếu như Trần Thanh không cho TƯ TƯỞNG LÀ GỐC CỦA MỌI THIỆN ÁC, thì Trần Thanh tự sắp mình vào cảnh giới bàng sanh sao ? Ngược lại CÔNG NHẬN TƯ TƯỞNG LÀ GỐC CỦA MỌI VẤN ĐỀ, thì ĐÁNH TƯ TƯỞNG MAO, ĐÁNH TRUNG CỘNG TỨC CHỐNG CỘNG VẬY. Mấy chú khoa bảng nghĩ sao ?

Bây giờ thêm chút mắm muối nông dân cho vui nhộn bà con trước câu nói: ”Nếu triệt được cái gốc thì cái ngọn tự nhiên chết”. Thoạt nghe thì thiệt là khoa bảng, triết lý, chính trị thứ thiệt đấy. Nhưng với bản nông dân thì hổng trúng vào đâu. Xin đưa một vài thí dụ cụ thể đồng quê để bà con rửa tai. Không những ở tại Việt nam hồi còn nghèo khó, mà ngày nay, bản nông dân đang ở vùng cao nguyên nước Mỹ Văn minh hiện đại đây, hàng ngày đi làm về, và dĩ nhiên là trong mùa vụ thôi, tớ vẫn thấy những chiếc máy bay xịt thuốc cỏ. Tớ đã có lần xuống ruộng xem coi, lúa của họ không có một cây cỏ dại nào. Thậm chí những ruộng trồng cỏ, lại không có cỏ hoang mọc được. Đố Tiến sỹ Trần Thanh làm sao thấy cái khu chổng mông nhổ cỏ nào. Ngay tại Việt nam ngày nay, người nông dân cũng không đưa tay nhổ cỏ bao giờ, bởi vì họ đã có hoá chất diệt cỏ. Lại đố Trần Thanh trưng dẫn một ai đó, dù chỉ một người thôi; nhổ cỏ lên rồi mới xịt thuốc vào rễ. Nếu dẫn được, tớ nằm xuống cho Trần Thanh tùy ý. Dui hông nào ?

Nói như vậy để biết rằng lý luận của Trần Thanh là thứ lý luận cù nhầy, vô căn cứ, không căn bản, thiếu thực tế, phi thực tại, hàm hồ, cục bộ, phi khoa học, phản tiến bộ. Rõ ràng ông Tiến sỹ này và cả nhóm khoa bảng ấy “chưa học khoa học thường thức lớp ba”. Nếu đã học rồi thì phải biết rằng: ”Cây gồm có THÂN RỄ VÀ LÁ. Rễ lấy dưỡng chất trong đất nuôi thân, lá lấy dưỡng khí nuôi thân”. Chính vì vậy, lá cũng rất quan trọng; bởi vì khi nó không đem dưỡng khí mà đem tử khí vô cho thân thì thân phải chết. Chỉ nói ngắn gọn cho vui như vậy, nhưng chính chỗ này người ta mới chế ra thuốc diệt cỏ. Không cần phải bứng gốc thì cây mới chết, người ta chỉ xịt vào lá mà thôi cũng đủ chết mẹ hết rồi. Phải không Trần Thanh, Hứa vạn Thọ … ? Nếu cải được cứ cải, không sao. Hì hì …

Tôi tự nghĩ, cũng từ những nhận định thực tế như vậy, Đại lão Hoà thượng Thích quảng Độ mới kêu gọi BIỂU TÌNH TẠI GIA. Đây chỉ là một hình thức mang tính vô tướng vô tác trước cường quyền bạo lực man rợ nhất trần gian. Hình thức ấy giống như bóng chiếc máy bay ngang qua đồng ruộng, không lưu lại hình ảnh nào. Nhưng chính làn sương nhẹ phun ra sẽ làm sạch cỏ dại, để ruộng lúa Dân tộc sinh sôi, nẩy nở. Ngài là người đã đã chứng kiến những thảm cảnh thầy tổ bị chém giết ngay trước mắt, thấy đồng bào chịu bao khổ đau đày đoạ. Chính bản thân ngài bị vào tù ra tội, quản chế cho đến lúc này. Thế mà những cái mõm kia dám bảo rằng ngài là Cộng sản, thì chúng ta biết ngay chúng là ai. Do kinh nghiệm bản thân và thấy rõ thực tại của đồng bào và bộ mặt nhem nhuốc của những bàn tay phù thủy quốc tế, nên ngài chỉ kêu gọi làm một hành động nhỏ để tự thức tỉnh lương tâm người Việt trước cơn quốc phá gia vong. Tôi nghĩ, ngài biết rõ điều ấy có thể xảy ra hay không. Nhưng việc thành bại của lời kêu gọi ấy không nhằm vào việc phải hành động, mà chỉ nhằm vào thức tỉnh lương tâm của người Việt trong và ngoài nước, cũng như quốc tế.

Đối với kẻ bạo ác, thì đó là một việc vô bổ, vì không chém giết được ai. Nhưng đối với một nhà tu hành Phật giáo, thì việc cần thiết nhất là giữ gìn tuệ giác. Nói một cách thực tế là làm thế nào để đồng bào mình phải cảnh giác trước âm mưu bán nước của kẻ cầm quyền. Một khi mọi người, trong đó có cả những người đang ở trong hệ thống cai trị tỉnh thức, tự họ sẽ tìm con đường giải cứu quê hương. Ngài không phải là một nhà chính trị, ngài không mơ ước làm chính trị, và tôn giáo mà ngài theo không chủ trương làm chính trị như các tôn giáo khác. Nhưng đạo Phật với tâm nguyện báo Tứ trọng ân, buộc ngài phải lên tiếng. Phải có một thái độ chính trị, vì ngài là con dân Lạc Việt, là tu sỹ của một tôn giáo luôn luôn gắn chặt với Dân tộc của mình.

Từ những cảm nhận như thế, tôi thấy những con rắn con vung lời thô bỉ “tự sướng ở trong quần”, thì tôi biết ngay mặt thật bọn “văn hoá chó trâu” của ba ngàn năm trước, chứ ai khác. Đừng hòng lấp liếm, đừng giở trò mất dạy, đừng tưởng không ai dám đụng đến bầy Rắn con. Trước lưỡi kiếm ta, bây không thể nào biến hoá được đâu. Thượng vàng hạ cám ta chơi tuốt. Dui hông ???

Trở lại với vấn đề “triệt cái gốc” của Trần Thanh, tôi thấy anh này hình như man man. Khi nói đến nhổ một cái gốc, thì người ta phải biết gốc gì, ở đâu, có ai bảo quản, rễ loại gì …., chứ không phải gốc nào giống gốc nấy đâu chú bé ạ. Đơn giản nhất là chú muốn nhổ một bụi cỏ, chú phải biết đó là loại cỏ gì, rễ mọc sâu hay cạn. Phải quan sát chung quanh nó hay ở ngay trên bụi cỏ có ong ve gì không, có ai bảo hộ nó không. Chứ tự nhiên chú lao đầu vô mà nhổ, thì đừng nói ông chủ bụi cỏ đánh chết mẹ chú, mà bầy ong ở đó cắn chú cũng sưng đầu. Cũng thế, muốn bứng gốc Cộng sản, thì chú phải biết Chủ nghĩa Cộng sản là gì, do ai sáng lập. Chủ nghĩa ấy luận lý thế nào, căn cứ vào đâu.

Vậy, để chứng tỏ là những nhà chống Cộng thứ thiệt, Trần Thanh và nhóm của ông thử trả lời vài câu hỏi sau đây xem sao:

1. Căn cứ vào cái gì mà Karl Marx viết Tuyên ngôn Cộng sản ?
2. Tại sao mấy mươi năm sau thì Tư bản luận mới ra đời ?
3. Những chính sách ác độc nhất như: Toàn dân tay trắng(vô sản), giết lầm hơn bỏ sót, Trí phú địa hào đào tận gốc trốc tận rễ, đấu tố ông bà cha mẹ, anh em, chính sách ngu để trị … từ đâu mà ra ?
4. Nhờ ai mà chú bé Nguyễn tất Thành trở nên sáng lập viên đảng Cộng sản Pháp và trở thành lãnh tụ Cộng sản Việt nam ?
5. Tại sao Cộng sản được nhận được cả nước Việt nam ?
Tàm tạm trả lời được 5 câu ấy, thì hãy khoe mỏ chống Cộng. Tớ thách đấy. Chờ tiếp nhé.

Bảo Quốc Kiếm
18-05-09