Saturday, May 16, 2009

Đại Lễ Phật Đản Phật Lịch 2553 tại Chùa Điều Ngự - California

Đoàn Thiếu Nữ Chùa Điều Ngự hát mừng Phật Đản

VĂN PHÒNG II VIỆN HÓA ĐẠO HPGVN HẢI NGOẠI TẠI HOA KỲ
CHÙA ĐIỀU NGỰ

Vì đại nguyện cứu độ muôn loài nơi trần thế, Bậc Đại Giác Thế Tôn đã thị hiện đản sanh. Văn Phòng II Viện Hoá Đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống nhất Hải Ngoại tại Hoa Kỳ/Chùa Điều Ngự đã long trọng tổ chức Đại Lễ Phật Đản Pl.2553 vào lúc 1:30 pm ngày Chủ nhật 10.5.2009 nhằm ngày 16 tháng 4 năm Kỷ Sửu.

Mặc dầu Trời nắng gắt nhưng đến 1 giờ trưa Đồng bào Phật Tử và Quan khách đã vân tập về Chùa đông đảo để viếng cảnh và lễ Phật trong Vườn Lâm Ty Ni với cây cảnh xanh tươi, nước phun mát mẽ qua hoạt cảnh Phật giáng trần với bảy bước hoa sen xinh đẹp. Đúng 1giờ 30 hội trường đã đông đảo,Pháp Sư Thích Giác Đức đăng đàn giảng một thời Pháp ngắn gọn. Sau đó là ba hồi chuông trống bát nhã cung nghinh Xá Lợi Phật, Phật Đản sanh và cung thỉnh Chư Tôn Đức Giáo Phẩm quang lâm lễ Đài.

Buổi lễ hôm nay được sự chúng minh của Đức Phó Tăng Thống Đại Lão Hoà Thượng Thích Hộ Giác, Đại Lão Hoà Thượng Phó Viện Trưởng Viện Hoá Đạo Thích Chánh Lạc, Pháp Sư Niên Trưởng Thích Giác Đức Tổng Ủy viên Kế Hoạch cùng đông đảo Chư Tôn Hoà Thượng Thượng Toạ Đại Đức Tăng Ni trong Hội Đồng Điều hành Văn Phòng II Viện Hoá Đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại Hoa Kỳ và hơn 150 Chư Tăng các Giáo Hội Nhật Bản, Nam Hàn, Hoa Kỳ, Thái Lan, Tây Tạng, Miến Điện,Đài Loan, Tích Lan, Lào, Cam Bốt và Ông Đại Sứ Phó Chủ Tịch Hội Liên Hữu Phật Giáo Thế giới tham dự.

hần quan khách có Ông Loucorea Nghị sĩ Tiểu bang California, Dân Biểu Tiểu Bang Trần Thái Văn, Phó Thị Trưởng Thành phố Westminster Tạ Đức Trí, Ông Contres Ủy viên Giáo dục Học Khu Westminster và nhiều vị khác.

Về Quan khách Việt Nam có Quí Vị đại diện các Tôn Giáo bạn như Công Giáo, Tin Lành, Phật Giáo Hoà Hảo v.v.. Quí Vị Cựu Tướng Lãnh, Sĩ quan cao cấp, Trung Cấp, Quí Vị Cựu Nghị sĩ, Dân Biểu, Nhân sĩ Trí thức, các Tổ chức Đòan thể, Chính Đảng, Các Cơ quan truyền thông báo chí và đồng bào Phật Tử các giới đông nghẹt cả hội trường . Sau nghi thức thường lệ, Thượng Tọa Thích Viên Lý Trưởng ban Tổ chức đã lên máy vi âm đọc diễn văn khai mạc, tiếp theo là Đạo từ của Đức Phó Tăng Thống Thích Hộ Giác , sau đó Hoà Thượng Thích Chánh Lạc tuyên đọc Thông Điệp Phật Đản 2553 của Hội Đồng Lưỡng Viện GHPGVNTN, kế tiếp là phần phát biểu của Ông Đại Sứ Phó Chủ Tịch Hội Liên Hữu Phật Giáo Thế Giới , phát biểu của Thượng nghị sĩ Tiểu bang Loucorea và Dân biểu Tiểu bang Trần thái Văn cùng có nội dung chào mừng Đại Lễ và nổ lực yểm trợ công cuộc đấu tranh giải trừ Pháp nạn và Quốc nạn mà Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống nhất do Đại Lão Hoà Thượng Thích Quảng Độ lãnh đạo. Thượng nghị sĩ Loucorea cũng đã đai diện Thượng Viện Tiểu bang California trao tặng văn phòng II Viện Hoá Đạo một bằng khen ngợi sự đóng góp về mặt tôn giáo cho Xã Hội. Sau đó Phó Thị Trưởng Tạ Đức Trí thay mặt Hội Đồng Thành phố Westminster lên phát biểu và đã trao tặng cho Thượng Tọa Trưởng Ban Tổ chức một bằng tưởng lục khen ngợi Chùa Điều Ngự đã góp phần phát triển văn hoá trong thành phố Westminster.

Cũng cần nên biết trước ngày cử hành Đại Lễ từ Văn phòng Tổng Thống OBAMA có gọi điện thoại đến Văn Phòng II Viện Hoá Đạo cho biết vì đang bận đối phó với tình trạng kinh tế suy thoái nên Tổng Thống chưa thể gởi thông điệp Phật Đản đến Đại lễ của Giáo Hội , hy vọng năm tới chúng ta sẽ có thông điệp của Tổng Thống Hoa Kỳ. Tiếp theo chương trình là phần cung thỉnh 15 Chư Tôn Đức Giáo Phẩm Việt Nam và Ngoại Quốc cùng mời 15 vị Quan Khách Chính quyền, Dân Cử và Nhân Sĩ Phật Giáo mỗi vị thắp một ngọn nến Chánh Pháp và tự cắm lên hai giàn nến để cầu nguyện cho Thế giới hoà bình, lảnh thổ lãnh hải Việt Nam được bảo tồn nguyên vẹn.

Sau đó nghi thức Đản sanh đã diễn ra thật trang nghiêm cả hai truyền thống Nam, Bắc Tông cùng thực hiện lễ Mộc Dục (tắm Phật) và lễ Phóng sanh.

Hôm nay cũng là ngày lễ Mẹ nên Đoàn Phật Tử Chùa Diệu Pháp cùng Ban Tổ chức đã thân kính trao đến năm Cụ Bà Cao niên nhất có tuổi thọ từ 87,86,85,84, 83 mỗi Cụ một bó hoa tươi thắm với lời cầu chúc an lạc và trường thọ. Đồng thời trao tận tay 1000 bông hoa hồng tươi đẹp đến 1000 hiền mẫu hiện diện với lời cầu chúc An vui, hạnh phúc và may mắn. Hội trường trở nên vui nhộn đầy tình đạo vị giữa những người con Phật cùng hướng về những Bà Mẹ Việt Nam nhiều thế hệ luôn luôn đầy tình thương bao la.

Tiếp theo Bình Luận Gia Lý Đại Nguyên, Giáo Sư Lưu Trung Khảo đã tuần tự lên phát biểu giới thiệu tác phẩm CỘI TÙNG TRƯỚC GIÓ, vinh danh Đại Lão Hoà Thượng Thích Quảng Độ với tiếng vỗ tay vang dậy cả hội trường. Hôị trường cũng đã vỗ tay nồng nhiệt khi người điều khiển chương trình loan báo tin vui Thượng Tọa Thích Viên Lý sẽ nhận Bằng Tiến Sĩ Triết học về Tôn Giáo vào thứ bảy tuần tới.

Tiếp theo,Thượng Tọa Thích Viên Huy Phó Ban Tổ chức về kế hoạch đã lên phát biểu lời Cảm tạ với sự hiện diện cuả toàn Ban Tổ chức.

Sau cùng là chương trình văn nghệ của Gia Đình Phật Tử Chùa Điều Ngự phụ diển mừng ngày Đản sanh kết hợp xen kẻ là xổ số trong khi mọi người được Ban Tổ Chúc trao mời tận tay một phần ẩm thực chiều.

Cùng thời điểm này trong Chánh Điện Thượng Toạ Tổng Thư Ký cùng sáu Chư Tôn Đức trang nghiêm cử hành lễ Thọ giới Qui Y cho 50 giới tử đã ghi danh từ một tuần trước đó, ai nấy hân hoan với phát nguyện từ nay quyết giữ gìn Tam Qui Ngũ giới và an tâm vui mừng với Pháp danh vừa được ban của mình .

Buổi Văn nghệ kết thúc đúng 6 giờ chiều sau khi đại diện Ban Tổ Chức một lần nữa ngõ lời cảm ơn tất cả Quí vị đã ở lại đến giờ chót và cám ơn văn nghệ sĩ cùng các Cháu trong đội Lân và ca vũ Gia đình Phật Tử Chùa Điều Ngự đã cùng nhau tạo nên chương trình phụ diễn mừng Phật Đản thành công tốt đẹp.

Ra về mọi người hân hoan vui cười và từng nhóm kháo với nhau hôm nay quá đông, từ vườn Lâm Tỳ Ny vào đến Chánh Điện, từ Khuôn viên Phật Bà cho đến khu ẩm thực và nhất là trong Hội trường Lễ Đài Chính, nơi nào cũng đông nghẹt vậy thì khoảng bao nhiêu người ? nhóm thì nói 3 ngàn, nhóm thì phân tách trong hội trường vừa ngồi, và đứng chật khoảng 3000, còn trong Chánh Điện và các khu vực khác cũng đông nghẹt do đó mà ước khoảng 5000.

Riêng người viết biết được lượng ghế thuê và cơ hữu của Chùa đã ngoài 4000, người Lễ bái trong Chánh Điện và đi lại trong các khu vực thì lúc cao điểm (sau 2 giờ chiều) số người đến Chùa khoảng 5000 người , không kể lượt người viếng cảnh lễ Phật vào ra suốt ngày và theo những người giữ trật tự bên ngoài cho biết thì nếu có nhiều địa điểm đậu xe cũng như hội trường hành lễ rộng lớn hơn thì số lượng đồng hương Phật Tử tham dự sẽ đông hơn nữa. Thực ra con số không là gì cả mà quan trọng là tấm lòng và chí hướng. Biết để vui với nhau và để cùng cố gắng, cùng cảm thông, để cùng ước mong những ngày lễ hội sau này tránh được nhửng khuyết điểm ngoài ý muốn, mỗi ngày một cải tiến hoàn thiện, hầu đáp ứng lòng mong ước tốt đẹp của mọi người con Phật luôn hướng về Văn Phòng II Viện Hoá Đạo/ Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại Hoa Kỳ/Chùa Điều Ngự.

Westminster, thứ hai 11/5/2009

Chơn Diệu.

Liên Khuôn Phật Học
Tâm Vị

Trang trí Lễ Đài trước giờ hành lễ

Vườn Lâm Tì Ni trong ngày Phật Đản PL 2553

Các CHT chuẩn bị rước Chư Tôn Đức vào Lễ Đài

Cung thỉnh Chư Tôn Đức vào lễ đài

Chư tăng và đồng bào Phật tử nghiêm trang trong lễ chào cờ


Friday, May 15, 2009

Cho tao chưởi mầy một tiếng - Trạch Gầm

    Cho tao chưởi mầy một tiếng

    Đụ má, cho tao chưởi mầy một tiếng,
    Đất của Ông Cha sao mầy cắt cho Tàu?
    Ngậm phải củ gì mà mầy cứng miệng,
    Đảng của mầy, chết mẹ … đảng tào lao.

    Chế độ mầy vài triệu tay cầm súng,
    Cầm súng làm gì … chẳng lẽ hiếp dân.
    Tao không tin lính lại hèn đến thế,
    Lại rụng rời … trước tai ách ngoại xâm.

    Mầy vỗ ngực. Anh hùng đầy trước ngõ,
    Sao cứ luồn, cứ cúi, cứ van xin
    “Môi liền răng” à thì ra vậy đó
    Nó cạp mầy, mầy thin thít lặng thinh.

    Ông Cha mình bốn ngàn năm dựng nước,
    Một ngàn năm đánh tan tác giặc Tàu.
    Thân phận mầy cũng là Lê, là Nguyễn
    Hà cớ gì .... mầy hèn đến thế sao!

    Chuyện mầy làm Toàn Dân đau như thiến,
    Mầy chết rồi, tao nghĩ chẳng đất chôn.
    Hãy tỉnh lại ôm linh hồn sông núi,
    Cứ đà nầy... chết tiệt còn sướng hơn.

    Đàn gảy tai trâu .... xem chừng vô ích,
    Giờ mầy nghe tao chưởi còn hơn không ...

    Trạch Gầm

Ðài Tưởng Niệm Thuyền Nhân Việt Nam - Ðỗ Thái Nhiên



Ðỗ Thái Nhiên


Ðài Tưởng Niệm Thuyền Nhân Việt Nam, vừa mới được khánh thành, nằm bên trong khuôn viên nghĩa trang Westminster ở Quận Orange, Nam California.

Ðứng bên trong khuôn viên vừa kể, quay lưng lại với đường Bolsa, khách viếng tượng đài sẽ thấy một bãi cỏ xanh và rộng. Kế đến là lư hương đồng đen. Ðàng sau lư hương là kiến trúc trọng tâm của tượng đài. Kiến trúc này bao gồm một hồ nước hình quả trám, lớn bằng chiếc thuyền vượt biên. Chung quanh hồ nước là những tảng đá màu trắng ngà, mặt mài bằng, diện tích non một thước vuông. Trên mỗi tảng đá, danh vị của thuyền nhân tử nạn được ghi bằng mực đen, nét khắc sâu và sắc. Tại một tảng đá bên hông tượng đài, gần trung tâm mặt đá, tình cờ tôi bắt gặp phương danh “Tô Lai Chánh”. Anh này là bạn rất thân của tôi tại trường Luật Saigon từ 1963. Hồi bấy giờ, Tô Lai Chánh là chủ tịch Ban Ðại Diện Sinh Viên Luật Khoa Saigon. Khi nhập ngũ, Tô Lai Chánh trở thành chánh án công tố của Tòa Án Quân Sự Nha Trang. Giữa năm 1985, Tô Lai Chánh từ trại tù “cải tạo” về. Tôi từ khám Chí Hòa ra. Hai chúng tôi gặp nhau tại một quán cóc bên đường Trần Quang Khải, gần Cầu Bông. Sau đó tôi mất liên lạc với Chánh. Tôi có hơn hai thập niên đi tìm tông tích người ban họ Tô nhưng tuyệt vô âm tín. Mãi cho tới sáng 25/04/09 tôi mới gặp lai Tô Lai Chánh trên phiến đá này, bên hông Tượng Ðài Thuyền Nhân. Ðây là tin tức ngắn nhất, bất ngờ nhất, chính xác nhất, bàng hoàng và xoáy tim óc nhất. Nhìn không chớp mắt vào danh vị Tô Lai Chánh, tôi thấp thoáng thấy đôi mắt to và đen của anh chủ tịch Sinh Viên Luật Khoa Saigon vài thập niên về trước...

Bây giờ hãy trở lại với cấu trúc của Tượng Ðài Thuyền Nhân. Ở giữa hồ nước mang hình dáng chiếc thuyền như đã nói ở trên là một tảng đá lớn, biểu tượng cho đảo tỵ nạn. Bên trên tảng đá kia là hình tượng một gia đình gồm năm người: bà cụ già, cặp vợ chồng trẻ và một cháu bé khoảng dưới một tuổi. Người phụ nữ gần ngã sấp nhưng vẫn cố vươn mình lên cao, tay trái ôm cháu bé mắt nhắm nghiền, tay phải đưa ra phía trước như một cầu cứu. Cạnh đó là chiếc nón lá của phụ nữ Việt Nam và chai sữa dành cho trẻ em nằm lăn lóc trên mặt đất. Tiếp sau là hình tượng người thanh niên, tóc tai rũ rượi đang dìu bà lão đi tới. Toàn cảnh tượng đài là bức tranh ghi nhận: ba thế hệ Việt Nam chịu chung một tai họa. Thế hệ thứ nhất là bà cụ mà người chồng có thể đang bị khổ sai ở trại tù cải tạo nào đó. Thế hệ thứ hai là cặp vợ chồng trẻ. Thế hệ thứ ba là cháu bé với đôi mắt nghiền trước một tương lai mịt mù mây xám. Trong ngôn ngữ của biểu tượng: ba thế hệ là nhiều thế hệ, là toàn bộ dòng sống của dân tộc. Bảo là một tai họa nhưng đây là loại tai họa có chọn lựa. Trên bước đường vượt biên có một ngàn lẽ một tai họa khác nhau, tai họa nào cũng khủng khiếp, cũng vượt ra ngoài trí tưởng tượng của loài người. Trong phạm vi của một bài bình luận ngắn, bài viết này xin trình bày một tai họa điển hình. Hồ sơ của tai họa này được tìm thấy trong văn khố của cơ quan Cao Ủy Tỵ Nạn của Liên Hiệp Quốc năm 1979. Diễn tiến của sự việc được trình bày như sau:

“Anh Huỳnh Văn Trân, 34 tuổi, ngồi trên 1 băng ghế gỗ ở trại tị nạn Songkhla ở một bờ biển cực nam của Thái Lan, thuật lại câu chuyện của mình lần thứ ba. Anh ra đi trên một chiếc tàu gồm 62 người: đàn ông, phụ nữ và trẻ em. Họ may mắn gặp thời tiết và gió thuận lợi, không bị rắc rối gì với máy tàu. Vào ngày thứ 5 trên biển, một chiếc tàu mã lực lớn dài 15 mét đến cặp sát mạn tàu anh. Có 12 người đàn ông trên thuyền, tất cả đều trang bị vũ khí đầy đủ. Trước hết, chúng ra lệnh cho hai người trong số phụ nữ sang tàu chúng. Một trong hai người này là vợ anh Huỳnh Văn Trân. Cô này bị ghì chặt xuống, súng trường kê sát thái dương, và bị ra lệnh không được kêu la. Cô bị bọn chúng cưỡng hiếp.

Bọn hải tặc sau đó nhảy qua tàu tỵ nạn, cướp đi mọi thứ có giá trị, bắn một người đàn ông còn do dự khi chúng cướp. Sau đó chúng tăng tốc độ phóng đi với các món của cải chiếm được, nhưng thình lình quay ngoắt lại. Vẫn giữ nguyên tốc độ tối đa, chúng nhắm thẳng vào tàu tỵ nạn và đâm mạnh. Chiếc tàu hải tặc đã lập đi lập lại hành động này trong khi nhóm người tỵ nạn đang hốt hoảng ngoi ngóp giữa biển khơi. Bọn cướp biển cố ý lái tàu cán qua vô số chiếc đầu đang nhấp nhô, có lẽ vì không muốn để sót lại nhân chứng nào. Khi vợ anh Trân còn đang chới với trên mặt nước, với đứa con trai mới lên 3 đang níu chặt cổ mẹ, cả hai đã bị tàu cán qua và chết đuối, 10 người trong số họ sống sót, sau đó được vớt lên và đưa tới Songkhla, Thái Lan.”
(Hết lời dẫn)

Tai họa kể trên cùng hàng vạn tai họa khác cho thấy thuyền nhân bị giết chết trong những tình huống vô cùng tàn ác nhưng cũng vô cùng bi tráng.

Bi tráng bởi lẽ: không phải những người chuẩn bị vượt biên không biết tất cả những hung hiểm trên sông, trên biển. Thế nhưng thuyền nhân vẫn quyết tâm vượt biên, quyết tâm bước vào con đường chỉ có thể chọn lấy một trong hai giải pháp: “Tự do hay là chết”. Con người có nhiều phương cách để diễn đạt tư tưởng. Con người có thể nói bằng ngôn ngữ bình thường, có thể nói bằng quả đấm, bằng tiếng thở dài, bằng cái nhíu mày, cau mặt. Trong tất cả những kiểu nói và cách nói kia, tiếng nói của im lặng là tiếng nói của tận cùng lạnh lùng và quyết liệt. Im lặng chôn dầu vượt biển, im lặng đút hối lộ cho công an, im lặng qua mặt các toán tuần duyên CSVN, im lặng đối mặt với hải tặc, im lặng viết tên của chính mình trên phiến đá ở Ðài Tưởng Niệm Thuyền Nhân Việt Nam. Tất cả các im lặng vừa diễn tả chỉ dễ nói lên một điều:

Chúng tôi là con người Việt Nam, Chúng tôi không thể sống không có tự do. Chúng tôi sẵn sàng mang sinh mạng của mình để đổi lấy tự do. Ðiều kỳ lạ là thuyền nhân Việt Nam đi vào cõi chết nhưng vẫn nheo mắt nhìn đời với miệng cười ngạo nghễ. Thông thường mỗi thuyền nhân trước giờ vượt biên đều thấy trước ba con đường: nếu vượt biên thoát thì đương sự sẽ làm việc kiếm tiền trợ giúp gia đình. Nếu bị bắt thì gia đình phải đi thăm nuôi. Nếu gặp tai họa giữa biển cả thì an giấc ngàn thu dưới đáy biển. Chúng ta hãy nghe một thuyền - nhân - trẻ từ giã mẹ già trước giờ vượt biên. Từ giã rằng:
    “Một là con nuôi Má,
    Hai là Má nuôi con,
    Ba là con nuôi cá.”
Rõ ràng lời giã từ rất đắng cay nhưng vẫn không thiếu phần hài hước. Chính tính hài hước trong hỏa ngục mới diễn tả trọn vẹn niềm thống hận của thuyền nhân. Trong niềm thống hận kia thuyền nhân gói ghém hai ước mơ:

Ước mơ một: Vượt biên vừa để phản kháng CSVN độc tài, phản nhân tính vừa để tìm lại cho gia đình, cho bản thân một đời sống đầy đủ tự do và dân chủ. Ðồng thời, giúp cho các thế hệ tương lai được giáo dục và đào tạo thành con người.

Ước mơ hai: từ giã đất tạm dung, quay trở về quê cũ, quyết tâm xây dựng lại một Việt Nam tự do dân chủ. Triệt để loại bỏ mọi bùa phép dân chủ ngụy trá của CSVN.

Thật là đau đớn, mỗi người hai ước mơ, hàng triệu ước mơ đã bị vùi sâu dưới đáy biển. Với thời gian, ước mơ của thuyền nhân từ lòng biển đã vang vọng về với dương thế làm xao xuyến hàng triệu triệu quả tim Việt Nam. Cuối con đường xao xuyến là Ðài Tưởng Niệm Thuyền Nhân Việt Nam. Tưởng niệm không chỉ là hương khói với hoa tươi. Tưởng niệm phải biểu hiện bằng quyết tâm biến ước mơ của thuyền nhân thành hành động cụ thể. Hành động cụ thể đó chính là đào thải chế độ Hà Nội ra khỏi vị trí cầm quyền, buộc chế độ này phải trả lời trước công lý về vô số tội ác tham ô, độc tài và bán nước

Ðỗ Thái Nhiên



VIỆT NAM ĐẦU HÀNG ĐẠI HÁN? - Luật sư Nguyễn Hữu Thống

Xin gửi quý vị và các bạn bản cáo giác đính kèm và yêu cầu phổ biến rộng rãi cho các giới đồng bào trong và ngoài nước. Xin quý vị và các bạn tham gia ý kiến về vấn đề trọng đại này.
Chúng tôi xin thành thật cảm tạ.
    KÍNH NHỜ PHỔ BIẾN VỀ VIỆT NAM
Luật sư Nguyễn Hữu Thống
nguyenhthong@earthlink.com
*
* *
    VIỆT NAM ĐẦU HÀNG ĐẠI HÁN?
Luật Sư Nguyễn Hữu Thống

Ngày 7-5 vừa qua Chính Phủ Hà Nội đã đệ trình đơn đăng ký từng phần (partial submission) để yêu cầu Ủy Ban Định Ranh Thềm Lục Địa Liên Hiệp Quốc cho Việt Nam mở rộng thềm lục địa pháp lý 200 hải lý (370km) thành thềm lục địa mở rộng hay thềm lục địa địa chất tới mức 350 hải lý (650 km) chiếu Điều 76 Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982.

Đơn đăng ký đã được đệ nạp trong thời hạn luật định và sẽ được Ủy Ban Định Ranh Thềm Lục Địa Liên Hiệp Quốc đăng đường vào khóa họp tại Nữu Ước từ trung tuần tháng 8 đến trung tuần tháng 9 tới đây. Sau khi cứu xét hồ sơ căn cứ vào những tiêu chuẩn đặc thù ghi trong Bản Cương Lĩnh về Khoa Học Kỹ Thuật ngày 13-5-1999, Ủy Ban Phân Định Thềm Lục Địa sẽ công bố những khuyến cáo có hiệu lực chấp hành chung quyết buộc các quốc gia đăng ký phải tôn trọng và thi hành.

Về mặt pháp lý, chiếu Điều 76 Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, tại Biển Đông Nam Á hay Biển Đông, các quốc gia duyên hải như Trung Quốc, Việt Nam, Nam Dương, Mã Lai, Brunei, Phi Luật Tân được hưởng quy chế thềm lục địa pháp lý rộng 200 hải lý từ biển lãnh thổ ra khơi. Chiếu Điều 77 Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển thềm lục địa 200 hải lý thuộc chủ quyền tuyệt đối và đặc quyền chuyên hữu của quốc gia duyên hải trong việc thăm dò và khai thác dầu khí.

Mọi sự xâm chiếm dầu có võ trang hay không của ngoại bang đều vô giá trị và vô hiệu lực. Chủ quyền tuyệt đối của Việt Nam tại các thềm lục địa Hoàng Sa và Trường Sa không tùy thuộc vào điều kiện phải có sự chiếm cứ (occupation) , thăm dò (exploration) , khai thác (exploitation) hay công bố minh thị (express proclamation) . Do đó dầu không còn chiếm cứ 13 đảo tại Hoàng Sa từ 1974, và một số đảo, cồn , đá, bãi tại Trường Sa từ 1988, Việt Nam vẫn không mất chủ quyền lãnh thổ tại các hải đảo này.

Tại quần đảo Hoàng Sa về phía đông bắc có 7 đảo thuộc Nhóm An Vĩnh (Amphitrite) là các đảo Phú Lâm, Lincoln, đảo Cây, đảo Hòn Đá, đảo Bắc, đảo Trung và đảo Nam. Về phía tây nam có 6 đảo thuộc Nhóm Lưỡi Liềm (Crescent, tiếng Pháp là Croissant) là các đảo Hoàng Sa, Quang Hòa, Duy Mộng, Quang Ảnh, Hữu Nhật và Trí Tôn. Các hải đảo này nằm trên thềm lục địa Việt Nam
tại các Vỹ Tuyến 17-16-15 cách bờ biển Việt Nam khoảng 160 hải lý. Riêng đảo Trí Tôn phía cực nam tọa lạc tại Vỹ Tuyến 15.47 Bắc cách Quảng Ngãi 135 hải lý.Theo Tòa Án Quốc Tế The Hague muốn thủ đắc chủ quyền các đảo vô chủ, phải có sự chiếm cứ hòa bình trong một thời gian liên tục và trường kỳ.

Tháng 1-1974 thừa dịp quân lực Hoa Kỳ rút khỏi Việt Nam, Trung Quốc đã dùng võ trang xâm chiếm 6 đảo Hoàng Sa thuộc Nhóm Lưỡi Liềm. Trước đó, vào cuối năm 1946, thừa dịp Hải Quân Pháp rút khỏi Biển Đông, Trung Quốc đã xâm chiếm bất hợp pháp 7 đảo Hoàng Sa thuộc Nhóm An Vĩnh. Sự chiếm cứ võ trang này đi trái với án lệ cố định của Tòa Án Quốc Tế The Hague cũng như trái với Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển.

Hơn nữa từ thế kỷ 16 dưới đời Nhà Nguyễn Xứ Đàng Trong, kế đến đời Nhà Nguyễn Tây Sơn và Quốc Gia Việt Nam thống nhất đời Nhà Nguyễn Gia Long, Việt Nam đã chiếm cứ ôn hòa, trường kỳ và liên tục các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, đồng thời minh thị công bố chủ quyền và hành sử chủ quyền tại các quần đảo này. Như vậy các hải đảo của Việt Nam tại Biển Đông không phải là đất vô chủ (terra nullius) vì thuộc chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam liên tục ít nhất từ 5 thế kỷ nay.

Năm 1949, do Hiệp Định Elysee, Pháp trao trả chủ quyền độc lập và thống nhất cho Quốc Gia Việt Nam với sự toàn vẹn lãnh thổ từ Nam Quan đến Cà Mâu. Lãnh thổ có nghĩa là đất liền, hải phận và không phận. Như vậy không có sự chối cãi rằng Quốc Gia Việt Nam đã thủ đắc chủ quyền lãnh thổ và lãnh hải tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Sự xâm chiếm Biển Đông bằng võ trang của Quân Đội Trung Quốc trong những năm 1946, 1974 và 1988 không được Tòa Án và Luật Pháp nhìn nhận. cũng như sự xâm chiếm võ trang các hải đảo tại Biển Đông của Quân Đội Nhật Bản thời Thế Chiến II.

Năm 1951, 51 quốc gia đồng minh tham dự Hội Nghị San Francisco để ký Hiệp Ước Hòa Bình và Tái Thiết Nhật Bản. Tại Hội Nghị Nhật Bản tuyên bố khước từ chủ quyền tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nhưng không nói để trả cho nước nào. Trong Dự Án Hiệp Ước Hòa Bình San Francisco 1951, các quốc gia đồng minh tham dự Hội Nghị chỉ quyết định trao trả cho Trung Quốc đảo Đài Loan và quần đảo Bành Hồ tại Thái Bình Dương.

Trong một phiên họp khoáng đại Ngoại Trưởng Liên Sô đệ nạp bản Tu Chính Án yêu cầu Hội Nghi trao cho Trung Quốc các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Tuy nhiên tu chính án của Liên Sô đã bị Đại Hội bác bỏ với 46 phiếu chống và 3 phiếu thuận. Sau đó trưởng phái đoàn Quốc Gia Việt Nam là Thủ Tướng Trần Văn Hữu đã lên diễn đàn công bố chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà không gặp sự phản kháng nào, kể cả của Liên Sô (lúc này là quốc gia đồng minh với Anh, Mỹ, Pháp và Trung Hoa từ thời Thế Chiến II).

Năm 1954, 7 quốc gia tham dự Hội Nghị Geneva về Việt Nam trong đó có ngũ cường Anh, Mỹ, Pháp, Liên Sô và Trung Quốc cùng 2 nước Việt Nam là Quốc Gia Việt Nam (Miền Nam) và Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (Miền Bắc). Anh Quốc và Liên Sô là đồng chủ tịch Hội Nghị. Hiệp Định Geneva ngày 20-7-1954 một lần nữa đã minh thị xác nhận chủ quyền lãnh thổ và lãnh hải của Quốc Gia Việt Nam từ Vỹ Tuyến 17 vào Nam (Quảng Trị-Cà Mâu).

Điều 4 Hiệp Định Geneva ngày 20-7-1954 quy định như sau:

Giới tuyến giữa Miền Nam và Miền Bắc kéo dài ra ngoài hải phận theo một đường thẳng góc với đường ven biển. Quân đội Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa phải rút khỏi tất cả các hải đảo về phía Nam giới tuyến (Vỹ Tuyến 17) để trao trả chủ quyền các hải đảo này (tại Hoàng Sa và Trường Sa) cho Quốc Gia Việt Nam (năm 1954) và Việt Nam Cộng Hòa từ năm 1955. Các hải đảo này tọa lạc từ Vỹ Tuyến 17 (Quảng Trị) đến Vỹ Tuyến 7 (phía Đông Nam Cà Mâu)

Năm 1954 Pháp và Trung Quốc đã chủ xướng triệu tập Hội Nghị Geneva về Việt Nam với Liên Sô và Anh Quốc là đồng chủ tịch Hội Nghị. Như vậy về mặt quốc tế công pháp Trung Quốc có nghĩa vụ phải tôn trọng và thi hành những điều khoản của Hiệp Định Geneva ngày 20-7-1954, đặc biệt là Điều 4 xác nhận chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
    VỀ ĐƠN THỈNH NGUYỆN CỦA VIỆT NAM YÊU CẦU MỞ RỘNG THỀM LỤC ĐỊA
Ngày 7-5-2009 Chính Phủ Việt Nam đệ trình Ủy Ban Định Ranh Thềm Lục Địa Liên Hiệp Quốc bản báo cáo có kèm theo Họa Đồ (Figure) và Bản Tọa Độ (Table) với 45 điểm ranh mốc xác định giới tuyến thềm lục địa mở rộng (extended continental shelf). Như đã trình bày đơn thỉnh nguyện (submission) của Việt Nam sẽ được Ủy Ban Định Ranh Thềm Lục Địa đăng đường vào khóa họp tại Nữu Ước từ trung tuần tháng 8 đến trung tuần tháng 9 tới đây.

Phản ứng tiên khởi của Ủy Ban Luật Gia Bảo Vệ Dân Quyền là ngỡ ngàng và xót xa.
Vì hai lý do:

1. Theo Họa Đồ số 1 (Figure 1 Outer limits of the Vietnam's extended continental shelf: North Area (VNM-N) do Chính Phủ Hà Nội xuất trình, điểm khởi hành của ranh giới Thềm Lục Địa Mở Rộng (Vietnam 350M), về hải phận phía Bắc đối diện với Trung Quốc chỉ khởi sự từ ranh mốc số 1 tọa lạc tại Vỹ Tuyến 15.06 Bắc (ngang tầm với Quảng Ngãi) và Kinh Tuyến 115.14 Đông.

2. Điểm 45 kết thúc giới tuyến Thềm Lục Địa Mở Rộng tọa lạc tại Vỹ Tuyến 10.75 Bắc (ngang tầm với Phan Thiết) và Kinh Tuyến 112.62 Đông. Như vậy Chính Phủ Việt Nam đã chính thức xác nhận với Ủy Ban Định Ranh Thềm Lục Địa Liên Hiệp Quốc rằng Thềm Lục Địa Mở Rộng của Việt Nam tại hải phận phía Bắc chỉ chạy từ Vỹ Tuyến 15.06 Bắc xuống Vỹ Tuyến 10.75 Bắc (từ Quảng Ngãi xuống Phan Thiết).

Trong trường hợp này Chính Phủ Hà Nội đã mặc nhiên khước từ chủ quyền lãnh hải của Việt Nam từ Vỹ Tuyến 15.06 Bắc (Quảng Ngãi) lên Vỹ Tuyến 17 (Quảng Trị). Nghĩa là Việt Nam đã cống hiến cho Trung Quốc một hải phận gồm 3 Vỹ Tuyến 15- 16-17 trong đó tọa lạc 13 đảo Hoàng Sa.

Về mặt vị trí, đảo Trí Tôn tại cực nam (với tọa độ 15.47 Bắc) cũng nằm về phía Bắc tọa độ 15.06 Bắc mà Chính Phủ Hà Nội chọn làm điểm ranh mốc cao nhất về phía Bắc của Thềm Lục Địa Mở Rộng Việt Nam. Kết quả là từ nay Trung Quốc có tư thế để đòi chủ quyền lãnh hải từ bờ biển Quảng Đông tại Vỹ Tuyến 22 xuống tới vùng biển Quảng Ngãi tại Vỹ Tuyến 15 nghĩa là toàn thể Quần Đảo Hoàng Sa.

3. Cũng theo Họa Đồ (Figure 1 nói trên), giới tuyến Thềm Lục Địa Pháp Lý 200 hải lý (Vietnam 200M) theo hướng Bắc-Nam, chạy song hành với bờ biển Việt Nam, từ Vỹ Tuyến 16 (Đà Nẵng) xuống Vỹ Tuyến 7 (Bãi Tứ Chính: Vanguard) dọc theo Kinh Tuyến 112 Đông.

Địa hình này xác nhận rằng Thềm Lục Địa Việt Nam chỉ khởi sự từ Vỹ Tuyến 16 (Đà Nẵng) xuống Vỹ Tuyến 7 phía đông nam Cà Mâu. Do đó nó mặc nhiên nhìn nhận rằng ngoại trừ đảo Tri Tôn tại Vỹ Tuyến 15.47 Bắc, vùng hải phận từ Vỹ Tuyến 16 trở về Bắc, trong đó tọa lạc 12 đảo Hoàng Sa, không thuộc chủ quyền lãnh hải của Việt Nam.

Theo hiểu biết thông thường, nếu không có Thềm Lục Địa thì không có lục địa. Nếu không có lục địa thì không có hải phận. Mà nếu không có hải phận thì cũng không có các hải đảo tọa lạc trong đó.Trong cả hai trường hợp do Chính Phủ Hà Nội viện dẫn về Thềm Lục Địa Mở Rộng và Thềm Lục Địa Pháp Lý, Việt Nam đã khước từ chủ quyền ít nhất 12 hải đảo thuộc Quần Đảo Hoàng Sa tọa lạc tại các Vỹ Tuyến 17 và 16 Bắc từ Quảng Trị xuống Quảng Nam. (Đảo Hoàng Sa có vỹ độ 16.32 Bắc; đảo Phú Lâm có vỹ độ 16.50 Bắc).

Đây là một Thảm Họa cho Việt Nam
.
Và là một Đại Thắng của Đế Quốc Đại Hán.


Tất cả những phản ứng đạo diễn của Bắc Kinh và Hà Nội nằm trong chiến thuật hỏa mù để đánh lạc dư luận quần chúng và đánh lừa dân tộc Việt Nam. Vì như ai cũng biết cho đến nay, Bắc Kinh vẫn nằng nặc đòi chủ quyền hơn 80% hải phận Biển Đông Nam Á mà họ gọi là Biển Lịch Sử hay Lưỡi Rồng Trung Quốc.Chúng tôi kêu gọi các bậc thức giả tham gia ý kiến về vấn đề này.

Thay Mặt Ủy Ban Luật Gia Bảo Vệ Dân Quyền
Luật Sư Nguyễn Hữu Thống
(13-5-2009
)