Monday, May 4, 2009

KỶ NIỆM 30 THÁNG 4 ĐỂ XÂY DỰNG LẠI QUÊ HƯƠNG - Mặc Giao


Mặc Giao


Canada ngày 25/4/2009

Kính thưa đồng bào trong nước,

Hôm nay chúng ta kỷ niệm ngày 30 tháng 4 lần thứ 34. Những người chiến thắng thì huênh hoang khoe thành tích. Nhân dân miền Nam thì buồn, vì ngày ấy đánh dấu việc chấm dứt một thời tự do, no ấm và đoàn tụ.

Xét cho cùng, trừ những người cộng sản, nhân dân cả nước đều đã nhận ra ngày 30-4-1975 là ngày toàn thể đất nước từ Nam chí Bắc bị đặt dưới sự thống trị của chế độ cộng sản độc tài, toàn trị, trong đó mọi quyền công dân đều bị tước đoạt, như quyền tư hữu, quyền chọn người cai trị các cấp, quyền được đối xử công bằng trước pháp luật.

Các nhân quyền căn bản như tự do tôn giáo, tự do ngôn luận, tự do lập hội, tự do cư trú v.v… cũng bị vi phạm trầm trọng. Việc tôn trọng các quyền căn bản của con người là điều tự nhiên, là xu thế tất yếu của nhân loại trong thế kỷ 21 này. Buồn thay, dân Việt Nam đã không được hưởng chỉ vì một tập đoàn lãnh đạo đã cướp đi tất cả.

Vì vậy, kỷ niệm ngày 30 tháng 4 không phải là khơi lại hận thù, không phải là tiếp tục cuộc chiến giữa những người Việt Nam dù tiếng súng đã chấm dứt 34 năm, nhưng là để ý thức rằng toàn dân Việt nam đã mất tất cả các thứ quyền từ ngày đó và phải tìm cách đòi lại.

Sau khi đã chiếm được cả nước, dù bằng cách cưỡng chiếm miền Nam, vi phạm Hiệp định Paris 1973 do chính họ đã ký, nếu những người lãnh đạo từ Hà Nội biết thương nước thương dân, không nô lệ chủ thuyết và làm tay sai cho đế quốc cộng sản, không coi đồng bào ruột thịt miền Nam như những kẻ bị chinh phục để khai thác, trả thù và trút căm hờn, không đuổi dân thành thị đi các vùng kinh tế mới, đúng ra là kinh tế chết, không bắt nửa triệu quân cán chánh miền Nam đầy ải trong các nhà tù được mệnh danh là các trại cải tạo, không đánh tư sản để cướp tài sản của dân lành, không kỳ thị thành phần "ngụy" dù là con nít xin đi học, thì làm gì có chuyện chia rẽ, hận thù,làm gì có việc vượt biên vì không còn đất sống, làm gì có việc cạn kiệt chất xám vì những trí thức và chuyên viên tài giỏi đã tìm cách trốn khỏi nước nếu không bị nhốt trong tù.

Nếu những người cầm quyền biết tạo điều kiện để mọi người được sống an vui và thân ái, thì việc vận động đoàn kết để xây dựng đất nước sẽ không khó, và dân tộc Việt Nam đã quy về một mối từ lâu.

Từ năm 1986, sau khi Liên Xô và khối cộng sản Đông Âu xụp đổ, sau khi thấy nếu tiếp tục chính sách đóng cửa rút cầu với thế giới bên ngoài sẽ đưa chế độ đến chỗ tan vỡ mau chóng, đảng cộng sản VN đã quyết định đổi mới bằng cách mở cửa giao thương với mọi nước, kể cả những nước tư bản, đứng đầu là Hoa Kỳ, đã từng được coi là kẻ thù không đội trời chung, đã cho phép người dân làm tư doanh, hoàn toàn trái ngược với nguyên tắc tập trung tài sản theo chủ thuyết cộng sản. Bờ ngăn chặn được mở ra tới đâu thì nước sẽ tràn theo tới đó theo lẽ sinh tồn tự nhiên. Nhờ đó dân đã biết thích ứng với hoàn cảnh và được dễ thở đôi chút về phương diện kinh tế.

Tuy nhiên, sự phát triển kinh tế đi song song với sự phát triển của tệ nạn tham nhũng và bất công. Có thể nói khi người dân được ăn một thì các cấp đảng được ăn mười. Tham nhũng đã trở thành một con bệnh vô phương cứu chữa vì đã thành thứ bệnh thâm căn cố đế nằm sâu trong lục phủ ngũ tạng của guồng máy đảng và guồng máy cầm quyền.

Không một việc gì từ lớn tới nhỏ được giải quyết nếu không có hối lộ và ăn chia. Tệ nạn này đã lan lây ra toàn thề xã hội. Sống lâu với bệnh trở thành quen bệnh. Vì thế tham nhũng đã trở thành một thứ "văn hóa mới" của chế độ cộng sản, nó tàn phá không những guồng máy công quyền mà còn làm băng hoại mọi tương giao xã hội.

Khi thấy có quyền là có tiền, các cấp đảng và công quyền đều ra sức bảo vệ guồng máy và chỗ ngồi của họ trong guồng máy đó. Không còn lý tưởng quốc gia dân tộc, không còn tình nghiã đồng bào, chỉ còn đàn áp thô bạo để dập tắt mọi mầm mống chống đối, chỉ còn khai thác tối đa việc móc túi của tư nhân và ăn cướp của công để làm giầu. Những vụ chiếm đất của dân oan, chiếm đất của các tôn giáo đã chứng minh điều này. Khi nhân dân và tín đồ các tôn giáo đòi lại tài sản riêng và chung của họ thì họ bị đàn áp, xuyên tạc, lôi ra tòa kết án vì những tội danh hoàn toàn khác với việc khiếu nại chính đáng của họ.

Cũng vì thấy có quyền là có mọi sự, nên đảng và nhà nước muốn kiểm soát mọi tôn giáo, đoàn thể và cả cá nhân, bắt mọi người phải đi theo "lề phải" do nhà nước đặt ra. Ai hơi nói khác, làm khác, dù là đảng viên, là lập tức bị xách nhiễu, hạ tầng công tác, bắt giam, đưa ra tòa, tống vào ngục.

Như vậy, con người sống trong chế độ Việt Nam hiện nay khác gì những kẻ nô lệ dưới những chế độ của các hôn quân bạo chúa thời xưa. Chỉ có một thứ tự do được cho phép, đó là tự do sa đọa, hủy hoại luân lý và truyền thống dân tộc, trong đó những người có quyền và có tiền nêu gương sa đọa trước tiên.

Thời gian gần đây, những người cầm quyền còn đem cả chủ quyền quốc gia và sự toàn vẹn lãnh thổ để đổi lấy sự an toàn của chỗ ngồi và túi tiền của họ. Việc phản đối lấy lệ trong khi không có một biện pháp cụ thể để bảo vệ những vùng đất và biển của tổ tiên để lại, việc cho phép Trung Quốc khai thác mỏ bauxit tại cao nguyên Trung phần, dù hàng ngàn trí thức trong nước và hàng vạn dân chúng trong và ngoài nước đã công khai lên tiếng phản đối vì việc này sẽ tàn phá môi trường, tạo cơ hội cho Trung Quốc kiểm soát vùng Tây nguyên, chứng tỏ những người cầm quyền coi trọng quyền lợi của họ hơn quyền lợi của quốc gia và dân tộc. Trong trường hợp này không còn chữ nào đúng hơn để gọi việc làm của họ ngoài câu "mãi quốc cầu vinh".

Trước tình trạng đất nước như vậy, mọi con dân Việt Nam ở trong hay ngoài nước không thể thờ ơ, nhắm mắt bỏ qua mọi việc để cầu sự an thân. Nếu chúng ta không ý thức được nguy cơ của đất nước và nỗi thống khổ của đồng bào thì sẽ không còn nước Việt Nam nữa, không còn dân tộc Việt Nam nữa. Một đất nước chỉ tồn tại khi có những con dân biết bảo vệ. Một dân tộc chỉ tồn tại khi có những người dân biết liên kết với nhau để bảo tồn di sản, truyền thống, văn hóa và xây dựng một tương lai chung.

Vì vậy, đừng coi việc kỷ niệm ngày 30 tháng 4 như một việc khơi lại đống tro tàn, vạch lại vết thương đã kéo da non hay để khóc than, thương tiếc. Kỷ niệm 30-4 là dịp để nhắc nhở nhau rằng từ ngày ấy, tháng ấy, năm ấy, toàn thể đất nước và dân tộc Việt nam đã bị đặt dưới một chế độ cai trị tệ hại chưa từng có trong lịch sử dân tộc, và rằng bổn phận của mọi người Việt Nam, không phân biệt trong nước hay ngoài nước, Bắc hay Nam, không phân biệt tôn giáo và qúa khứ chính trị, chúng ta phải cùng nhau đòi lại quyền sống và nhân phẩm cho dân tộc Việt Nam, đòi lại chủ quyền cho đất nước, không thể để số phận của Việt Nam và 86 triệu đồng bào trong tay một nhóm người tàn ác, bất lực và tham lam.

Chúng ta đấu tranh một cách hòa bình, không làm thiệt hại sinh mạng và tài sản của đồng bào, nhưng dùng sức mạnh của quần chúng tự giác dâng lên như nước vỡ bờ để quét sạch những rác rưởi đang làm ô uế quê hương, phá tan những chướng ngại đang cản trở sự tiến bộ và tình thương yêu đoàn kết giữa các thành phần dân tộc. Muốn làm được việc này, trước hết phải làm cho người dân ý thức được quyền lợi của chính mình và quyền lợi của đất nước, đồng thời ý thức được bổn phận của mình trong việc đòi lại và bảo vệ những quyền đó. Chỉ khi nào ý thức về quyền lợi và bổn phận của người dân đạt cao độ, lúc đó chúng ta mới có thể lật ngược thế cờ.

Chúng ta không lạc quan qúa sớm, nhưng qua những cuộc đấu tranh đòi tự do và công lý của giáo dân Hà Nội, những cuộc đấu tranh kiên trì không sợ hãi của dân oan từ Nam chí Bắc bị cướp nhà cướp đất, bản lên tiếng thâu trên 2.000 chữ ký trong vài ngày của trí thức trong nước đòi hỏi nhà nước phải hủy bỏ việc khai thác bauxite ở Tây nguyên, nhất là việc Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ, vị lãnh đạo tối cao của Giáo Hội Phật Giáo VN Thống Nhất, kêu gọi toàn dân tham gia tháng 5 phản kháng bất bạo động để đòi tự do và phản đối việc để Trung quốc khai thac mỏ bauxite, là những dấu hiệu rất khích lệ cho việc tranh đấu cho tự do, dân chủ, nhân quyền và chủ quyền quốc gia.

Chúng ta hãy tích cực ủng hộ và tham gia các hình thức tranh đấu này trong khi chờ đợi để phát động những hình thức tranh đấu khác. Được như thế, những ngày 30 tháng 4 tương lai sẽ không còn là những kỷ niệm đau buồn, nhưng là kỷ niệm đánh dấu một bước đấu tranh tích cực để chấm dứt một chế độ đã gây bao hệ lụy và tang tóc cho dân và nước Việt Nam suốt 60 năm qua.

Xin thân ái kính chào đồng bào

Mặc Giao
Canada ngày 25/4/2009


Sunday, May 3, 2009

Xin Lỗi, Tôi Là Thằng Hèn ! - Nguyễn Đông Khê


Nguyễn Đông Khê

Xin lỗi trước, tôi là một thằng hèn, quen nói thật. Xin được bắt đầu với bản tin BBC: đảng cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) vừa ra thông báo khẳng định: "Chủ trương thăm dò, khai thác, chế biến bauxite là chủ trương nhất quán từ Ðại hội IX và Ðại hội X của Ðảng đến nay". Và bộ Chính trị chỉ đạo "Tiếp tục thực hiện chủ trương triển khai hai dự án ở Tân Rai (Lâm Đồng) và Nhân Cơ (Đăk Nông) do Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam làm chủ đầu tư, chưa chủ trương bán cổ phần cho tổ chức và cá nhân nước ngoài".

Trên giấy trắng mực đen đảng CS tuyên bố “Chưa chủ trương bán cổ phần cho tổ chức và cá nhân nước ngòai,” vậy mà lao động nước ngòai đã tràn ngập trên công trường.

Thế là thế nào? Cái ĐCSVN này lươn lẹo hết chỗ nói, xem thường những cảnh báo của các khoa học gia, chuyên gia, giới trí thức, cũng như khinh thường nhân dân hết cỡ khi họ làm chuyện đã rồi, rồi mới giả vờ ra thông báo cho có lệ! Thật là hết ý! Tại sao đất nước và dân tộc Việt Nam lại ra nông nỗi này? Chẳng qua chỉ vì con người Việt Nam hèn, để mặc cho ĐCSVN tác yêu tác quái kể từ năm 1945 cho đến nay.

Thời buổi xa xưa bị cô lập trong một nhà tù, không sách báo, không radio, không điện thọai, không internet, hoàn toàn không thể liên lạc với thế giới bên ngoài thì đã đành; nhưng kể từ cái ngày ĐCSVN mở cửa từ hậu thập niên 80 cho đến nay, mặc dù ĐCSVN đã tìm mọi cách nhồi sọ, lừa phỉnh, bưng bít, phá rối, ngăn chặn thông tin, dựng bức tường lửa … thì bộ mặt trần truồng giả dối của ĐCSVN đang dần lộ nguyên hình chồn tinh! Thế giới to lớn nay đã trở thành một ngôi làng nhỏ, người ta có phương tiện và biết cách khám phá thực hư, muốn che dấu lấp liếm cũng không tài nào làm được. Cái ĐCSVN gian ngoa quỷ quyệt, có nói không, không nói có, sửa đổi lịch sử, tiền hậu bất nhất, đang làm đầu nậu thu tiền một cách bất nhân bằng cách xuất cảng phụ nữ ra nước ngòai, mãi dâm dưới hình thức kết hôn; làm môi giới xuất cảng lao động ra nước ngoài với giá rẻ mạt, bóc lột tận xương tủy kẻ lỡ dại phóng lao phải theo lao, để rồi đem con bỏ chợ, tiền mất tật mang vì phải vay nợ trả cho chuyến đi tại quê nhà! Luân thường đạo lý bị đảo lộn, chia rẽ tôn giáo với trăm phương nghìn kế thâm độc, ru ngủ và khuyến khích thanh thiếu niên trong nước và Việt kiều hải ngoại mua vui trên thân xác phụ nữ, tệ nạn nạo phá thai nhi lan tràn khắp mọi nơi, chiếm hàng đầu trong danh sách các nước trên toàn thế giới! Đúng là lũ ác ôn côn đồ Việt cộng! Vậy mà cái ĐCSVN vẫn tồn tại cho đến ngày hôm nay! Tại sao? Vì tôi là một thằng hèn, thật là hèn.

Tôi hèn vì tôi không biết đến những trang sử oai hùng của dân tộc Việt, tổ tiên Việt dày công dựng nước và giữ nước để bảo tòan giang sơn gấm vóc. Tôi vẫn cứ để yên cho một thiểu số cầm quyền thậm thụt lén lút nhượng đất, nhượng biển, nhượng chủ quyền cho quan thày phương Bắc, lại còn ngang nhiên để mặc cho giặc Tầu hung hăng mang cờ đại quốc, nghênh ngang hò la đốt đuốc Thế vận hội trên quê hương Việt Nam tựa chỗ không người! ĐCSVN đã ăn phải bả Tầu, lén lút đón rước bọn chúng vào Tây nguyên, trấn giữ yếu huyệt Việt Nam, lấy cớ khai thác Bauxit, bất kể thảm họa tàn phá môi sinh và an ninh quốc phòng:

“Mấy đời bánh đúc có xương,
Mấy đời giặc cướp có thương dân mình!”.

Tôi hèn vì tôi tham sống sợ chết, để mặc cho cái ĐCSVN này cai trị nắm quyền sinh sát trên 85 triệu đồng bào mình, bằng chính sách hộ khẩu, bằng thủ đọan cướp nhà cướp đất, đổi tiền, đánh tư sản mại bản, đi vùng kinh tế mới, cải tạo ngụy quân ngụy quyền … Có nỗi đau nào hơn nỗi đau nước mất nhà tan 30-4-1975, vậy mà tôi đã vội mau quên đi những tháng năm gông cùm tù tội, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc; tôi đã quên đi những đòn thù khủng khiếp trong các trại cải tạo; tôi đã quên đi những đồng đội và những bạn tù đã phải vùi thây nơi rừng thiêng nước độc. Vì hèn nên tôi đành chấp nhận tất cả, chịu đựng tất cả, để được việc cho mình và gia đình mình.

Tôi hèn vì tôi đã mau quên những tháng ngày vượt biên tìm tự do, thập tử nhất sinh trong những cuộc hành trình tìm tự do trên biển cả hay qua đường bộ; tôi đã mau quên những giờ phút cắt ruột chia tay những tưởng không bao giờ còn được gặp lại người thân! Tôi đã không nghĩ đến hàng vạn con người phải vùi thân trên biển cả hay nơi rừng sâu, hàng vạn con người bị sa vào hang ổ ma vương, bị hãm hiếp, tử vong, và để lại nỗi đau triền miên nơi gan ruột những người thân trong gia đình! Đọan trường khổ ài như thế đấy, vậy mà ngay khi vừa đặt chân đến trại tỵ nạn, tôi đã bắt đầu quên đi người vợ đầu ấp tay gối suốt đời chắt chiu tần tảo nuôi chồng nuôi con, tôi quên đi những ngược xuôi trăm cay nghìn đắng đi thăm nuôi chồng tại các trại tù từ Nam ra Bắc; tôi quên đi những hy sinh vô bờ bến của người vợ trong việc thu góp hết tiền bạc nữ trang tìm đường lo cho chồng vượt biên! Rồi khi tôi đã được định cư, biến thành khúc ruột xa ngàn dặm, nghe lời dụ dỗ trở về thăm lại quê hương, tôi đã nhẫn tâm vung tiền mua vui với các thiếu nữ mà tuổi đời chỉ đáng con cháu mình!

Tôi đã mau quên đi hành động tàn ác dã man của bọn thảo khấu và hải tặc Thái Lan, giết người cướp của, thay phiên nhau hãm hiếp các phụ nữ trên những con thuyền vượt biên đầy máu và nước mắt. Tôi đã làm ngơ trước lời kêu gọi đồng bào hải ngoại tẩy chay không mua hàng Thái Lan vào thập niên 80. Tôi đã làm ngơ vì bề dày tinh thần yêu nước thương dân tộc của tôi quá mỏng, không đủ trọng lượng để khiến tôi có thể khước từ việc mua hàng Thái Lan, tôi đã không muốn tham gia việc tẩy chay phản đối chính quyền Thái Lan dung dưỡng và không mạnh tay tiêu diệt bọn hải tặc! Cái gì tiện và lợi cho tôi thì tôi làm, mắc mớ gì mà để ý quan tâm đến chuyện người khác! Tôi đã làm ngơ không biết đến lời hô hào chấm dứt việc nuôi dưỡng chính quyền CSVN, chấm dứt việc gởi tiền về Việt Nam, chấm dứt du lịch về Việt Nam, không đóng góp cho những tổ chức mang danh từ thiện giúp đỡ đồng bào trong nước, nhưng lại làm lợi cho túi tham không đáy của người CS; tiền quốc tế tài trợ lo cho công ích thì họ có trăm phương nghìn kế đục khóet chia chác với nhau, để họ có nhà cao cửa rộng, của chìm của nổi khắp mọi nơi; còn việc giáo dục nâng cao mức sống của đồng bào, giúp đỡ người nghèo, chăm sóc kẻ bệnh họan tật nguyền, thì đã có các tổ chức từ thiện của người Việt hải ngọai đứng ra làm dùm cho họ theo chỉ đạo của hệ thống độc tài độc đảng.

Tôi đã không thể hiểu nổi lá thư chung của Đại hội các Giám mục Việt Nam được viết vào năm 1980, kêu gọi các tín hữu sống phúc âm giữa lòng dân tộc, hay đồng hành với dân tộc. Từ đó đến nay, Việt Nam đã đi vào nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, kết quả là giai cấp cầm quyền ngày càng phất lên giàu có một cách bất chính, đang khi tuyệt đại đa số người dân ngày càng nghèo đi. Tôi đã không hiểu nổi cụm từ đồng hành với dân tộc mà các Giám mục Việt Nam đã nhắm đến đối tượng nào, lại càng không hiểu nổi khi Giáo hội Việt Nam thờ ơ không lên tiếng cho đám dân oan, cho người thấp cổ bé miệng nằm la liệt trên hè phố để đòi công bình và công lý tại Hà Nội hay Sài Gòn?!

Tôi đã không hiểu nổi lá thư ngỏ của Hội đồng Giám mục Việt Nam (HĐGMVN) được viết vào tháng 10 năm 2002, đã gởi đến “Quý vị lãnh đạo các cơ quan lập pháp của Nhà Nước Việt Nam.” Thư ngỏ đã đưa ra những nhận định nhằm “xoá giảm những khuyết tật của xã hội và phát huy những giá trị nhân bản làm cho con người ngày càng trở nên người hơn.” Vấn đề đã nêu lên trong lá thư còn tồn đọng cho đến ngày nay, ở mức độ nghiêm trọng và rộng lớn hơn rất nhiều! Ngọn lửa đòi công bằng, công lí và sự thật tại tòa Khâm sứ Hà nội đã được thắp sáng, Thái Hà cũng đã tiếp lửa từ đó đến nay, dòng Chúa Cứu thế Việt Nam đã nhập cuộc, nhưng HĐGMVN cho đến hôm nay chỉ đề ra quan điểm, và chưa có được một hành động cụ thể nào!

Đây thời thuận lợi, cơ hội không đến hai lần, lòng căm phẫn của tòan dân Việt Nam đang dâng lên cao trước hành động bán nước của nhà cầm quyền Hà Nội. ĐCSVN đang “cõng rắn cắn gà nhà,” ngậm miệng ăn tiền để được vinh thân phì gia, duy trì địa vị độc tôn, bất chấp làn sóng phản đối quyết liệt của đại đa số người dân Việt. HĐGMVN có dám lên tiếng dứt khóat đứng về phía dân tộc Việt Nam hay không? HĐGMVN có dám thực hiện vai trò lịch sử của mình hay không? HĐGMVN có dám đứng lên triệu tập Hội nghị Diên Hồng trên tầm mức cả nước, nối tiếp ngọn lửa Thái Hà đòi hỏi công bằng, công lí và sự thật hay không? HĐGMVN có dám đòi hỏi nhà cầm quyền CS phải trả lại lẽ công bình cho toàn dân Việt hay không? "Của Cesar phải trả cho Cesar," của dân tộc Việt phải trả cho dân tộc Việt. Là người Việt Nam yêu nước thương nòi, không một ai có thể im hơi lặng tiếng để mặc cho ĐCSVN, là một thiểu số cầm quyền được quyền “mãi quốc cầu vinh” dâng đất dâng biển, triều cống tài nguyên thiên nhiên cho giặc Tầu khai khác, bất chấp hậu quả khôn lường di hại cho dân tộc Việt. HĐGMVN chẳng lẽ để mặc cho nước Việt Nam phải chung một cảnh ngộ đau thương như dân tộc Tây Tạng hay sao?!

Kể từ ngày ĐCSVN lên nắm quyền cai trị, chính sách tôn giáo của bọn chúng luôn vẫn là chia để trị. Chúng cho phép người của giáo hội công giáo được tự do xuất ngọai đi họp hay đi tu nghiệp nước ngòai, cho phép đi gây quĩ xây dựng nhà thờ hòanh tráng khắp mọi nơi, để vừa được chấm mút chia chác, vừa gây ấn tượng cho thế giới bên ngòai, làm bình phong che lấp mọi mưu toan gian tà, xâm nhập và gài người lũng đọan nội bộ tôn giáo. ĐCSVN cho phép xuất ngoại gây quỹ từ thiện, cho phép được tấn phong giám mục và linh mục, cho phép mở cửa chủng viện, tu viện, cho phép thâu nhận chủng sinh tu sĩ.

Những đặc quyền đặc lợi ấy là miếng mồi ngon khó chối từ, có lợi cho giáo hội Viêt Nam trong việc huấn luyện và đào tạo nhân sự. Đấy là miếng mồi ngon do ĐCSVN đã và đang ban phát cho giáo hội, gần đây nhất là việc trao trả 340,000 mét vuông để xây dựng Trung tâm Thánh mẫu La Vang ở Quảng Trị, và trong đại hội kỳ I-2009 được tổ chức từ ngày 13-17 tháng 4 năm 2009 vừa qua tại Bãi Dâu Vũng Tàu, HĐGMVN đã không một lời lên tiếng thay cho tòan dân Việt trước thảm họa Bauxit, không dám lên tiếng đòi hỏi nhà cầm quyền CS phải thực thi công bình, công lý và sự thật cho toàn dân Việt! Đã nhận thì phải nhịn, hay tại nội bộ đã sẵn có người được cài đặt nên không dám mạnh dạn lên tiếng đứng về phía dân nghèo chịu áp bức, không dám có hành động cụ thể đứng về phía dân tộc để bảo vệ công bình, công lý và sự thật? Mười cân lý thuyết không bằng một cân thực hành! HĐGMVN cần đến một hành động cụ thể để minh chứng giáo hội Viêt Nam đang đồng hành với dân tộc Việt Nam! Phải hiểu ra sao về quan điểm của HĐGMVN trước đây: “Vui mừng và hy vọng, âu sầu và lo lắng của người dân Việt Nam cũng là vui mừng và hy vọng, âu sầu và lo lắng của chúng tôi, các Giám mục của HĐGMVN. Giáo hội không có chức năng làm chính trị, nhưng Giáo hội không đứng bên lề chính trị.”

Biết đến bao giờ dân tộc Việt Nam mới có được bậc minh quân, ngòai đời cũng như trong đạo? Cũng vì không có minh quân nên thân phận và con người Việt Nam phải trôi dạt trên tòan thế giới, hay đang chịu gông cùm và nhân phẩm nhân quyền bị chà đạp tận đất đen! Có dân tộc nào trên thế giới lại khốn khổ đau thương như dân tộc Việt Nam? Trẻ em và phụ nữ phải lưu lạc tha phương khắp nơi kiếm sống bằng chính thân xác mình? Hiện tượng tuổi trẻ uống rượu quên sầu, say sưa chè chén, đua đòi ăn chơi sống buông thả bất cần đời, đã biến con người Việt Nam thành những thằng hèn, theo mô hình đỉnh cao xã hội chủ nghĩa! Tội nghiệp thay! Tập thể người Việt Nam, bao gồm các tổ chức, đòan thể, tôn giáo, cho đến bao giờ mới có thể đồng thuận ngồi lại cộng tác với nhau vì đại sự, vì lợi ích chung cho tòan dân tộc? Đã đến lúc phải nhập cuộc đồng hành với dân tộc Việt Nam, xóa bỏ cái ác đang ngự trị trên quê hương Việt Nam. Những con én tiêu biểu như Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Đan Quế, Hòa Thượng Thích Quảng Độ, linh mục Nguyễn Văn Lý, linh mục Nguyễn Văn Khải, tổng giám mục Ngô Quang Kiệt … chưa thể làm nên mùa Xuân cho dân tộc Việt, nhưng đấy là những viên đá hiếm quý lót đường cho tương lai một nước Việt Nam dân chủ, tự do và nhân quyền. Ngày tàn của ĐCSVN không còn xa, vì hành động bọn chúng đã và đang làm đã đến mức cùng cực, mà “cùng tắc biến”. Tội ác và sự ngu xuẩn của ĐCSVN qua kế hoạch khai thác Bauxit rước voi về dày xéo quê cha đất tổ là hết cỡ rồi.

“Toàn dân nghe chăng, sơn hà nguy biến!” Đồng bào ơi! Giờ hành động nay đã điểm: ngọn lửa Thái Hà, Ba Giang … cần được thắp sáng lên trên khắp ba miền Trung Nam Bắc. Ngọn lửa “bất tuân dân sự” của Hòa Thượng Thích Quảng Độ đã thắp lên. HĐGMVN còn đợi gì mà không tham gia nhập cuộc? HĐGMVN còn đợi gì mà không lên tiếng kêu mời con dân Việt Nam đồng loạt thắp lửa tại mỗi tư gia, thắp lửa tại mỗi nhà thờ, trên khắp đất nước Việt Nam? Đồng bào ơi, chúng ta cương quyết đòi cho được công bằng, công lý và sự thật, trả lại cho người dân Việt. Dối trá lọc lừa nay đã quá đủ! Kể từ năm 1945 cho đến nay, người dân Việt chưa hề sống cuộc sống của con người. ĐCSVN đã bịt tai, bịt mắt, bịt miệng nhân dân đã trên 55 ròng rã! Đất nước và dân tộc Việt Nam chịu đọa đày ô nhục đã đủ rồi!

Công bằng, công lý và sự thật phải được trả về cho dân tộc Việt; đồng một lòng chúng ta tập trung cầu nguyện, một lòng thắp lửa hành động vào mỗi chiều thứ Bảy, kéo dài sang ngày Chủ nhật, tại từng xứ đạo, tại mỗi nhà thờ, tại mỗi ngôi chùa, tại mỗi thánh thất, tại mỗi thành phố … khắp nơi trên cả nước Việt Nam. Lực lượng công an nào đàn áp cho nổi? Súng đạn nào có thể bắn giết, nhà tù nào có thể chứa được hàng vạn hàng triệu con người đồng lọat tham gia thắp nến?! Thà chết vinh hơn sống nhục! Sao dân tộc tôi lại phải nhẫn nhục chịu đựng để kẻ ác cầm quyền tác oai tác quái trên 55 năm nay? Sao dân tộc tôi vẫn tiếp tục im hơi lặng tiếng trước mưu ma chước quỉ của bọn cầm quyền CS, độc quyền cai trị để tiếp tục làm giàu trên nỗi thống khổ và mất mát triền miên của người dân thấp cổ bé miệng?

“Tham sinh úy tử” thuộc bản tánh tự nhiên của con người! Nhưng, sợ chết, sợ tù đày, sợ mất mát, mà không dám đứng lên tiêu diệt sự ác, không dám nói lên sự thật, không dám thắp lên ngọn lửa Thái Hà trên quê hương Việt Nam, thì cái tôi của mỗi người Việt Nam, cái tôi của tập thể Việt Nam, cái tôi của tôn giáo Việt Nam đúng là một thằng hèn. Hỡi ơi, khi tôi chết, xin đừng ai dư nước mắt tiếc thương cho một thằng hèn như tôi, vì tôi đã chết mà vẫn thở tự lâu rồi!

Nguyễn Đông-Khê
Đầu tháng Năm 2009


TRỊNH CÔNG SƠN DÙ TÀI HOA CŨNG LÀ PHƯỜNG HẠI DÂN! - Nguyễn-Công-Chính

    Vinh Danh Trịnh Công Sơn (?)
    TRỊNH CÔNG SƠN DÙ TÀI HOA CŨNG LÀ PHƯỜNG HẠI DÂN!
Nguyễn-Công-Chính

Trịnh Công Sơn, sinh ra và lớn lên tại Miền Nam Tự Do. Thời thanh xuân, thập niên 1960, ông đã có những bản tình ca ướt át, ủy mị được nhiều thanh niên tuồi yêu đương ưa thích và hâm mộ.

Thuở ấy, nhạc của TCS bình dị, gần gũi với tâm tư tình cảm của thanh niên, thiếu nữ mới bước vào thế giới của tình yêu; lời ca của TCS có tính chất huyễn hoặc, đưa người nghe đến những chốn mơ hồ, gọi mời vào mộng mị... của “đường phượng bay”, của “mưa giăng trên thành phố” của “ngày em đi, biển nhớ tên em gọi về”, của “tình ngỡ đã quên đi, nhưng...”, của “rừng thu trút lá, em vẫn chưa về” vân vân.

Thuở ấy, TCS là thần tượng của những tâm hồn lãng mạn ủy mị, nhạc của TSC đã được giọng ca điêu luyện của Khánh Ly truyền đạt, diễn tả và ông đã nổi tiếng về nhạc trữ tình. Hầu như khắp nơi tại miền Nam Tự Do, nhạc tình của TCS được phổ biến một cách rộng rãi trong các Phòng Trà, các Nhạc Hội Chủ đề, được in, được thu băng để phát hành.

Nhưng không hiểu vì sao, vào những năm 1962, 1963 Trịnh Công Sơn rời bỏ nhạc tình của thuở ấy để viết nhạc phản chiến một chiều, chống lại cuộc chiến đấu tự vệ của quân dân Việt Nam Cộng Hòa, ngăn làn sóng đỏ của Cộng sản Bắc Việt đang ồ ạt tràn qua vĩ truyến 17, xâm lăng miền Nam.

Rồi trong Biến Cố Mậu Thân tại Huế, khi Việt Cộng sát hại hơn bốn ngàn thường dân, Trịnh Công Sơn không một mảy may xúc động, ôm đàn “lên đồi cao hát trên những xác người”. Ông hát về “đại bác ru đêm vọng vào thành phố, người phu quét đường dừng chổi đứng nghe” nhưng ông không hát về những cuộc pháo kích của Việt Cộng vào thành phố, hỏa tiễn Liên Xô sát hại lương dân tại Huế và nhiều thành phố khác.

Nhiều người miền Nam, đặc biệt là các chiến sĩ nơi các tiền đồn đã bắt đầu linh cảm có một cái gì đó không được tốt lành trong nhạc và lời của Trịnh Công Sơn, họ dần dần xa lánh con người phản chiến một chiều này. Tuy vậy, hầu như, người miền Nam Tự Do, không ai coi Trịnh Công Sơn là kẻ thù, mặc dầu nhạc phản chiến của ông đâm sau lưng chiến sĩ, đánh vào chính phủ Việt Nam Cộng Hòa.

ÐỐ AI BIẾT ÐƯỢC?

Người dân bình thường, một số giới chức chính quyền miền Nam đã coi việc TCS làm nhạc phản chiến chỉ là do tâm hồn nghệ sĩ mà thôi, Trịnh Cộng Sơn vẫn là người quốc gia. Có lẽ ngoài cơ quan an ninh và tình báo Việt Nam Cộng Hòa mới biết được thực sự TCS là người như thế nào. Ngoài ra, đố ai biết được?

Ðố ai biết được từ “Thuở ấy” nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã từng vào hát và sinh hoạt với Việt Cộng trong các chiến khu quanh vùng Sài Gòn!

Trong tập bút ký “Trịnh Công Sơn, có một thời như thế” chính nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã thuật lại các chuyến “ra mật khu Việt cộng” như sau:

“Thuở ấy Nhị Xuân, em ở nông trường, em ra biên giới

“Ðêm Nhị Xuân không còn thấy rõ màu đất đỏ và những bãi mía, bãi dứa cùng lán trại cũng khoác một màu áo khác. Mưa xuống. Hội trường dã chiến như một cái rá lọc nước thả xuống những giọt dài. Chúng tôi (Phạm Trọng Cầu, Trần Long Ẩn và tôi ...) cùng anh em Thanh niên Xung phong nam nữ hát với nhau dưới một bầu trời được trang trí lạ mắt như thế. Ðêm cứ dài ra và những tiếng hát cứ dài ra. Nước ở con kênh dâng lên. Mặc kệ. Cứ đứng, cứ ngồi, cứ hát. Gần khuya có cô gái Thanh niên Xung phong nhanh nhẹn vui tươi mang cho cho chúng tôi những bát cháo gà trước khi chia tay. Những khuôn mặt ấy, tôi đã quen đã nhìn thấy nhiều lần. Một giờ khuya, lên xe giã từ Nhị Xuân, lòng còn âm vang tiếng cười, tiếng hát. Những bàn tay siết chặt, những cái vẫy trong đêm không nhìn thấy. Quá giờ giới nghiêm, xe dừng lại giữa đường, không được vào thành phố. Ngủ lại chờ sáng về lại thành phố, trở lại công việc thường ngày. Nhưng ở Nhị Xuân, có hai mươi người con gái Thanh niên Xung phong đi về phía khác. Mấy tháng sau, tôi được tin tất cả hai mươi khuôn mặt tôi đã nhìn, đã gặp đêm hôm nào ở Nhị Xuân cùng nhau ca hát, đã hy sinh ở biên giới Tây Nam. Những tiếng hát giọng cười còn đó. Những cây mía cây dứa các bạn trồng vẫn còn đó, vẫn lớn lên ...” (ngưng trích)

Với truyền thống “Liên tài” tức là “thương xót kẻ tài hoa” người miền Nam, gồm cả cơ quan an ninh, đã để cho nhạc sĩ TCS đi về thoải mái, không bắt bớ giam giữ gì.

Chân tướng, khuôn mặt thật của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã lộ rõ trong ngày quân cộng sản Bắc Viết tiến vào chiếm Thủ Ðô Sài Gòn của Việt Nam Cộng Hòa.

“Vào ngày 30- 4-1975, Trịnh Công Sơn đã lớn tiếng minh định anh ta không phải là người Quốc Gia khi hát bài Nối Vòng Tay Lớn trên đài phát thanh Sàigon để “chào mừng cách mạng thành công ” vào lúc xe tăng CS Bắc Việt vừa tới dinh Ðộc Lập! Trong lúc Trịnh Công Sơn hát “Nối Vòng Tay Lớn” thì nhân dân Sài Gòn đang nối đuôi nhau chạy trốn cộng sản dưới mưa đạn pháo kích do xe tăng và đại bác quân Bắc Việt dội vào thành phố làm sập nhà và chết người.

TRỊNH CÔNG SƠN HIỆN NGUYÊN HÌNH CỘNG SẢN


“Sau năm 1975, để xác định lập trường, Trịnh Công Sơn đã dũng cảm đốt cháy danh dự và tư cách của một nghệ sĩ qua những sáng tác “Huyền Thoại Mẹ”, “Em Nông Trường Em Ra Biên Giới”, “Ra Chợ Ngày Thống Nhất”, “Ánh Sáng Mạc Tư Khoa”...

“Chừng đó cũng đã quá đủ để chứng minh con người của Trịnh Công Sơn là một Tên Cộng Sản Nằm Vùng! Ðúng như thế, trong suốt chiều dài cuộc chiến Việt Nam, Trịnh Công Sơn đã xác định chỗ đứng của mình rất rõ ràng. Ông ở Sài Gòn nhưng đã đứng hẳn bên kia chiến tuyến, về phía Cộng Sản Hà Nội để đánh phá chính quyền và quân đội Miền Nam! Ông đã hiện nguyên hình một tên Cộng Sản Nằm Vùng, đâm sau lưng chiến sĩ, còn nguy hiểm gấp trăm ngàn lần những tên Cán Binh Việt Cộng cầm AK trực diện với chúng ta ngoài mặt trận.

“Lý Quý Chung, một nhà báo và là một dân biểu Việt Nam Cộng Hòa, sau ngày 30-4-1975 đã chính thức phô bày bộ mặt thật, có viết về hai chữ “gia nô” như sau:

- Ở miền Nam trước 1975, một người chỉ cần nói đọc báo nào, nghe nhạc gì thì biết ngay người đó là ai, thái độ của người đó đối với chế độ Thiệu và người Mỹ như thế nào và thái độ của người đó đối với cuộc chiến tranh ra sao? Có báo “ gia nô” (đó là cách gọi của người Sài Gòn trước 1975 đối với loại báo chí của chính quyền Thiệu hoặc theo phe Thiệu ).... ( TCS MTNT tr. 210).

TRỊNH CÔNG SƠN ÐÃ TRỞ THÀNH GIA NÔ CỦA SÁU DÂN VÕ VĂN KIỆT

“Bài viết của Nguyễn Quang Sáng ghi lại nguyên nhân ra đời của hai bản nhạc “Em còn nhớ hay em đã quên” và “Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui”. Nguyễn Quang Sáng cho biết anh Sáu Dân Võ Văn Kiệt chỉ mới nói vài lời mà Trịnh Công Sơn đã lãnh hội được ý của anh Sáu muốn cái gì và Sơn tự biết mình phải làm cái gì !

Nói theo cách của Lý Quý Chung, đây đúng là hành vi của một “gia nô”. Thiên tài âm nhạc Trịnh Công Sơn sau 1975 đã tự biến hình thành một nhạc - nô viết nhạc theo ý muốn của “trên” để đáp ứng cho nhu cầu tuyên truyền.

Trịnh Công Sơn đã được Thủ Tướng Cộng sản Võ Văn Kiệt ưu đãi về vật chất, thường mang rượu Tây, rượu Mỹ, rượu Tàu đến tặng cho TCS. Mỗi lần có bạn văn nghệ sĩ đến nhà, TCS thường mời họ uống rượu, trước khi mở chai, TCS thường đố anh em “ai biết chai rượu này từ đâu đến?”. Rồi ông tự trả lời là từ “anh Sáu Dân” hay từ đồng chí Bí Thư Thành Ủy vân vân.

“Cũng qua bài viết của Nguyễn Quang Sáng, độc giả còn được nhìn thấy cung cách và thái độ của thiên tài âm nhạc họ Trịnh đối với anh Sáu Dân Võ Văn Kiệt. Cái thái độ ấy phải gọi thế nào cho đúng? Bưng bô? Liếm gót?

TRỊNH CÔNG SƠN VÀ GIỌNG ÐIỆU CỦA CÁN BỘ TUYÊN TRUYỀN VIỆT CỘNG

Nhà Văn Nguyễn Quang Sáng viết tiếp:

“Riêng cái cung cách của một cán bộ tuyên truyền thì được Trịnh Công Sơn thể hiện rất rõ qua những lời sau đây: “việc in ấn càng lúc càng khó khăn, nhất là sau khi có lệnh tịch thu của chính quyền Nguyễn văn Thiệu toàn bộ các tập ca khúc và băng nhạc của tôi ... phải rải ra trong ba bốn nhà in khác nhau ... chuyện đi đứng không phải dễ dàng ... đi từ một nhà in ở Sàigòn đến một nhà in ở vùng Chợ Lớn phải qua biết bao nhiêu là trạm xét hỏi ....”

“Nếu chính quyền Nguyễn văn Thiệu tịch thu toàn bộ các tập ca khúc và băng nhạc của Trịnh Công Sơn, thì chính quyền nào cấp giấy thông hành cho ca sĩ Khánh Ly sang Nhật hát bản “Diễm Xưa của họ Trịnh tại hội chợ quốc tế Expo Osaka năm 1970? Chẳng lẽ đó là chính quyền Hà Nội?

“Nếu chính quyền ông Thiệu ra lệnh tịch thu toàn bộ các tập ca khúc, thì tại sao các tập ca khúc của Trịnh Công Sơn với hình bìa do Trịnh Cung, Ðinh Cường vẽ, vẫn được bày bán công khai tại các nhà sách ở Sài Gòn, ai muốn mua bao nhiêu cũng có?

Nếu chính quyền ông Thiệu tịch thu toàn bộ băng nhạc thì tại sao “nhạc Trịnh” vẫn vang dội tại các quán cà phê ở Sài Gòn, tại các câu lạc bộ quân trường? Khánh Ly vẫn nhởn nhơ trình diễn nhạc Trịnh tại Queen Bee hàng đêm, và nhạc Trịnh vẫn được hát tại câu lạc bộ Huỳnh Hữu Bạc trong trại Phi Long - Tân Sơn Nhất vào mỗi cuối tuần?

Và đây mới là chuyện lạ bốn phương: “đi từ một nhà in ở Sài Gòn đến một nhà in ở vùng Chợ Lớn phải qua biết bao nhiêu là trạm xét hỏi ...” Ðây là thời điểm nào? Trước 30 tháng 4 năm 75 hay sau ngày “giải phóng”?

TRỊNH CÔNG SƠN KHÔNG CÒN XỨNG ÐÁNG ÐỂ VINH DANH!

“Theo chúng tôi được biết, về sau, để trả công lao cho tên nhạc sĩ năm vùng này, Hà Nội đã cho Trịnh Công Sơn đi thăm Mạc Tư Khoa, tại cái nôi vô sản này của thế giới cộng sản, Trịnh Công Sơn đã lần đến lăng Lenin và sáng tác nhạc phẩm “Ánh Sáng Mạc Tư Khoa”. Về lại Hà Nội, bài này được hát trên đài vài hôm thì biến động ở Nga xẩy ra, và sau đó, đế quốc Liên Sô sụp đổ, “Ánh Sáng Mạc Tư Khoa” cũng theo đó mà chìm vào đêm tối thiên thu.

“Sau khi chúng tôi đưa ra ánh sáng về trường hợp Trịnh Công Sơn, không biết những ai từng là nạn nhân của cộng sản, có thấy lương tâm vẩn đục khi vẫn còn coi Trịnh Công Sơn là thần tượng, trong những chương trình hát theo đĩa, trong băng nhạc, trong âm thanh. Người ta sẽ thật vô tình khi vẫn để Trịnh Công Sơn ngồi chễm chệ trên nỗi đau của mình mà không biết tủi nhục.” (Trần Quan Long & Bắc Phong Sài Gòn).

Kết luận:

Những người mở tiệc Vinh Danh Trịnh Công Sơn tại Sacramento ngày 24 tháng 4 năm 2009 là những kẻ cố ý hay vô tình “vẫn để Trịnh Công Sơn ngồi chễm chệ trên nỗi đau của mình mà không biết tủi nhục.”

Vinh danh Trịnh Công Sơn là chà đạp lên những oan hồn của nhân dân và chiến sĩ miền Nam Việt Nam đang phảng phất không nguôi về sự phản bội của một nhạc sĩ đã đem tài năng của mình phục vụ loài quỷ dữ tàn hại quê hương, đọa đày dân tộc Việt.

Nguyễn-Công-Chính


Tưỏng niệm Tháng Tư Đen - Gs Nguyễn Thanh Liêm


Kính chuyển đến quý vị và các bạn ở Việt Nam lời nhận định tâm tình của Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Thanh Liêm, nguyên là Hiệu Trưởng Trường Trung Học Petrus Ký ở miền Nam trước 1975, cựu Thứ Trưởng Bộ Văn Hóa Giáo Dục và Thanh Niên Việt Nam Cộng Hòa. Hiện nay Gs Thanh Liêm là Chủ Tịch Lăng Ông Lê Văn Duyệt Foundation tại Hoa Kỳ.



KÍNH NHỜ CHUYỂN TIN VỀ VIỆT NAM

TƯỞNG NIỆM THÁNG TƯ ĐEN

Gs Nguyễn Thanh Liêm

(quý vị bấm nghe âm thanh)

http://audio.freevietnews.com/20090502gs_nguyenthanhliem.m3u



Hoa Kỳ ngày 2/5/2009


Thưa Quý Đồng Hương,


Người dân Việt không cộng sản không bao giờ quên được hình ảnh hãi hùng của Tháng Tư Đen. Tháng Tư năm 1975 là tháng đen tối nhất trong lịch sử nước nhà. Đó là tháng mà Cộng Sản Bắc Việt xua quân vào xâm chiếm Miền Nam tự do, gây chết chóc, khốn khổ cho bao nhiêu triệu người vốn chỉ muốn được sống bình yên hạnh phúc nơi quê hương xứ sở của mình.

Bỏ tù, áp bức, cướp của, đày đoạ người dân vào cảnh khốn cùng. Biết bao nhiêu người phải lìa bỏ quê hương ra đi tìm tự do, tìm cái sống còn trong cái chết. Ai cũng có người thân, bạn bè, bà con đi tù cộng sản, khổ sờ hay chết trong ngục tù, hay bỏ xứ ra đi chết ngoài biển cả. Ai ai cũng là nạn nhân của chủ nghĩa, của chế độ cộng sản Hà Nội.


Hơn ba mươi năm qua rồi, người dân Việt ở trong nước mỗi ngày một khốn khổ hơn dưới ách thống trị độc tài của Đảng Cộng Sản. Trong khi những đảng viên cộng sản và thân nhân của họ tích lũy của cải, làm giàu kinh khủng trên mồ hôi, nước mắt của dân đen, thì bao nhiêu ngàn cây số vuông đất liền và mặt bể đã được nhường cho Trung Cộng. Hoàng Sa, Trường Sa và cả vùng biển Đông không còn là của Việt Nam nữa. Tây Nguyên rộng lớn, phì nhiêu, xương sống quan trọng của Việt Miên Lào đã vào tay các chiến lược gia kinh tế/quân sự Trung Quốc.


Bao nhiêu học sinh ở vùng đồng bằng sông Cửu Long bỏ học vì phụ huynh không có tiền đóng học phí cho trường. Bao nhiêu thanh thiếu nữ rời bỏ làng quê đi bán mình ở các nhà thổ, hay làm vợ ngoại bang kiếm tiền nuôi gia đình. Bao nhiêu người dân mất đất kéo nhau đi khiếu kiện năm này qua tháng nọ, chẳng được ai giải quyết cho.


Bao nhiêu công nhân viên khổ nhục với đồng lương chết đói, bị nhà nước chèn ép để làm vừa lòng các chủ nhân ngoại quốc. Bao nhiêu người đấu tranh cho tự do dân chủ bị vào tù, vì những tội do công an vu khống. Bao nhiêu nhà tu, nhà lãnh đạo tôn giáo chân chánh bị giam lỏng hay ngồi tù. Hơn bảy mươi phần trăm dân chúng sống trong thiếu thốn đói nghèo.


Là nạn nhân của cộng sản chúng ta nhớ mãi tháng Tư đen tối của lịch sử. Nhớ Tháng Tư Đen là nhớ đến sự tàn độc, sự sai lầm, tham vọng bành trướng, áp bức thống trị, gây tang thương cho nhân loại ở khắp nơi trên thế giới. Nhớ đến Tháng Tư Đen là nhớ đến chủ nghĩa cộng sản vô nhân đạo, phi nhân bản, độc tài, tàn bạo, đi ngược lại tinh thần yêu chuộng tự do, dân chủ, nhân bản của con người.


Nhớ như vậy để đừng chấp nhận chủ nghĩa cộng sản, đừng tôn sùng các anh hùng cộng sản như Lênin, Stalin, Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh, đừng đề cao cờ đỏ sao vàng. Đừng để cộng sản dụ dỗ, lợi dụng lòng yêu nước, tình thương dân tộc và quê hương xứ sở của mình. Màu đỏ là màu máu, cờ đỏ là cờ máu, người cộng sản xăm chiếm, cai trị bằng máu của dân. Cộng sản không hề lo cho dân, không hề phụng sự cho quốc gia dân tộc. Ngược lại cộng sản chỉ dùng quốc gia và nhân dân như những phương tiện phục vụ cho Đảng, hay những đảng viên cộng sản mà thôi.


Nhưng tưởng nhớ Tháng Tư Đen không phải chỉ để thương khóc những tai ương đã qua, đã trở thành lịch sử. Tưởng niệm Tháng Tư Đen còn là một cố gắng hướng đến tương lai, xây dựng một cái gì tốt đẹp, có ý nghĩa và có ích lợi cho quốc gia dân tộc. Chúng ta hãy nghĩ đến việc xây dựng một con người Việt Nam có tinh thần nhân bản, khoa học, tự do, vị tha, đạo đức, khác hẳn con người cộng sản.


Chúng ta hãy chung sức đấu tranh bền bĩ, bất bạo động, cho dân chủ, tự do, cho một nền văn hoá nhân bản đạo đức, có tinh thần dân tộc và khoa học. Văn hoá tốt đẹp của người Việt từ xưa đã bị chế độ cộng sản xoá bỏ để thay thế bằng văn hoá mác xít. Chúng ta hãy góp sức bảo tồn và phát huy truyền thống văn hoá tốt đẹp của người Việt Nam , mà ông cha chúng ta đã khổ công xây đắp.


Những người lớn tuổi, những người của thế hệ một tị nạn cộng sản ngày nay chẳng còn được bao nhiêu, và chẳng còn bao lâu nữa trên cõi đời này. Ước vọng của họ là được thấy các thế hệ tiếp nối, giữ vững căn cước quốc gia với cờ vàng ba sọc đỏ, với truyền thống tốt đẹp của nền văn hoá nhân bản dân tộc của người Việt tự do để ngày nào đó trong tương lai sẽ đem vinh quang về cho xứ sở.


Giáo sư Nguyễn Thanh Liêm

Hoa Kỳ ngày 2/5/2009

(quý vị bấm nghe âm thanh)

http://audio.freevietnews.com/20090502gs_nguyenthanhliem.m3u


Đ
ể đánh dấu ngày 30-4-1975 miền Nam rơi vào chế độ cộng sản tàn bạo, để yểm trợ đồng bào quốc nội đấu tranh cứu nước, chúng tôi sẽ lần lượt chuyển đến quý vị và các bạn ở quốc nội một số AUDIO
chọn lọc từ Cộng Đồng Người Việt Tị Nạn Cộng Sản ở Hải Ngoại, nhận địnhtâm tình với quý đồng bào thân thương ở Việt Nam.


Kính nhờ phổ biến rộng rãi qua mạng lưới thông tin toàn cầu Internet, Emails, Websites, Blogs, Paltalk, e-groups, Radio Báo online.....