Thursday, April 23, 2009

Chùa Pháp Âm tại Nam Úc tuyên bố ly khai khỏi GHPGVNTN/HN UĐL TTL

Chùa Pháp Âm tại Nam Úc tuyên bố ly khai khỏi GHPGVNTN/HN Úc Đại Lợi Tân Tây Lan do HT Thích Như Huệ làm Hội Chủ Trì.

Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại Vùng Bắc Nam Úc
Chùa Pháp Âm
Lot 199 Angle Vale Rd,
Hillier SA 5116, Australia
Tel 08 8284 7764


Thông Báo

Kính thưa quý đồng hương và Phật tử

Sau một cuôc họp mặt và thảo luận giữa đồng hương Phật tử và Ban Trị Sự Chùa Pháp Âm, chúng tôi trân trọng thông báo với đồng hương Phật tử những việc sau đây:

1. Nhận thấy Viện Hóa Đạo của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhứt (GHPGVNTN) với Đại Lão Hoà Thượng Thích Quảng Độ là Viện trưởng, đã công bố không thừa nhận và không chịu trách nhiệm GHPGVNTN/HN UĐL TTL do HT Thích Như Huệ làm Hội Chủ, vì Giáo Hội nầy bất khâm tuân Giáo chỉ số 9 cùng các Thông Điệp, Thông Bạch, Thông Tư của Hội Đồng Lưỡng Viện và còn tiếm danh của GHPGVNTN.

2. Ngày 9 tháng 9 năm 2008, HT Thích Như Huệ và tập thể thành viên trong GHPGVNTN/HN UĐL TTL đã ký tên trên Tuyên Bố Chung, chánh thức công bố sinh hoạt độc lập, không trực thuộc GHPGVNTN do Đại Lão HT Thích Quảng Độ lãnh đạo, và tỏ ý chống báng với những lời lẽ bất kính.

3. Hoà Thượng Thích Như Huệ đã hợp tác với các giáo hội khác qua việc ký tên thành lập GHPGVNTN Liên Châu tại Sydney ngày 1 tháng 1 năm 2009 để minh định lập trường không trực thuộc GHPGVNTN trong quốc nội do Đại Lão Hoà Thượng Thích Quảng Độ lãnh đạo.

4. Nhận thấy lập trường của Người Việt tự do tị nạn cộng sản luôn luôn ủng hộ GHPGVNTN do Đại Lão HT Thích Quảng Độ lãnh đạo trong công việc tranh đấu cho tự do tôn giáo, dân chủ và nhân quyền cho VN.

  • Với những lý do nêu trên, đồng hương Phật tử và Ban Trị Sự của chùa Pháp Âm quyết định:
1. Không chấp nhận liên hệ dưới bất cứ hình thức nào với chùa Pháp Hoa do HT Thích Như Huệ làm Viện chủ.

2. Đặt chùa Pháp Âm hoàn toàn nằm trong sự lãnh đạo của HT Thích Quảng Độ, Viện Trưởng Viện Hóa Đạo GHPGVNTN trong nước.

Những quyết định trên được áp dụng kể từ ngày ra thông báo nầy.

Lập tại chùa Pháp Âm ngày 6 tháng 4 năm 2009

TM Ban Trị Sự Chùa Pháp Âm
Âu Oanh Liệt

Bản Sao Kính Gởi:

- Hòa Thượng Thích Như Huệ, chùa Pháp Hoa
- Các cơ quan truyền thông, báo chí
- Phòng Thông tin Phật Giáo quốc tế
- Văn Phòng 2 Viện Hóa Đạo
- Hồ sơ - Lưu trữ


Wednesday, April 22, 2009

30 Tháng Tư Năm 1975: Ngày Đau Thương Của Cả Nước - Trần -Tinh Bạch Thái Tường

Trần -Tinh Bạch Thái Tường

Lịch sử nước Việt Nam trải qua nhiều thăng trầm, biến đổi trong suốt chiều dài lịch sử hơn 4 ngàn năm dựng nước và giữ nước.

Mỗi giai đoạn biến đổi đều có một mốc thời gian nhất định để đất nước chuyển từ trạng huống này sang trạng huống khác, nói một cách rõ hơn là sự thay đổi của một chính thể hay một thể chế.

Biến cố 30 tháng 4 năm 1975 là một dấu mốc lịch sử, là một bước ngoặc đổi thay cả một thể chế 20 năm Cộng Hoà của miền Nam Việt Nam. Kể từ đó, Cộng sản Việt nam tiến hành cưỡng đặt chính thể Việt nam Dân chủ Cộng hòa trên địa bàn cả nước (sau này đổi thành Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt nam, một danh xưng “mỹ miều” của chủ nghĩa Cộng sản).

Đi sâu hoặc phân tích để tìm hiểu cái hay , cái dở của từng chính thể hẳn phải đòi hỏi nhiều thời gian và tài liệu nghiên cứu.

Trong phạm vi của bài cảm nghĩ hôm nay, thử tìm hiểu xem ngày 30 tháng 4 năm 1975 là ngày thế nào, hằn chứa những suy tư và ý nghĩa gì ?

Sau khi Tổng Thống (3 ngày) Dương Văn Minh ra lệnh cho toàn thể Quân, Cán, Chính ngưng mọi sinh hoạt để sẵn sàng bàn giao nhiệm sở cho “cái gọi là” lực lượng giải phóng miền Nam Việt Nam (hay theo ngôn từ của Tổng Thống Minh là “người anh em phía bên kia), thì tâm trạng của toàn quân, toàn dân miền Nam Việt Nam đều ngỡ ngàng và uất nghẹn. Sự uất nghẹn và ngỡ ngàng đó thậm chí đã làm cho một số Tướng lãnh, Sĩ quan, Hạ sĩ quan, binh sĩ và Cảnh sát tìm cái chết oanh liệt của họ là tự sát hay cố chiến đấu đến gần hơi thở cuối cùng rồi quay súng tự kết liễu đời mình.

Sau đó, rồi tới những chuỗi ngày tiếp nối, Sĩ quan các cấp (quân đội cũng như cảnh sát), các Hạ sĩ quan thuộc các thành phần nguy hiểm (theo đánh giá của Việt cộng lúc bấy giờ), các vị chỉ huy hành chánh , các cán binh Cộng sản chiêu hồi , các cảnh sát viên đặc biệt bị lùa vào các trại tập trung cải tạo bằng những thông cáo với ngôn từ mập mờ làm cho mọi người hiểu rằng chỉ đi học tập cải tạo 10 ngày (đối với sĩ quan cấp úy trở xuống) và một tháng (đối với sĩ quan cấp tá trở lên).

Về phần dân chúng thì không an tâm, lúc nào cũng nơm nớp về các vụ đấu tố hay tịch biên gia sản. Nên không ai bảo ai, lũ lượt mang các đồ đạc, tiện nghi trong nhà đi bán.

Thế rồi việc gì đến đã đến.

Những người gọi là đi học tập cải tạo đã không phải là 10 ngày hay một tháng mà bằng những thời gian không hạn định rõ rệt. “Các anh cứ học tập tốt, lao động tốt, rồi sẽ được nhà nước khoan hồng cho trở về xum họp với gia đình để xây dựng cuộc sống mới”. Đại để là ở trại tập trung nào, cán bộ quản giáo (bộ đội hay công an) cũng đều đưa ra những “khuyên nhủ” như vậy để vỗ về và trấn an.

Không có gì ngạc nhiên khi có một số anh em đã tìm cách trốn trại. Ai may mắn thì thoát, người xấu xố thì bị bắt lại hay bị bắn chết.Nguyên do chỉ vì học tập mà không biết thế nào là tiến bộ, mà chỉ biết được rằng khi nào được gọi tên thả về đấy là lúc mình đã học tập tiến bộ. (Điều này phù hợp với câu nói của một số cán bộ quản giáo: “Anh nào được nhà nước cho về tức là đã tiến bộ”.)

Thực tế thì đã có một số được cho về sớm không phải vì lý do “học tập tiến bộ” mà vì họ là những chuyên viên kỹ thuật hay những chuyên viên các ngành mà nhà nước cần sử dụng cấp thời để làm việc hay huấn luyện cho các cán binh Cộng sản trong lúc nhu cầu cho các hoạt động cần thiết đòi hỏi.Một số khác về sớm là vì có giây mơ giẫy má với “gia đình cách mạng”, hoặc giả thuộc thành phần sức khoẻ quá nguy kịch (bệnh nặng, hay sắp chết) không tiện lưu giữ trong trại.

Phải thẳng thắn mà nói rằng những sĩ quan , các hạ sĩ quan, các công chức cao cấp cùng thành phần cảnh sát viên đặc biệt, cán binh chiêu hồi, đã bị cầm tù không tuyên án trong các trại tập trung dưới một mỹ từ “cải tạo” để che mắt nhân dân trong nướcvà dư luận thế giới.

Còn về phần dân chúng và gia đình các tù nhân (cải tạo) thuộc chế độ Việt Nam Cộng Hòa thì sao ? Nhà nước Cộng sản đã minh định: các gia đình giàu có là những thành phần tư sản mại bản, làm giàu trên xương máu của đồng bào. Còn gia đình của các tù nhân thuộc chế độ cũ là thành phần “ngồi mát ăn bát vàng”, phi lao động.

Do đó, họ (Cộng sản) đã trắng trợn tịch biên gia sản của những người giàu có đồng thời mở ra những buổi học tập ngắn hạn trong các phường, khóm lên lớp và tuyên truyền, thậm chí nếu cần cưỡng bức dân chúng thuộc các đối tượng nêu trên đi các vùng kinh tế mới với lý luận muốn giúp họ tạo dựng một cuộc sống mới tốt đẹp hơn theo đạo đức “xã hội chủ nghĩa”. Sự thật quá tàn nhẫn và đau thương khôn xiết khi những gia đình gọi là “tư sản mại bản” sau khi bị cướp đoạt của cải và nhà cửa đã phải lần lượt theo chân các gia đình tù nhân cải tạo đi về các vùng đất hoang vu “gọi là vùng kinh tế mới” để cuốc đất trồng khoai với những trợ giúp quá hạn hẹp của cơ quan chính quyền. Một số không ít những thương gia trước kia, vì quá uất ức, đã tìm cách quyên sinh để giải quyết nợ đời. Một số không nhỏ các gia đình khác vì không chịu được cảnh thiếu thốn quá cơ cực đã phải tìm cách trở về thành phố hay trôi dạt đến những vùng tương đối dễ kiếm sống hơn.

Chính sách “xây dựng các khu kinh tế mới” nhìn một cách khách quan giống như hình thức trả thù cho bõ ghét đối với một số “thành phần” nhất định của miền Nam Viêt Nam. Một vài chứng minh cụ thể (về sự trả thù) không chối cãi được: đó là, ngay sau khi có mặt tại Sài gòn, Cộng sản đã không ngần ngại sua đuổi các anh thương binh Quân lực Việt Nam Cộng hòa ra khỏi các quân y viện, bệnh xá ngay lập tức dẫu rằng có thương binh vết thương còn đang rỉ máu chưa kịp được băng bó.

Rồi khi tình hình tạm ổn định, việc học được tiếp tục thì các em thuộc thành phần “gia đình ngụy quân ngụy quyền”thì không được thu nhận vào các trường đại học. Ngay cả, việc xin vào làm việc ở các xí nghiệp, công sở cũng bị phân biệt đối sử.

Cộng sản đã áp dụng guồng máy cai trị kềm kẹp một cách hết sức chặt chẽ qua hình thức “tổ dân phố” dưới sự giám sát của tổ trưởng, tổ phó, công an khu vực. Nhân dân trong mỗi tổ dân phố người người đều có một suy nghĩ tự đề phòng và cảnh giác , chỉ sợ nhỡ ra vô ý, sẽ bị có kẻ tố giác mình thế này, thế nọ.

Sau này, qua sự biến đổi của tình hình thế giới, nhất là sau khi có sự tan rã của chủ nghĩa cộng sản ở các nước Đông Âu và sự sụp đổ của Đế quốc Liên sô (cái nôi của chủ nghĩa cộng sản quái gở), tình hình chính trị ở Việt nam có phần nào thay đổi: dân tình dễ chịu hơn, các tù nhân cải tạo được lần lượt cho về xum họp với gia đình và cùng xuất ngoại sang định cư tại Hoa Kỳ theo chương trình HO (Humanitarian Organization Program) dựa trên sự thỏa thuận giữa hai chính phủ Hoa kỳ và Cộng sảnViệt nam.

Tuy đổi mới theo xu thế của thời đại, nhưng nhân dân Việt nam vẫn bị cai trị, kềm kẹp bởi một tập đoàn lãnh đạo bảo thủ thiếu văn hoá. Bộ máy cai trị từ thượng tầng xuống đến cơ sở gồm đa số các cán bộ có “máu” hủ hoá, quan liêu, cửa quyền nhất nhì Đông Nam Á. Chính những thành phần “sâu dân mọt nước” này đã là những thủ phạm tạo cho Việt nam trở thành một trong những quốc gia nghèo khó nhất với mức thu nhập bình quân của nhân dân vào hạng gần chót trên thế giới.

Việt nam ngày nay đã bị liệt kê là một quốc gia không có dân chủ và nhân quyền. Các tệ nạn tham ô nhũng lạm đã là quốc nạn trên địa bàn cả nước. Cờ bạc, đĩ điếm, xì ke, ma tuý,(kể cả căn bệnh hiểm nghèo AIDS) lan tràn đều khắp từ thành thị xuống đến thôn quê, từ đồng bằng ngược lên miền cao, những thiếu nữ đã phải ngậm đắng nuốt cay liều thân chấp nhận trong các cuộc hôn nhân gượng ép với đàn ông Đài loan, Đại hàn bất kể không tương xứng về gia cảnh, tưổi tác miễn là có ít tiền giúp gia đình trang trải những khó khăn cấp thời. Rồi những công nhân phải chạy đôn chạy đáo hay chấp nhận vay nợ cắt cổ để được xuất ngoại lao động cũng với mong mỏi giải quyết được những khó khăn vật chất của gia đình.

Tập đoàn lãnh đạo đã cố tình hay làm ngơ trước việc những phần da thịt của Tổ quốc Việt nam bị xâm phạm và gậm nhấm dần. Hiện tượng khai thác Bâu xít ở Cao nguyên Trung phần theo sự nhận dịnh và phân tích của các vị thức giả, của các khoa học gia là một hình thức xâm phạm chủ quyền Việt nam một cách dưới chiêu bài “hợp tác” kinh tế và phát triển khoa học. Dù rằng nhà cầm quyền Việt nam có bao biện cách nào đi chăng nữa nhưng nhân dân Việt nam và “những người bàng quang’ trên thế giới đều có một nhận định tương tự: Nước Việt nam đang bị xâm thực.

Nhìn vào hoàn cảnh cụ thể ở Trường sa, Hoàng sa, lãnh hải vịnh Bắc bộ, những Nam quan, Bản giốc nơi biên giới Việt Trung, có phải da thịt Mẹ Việt Nam đang bị Phương Bắc gậm nhấm không ?

Dân tộc ta rõ bị một cổ hai tròng: giặc ngoài thì xâm lấn biển, đất, bên trong thì bị “cường hào ác bá tân thời” cưỡng chiếm ruộng vườn mà khiếu kiệu bao năm cũng chẳng đi tới đâu.

Những tỉ phú đô la Việt nam, những thành phần lãnh đạo Việt nam từ 1975 đến nay hẳn biết rõ hơn ai hết về thực trạng của tổ quốc mình.

Làm một việc so sánh cuộc sống của nhân dân miền Nam giữa hai chế độ: Việt Nam Cộng Hòa trước 1975 và Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam sau 1975 thì rõ ràng cuộc sống trước 1975 tự do, thoải mái hơn nhiều so với cuộc sống hiện tại.

Việt nam ngày nay, nếu chỉ nhìn vào những thay đổi và sinh hoạt nơi phố thị thì sẽ không phủ nhận có nhiều tiến bộ đáng kể. nhưng nếu nhìn dưới một lăng kính tổng thể, nghĩa là “đi sâu đi sát” vào quần chúng, phónh tầm nhìn vào những hang cùng ngõ hẻm “vùng xôi đậu” của thành thị, tỉnh lỵ hay xa hơn nữa nơi các làng mạc xã ấp vùng ngoại ô, vùng đồng bằng , chốn cao nguyên hay những nơi xa chốn đô hội thì người trung thực sẽ khách quan đánh giá : sự phồn vinh hiện hữu chỉ là giả tạo giữa hai bức tranh tương phản “thành thị và thôn quê”. Cái sự thay da đổi thịt nơi chốn phồn hoa không khác gì một thiếu nữ cố trau truốt nhan sắc để thu hút nhãn quan của tha nhân.

Những xa hoa, những tiến bộ của khoa học kỹ thuật đang diễn ra ở thành phố, thị trấn chỉ có thể hiểu được là phát xuất từ những kẻ giàu tiền lắm bạc, của những doanh gia, của những thế lực cầm quyền, của những con ông cháu cha, của những người tiêu xài vô tội vạ do đô la đổ về từ thân nhân sống tha hương nơi xứ người, chứ không phải từ đại đa số quần chúng nghèo khó sống bữa nay lo bữa mai.

Mọi người dân Việt nam, ở hải ngoại cũng như trong nước, ngoại trừ một số ít vinh thân phì gia, gió chiều nào theo chiều đó (không cần biết ý nghĩa của các chữ “tổ quốc” và “dân tộc” là gì ), thảy đều mong muốn một nước Việt nam có TỰ DO, DÂN CHỦ thực sự, được lãnh đạo bởi những người biết vì dân, vì nước, biết tôn trọng nhân quyền, một lòng một dạ đưa dân tộc đến ấm no, hạnh phúc như dân tộc của các nước tiên tiến trên thế giới.

Ngày nào mà nước Việt nam vẫn còn là một Quốc gia thiếu dân chủ và không có nhân quyền thì nhân dân vẫn coi “30 THÁNG TƯ NĂM 1975 LÀ NGÀY ĐAU THƯƠNG CỦA CẢ NƯỚC”.

Trần -Tinh Bạch Thái Tường


Trịnh Công Sơn, Một Loại Ký Sinh Trùng - BB&Liêm

BB&Liêm

Sau khi miền Nam bị CS cưỡng chiếm thì bao nhiêu sự thật lịch sử đã lần lượt được phơi bày, nhưng chân tướng của Trịnh Công Sơn vẫn còn được một số người cố gắng che dấu. Những người này cố tròng vào cổ Trịnh Công Sơn cái vòng hào quang “Quốc Gia” , họ tiếp tục ca tụng Trịnh Công Sơn là một người quốc gia !

Nhưng có một sự thật hiển nhiên mà họ không thể chối cãi được, là trong suốt cuộc chiến của người Việt Quốc Gia chống lại sự xích hoá của CS Quốc tế, được thực hiện bởi tay sai đắc lực là CS Hà Nội; Trịnh Công Sơn là một tên trốn lính. Chẳng những trốn lính, chẳng những đứng bên lề cuộc chiến, không hề chiến đấu bảo vệ chính bản thân của mình trước làn sóng xâm lăng của CS, Trịnh Công Sơn còn tiếp tay cho công cuộc xâm lăng của CS bằng những bài ca phản chiến !

Vào ngày 30 - 4-1975, Trịnh Công Sơn đã lớn tiếng minh định anh ta không phải là người Quốc Gia khi hát bài Nối Vòng Tay Lớn trên đài phát thanh Sàigon để “chào mừng cách mạng thành công ” vào lúc xe tăng CS Bắc Việt vừa tới dinh Độc Lập !

Nguyễn Đắc Xuân, một người bạn rất thân của Trịnh Công Sơn, một tay đao phủ của thành phố Huế trong biến cố Tết Mậu Thân 1968, (đệ nhất đao phủ là Hoàng Phủ Ngọc Tường, cũng là bạn rất thân của Trịnh Công Sơn - Trịnh Cung và Đinh Cường ), viết rằng:

“Từ sau ngày Trịnh Công Sơn qua đời, nhiều dư luận trong và ngoài nước có khuynh hướng “lôi anh về phía bên này” hoặc “đẩy anh về phía bên kia”. Đối với Trịnh Công Sơn ai lôi anh thì cứ lôi, ai đẩy anh thì cứ đẩy, “kệ”. Trịnh Công Sơn là Trịnh Công Sơn, ai muốn hiểu sao cứ hiểu. Tuy nhiên cuộc đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã thuộc về lịch sử, mà đã là lịch sử thì “bên này” hay “bên kia” phải được chứng minh bằng tư liệu, tư liệu thành văn và tư liệu sống, nói có sách mách có chứng. Không thể phát ngôn về Trịnh Công Sơn theo cảm tính hay theo một định kiến nào....” (Trịnh Công Sơn, có một thời như thế – Nguyễn Đắc Xuân - nhà xuất bản Văn Học).

Dựa theo những “tư liệu thành văn và tư liệu sống”, Nguyễn Đắc Xuân đã trích lại những điều sau đây do chính Trịnh Công Sơn viết xuống trong quyển sách vừa dẫn:

Thời kỳ trốn lính

Trước khi sống qua một thời kỳ bất ổn định, tôi đã từng có được hai năm sống thong dong hợp pháp như tất cả mọi người đàng hoàng đứng đắn trên mặt đất. Muốn được thế, tôi đã phải đánh đổi bằng gần sáu mươi ngày nhịn đói tuyệt đối trong hai năm (mỗi năm 30 ngày liên tiếp trước khi trình diện ) để đạt được cái mức độ không đủ tiêu chuẩn của một người lính. Nhưng muốn xuống kílô nhanh còn phải không ngủ và uống thêm điamox là một thứ thuốc rút bớt nước trong các tế bào ra. Qua năm thứ ba thì không ra trình diện nữa vì cảm thấy không đủ sức khoẻ để lặp lại cái chế độ ăn uống không có thực phẩm ấy nữa. Trốn lính gần như là một cái “nghề” đầy tính chất phiêu lưu của hàng triệu thanh niên miền Nam lúc bấy giờ. Thái độ phản kháng ấy, dù được nhìn dưới một góc độ nào đó còn mang tính thụ động, vẫn phải được nhắc nhở đến như một nốt nhạc trong trẻo đã ngân lên trong một giai đoạn u ám, nhiễm độc, giữa những đô thị miền Nam.

Tôi đã sống lang thang như một kẻ vô gia cư, vô định trú thứ thiệt. Thời gian không xê dịch nhiều, chỉ kéo dài khoảng ba năm, đó là lúc tôi nhập cư cùng một số sinh viên trốn lính khác đã có mặt trong những căn nhà tiền chế tồi tàn bỏ trống ở khu đất rộng sau trường đại học Văn khoa. Ở đây có một lợi thế là rất hiếm bị khám xét. Vào thời điểm ấy, trên khoảng đất trống lại mọc thêm một cái trụ sở Hội Hoạ Sĩ trẻ bằng gổ, hiện đa số hoạ sĩ vẫn còn có mặt trong thành phố. Giấc ngủ của tôi cứ tùy nghi hoán chuyển từ trên cái ghế bố trong túp lều này qua cái mặt nền xi măng của trụ sở hội nọ. Việc ăn uống đã có hàng quán dọc đường gần đó. Rửa mặt đánh răng thì mỗi sáng vào phòng vệ sinh của những quán cà phê quen thuộc, chỉ có việc mang theo khăn, kem và bàn chải đánh răng.

Thế đấy, nhưng chính những năm này là những năm sôi động nhất của đời tôi.

Sống trong tình trạng bấp bênh như thế tôi vẫn phải làm việc không ngừng để sống. Tôi vẫn viết đều tay và vẫn tiếp tục đi hát. Những ca khúc của tôi được in ra từng tờ rời và từng tuyển tập. Phụ trách công việc in ấn và phát hành đã có người em ruột của tôi, cũng cùng trốn lính, chăm lo. Việc in ấn càng lúc càng khó khăn, nhất là sau khi có lệnh tịch thu của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu toàn bộ các tập ca khúc và băng nhạc của tôi. Cảnh sát lúc bấy giờ được lệnh vào tận các nhà in để truy lùng. Thế là phải đổi kế hoạch. Thay vì in trong một nhà in, nay phải rải ra trong ba bốn nhà in khác nhau. Tịch thu nơi này còn nơi khác, và dĩ nhiên, chuyện đi đứng không phải dễ dàng. Đi từ một nhà in ở vùng SàiGòn đến một nhà in ở vùng Chợ Lớn phải qua biết bao nhiêu là trạm xét hỏi.

Sau lệnh tịch thu, tất cả báo chí trong và ngoài nước đều đưa tin . Các hãng thông tấn và truyền hình truyền thanh nước ngoài ào ạt đổ xô về nơi ăn chốn ở rất là “ híp pi” đó của tôi càng lúc càng đông. Mỗi ngày trung bình ít lắm cũng phải ba lần phỏng vấn, thu hình, thu mặt. Tôi bỗng trở nên người nổi tiếng bất đắc dĩ. Ban đầu cái sự kiện này cũng mang đến cho tôi chút niềm vui nhưng càng về sau càng trở thành một tai nạn. Họ săn đuổi tôi đến mọi chổ lánh mặt xa xôi nhất. Từ SàiGòn ra Huế, chỉ vài hôm sau đã thấy có mấy mạng người đủ các màu da, xứ sở khác nhau xuất hiện ở cửa. Đời sống bỗng chốc mất đi cái tự do được quyền không nói năng, được quyền ngồi yên tĩnh một mình mà suy ngẫm cho đến nơi đến chốn bao nhiêu điều mình chưa biết trong cõi đời rộng lớn này. Tôi phải sống những khoảnh khắc phù phiếm trên báo chí và trước ông kính ấy cho đến mười ngày trước ngày thành phố được hoàn toàn giải phóng. Giờ đây sau hai mươi năm thành phố đã mang tên Bác, thỉnh thoảng vẫn còn những cuộc phỏng vấn của người nước ngoài, nhưng vó không còn là một nỗi ám ảnh kinh hoàng nữa.

Nghĩ lại chuyện cũ, tôi biết rằng những cái đó có được là do tấm lòng ưu ái của quần chúng đối với mình. Sức mạnh tình cảm của đám đông quần chúng là một trong những tấm khiên che chở mình trước những mối đe dọa và là những kèo cột chống đỡ tinh thần và tình cảm mình được vững vàng trước bao nhiêu khó khăn phức tạp của cuộc sống.

Nhẩm tính lại, tôi đã hùn hạp tất cả vốn liếng của mình vào cái đại gia đình trốn lính vừa tròn chẵn mười ba năm.

Đã qua hẳn rồi cái thời của “bèo giạt mây trôi”, của những giấc ngủ bị săn đuổi. (sđd tr. 179-183)

Thuở ấy Nhị Xuân, em ở nông trường, em ra biên giới

Đêm Nhị Xuân không còn thấy rõ màu đất đỏ và những bãi mía, bãi dứa cùng lán trại cũng khoác một màu áo khác. Mưa xuống. Hội trường dã chiến như một cái rá lọc nước thả xuống những giọt dài. Chúng tôi (Phạm Trọng Cầu, Trần Long Ẩn và tôi...) cùng anh em Thanh niên Xung phong nam nữ hát với nhau dưới một bầu trời được trang trí lạ mắt như thế. Đêm cứ dài ra và những tiếng hát cứ dài ra. Nước ở con kênh dâng lên. Mặc kệ. Cứ đứng, cứ ngồi, cứ hát. Gần khuya có cô gái Thanh niên Xung phong nhanh nhẹn vui tươi mang cho cho chúng tôi những bát cháo gà trước khi chia tay. Những khuôn mặt ấy, tôi đã quen đã nhìn thấy nhiều lần. Một giờ khuya, lên xe giã từ Nhị Xuân, lòng còn âm vang tiếng cười, tiếng hát. Những bàn tay siết chặt, những cái vẫy trong đêm không nhìn thấy. Quá giờ giới nghiêm, xe dừng lại giữa đường, không được vào thành phố. Ngủ lại chờ sáng về lại thành phố, trở lại công việc thường ngày. Nhưng ở Nhị Xuân, có hai mươi người con gái Thanh niên Xung phong đi về phía khác. Mấy tháng sau, tôi được tin tất cả hai mươi khuôn mặt tôi đã nhìn, đã gặp đêm hôm nào ở Nhị Xuân cùng nhau ca hát, đã hy sinh ở biên giới Tây Nam.

Những tiếng hát giọng cười còn đó. Những cây mía cây dứa các bạn trồng vẫn còn đó , vẫn lớn lên. Tôi bồi hồi nhìn ra quãng trời rộng và thấy lại trong trí nhớ những con người trẻ trung ấy. Trong những trái tim ấy có gì khác chúng ta không. Trong giấc ngủ ban đêm, trên những vầng trán khoẻ mạnh ấy, đã có những cơn mơ nào. Chúng ta nói quá nhiều đến sự tròn đầy và chúng ta quên đi sự mất mát. Chúng ta vẽ ra lắm nụ cười mà quên đi những nỗi ngậm ngùi riêng tư. Những người bạn nhỏ đã ra đi thật vĩnh viễn, nhưng nỗi nhớ thương về họ chưa được hát đủ như một nỗi đau. Còn thiếu sót biết bao nhiêu điều chưa nói hết lúc ở nông trường và càng chưa nói được một mảy may lúc ra biên giới. Làm một điều gì chưa đến chốn với một người không còn nữa, có phải cũng đã là phạm tội với cuộc đời rồi hay không. Xin hãy tha thứ những dòng chữ óng mượt, những sắp xếp tinh khôn, những cân nhắc đong đưa xuôi chèo thuận lái. (Sđd, chương V: Phát thảo chân dung tôi – Trịnh Công Sơn. Trang 186-188 )

Anh Sáu Dân với Trịnh Công Sơn

Hơn hai mươi năm trước, đồng chí Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, đồng chí Võ Văn Kiệt “rủ” Trịnh Công Sơn và tôi đi khảo sát đất Trị An. Từ chuyến đi ấy Trịnh Công Sơn và tôi cũng như một số bạn bè gọi đồng chí Bí thư bằng anh Sáu, anh Sáu Dân rất thân mật. Chuyến đi ấy anh mang đến cho hai đứa tôi về giấc mơ điện “Trị An”. Còn anh, anh không chỉ mơ mà khẳng định quyết tâm và bắt tay tổ chức hiện thực.

Buổi chiều trên đường về mưa gió mịt mù. Trịnh Công Sơn và tôi ngồi trên chiếc xe jeep.

Về đến nhà anh Sáu, áo của Sơn đổi màu mưa bụi. Còn tôi, nhờ có chiếc áo gió, áo trong của tôi còn sạch. Anh Sáu bảo chúng tôi tắm, anh Sáu mang chiếc áo của anh cho Sơn. Chiếc áo ấy Sơn vẫn để trong tủ áo của mình, ít ai biết.

Anh Sáu đánh giá và bình phẩm ca khúc của Trịnh Công Sơn theo cách của anh. Với tôi anh Sáu là một nghệ sĩ, nghệ sĩ với con người chiến sĩ của anh. Không hề có khoảng cách về tuổi tác, về cương vị xã hội, hai người nghệ sĩ ấy đã gặp nhau, đã trở thành một đôi bạn chia sẻ nhiều nổi niềm không thành lời, không thành tiếng. Những năm khó khăn, cơm độn bo bo, có lần anh Sáu gởi gạo đến gia đình Trịnh Công Sơn.

Có một lần anh Sáu tâm sự với Sơn “Anh em trí thức ở thành phố mình bỏ đi nhiều quá. Mỗi người mỗi cương vị, làm sao giữ anh em lại, cùng xây dựng đất nước”. Sau đó Trịnh Công Sơn viết ca khúc “Em còn nhớ hay em đã quên”. Lần thứ hai, anh Sáu nói với Sơn “Trong lúc khó khăn này, làm sao mọi người đều có niềm tin, niềm vui, vượt lên khó khăn để xây dựng Thành phố...” Sau đó, Trịnh Công Sơn cho ra bài “Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui ”.

Sau này anh Sáu về Trung Ương, ở cương vị Phó Thủ Tướng, Thủ Tướng, Cố Vấn BCH Trung Ương Đảng, dù ở cương vị nào, mỗi lần về SàiGòn, ngoài công việc, anh hay gặp gở lại bạn bè. Trong những cuộc gặp gỡ ấy, thường có Trịnh Công Sơn. Những cuộc gặp ấy bao giờ Trịnh Công Sơn cũng ngồi gần anh Sáu, như không thể cách xa nhau. Theo tôi hiểu, ít có người Việt Nam nào đi khắp mọi miền như anh. Anh đến cả những vùng sâu vùng xa đến nỗi, chánh quyền địa phương cũng chưa đặt chân đến.

Anh kể với chúng tôi về những chuyến đi. Rồi ai có sáng tác nào mới, hát cho anh nghe. Trần Long Ẩn chuyên hát lời hai, lời ba. Nguyễn Duy đọc thơ, Trịnh Công Sơn chưa có bài mới thì tùy hứng. Một lần chị Sáu (vợ anh Sáu) nói “Sao mà tôi thích cái câu - sỏi đá cũng cần có nhau - sâu xa quá!”. Thế là Trịnh Công Sơn cầm đàn hát “Diễm xưa”. Thật khó có người nào hát hay bằng Sơn hát về mình.

Có một lần, tôi kể với Trịnh Công Sơn, anh Sáu nói với tôi rằng anh Sáu vừa nghe đài Hoa Kỳ hai buổi lúc 5h30 sáng, đài Hoa Kỳ bình luận về ba nhạc sĩ lớn của Việt Nam: Văn Cao, Phạm Duy, Trịnh Công Sơn, đài Hoa Kỳ bình luận, ca từ của Trịnh Công Sơn là lời của phù thủy. Họ không giải nỗi ý nghĩa nhiều tầng, nhiều góc ca từ của Trịnh Công Sơn, nên đành phải nói là lời của phù thủy. Anh Sáu thích lắm! Trịnh Công Sơn không ngạc nhiên nhiều về lời bình của đài Hoa Kỳ mà ngạc nhiên: “Anh Sáu theo dõi kỹ vậy à? Thế mà anh em mình không ai biết”.

Anh Sáu quý trọng tài năng của Trịnh Công Sơn và rất yêu con người và tính cách của Sơn có khi hồn nhiên như trẻ thơ.

Có một đêm, anh Sáu rủ Sơn và tôi đến chơi. Anh Sáu mang chai Mao Đài đãi hai chúng tôi. Sơn xỉn. Thế là nhạc sĩ Trịnh Công Sơn bắt đầu dạy Thủ tướng Võ Văn Kiệt làm chánh trị. “Anh đi Nhật mà không gọi em là không chính trị. Nhật họ quý em lắm. Anh đi nước ngoài anh phải thế này, thế kia, thế nọ...” Anh Sáu và tôi cứ cười, Sơn thì vẫn cứ thao thao.

Hôm sau tỉnh rượu, tôi lại với Sơn, Sơn ngửa mặt cười:

- Có thật vậy à ? Anh Sáu có giận mình không ?

- Không! Anh Sáu vui!

- Lần sau nhớ nhắc mình nhé!. Tôi thầm nghĩ, Sơn phải là Sơn nhắc làm gì?

Vào một ngày cuối tháng ba năm nay, tôi gặp anh Sáu, anh Sáu hỏi thăm Sơn. Tôi báo anh, Sơn bịnh nhiều, Sơn đang cấp cứu trong bịnh viện. Anh nói:

- Mai mình đi Hà Nội, sau Đại hội Đảng mình về, mình thăm Sơn, các em Sơn. Xem nước ngoài nào chữa được Sơn, mình tạo điều kiện để Sơn đi.

Nhưng không kịp nữa, chiều ngày 1-4-2001 tôi gọi điện thoại cho anh “Anh Sáu ơi! Sơn mất rồi...” Anh hỏi, anh nói nhưng tôi không nhớ gì, chỉ nhớ “Đau lòng quá!” và chị Sáu kêu lên “...buồn quá...”

Buổi chiều ngày 3-4-2001, vào 18 giờ, tôi nhận được điện thoại của anh, anh chị đi thăm mộ Trịnh Công Sơn đang trên đường về, hẹn tôi ở nhà Trịnh Công Sơn.

Buổi gặp này có anh Sáu, chị Sáu, các em của Trịnh Công Sơn, anh Phạm Phú Ngọc Trai và tôi. Anh hỏi những ngày cuối cùng của Sơn...Anh nói:

- Những năm sau này, Sơn yếu nhưng sức sáng tác của Sơn rất dồi dào. Mỗi lần gặp lại là Sơn có sáng tác mới. Ca từ trong ca khúc sau này của Sơn càng thâm thúy. Ai nghe cũng thấy mình ở trong ấy. Sơn đi là một mất mát lớn, không chỉ cho nền âm nhạc nước nhà mà là còn sự mất mát nhiều mặt của nền văn hóa Việt Nam. Thương và tiếc, tiếc quá! Một mất mát lớn, rất lớn.

Anh Phạm Phú Ngọc Trai thêm một vòng thông tin: “Nước ngoài đánh giá Trịnh Công Sơn không chỉ là một danh nhân Việt Nam mà còn là danh nhân thế giới”. Anh Sáu trầm ngâm khẽ gật gù.

Tôi nói: “Lúc sinh thời Sơn vắng mặt chổ này chổ kia, nhưng khi Sơn ra đi, Sơn có mặt khắp mọi nơi”. Chúng tôi đều gặp nhau trong ý nghĩ về Sơn.

Có một lần nhà thơ Nguyễn Duy nói với tôi: “Với anh Sáu thì mình phục rồi. Riêng tôi có điều phục nữa, anh Sáu là người rất dí dỏm, người biết đùa là người trẻ, người thông minh, mình là người thích nói đùa, mà nhiều khi mình đối đáp không kịp anh ấy!”. Đúng như Nguyễn Duy nhận xét. Lần nào gặp anh, theo từng câu chuyện, lúc nào anh cũng rạng rỡ, nụ cười, giọng cười của anh như kéo mọi người gần nhau.

Buổi gặp gỡ chiều này, tôi ngồi bên anh suốt hai tiếng đồng hồ, tôi không thấy anh cười. Tôi có cảm tưởng Trịnh Công Sơn đã mang theo nụ cười của anh. Anh Sáu buồn, buồn lắm, Sơn có biết không. Nguyễn Quang Sáng . (Trịnh Công Sơn, người hát rong qua nhiều thế hệ – Nhà xuất bản Trẻ, tr. 173-175)

Lý Quý Chung, một nhà báo và là một dân biểu Việt Nam Cộng Hòa, sau ngày 30-4-1975 đã chính thức phô bày bộ mặt thật, có viết về hai chữ “ gia nô” như sau:

- Ở miền Nam trước 1975, một người chỉ cần nói đọc báo nào, nghe nhạc gì thì biết ngay người đó là ai, thái độ của người đó đối với chế độ Thiệu và người Mỹ như thế nào và thái độ của người đó đối với cuộc chiến tranh ra sao? Có báo “ gia nô” (đó là cách gọi của người Sài Gòn trước 1975 đối với loại báo chí của chính quyền Thiệu hoặc theo phe Thiệu ).... ( TCS MTNT tr. 210)

Bài viết của Nguyễn Quang Sáng ghi lại nguyên nhân ra đời của hai bản nhạc “Em còn nhớ hay em đã quên” và “Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui” . Nguyễn Quang Sáng cho biết anh Sáu Dân Võ Văn Kiệt chỉ mới nói vài lời mà Trịnh Công Sơn đã lãnh hội được ý của anh Sáu muốn cái gì và Sơn tự biết mình phải làm cái gì ! Nói theo cách của Lý Quý Chung, đây đúng là hành vi của một “gia nô”. Thiên tài âm nhạc Trịnh Công Sơn sau 1975 đã tự biến hình thành một nhạc - nô viết nhạc theo ý muốn của “trên” để đáp ứng cho nhu cầu tuyên truyền.

Cũng qua bài viết của Nguyễn Quang Sáng, độc giả còn được nhìn thấy cung cách và thái độ của thiên tài âm nhạc họ Trịnh đối với anh Sáu Dân Võ Văn Kiệt. Cái thái độ ấy phải gọi thế nào cho đúng ? Bưng bô ? Liếm gót ?

Riêng cái cung cách của một cán bộ tuyên truyền thì được Trịnh Công Sơn thể hiện rất rõ qua những lời sau đây: “việc in ấn càng lúc càng khó khăn, nhất là sau khi có lệnh tịch thu của chính quyền Nguyễn văn Thiệu toàn bộ các tập ca khúc và băng nhạc của tôi .... phải rải ra trong ba bốn nhà in khác nhau ... chuyện đi đứng không phải dễ dàng ... đi từ một nhà in ở Sàigòn đến một nhà in ở vùng Chợ Lớn phải qua biết bao nhiêu là trạm xét hỏi ....”

Nếu chính quyền Nguyễn văn Thiệu tịch thu toàn bộ các tập ca khúc và băng nhạc của Trịnh Công Sơn, thì chính quyền nào cấp giấy thông hành cho ca sĩ Khánh Ly sang Nhật hát bản Diễm Xưa của họ Trịnh tại hội chợ quốc tế Expo Osaka năm 1970? Chẳng lẽ đó là chính quyền Hà Nội ?

Nếu chính quyền ông Thiệu ra lệnh tịch thu toàn bộ các tập ca khúc, thì tại sao các tập ca khúc của Trịnh Công Sơn với hình bìa do Trịnh Cung, Đinh Cường vẽ, vẫn được bày bán công khai tại các nhà sách ở Sài Gòn, ai muốn mua bao nhiêu cũng có ?

Nếu chính quyền ông Thiệu tịch thu toàn bộ băng nhạc thì tại sao “nhạc Trịnh” vẫn vang dội tại các quán cà phê ở Sài Gòn, tại các câu lạc bộ quân trường? Khánh Ly vẫn nhởn nhơ trình diễn nhạc Trịnh tại Queen Bee hàng đêm, và nhạc Trịnh vẫn được hát tại câu lạc bộ Huỳnh Hữu Bạc trong trại Phi Long - Tân Sơn Nhất vào mỗi cuối tuần ?

Và đây mới là chuyện lạ bốn phương: “đi từ một nhà in ở Sài Gòn đến một nhà in ở vùng Chợ Lớn phải qua biết bao nhiêu là trạm xét hỏi ...” Đây là thời điểm nào? Trước 30 tháng 4 năm 75 hay sau ngày “giải phóng” ?

Chính quyền Thiệu đã đặt nhiều trạm kiểm soát như thế, mà người em ruột của Trịnh Công Sơn phụ trách phần in ấn và phát hành thường lui tới ba bốn nhà in hàng ngày mà vẫn không bị cảnh sát bắt vì tội trốn lính ?

Căn cứ vào những tài liệu “thành văn” và tài liệu “sống”, hầu như ai cũng biết rằng, thiên tài âm nhạc của họ Trịnh có cơ hội nẩy nở và thăng hoa là nhờ môi trường tự do, khai phóng của miền Nam dưới hai thời đệ nhất và đệ nhị Cộng Hòa. Chính nhờ sự rộng lượng bao dung của chế độ Việt Nam Cộng Hòa và sư che chở của một số sĩ quan cao cấp của QLVNCH mà họ Trịnh mới sáng tác được trên dưới 600 nhạc phẩm. Cũng chính chế độ Việt Nam Cộng Hòa đã đem bài Diễm Xưa đến Hội Chợ Quốc Tế Osaka 1970 để rồi họ Trịnh mới chiếm giải nhất về Dân Ca và được người Nhật thực hiện trên đĩa vàng. Bài hát Nối Vòng Tay Lớn được sử dụng trong các buổi sinh hoạt, họp mặt của thanh niên, sinh viên ...

Tóm lại, danh vọng và tiếng tăm mà họ Trịnh có được là nhờ ở chế độ Việt Nam Cộng Hòa và những sĩ quan cao cấp trong QLVNCH đã cưu mang và che chở cho họ Trịnh. Nói một cách dễ hiểu hơn, Trịnh Công Sơn đã sống như một loại ký sinh trùng trong lòng hai chế độ Cộng Hòa miền Nam.

Ký sinh trùng như giun, sán sống trong ruột của con người, nhờ hấp thụ chất bổ dưỡng tích tụ trong ruột non của con người mà chúng nó mới sống khoẻ sống mạnh và sinh sôi nẩy nở. Thiên tài âm nhạc của Trịnh Công Sơn sẽ không thể phát triển và thăng hoa nếu không ký sinh trong môi trường tự do khai phóng của Việt Nam Cộng Hòa, cho dù đang ở trong giai đoạn chiến đấu chống xâm lăng cộng sản. Và trong lúc Trịnh Công Sơn trốn tránh trách nhiệm, sống như một loài ký sinh trùng giữa đô thị để viết những bài ca phản chiến thì hàng triệu thanh niên cùng lứa tuổi đang hy sinh xương máu tại các chiến trường miền Nam trong từng giây, từng phút.

Đúng với lẽ công bình của trời đất và lương tâm con người, Trịnh Công Sơn đã mang một món nợ rất lớn đối với những người đã chết để họ Trịnh được hít thở không khí tự do cho đến ngày 30 tháng 4 năm 1975. Những người ấy đã nằm xuống để họ Trịnh được sống, để họ Trịnh được có cơ hội nói ra những lời vô ơn bạc nghĩa và thực hiện những hành vi phản bội trong ngày 30 tháng 4 năm 1975. Nhiều người miền Nam từng coi Trịnh Công Sơn là thần tượng, từng ngưỡng mộ thiên tài âm nhạc của họ Trịnh đã ngỡ ngàng và đau đớn biết bao nhiêu khi nghe Trịnh Công Sơn lên đài phát thanh kêu gọi mọi người cùng hát bài Nối Vòng Lay Lớn để “chào mừng cách mạng thành công” giữa lúc Sài Gòn đang trong cơn hấp hối !

Nhiều người vẫn chưa quên giọng hát hồ hởi, tiếng vổ tay đánh nhịp dồn dập đầy sự phấn khởi của họ Trịnh trong ngày uất hận, đau thương và đen tối nhất của lịch sử dân tộc !

Trong ngày đen tối đó, họ Trịnh đã công khai bội phản những người từng cưu mang, dung dưỡng, che chở cho anh ta; minh thị phản bội những “ tấm lòng ưu ái của quần chúng đối với mình ” !

Nếu Trịnh Công Sơn không phải là một con người có tâm địa phản trắc thì Trịnh Công Sơn là con người gì?

Hãy nghe Trịnh Công Sơn định nghĩa: “trốn lính là một hành động phản kháng.”

Trốn lính vào thời điểm cộng sản đang tiến chiếm miền Nam là một hành động phản kháng, vậy thì Trịnh Công Sơn muốn phản kháng ai và phản kháng điều gì? Có phải là phản kháng chế độ Việt Nam Cộng Hòa đang dung dưỡng họ Trịnh, phản kháng những nổ lực của quân dân miền Nam đang ngăn chận làn sóng đỏ để bảo vệ cơm no áo ấm cho 25 triệu đồng bào, trong đó có cá nhân và gia đình của Trịnh Công Sơn ?

Thiên tài âm nhạc của Trịnh Công Sơn thật ra không ai phủ nhận, nhưng cái thiên tài ấy đã phản bội chính nghĩa quốc gia, tiếp tay với chế độ phi nhân, tiếp tay với những con người không còn lương tri đã đối đãi với đồng bào ruột thịt như kẻ thù không đội chung trời; cái thiên tài ấy đã góp phần gây ra tai họa khủng khiếp cho dân tộc, đẩy đất nước xuống hố diệt vong. Vậy thì cái vòng hào quang Quốc Gia mà ai đó cố choàng cho Trịnh Công Sơn là không có thật, không bao giờ có thật. Thật sự trong tận cùng tim đen, Trịnh Công Sơn cũng không hề muốn đội cái vòng hào quang Quốc Gia ấy.

Một lần nữa, hãy nghe họ Trịnh khẳng định chỗ đứng:

- Con kênh này sẽ kêu gọi những con kênh khác ra đời. Kênh chị, kênh em sẽ mọc lên cùng khắp để góp phần lợi ích cho những con người mới trong một thời đại mang tên Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam {sđd, tr.170: Nam Thạch Hãn những ngày đầu tháng ba (1979 ) }

- Trốn lính gần như là một cái “nghề” đầy tính chất phiêu lưu của hàng triệu thanh niên miền Nam lúc bấy giờ. Thái độ phản kháng ấy, dù nhìn dưới góc độ nào đó còn mang tính thụ động, vẫn phải được nhắc nhở đến như một nốt nhạc trong trẻo đã ngân lên trong một giai đoạn u ám, nhiễm độc, giữa những đô thị miền Nam. (sđd,tr.180).

Giai đoạn mà Trịch Công Sơn cho rằng “u ám, nhiễm độc” đó, như đã nói ở trên, chính là giai đoạn mà Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đang ra sức bảo vệ tự do no ấm cho 25 triệu đồng bào miền Nam, chống lại công cuộc xích hóa của CS quốc tế mà Hà Nội là tay sai. Trốn lính trong giai đoạn ấy chỉ có những loại người sau đây: hèn nhát, ích kỷ và CS nằm vùng.

Cho rằng có “hàng triệu thanh niên miền Nam trốn lính” vào thời bấy giờ, Trịnh Công Sơn đã mặc nhiên hòa nhịp theo cung điệu tuyên truyền của các cán bộ cộng sản, loại cán bộ đã huênh hoang “lên lớp” những sĩ quan QL/VNCH trong các trại tù cải tạo rằng: máy bay của ta nấp ở trên mây, đợi lúc máy bay địch xuất hiện thì bất thần bay ra nghênh chiến.

Gọi hành động trốn lính là một “thái độ phản kháng”, Trịnh Công Sơn muốn xác định rõ ràng anh ta không phải là người Quốc Gia.

Gọi hành động trốn lính là “một nốt nhạc trong trẻo trong giai đoạn u ám, nhiễm độc..”, Trịnh Công Sơn muốn minh định rõ “thiên tài âm nhạc” họ Trịnh không thuộc Việt Nam Cộng Hòa mà thuộc về “thời đại mang tên Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam”!

Qua những tài liệu sống và những tài liệu thành văn, Trịnh Công Sơn là tổng hợp của:

    - Một kẻ ích kỷ
    - Một tên hèn nhát trốn lính
    - Một tên nằm vùng
    - Một loại ký sinh trùng
    - Một kẻ phản bội
    - Một tên lừa dối

    - Một tên ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản.
Trước lịch sử, Trịnh Công Sơn đã hiện nguyên hình. Không nên bóp méo lịch sử bằng cách choàng lên đầu Trịnh Công Sơn vòng hào quang Quốc Gia không hề có thật; cũng đừng hô biến “Nối Vòng Tay Lớn” trở thành một biểu tượng đoàn kết đấu tranh dân chủ, trong khi bài hát ấy đã được tác giả của nó hát lên để đón mừng cái chế độ phi nhân bóp họng dân chủ !

Phải trả lại sự thật cho lịch sử.

BB& Liêm


30.4.1975 - 30.4.2005 : Ba Mươi Năm Nhìn Lại - Phùng Ngọc Sa

Phùng Ngọc Sa

Toàn thể công dân Việt Nam Cộng Hòa, đặc biệt là Tập Thể Người Việt Tị Nạn Cộng Sản Hải Ngoại chắc đều ghi nhớ, biến cố 30-4-75 là một sự kiện nghiệt ngã và đau thương nhất trong lịch sử Việt Nam cận đại; nó không những gây tang tóc cho dân tộc mà còn làm cho đất nước vô cùng khốn khổ điêu linh.

Ai cũng biết, 30-4 chính là ngày mà cộng sản Bắc Việt vâng lệnh quan thầy Liên Xô-Trung Cộng xé bỏ hiệp định Paris, một hiệp định quốc tế do chính chúng và các tên đầu sỏ Nga-Tàu đồng ký kết vào ngày 27-1-73 để chấm dứt chiến tranh và tái lập hòa bình tại Việt Nam, nhưng rồi bọn gian manh nầy lại trở mặt phản bội, dốc toàn lực xua quân mở những trận tấn công ác liệt và đẫm máu cưỡng chiếm Việt Nam Cộng Hòa, từ ngày đó, toàn thể nhân dân Miền Nam hoàn toàn bị rơi vào tay lũ giặc xâm lăng Miền Bắc, bị mất tất cả quyền làm người để rồi trở thành một hạng thứ dân; vì thế ngưới dân Miền Nam gọi 30-4-75 là Ngày Quốc Hận (tháng Tư Đen)

I. Tội Ác Của Cộng Sản Việt NamTrong 30 Năm Qua

Từ 30-4-75 đến nay, 30-4-05 là 30 năm, khoảng thời gian khắc nghiệt đó đã xảy ra biết bao cảnh đau thương tang tóc cho đất nước và đồng bào; cụ thể bạo quyền CSVN đã gây nhiều tội ác tày trời dưới đây:

1. Phung phí xương máu nhân dân Việt Nam làm tay sai đánh thuê cho Đế quốc đỏ chiếm Căm Bốt.

CSVN vì kiêu ngạo, hợm hĩnh coi mình làđỉnh cao trí tuệ loài người, con ếch tưởng mình là con bò, lại ngu dại nghe lời xúi giục của Liên-Xô chống Trung Cộng, tự nguyện làm tay sai thi hành cái gọi là nghĩa vụ quốc tế, xua quân đánh chiếm Căm Bốt. Trong 10 năm chiếm đóng đất nước nầy, VC đã phung phí không biết bao là xương máu và tài sản của nhân dân Việt Nam. Khi bị áp lực quốc tế và Liên Hiệp Quốc buộc phải rút quân ra khỏi Căm Bốt thì, theo tài liệu của viện Nghiên Cứu Chiến Lược Anh quốc, và Bộ Thương Binh CSVN năm 1980, VC đã chi hết 27 tỉ đô la chiến phí, và phải bị mất nữa triệu binh sĩ, trong đó có hơn 200.000 thương binh mà kết quả chẳng đem lại một tí lợi lộc gì cho dân tộc Việt. Lý do: chính quyền Căm Bốt của Thủ tướng Hussein do Hà Nội dựng ra lại chạy theo đuôi Trung Cộng.

2. Tội phản quốc

Ngoài việc phải trả một số nợ khổng lồ mà Trung Cộng đã viện trợ giúp VC trong các trận chiến chống nhân dân Việt Nam và cái gọi là kháng chiến chống Pháp, đuổi Mỹ; CSVN vì quyền lợi của đảng và phe nhóm, đã hy sinh quyền lợi tối cao của tổ quốc, phản bội dân tộc: chính thức cắt đất, dâng biển cho kẻ thù Phương Bắc bằng các Hiệp Định Biên Giới Việt-Trung và Hiệp Định Vịnh Bắc Bộ ký tại Bắc Kinh ngày 25-12-2000.

3. Chống lại nhân dân Việt Nam

Vì chỉ muốn chóng làm giàu để thụ hưởng, CSVN đã giả nhân giả nghĩa nói là giúp dân có công ăn việc làm, lấy chiêu bài xuất khẩu lao động, lùa dân đi làm thân trâu ngựa ở nước ngoài để ăn tiền đầu; hơn nữa vì muốn thu nhiều lợi, tập đoàn thống trị và bọn tư bản đỏ đã tán tậm lương tâm mang cả phụ nữ và trẻ em đi rao bán trên khắp thế giới, biến tầng lớp nầy trở thành kẻ nô lệ tình dục cho ngoại quốc để thu tiền. Hành động man rợ này đã khiến dư luận quốc tế kinh tởm và các tổ chức phi chính phủ khác phải lên tiếng cảnh cáo Hà Nội.

Đất nước Việt Nam vốn rừng vàng, biển bạc, trước đây nào có thua kém gì các nước cùng khu vực như Thái Lan, Nam Hàn và Mã Lai v.v. thế mà ngày nay dù được cộng đồng người Việt hải ngoại vì tình quyến thuộc đã dồn dập gửi tiền giúp đỡ trong nước mỗi năm gần 3 tỉ đô la, nhưng cho đến giờ phút nầy, đại đa số người dân Việt Nam, đặc biệt là 80% nhân dân nông thôn vẫn còn lâm vào cảnh lầm than, nghèo đói, trong khi đó thì trái lại, bọn cường hào ác bá mới của bạo quyền cộng sản vì muốn có cuộc sống xa hoa phè phởn, đua nhau tham nhũng, hối mại quyền thế, tha hồ áp bực bóc lột người dân. Phần người dân lương thiện, thì nội cái chuyện lo ăn, lo mặc còn chưa đũ sức, hơn nữa lại bị chế độ công an trị kềm kẹp áp bức; thấp cổ bé miệng nào đâu còn dám mơ nghĩ gì đến hưởng quyền tự do dân chủ. Cuối cùng Việt Nam không những là một nước thuộc loại nghèo khổ nhất thế giới mà cả phẩm giá người dân cũng bị chà đạp, nhân quyền do đó còn quá bết, nên Việt Nam bị Hoa Kỳ liệt vào danh sách các nước đáng quan tâm đặc biệt(C.P,C).

4. Đối xử vô nhân đạo và trả thù quân-cán-chính VNCH.

Ngay khi tướng Dương Văn Minh vừa ra lệnh cho quân đội phải buông súng đâu hàng, bọn cán binh cộng sản đã xông vào các quân y viện, bệnh viện Hồi Lực xua đuổi tất cả thương phế binh đang điều trị quẳng ra đường như vứt đồ phế thải. Những ngày tháng sau đó, bọn chúng đã giam cầm, đầy đọa hàng trăm ngàn quân-cán-chính Việt Nam Cộng Hòa vào trong các trại tập được gọi là trại cải tạo để hành hạ trả thù, khiến phần lớn gia đình của tầng lớp nầy bị đổ vỡ tan nát, gây cảnh chồng xa vợ, mẹ lìa con thơ.

Nhiều gia đình bị đày đi các nơi rừng sâu nước độc mà cộng sản đặt cho một mỹ từ vùng kinh tế mớikhông có thuốc men, thiếu cả mọi tiện nghi văn minh tối thiếu để bọn thống trị lấy cớ tịch thu nhà cửa ruộng vườn của dân. Do quá bị đàn áp, o ép nên nhiều người đành phải bỏ nước ra đi tìm đường tự do, trong đó lắm người bị rục tù vì tội vượt biên, và trên bước đường tìm tự do, một số lớn không may bị bọn hải tặc hãm hại, hoặc bị bỏ mình trong chốn rừng sâu nước độc hay làm mồi cho cá mập trong lòng đại dương. Trong khoảng thời gian khắt nghiệt đó, thì tất cả những gì xấu xa và khốn nạn nhứt trong xã hội đều trút trên đầu trên cổ hàng ngũ chiến bại, mà bọn VC chiến thắng đặt cho một tên mới: bọn Ngụy Quân, Ngụy Quyền và Ngụy Dân. Nói chung toàn thể Quân-Cán-Chính Việt Nam Cộng Hòa cùng gia đình là đối tượng chính để gánh chịu những đòn thù của CSVN.

II. Ý Nghĩa Ngày Quốc Hận

Chỉ xin trưng dẫn vài hình ảnh trên cũng đủ chứng minh, ngày 30-4 không những là một ngày đau thương cho hàng ngũ quân-cán-chính Việt Nam Cộng Hòa mà còn cho toàn thể nhân dân Miền Nam. Lý do đó, đã từ ba mươi năm qua cộng đồng người Việt hải ngoại đều gọi 30-4 là Ngày Quốc Hận, ý muốn nhắc nhở nhân dân Việt Nam, đặc biệt là Tập Thể Tị Nạn Cộng Sản phải luôn luôn ghi nhớ biến cố đau thương tang tóc này để làm bài học cho tương lai. Không một ai chấp nhận đổi tên Ngày 30-4 dù với bất cứ mỹ từ nào.

Ghi nhớ những sự kiện lịch sử đất nước để ôn cố tri tân là truyền thống tốt đẹp nhất của mọi dân tộc. Xin lấy một di tích cổ và vài mẩu chuyện ghi trong lịch sử Trung Hoa dưới đây cho thấy điều đó đúng và hợp lý:

- Chuyện bức tường cổ đền thờ Jerusalem của Do Thái để cụ thể chứng minh: Ngày nay Do Thái, tức Israel là một quốc gia tân tiến, chính quyền của họï có thừa khả năng trùng tu hoặc tái tạo cả cổ thành Jerusalem, làm cho nó trở nên tráng lệ và xinh đẹp để du khách thăm viếng; nhưng không, họ vẫn để nguyên trạng, đặc biệt giữ một mảng bức tường đãõ cũ kỹ và đổ nát của cổ đền thờ rồi gọi đó là Bức Tường Than Khóc, với dụng ý nhắc nhở người Do Thái đừng quên đi cái nhục mất nước. Hàng năm, đông đảo dân Do Thái khắp nơi trên thế giới tụ tập về đó, cùng nhau đứng trước bức tường cũ đổ nát nầy để chiêm ngưỡng và than khóc, rồi nhắc nhở nhau về trang sử bi thương mất nước của người Do Thái; ghi nhớ việc dân tộc nầy bị lưu đày phân tán ra khắp nơi trên thế giới.

- Lịch sử Trung Hoa ở thời Xuân Thu Chiến Quốc cũng ghi chép: Câu Tiễn, vua nước Việt, sau khi được Ngô Phù Sai thả cho về nước; vì muốn giữ mãi mối thù vong quốc và cái nhục phải nếm phân Ngô Vương; Câu Tiễn đã cắt đặt người hằng ngày, cứ đợi tới bữa ăn thì chỉ ngay mặt Câu Tiễn mà chữi mắng, và nhắc lại cái nhục mất nước trước đây để Câu Tiễn nung nấu ý chí và chuẩn bị báo thù . Lịch sử Trung Hoa còn nhắc lại Chu Nguyên Chương, người sáng lập triều đại nhà Minh, nguyên là một cái bang (ăn mày), thế mà khi đã trở thành hoàng đế, nhà vua vẫn giữ lại chiếc gậy và bộ đồ ăn xin, thường được treo trong cung điện để con cháu và thần dân ra vào được thấy.

Bài học lịch sử đã chỉ giáo, vậy thử hỏi tại sao tổ chức tay sai VC như đảng Việt Tân, thoát thân từ Mặt Trận Hoàng Cơ Minh còn dám ngoan cố đòi đổi Ngày 30-4 thành Ngày Tự Do Cho Việt Nam, hoặc Ngày Đòi Tự Do Cho Việt Nam. Xin thưa không phải lũ nầy u mê hay ngu dốt mà chẳng qua là họ hành động theo chỉ thị của cộng sản Hà Nội. Ý Hà Nội nghĩ rằng, nếu còn giữ chủ đề 30-4 là Ngày Quốc Hận, tức là nó còn mang sắc thái chống cộng rõ rệt, và như thế là còn hun đúc thêm ý chí cho Tập Thể Tị Nạn tiếp tục đấu tranh giải trừ chế độ cộng sản tại quê nhà, điều nầy ắt không lợi cho bạo quyền cộng sản trong nước. Chủ trương thay đổi ý nghĩa ngày 30-4 là một hành động không những giúp CSVN xóa đi chữ Tị Nạn Cộng Sản trên lý lịch của đồng bào Việt Nam hải ngoại, nạn nhân của 30-4; ngoài ra, còn giúp VC giả vờ xóa bỏ hận thù và khuyên hải ngoại nên quên đi quá khứ để hòa hợp làm tôi mọi cho chúng. Thật ra, đồng bào hải ngoại đâu có ai muốn mãi giữ hận thù làm chi, song vì họ quá biết là VC chỉ lẽo mép hô hào hòa giải, hòa hợp, xóa bỏ hận thù để khai thác chất xám (trí thức), chất xanh (đô la), chứ chúng nào đâu có thương xót gì người Việt hải ngoại mà trước đây chúng từng nguyền rủa và lên án tầng lớp nầy là Việt gian và là bọn cặn bã xã hội. Hơn nữa CSVN cũng biết, tuy cưỡng chiếm được Miền Nam và thống nhất đất nước, nhưng chúng đâu đã lấy được lòng người và thống nhất được dân tộc. Do đó chúng phải nhờ đám tay sai Việt Tân thực hiện điều này bằng cách đổi ý nghĩa ngày 30-4. Nhưng rủi thay, VC quá ngu dại, nên mới đi thuê một đám lưu manh từng gây nhiều thành tích bất hảo, nên bọn nầy vừa ló đuôi ra thì đã bị Tập Thể Người Việt Tị Nạn lật tẩy.

III. Được & Mất Của Hai Phía Cộng Sản và Quốc Gia.

1. Phía CSVN:

Tuy cưỡng chiếm được Miền Nam, nhưng VC đã bị toàn dân và thế giới lột mặt nạ, bộ mặt gian ác đã lộ hẳn, chứng tỏ chúng chỉ là một lũ cướp, một tập đoàn tay sai cộng sản quốc tế. Do đó biết bao mỹ từ tốt đẹp được gọi là chính nghĩa tuyệt đối như: - phục vụ đồng bào; thống nhất đoàn kết; giải phóng quốc gia mà trước đây CSVN đã vơ về trong tay chúng, thì giờ nầy, sau khi thống nhất được đất nước bằng bạo lực đều đã bị tiêu tan. Thử xem:

- Yêu nước và phục vụ nhân dân và đồng bào chăng? Quả thật VC quá dối trá. Đối với bọn chúng, yêu nước có nghĩa là bán nước, cụ thể là cắt đất nhường biển cho kẻ thù TC; còn phục vụ nhân dân? Thử hỏi giai cấp bần cố nông và công nhân là chỗ dựa và trụ cột của cộng sản thì giờ đây tầng lớp nầy còn ủng hộ cộng sản nữa không? Hay vì VC quá tham nhũng bóc lột nên họ đã quay mặt trở thành kẻ thù của chúng.

- Khẩu hiệu Đoàn Kết như con ngươi trong con mắt là câu đầu môi chót lưỡi của bọn VC bịp trước, giờ đây chỉ còn là một sáo ngữ. Lý do: Tranh ăn, hoặc chia chát không đều đã trở mặt giết nhau như ngóe, cụ thể là vụ thảm sát toàn thể sĩ quan cao cấp của Bộ Tổng Tham Mưu của tướng Đào Trọng Lịch vào năm 1997 ở Cánh Đồng Chum bên Lào, vụ cho nổ trực thăng để hạ sát bộ tham mưu quân Khu IV, Thanh Hóa trong tháng giêng 2005 vừa qua và nhiều vụ thủ tiêu bí mật khác, đặc biệt là hiện tượngï đấu đá nhau trong nội bộ giữa hai phe Võ Nguyên Giáp và Lê Đức Anh, (tức là bọn chống và thân Tàu) đã kéo dài hàng chục năm mà chưa ngã ngũ, khiến nội bộ đảng cộng sản nứt rạn vô phương cứu chữa.

- Giải Phóng Nhân Dân, Giải Phóng Miền Nam Chăng? Khẩu hiệu có vẻ ăn khách, đã một thời VC dùng để phĩnh gạt dư luận và lôi kéo đồng bào nhẹ dạ lương thiện theo chúng, thử hỏi làm sao có thể tồn tại vì:

- Hàng trăm ngàn quân-cán-chính VNCH và gia đình có thể nào chấp nhận hai chữ giải phóng đồng nghĩa với việc bị tước mất tự do và bản thân bị đọa đầy nhiều năm trong ngục tù, còn gia đình thì bi kỳ thị, bị o ép khốn khổ trăm bề.

- Trí thức Miền Nam phải chịu cải tạo tư tưởng, không được tự do sáng tác, xót xa nhứt là khi thấy bao nhiêu công trình nghiên cứu của họ bị thiêu đốt trong ngọn lửa căm thù; bao nhiêu di tích văn hóa lịch sử bị tàn lụi bởi chủ thuyết ngoại lai Marxít-Leninít, và từ đó thấy đạo đức con người bị suy đồi khủng khiếp.

- Giới kinh doanh lớn nhỏ bị buộc phải chịu cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa, cải tạo công thương ác liệt, bị tước đoạt tài sản, mất quyền tự do kinh doanh. Tất cả rất đau lòng thấy cả một nền kinh tế phồn thịnh của Miền Nam trước đây bị một lũ man rợ tàn phá một cách không thương tiếc.

- Nông dân, ngư dân, nhân dân lao động Miền Nam bị lùa vào các tổ chức hợp tác xã, tập đoàn trên mấy chục năm không được tự do làm ăn, tự do phát huy khả năng nghề nghiệp.

- Tín đồ các tôn giáo tại Miền Nam không còn được tự do hành đạo cũng như thờ phụng như trước kia trong chế độ VNCH; hàng giáo phẩm các tôn giáo còn bị ngược đãi ngục tù.

- Hàng triệu nhân dân hai Miền Nam lẫn miền Bắc liều chết bỏ nước ra đi tìm tự do.

Tất cả tầng lớp nói trên không chấp nhận, và đều muốn thoát khỏi sự giải phóngcủa CSVN, thế là chiêu bài giải phóng, một chỗ dựa của cộng sản để bịp hoàn toàn mất hết giá trị.

2. Phía Người Việt Quốc Gia

Như đã trình bày ở phần trên, sau 30-4-75, chúng ta, tất cả người Việt Quốc Gia đều bị mất mát hoàn toàn; không những mất công ăn việc làm, tài sản và của cải bị tước đoạt, con cái lại không được tiếp tục học hành, thậm chí nhiều người phải mất cả mạng sống. Tất cả chỉ còn lại hai bàn tay trắng, và bất kỳ nơi đâu tại Miền Nam, hình ảnh còn lại chỉ là những cảnh tan thương: gia đình tan nát, xã hội đảo lộn và nghèo nàn.

Tuy nhiên, lúc mà người dân Miền Nam đang bị bọn cộng sản xâm lăng Miền Bắc chà đạp và dìm sâu xuống tận đáy vực thẳm, nhờ qua tiếng than khóc rên rỉ và căm hờn của họ, khiến một số người mà trước đây còn mơ mơ màng màng không phân biệt được đâu là quốc gia, đâu là cộng sản, ai chính, ai tà, còn chưa biết hẳn bộ mặt thật của cộng sản, thì giờ đây trước cảnh ngộ nầy họ đã thức tỉnh và nhận thức được rằng, bọn người mà trước đây mình đã từng tiếp tế yểm trợ nuôi dưỡng, thậm chí còn đích thân tiếp tay giúp VC phá hoại hàng ngũ quốc gia, bây giờ mới thấy rõ chúng đã lộ nguyên hình, là một bè lũ phi nhân phản tộc gian ác, và chỉ là một bọn tay sai cộng sản quốc tế. Sựï thức tỉnh và hối hận đó lớn dần đã mau chóng tác động đến hàng ngũ những người cộng sản còn có lương tâm, cũng như những nhà trí thức dân chủ từng chiến đấu dưới lá cờ cộng sản.Tập thể nầy vì lòng yêu nước nồng nàn và khát vọng tự do dân chủ, mãnh liệt đứng lên phản kháng chống lại đương quyền cộng sản, đòi hỏi nhân quyền, dân chủ cho Việt Nam. Đó là tiếng nói dũng mãnh của những nhà cách mạng lão thành Hoàng Minh Chính, Nguyễn Văn Trấn, Lê Giản, v.v. của những nhà trí thức Nguyễn Xuân Tụ, tức Hà Sĩ Phu, Nguyễn Khắc Viện, Nguyễn Thanh Giang, Phan Đình Diệu, Lữ Phương, v.v. của các văn nghệ sĩ , nhà báo như Nguyên Ngọc, Dương Thu Hương, Phùng Gia Lộc, Nguyễn Huy Thiệp, Lưu Quang Vũ và Nguyên Duy; đặc biệt những văn nghệ sĩ nầy nhân cơ hội đảng cởi trói vào năm 1987 đã mạnh mẽ sáng tác nhiều tác phẩm mang tính cách phê phán, chĩa mũi nhọn vào bọn cầm quyền cộng sản, giai cấp bốc lột và bọn cường hào ác báo mới, khiến đảng hoảng sợ vội vã trói lại rồi cách chức và tống giam hàng loạt tổng biên tập các báo, các tạp chí cấp tiến như Sông Hương, Langbian, v.v.thậm chí VC còn trắng trợn tống giam nhà văn Dương Thu Hương gây ra sự phản đối rầm rộ trên thế giới.

Riêng Nguyễn Xuân Tụ, tức nhà khoa học Hà Sĩ Phu còn can đảm, công bố nhiều bản luận văn phê phán chủ nghĩa Marx , ý tác giả muốn bứng tận gốc rễ chủ nghĩa Marx, một thuyết ngoại lai đã gây tại họa cho toàn dân Việt Nam. Quả thật đây là một hiện tượng đặc biệt, lần đâu tiên dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, ở trong hệ thống kềm kẹp có người dám công khai phê phán chủ thuyết sai trái của bạo quyền CSVN.

Hiện tượng nói trên mỗi ngày một lan rộng và tác động mãnh liệt vào tâm lý quần chúng chứng tỏ, là ngày tàn của bạo quyền CSVN sẽ không còn xa. Song, chúng ta cũng không nên lạc quan tếu vì biết rằng, tịnh tiến cuộc đấu tranh của dân tộc dưới thời Bắc Thuộc từng kéo dài Một Ngàn Năm (1000), nô lệ thực dân Pháp, là Tám Mươi Lăm Năm (85); trong giai đoạn nghiệt ngã lịch sử nầy dân ta đâu có ngồi yên, và vẫn hy sinh, trường kỳ chiến đấu cho đến khi đuổi được quân thù ra khỏi nước. Với bạo quyền CSVN tuy chỉ mới Ba Mươi Năm (30), nhưng đã có biết bao là phong trào đấu tranh âm thầm cũng như công khai chống VC tỉ như các tổ chức Phục Quốc Miền Nam, tổ chức vũ trang kháng chiến của chiến sĩ Trần Văn Bá, Lê Quốc Túy đã từng trực tiếp chiến đấu chống cộng, tiếp tay với các phong trào đòi hỏi Dân Chủ, Nhân Quyền và Tự Do Tôn Giáo.Với sự liên tục đấu tranh kết hợp trong nước và hải ngoại, thì ngày cáo chung chế độc cộng sản hy vọng gần kề, tuy nhiên cần phải kiên trì tiếp tục đấu tranh cho đến khi tận diệt được hiểm họa CSVN.

IV. Lập Trường Của Cựu Tù Nhân Chính Trị

Trong cái rủi lại có được điều may. Biến cố mất nước 30-4 đã đưa đẩy gần 3 triệu người không chấp nhận chế độ CSVN phải bỏ nước ra đi tìm tự do, trong đó có hàng trăm ngàn quân-cán-chính Việt Nam Cộng Hòa và gia đình sau thời gian bị giam cầm trong lao tù cộng sản hoặc bị đày ải trong các rừng sâu nước độc được VC gán cho mỹ danh là vùng kinh tế mới, được đồng minh Hoa Kỳ vì lý do nhân đạo giúp đỡ cho tái định cư tại quê hương tự do nầy.

Được tái định cư tại Hoa Kỳ, quả thật tập thể tù nhân chính trị chúng ta đã một phần được đền bù về phương diện vật chất cũng như tinh thần; con cái được học hành và một số lớn đã thành công về học vấn cũng như tài chánh. Đáng thương hại là có hàng trăm ngàn thương phế binh của VNCH và 80 triệu đồng bào còn bị đau khổ quằn quại trong nước. Tuy nhiên, được may mắn như thế nhưng một số chiến hữu chúng ta vì thiếu suy nghĩ bị rơi vào một trong các trường hợp sai trái dưới đây:

- Vội vàng quên quá khứ, quên hẳn những hình ảnh man rợ mà bọn cộng sản từng đối xử tồi tệ với thân nhân và gia đình chúng ta lúc còn bị kẹt trong nước; rồi bòn mót tiền trợ cấp, tiền lao động của con cái đem về nước để le lói với bọn cường hào ác bá VC và hưởng thụ, kiếm gái tơ, không cần tìm hiểu, biết đâu những hạng nầy chính là con cháu của họ. Khi trở lại Mỹ còn khoe là VC đã tiến bộ, đã đổi mới nhiều. Xin quý vị hãy lấy đầu óc để phán đoán và hỏi lại: cái được gọi là đổi mới, những cái xa hoa tráng lệ đang có tại đất nước bây giờ là của ai? Của bạo quyền cộng sản? Của tư bản ngoại quốc? Hay của người dân lao động chân lấm tay bùn?

- Một số vốn từng ăn trên ngồi trước, quen chỉ tay năm ngón, qua Mỹ sợ người ta quên mình, thiếu suy nghĩ và nhẹ dạ đã như con thiêu thân chui vào những tổ chức bất chính làm trò hề cho đồng bào cười chê. Họ quên rằng, những tổ chức chống cộng giả hiệu múa may quay cuồng hiện nay tại hải ngoại không khác những voi nan và ngựa giấy đang diễn trò rẻ tiền trên sân khấu chính trị người Việt hải ngoại để làm hề cho thế giới khinh bỉ.

- Một số người khác, tuy cũng là những nạn nhân cộng sản, nhưng có cái nhìn quá hời hợt, ngoài việc mũ ni che tai, còn lên án đồng minh phản bội bỏ rơi, nên Việt Nam mới bị rơi vào tay cộng sản. Họ quên rằng, nếu đồng minh không vì quyền lợi riêng, hy sinh chiến thuật để đạt được chiến lược, cụ thể là phải bỏ Việt Nam để tìm cách tách Trung Cộng khỏi Nga, tức buộc CSVN chỉ được chọn một trong 2 nước đầu sỏ đàn anh, nhờ thế mới xé khối cộng sản làm 2 mảnh; từ đó CSVN mất hết một chỗ dựa, yếu thế rồi cuối cùng lại phải chui vào quỹ đạo của Mỹ bằng con đường Diễn Diến Hòa Bình.

Tình thế đã thay đổi, chiến thuật do đó cũng phải đổi thay, chúng ta không còn phải chiến đấu trên chiến trường, mà đấu tranh trên chính trường. Do xu thế thời đại và khuynh hướng quốc gia dân tộc, đối thoại thay đối đầu. Nhưng phải hỏi lại, ai có tư cách đối thoại? Không lý chúng ta laị nhu nhược để cho bọn lưu manh chính trị, bọn cơ hội chủ nghĩa nhân danh chúng ta để nói chuyện với CSVN như mưu đồ của một số tổ chức mua bán kháng chiến chăng? Không được. Phải tìm mọi cách, mọi phương pháp để điểm mặt chỉ tên những tổ chức tay sai, chống cộng giả, và xin làm đối lập cuội. Nhớ kỷ, đừng để rơi vào vết xe đỗ của những năm 1945-1946, trong đó Mặt Trận Quốc Dân Đảng, gồm có các chính đảng VNQDĐ, Đại Việt QDĐ và Duy Dân vì mắc mưu CSVN đã bỏ đi cơ hội quý báu cứu nước, bị cộng sản khoác áo chống Pháp lừa gạt rồi thỏa hiệp với chúng vô điều kiện cho chúng hủy diệt mình.

Mong rằng, quý vị cựu tù nhân chính trị hãy tỉnh táo và sáng suốt nhận định tình hình. Tuy vì tuổi tác, không còn sức khỏe để bền bĩ tiếp tục đấu tranh chính trị trên chính trường, nhưng mong qúy chiến hữu qua kinh nghiệm và nhờ truyền thông báo chí, hướng dẫn dư luận, triệt bỏ những tổ chức tay say CSVN mới sớm dẹp được hiểm họa cộng sản trong nước. Đó là điều thiết tha kêu gọi, và mong muốn các cựu tù nhân chính trị đề cao cảnh giác nhân dịp kỷ niệm Ba Mươi Năm Ngày 30-4. Ước mong thay.

Phùng Ngọc Sa