Monday, April 13, 2009

34 năm nhìn lại cuộc chiến chống CSVN - Phạm Bá Hoa


Phạm Bá Hoa

1. Cuộc chiến sau cuộc chiến 1954-1975.

Việt Nam Cộng Hòa chúng ta bị quân cộng sản nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa gây chiến tranh từ năm 1954. Sau 21 năm với khoảng 10.000.000 thanh niên “sinh Bắc tử Nam”, họ đã chiếm Việt Nam Cộng Hòa chúng ta vào ngày 30 tháng 4 năm 1975 (con số này trích đoạn bà Lê Duẫn trả lời phỏng vấn của phóng viên Xuân Hồng đài BBC ngày 23/12/2008). Từ đó, chúng ta mất tự do! Mất tự do là mất tất cả trên quê hương Việt Nam!

Từ những đợt di tản đầu tiên (1975) đặt chân trên những xứ sở đón nhận chúng ta tị nạn cộng sản, lần lượt 20 năm kế tiếp (1976-1995) với làn sóng ào ạt vượt biên vượt biển và các chương trình đoàn tụ gia đình, HO, con lai, nhân đạo, đến nay (2009) ước tính Cộng Đồng chúng ta trên khắp thế giới vào khoảng 3.000.000 người mà đa số đã trở thành công dân bản xứ. Ngoài bổn phận với quê hương thứ hai, chúng ta còn bổn phận với quê hương Việt Nam cội nguồn. Đó là bổn phận góp phần dân chủ hóa chế độ trên quê hương Việt Nam để giành lại quyền làm người cho 86 triệu đồng bào. Đây là cuộc chiến có tính cách toàn diện, một cuộc chiến mà mọi sinh hoạt xã hội đều là “vũ khí” trong cuộc chiến này và “truyền thông và vận động chính trị tại các quê hương thứ hai ” là vũ khí quan trọng nhất.

Sau 34 năm (1975-2009) nhìn lại những gì Cộng Đồng chúng ta trên khắp thế giới có hay không có kết quả trong cuộc chiến tiếp tục chống CSVN. Tôi nói “tiếp tục chống cộng sản” vì sau khi bị cộng sản Việt Nam cai trị (1975) với chế độ độc tài, tôi quan niệm những hành động:

  1. Không chấp nhận giao nhà cửa tài sản cho chúng để đi khu kinh tế mới là hành động chống cộng sản.
  2. Vượt biên vượt biển để chạy trốn chế độ độc tài tàn bạo là hành động chống cộng sản.
  3. Với những cách phản kháng quân đội và công an trong những trại tập trung (họ gọi là trại cải tạo) là hành động chống cộng sản.
  4. Những người ra đi trong các chương trình “đoàn tụ gia đình, con lai, nhân đạo, H.O. là hành động chống cộng sản. Nói chung bất cứ những hành động nào thể hiện ý thức chính trị không chấp nhận chế độ độc tài cho dù hiểu theo nghĩa thụ động hay chủ động, đều là hành động chống cộng sản.
Tại hải ngoại, phương thức đấu tranh thông thường của Cộng Đồng chúng ta để phản đối hay ủng hộ một vấn đề nào đó, như mít tinh biểu tình, thư phản kháng, thư thỉnh nguyện, điện thoại, điện thư (fax), vi thư (e-mail), … . Đó là hành động bày tỏ ý thức chính trị chớ chưa phải làm chính trị như không ít người cho rằng “tôi không làm chính trị nên tôi không tham gia” như cái cớ để đứng bên ngoài, trong khi tự cho mình cái quyền phê phán người khác. Trong sinh hoạt Cộng Đồng, chúng ta đến với nhau là do tinh thần trách nhiệm, không một ai hưởng bất cứ một quyền lợi vật chất nào từ tổ chức mà người đó tham gia, trái lại thường bị những mẫu người nói trên chỉ trích lắm khi nặng lời. Một câu nói tưởng như đùa nhưng là kinh nghiệm thực tế với chút đắng cay: “Sinh hoạt Cộng Đồng mà không bị chửi là chưa có kinh nghiệm” Nghĩ cho cùng, câu ấy rất thực. Dĩ nhiên, với quyền tự do ngôn luận tại các quê hương thứ hai, mọi người đều có quyền khen hay chê những cá nhân khác, nhưng không phải vì vậy mà tự chà đạp liêm sỉ chính mình.

Trong những năm gần đây có dư luận cho rằng: “Mấy chục năm nay các anh đấu tranh gì mà chẳng thằng cộng sản nào rụng cái lông chân, vậy mà các anh cứ nhắm mắt đấu tranh cho mất thì giờ vô ích”. Riêng bản thân tôi khi đến dự đại hội của Hội Thủ Đức Houston kỷ niệm 25 năm thành lập vào cuối tháng 12 năm 2008, ngay lối vào cửa nhà hàng Ocean Palace tôi gặp người bạn “thích nói nhưng không thích làm”. Trong khi bắt tay nhau, anh ấy “phang” tôi một câu: “Già rồi sao không nghỉ cho khỏe, dính líu hội hè chi cho mệt. Tôi mới từ Việt Nam về lại Mỹ, cộng sản nó giàu nó mạnh lắm, 50 năm nữa mấy anh chẳng làm gì nó được đâu”. Nói xong, anh ấy ra xe với dáng “hiên ngang” như thể vừa dạy tôi bài học. Vâng, tôi vừa học bài học, nhưng là “bài học để tránh anh ấy chớ không phải bài học để làm theo anh ấy”. Tôi nghĩ, quí vị đã và đang tham gia sinh hoạt Cộng Đồng, thể nào cũng có lần nghe những câu đại loại vừa châm biếm vừa chê bai như vậy! Xin quí vị hãy kiên nhẫn nếu quí vị tin rằng “con đường” quí vị đã chọn và đang đi là đúng.

Tôi có nét nhìn khác với anh bạn vừa “dạy tôi bài học” nói trên, anh ấy thuộc mẫu người thích “xênh xang áo gấm về làng hưởng thụ trên sự đau khổ của người con gái Việt Nam”, và càng khác những ai cho rằng cuộc đấu tranh của Cộng Đồng chúng ta không làm rụng sợi lông chân nào của cộng sản. Xin hiểu rằng, mục đích cuối cùng trong cuộc đấu tranh của chúng ta là góp phần triệt tiêu chế độ độc tài giành lại quyền làm người cho dân tộc, và vá lại mảnh giang sơn đã bị CSVN xé lởm chởm trên đầu (biên giới phía Bắc), nham nhở một bên vai (vịnh Bắc Việt), và loang lỗ một phần bên hông phải (Biển Đông)!

2. Chúng ta có đạt được gì không?

Vậy, 34 năm qua Cộng Đồng chúng ta có đạt được gì không? Xin trả lời ngay là CÓ, và đây là những gì đạt được:

a. Được sống tại các quốc gia tự do.

Trong số khoảng 3.000.000 người Việt chúng ta tại hải ngoại, có thành phần cựu quân nhân sau hơn 20 năm chiến đấu bảo vệ tổ quốc với những trận chiến vang danh trên thế giới và vô số trận chiến âm thầm đơn lẻ trên khắp miền đất nước, thành phần tù chính trị bị quân cộng sản giam giữ đọa đày trong hơn 200 trại tập trung từ 1975 đến 1992, thành phần gia đình cựu quân nhân viên chức cán bộ, và các thành phần kinh tế tài chánh bị áp bức trong xã hội chẳng khác tình cảnh “lưu vong ngay trên quê hương Việt Nam”, nay được sống tại các quốc gia mà nền dân chủ pháp trị được nhà cầm quyền và người dân tôn trọng. Đây chính là điều đạt được lớn nhất, và là hạnh phúc lớn nhất của Cộng Đồng chúng ta tị nạn cộng sản. Từ căn bản đó, chúng ta đạt được những lãnh vực khác.

b. Được học hỏi tổ chức & quản trị xã hội.

Sống trên các quê hương thứ hai, chúng ta học hỏi nhiều về tổ chức và quản trị xã hội. Thêm nữa, chúng ta có nhiều cơ hội du lịch đó đây trên thế gới, nhờ đó mà kiến thức tổng quát được trang bị thêm phần phong phú, tầm nhìn được trải rộng trên các sinh hoạt quốc gia, nhất là hiểu biết những nền văn hoá khác nhau. Nhờ vậy mà chúng ta hình thành khái niệm căn bản về tổ chức và quản trị một xã hội cho quê hương Việt Nam ngày mai, khả dĩ dung hợp hài hòa giữa nếp sống văn hoá Việt Nam với nền khoa học kỹ thuật tân tiến trong bối cảnh một thế giới phát triển.

c. Được một Cộng Đồng hải ngoại.

Theo tác giả Đỗ Tăng Bí với bài “Nghiên Cứu Dòng Nhập Cư Vào Hoa Kỳ” và tác giả Hồng Châu với bài “Sự Phân Tán & Tập Trung Của Người Việt Tại Hoa Kỳ”, người Việt Nam tại Hoa Kỳ từ trước cho đến năm 1950 -cách nay 59 năm- vào khoảng 500 người. Con số đó đến năm 1970, tăng lên khoảng 5.000 người. Từ đó đến năm 1974, Việt Nam chúng ta trên đất Mỹ gộp chung vào khoảng 20.000 người, sống rải rác các tiểu bang miền Đông Bắc và miền Tây Hoa Kỳ. Lúc bấy giờ cũng chưa hình thành tổ chức Cộng Đồng. Mãi đến đợt di tản cuối tháng 4 đầu tháng 5 năm 1975 khoảng 150.000. Theo tài liệu của Cao Ủy Tị Nạn/Liên Hiệp Quốc, thành phần vượt biên vượt biển từ năm 1976 đến 1995 có 839.200 người nhập cư khoảng 94 quốc gia trên thế giới, mà Hoa Kỳ là quốc gia tiếp nhận nhiều nhất. Theo tài liệu của US Census Bureau năm 2000, Cộng Đồng Việt Nam là 1.122.528 người, qui tụ trong 293.621 gia cư với số nhân khẩu từ 3 người trở lên (chiếm 80.5% trong tổng số). Cũng theo US Census Bureau, đến 1/6/2008 Cộng Đồng Việt Nam tại Hoa Kỳ khoảng 1.500.000 người. Sau những năm ổn định cuộc sống từ khi nhập cư, lần lượt những tổ chức Hội Đoàn và Cộng Đồng được thành lập theo nhu cầu sinh hoạt chung để hỗ trợ lẫn nhau. Đây là “cái được mà tôi xếp vào loại quan trọng bậc nhất”.

Bởi từ nét nhìn lạc quan khi nhìn vào tổ chức Cộng Đồng tại Orange County, các thành phố San Jose, Houston, Dallas-Fort Worth, ..v..v.. , mỗi nơi nhu thể một quốc gia thu nhỏ tại hải ngoại. Đứng đầu là tổ chức Cộng Đồng điều hợp sinh hoạt chung gồm: Các Hội đoàn đồng hương cấp tỉnh , Hội đoàn quân đội với màu áo các quân binh chủng. Hội đoàn văn hoá, Hội đoàn khoa học kỹ thuật, Hội đoàn ngành nghề chuyên môn, Hội đoàn trường hay liên trường trung học, đại học, các tổ chức bảo tàng lịch sử, các cơ sở giảng dạy Việt ngữ, ..v..v... Bên cạnh đó còn có các tổ chức tôn giáo: Phật Giáo, Thiên Chúa, Tin Lành, Cao Đài, Hòa Hảo, với các cơ sở thờ phượng. Và Cộng Đồng Việt Nam tị nạn cộng sản ngày càng lớn mạnh:

(1) Với khối nhân lực quí giá.

Một phần thế hệ chúng ta trong cuộc chiến 1954-1975, và liên tục những thế hệ sau chúng ta được đào tạo trong những nền giáo dục tân tiến trên thế giới, với số lượng học sinh sinh viên “du học tại chỗ” không một quốc gia nào sánh được. Tuổi trẻ hải ngoại trong Cộng Đồng Việt Nam tị nạn cộng sản đã hình thành khối tài nguyên nhân lực quí giá, sẽ là lực lượng nòng cốt cùng với tuổi trẻ trong nước, thúc đẩy quê hương Việt Nam phát triển theo hình tượng chiếc phản lực cơ thương mại vừa cất cánh khỏi đường băng vươn mình lên bầu trời xanh thẳm khi cộng sản độc tài sụp đổ.

Khối nhân lực quí giá này là sự mơ ước của CSVN qua đoạn ngắn dưới đây trong bài “Cộng Đồng Việt Nam Ở Nước Ngoài, Khơi Dậy Nguồn Lực Chất Xám” ngày 11/08/2005 của Thứ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Phú Bình: “Trong số gần 3.000.000 người Việt Nam sinh sống định cư ở nước ngoài, ước tính có khoảng 300.000 người được đào tạo ở trình độ đại học và công nhân kỹ thuật cao, có kiến thức cập nhật về văn hoá, về khoa học, công nghệ, về quản lý kinh tế. Trong đó có nhiều người đạt vị trí quan trọng trong các viện nghiên cứu, trường đại học, bệnh viện, công ty kinh doanh của các nước, và các tổ chức quốc tế. Tiềm lực khoa học và công nghệ của các thế hệ người Việt Nam ở nước ngoài không ngừng phát triển. Trong đó, một thế hệ trí thức mới người nước ngoài gốc Việt đang hình thành và phát triển, nhất là ở các nước Bắc Mỹ, Tây Âu, và Châu Đại Dương. Đội ngũ này tập trung ở nhiều lãnh vực khoa học chuyên ngành và kinh tế như tin học, viễn thông, điện tử, vật liệu mới, chế tạo máy, điều khiển học, sinh học, quản lý kinh tế, ngân hàng, chứng khoán, ..v..v.. Theo ước tính, chỉ số học vấn đại học và trên đại học của người Việt Nam tại các nước công nghiệp phát triển gần ở mức trung bình của người dân sở tại. Thế hệ trẻ này đang trở thành một thành phần quan trọng của công tác vận động nhằm động viên khuyến khích sự hợp tác, đóng góp của họ vào công cuộc xây dựng quê hương đất nước. Thế mạnh của đội ngũ trí thức người Việt Nam ở nước ngoài là được đào luyện, tiếp cận môi trường khoa học công nghệ tiên tiến, và nắm bắt được phương pháp quản lý kinh tế vĩ mô và chuyên ngành. Họ có khả năng phát kiến sáng tạo, có năng lực tổng hợp thông tin, tư vấn, và tạo dựng mối quan hệ với các cơ sở khoa học, cơ sở kinh tế ở nước sở tại. Từ trước đến nay, đội ngũ trí thức kiều bào vẫn được các cơ quan chức năng trong nước đánh giá là thế mạnh của người Việt ở nước ngoài, là một nguồn lực có thể góp phần tích cực cho sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước”.

Trong những năm gần đây có dư luận cho rằng “tuổi trẻ Việt Nam hải ngoại về xây dựng quê hương chỉ là giấc mơ không thể có”. Tôi xin phép thưa rằng, tuổi trẻ Việt Nam hải ngoại chịu ảnh hưởng văn hoá tại các quốc gia bản xứ nhất là Hoa Kỳ, điều này đúng, nhưng không phải vì vậy mà xem thường ý thức trách nhiệm của tuổi trẻ đối với quê hương Việt Nam cội nguồn. Tôi có nhiều dịp tiếp xúc với tuổi trẻ khi tham gia “Ban Phát Thưởng Học Sinh Giỏi” (lớp 5 đến lớp 12) tại Houston từ năm học 1998-1999 đến 2003-2004. Sau khi các cháu vào đại học, hằng năm các cháu đều đến tham gia Ban Phát Thưởng và các cháu không từ chối bất cứ công tác nào nhờ đến. Đúng là tuổi trẻ thừa nhận trong những năm tiểu học trung học, con cháu chúng ta tự nghĩ mình là người Mỹ (tôi nghĩ những nơi khác cũng vậy). Nhưng từ lớp 11 lớp 12, sau đó vào đại học, tuổi trẻ bắt đầu tham gia sinh hoạt văn hoá xã hội, những sinh hoạt này cũng là cách mà nhà trường giúp sinh viên trang bị ý thức trách nhiệm cộng đồng trong hành trang vào đời. Qua tiếp xúc với sinh viên nhiều chủng tộc khác nhau trong công tác cũng như trong sinh hoạt học đường, những va chạm giữa những nền văn hoá khác nhau, chính là cơ hội giúp tuổi trẻ nhận ra mình vẫn là người Việt Nam dù quốc tịch bản xứ, vì nhìn lại từ vóc dáng màu da tóc tai mặt mũi đến ánh mắt nụ cười của mình không phải người bản xứ. Từ đó, tuổi trẻ Việt Nam tìm về quê hương cội nguồn.

Cũng trong những năm gần đây, với phương tiện truyền thông vừa nhanh chóng vừa chính xác -đài truyền hình SBTN và Hồn Việt là một phương tiện- cung ứng những bài viết, những hội luận, cùng với những hình ảnh cho thấy tuổi trẻ nhập cuộc trong các sinh hoạt văn hoá xã hội cũng như trong sinh hoạt bày tỏ ý thức chính trị ngày càng đông trên các quê hương thứ hai, chứng tỏ khả năng và tinh thần trách nhiệm của tuổi trẻ hải ngoại. Với vị trí ông bà cha mẹ, xin quí vị cố gắng giúp các con các cháu nói chung là tuổi trẻ Việt Nam hải ngoại học hỏi văn hoá Việt Nam, ngoài những giải thích hướng dẫn bằng lời, nếu được, nên đưa tuổi trẻ đến với các lễ hội văn hoá như Tết Nguyên Đán, trung thu, picnic, mà các Hội Đoàn tổ chức. Nếu tuổi trẻ Việt Nam hải ngoại không hiểu chút gì về quê hương Việt Nam cội nguồn, tôi nghĩ, một phần trách nhiệm thuộc về thế hệ chúng ta. Và xin quí vị thật lòng tin tưởng con cháu chúng ta, những thế hệ tuổi trẻ Việt Nam hải ngoại đối với quê hương Việt Nam cội nguồn tự do dân chủ và nhân quyền.

(2) Với kinh nghiệm vận động chính trị.

Tuổi trẻ Việt Nam hải ngoại nhất là tại Hoa Kỳ, Germany, Canada, Australia, ..v..v.., đã góp mặt trong các cơ quan Lập Pháp, Hành Pháp, Tư Pháp, trong các trường đại học, trong các tổ chức khoa học kỹ thuật cũng như trong các tổ chức chính trị bản xứ, và đã góp phần vào các thành tựu quan trọng. Tiến sĩ Philipp Roesler Bộ Trưởng Kinh Tế tiểu bang Niedersachsen, Germany. Cô Eve Mary Thái Thị Lạc, đắc cử Dân Biểu Canada năm 2007. Tại Hoa Kỳ, có Dân Biểu liên bang Cao Quang Ánh, Dân Biểu tiểu bang Trần Thái Văn và Hubert Võ. Tuổi trẻ đã có mặt trong Cơ Quan Quản Trị Hàng Không & Không Gian (NASA), đặc biệt là khoa học gia Nguyễn Xuân Vinh, và ít nhất có một phi hành gia Eugene Trịnh Hữu Châu. Trong NASA còn có nhiều chuyên gia gốc Việt Nam, như: Ông Bà Hữu Trịnh -tiến sĩ kỹ thuật- và Diệp Trịnh -tiến sĩ hóa học- cùng làm việc trong cơ quan này, tiến sĩ Nguyễn Mạnh Tiến, tiến sĩ Jonathan Lee Điền Lê, tiến sĩ Bruce Vũ Thanh, tiến sĩ Bùi Trí Trọng, tiến sĩ Nguyễn Quang Việt, tiến sĩ Đinh Bá Tiến, và nhiều nhiều nữa. Trong ngành vũ khí, đặc biệt nữ khoa gia Dương Nguyệt Ánh nổi danh trong giới quân sự quốc tế về vũ khí. Tiến sĩ hóa lý sinh Võ Đình Tuấn, Viện Trưởng Viện Fitzpatrick/Đại học Duke, được Creator Synectics chọn là 1 trong 100 thiên tài thế giới. Tiến sĩ Huỳnh Mỹ Hằng là một trong 24 người nhận giải MacArthur Fellowship năm 2007 được gọi là “Genius Grants” (giải Thiên Tài) về các ngành khoa học, xã hội, nhân văn, nghệ thuật. ..v..v.. Trong quân đội Hoa Kỳ, nhiều sĩ quan giữ những chức vụ quan trọng như: Hạm trưởng hàng không mẫu hạm, Hạm trưởng tàu ngầm, Hạm Trưởng khu trục hạm, Tư lệnh Sư Đoàn và Lữ Đoàn Thủy Quân Lục Chiến, phi công phản lực cơ chiến đấu Elizabeth Phạm, ..v..v... Nhìn chung, khối tài nguyên quí giá này tiếp tục được bổ sung trong dài lâu.

Khối cử tri chúng ta tại các quê hương thứ hai ngày càng nhân lên, tùy thời gian không gian hoàn cảnh, lá phiếu chúng ta có ảnh hưởng vào chính trường, tuy chưa hoàn toàn như ý muốn nhưng chắc rằng sẽ trở thành nhân tố quan trọng trong chính trường. Thêm nữa, trong những năm gần đây, những giới chức gốc Việt trong cơ quan chánh quyền và các lãnh vực kinh doanh thương mãi, có khả năng trong vận động chính trị ủng hộ Cộng Đồng chúng ta về quyền lợi của Cộng Đồng, và ảnh hưởng phần nào trong chính sách đối với CSVN, nhất là tại cơ quan Lập Pháp từ trung ương xuống đến tiểu bang và thành phố. Nhìn chung, quyền lợi và cái “thế chính trị” của Cộng Đồng từng bước sẽ được bảo đảm hơn, và từ vị trí công dân các quê hương thứ hai giúp cho cuộc đấu tranh của chúng ta sẽ hiệu quả hơn.

(3) Với khối tài chánh quan trọng.

Từ những bàn tay trắng khi chạy trốn khỏi chế độ độc tài tàn bạo trên quê hương, ngày nay khả năng kinh tế tài chánh của Cộng Đồng Việt Nam tị nạn tại hải ngoại ngày càng lớn mạnh thể hiện bởi:
Khối mỹ kim do bà con gởi về Việt Nam giúp thân nhân hằng năm như sau: Năm 1991; 35 triệu. Năm 1995; 285 triệu. Năm 2000; 1 tỷ 700 triệu. Năm 2002; 2 tỷ 100 triệu. Năm 2004; 3 tỷ mỹ kim. Năm 2007; 7 tỷ 800 triệu. Những con số trên đây là của từng năm chớ không phải gộp lại của các năm trước. Theo tài liệu thì khoảng 70% lượng tiền trên đây chuyển qua hệ thống ngân hàng, tỷ lệ này có khuynh hướng ngày càng giảm, trong khi lượng tiền chuyển về Việt Nam qua các công ty có khuynh hướng ngày càng tăng. Với lại còn một khối lượng mỹ kim khác do khoảng 250.000 đến 300.000 người hằng năm mang theo khi về Việt Nam thăm thân nhân. Nếu tạm chấp nhận trung bình mỗi người về Việt Nam chi tiêu 300 mỹ kim, thì con số đó sẽ là 90 triệu mỹ kim. Nhìn chung qua những con số mà tôi có được từng năm kể từ năm 1991 đến cuối năm 2007, thì lượng tiền mà bà con trong Cộng Đồng tị nạn tại hải ngoại gởi về Việt Nam lên đến 25 tỷ 431 triệu mỹ kim.

Sự lớn mạnh về kinh tế của riêng Cộng Đồng Việt Nam tị nạn tại Hoa Kỳ theo thống kê năm 2000 như sau: Về cơ sở kinh doanh sản xuất và dịch vụ do người Việt Nam làm chủ: Năm 1982, trên toàn liên bang có 4.989 cơ sở với doanh thu hằng năm là 215 triệu mỹ kim. Năm 1987, Việt Nam làm chủ 25.671 cơ sở với doanh thu hằng năm là 1 tỷ 361 triệu mỹ kim. Năm 2000, Việt Nam làm chủ 97.784 cơ sở với doanh thu 6 tỷ 768 triệu mỹ kim. Và cũng tiêu biểu sự lớn mạnh của Cộng Đồng tị nạn tại Hoa Kỳ, theo thống kê năm 2000 lợi tức của 293.621 gia đình có 3 người trở lên vào khoảng 18.641.000.000 (18 tỷ 641 triệu) mỹ kim, bao gồm: (1) 27.4% hay là 89.452 gia đình có lợi tức dưới 25.000 mỹ kim. Nếu chấp nhận trung bình 20.000 mỹ kim, thì 89.452 gia đình có lợi tức chung là 1 tỷ 789 triệu. (2) 27.2% hay là 79.864 gia đình có lợi tức từ 25.000 đến dưới 50.000 MK. Nếu chấp nhận trung bình 35.000 mỹ kim, thì 79.864 gia đình có lợi tức chung là 2 tỷ 795 triệu. (3) 31.3% hay là 91.903 gia đình có lợi tức từ 50.000 đến dưới 100.000 MK. Nếu chấp nhận trung bình 75.000 MK, thì 91.903 gia đình có lợi tức chung là 6 tỷ 892 triệu. (4) 12.3% hay là 36.115 gia đình có lợi tức từ 100.000 đến dưới 200.00 MK. Nếu chấp nhận trung bình 150.000 MK, thì 36.115 gia đình có lợi tức chung là 5 tỷ 417 triệu. (5) 1.8% hay là 5.825 gia đình có lợi tức từ 200.000 MK trở lên. Nếu chấp nhận trung bình 300.000 MK, thì 5.825 gia đình có lợi tức chung là 1 tỷ 747 triệu.

Trên đây chỉ ước tính 80.5% trong tổng số 1.122.528 người sống trong 293.621 đơn vị gia cư từ 3 người trở lên, như vậy còn lại 19.5% hay là 218.892 người sống trong chung cư hoặc trong những căn phòng hay thuê phòng trong những nhà riêng, tạm gọi là “tiểu gia cư” một người hay hai người. Nếu sử dụng lợi tức tối thiểu “đầu người hằng năm” ngang bằng số trợ cấp an sinh xã hội của chánh phủ liên bang tính tròn 6,000 mỹ kim, chúng ta có lợi tức chung của 218.892 người là 1 tỷ 313 triệu mỹ kim. Một cách tổng quát, nếu chúng ta gộp chung lợi tức của gần 300 ngàn gia đình (18 tỷ 641 triệu), và lợi tức của những người sống riêng lẽ hoặc trong gia đình 2 người (1 tỷ 313 triệu), thì lợi tức của Cộng Đồng Việt Nam chúng ta tại Hoa Kỳ trong năm 2000 vào khoảng 20 tỷ mỹ kim (tính theo số tròn). Từ con số này, ước tính một cách tổng quát về tổng lợi tức của Cộng Đồng Việt Nam Tị Nạn tại Hải Ngoại trong năm 2008 có thể lên đến hơn 30 tỷ mỹ kim. Khối tài chánh tuy chưa phải lớn lao so với các Cộng Đồng Trung Hoa, Do Thái, Ấn Độ, hay Phi Luật Tân, nhưng so với nhu cầu trong nước, chúng ta có khả năng đóng góp quan trọng vào mục tiêu phát triển quốc gia sau khi cộng sản độc tài sụp đổ.

(4) Với trận chiến dựng lại quốc kỳ.

Tại Hoa Kỳ, bắt đầu ngày 19/2/2003 với thành phố Westminster (California) , từ đó đến ngày 15/3/2009, đã được 112 cơ quan hành chánh ban hành văn kiện công nhận quốc kỳ Việt Nam nền vàng ba sọc đỏ là biểu tượng tự do của Cộng Đồng chúng ta, gồm: 15 tiểu bang + 7 Quận Hạt (Counties) + 90 Thành Phố. (Danh sách các tiểu bang theo mẫu tự: California, Colorado, Florida, Georgia, Louisiana, Michigan, Minnesota, New Jersey, Nebraska, Ohio, Oklahoma, Oregon, Texas, Utah, và Virginia. Riêng tiểu bang Louisiana và Ohio công nhận bằng Luật. Cộng Đồng chúng ta còn non trẻ so với các cộng đồng bạn dài lâu trên đất Mỹ, nhưng đặc biệt là Cộng Đồng chúng ta có quốc kỳ riêng sử dụng thích hợp trong từng trường hợp. Trên thế giới, hầu như chưa có trường hợp chế độ nào sụp đổ mà quốc kỳ đó vẫn tồn tại trên các quê hương thứ hai như trường hợp Cộng Đồng chúng ta.

(5) Với bia và đài tưởng niệm.

Song song với nỗ lực vận động cho “Trận Chiến Dựng Lại Quốc Kỳ”, đến đầu năm 2009, Cộng Đồng chúng ta khắp nơi đã đặt Bia Tưởng Niệm và dựng Đài Tưởng Niệm Chiến Sĩ, Tưởng Niệm Thuyền Nhân, sau đây:
  1. Australia, tại các thành phố Fairfield (NSW), Perth (West Australia), Melbourne và Dandenong (Victoria), Brisbane (Queensland) , và Adelaide (S. Australia).
  2. Bỉ, tại thành phố Liège.
  3. Canada, tại thủ đô Otttawa và thành phố Montréal.
  4. Germany, tại thành phố Hamburg và Troisdorf.
  5. Hoa Kỳ, tại các thành phố Westminster (California) , Houston (Texas), West Valley (Utah), Saint Cloud (Minnesota), Honolulu (Hawaii), Fayetteville (North Carolina).
  6. Indonesia, trênđảo Galang.
  7. Malaysia, trên đảo Bidon.
  8. Và Thụy Sĩ, tại Genève.
(6) Với hỗ trợ lực lượng dân chủ trong nước.

Từ bản chất độc tài tàn bạo, những chính sách cai trị của CSVN tạo cho mọi người trong xã hội xã hội chủ nghĩa thường xuyên sống trong nỗi sợ hãi để phục tùng họ, nhưng sự lớn mạnh của Cộng Đồng chúng ta về các mặt kể cả những hình thức chống đối CSVN đến mức lãnh đạo cao cấp nhất của họ cũng không dám đối mặt với Cộng Đồng, đã góp phần quan trọng cho lực lượng dân chủ trong nước từng bước hình thành, và thật sự có ý nghĩa khi lực lượng này chánh thức tuyên bố thành lập tại Hà Nội và Sài Gòn ngày 8 tháng 4 năm 2006, gọi tắt là “Khối 8406”.

Đồng hành với “Khối 8406” là “Khối Dân Oan” cũng đứng lên từ các địa phương bị lãnh đạo của họ sử dụng mọi hình thức gian trá trấn lột cướp đoạt đất đai vườn ruộng, đã từng đoàn từng đoàn kéo đến các cơ quan ở Sài Gòn và Hà Nội vì bị cấp tỉnh cấp thành phố trấn áp. Nhưng rồi các cơ quan cao cấp ở Sài Gòn và Hà Nội giải quyết bằng cách giao cho Công An lùa, đẩy, và khiêng dân oan lên từng đoàn xe đưa về các địa phương sau khi bắt những người mà họ cho là “cầm đầu chống đối”. Không có gì phải ngạc nhiên cách hành sử của lãnh đạo CSVN, vì tất cả họ trong một hệ thống tham nhũng từ trên “đỉnh cao trí tuệ” len vào mọi ngóc ngách sinh hoạt xã hội xuống đến tận cùng hàng hàng lớp lớp “viên chức đầy tớ” của dân.

Chưa hết, CSVN gần như thẳng tay đàn áp bắt giam, bỏ tù, quản chề các vị lãnh đạo và tín đồ của Phật Giáo Thống Nhất, Thiên Chúa, Tin Lành, Cao Đài, Hòa Hảo. Tuy các giáo hội không cùng lúc cùng nơi cũng không cùng phương cách phản kháng, nhưng sức phản kháng CSVN mạnh mẽ không kém gì nhau.

Với thế mạnh của Cộng Đồng đối với CSVN, chúng ta đã và đang hỗ trợ lực lượng dân chủ trong nước bằng những cách khác nhau:

1. Chuyển các tin tức quốc nội và quốc tế về Việt Nam cho lực lượng dân chủ, các cá nhân, cho các lãnh đạo CSVN trong đảng, nhà nước, quân đội, công an, nhất là những tin liên quan đến tội ác của CSVN trên quê hương, vì truyền thông trong nước bị cấm loan các loại tin mà CSVN gọi là “phương hại đến ổn định xã hội” hoặc loại tin “gây mất đoàn kết nội bộ”.

2. Ủng hộ lực lượng dân chủ, ủng hộ các giáo hội ngoài quốc doanh, ủng hộ dân oan, và ủng hộ bất cứ ai kể cả đảng viên cộng sản, có lời nói hay hành động phản kháng CSVN trong mọi hành động đàn áp các công dân thực hiện những quyền mà Hiến Pháp (CSVN) qui định.

3. Vận động Liên Hiệp Châu Âu, Hoa Kỳ, Canada, Australia, ..v..v.., lên án CSVN vi phạm nhân quyền kể cả buôn bán thanh niên nam nữ ra ngoại quốc làm nô lệ dưới dạng “môi giới lao động”, vi phạm Hiến Pháp của chính họ.

4. Và các cách ủng hộ khác.

3. Sự thất bại của lãnh đạo CSVN.

Nhớ lại, từ sau ngày 30/4/1975, người dân Việt Nam Cộng Hòa cũ bị khủng bố đàn áp bằng mọi cách khác nhau đến mức không thể sống nổi, nên tự động lần lượt rồi ào ạt vượt lên cái chết đi tìm tự do bằng vượt biên vượt biển, lúc ấy CSVN gọi chúng ta là bọn ngụy quân ngụy quyền, bọn phản quốc vong quốc, bọn đĩ điếm, bọn lưu manh rác rưởi xã hội, ..v..v.. Nghĩa là CSVN dùng bất chữ nghĩa nào tồi tệ hơn hết trong ngôn ngữ hàng tôm hàng cá để chửi rủa nhục mạ chúng ta. Từ giữa thập niên 80 khi lãnh đạo CSVN thấy Cộng Đồng chúng ta tạo dựng được những cơ sở kinh doanh thương mại, có tiền gởi về giúp thân nhân bạn bè bằng hữu trên quê hương. Lúc ấy CSVN tìm cách khai thác nguồn tài chánh từ Cộng Đồng Tị Nạn Hải Ngoại nên hạ giọng gọi chúng ta là Việt kiều yêu nước. Kế tiếp, CSVN nâng công tác Kiều Vận lên thành chính sách và trực thuộc trung ương với hai tổ chức:

(2) Ủy Ban Về Người Việt Nam Ở Nước Ngoài do Thứ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Đình Bin làm Chủ Nhiệm, nhắm vào Cộng Đồng Tị Nạn chúng ta. (2) Và Ủy Ban Vận Động Thành Lập Hội Liên Lạc Người Việt Nam Ở Nước Ngoài do tiến sĩ Nguyễn Văn Đạo, Giám Đốc trường đại học tổng hợp Hà Nội làm Trưởng Ban, nhắm vào thân nhân của Cộng Đồng Tị Nạn đang sống trên quê hương, để áp lực chúng ta. Cùng lúc, CSVN lại hạ giọng thêm nữa để gọi chúng ta là “khúc ruột ly hương ngàn dặm”. Nhưng chính sách đó vẫn thất bại.

Theo thời gian, CSVN thấy Cộng Đồng chúng ta ngày càng lớn mạnh các mặt, đồng thời với những hoạt động chính trị chống chế độ độc tài của họ ngày càng phát triển, một lần nữa họ nâng chính sách Kiều Vận lên hàng quốc sách với Nghị Quyết 36 ngày 26/3/2004, qui định một chính sách toàn diện nhắm vào Cộng Đồng Việt Nam Tị Nạn tại hải ngoại mà họ gọi là những người Việt Nam ở nước ngoài. Quốc sách này được hỗ trợ tài chánh do “Quỹ Hỗ Trợ & Vận Động Người Việt Nam Ở Nước Ngoài” thành lập trước đó một năm (ngày 25/4/2003) tại Bộ Ngoại Giao ở Hà Nội. Vậy là CSVN chánh thức mở “mặt trận chính qui”, vừa đánh vào Cộng Đồng chúng ta trên toàn thế giới mà mục tiêu chính là Cộng Đồng tại Hoa Kỳ, vừa tìm mọi phương cách lôi cuốn những cá nhân trong Cộng Đồng chúng ta mang tiền và kỹ thuật về Việt Nam kinh doanh giúp họ giàu sang và tồn tại. Lúc này nhóm “đỉnh cao trí tuệ” lại hạ giọng thấp xuống nữa để gọi chúng ta là “bộ phận không thể tách rời cộng đồng dân tộc”.

Nghị Quyết 36 chẳng khác một một lệnh tổng tấn công Cộng Đồng chúng ta với 3 điểm căn bản sau đây:
  1. Người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời, và là nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam, là nhân tố quan trọng góp phần tăng cường quan hệ hợp tác hữu nghị giữa nước ta với các nước.
  2. Công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị và của toàn dân. Các tổ chức đảng, nhà nước, và các đoàn thể nhân dân, các ngành các cấp từ trung ương đến địa phương, ở trong nước và ngoài nước, và toàn dân ta cần coi đây là một nhiệm vụ quan trọng nhằm phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
  3. Công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài, cần mang tính đồng bộ, kết hợp việc xây dựng cơ chế chính sách với công tác vận động, kết hợp các hoạt động trong nước với các hoạt động ở ngoài nước, và phải được tiến hành thông qua nhiều loại hình hoạt động và biện pháp phù hợp với các đối tượng và địa bàn khác nhau, trên cơ sở tự nguyện và không trái pháp luật, phong tục, tập quán của nước sở tại. Từ 3 điểm đó, nội dung NQ 36 vạch ra 7 mục tiêu tấn công Cộng Đồng chúng ta, và 2 mục tiêu sau cùng ra lệnh cho đảng, tình báo, ngoại giao, công an, quân đội, tới toàn dân thi hành. Nhưng thật ra CSVN không dám xuất hiện mà họ dùng đồng tiền, cũng có thể có cả nquyền lợi ảo về chính trị, để thúc đẫy những tên tay sai của họ trong Cộng Đồng chúng ta thực hiện.
Đúng. Trong những năm gần đây, một số tổ chức trong Cộng Đồng đã xảy ra những xáo trộn dẫn đến một số Hội Đoàn thành hai tổ chức. Điều dễ nhận ra là bàn tay của những tên tay sai CSVN và đồng tiến cũng từ CSVN, cộng với đám tuyên truyền xám Công An CSVN tung hỏa mù trên hệ thống thông tin toàn cầu (NET) nhắm vào những cá nhân những tổ chức chống cộng quyết liệt, dẫn đến trường hợp một số cá nhân và tổ chức chống cộng sản chống lại cá nhân và tổ chức chống cộng sản.

Cũng đúng. Đúng là CSVN vẫn thất bại. Tuy Cộng Đồng chúng ta tùy nơi tùy hoàn cảnh có tình trạng nêu trên, nhưng rõ ràng là lãnh đạo trong “nhóm đỉnh cao trí tuệ” CSVN mỗi khi đặt chân đến Hoa Kỳ, đến Australia, đến Pháp, đến Đức, họ không thấy cờ máu nào của họ mà chỉ thấy rừng cờ vàng giữa rừng người với biểu ngữ phản đối họ vi phạm nhân quyền, nên rất sợ đối mặt với Cộng Đồng chúng ta. Điển hình tại Hoa Kỳ:

- Ngày 22/6/2007, Nguyễn Minh Triết, Chủ Tịch nước Việt Nam cộng sản khi vào dinh Tổng Thống Hoa Kỳ, chẳng những không có đội quân danh dự, không một phát súng chào mừng, cũng không một âm thanh quân nhạc chào đón, chỉ được viên chức tòa Bạch Ốc lặng lẽ hướng dẫn vào cửa sau để gặp Tổng Thống Bush, vì công viên phía trước tràn ngập bởi bà con trong Cộng Đồng chúng ta từ các tiểu bang đổ về đây với rừng cờ vàng và rừng biểu ngữ phản đối CSVN vi phạm nhân quyền. Ông ta không dám đối mặt với Cộng Đồng chúng ta nên chịu nhục vào cửa hậu. Ngày hôm sau (23/6/2007), ông Triết cùng đoàn tùy tùng đến khách sạn Saint Regis Resort ở thành phố Dana Point, nhưng xe chở ông Triết không dám cắm cờ CSVN theo nghi thức ngoại giao, vì sợ rừng người tị nạn cộng sản “dàn chào” trước khách sạn biết ông ngồi trong xe đó mà phản ứng mạnh hơn.

- Ngày 22/6/2008, Nguyễn Tấn Dũng, Thủ Tướng đảng CSVN đến Hoa Kỳ nhưng không dám xuống phi trường quốc tế vì Cộng Đồng chúng ta đã chuẩn bị “dàn chào” phản đối, mà đáp phi trường quân sự chỉ có nhóm người từ tòa đại sứ của họ đón. Ngày 26/6/2008, khi đến Houston dự hội thảo với nhóm doanh gia Hoa Kỳ trong khách sạn “The Westin Oaks” trên đường Westheimer, không thể vào cửa chánh vì Cộng Đồng chúng ta dày đặc với rừng cờ vàng và biểu ngữ phản đối, đoàn xe phải vòng qua đường S. Post Oaks vào khách sạn.

Ngang qua hai đảng viên lãnh đạo trong Bộ Chính Trị nói trên đã chứng tỏ sự thất bại của lãnh đạo CSVN dù Nghị Quyết 36 do những tên tay sai len lõi đánh phá Cộng Đồng chúng ta. Rõ ràng là cấp lãnh đạo cao nhất của nhà nước VNCS đã không dám đối mặt với Cộng Đồng chúng ta thì làm gì khống chế được chúng ta.

4. Kết luận.

Với tội ác trong 10 năm gần đây của lãnh đạo VNCS không thể phủ nhận:
  1. Năm 1999, bán 789 cây số vuông trên bộ cho THCS từ nợ vũ khí đạn dược xâm lăng VNCH.
  2. Năm 2000, bán 11.362 cây số vuông trong vịnh Bắc Việt cho THCS với giá 2 tỷ mỹ kim.
  3. Đầu tháng 12/2007, thỏa hiệp cho THCS sáp nhập quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa vào quận Tam Sa thuộc tỉnh Hải Nam.
  4. Ngày 9 & 16/12/2007 tại Sài Gòn và Hà Nội, học sinh sinh viên mít tinh biểu tình phản đối THCS chiếm hai quần đảo nói trên của Việt Nam, bị hung thần Công An ngăn chận đe dọa.
  5. Ngay trước ngày 14/9/2008, các thành phần xã hội phẫn uất hành động của THCS cũng như phản ứng nhẹ nhàng của VNCS, chuẩn bị mít tinh trước tòa đại sứ THCS ở Hà Nội phản đối THCS trưng dẫn văn kiện của Thủ Tướng Phạm Văn Đồng gởi THCS vào ngày này 50 năm trước, lại bị đám “hung thần” Công An tại Hà Nội cũng như tại các địa phương thẳng tay ngăn chận bắt giữ những ai mà họ nghi sẽ tham gia mít tinh biểu tình.
  6. Tháng 12/2008, do thỏa hiệp trước, THCS đưa hằng ngàn công nhân và lực lượng bảo vệ an ninh đến Dak Nong khai thác quặng bauxite, gây tác hại môi trường khu vực rộng lớn trên Cao Nguyên miền Trung, đã gây phẫn uất trong giới tướng lãnh về hưu cũng như tại chức ngang qua các thư gởi đến các cấp lãnh đạo của họ trong Bộ Chính Trị.
  7. Theo tờ Tuổi Trẻ ngày 27/3/2009 tại Hà Nội, ký giả Cam Văn Kình với bài “Hằng vạn công nhân Trung Hoa đã vào Việt Nam”, dẫn lời ông Trần Ngọc Hùng, Chủ Tịch Tổng Hội Xây Dựng Việt Nam, thực tế hiện nay hầu hết các cuộc đấu thầu thực hiện các dự án lớn về điện, xi măng, hóa chất, đều vào tay nhà thầu Trung Hoa vì họ được chánh phủ họ nâng đỡ nhiều mặt nên giá thầu giảm. Nhà thầu Trung Hoa đưa sang Việt Nam hằng mấy ngàn công nhân với các loại máy móc và thực phẩm mà họ không mua bất cứ thứ gì Việt Nam có. Ngoài tai hại về môi trường và kinh tế, liệu rồi đây sẽ có những làng mạc của Trung Hoa ngay bên trong lãnh thổ Việt Nam, và phải chăng đây là chiến lược cài người của lãnh đạo CSTH, rồi theo vết dầu loang tiến đến đồng hóa dân tộc Việt Nam vào Trung Hoa mà không tốn một viên đạn, không tốn một mạng người, cũng chẳng nhỏ một giọt mồ hôi, chỉ cần họ nhép miệng ra lệnh cho lãnh đạo CSVN thi hành, và nhón tay ký vào thỏa ước hợp pháp hóa là xong?
Dù thế nào đi nữa, chỉ riêng 7 tội ác trên đây đang gây phẫn uất trong các thành phần xã hội, người dân “lương cũng như giáo”, sinh viên học sinh, lực lượng đấu tranh dân chủ trong nước, thành phần đảng viên về hưu và cả tại chức, qua những cách khác nhau đã cho thấy người dân không còn sợ hãi đảng với nhà nước như trước kia nữa. Thoạt nghe có chút tàn nhẫn, nhưng thật sự khi lãnh đạo CSVN càng lún sâu vào tội ác với dân với nước, nhất là càng lệ thuộc vào CSTH, chế độ độc tài này càng sớm đến ngày sụp đổ vì khi nỗi phẫn uât đến tột cùng chính là lúc người dân đứng dậy lật đổ chúng. Không loại trừ một thành phần quân đội cộng sản sẽ cùng hàng ngũ với người dân, vì lãnh đạo của họ lệ thuộc cộng sản Trung Hoa đến mức cắt đất xén biểncho CSTH mà họ là thành phần có trách nhiệm bảo vệ.

Vì vậy, Cộng Đồng chúng ta hãy nhiệt tình hơn nữa trong nỗ lực chống CSVN và những tên tay sai của chúng ngay trong Cộng Đồng, cùng lúc tiếp tục hỗ trợ các lực lượng dân chủ trong nước và hỗ trợ tinh thần dân oan khiếu nại giành lại tài sản của họ bị các lãnh đạo địa phương cướp đoạt. Đặc biệt liên tục chuyển những tin về tội ác của CSVN nhất là tình trạng lệ thuộc CSTH về trong nước gồm các thành phần trong xã hội, và những tin tức thế giới liên quan đến Việt Nam vi phạm nhân quyền, giúp các thành phần này hiểu được những sự thật mà truyền thông của CSVN che giấu. Đây là cách góp phần quan trọng vào công cuộc lật đổ chế độ độc tài toàn trị CSVN, vì lịch sử đã chứng minh người dân không được sử dụng lá phiếu với đầy đủ quyền chính trị của mình để chuyển hóa chế độ này, vì lãnh đạo CSVN không có người nào tử tế cả. Trong khi bối cảnh chính trị quốc tế ngày nay, không một chế độ độc tài nào lường trước được những đột biến đối với họ, điển hình rõ nhất là các quốc gia cộng sản đàn anh lớn và đàn anh nhỏ của CSVN vào đầu những năm 90 là Liên Bang Sô Viết sụp đổ, khối Đông Âu Ba Lan, Tiệp Khắc, Rumani, Hungary sụp đổ, bức tường Bá Linh sụp đổ, ..v..v... Và chế độ cộng sản tan rã do chính đồng bào của họ với hỗ trợ của thế giới tự do.

Tôi nghĩ, mỗi người chúng ta tùy khả năng, hoàn cảnh, thời gian, không gian, đều có thể tham gia vào cuộc chiến này, như: Tham gia sinh hoạt trong tổ chức Cộng Đồng, sinh hoạt Hội Đoàn nào đó hay tổ chức đấu tranh, nhẹ nhàng và thuận tiện hơn hết là giúp các cháu nói tiếng Việt, giải thích cho con cháu biết về quê hương Việt Nam, một cách tồng quát về lịch sử Việt Nam, nguyên nhân ông bà cha mẹ các cháu có mặt tại hải ngoại, giúp các cháu tham gia lễ hội Việt Nam để các cháu có cơ hội nhìn thấy, nhận biết một hình ảnh văn hoá Việt, cùng lúc làm quen với các bạn trang lứa. Nếu được, khuyến khích các cháu tham gia sinh hoạt Hướng Đạo, sinh hoạt trong tổ chức tôn giáo dành cho tuổi trẻ. Xa chút nữa, khuyến khích các cháu tham gia sinh hoạt trong tổ chức sinh viên khi các cháu vào đại học dù chỉ sinh hoạt trong phạm vi văn hoá xã hội. Vì tất cả đều là góp phần vào cuộc chiến chống cộng sản Việt Nam độc tài.

Tôi nghĩ, chúng ta có đủ lý lẽ để vững tin vào mục đích cùng hướng đi, để tiếp tục phát triển cuộc đấu tranh của Cộng Đồng chúng ta hơn nữa, đó là cách hỗ trợ mạnh mẽ lực lượng dân chủ trong nước góp phần quan trọng vào sự sụp đổ của cộng sản Việt Nam độc tài toàn trị, khi mà sự phẫn uất của người dân đến mức tột cùng, đó là lúc mục tiêu góp phần dân chủ hóa chế độ chính trị trên quê hương Việt Nam của Cộng Đồng chúng ta đạt được, rồi cùng nhau vá lại quê hương gấm vóc đã bị lãnh đạo CSVN “xé rách lởm chởm!”

Houston, tháng 4 năm 2009
Phạm Bá Hoa



Nguyễn-hữu Chánh là ai ? - Khải Chính Phạm Anh Thư

(Hãy xem cuốn Bạch Thư về Con Người và Những Hoạt Động của Nguyễn Hữu Chánh zo Luật Sư Hoàng Duy Hùng va Nhóm Sự Thật biên soạn)

Khải Chính Phạm Kim Thư

I. Lý Do


Tôi thấy có nhiều người trong đó có cả một số các cựu tướng lãnh QLVNCH ngay thơ, một số nhà văn ngây thơ, và một số các người tu hành ngây thơ đều bị bọn NHC lừa bịp. Có người cho là bọn CSVN đã giả vờ nói rằng: “Chúng tôi sẽ bỏ Điều 4 của Hiến Pháp và từ bỏ chế độ Cộng Sản để đem tư do, dân chủ, và nhân quyền lại cho toàn dân, nhưng hiện nay chưa làm được vì còn phải chờ thời cơ thuận tiện hầu tránh việc gây rối loạn nơi quê nhà. Xin quý bạn hãy tham gia vào các tổ chức hội đoàn “chống Cộng” của chúng tôi để có cơ hội thành lập các đảng phái đối lập hầu chúng ta loại bỏ chế độ CSVN một cách yên lành. Chúng tôi sẽ cung cấp cho quý vị chức tước, đầy đủ nhà cửa, xe cộ, và lương bổng để quý vị hợp tác xây dựng đất nước.”

Có lẽ chính vì những lời dụ dỗ trên đây mà những người có tên sau đây đã tham gia ban chủ tọa buổi “Tâm Đàm” của tên NHC và chính phủ ma của hắn ta: Chu Tấn, Lâm Ngương Tánh, Linh Quang Viên, Nguyễn Khắc Chính, Nguyễn Huy Đẩu, và Cao Thế Dung. Buổi “Tâm Đàm” đã được tổ chức vào ngày 10-5-2003 tại Arlington, Texas.

Chính vì lý do này mà tôi xin phổ biến phần viết dưới đây để giúp mọi người hiểu rõ bản chất cùng thủ đoạn gian manh, lường đảo, và làm tay sai cho CSVN của Nguyễn Hữu Chánh.

II. Thủ Đoạn Gian Manh, Lường Đảo, và Làm Tay Sai cho CSVN của Nguyễn Hữu Chánh

Trong phần “Tóm Lược Tiểu Sử và Những Hoạt Động Bịp Bợm của Nguyễn Hữu Chánh” dài 18 trang của cuốn Bạch Thư về Con Người và Những Hoạt Động của Nguyễn Hữu Chánh của Luật Sư Hoàng Duy Hùng va Nhóm Sự Thật biên soạn ( Sách do nhà xuất bản Việt Long tại Houston, Texas, Hoa Kỳ, xuất bản vào tháng 6 năm 2001), Nhóm Sự Thật đã kể rõ bản chất cùng thủ đoạn gian manh, lường đảo, và làm tay sai cho CSVN của Nguyễn Hữu Chánh như sau:

- Vào ngày 30- 4-1975, Nguyễn Hữu Chánh dẫn Việt Cộng vào tiếp thu chính quyền tỉnh Bình Định.

- Sau năm 1975, Nguyễn Hữu Chánh trở về tỉnh Khánh Hòa và được Cộng Sản cho làm đội trưởng đội phục hồi thi công cơ giới ở Diên Khánh.

- Tháng 6/1982, Nguyễn Hữu Chánh dụ dỗ bao người góp vốn lập xưởng chế tạo đường kết tinh ở Bình Định. Sau đó, hắn lường gạt họ để lấy trọn số vốn này rồi cùng với vợ con vượt biên đến Phi Luật Tân. Ở trại Palawan tại Phi Luật Tân, Nguyễn Hữu Chánh ăn cắp thư từ của các người tỵ nạn để lấy tiền của họ từ ngoại quốc gửi sang.

- Vào năm 1983, Nguyễn Hữu Chánh lường gạt mười mấy ngàn Mỹ Kim của Thượng Tọa Thích Giác Nhiên về việc làm hàng rào cho ngôi chùa.

- Rất nhiều hồ sơ tại tòa án ở Cali xác nhận rằng Nguyễn Hữu Chánh quỵt nợ nhiều người.

Nhóm Sự Thật đã đưa ra 6 bằng cớ rất cụ thể với đầy đủ số hồ sơ, tên tòa án, tên người bị quỵt nợ, và số tiền mà Nguyễn Hữu Chánh đã quỵt nợ của người ta (xin xem trang 6 của cuốn bạch thư này).

- Vào những năm từ 1992 đến 1994, Nguyễn Hữu Chánh về nước làm ăn với chính quyền Cộng Sản Việt Nam (xin xem phóng ảnh các văn thư liên lạc giữa CSVN và Nguyễn Hữu Chánh từ trang 9 đến trang 11). Đã làm tên Cộng nô như thế thì làm sao hắn chống Cộng được? Rõ tức cười!

- Năm 1994, Nguyễn Hữu Chánh đến Căm Bốt giả mạo danh nghĩa đại diện cho cơ quan Bravo của Tướng Westmoreland để làm thủ tục đưa tất cả những quân nhân QLVNCH và những ai đủ tiêu chuẩn đến định cư ở Hoa Kỳ. Những ai muốn đi định cư đều phải nộp đơn và đóng cho Nguyễn Hữu Chánh $50 Mỹ Kim. Đây là việc làm hoàn toàn gian manh của tên Nguyễn Hữu Chánh để lường gạt những người nhẹ dạ cả tin. Chỉ việc này không thôi, Nguyễn Hữu Chánh đã lường gạt khoảng hơn 10 ngàn người Việt ở Phnom Penh để lấy số tiền vào khoảng nửa triệu Mỹ Kim.

Được thông báo về trường hợp này, Tướng Westmoreland đã ra thông tư nói rõ là ông ta không hề biết Nguyễn Hữu Chánh là ai và không bao giờ nhờ Nguyễn Hữu Chánh làm bất cứ việc gì cho cơ quan Bravo (xin xem nguyên văn lá thư của Tướng Westmoreland ở trang 262).

Nguyễn Hữu Chánh dùng danh sách của hơn 10 ngàn người này để tuyên bố là hắn ta có 17 ngàn quân ở Biên Thùy. Mặt khác Nguyễn Hữu Chánh lại nộp danh sách này cho tên thiếu tá tình báo CS là Trần Văn Hùng (Hùng Biên Thùy, hay Quang Minh). Dựa vào danh sách này, bọn CSVN đã tìm cách theo dõi và hãm hại các thành phần người Quốc Gia ở Phnom Penh.

Trong thời gian này ở Phnom Penh, Nguyễn Hữu Chánh còn lừa cả bà Kun Darachan, vợ Trung Tướng Căm Bốt, để lấy khoảng 180 ngàn Mỹ Kim. Vào năm 1997, bà Kun Darachan đã sang Hoa Kỳ để kiếm Nguyễn Hữu Chánh đòi nợ. Về vụ lường gạt này, các báo chí ở California hồi đó đã đăng tải đầy đủ và mọi người đều biết rõ.

Sau khi về Hoa Kỳ, Nguyễn Hữu Chánh dụ dỗ cụ Đỗ Vạn Lý (Cao Đài) để lấy 70 ngàn Mỹ Kim dùng vào việc mua thuốc Tây gửi qua Căm Bốt để bán rồi sau đó tìm cách ăn quỵt luôn.

Trong khi đi lường gạt những người ở Căm Bốt, Nguyễn Hữu Chánh nói là đi vận động để thành lập Liên Quân Kháng Chiến Đông Dương. Sự thực thì trong cái gọi là “Liên Quân Kháng Chiến” này chỉ gồm những tay tình báo CSVN đội lốt người Việt Quốc Gia để giúp đỡ Nguyễn Hữu Chánh dụ người Việt Quốc Gia yêu nước rồi lùa họ về Việt Nam để CS bắt họ bỏ tù.

- Vào tháng 4/1995, Nguyễn Hữu Chánh công bố thành lập cái gọi là Chính Phủ Cách Mạng Việt Nam Tự Do (CPCMVNTD) rồi dùng các thủ đoạn giả vờ chống Cộng để dụ dỗ những nhân vật có tiếng yêu nước và chống Cộng theo hắn.

Nguyễn Hữu Chánh còn dùng chức tước cùng tiền bạc do bọn CSVN cung cấp và tiền lường gạt được để mua chuộc những người ham danh lợi. Nguyễn Hữu Chánh phong cho những người này giữ các chức vụ như Bộ Trưởng Ngoại Giao, Tổng Trưởng Kinh Tế, Tổng Trưởng Thanh Niên, Thứ Trưởng Bộ Thanh Niên, Bộ Trưởng Quốc Phòng, Chủ Tịch Ban Tài Chánh, Tổng Tưởng Tổng Vụ Hải Ngoại, Đại Biểu Chính Phủ, hay Phụ Tá Tổng Thư Ký, v.v. Nhờ thế hắn ta mới lường gạt mọi người một cách dễ dàng để tập họp những người chống Cộng rồi giả vờ thu xếp đưa họ về nước hoạt động để hắn ta báo cho bọn CSVN bắt họ.

- Vào năm 1997, Nguyễn Hữu Chánh tung ra thị trường các công trái phiếu. Những công trái phiếu này đều là đồ giả thế mà Nguyễn Hữu Chánh cũng đã lường gạt được vài chục ngàn Mỹ Kim.

Cũng trong thời gian này, có những đoàn viên cao cấp của tổ chức Nguyễn Hữu Chánh nhận thấy bộ mặt thật của gã nên đã rời bỏ tổ chức của hắn.

- Vào cuối năm 1997, Nguyễn Hữu Chánh tung tin ra là tổ chức của hắn sẽ về Việt Nam để “tiếp thu” chính quyền vì những đảng viên cao cấp của CSVN đã hỗ trợ cho hắn để lật đổ chế độ CSVN. Đây hoàn toàn là trò bịp bợm do hắn ta toa rập với bọn CSVN ở trong nước gây ra để lường gạt mọi người.

- Nguyễn Hữu Chánh còn tổ chức các căn cứ kháng chiến (KC) giả hiệu ở Thái Lan để quay phim làm thành bộ video với tên là “Con Đường Cứu Quốc” đem đi lường gạt mọi người.

- Nguyễn Hữu Chánh đã tung tin là ông Gary J. Pierce, một nhà tỷ phú Mỹ mà hắn ta mập mờ giới thiệu là tình báo (CIA) thứ dữ ở Hoa Kỳ, đã nhượng chủ quyền đảo Vanatua tại Thái Bình Dương cho tổ chức của hắn để tuyên truyền bịp bợm mọi người. Thủ đoạn tuyên truyền bịp bợm này của Nguyễn Hữu Chánh đã bị phanh phui và ông Gary J. Pierce đã bị tòa án ở Florida tuyên án giam tù vì tội lường gạt.

- Vào ngày 2/6/98, Thiếu Tá tình báo của Hoa Kỳ là ông Mark A. Smith đã viết trên tờ báo quốc tế Bangkok Post bài “Mr. Tony Is Acting on Hanoi’s Behalf” với nhận định là Nguyễn Hữu Chánh hoạt động cho CSVN để thành lập tổ chức kháng chiến giả với mục đích gây phân hóa trong cộng đồng người Việt hải ngoại cũng như làm mất uy tín của các nhân vật và các tổ chức chân chính chống

Cộng (xin xem nguyên văn các bài báo của tờ Bangkok Post và bài dịch ra tiếng Việt liên quan tới vụ này ở trang 34, 35, 294, và 295) .

- Vào năm 1998, Nguyễn Hữu Chánh đưa tin là hắn ta đã được trường đại học Harvard cấp bằng tiến sĩ danh dự. Việc dối trá này đã bị lòi đuôi vì trong danh sách các tiến sĩ danh dự của đại học Harvard từ năm 1753 đến năm 2000 không hề có tên Nguyễn Hữu Chánh trong đó (xin xem danh sách ở trang 101và 102).

- Trong số báo Tiếng Dân (báo của tổ chức Nguyễn Hữu Chánh), số 133 ra ngày 18/ 12/98, Nguyễn Hữu Chánh công bố là đã ký văn kiện hoàn tất việc mua đảo Clairview tại Úc Châu để xây “Phủ Thủ Tướng.” Đây lại hoàn toàn là một vụ bịp bơm để mua danh.

- Cũng trong năm 1998, Nguyễn Hữu Chánh thành lập “Biệt Đoàn Thiên Nga” với mục đích đưa các chị em phụ nữ “xâm nhập quốc nội để hoạt động” chống Cộng. Sự thật thì “Biệt Đoàn” này không có một hoạt động nào gọi là chống Cộng cả. Đây chỉ là thủ đoạn lừa đảo tình ái của Nguyễn Hữu Chánh. Nguyễn Hữu Chánh đã lợi dụng lòng yêu nước và tinh thần chống Cộng của họ để có quan hệ tình ái và ăn nằm với hầu hết các nữ cán bộ trong “Biệt Đoàn Thiên Nga” này.

- Vào năm 1999, Nguyễn Hữu Chánh đến Thái Lan liên lạc với Trần Văn Hùng, thiếu tá tình báo CSVN tại Căm Bốt, để thu xếp gửi khoảng hơn 30 người Việt yêu nước và chống Cộng về Việt Nam hoạt động. Nhưng theo thông tấn xã Reuters, tất cả những người này đều bị CSVN bắt ngay ở biên giới Miên Việt. Điều này hiển nhiên chứng tỏ rằng Nguyễn Hữu Chánh là một tên Cộng nô hoạt động cho CSVN để giúp bọn Cộng Sản Việt Nam thủ tiêu những người chân chính chống Cộng.

Qua những bằng chứng và nhân chứng cụ thể rất đáng tin cậy về những hoạt động của Nguyễn Hữu Chánh đã được trình bày một cách đầy đủ trong tác phẩm Bạch Thư về Con Người và Những Hoạt Động của Nguyễn Hữu Chánh do Luật Sư Hoàng Duy Hùng biên soạn, chúng tôi có thể đưa ra kết luận một cách chắc chắn rằng:

- Nguyễn Hữu Chánh là một tên Cộng nô đội lốt người Việt Quốc Gia chống Cộng với mục đích phá nát niềm tin của người Việt Quốc Gia để họ không còn biết rõ tổ chức nào của người Việt hải ngoại là tổ chức chân chính chống Cộng. Do đó, nếu sau này có một tổ chức chân chính chống Cộng hay phục quốc nào ra đời, người Việt hải ngoại cũng đâm ra nghi ngờ.

Thật là tai hại cho đại nghĩa chống Cộng vậy!

- Tất cả những gì Nguyễn Hữu Chánh đã và đang làm đều do một ban tham mưu bí mật được CSVN thành lập để hoạch định và thi hành nhưng ngoài mặt thì bọn CS lại giao cho Nguyễn Hữu Chánh đóng vai người Việt Quốc Gia chống Cộng để chạy lòng vòng giả vờ thi hành những kế hoạch đã được chính bọn CSVN thi hành một cách bí mật hầu che mắt thế gian.

Hiện nay bọn CSVN rất giầu do chúng tham nhũng và bóc lột của cải của toàn dân mà có. Chúng thuê những bọn Cộng nô, phản phúc, và phản quốc như Nguyễn Hữu Chánh để đội lốt người Việt Quốc Gia hầu dụ dỗ và mua chuộc những người Việt hải ngoại có tiếng tăm, có lòng yêu nước, và có tinh thần chống Cộng vào làm việc trong những tổ chức của CSVN mà bề ngoài đội lốt tổ chức của người Việt Quốc Gia. Tổ chức của Nguyễn Hữu Chánh với ngụy danh “Chính Phủ Cách Mạng Việt Nam Tự Do” là một trường hợp điển hình. Chúng dùng những tổ chức mà bề ngoài có vẻ đấu tranh chống Cộng như tổ chức này để dễ dàng lường gạt người Việt chống Cộng ở hải ngoại và cầm chân cùng vô hiệu hóa những hoạt động của người Việt yêu nước chân chính muốn giải thể chế độ Cộng Sản Việt Nam, một chế độ độc tài đảng trị. Trong trường hợp này, chúng ta có thể mượn lời của ông Nguyễn Văn Thiệu để nói rằng: “Đừng nghe những gì Nguyễn Hữu Chánh nói mà hãy nhìn những gì Nguyễn Hữu Chánh làm!”

Trên báo Saigon Nhỏ ngày 6-7-2001, trong bài “Còn Nỗi Đau Nào Bằng,” ông Tú Gàn đã xếp Nguyễn Hữu Chánh vào loại người “vô liêm sỉ, có thái độ côn đồ, dốt đặc cán mai, và dấu đầu hở đuôi.” Theo tôi nghĩ, ông Tú Gàn nói rất đúng vì Nguyễn Hữu Chánh đã là tên Cộng nô thì đương nhiên hắn ta vô liêm sỉ, dốt đặc cán mai, và côn đồ rồi.

Đến giờ phút này mà vẫn có những kẻ chưa nhận ra Nguyễn Hữu Chánh là một tên Cộng nô đang hoạt động tích cực cho bọn CSVN để phá hoại việc làm của những cá nhân và những tổ chức chân chính chống Cộng ở hải ngoại thì quả thật là một điều bất thường. Họ có thể là những người thiếu óc phán đoán, nhẹ dạ cả tin, và thiếu kiến văn, tức là chưa hiểu những đòn gian manh phản phúc phản quốc của bọn CS và lũ Cộng nô; họ có thể không theo dõi kỹ những bài tố cáo đầy bằng chứng hiển nhiên về hành động bịp bợm và con người gian manh của Nguyễn Hữu Chánh do Luật Sư Hoàng Duy Hùng và Nhóm Sự Thật viết; họ cũng có thể đã và đang bị bọn CSVN đưa vào bẫy và dùng danh quyền lợi bất chính để mua chuộc nên họ đã quên đi liêm sỉ mà cam tâm nói hay viết ra những điều trái với lương tâm của họ

III. Tổ Chức của Nguyễn Hữu Chánh, Chính Phủ Cách Mạng Việt Nam Tự Do (CPCMVNTD)

Tổ chức của Nguyễn Hữu Chánh, CPCMVNTD, là một tổ chức bất chính đối với người Việt hải ngoại nhưng là một cơ cấu của bọn CSVN. Ngay việc lấy cái tên “Chính Phủ Cách Mạng...” để đặt tên cho tổ chức của hắn đã chứng tỏ đây là một việc bất chính vì chính phủ này không do người Việt Quốc Gia chân chính thành lập mà do bọn CSVN giả vờ dựng lên. Chính phủ của Nguyễn Hữu Chánh cũng giống như cái chính phủ ma có tên là “Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam” trước đây do CSVN thành lập ở Miền Nam vào ngày 6/6/1969. Hai thứ “chính phủ” ma này đều có cùng tên là “Chính Phủ Cách Mạng.” Đúng là trò bịp bợm cũ rích của bọn CSVN bày ra đề lừa những người có lòng yêu nước nhưng thiếu kiến văn mà lại nhẹ dạ và cả tin. Những người nhẹ dạ cả tin ở Miền Nam trước đây đã đi theo cái gọi là “Chính Phủ Cách Mạng...” và họ cũng đã sáng mắt ra khi cái chính phủ ma ấy biến mất vào sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 lúc bọn CSVN chiếm được Miền Nam.

Giả sử như tổ chức “chính phủ” của Nguyễn Hữu Chánh là một “Chính Phủ Lưu Vong” thật sự thì vị Thủ Tướng phải là người nằm trong thành phần Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa ở Miền Nam Việt Nam trước đây, tức là có tư cách chính thống. Chính phủ này phải có căn cứ hoạt động cùng quân đội chiến đấu thực sự ngay ở trong nước. Đằng này vị Thủ Tướng Nguyễn Hoàng Dân của cái gọi là “chính phủ” của Nguyễn Hữu Chánh lại là một kẻ vô danh tiểu tốt không một ai biết tên và biết mặt do Nguyễn Hữu Chánh dựng lên để toàn quyền khuynh loát. Ngay chính bản thân Nguyễn Hữu Chánh cũng là một kẻ Cộng nô, gian manh đểu cáng, và vô liêm sỉ. Hắn ta chuyên môn lường gạt mọi người cả ở trong nước lẫn hải ngoại từ trước tới nay.

Trên báo Tiếng Dân của tổ chức Nguyễn Hữu Chánh, số 229 ngày 22 tháng 5 năm 2001, cột A1 trang 33, phát ngôn viên của tổ chức này, Lê Chí Thức, đã tuyên bố rằng “Thủ Tướng Nguyễn Hoàng Dân đang hoạt động trong quốc nội và được CSVN xác nhận.” Ngay điều này đã chứng tỏ rằng cái gọi là CPCMVNTD là thứ chính phủ ma và thủ tướng cũng là một thủ tường ma do bọn CSVN dựng lên. Không những thế, những âm mưu cùng kế hoạch của Nguyễn Hữu Chánh đều do bọn CSVN hoạch định, thi hành, và hỗ trợ. Nếu thực sự có tên Thủ Tướng của CPCMVNTD đang hoạt động chống Cộng ở trong nước thì bọn CSVN đã tìm cách diệt hắn ta chứ đời nào lại để yên và đi xác nhận như vậy. Tóm lại tổ chức “CPCMVNTD” của Nguyễn Hữu Chánh là một tổ chức của bọn CSVN dựng lên với mục đích để triệt tiêu các hoạt động chống Cộng của người Việt hải ngoại.

IV. Đừng Mong Thay Đổi Chế Độ Cộng Sản Việt Nam mà Phải Giải Thể Chế Độ CSVN Cho Bằng Được

Chủ thuyết Cộng Sản là tà thuyết và là ma đạo; con người Cộng Sản là yêu tinh và là ma quái. Thực tế và lịch sử đã chứng tỏ điều này. Dân Việt đã biết điều này bằng kinh nghiệm xương máu. Nếu muốn đem lại tự do dân chủ và nhân quyền cho toàn dân Việt và muốn cứu giúp cô nhi quả phụ, thương phế binh, bảo trợ các trẻ em nghèo đói, những người cùi hủi, và những người già bệnh hoạn và tật nguỵền ở VN, chúng ta phải tìm mọi cách để cấp tốc giải thể chế độ CSVN càng sớm càng tốt.

Những sự kiện về bọn Cộng Sản trên thế giới đã xảy ra cho chúng ta thấy rằng tất cả các đảng Cộng Sản đều chủ trương độc tài đảng trị cho đến khi chúng bị tan rã. Chỉ khi nào bị yếu thế và gặp nguy nan, chúng mới chịu ngồi vào bàn hội nghị để thương lượng. Nếu chúng chịu nhượng bộ hay “hòa hợp hòa giải” thì đó là kế hoạch để chúng tìm cách thoát khỏi hiểm nguy và để tìm cách củng cố thế lực hầu tiêu diệt các lực lượng chống lại chúng.

Đảng CSVN sẽ không bao giờ chấp nhận cho Việt Nam có tự do dân chủ và nhân quyền kể cả quyền tự do tôn giáo vì đó là điều trái với bản chất của bọn CSVN. Bọn CSVN chủ trương độc quyền lãnh đạo và cai trị đất nước để cướp tài sản của toàn dân và đầy ải toàn dân xuống hàng chó ngựa. Nếu bọn CSVN mà chấp nhận cho Việt Nam có tự do dân chủ và nhân quyền tức là chúng tự giết mình, đảng CSVN sẽ bị tiêu tan, và chế độ CSVN sẽ bị giải thể toàn bộ.

Chúng tôi hy vọng rằng, sau khi đọc bài này, những người ngây thơ sẽ tỉnh táo hầu tránh bị bọn CSVN dùng danh quyền lợi bất chính để dụ dỗ. Về việc làm sao để người Việt hải ngoại có thể đoàn kết và có phương thức đấu tanh hữu hiệu để giải thể chế độ CSVN, xin quý vị xem bài “Yếu Tố Tạo Đoàn Kết Trong Cộng Đồng Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản Hải Ngoại Và Phương Thức Đấu Tranh Hữu Hiệu để Giải Thế Chế Độ Cộng Sản Việt Nam” mà chúng tôi đã phổ biến trên các diễn đán trước đây.

Khải Chính Phạm Anh Thư
Canada, 2003

MẶT TRỜI KHÔNG BAO GIỜ LẶN BÊN TRÊN LÁ CỜ VÀNG BA SỌC ĐỎ - Trần Gia Phụng



Trần Gia Phụng

Hiện nay, người Việt hải ngoại sống rải rác khắp các nơi trên thế giới. Không kể dân số trong nước, người Việt hải ngoại ít nhất cũng gần 3 triệu người. Riêng tại thành phố Toronto và vùng phụ cận khoảng 80,000 người. Ở khắp mọi nơi, người Việt họp thành những cộng đồng đang càng ngày càng lớn mạnh. Mỗi cộng đồng đều có một biểu tượng riêng. Nhìn vào biểu tượng đó, người ta biết nguồn gốc, văn hóa, căn tính của mỗi cộng đồng. Ngược lại, từ nguồn gốc, văn hóa của cộng đồng, người ta cần tìm một mẫu số chung để chọn biểu tượng cho cộng đồng. Vậy mẫu số chung để có thể trở thành biểu tượng của cộng đồng người Việt hải ngoại hiện nay là gì?

Trước hết, cộng đồng người Việt hải ngoại gồm có các thành phần sau đây:

1. Những người ra đi trước biến cố 30-4-1975.
2. Những người vượt biên sau biến cố 30-4-1975.
3. Những người được bảo lãnh.
4. Những người xuất khẩu lao động.

Trước năm 1975, hai đợt người ra đi chính: Đợt thứ nhất gồm những người do nhà cầm quyền Pháp ở Đông Dương tuyển mộ và đưa sang Pháp từ năm 1915 đến năm 1919, khoảng 100,000 người trong đó khoảng một nửa là lính chiến đấu, một nửa là lính thợ (ouvrier non spécialisé gọi tắt là ONS). (Hoàng Cơ Thụy, Việt sử khảo luận tập 3, Paris: Nxb. Tân Á, 2002, tr. 1673.) Sau thế chiến thứ nhất, một số trở về và đa số ở lại Pháp. Đợt thứ hai là những du học sinh từ năm 1949 đến năm 1975, không phải chỉ đi Pháp mà còn đến các nước khác trên thế giới như Hoa Kỳ, Canada, Anh, Úc, New Zealand. Khi xảy ra biến cố 30-4-1975, hầu hết đều ở lại nước ngoài.

Sau biến cố 30-4-1975, nhiều người vượt biên tỵ nạn cộng sản bằng đường biển hay bằng đường bộ. Cuộc vượt biên kéo dài từ 1975 đến 1995, có thể chia thành hai giai đoạn. Giai đoạn thứ nhất từ 1975 đến 1989 là năm Cao uỷ Tỵ nạn Liên Hiệp Quốc (UNHCR) ra lệnh khóa sổ các trại tỵ nạn. Giai đoạn thứ hai từ 1989 đến 1995. Từ năm 1996, CUTNLHQ đóng cửa vĩnh viễn các trại tỵ nạn. Cuộc vượt biên trong giai đoạn thứ hai khó khăn hơn vì phải trải qua “thanh lọc” tư cách tỵ nạn, mới được nhận đi định cư. Tổng số người vượt biên đến định cư được ở nước ngoài lên đến gần 1 triệu người và số người tử nạn trên đường vượt biên, không đến được miền đất tự do, khoảng 500,000 người. (Các số liệu nầy theo Người Việt Online ngày 28-10-2004.)

Những người vượt biên, một khi đã ổn định cuộc sống ở một nước khác, bắt đầu bảo lãnh thân nhân ra nước ngoài. Đó là những người ra đi theo chương trình O.D.P. (Orderly Departure Program). Ngoài ra, còn có một số khá lớn những người đi theo chương trình HO là chữ mà người Việt thường dùng để gọi chương trình The Special Released Reeducation Center Detainee Resettlement Program (Chương trình đặc biệt tái định cư cựu tù cải tạo được phóng thích), bắt đầu từ năm 1989, do chính phủ Hoa Kỳ chấp nhận cho các nhân viên và quân nhân chính phủ Việt Nam Cộng Hòa bị ba năm tù cộng sản trở lên và gia đình, tái định cư tại Hoa Kỳ.

Cuối cùng, cộng đồng người Việt hải ngoại còn có những sinh viên du học hay công nhân xuất khẩu lao động qua Liên Xô và Đông Âu, xin tỵ nạn ở các nước ngoài khi chế độ cộng sản sụp đổ tại Liên Xô và các nước Đông Âu năm 1991. Số liệu trong nước cho biết số nầy lên đến 300,000 người. Sau đó, nhiều người trong số nầy tìm cách chuyển qua sinh sống ở Tây Âu và Bắc Mỹ.

Như vậy, dù ra đi trước năm 1975, dù vượt biên sau năm 1975, dù bảo lãnh, HO hay xuất khẩu lao động, người Việt ở hải ngoại nói chung đều là những người không muốn sống dưới chế độ cộng sản Việt Nam, ra nước ngoài để tìm một đời sống tự do mới ở nước ngoài, có thể nói chung là những người tỵ nạn cộng sản hoặc bất đồng với chế độ cộng sản. Nếu không bất đồng với chế độ cộng sản, thì người ta đã về nước sinh sống sau năm 1975, khi đất nước do chế độ cộng sản kiểm soát. Có một điểm cần lưu ý là sau năm 1975, nếu có người nào nói rằng vượt biên hay ra nước ngoài vì lý do kinh tế, thì chắc chắn Cao uỷ tỵ nạn Liên Hiệp Quốc đã trả người đó về Việt Nam, hoặc chính các nước bảo trợ cũng không chấp nhận cho đến tỵ nạn kinh tế.

Tuy nhiên, giả thiết như, xin nhấn mạnh chỉ giả thiết mà thôi, có một người can đảm tự nhận ra đi vì lý do kinh tế, có nghĩa là chế độ cộng sản ở trong nước không tạo được điều kiện để cho người đó sinh sống, hay nói cách khác người đó hoặc bất đồng với chế độ cộng sản, hoặc là nạn nhân kinh tế của chế độ cộng sản, nên mới kiếm cách bỏ ra nước ngoài sinh sống. Vậy người đó không phải là nạn nhân chính trị, thì cũng có thể xem là nạn nhân kinh tế của chế độ cộng sản.

Như thế, có thể nói tính chất chung của người Việt hải ngoại là những người tỵ nạn cộng sản, dù ra đi từ Bắc hay Nam Việt Nam, dù trước hay sau năm 1975, dù vượt biên hay bảo lãnh, dù là vì lý do chính trị hay lý do kinh tế. Vậy biểu tượng chung cho người Việt hải ngoại, dầu ra nước ngoài vì bất cứ lý do nào, chắc chắn không phải là lá Cờ đỏ sao vàng, biểu tượng của chế độ đã gây ra cảnh tỵ nạn.

Trên thế giới, lá Cờ đỏ sao vàng chỉ được treo trong các tòa đại sứ hay lãnh sự Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (CHXHCNVN). Các tòa đại sứ hay lãnh sự CHXHCNVN ở hải ngoại nói cho cùng chỉ đại diện cho nhà cầm quyền Hà Nội, phụ trách công việc giao dịch của chế độ cộng sản, chứ chẳng phải là đại diện cho người Việt ở hải ngoại. Hiện nay chế độ CHXHCNVN hầu như không có hay có rất ít công dân ở hải ngoại. Đồng bào Việt Nam ở hải ngoại đều là những người tỵ nạn cộng sản, trốn tránh cộng sản như trốn tránh ác quỷ, và người Việt hải ngoại đều đã nhập quốc tịch các nước sở tại, tức là công dân các nước ngoài, chẳng cần gì đến sự giúp đỡ của các tòa đại sứ hay lãnh sự CHXHCNVN.

Ví dụ một người gốc Việt, có quốc tịch Canada hay Hoa Kỳ, tức công dân của hai nước nầy, đi du lịch, làm ăn buôn bán tại các nước trên thế giới, nếu có vấn đề gì trở ngại hay tai nạn nào, thì tòa đại sứ các nước nầy sẽ can thiệp, giúp đỡ hay bênh vực cho công dân của mình, chứ đâu cần đến tòa đại sứ cộng sản Việt Nam.

Tại tòa đại sứ CSVN, thỉnh thoảng có người đến làm giấy tờ xin đi Việt Nam, không phải với tư cách công dân Việt xin về nước, mà với tư cách công dân nước ngoài đến liên lạc với tòa đại sứ của nước mà người đó muốn đi du lịch mà thôi. Cũng giống như chúng ta muốn du lịch các nước Âu Châu hay Nam Mỹ, chúng ta phải đến liên lạc với tòa đại sứ các nước nầy.

Lá cờ tượng trưng cho những người tỵ nạn cộng sản, dù là tỵ nạn chính trị hay tỵ nạn kinh tế, không gì khác hơn là biểu tượng của những nạn nhân cộng sản. Thích hợp nhất cho biểu tượng nầy chính là lá Cờ vàng ba sọc đỏ, vì lá cờ nầy đã từng là lá cờ trên toàn cõi Việt Nam, cả Bắc và Nam Việt Nam từ năm 1948, chứ không phải riêng của miền Nam sau năm 1954, và lá cờ nầy cũng là nạn nhân của chế độ cộng sản Việt Nam.

Hiện nay, nơi nào có cộng đồng người Việt, thì nơi đó có lá Cờ vàng ba sọc đỏ tung bay. Cộng đồng người Việt sinh sống khắp nơi trên thế giới, bao quanh quả địa cầu. Suốt ngày (24/24), không chỗ nầy thì chỗ khác, vòng quanh quả đất, khi nào cũng có lá Cờ vàng ba sọc đỏ phất phới dưới ánh mặt trời. Như thế, thực tế cho thấy rằng mặt trời tỏa sáng quanh năm trên lá Cờ vàng ba sọc đỏ, nếu chúng ta không quá hãnh tiến để nói rằng MẶT TRỜI KHÔNG BAO GIỜ LẶN BÊN TRÊN LÁ CỜ VÀNG BA SỌC ĐỎ.

Trần Gia Phụng
(Toronto, 24-3-2009)



Biểu tình Ngày Quốc Hận CĐNVTD/NSW

CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT TỰ DO ÚC CHÂU
PO Box 2115 Footscray VIC 3011
ĐT: 0411 7565 552 Email: bch@cdnvtd.com
Chủ Tịch: Ông Nguyễn Thế Phong




Biểu tình Ngày Quốc Hận CĐNVTD/NSW

Thay mặt BTC Biểu Tình ngày Quốc Hận, chúng tôi xin trân trọng thông báo và kính mời toàn thể quý hội đoàn, đoàn thể và quý đồng hương tham dự cuộc biểu tình được tổ chức theo những chi tiết như sau:

Thời gian và địa điểm:
  • Ngày Chủ Nhật 26/04/2009 trước tòa đại sứ Việt Cộng tại Canberra, Timbarra Cres O’Malley ACT.
Tại NSW xe buýt khởi hành ở ba địa điểm như sau:
  • Marrickville, trước Marrickville RSL club, trên đường Illawarra Rd, vào lúc 6:00 sáng
  • Bankstown, đối diện văn phòng Cộng Đồng, đường Olympic Pde, vào lúc 6:30 sáng
  • Cabramatta, tại Cabra Vale Park trên đường Railway Parade, vào lúc 7:00 sáng
Chương trình gồm những tiết mục như sau:
  • Lễ Thượng Kỳ tại công viên Cabra Vale Park, góc đường Railway Parade và đường Bartley Street, vào lúc 6:30 sáng
  • Tập trung biểu tình trước Tòa Đại Sứ Việt Cộng tại Canberra, Timbarra Cres O’Malley ACT, vào lúc 12:00 trưa.
  • Đặt vòng hoa tại đài chiến sĩ trận vong tại Canberra, Anzac Parade Reid ACT.
Để tiếp tục đấu tranh tự do, dân chủ, và nhân quyền cho dân tộc Việt Nam, và cực lực lên án chế độ độc tài phi nhân bản CSVN, chúng tôi mời gọi toàn thể quý vị tham dự đông đủ cuộc biểu tình theo chi tiết được nêu trên.

Xin trân trọng thông báo và kính mời,

Sydney ngày 13 tháng 04 năm 2009
TM.BTC
Chủ tịch BCH/CĐNVTD/UC/NSW