Monday, April 13, 2009

MẶT TRỜI KHÔNG BAO GIỜ LẶN BÊN TRÊN LÁ CỜ VÀNG BA SỌC ĐỎ - Trần Gia Phụng



Trần Gia Phụng

Hiện nay, người Việt hải ngoại sống rải rác khắp các nơi trên thế giới. Không kể dân số trong nước, người Việt hải ngoại ít nhất cũng gần 3 triệu người. Riêng tại thành phố Toronto và vùng phụ cận khoảng 80,000 người. Ở khắp mọi nơi, người Việt họp thành những cộng đồng đang càng ngày càng lớn mạnh. Mỗi cộng đồng đều có một biểu tượng riêng. Nhìn vào biểu tượng đó, người ta biết nguồn gốc, văn hóa, căn tính của mỗi cộng đồng. Ngược lại, từ nguồn gốc, văn hóa của cộng đồng, người ta cần tìm một mẫu số chung để chọn biểu tượng cho cộng đồng. Vậy mẫu số chung để có thể trở thành biểu tượng của cộng đồng người Việt hải ngoại hiện nay là gì?

Trước hết, cộng đồng người Việt hải ngoại gồm có các thành phần sau đây:

1. Những người ra đi trước biến cố 30-4-1975.
2. Những người vượt biên sau biến cố 30-4-1975.
3. Những người được bảo lãnh.
4. Những người xuất khẩu lao động.

Trước năm 1975, hai đợt người ra đi chính: Đợt thứ nhất gồm những người do nhà cầm quyền Pháp ở Đông Dương tuyển mộ và đưa sang Pháp từ năm 1915 đến năm 1919, khoảng 100,000 người trong đó khoảng một nửa là lính chiến đấu, một nửa là lính thợ (ouvrier non spécialisé gọi tắt là ONS). (Hoàng Cơ Thụy, Việt sử khảo luận tập 3, Paris: Nxb. Tân Á, 2002, tr. 1673.) Sau thế chiến thứ nhất, một số trở về và đa số ở lại Pháp. Đợt thứ hai là những du học sinh từ năm 1949 đến năm 1975, không phải chỉ đi Pháp mà còn đến các nước khác trên thế giới như Hoa Kỳ, Canada, Anh, Úc, New Zealand. Khi xảy ra biến cố 30-4-1975, hầu hết đều ở lại nước ngoài.

Sau biến cố 30-4-1975, nhiều người vượt biên tỵ nạn cộng sản bằng đường biển hay bằng đường bộ. Cuộc vượt biên kéo dài từ 1975 đến 1995, có thể chia thành hai giai đoạn. Giai đoạn thứ nhất từ 1975 đến 1989 là năm Cao uỷ Tỵ nạn Liên Hiệp Quốc (UNHCR) ra lệnh khóa sổ các trại tỵ nạn. Giai đoạn thứ hai từ 1989 đến 1995. Từ năm 1996, CUTNLHQ đóng cửa vĩnh viễn các trại tỵ nạn. Cuộc vượt biên trong giai đoạn thứ hai khó khăn hơn vì phải trải qua “thanh lọc” tư cách tỵ nạn, mới được nhận đi định cư. Tổng số người vượt biên đến định cư được ở nước ngoài lên đến gần 1 triệu người và số người tử nạn trên đường vượt biên, không đến được miền đất tự do, khoảng 500,000 người. (Các số liệu nầy theo Người Việt Online ngày 28-10-2004.)

Những người vượt biên, một khi đã ổn định cuộc sống ở một nước khác, bắt đầu bảo lãnh thân nhân ra nước ngoài. Đó là những người ra đi theo chương trình O.D.P. (Orderly Departure Program). Ngoài ra, còn có một số khá lớn những người đi theo chương trình HO là chữ mà người Việt thường dùng để gọi chương trình The Special Released Reeducation Center Detainee Resettlement Program (Chương trình đặc biệt tái định cư cựu tù cải tạo được phóng thích), bắt đầu từ năm 1989, do chính phủ Hoa Kỳ chấp nhận cho các nhân viên và quân nhân chính phủ Việt Nam Cộng Hòa bị ba năm tù cộng sản trở lên và gia đình, tái định cư tại Hoa Kỳ.

Cuối cùng, cộng đồng người Việt hải ngoại còn có những sinh viên du học hay công nhân xuất khẩu lao động qua Liên Xô và Đông Âu, xin tỵ nạn ở các nước ngoài khi chế độ cộng sản sụp đổ tại Liên Xô và các nước Đông Âu năm 1991. Số liệu trong nước cho biết số nầy lên đến 300,000 người. Sau đó, nhiều người trong số nầy tìm cách chuyển qua sinh sống ở Tây Âu và Bắc Mỹ.

Như vậy, dù ra đi trước năm 1975, dù vượt biên sau năm 1975, dù bảo lãnh, HO hay xuất khẩu lao động, người Việt ở hải ngoại nói chung đều là những người không muốn sống dưới chế độ cộng sản Việt Nam, ra nước ngoài để tìm một đời sống tự do mới ở nước ngoài, có thể nói chung là những người tỵ nạn cộng sản hoặc bất đồng với chế độ cộng sản. Nếu không bất đồng với chế độ cộng sản, thì người ta đã về nước sinh sống sau năm 1975, khi đất nước do chế độ cộng sản kiểm soát. Có một điểm cần lưu ý là sau năm 1975, nếu có người nào nói rằng vượt biên hay ra nước ngoài vì lý do kinh tế, thì chắc chắn Cao uỷ tỵ nạn Liên Hiệp Quốc đã trả người đó về Việt Nam, hoặc chính các nước bảo trợ cũng không chấp nhận cho đến tỵ nạn kinh tế.

Tuy nhiên, giả thiết như, xin nhấn mạnh chỉ giả thiết mà thôi, có một người can đảm tự nhận ra đi vì lý do kinh tế, có nghĩa là chế độ cộng sản ở trong nước không tạo được điều kiện để cho người đó sinh sống, hay nói cách khác người đó hoặc bất đồng với chế độ cộng sản, hoặc là nạn nhân kinh tế của chế độ cộng sản, nên mới kiếm cách bỏ ra nước ngoài sinh sống. Vậy người đó không phải là nạn nhân chính trị, thì cũng có thể xem là nạn nhân kinh tế của chế độ cộng sản.

Như thế, có thể nói tính chất chung của người Việt hải ngoại là những người tỵ nạn cộng sản, dù ra đi từ Bắc hay Nam Việt Nam, dù trước hay sau năm 1975, dù vượt biên hay bảo lãnh, dù là vì lý do chính trị hay lý do kinh tế. Vậy biểu tượng chung cho người Việt hải ngoại, dầu ra nước ngoài vì bất cứ lý do nào, chắc chắn không phải là lá Cờ đỏ sao vàng, biểu tượng của chế độ đã gây ra cảnh tỵ nạn.

Trên thế giới, lá Cờ đỏ sao vàng chỉ được treo trong các tòa đại sứ hay lãnh sự Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (CHXHCNVN). Các tòa đại sứ hay lãnh sự CHXHCNVN ở hải ngoại nói cho cùng chỉ đại diện cho nhà cầm quyền Hà Nội, phụ trách công việc giao dịch của chế độ cộng sản, chứ chẳng phải là đại diện cho người Việt ở hải ngoại. Hiện nay chế độ CHXHCNVN hầu như không có hay có rất ít công dân ở hải ngoại. Đồng bào Việt Nam ở hải ngoại đều là những người tỵ nạn cộng sản, trốn tránh cộng sản như trốn tránh ác quỷ, và người Việt hải ngoại đều đã nhập quốc tịch các nước sở tại, tức là công dân các nước ngoài, chẳng cần gì đến sự giúp đỡ của các tòa đại sứ hay lãnh sự CHXHCNVN.

Ví dụ một người gốc Việt, có quốc tịch Canada hay Hoa Kỳ, tức công dân của hai nước nầy, đi du lịch, làm ăn buôn bán tại các nước trên thế giới, nếu có vấn đề gì trở ngại hay tai nạn nào, thì tòa đại sứ các nước nầy sẽ can thiệp, giúp đỡ hay bênh vực cho công dân của mình, chứ đâu cần đến tòa đại sứ cộng sản Việt Nam.

Tại tòa đại sứ CSVN, thỉnh thoảng có người đến làm giấy tờ xin đi Việt Nam, không phải với tư cách công dân Việt xin về nước, mà với tư cách công dân nước ngoài đến liên lạc với tòa đại sứ của nước mà người đó muốn đi du lịch mà thôi. Cũng giống như chúng ta muốn du lịch các nước Âu Châu hay Nam Mỹ, chúng ta phải đến liên lạc với tòa đại sứ các nước nầy.

Lá cờ tượng trưng cho những người tỵ nạn cộng sản, dù là tỵ nạn chính trị hay tỵ nạn kinh tế, không gì khác hơn là biểu tượng của những nạn nhân cộng sản. Thích hợp nhất cho biểu tượng nầy chính là lá Cờ vàng ba sọc đỏ, vì lá cờ nầy đã từng là lá cờ trên toàn cõi Việt Nam, cả Bắc và Nam Việt Nam từ năm 1948, chứ không phải riêng của miền Nam sau năm 1954, và lá cờ nầy cũng là nạn nhân của chế độ cộng sản Việt Nam.

Hiện nay, nơi nào có cộng đồng người Việt, thì nơi đó có lá Cờ vàng ba sọc đỏ tung bay. Cộng đồng người Việt sinh sống khắp nơi trên thế giới, bao quanh quả địa cầu. Suốt ngày (24/24), không chỗ nầy thì chỗ khác, vòng quanh quả đất, khi nào cũng có lá Cờ vàng ba sọc đỏ phất phới dưới ánh mặt trời. Như thế, thực tế cho thấy rằng mặt trời tỏa sáng quanh năm trên lá Cờ vàng ba sọc đỏ, nếu chúng ta không quá hãnh tiến để nói rằng MẶT TRỜI KHÔNG BAO GIỜ LẶN BÊN TRÊN LÁ CỜ VÀNG BA SỌC ĐỎ.

Trần Gia Phụng
(Toronto, 24-3-2009)



Biểu tình Ngày Quốc Hận CĐNVTD/NSW

CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT TỰ DO ÚC CHÂU
PO Box 2115 Footscray VIC 3011
ĐT: 0411 7565 552 Email: bch@cdnvtd.com
Chủ Tịch: Ông Nguyễn Thế Phong




Biểu tình Ngày Quốc Hận CĐNVTD/NSW

Thay mặt BTC Biểu Tình ngày Quốc Hận, chúng tôi xin trân trọng thông báo và kính mời toàn thể quý hội đoàn, đoàn thể và quý đồng hương tham dự cuộc biểu tình được tổ chức theo những chi tiết như sau:

Thời gian và địa điểm:
  • Ngày Chủ Nhật 26/04/2009 trước tòa đại sứ Việt Cộng tại Canberra, Timbarra Cres O’Malley ACT.
Tại NSW xe buýt khởi hành ở ba địa điểm như sau:
  • Marrickville, trước Marrickville RSL club, trên đường Illawarra Rd, vào lúc 6:00 sáng
  • Bankstown, đối diện văn phòng Cộng Đồng, đường Olympic Pde, vào lúc 6:30 sáng
  • Cabramatta, tại Cabra Vale Park trên đường Railway Parade, vào lúc 7:00 sáng
Chương trình gồm những tiết mục như sau:
  • Lễ Thượng Kỳ tại công viên Cabra Vale Park, góc đường Railway Parade và đường Bartley Street, vào lúc 6:30 sáng
  • Tập trung biểu tình trước Tòa Đại Sứ Việt Cộng tại Canberra, Timbarra Cres O’Malley ACT, vào lúc 12:00 trưa.
  • Đặt vòng hoa tại đài chiến sĩ trận vong tại Canberra, Anzac Parade Reid ACT.
Để tiếp tục đấu tranh tự do, dân chủ, và nhân quyền cho dân tộc Việt Nam, và cực lực lên án chế độ độc tài phi nhân bản CSVN, chúng tôi mời gọi toàn thể quý vị tham dự đông đủ cuộc biểu tình theo chi tiết được nêu trên.

Xin trân trọng thông báo và kính mời,

Sydney ngày 13 tháng 04 năm 2009
TM.BTC
Chủ tịch BCH/CĐNVTD/UC/NSW


Sunday, April 12, 2009

Lễ Giỗ Quốc Tổ Hùng Vương tại Trung Tâm Sinh Hoạt Cộng Đồng NSW Úc châu - Thanh Hà


Thanh Hà

Để tưởng nhớ đến công ơn dựng nước và giữ nước của tổ tiên, Cộng Đồng Người Việt Tự Do Úc Châu tiểu bang NSW Ủy Ban Văn Hóa và Giáo Dục tổ chức Lễ Giỗ Quốc Tổ Hùng Vương vào lúc 2 giờ chiều thứ Bảy ngày 11 tháng Tư năm 2009 tại Trung Tâm Văn Hóa Sinh Hoạt Cộng Đồng với sự tham dự đông đảo của quý đồng hương, quý vị đại diện các hội đoàn đoàn thể, quý thân hào nhân sĩ, quý cơ quan truyền thông, báo chí. Lễ Giỗ Quốc Tổ Hùng Vương đã được cử hành long trọng theo nghi lễ cổ truyền của dân tộc.

Bắt đầu lúc 2 giờ chiều, từ cổng tiền đường của Trung Tâm Văn Hóa Sinh Hoạt Cộng Đồng, Luật Sư Võ Trí Dũng Chủ Tịch Cộng Đồng Người Việt Tự Do tiểu bang NSW và quý quan khách trong quốc phục cổ truyền dân tộc cử hành nghi thức rước Linh Vị Quốc Tổ tiến vào trong Hội Trường đặt trước bàn thờ. Kế tiếp, đội múa lân Đồng Tâm biểu diễn múa lân bái lạy Bàn Thờ Quốc Tổ và kính chào quý quan khách.

Chương trình do ông Phan Đông Bích, cựu Chủ Tịch CĐNVTD/NSW, điều hợp. Khởi đầu là nghi lễ chào cờ Úc Việt và phút mặc niệm, đặc biệt tưởng nhớ Quốc Tổ Hùng Vương gồm 18 đời Vua Hùng trong 2622 năm đã có công giữ nước và dựng nước. Sau nghi lễ chào Quốc kỳ và phút mặc niệm, Luật sư Võ Trí Dũng Chủ Tịch CĐNVTD/NSW ngỏ lời chào mừng quan khách đến tham dự, qua lời phát biểu đầy đủ ý nghĩa thể hiện qua câu “Cây có Cội, Nước có Nguồn, Chim có Tổ, Người Có Tông” vì thế tất cả người Việt tỵ nạn CS khắp nơi đều luôn ghi nhớ công ơn tiền nhân đã dầy công giữ nước và dựng nước, đây là bổn phận và là sự suy nghĩ của mỗi người đối với Quốc Gia và Dân Tộc, do đó ngày Giỗ Quốc Tổ Hùng Vương luôn luôn được cử hành một cách trang trọng nhất.

Sau đó ông Nguyễn văn Giáo, cựu Phó Chủ Tịch CĐNVTD/NSW đặc trách Văn Hóa Giáo Dục, chia sẻ về ý nghĩa Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương. Trong bài phát biểu, ông đã đề cập đến hai mục đích của ngày Giỗ Tổ: nhắc nhở thế hệ trẻ lịch sử khai phá đất nước của dân tộc Việt, đồng thời tưởng nhớ và tỏ lòng biết ơn tiền nhân. Với lối trình bày kinh nghiệm của ông, qua hai ngôn ngữ Anh-Việt ông giải thích rất cặn kẽ những tích sử và sĩ khí của tổ tiên chúng ta về hình ảnh giang sơn gấm vóc của nước Việt Nam trải dài từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mau, sự tích Lạc Long Quân, sự tích Trầu Cau, chuyện Thánh Gióng, lịch sử 18 đời Vua Hùng.

Tiếp đến là phần phát biểu của thế hệ thứ hai sinh trưởng tại Úc Châu là em Victoria Phan Anh Thư. Em là một trong những học sinh Việt Nam xuất sắc trong kỳ thi tốt nghiệp Trung Học năm 2008 của tiểu bang NSW với kết quả UAI trên 99%. Em Phan Anh Thư và một số các bạn trẻ đã được Ban Chấp Hành CĐNVTD/NSW trao giải thưởng kỳ thi tốt nghiệp Trung Học tại Hội Chợ Tết Kỷ Sửu 2009. Em Anh Thư nói lên cảm nghĩ của em trong ngày lễ Giỗ Quốc Tổ Hùng Vương trọng đại và đầy ý nghĩa:

“Con tên Phan Anh-Thư, vừa tốt nghiệp HSC và hiện nay đang theo học năm Thứ Nhất ngành Y Khoa trường đại học New South Wales, Sydney. Con được sinh ra và lớn lên ở nước Úc, nhưng con đã được ông bà, cha mẹ nuôi dưỡng và dạy dỗ theo phong tục và lễ giáo của người Việt Nam. Cha mẹ chúng con và thầy cô ở trường Việt Ngữ đã dạy chúng con đọc, viết và nói tiếng Việt cùng những bài học về lịch sử oai hùng của đất nước Việt Nam.

Nguồn gốc của người Việt Nam thuộc dòng giống Rồng Tiên, Cha Lạc Long Quân cùng mẹ Âu Cơ đã sinh ra một trăm con và từ đó đất nước Việt Nam được hình thành qua 18 đời Vua Hùng Vương. Phong tục và lễ giáo của người Việt Nam dạy cho chúng con biết thờ kính ông bà, hiếu thảo với cha mẹ, với anh chị em trong gia đình, phải luôn thương yêu hoà thuận với nhau. Ngoài xã hội chúng con phải biết đoàn kết và tôn trọng mọi người.

Con luôn ghi nhớ công lao dựng nước của các vị vua Hùng Vương. Hình ảnh oai hùng của Hai Bà Trưng, những nữ nhi can đảm đã cứu nước khỏi quân Nam Hán vào thế kỷ Thứ Nhất. Con ngưỡng phục Đức Trần Hưng Đạo đã khôn ngoan chiến thắng quân Nguyên…

Tuổi trẻ chúng con tuy không được sinh ra và lớn lên ngay trên quê hương VN, nhưng chúng con luôn ghi nhớ mình là dòng dõi người Việt Nam và rất hãnh diện với những trang lịch sử bất khuất của một dân tộc luôn yêu thương hòa bình, tự do, độc lập và dân chủ.

Sau biến cố 1975, cộng đồng người Việt tỵ nạn CS đã định cư và hội nhập nhanh chóng vào xã hội đa văn hóa Úc Châu và đã thành công trong việc đóng góp vào nền kinh tế và nhiều hoạt động xã hội và văn hóa trong xã hội Úc.”

Em nhấn mạnh đến những nỗ lực của các thế hệ tiếp nối:

“ ....Con hãnh diện là con, là cháu của người Việt Nam tại Úc. Những anh chị cô chú trước con cũng đã noi gương ông bà, cha mẹ, với truyền thống cần mẫn của người Việt đã thành công rực rỡ trong nhiều lãnh vực từ Trung Học, Đại Học ra đến Xã Hội. Tuy nhiên, thế hệ trẻ Việt Nam cần được khuyến khích nhiều hơn nữa trong việc tham gia vào lãnh vực chính trị trong xã hội Úc.”

Em nói tiếp:

“ ....Chúng con sẽ tiếp nối dòng máu oai hùng của Con Rồng Cháu Tiên. Chúng con nguyện dùng những khả năng, những cơ hội mà chỉ thế hệ chúng con mới được hưởng, để đóng góp cho đất nước Úc, mang vinh dự về cho cộng đồng người Việt, đền đáp lại công lao của cha mẹ ông bà. Nhân ngày lễ giỗ Tổ Hùng Vương, con cầu nguyện Tổ Tiên dòng giống Việt Nam hiển linh phù hộ cho đất nước Việt Nam mau thoát khỏi thảm họa Cộng Sản để người dân Việt tại quê nhà bớt lầm than, cơ cực và thế hệ trẻ Việt Nam chúng con tại hải ngoại sớm có cơ hội đóng góp một phần xây dựng một nước Việt Nam Tự Do, Độc Lập và Dân Chủ.”

Vừa dứt lời, em Victoria Phan Anh Thư với hai ngôn ngữ Anh-Việt rất lưu loát đã nhận được những tràng vỗ tay khen thưởng.

Trước khi bước vào phần Nghi Lễ chính thức, Ban hợp ca Hương Quê trình bày nhạc phẩm “HÙNG VƯƠNG DỰNG NƯỚC” của Nhạc Sĩ Thẩm Oánh. Tất cả quan khách đồng hương tham dự cùng cất cao tiếng hát theo nhịp điệu oai hùng:

“Bốn nghìn năm văn hiến, nước Nam khang cường là nhờ công đức Hùng Vương....”

Trong không khí trang nghiêm với ba hồi chiêng trống do Hội Thân Hữu Cao Niên Việt Nam NSW đảm trách, Ban Tế Lễ gồm 9 vị trưởng thượng trong phẩm phục cổ truyền dân tộc thành kính dâng hương và lễ vật tế Tổ. Trước hương án bàn thờ Quốc Tổ nghi ngút khói hương, vị Chánh Tế trong phẩm phục đỏ đọc chúc văn “VIỆT NAM VĂN HIẾN - NĂM THỨ 4888”. Với tấm lòng tôn kính, mọi người đứng yên lặng nguyện cầu:

“…Hiện diện trước bàn thờ Quốc Tổ, Đoàn Hậu Duệ chúng con gồm Chủ Tịch CĐNVTD/NSW và Ban Chấp Hành, cùng toàn thể các đại diện đoàn thể, hội đoàn, tôn giáo, nhân sĩ và đồng hương Việt Nam thành tâm kính thỉnh:

Anh Linh:

- Thủy Tổ giòng giống Hồng lạc
- Quốc Tổ Hùng Vương 18 đời dựng nước
- Các đấng Minh Quân, Văn Thánh, Liệt nữ, anh hùng hào kiệt chống xâm lăng bảo vệ sơn hà xã tắc, mở rộng bờ cõi, các nghĩa sĩ vị quốc vong thân đem hùng khí và máu đào tô điểm đất nước Việ,t nghìn đời bền vững. Hồn thiêng sông núi, Tổ Quốc Anh Linh, xin chứng giám tấm lòng thành.

Trộm nghĩ:

Cây có Cội, nước có Nguồn, người có Tông
Trải mấy nghìn năm văn hiến
Qua bao tháng trầm biến chuyển
Công đức tiền nhân rộng như biển cả mênh mông lai láng, cao như núi non hùng vĩ bao la. Hậu thế ghi khắc ân sâu muôn đời tạc dạ, con cháu một lòng, tưởng nhớ công đức tiền nhân gầy dựng sơn hà, vun bồi xã tắc.

Nhớ gốc xưa:

Khí hùng thiêng vun vút dâng cao, khơi nguồn tộc Việt, cha Lạc Long mẹ Âu Cơ, trăm con hùng cứ cõi trời Nam, lên non xuống biển, đem tài cao mở rộng bờ cõi, đem chí lớn tô điểm cảnh núi sông, đem chí khí quật cường đánh đuổi xâm lăng, bảo vệ mảnh đất thân yêu, giữ vững nền tự chủ tổ quốc, đen an bình cho trăm họ.

Từ Trưng, Triệu, Ngô, Đinh, Lê, Lý
Đến Trần, Hồ, Lê, Nguyễn Tây Sơn
Chống Hán, bình Chiêm, Phạt Tóng
Kháng Nguyên, Phá Minh, Diệt Thanh
Nghìn năm vẫn kiên gan chống giặc phương Bắc
Tám mươi năm vẫn bề bỉ đạp đổ nền đô hộ phương Tây
Hoàng Hoa Thám hùm thiêng Yên Thế, tung hoành một cõi
Nguyễn Thái Học anh hùng bất khuất, hiên ngang đền nợ nước

Nhưng thẹn nỗi cộng sản vô lương, can tâm nô lệ ngoại bang, đem tà thuyết gieo rắc hận thù dân tộc, cương thường đảo điên, đạo lý suy đồi, con tố cha, vợ tố chồng, đau thương nghi ngút cõi trời Nam!

Lọc lừa con dân, lợi dụng chiêu bài độc lập, ga6y cảnh nồi da xáo thịt, chia đôi đất nước, mưu cầu tư lợi, áp đặt chủ nghĩa tam vô, tròng ách đô hộ, đạp đổ đạo lý dân tộc nghìn năm lưu truyền.

Phá vỡ truyền thống bất chấp cương thường, chẳng kể thiêng liêng, đầu năm ngày Tết xua quân tàn sát dân lành, biến đêm Giao Thừa thành đêm tang tóc thê lương, ôi đau bao thương xiết kể!

Theo gương người xưa, hỏi tội những đứa con hoang, đánh mất nguồn gốc dân tộc, rước tà thuyết ngoại lai về dầy mả tổ, bức hiếp dân lành, tước đoạt quyền sống con người, chiến sĩ miền Nam anh dũng quật cường, đứng lên làm lịch sử.

Một Nguyễn Khoa Nam, một Lê văn Hưng, một Trần văn Hai, một Lê Nguyên Vỹ, một Nguyễn văn Phú và còn biết bao anh hùng chiến sĩ vô danh tuẫn tiết, vì nghĩa khí hiên ngang, quyết không đầu hàng bè lũ phả quốc, phản tổ tiên giòng giống, xem đồng bào ruột thịt như kẻ thù, xem đất nước như của riêng, ải Nam Quan bán đứng, nước biển Đông cắt lìa, can tâm mãi quốc cầu vinh, ôi đau đớn xót xa chi bằng!

Hôm nay nhân ngày Giỗ Tổ
Trải tấm lòng thành, thắp nơi hương thơm, hồn thiêng sông núi
Tổ Quốc ngàn đời, cúi xin chứng giám, phù trợ độ trì
cho con cháu nối dòng tinh anh, chí vững dạ bền, đồng tâm hiệp lực giải trừ quốc nạn, chung sức xây dựng Tổ Quốc tươi sáng phục hồi đạo lý nghìn xưa nung đúc.

Cho muôn dân Lạc Việt sống cảnh thanh bình
Cho hoa Tự Do nở rộ trên quê hương
Cho Dân Tộc hết lầm than, sống với phẩm cách con người

Thành kính thượng hưởng.

Tiếp đến, là phần dâng hương lạy bàn thờ Quốc Tổ từ những đồng hương tham dự.

Sau đó bà Phạm Ánh-Linh, Phó Chủ Tịch CĐNVTD/NSW đặc trách Văn Hóa và Giáo Dục là Trưởng Ban Tổ Chức đã ngỏ lời chân thành cảm ơn sự hiện diện của tất cả quý đồng hương, quý vị đại diện các hội đoàn đoàn thể, quý thân hào nhân sĩ, quý cơ quan truyền thông, báo chí. Chúng ta hiện diện nơi đây trong tinh thần con cháu một nhà, Bà xin được tri ân sự đóng góp của các hội đoàn, các đoàn thể, các hội thân hữu, các anh chị em văn nghệ sĩ và tất cả mọi thành viên trong Cộng Đồng đã đóng góp sức lực, tài năng và công quả giúp cho buổi Lễ Giỗ Quốc Tổ Hùng Vương được trang trọng và thành công.

Giúp vui phần văn nghệ ghi ơn Quốc Tổ Hùng Vương do chị Thạch Thảo điều hợp. Ban Sóng Thần trình bày nhạc phẩm “Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ” của Nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang, Ban Mầm Non Việt Úc (The Viet Joeys) do các em bé gái trai trong những bộ quốc phục Việt Nam thật dễ thương múa “Thương Ông Bà Nội Ngoại” với giọng ca tài năng trẻ của em Lê Trung Nhân, 6 tuổi, em đoạt giải Nhất Ca Hát Thiếu Nhi Mừng Xuân Kỷ Sửu 2009. Ca Sĩ Bích Hà với tiếng hát truyền cảm qua nhạc phẩm “Người Tình Không Chân Dung” của Nhạc Sĩ Hoàng Trọng, đoàn vũ Hương Quê với các chị nổi bật trong những tà áo dài màu Hồng trình diễn vũ khúc “Bông Hồng Việt Nam” thướt tha duyên dáng và tiết mục đơn ca Vọng Cổ “Con Rồng Cháu Tiên” do cô Ngọc Vân trình bày thật điêu luyện.

Chương trình chấm dứt bằng tiết mục hưởng lộc Tổ gồm nhiều món ăn được bày biện rất thịnh soạn, đẹp mắt và hấp dẫn.

Lễ Giỗ Quốc Tổ Hùng Vương hàng năm ở những nơi trên thế giới nơi có người Việt tỵ nạn CS định cư đã trở thành truyền thống, thể hiện lòng tri ân công đức tổ tiên. Người Việt Nam tỵ nạn CS ra đi bao giờ cũng mang theo tấm lòng với quê hương Việt Nam, dù ở phương trời nào luôn nhớ về cội nguồn, không quên được quê Cha đất Tổ.

Thanh Hà
Từ Trung Tâm Văn Hóa và Sinh Hoạt Cộng Đồng - Sydney
Ngày 11 tháng Tư Đen năm 2009

http://lyhuong.net/viet/index.php?option=com_content&view=article&id=875:875&catid=39:sinhhoatcongdong&Itemid=58

Thanh Hà
Từ Trung Tâm Văn Hóa và Sinh Hoạt Cộng Đồng - Sydney
Ngày 11 tháng Tư Đen năm 2009




Hình ảnh Thanh Hà



Saturday, April 11, 2009

Hoàng Sa, 35 năm sau - Lương Văn Phước

Lương Văn Phước

Khai hỏa

Ngày 19 tháng giêng năm 1974, hồi 10 giờ 24 phút sáng, Hộ Tống Hạm Nhật Tảo HQ 10 bắn một viên đạn đại bác 76 ly theo lệnh của HQ Đại Tá Hà Văn Ngạc. Tiếng súng từ HQ 10 là lệnh khai hỏa, và bốn chiến hạm Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa tại Hoàng Sa đồng loạt nổ súng vào bốn chiến hạm Trung Cộng, trận hải chiến Hoàng Sa bắt đầu. Không có vẻ gì là bị bật ngờ, các tàu Trung Cộng cũng đã bắn trả dữ dội vào các tàu ta.

Trung Cộng không bất ngờ vì đã bắn trước.

Chúng tôi nói là Trung Cộng không bị bất ngờ, bởi vì chính họ đã đến Hoàng Sa gây hấn, và đã nổ súng trước trên đảo vào toán Ngưới Nhái, lúc đó vào khoảng 9 giờ sáng cùng ngày, làm HQ Trung Úy Lê Văn Đơn, Trung Sĩ NN Đinh Hữu Từ, Hạ Sĩ NN Đỗ Văn Long, Hạ Sĩ NN Nguyễn Văn Tiến tử thương, Khi chúng đã gây thương vong cho ta, thì dĩ nhiên chúng đã phải nghĩ đến việc bị ta trả đũa. Trong trận Hoàng Sa, địch bắn trước trên bờ, và ta đã phản công trên biển.

Tương quan lực lượng

HQ VNCH đã khai hỏa trận hải chiến dù biết rất rõ là lực lượng ta chỉ có vậy, chỉ có những đơn vị hiện có mặt tại chiến trường. Các chiến hạm tiếp viện thì còn ở rất xa không thể đến Hoàng Sa kịp thời. Các phi đoàn F5 và A37 của KQVN tuy túc trực ở Đà Nẵng, nhưng những loại phi cơ này không thể bay tới Hoàng Sa. Kế hoạch dùng dương vận hạm (LST) làm bãi đáp cho trực thăng cũng không được thực hiện. Tóm lại HQVN không có không trợ, cũng như không có sự yểm trợ nào khác tại Hoàng Sa.
Lực lượng trừ bị Trung Cộng gồm nhiều phi cơ MIG đủ loại và nhiều chiến hạm phóng hỏa tiễn, đặc biệt là Khinh tốc đỉnh Komar với vận tốc cực nhanh, trang bị hỏa tiễn có thể bắn trúng mục tiêu cách xa vài chục cây số.

Tuần Dương Hạm Trần Bình Trọng HQ 5

Trận đấu pháo giữa bốn chiến hạm HQ VNCH và bốn chiến hạm Trung Cộng kết thúc vào khoảng 11 giở, sau 36 phút giao chiến. Ba mươi sáu phút trong cơn mưa đại pháo, quả là một thời khoảng dài đằng đẵng.

Sau 36 phút đó, 3 chiến hạm của TC bị loại khỏi vòng chiến.

Về phía ta, HQ 10 chìm, HQ 16 bị thiệt hại nặng, HQ 4 bị thiệt hại nhẹ.

Riêng HQ 5, chiến hạm đã chiến đấu thật hữu hiệu trong cuộc giao tranh. Trong 15 phút đầu, chưa kể các súng 40 ly, 20 ly, chỉ riêng khẩu đại bác 127 ly đã bắn được trên 100 quả. Vào lúc này, HQ 10 đang chìm, HQ 16 đang lâm vào tình trạng nguy ngập, trên HQ 4, đại bác 76 ly tự động lai bị trở ngại và có nhịp bắn quá chậm, nên các chiến hạm Trung Công dốc toàn lực tấn công HQ 5. Pháo tháp 127 ly trúng đạn, làm chết trưởng khẩu, nhiều pháo thủ bị thương, hệ thống vận hành thủy lực bị tê liệt. Rồi hệ thống giải nhiệt của súng 40 ly đôi bị hư hỏng, rồi súng 40 ly đơn ở sân sau bị trúng dạn. Trong khi dó vỏ tàu bị lủng một lỗ lớn dài 3ft rộng 5 ft. Văn phòng cơ khí bị trúng đan 100 ly, vài đám cháy xảy ra trên chiến hạm. Hầm đạn 127 ly phải dược làm ngập nước để tránh bị phát nổ. Trung tâm truyền tin cũng bị trúng đạn 100 ly khiến HQ 5 mất liên lạc với các đơn vị bạn

Nhờ sự bình tỉnh và hiểu biết tường tận vế kiến trúc chiến hạm của Cơ Khí Trưởng HQ Thiếu Tá Trần Đắc Nguyền; nhờ sư lanh lẹ, kinh nghiệm và tận tụy của toàn thể nhân viên Cơ Khí, Điện Khí và Phòng Tai mà những thiệt hại đã được cưú chữa kịp thời, không lan rộng thành những nguy cơ trầm trọng, và sau đó, HQ 5 đã phục hồi khả năng tác chiến nhanh chóng. Nhân viên Vô Tuyến và Điện Tử cũng đã cấp thời thiết trí hệ thống ăng ten tạm để chiến hạm có thể liên lạc trở lại với các đon vị bạn và Bộ Tư Lệnh Vùng I Duyên Hải.

Sau khi truyền tin được tái lập, HQ 4 và HQ 5 được lệnh trở lại Hoàng Sa để cứu vớt các toán đào thoát và để tiếp tục giao chiến, và nếu cùng kiệt, sẽ ủi bãi để dùng thân xác làm chứng tích cho chủ quyền lãnh thổ. Cả hai chiến hạm lập tức quay trở lại vùng Hoàng Sa, nhân viên trên HQ 5 vẫn bình tĩnh chu toàn nhiệm vụ của mình tại nhiệm sở. Nhưng độ nửa giờ sau, lệnh này được hủy bỏ, chúng tôi nghĩ rằng phải do một chức quyến cao cấp hơn BTL Hải Quân. Hạm Trưởng cho HQ 5 giải tán nhiệm sở tác chiến lúc 15:00, và cùng HQ 4 trở về Đà Nẵng. Vế nhân mạng, 3 chiến sĩ của HQ 5 đã hy sinh trong trận hải chiến: HQ Trung Úy Nguyễn Văn Đồng, xuất thân Khóa 25 VBQG Đà Lạt, là Trưởng Ngành Trọng Pháo, là trưởng khẩu 127 ly; Trung Sĩ I TP Phạm Ngọc Quang, phụ tá ngành TP; và Thượng Sĩ I Điện Tử Nguyễn Phú Hảo, phụ tá ngành Điện Tử.

Chúng tôi xin dâng nén hương lòng lên anh linh của 3 đồng đội đã hy sinh tại Hoàng Sa và hương linh của HQ Đại Tá Hà Văn Ngạc đã từ trần tại Hoa Kỳ vào ngày 12 tháng 2 năm 1999.

Chúng tôi cũng xin gửi lời chào kính mến đến Hạm Trưởng, Hạm Phó và toàn thể quý chiến hữu thủy thủ đoàn Tuần Dương Hạm Trần Bình Trọng HQ 5.

Tại sao chúng ta phải giành lại Hoàng Sa và Trường Sa?

Những tử sĩ đã anh dũng đền nợ nước, chúng tôi những người còn sống đến ngày hôm nay, luôn luôn canh cánh bên lòng một mối trăn trở mình đã không hoàn thành sứ mạng. Ba mươi lăm năm đã qua, nếu quốc gia Việt Nam hùng mạnh, lãnh thổ, lãnh hải được bảo vệ vẹn toàn, nếu đồng bào trong nước được sống an vui trong một xã hội mà quyền làm người được tôn trọng, trong tự do, trong một nền dân chủ thượng tôn pháp luật, thì chúng tôi cũng an lòng tự mình phai mờ theo năm tháng.

Nhưng thực tế hoàn toàn trái ngược. Dựa vào công hàm bán nước của Phạm Văn Đòng ngày 14 tháng 9 năm 1958, bá quyền Trung Cộng đã dùng mọi phương thức để khẳng định rằng Hoàng Sa, Trường Sa là của chúng. Có thể nào dân tộc Việt Nam làm ngơ chấp nhận, hay hỏi một cách khác, tại sao chúng ta nhất định phải bảo vệ và dành lại Hoàng Sa và Trường Sa. Thông thường, những câu trả lời thường nhắc tới vị trí chiến lược của hai quần đảo này trên Biển Đông, tới tài nguyên thiên nhiên nằm dưới thềm lục địa, nhưng trên hết, cũng như đối với Ải Nam Quan, chúng ta phải dành lại Ải Nam Quan vì đó là biểu tượng thiêng liêng cho cuộc đấu tranh dành tự chủ độc lập của dân tộc, chúng ta phải dành lại Hoàng Sa, Trường Sa vì quân xâm lăng sẽ không dừng lại ở đó nếu chúng ta khiếp nhược đầu hảng. Sự nhịn nhục cam chịu của Âu Châu trong thời kỳ tiền đệ nhị thế chiến, đã thêm dầu vào ngọn lửa cuồng vọng của Hitler; sự đầu hàng triều cống của cộng sản Việt Nam đang làm cho Trung Cộng thêm hung hãn.

Dã tâm xâm lăng của TC

Quả thực như vậy, gần đây Trung Cộng đã không cần che đậy dã tâm chiếm đoạt lãnh thổ, lãnh hải của Việt Nam và bành trường thế lực trên Biển Đông. Họ đã và đang tấn công trên mọi phương diện bao gồm hành chánh, quân sự, ngoại giao và kinh tế:

Trung Cộng đã bao gồm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào một đơn vị hành chánh của Trung Quốc, gọi là Huyện Tam Sa. Đây là lời tuyên bố thật rõ ràng với chính quyền Hà Nội: Hoàng Sa và Trường Sa là của Trung Cộng.

Trung Cộng đã dựa vào chuyện rước đuốc Thế Vận Hội, để đưa một đoàn quân cò quạt nghênh ngang vào Thành Phố Sài Gòn đúng vào ngày 29 tháng tư. Rõ ràng là Trung Cộng muốn nhắc nhở cho Cộng Sản Viêt Nam nhớ rằng chính nhờ sự giúp đỡ, viện trợ của Trung Cộng mà CSVN mới chiếm được miền Nam. Bây giờ, muốn được tồn tại, CSVN cũng lại phải nhờ đến Trung Cộng. Ơn nghĩa phải nhớ, nợ nần phải trả, số phận của CSVN đang ở trong tay Trung Cộng.

Trung Cộng đã và đang áp lực các hãng dầu lớn, như hãng British Petroleum của Anh, hãng Exxon Mobile của Mỹ, hay một chiếc tàu tìm mỏ dầu của Na Uy, làm việc cho một hãng của Nga phải từ bỏ việc hợp tác với Việt Nam trong việc khai thác dầu hỏa ở Biển Đông. Trung Cộng đang lớn tiếng chứng tỏ với quốc tế rằng chủ quyền của họ bao trùm Hoàng Sa, Trường Sa,và phần lớn Biển Đông.
Trung Cộng càng hung hăng, thì CSVN càng khiếp nhược, như khi bị ép buộc phải đón tiếp chiến hạm Trịnh Hòa vào Đà Nẵng, chúng đã chỉ thị cho các cơ quan truyền thông của chúng chỉ được “tuyên truyền chừng mực, không ồn ào”, và phải dùng cái tên xa lạ Zheng He, tránh cái tên Trịnh Hòa, hầu tránh sự chú ý của người dân trong nước.

Còn nữa, ông Lê Công Phụng, đại sứ của Hà Nội tại Hoa Kỳ, nguyên là trưởng ban đàm phán về biên giới với Bắc Kinh, đã tuyên bố “Sống bên cạnh nước lớn thì phải biết cách sống. Đây là kinh nghiệm của ông cha sống bên cạnh xứ láng giềng lớn, thì mình phải học theo các cụ”. Tôi không hiểu ông Lê Công Phụng nói đến ông cha nào, chắc là Hồ Chí Minh, hay Phạm Văn Đồng, người đã ký công hàm dâng biển dâng đảo. Còn tổ tiên của dân tộc Việt Nam:

Lý Thường Kiệt đã đánh đuổi quân nhà Tống
Ngô Quyền đã dẹp tan quân Nam Hán
Trần Hưng Đạo ba lần đại phá quân Nguyên
Bình Định Vương Lê Lợi đánh đuổi giặc Minh
Quang Trung Nguyễn Huệ đại phá quân Thanh.

Các thế hệ tiếp nối, từ triều đình quân tướng đến thân hào nhân sĩ thứ dân, đều đã quật cường nêu cao ngọn cờ tự chủ.

Hơn nửa, bây giờ đâu phải là thời Trung Cổ, bây giờ thông tin nhanh chóng, loài người đã biết tôn trọng lẽ phải và sự công bằng. Những chính phủ lên cầm quyền một cách hợp pháp, theo các nguyên tắc dân chủ, đều đối xử với nhau tương kính, binh đẳng. Chẳng qua, CSVN nhờ Trung Cộng mà chiếm được quyền lãnh đạo, dựa vào Trung Cộng để tiếp tục nắm giữ địa vị, đàn áp những nhà dân chủ, bòn rút tài nguyên quốc gia, mới phải khiếp nhược trước Trung Cộng. Vì thế, …

Chúng ta không mong gì đảng CSVN bảo vệ được sự toàn vẹn lãnh thổ. Công việc này là trách nhiệm chung của dân tộc Việt Nam, ở trong hay ngoài nước.

Đồng bào trong nước đã đứng lên. Nhà báo Điếu Cày và sinh viên học sinh Sài Gòn đã đứng lên. Cô Phạm Thanh Nghiên ỏ Hà Nội đã tố cáo Phạm Văn Đồng và bức công hàm dâng biển, dâng đảo cho Trung Cộng 50 năm về trước, và cô đã bị giam. Thày giáo Vũ Hùng ở Hà Tây cũng đã bị bắt vì tham gia các hoạt động chống bá quyền Trung Cộng.

Đồng bào trong nước, tay không tất sắt, đang dũng cảm nói lên tiếng nói của lương tâm. Cho nên, sống tự do an lành nơi hải ngoại, chúng ta phải làm tất cả những gì có thể làm được để yểm trợ các nhà tranh đấu trong nước.
Ít nhất, chúng ta phải làm ba điều:

1. Thứ nhất, và rất quan trọng: Chúng ta phải để cho giới trẻ gánh vác cuộc tranh đấu nầy. Chúng ta phải tín cẩn và tin tưởng nơi người trẻ tuổi. Mặt trận chính của người Việt hải ngoại trong cuộc chiến này là báo chí, luật pháp và ngoại giao. Những thế hệ Việt Nam được gầy dựng trong nền giáo dục ở hải ngoại có thừa khả năng để hoạt động trong những lãnh vực này. Với người tuổi trẻ, chúng ta phải vạch rõ nguồn gốc của vấn đề, chúng ta phải thuyết phục họ đứng về chính nghĩa, chúng ta thúc đẩy họ hành động và tạo cơ hôi cho họ phát triển tài năng. Trong ý nghĩ này, chúng tôi rất vui mừng nhận thấy trong hội trường có nhièu khuôn mặt trẻ, có đại diện của Tổng Hội Sinh Viên New England, có đại diện của Đoàn Thanh Thiếu Niên Hướng Việt Thành Phố Worcester. Những người trẻ tuổi nầy đang nối tiếp chúng ta làm tròn sứ mạng.

2. Thứ hai, chúng ta phải liên tục phản kháng, thưa kiện việc xâm lăng của Trung Cộng với những cơ chế luật pháp và dư luận quốc tế. Đừng để việc Trung Cộng chiếm giữ đất đai, hải đảo của ta trở thành chuyện đã rồi. Danh từ luật pháp là Quyền Thủ Đắc - Adverse Possession. Chi tiêt chuyên môn chúng tôi xin nhờ đến các luật gia, ở đây chỉ xin nêu lên rằng trong quốc tế công pháp cũng có môt nguyên tắc tương tự như nguyên tắc giải quyết sự tranh dành đất đai của hai người hàng xóm, nghĩa là, nếu ngưới láng giềng cùa ta lấn đất, mà ta không tranh cãi, thưa kiện, xây dựng cái gì đó để chứng tỏ quyền sở hữu trong vòng một thời gian nhất định, thì ta sẽ mất mảnh đất đó.

3. Thứ ba, chúng ta phải tích cực yểm trợ các nhà đấu tranh trong nước, đang tranh đấu cho dân chủ, tự do, nhân quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ trong nước. Sự yểm trợ của chúng ta phải thiết thực và cụ thể. Chúng ta kêu gọi các tổ chức quốc tế, các chính quyền dân chủ bảo vệ sự an nguy của họ, chúng ta tiếp tay, tiếp sức phổ biến tư tưởng và họat động đấu tranh của họ đến mọi người dân trong nước, chúng ta phải đóng góp tiến bạc và vật dụng để họ có phương tiện hành động.
Ngoài ra, hiện tại giới trè ở Michigan phát động chiến dịch Tháng Tư Đen. Họ kêu gọi chúng ta không về VN, không gửi tiền về VN trong tháng tư năm 2009. Mục tiêu là để đòi hỏi CSVN phải trả tự do cho những tù nhân lương tâm, như LM Nguễn Văn Lý, LS Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Đài, và nhiều người nữa. Chúng tôi kính mong quý vị hổ trợ mạnh mẽ và hưởng ứng chiến dịch này.

Khi nào giành lại được Hoàng Sa – Trường Sa.

Chúng tôi vững tin rằng một ngày không xa nữa, nhân dân Việt Nam sẽ lật đổ bạo quyền CSVN để hồi phục dân chủ, tự do, nhân quyền về trên quê hương. Ngày đó, quốc gia Việt Nam sẽ được đại diện bởi một chính quyền thực sự dân chủ, được sự ủng hộ của đa số dân chúng và được sự kính nể của cộng đồng quốc tế. Quốc Gia Việt Nam sẽ hưng thịnh, với quân đội hùng mạnh. Ngày đó dân tộc Việt Nam tự do sẽ ngồi ngang hàng với Trung Cộng để đòi lại Ải Nam Quan và 700 km2 đất đai dọc theo biên giới Hoa-Việt; sẽ đòi lại Hoàng Sa, Trường Sa và 10,000 km2 trên Biển Đông.

Chúng tôi không phải là một nhà hùng biện chuyên nghiệp, chúng tôi chỉ là một quân nhân, hầu hết đời lính chiến đấu trong sông ngoài biển, nay dàn trải tấm lòng mình qua những lời mộc mạc chân tình, nếu có điều gì sơ xuất xin quý vị rộng lương tha thứ. Chúng tôi xin kính chúc quý đọc giả khỏe mạnh, muôn điều như ý, vạn sự lành trong năm mới.

17-01-2009
Lương Văn Phước
(Phát biểu trong lễ Tưởng Niệm 35 Năm Hải Chiến Hoàng Sa tại Boston 1-17-09)