Tuesday, March 31, 2009

Rước Giặc Vào Tây Nguyên, Giầy Xéo Đất Nước - Trần Quốc Kháng

Trần Quốc Kháng

Cuối năm 2008, đảng giặc VC rước Tàu Cộng (TC) vào Tây Nguyên, nguỵ trang bằng cách ‘đeo mặt nạ’— qua màn kịch ‘Khai Thác Bô-Xít’ (KTBX). Đầu năm 2009, VC lại còn trâng tráo, làm lễ “Chào Mừng” việc cắm mốc biên giới Việt-Trung hoàn tất.

Thế là chúng đã ‘hợp thức hoá’ ải Nam Quan và thác Bản Giốc là của Tàu Cộng. Thế là chúng đã ‘hợp thức hoá’ mốc ‘biên giới ma’—thụt lùi vào nội địa VN khoảng năm cây số—là ‘biên giới chính thức’.

Khi nhìn ra biển Đông, muôn dân lại càng cảm thấy hận sầu: Hoàng Sa và Trường Sa đã mất vào tay TC. Sự việc xẩy ra chỉ vì, năm 1958 Thủ Tướng VC là Phạm Văn Đồng—đã nhận lệnh của quốc tặc Hồ Chí Minh—viết văn thư, công nhận lãnh hải của TC—trong đó có Hoàng Sa và Trường Sa. Nên năm 1988, TC mới viện cớ ấy, công khai chiếm đóng Hoàng Sa để xây cất căn cứ quân sự kiên cố—kể cả sân bay—nhằm khống chế VN và vùng biển Đông.

Quả thật, sau khi dâng đất, dâng biển cho quan thầy, VC lại còn xô đẩy nước ta, càng ngày càng lún sâu vào ‘tử địa’ trong thế chiến lược “Ba Mặt Giáp Công’:

Ở phía bắc—dọc theo biên giới—TC đã nắm giữ các cao điểm quân sự, chúng có thể tiến quân như vũ bão vào VN. Ở phía đông, TC đã có sẵn phi trường và căn cứ hải quân hùng hậu, uy hiếp cả miền duyên hải Trung Phần. Còn ở giữa nước Việt thì TC dùng Tây Nguyên làm ‘bàn đạp’, CHẶT VN thành ‘hai khúc’, để tấn công lên hướng Bắc, hay đánh xuống hướng Nam.

Chính vì vậy mà ‘màn kịch KTBX’ hiện nay trở thành đề tài sôi nổi. Người thì quả quyết, TC sẽ biến Tây Nguyên thành ‘Tây Tạng thứ hai’. Kẻ thì tiên đoán, TC vào Tây Nguyên để ‘thành lập chiến khu’, giúp khối FULRO nổi loạn, đòi ‘Tây Nguyên tự trị’. Đồng thời, lại có nhận định cho rằng, TC vào Tây Nguyên để xây cất căn cứ quân sự—kể cả dàn phóng hoả tiễn—phòng thủ cho đại lục Trung Hoa khi có chiến tranh ở Á Châu.

Chúng tôi thì nhận thấy, thảm hoạ sau ‘màn kịch KTBX’, còn trầm trọng hơn thế nhiều. Trong tương lai không xa, nếu không có đột biến nào lật ngược tình thế, CẢ NƯỚC sẽ trở thành thuộc địa của ‘Thiên Triều Đỏ’ Bắc Kinh. Chỉ có điều khác biệt với thời đế quốc xa xưa là ‘Quan Thái Thú ĐỎ’—thời XHCN—mang nhãn hiệu “Cờ Máu Sao Vàng”.

Lẽ dễ hiểu là đảng giặc VC, giữ độc quyền lãnh đạo đất nước, mà chúng thường xuyên cúi đầu thần phục ‘Thiên Triều Đỏ’: Nước Việt sẽ đi về đâu?

Ngày xưa, sử sách nguyền rủa Lê Chiêu Thống ‘cõng rắn cắn gà nhà’ thì ngay nay, VC không thể nào tránh khỏi, đại khối quốc dân phỉ nhổ.

Có lẽ, trang sử ‘lưu xú vạn niên’ đậm nét nhất hiện nay là sự kiện xẩy ra ngày 23-2-2009. Như đã nêu ở phần trên: Đảng giặc VC đã trâng tráo, tổ chức lễ “Chào Mừng” việc cắm mốc biên giới Việt-Trung hoàn tất. Sự kiện Ô NHỤC này làm nhiều người liên tưởng đến chuyên Mạc Đăng Dung ngày xưa, tự trói mình rồi quỳ lậy tướng Tàu trong buổi lễ dâng đất cho Tàu.

Cúi Đầu Thần Phục ‘Thiên Triều Đỏ’

Nhìn lại quá trình lịch sử thì ai cũng thấy, từ 1945 đến nay, đối với đồng bào thì quốc tặc Hồ Chí Minh và đồng đảng hung bạo, thường xuyên lừa bịp, tráo trở và xảo quyệt khôn lường. Ngược lại, đối với quan thầy Nga-Tàu thì VC khiếp nhược, thường xuyên cúi đầu. Sau khi mẫu quốc Nga Cộng xụp đổ thì lẽ đương nhiên, VC cúi đầu thần phục TC. Nếu không thì TC lại “dậy cho bài học” lần thứ 2—tương tự như cuộc chiến đẫm máu năm 1979.

Là chư hầu thần phục ‘Thiên Triều Đỏ’ nên ‘Nhà Nưóc VC’ đã thẳng tay đàn áp, bắt giam, tra tấn, truy lùng các thanh niên yêu nước trong cuộc biểu tình ôn hòa ngày 9-12-2007—chống TC xâm chiếm Hoàng Sa. Vì nhiệt tâm, biểu lộ ý chí bảo vệ Tổ Quốc VN, nên nhiều thanh niên trở thành nạn nhân của đảng giặc VC. Như vậy, ‘Nhà Nước VC’ đứng về bên nào chiến tuyến? Thờ Vua Hùng, hay ‘thờ Mao chủ tịch’?

Trong khi đó, VC lại còn cúi đầu nhận lệnh TC, mở cửa biên giới, cho TC được quyền ra vào VN— tự do đi khắp nơi như trên đất Tàu—không cần chiếu khán. Thế là gián điệp và công an TC tha hồ vào VN. Chúng tung tiền ra mua tay sai, thành lập ‘mật khu’, củng cố mạng lưới nội tuyến, ‘nằm vùng’ trong hệ thống cai trị của đảng giặc VC.

Hiện nay TC có khoảng 20 triệu người thất nghiệp. Nếu cần, TC có thể đặt kế hoạch, trả lương cho vài trăm ngàn thanh niên, từng nhóm đi đến các tỉnh miền Tây Nam Phần.

Thế rồi, ‘có tiền mua tiên cũng được’. Chúng sẽ hối lộ công an VC, tìm vợ đẹp, xây nhà, quy tụ với nhau thành làng, thành xóm, sinh sôi nẩy nở. Khoảng chừng 5 năm sau, từ Tây Nguyên đến Tây Ðô—vùng đồng bằng sông Cửu Long—sẽ có hàng trăm khu phố, hay cả ngàn “làng Tàu Đỏ’. Khi cần, khối Tàu Đỏ trên đất Việt này sẽ ‘đồng khởi’, nổi lên đòi ‘độc lập’ theo lệnh của ‘Thiên Triều’ Bắc Kinh—nội thù của dân tộc Trung Hoa, ngoại thù của dân tộc VN.

Hiện thời thì trên mạng lưới Internet có tài liệu cho hay, hệ thống cai trị của bạo quyền VC, kể cả Công An, Bộ Đội và Bộ Chính Trị, đều có ‘bàn tay nói dài’ của TC. Mặc dù mức độ khả tín của tài liệu ấy, chưa kiểm chứng được. Nhưng hiện nay, ai cũng thấy, từ Bắc vào Nam, có nhiều chuyện ‘quái đản’ xẩy ra liên tiếp:

Nhân dịp kỷ niệm 30 năm cuộc chiến 1979, nhiều tác phẩm của TC, như cuốn “Ma Chiến Hữu” chẳng hạn, được phổ biến công khai, khắp nơi trong nước—với nội dung ca tụng ‘công đức’, tài năng và tinh thần chiến đấu của tướng lãnh và binh sĩ TC. Nếu VC không cúi đầu thì ai có thể công khai, phát hành rầm rộ các tác phẩm ‘phản động’ như thế?

Hơn nữa, tất cả “Uỷ Ban Nhân Dân” ở các tỉnh biên giới Việt-Hoa còn nhận lệnh trung ương đảng VC, cử phái đoàn đại diện đến thăm viếng các nghĩa trang của binh sĩ TC tử trận năm 1979—với vòng hoa có hàng chữ “Đời Đời Nhớ Ơn Các Liệt Sĩ Trung Quốc’!

‘Các Liệt Sĩ’ ấy là ai? Là cán binh TC tràn vào các tỉnh ở biên giới, tàn phá nhà cửa, chém giết đồng bào VN, kể cả trẻ thơ và phụ nữ mang thai, vô cùng dã man tàn ác—đâm bằng lưỡi lê, đập bể sọ bằng báng súng, nghiền nát thân thể người Việt bằng xích sắt xe tăng.

Chuyện quái đản—“nhớ ơn liệt sĩ” TC—nêu trên chứng tỏ, VC đã đứng về phía chiến tuyến của giặc ngoại xâm. Không những VC PHẢN BỘI đồng bào mà còn PHẢN BỘI NGAY CẢ CÁC ‘ĐỒNG CHÍ BỘI ĐỘI’ của chúng trong cuộc chiến 1979.

Thế mà ngày 4-3-09 vừa qua, Ban Thường Vụ của Mặt Trận Tổ Quốc VC lại còn DIỄN KỊCH, phối hợp với Quân Chủng Hải Quân VC, tung ra “biện pháp tuyên truyền về biển, đảo tới các tầng lớp nhân dân”.

Làm sao, chúng có thể bịp bợm quần chúng được nữa? Vì sự kiện lịch sử—buôn dân bán nước—rõ như ban ngày. Chúng không thể xoa dịu lòng uất hận của muôn dân. Chúng không thể chạy tội cho ‘Bác và Đảng’ được.

Trở lại việc KTBX ở Tây Nguyên thì vấn đề được nêu lên: Tại sao ‘Nhà Nước VC’ lại ban hành Văn Thư số 17/TB-VPCP, cấm các cơ quan truyền thông, không được loan tin về việc ấy?

Việc KTBX, nếu thuần tuý nằm trong lãnh vực kinh tế—không dính líu đến AN NINH QUỐC PHÒNG—thì có điều gì mà cấm loan tin? Tại sao công an VC lại ngăn chặn, tất cả các ngả đường dẫn đến thị xã Nhân Cơ—trung tâm KTBX? Ắt hẳn, có điều GIAN TRÁ, BÍ ẨN ở phía sau.

‘Màn Kịch Bô-Xít’ Tây Nguyên

“Khai thác bô-xít Tây nguyên là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, đã được nêu trong Nghị quyết đại hội X của Đảng, Bộ Chính trị đã ba lần nghe, kết luận về việc phát triển bô-xít Tây nguyên”.

Đó là điều khẳng định của Thủ Tướng VC Nguyễn Tấn Dũng ngày 4/2/2009. Qua mạng lưới Internet, chúng tôi nhận thấy, phía báo chí ủng hộ Nhà Nước VC thì cho rằng “việc KTBX có ích lợi về Kinh Tế. Còn thiệt hại về môi trường thì rất nhỏ, có thể khống chế được”.

Hiển nhiên, đó là ‘nhận định’ “theo định hướng XHCN”. Nên không có bài viết ủng hộ việc KTBX mà nêu lên được những dữ kiện chính xác.

Ngược lại, bài viết phản đối thì nhiều, độ khả tín lại cao. Tựu trung cho thấy việc KTBX KHÔNG CÓ ích lợi về Kinh Tế, mà còn gây thiệt hại RẤT TRẦM TRỌNG cho môi sinh. Nhất là không khí ‘ô nhiễm chất Bô-Xít’, sẽ làm cho dân chúng bị ung thư phổi. Nhiều khoa học gia còn quả quyết, việc KTBX, không những làm cho rừng núi và đất đai phì nhiêu vùng Tây Nguyên bị huỷ hoại, mà độc hại môi sinh còn lan tràn xuống tận đồng bằng sông Cửu Long.

Điển hình là cuộc phỏng vấn Tiến Sĩ Mai Thanh Truyết—Chủ Tịch Hội Khoa Học Kỹ Thuật VN ở hải ngoại—do đài RFA thực hiện ngày 5-3-2009. Ông Truyết đã nêu nhận định trung thực về việc KTBX:

‘.....Chúng tôi thấy hoàn toàn không có hiệu quả kinh tế. Lý do là hiện nay khu Nhân Cơ và Đắc-Nông là hai khu trồng tiêu và cà phê, đây là hai nguồn lợi rất lớn’.

Tác giả còn dẫn chúng cho biết, 1 hecta đất dùng để trông cây thì đem lại nguồn lợi từ 2 đến 3 ngàn Đô-La. Trong khi lấy Bô-Xít từ 4 hecta, chỉ biến chế được 2 tấn nhôm, mỗi tấn chỉ trị giá khoảng 3, 4 trăm Đô-La mà thôi.

Hơn nữa, về môi sinh, về dân sự, về chính trị và văn hóa, sẽ phải gánh chịu hậu quả tai hại trầm trọng về lâu về dài.

‘….Vùng Tây Nguyên là vùng đất trước kia là vùng núi lửa cách đây hàng triệu năm, do đó vùng đất này gọi là đất bazan (đất đỏ) rất tốt cho việc trồng cao su, trà, cà phê…’

Đó là lời phản bác phía ‘Khoa Học Gia VẸM’, cho rằng ‘đất Tây Nguyên không tốt cho cây cỏ’.

Ngoài ra, muốn sản xuất khoảng 1, 2 triệu tấn nhôm hàng năm thì phải cần khối nước khổng lồ và điện lực—gấp đôi lượng điện VN hiện nay. Như vậy thì làm sao việc KTBX tiến hành được?

Ở trong nước, nổi nhất là ‘thư ngỏ’ của Đại Tướng VC Võ Nguyên Giáp—gởi cho Nguyễn Tấn Dũng. Trong đó có đoạn, Giáp đã viết nguyên văn:

“Cần nhắc lại rằng….. Sau khảo sát đánh giá hiệu quả tổng hợp của các chuyên gia Liên Xô, khối COMECON đã khuyến nghị Chính phủ ta không nên khai thác bô-xít trên Tây Nguyên do những nguy cơ gây tác hại sinh thái lâu dài rất nghiêm trọng….”

… “Chính phủ khi đó đã quyết định không khai thác bô-xít mà gìn giữ thảm rừng và phát triển cây công nghiệp (cao su, cà phê, chè...) trên Tây Nguyên...”.

‘….Việc xác định một chiến lược phát triển Tây Nguyên bền vững là vấn đề rất hệ trọng đối với cả nước về kinh tế, văn hóa và an ninh quốc phòng’.

Đúc kết việc KTBX, ai cũng thấy chỉ có lợi cho TC. Còn VN thì phải chịu thảm hoạ lâu dài, rõ ràng nhất là lãnh vực AN NINH QUỐC PHÒNG.

Vì Tây Nguyên là địa điểm CHIẾN LUỢC vô cùng quan trọng—nằm gần ngã ba biên giới Việt-Miên-Lào. Trong thời chiến tranh VN (1946-1975), các tướng lãnh Tàu Cộng, VC, VNCH, Pháp và Mỹ đều chú tâm vào việc kiểm soát Tây Nguyên. Phía nào nắm được Tây Nguyên thì phía ấy dễ dàng khống chế được các tỉnh miền duyên hải Trung Phần và miền đồng bằng sông Cửu Long. Nếu làm được như vậy thì Sài Gòn sẽ bị cô lập, hoặc sa vào tử địa ‘tứ bề thọ địch’.

Sự thật này đã xẩy ra năm 1975. Vì thiếu vũ khí—không đủ sức giữ được vùng Tây Nguyên—Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã hấp tấp ban lệnh cho Quân Đoàn II, triệt thoái khỏi Pleiku. Lầm lỗi trầm trọng này đã mở đường cho CSVN tiến quân như vũ bão vào Thủ Đô Sài Gòn hồi ‘Tháng Tư Đen’ 1975.

Chắc chắn, đảng giặc VC thừa biết vị thế chiến lược quan trọng như vậy. Nhưng chúng vẫn CÚI ĐẦU, rước giặc vào Tây Nguyên, nguỵ trang màn kịch ‘Khai Thác Bô-Xít’.

Chỉ vì lo ngại sự thật bị phanh phui, nên VC mới cấm báo chí loan tin, hay bình luận về việc KTBX ở Tây Nguyên. Không những thế, trước hiểm họa xâm thực của TC, văn công VC lại còn tung ra những lập luận hồ đồ—nhằm chay tội cho ‘bác Hồ’ quốc tặc.

Hiểm Hoạ TC Xâm Thực Khởi Sự Từ Năm Nào?

‘VN bị hiểm họa bành trướng của Trung Quốc đe doạ chỉ vì vài ba đảng viên cao cấp thoái hoá gây ra—như Lê Khả Phiêu trúng ‘Mỹ Nhân Kế’. Còn ‘bác Hồ’ khi xưa, rất sáng suốt, nên đã ngăn chặn được nhiều áp lực từ phía Trung Quốc’.

Đó là phần tóm lược nhiều bài viết ‘theo định hướng XHCN’. Nhưng sự thật, hiểm họa xâm thực của TC, khởi sự năm 1950. Mao Trạch Đông đã từng ban lệnh cho thuộc cấp, vẽ lại bản đồ TC—trong đó có VN và nhiều nước khác.

Vì thế, Mao mới tỏ ‘tình đồng chí thắm thiết’ với Hồ Chí Minh. Nào là gởi cố vấn sang VN, chỉ huy các đơn vị bộ đội VC. Nào là gởi ‘chí nguyện quân’, trực tiếp tham chiến ở Điện Biên Phủ. Nào là cũng cấp vũ khí, quân trang quân dụng trên khắp chiến trường. Nhờ vậy, trong cuộc chiến chống Pháp, bội đội VC mới chuyển bại thành thắng kể từ đầu thập niên 1950.

Hồi ấy, chính Hồ đã hớn hở, đón tiếp hai đoàn cố vấn do La Quý Ba và Vi Quốc Thanh cầm đầu. Ngoài việc huấn luyện và chỉ huy bộ đội VC, phái đoàn cố vấn TC còn có trách nhiệm ‘Toàn Quyền Đông Dương’—do Mao giao phó để thực hiện quỷ kế xâm thực ba nước Việt, Miên, Lào.

Đại Tá VC là Bùi Tín—mặc dù trá hàng—nhưng khi viết hồi ký cũng phải nhìn nhận: Chính hắn đã từng chứng kiến trong buổi họp, quan thầy TC hách dịch, ngồi gác chân lên ghế, khạc nhổ trước mặt chủ tịch Hồ Chí Minh và các cán bộ cao cấp VC!

Gần đây, trên trang nhà của ‘đàn chim VẸM’ có bài “Chống diễn biến hoà bình của chủ nghĩa bành trướng hiện đại Trung Quốc”, tác giả là Bùi Minh Quốc (BMQ)—viết ngày 30-12-08.

Mặc dù, bài viết có chủ ý, vừa chạy tội, vừa đánh bóng “bác Hồ” quốc tặc. Nhưng ‘thiên bất dung gian’, nên BMQ sa vào tình trạng ‘dấu đầu hở đuôi’. Chứng cớ rõ ràng nhất là đoạn, BMQ viết về thảm họa đấu tố (1952-1956)—với chủ ý đổ lỗi cho cố vấn Tàu Cộng, nhằm chạy tội cho “bác Hồ” quốc tặc:

“Nhưng đến cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức với cả một hệ thống cố vấn Trung Quốc từ trung ương tới địa phương kèm sát các đoàn ủy của ta thì mưu đồ nham hiểm bất thành nêu trên đã thành công ở qui mô chưa từng thấy, dưới một hình thái bi thảm chưa từng thấy: Đảng ta tự đưa mình vào cảnh dùng tay nọ chặt tay kia. Hàng nghìn cán bộ đảng viên, hầu hết là những người tận tụy nhất, trung kiên nhất, hy sinh nhất, những người con ưu tú nhất của Đảng, của dân tộc bị giết, bị hành hạ, tù đầy, số sống sót thì bị vô hiệu hóa. Hàng vạn người dân lương thiện, trong đó nhiều người là ân nhân của cách mạng và kháng chiến cũng chịu cảnh tương tự. Tổn thất này vượt ngàn lần so với những tổn thất do thực dân đế quốc gây ra, cùng những hệ lụy tai hại dai dẳng về mọi mặt, nhất là về chính trị và văn hóa”.

Chúng ta thử hỏi, nếu không phải là Hồ quốc tặc thì kẻ nào ‘cõng rắn gà nhà’—đã ‘nhất trí với Mao chủ tịch’, hớn hở đón tiếp cố vấn TC vào VN? Hồi ấy, ai là chủ tịch Nhà Nước—đã ban hành và chịu trách nhiệm về chính sách “Cải Cách Ruộng Đất”?

Chỉ cần cô động về tội ác trong thời kỳ đấu tố mà BMQ thuật lại như trên, ai cũng cảm thấy GHÊ TỞM quốc tặc Hồ Chí Minh:

Vì Hồ là kẻ bất nhân với đồng bào—cho đồng đảng chém giết, hành hạ, tù đầy “hàng vạn người dân lương thiện”.

Vì Hồ là kẻ bất nghĩa—cho đồng đảng chém giết, hành hạ, tù đầy hàng nghìn đảng viên “tận tụy nhất, trung kiên nhất, hy sinh nhất”.

Vì Hồ là kẻ tội đồ, đã mang Mác-Lênin từ Liên-Xô về VN, giầy xéo đất nước—“vượt ngàn lần so với những tổn thất do thực dân đế quốc gây ra, cùng những hệ lụy tai hại dai dẳng về mọi mặt, nhất là về chính trị và văn hóa”.

Phải chăng, đó là ‘đỉnh cao trí tuệ’ của Hồ mà BMQ muốn đánh bóng? Hay là‘đỉnh cao chói lọi’ của Hồ trong tác phẩm mà Dương Thu Hương muốn lừa bịp độc giả?

Hàng chục năm đã trôi qua. Nhưng “những hệ lụy tai hại dai dẳng về mọi mặt” vẫn còn tiếp tục hoành hành trên hai miền nam Bắc VN:

Quốc nạn tham nhũng, quốc nạn mãi dâm, quốc nạn dân oan, quốc nạn nhân quyền bị chà đạp. Trong khi cán bộ VC ‘ăn chơi phè phỡn’ thì đại khối dân chúng nghèo khổ, luân thường đạo lý trong XHCN bị tàn phá tận gốc rễ—kể từ khi chiến dịch đấu tố lan tràn, con tố khổ cha, vợ bôi nhọ chồng, họ hàng và bạn hữu chiếm giết lẫn nhau.

Tiếp theo, “hệ luỵ tại hại” gần gũi nhất là sự kiện lịch sử CÚI ĐẦU khiếp nhược, thần phục ‘Thiên Triều Đỏ’, dâng ải Nam Quan, dâng Thác Bản Giốc, dâng Trường Sa, dâng Hoàng Sa, rồi lại còn rước giặc vào chiếm Tây Nguyên—nguỵ trang bằng màn kịch KTBX.

Tuy nhiên, trước hiểm hoạ xâm thực của TC hiện nay, đại khối quốc dân—trong và ngoài nước—có thể ‘ĐOÀN KẾT’ dưới lá cờ Máu Sao Vàng của đảng giặc VC để chống lại TC được không?

Nên Hay Không Nên ‘Đoàn Kết’ Với VC?

Như đã chứng minh ở phần trên, VC là tay sai tận tuỵ của Tàu Cộng—trong quỷ kế xâm thực VN. Vậy thì hiển nhiên, ‘đoàn kết’ với VC chỉ có nghĩa là ĐỒNG LO×cùng với chúng, cúi đầu bái phục ‘Thiên Triều Đỏ’.

Trong 30 năm lịch sử (1945-1975), có nhiều bài học về ‘Quốc Cộng Đoàn Kết’. Nhưng có lẽ, đậm nét nhất là ‘Chính Phủ Liên Hiệp’ ngày 2-3-1946: Hồ Chí Minh là Chủ Tịch; Nguyễn Hải Thần là Phó CT; Nguyễn Tường Tam là Ngoại Trưởng; Cựu Hoàng Bảo Đại là Cố Vấn Tối Cao.

Nhiều bậc cao niên còn nhớ, trước đó khoảng 2 tháng, có bản “Tuyên Cáo Đoàn Kết’, được phổ biến ngày 24-12-1945. Trong đó, Hồ Chí Minh, Vũ Hồng Khanh và Nguyễn Hải Thần cùng ký tên—đại diện cho Việt Minh, VN Quốc Dân Đảng và Cách Mạng Đồng Minh Hội—kêu gọi tình đoàn kết để cùng nhau tranh đấu, giành lại Ðộc Lập cho Tổ Quốc.

Thế rồi, trong khi các đảng Quốc Gia từ hải ngoại hưởng ứng, rủ nhau về nước thì Hồ bí mật ra lệnh cho đồng đảng khủng bố, chém giết tại chỗ, hay bắt mang đi thủ tiêu, tất cả lãnh tụ và đảng viên—có huynh hướng Quốc Gia—đang hoạt động ở trong nước. Nhiều nhà cách mạng như Trương Tử Anh (Đại Việt); văn sĩ Khái Hưng (Quốc Dân Đảng); Lý Đông A (Duy Dân) và Tạ Thu Thâu (Đệ Tứ Quốc Tế CS) v.v đã bị Hồ thủ tiêu.

Đồng thời, đảng giặc VC còn công khai tấn công, phá huỷ các căn cứ của Quốc Dân Đảng và Đồng Minh Hội. Tổng kết, có hàng chục ngàn chiến sĩ Quốc Gia bị VC sát hại.

Đến khi biết được mặt thật—tráo trở, bất nhân, bất nghĩa và xảo quyệt khôn lường—của Hồ Chí Minh thì các lãnh tụ của các đảng phái Quốc Gia—còn sống sót—kể cả thành phần trong Chính Phủ Liên Hiệp, như Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam và Vũ Hồng Khanh, đều phải vượt biên, trốn sang Hoa Nam tỵ nạn. Dĩ nhiên, ‘Chính Phủ Liên Hiệp’ tự động giải tán trong tháng 5-1946.

Quả thật, kinh nghiệm xương máu của các thế hệ Cha Anh—qua bài học lịch sử nêu trên—thêm lẫn nữa cho thấy: Chỉ có kẻ mắc bệnh TÂM THẦN, hoặc vài tổ chức chính trị XÔI THỊT—cấu kết với nhóm “Việt Kiều’ PHẢN PHÚC và CÒ MỒI thì mới có thể ‘đoàn kết’, hợp tác, hay “hoà hợp hoà giải’ đảng giặc VC.

San Jose 29-3-2009
Trần Quốc Kháng



Monday, March 30, 2009

Giáo hội Công Giáo và Căn Bệnh Thế Kỷ - Kim Nguyên

Kim Nguyên

Trong mấy tuần lễ vừa qua, những luồng dư luận chỉ trích, phê phán Đức Giáo Hoàng Benedic 16 nổi lên dữ dội khắp nơi: từ những chính trị gia, giới dân cử cho đến những cá nhân hay tổ chức độc lập. Người ta dùng mọi phương cách để chỉ trích, chống đối, thậm chí lăng mạ ngài. Người ta thu thập chữ ký trên mạng, tồ chức hội thảo, biểu tình chống đối. ... Có những người còn đòi hỏi chính phủ, bộ ngoại giao nước họ phải có thái độ rõ ràng, phải có những biện pháp “trừng phạt” đối với ĐGH và Vatican vì một lời phát biểu “không thể chấp nhận được” của vị chủ chăn Giáo Hội Công Giáo hoàn vũ trong chuyến viếng thăm Phi Châu vào giữa tháng 03/2009.

Đức Giáo Hoàng đã phát biểu: “Bao cao su (condom) không phải là giải pháp cho bệnh AIDS, thậm chí nó còn có thể làm cho sự việc trở nên nghiêm trọng hơn ...”. ĐGH đã nói ra điều này bằng một ý thức, một lập trường rõ rệt, ngài không nói ra điều này trong một cơn cao hứng, bốc đồng. Thật ra, lập trường này không có gì mới lạ. Vatican xưa nay vẫn có lập trường không tán thành việc dùng bao cao su như một phương pháp chống căn bệnh thế kỷ này. Tuy nhiên, sự chống đối trong quá khứ chưa bao giờ mãnh liệt và có hệ thống như lần này.

Quan điểm bảo vệ luân lý xưa nay luôn luôn gặp sự chống đối của trường phái vô thần và trường phái chủ trương thụ hưởng, phải tận dụng cuộc đời ngắn ngủi này bằng cách tận hưởng những thú vui xác thịt cùng tất cả những lạc thú bao lâu còn hưởng được, bất chấp những giá trị đạo đức. Khi nào số người chủ trương hưởng thụ càng đông thì những người chủ trương bảo vệ những giá trị luân lý càng trở nên cô thế và càng bị tấn công mạnh mẽ hơn, và điều đó hình như đang đúng trong xã hội chúng ta sống hôm nay.

Khi người ta nhìn một sự việc qua hai lăng kính khác nhau thì việc đưa đến những kết luận khác nhau là chuyện bình thường: người chủ trương sống buông thả coi nhẹ những giá trị đạo đức làm sao có cùng cái nhìn với người dám bảo vệ và duy trì những giá trị đạo đức bằng mọi giá. Thế nhưng người ta không chịu tìm hiểu tường tận những lý lẽ gói ghém trong thông điệp của ĐGH, người ta chỉ biết khi cái chủ trương thụ hưởng của mình bị động chạm là liền lớn tiếng “cả vú lấp miệng em” bằng tất cả những phương tiện mình có được và bằng mọi phương pháp có thể vận dụng được.

Làm sao mà Giáo Hội Công Giáo có thể tán thành và cổ võ việc dùng túi cao su để ngừa AIDS. Làm như vậy đồng nghĩa với việc cổ võ tín hữu của mình tự do hưởng thụ thú vui xác thịt một cách bừa bãi và vô trách nhiệm. Không ít người đòi hỏi GH phải làm một cuộc “cách mạng”, phải “vào đời” , phải “cấp tiến” bằng cách chấp nhận những điều trái ngược với truyền thống , giá trị luân lý cốt lõi của đạo Công Giáo, được rao giảng bởi chính Đức Kitô. Nếu không làm như vậy thì bị họ lên án là “bảo thủ“, là “lạc hậu”. Điều khá khôi hài là đại đa số những người lớn tiếng nhất, ồn ào nhất lại là những người không hề chia sẻ cuộc sống của giáo hội, họ thường là những người không bao giờ đến nhà thờ, hoặc chỉ đến nhà thờ trong những dịp “quan hôn tang tế” hiếm hoi !.

Trở lại lời phát biểu của ĐGH Benedic 16, theo thiển ý, nếu tin rằng căn bệnh AIDS là sự cảnh báo của Thượng Đế đối với lối sống sa đọa, trụy lạc của con người trong xã hội hôm nay thì việc phát bao cao su để tiếp tuc đi sâu hơn vào cuộc sống trụy lạc ấy chắc chắn không phải là cách giải quyết, đúng như lời Đức Giáo Hoàng nói. Tại sao bệnh AIDS lại lan tràn một cách nhanh chóng như vậy? Câu trả lời ai cũng có thể tìm thấy không khó: vì người ta xem việc quan hệ tính dục là một trò chơi, một thú vui và cứ miệt mài lăn xả vào như con thiêu thân, không cần quan tâm tới những nguyên tắc luân lý, đạo đức. Người ta có thể đưa nhau vào nhà nghỉ thật dễ dàng chỉ sau một lần gặp gỡ, sau vài câu chuyện qua lại. Người ta có thể thực hiện quan hệ tính dục với thật nhiều người, người ta có thể làm công việc trao đổi vợ chồng một cách hết sức thoải mái, vô tư, như trao đổi những món đồ dùng .... Người ta không còn trân trọng thân xác của mình nữa. Những người thích cuộc sống lang chạ như vậy họ sử dụng bao cao su để có thể an tâm lao vào con đường sa đọa ấy. Đối với những người biết tiết chế, có quan hệ tính dục lành mạnh họ không có nhu cầu dùng bao cao su để chống AIDS. Bởi vậy, phát bao cao su, khuyến khích người ta “mang bùa” rồi thoải mái lao vào vòng trụy lạc mà không cần tiết chế rõ ràng không phải là cách giải quyết tận gốc mà còn làm cho sự việc nghiêm trọng hơn. Ai dám bảo đảm rằng dùng bao cao su là có thể tránh được AIDS 100% ? vi trùng AIDS có thể xâm nhập vào cơ thể bằng nhiều lối khác nhau. Bạn cứ mang bao cao su và chung đụng với thật nhiều người, “đi đêm có ngày gặp ma”, khả năng mắc bệnh của bạn sẽ cao gấp trăm lần những người có cuộc sống lành mạnh, biết tiết chế. Bởi vậy giải pháp cho bệnh AIDS là sự giáo dục, là sự phục hồi những giá trị đạo đức. Biết rằng không phải dễ dàng để thay đổi quan niệm sống. Nhưng vấn đề là các chính phủ, những người có trách nhiệm xã hội hầu như KHÔNG HỀ nhắm tới hướng này mà chỉ nhằm tới việc phân phát bao cao su và tin tưởng rằng đó là giải pháp cho căn bệnh thời đại này, điều đó sai! Là người lãnh đạo tinh thần, là vị chủ chăn của Giáo Hội Công Giáo toàn cầu, Đức Giáo Hoàng phải có tiếng nói rõ ràng. Ngài không thể im lặng cho dù biết rằng nói ra sẽ bị chống đối dữ dội.

Hãy nhìn tất cả các loài động vật trên trái đất này. Đối với chúng, mục đích duy nhất của hành động giao cấu là gì nếu không phải là truyền sinh? Riêng với con người, ngoài mục đích truyền sinh, Thượng đế ban cho một ân huệ, cũng có thể nói là một món quà, đó là sự khoái lạc. Đồng thời Thượng đế cũng ban cho con người lý trí và sự tự do để biết phân biệt, phán đoán và lựa chọn .... Càng ngày, người ta càng có khuynh hướng coi nhẹ (và đang bỏ qua hẳn) cái mục đích chính mà chỉ còn biết đến “món quà” kia mà thôi. Làm như vậy có phải là con người đang phụ tấm lòng của đấng có nhã ý tặng cho ta “món quà“ kia không ? Những ý tưởng này tôi muốn chia sẻ với những ai còn niềm tin vào đấng tạo hóa.

Đức Giáo Hoàng Benedic 16 từng viết trong quyển “Muối cho đời” rằng: "...... Tôi nghe vang vọng bên tai những lời của thánh kinh và của các giáo phụ kết án rất nghiêm khắc những mục tử làm chó câm để tránh bị phiền toái và vì thế để cho nọc độc lan tràn. Tìm yên ổn không phải là bổn phận hàng đầu của công dân; tôi ghê sợ hình ảnh một giám mục chỉ lo an phận và tìm hết cách che đậy và né tránh mọi thứ xung đột ... ”. Ngài đã tâm niệm như vậy và Ngài đang thực hiện điều đó, cho dù gặp phải biết bao phiền toái, chống đối, lăng mạ từ khắp nơi.

Nguyện xin Thiên Chúa gìn giữ và ban sức mạnh cho đấng kế vị thánh Phê Rô để ngài luôn vững vàng trước những cơn sóng dữ.

Nguyện xin thánh cả Giuse, Đấng bảo trợ giáo hội và cũng là thánh bổn mạng của Đức Thánh Cha phù trợ, dẫn dắt vị chủ chăn của chúng con và gìn giữ Giáo Hội, hiền thê của Đức Kytô vượt qua những âm mưu bách hại đến từ khắp nơi, dưới mọi hình thức.

Brussels, Mùa Chay - tháng Thánh Giuse - năm 2009
Kim Nguyên

Đại lão HT Thích Quảng Độ kêu gọi đồng bào biểu tình tại gia suốt tháng 5

Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế
International Buddhist Information Bureau
Bureau International d'Information Bouddhiste

Cơ quan Thông tin và Phát ngôn của Viện Hóa Ðạo,
Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất
B.P. 60063 - 94472 Boissy Saint Léger cedex (France)
Tel.: (Paris) (331) 45 98 30 85
Fax: Paris (331) 45 98 32 61 -
E-mail: ubcv.ibib@buddhist.com
Web: http://www.queme.net
    THÔNG CÁO BÁO CHÍ LÀM TẠI PARIS NGÀY 30.3.2009
Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ kêu gọi Đồng bào các giới trong nước Bất tuân dân sự - Biểu tình tại gia suốt tháng 5 để yêu sách bãi bỏ khai thác quặng bô-xít Tây nguyên gây đại nạn sinh thái và an ninh quốc phòng.

PARIS, ngày 30.3.2009 (PTTPGQT) - Sáng nay Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ gửi đến Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế “Lời Kêu gọi Một Tháng Biểu tình Tại gia” để phổ biến đến các cơ quan truyền thông, báo chí cùng đồng bào các giới mong được sự hưởng ứng trước nguy cơ đại nạn sinh thái và an ninh quốc phòng nơi yết hầu quân sự Tây nguyên.

Nhân danh Hội đồng Lưỡng Viện (Viện Tăng thống và Viện Hóa Đạo), Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ cất lên lời kêu gọi. Bởi vì theo nhận định của Hòa thượng, hiện nay “lãnh đạo Nước Nhà không là Lý Thái Tổ, Trần Nhân Tông, Lê Thái Tổ, mà là một chính quyền ly khai dân, lệ thuộc nước ngoài, từ ý thức hệ đến cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước, làm đảo lộn xã hội và nhân văn Việt Nam”. Nên hy vọng cuối cùng của Hòa thượng là “CHỈ CÒN LẠI TIẾNG NÓI CỦA TOÀN DÂN MỚI CÓ CƠ CỨU VÃN”.

Hòa thượng kêu gọi tháng Tư này xin đồng bào các giới chuẩn bị lương thực để có thể thực hiện suốt tháng 5.2009 làm tháng “Bất tuân dân sự” biểu dương bằng cuộc “Biểu tình Tại gia” : “Nông dân không ra đồng, Công nhân không đến xưởng, Thương gia, Tiểu thương không đến chợ, Sinh viên, học sinh không đến trường”. Sống dưới chế độ độc tài toàn trị, mọi tự do cơ bản đều bị tiêu hủy, đặc biệt tự do ngôn luận, tự do biểu tình. Công an là thế lực đàn áp và bắt bớ Người Biểu tình. Cho nên đối sách là Biểu tình tại chỗ, trong nhà mình, thì cuộc bắt bớ không thể thực hiện.

Với người Việt hải ngoại, Hòa thượng kêu gọi “đồng bào các giới ở hải ngoại hưởng ứng bằng việc không về du lịch và không gửi tiền về Việt Nam trong suốt tháng Năm 2009, ngoại trừ những trường hợp riêng tư khẩn cấp hay bất khả”.

Với các cơ quan truyền thông, báo chí Hòa thượng kêu gọi xin “giúp đỡ chuyển vận Lời kêu gọi này của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất đến các giới đồng bào trong và ngoài nước”.

Lời kêu gọi trình bày chi tiết đầy đủ về đại nạn sinh thái gây ra do việc khai thác quặng bô-xít ở Tây nguyên. Nhất là “công nghệ lạc hậu khai thác quặng bô-xít chỉ có ở Trung quốc là công nghệ “ướt”, trong khi các quốc gia tiên tiến đã chuyển công nghệ “ướt” sang công nghệ “khô” trong việc thải bùn đỏ, là nguy cơ gây đại nạn sinh thái cho Tây nguyên, miền Nam Trung bộ và đồng bằng sông Cửu Long”. Điều trầm trọng hơn nữa, theo lời Hòa thượng, là “nguy cơ an ninh quốc phòng. Tây nguyên là vùng chiến lược, yết hầu quân sự cho việc phòng ngự Việt Nam trên ngã ba biên giới Cam Bốt – Lào – Việt Nam”.

Lời kêu gọi thống thiết của Hòa thượng Thích Quảng Độ là: “Trọng Thủy đã cưỡng bức Mị Nương trên dãy Trường Sơn. Còn ngoài kia trên biển Đông, Trung quốc cũng đang lấn chiếm Hoàng Sa và Trường Sa…”

Mục tiêu của Tháng 5 Bất tuân dân sự - Biểu tình Tại gia, nhắm đạt 3 mục tiêu:

1. Yêu cầu Nhà cầm quyền Việt Nam cấp tốc nộp hồ sơ xác nhận thềm lục địa của mình theo Công Ước Liên Hiệp Quốc Về Luật Biển cho Ủy Ban Ranh Giới Thềm Lục Địa (UNCLOS) trước ngày quy định của LHQ, là ngày 13 tháng 5 năm 2009, để bảo vệ quyền lợi và lãnh hải tổ quốc.

“Nếu Đảng và Nhà nước vẫn làm ngơ trước quyền lợi của tổ quốc, thì xin các Cộng đồng Người Việt hải ngoại cấp tốc thành lập Ủy ban Bảo vệ Lãnh hải Việt Nam, thu tập hồ sơ, vận động quốc tế và can thiệp trực tiếp đến Ủy Ban Ranh Giới Thềm Lục Địa (UNCLOS) để bảo vệ quê hương.

2. Yêu cầu Nhà cầm quyền Việt Nam công bố toàn bộ nội dung hai bản Hiệp ước Biên giới trên đất liền và trên biển ký kết giữa Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1999 và 2000, kèm theo các bản đồ là bộ phận cấu thành không thể tách rời của Hiệp ước, để toàn dân được biết sự toàn vẹn lãnh thổ mà tiền nhân đã đem xương máu gầy dựng.

3. Yêu cầu Nhà cầm quyền Việt Nam khẩn cấp triệu tập một Đại hội đại biểu toàn dân bao gồm các nhà khoa học, các chuyên gia kinh tế, kỹ thuật cơ khí luyện kim, các chiến lược gia quân sự cùng đại biểu các thành phần dân tộc bất phân chính kiến, tôn giáo trong và ngoài nước để cùng nhau thống nhất ý kiến chận đứng việc khai thác quặng bô-xít ở Tây nguyên.

Chúng tôi xin đăng tải toàn văn Lời Kêu Gọi Một Tháng Biểu Tình Tại Gia như sau:

GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT VIỆN HÓA ĐẠO
Thanh Minh Thiền Viện, 90 Trần Huy Liệu, Phường 15, Quận Phú Nhuận, TP Saigon
---------------------------------------------------------
Phật lịch 2552 Số 03 /VHĐ/VT
    LỜI KÊU GỌI MỘT THÁNG BIỂU TÌNH TẠI GIA
    để chống việc lấy Vàng dân tộc đổi Nhôm nước ngoài
Bất chấp những lời báo động hiểm nguy của các chuyên gia, trí thức về việc khai thác quặng bô-xit ở Tây nguyên, ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vẫn một mực tiến hành việc lựa chọn nhà thầu Trung quốc vào Tây nguyên khi khẳng định : “Khai thác bô-xít Tây nguyên là chủ trương của Đảng nêu trong Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X”, nghĩa là từ năm 2006.

Đảng quyết định. Nhưng toàn dân thì sao ?

Toàn dân thông qua ý kiến của các giới chuyên gia, trí thức, học giả… đưa lên báo chí, truyền thông, Internet đều báo động rằng khai thác bô-xít sẽ hủy diệt mầu xanh rừng Tây nguyên, làm thay đổi thổ nhưỡng của vùng đất đỏ bazan, làm tăng thêm nguy cơ về hạn hán kéo dài, lũ ống, lũ quét sẽ xẩy ra nhiều hơn, đồng thời ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước ngọt để phát triển kinh tế cho các tỉnh vùng hạ lưu ở miền Nam Trung bộ, Đồng Nai, Bình Dương, thành phố Saigon. Từ nghìn xưa, mầu xanh rừng Tây nguyên bảo vệ cho việc tích trữ nước trong lòng đất, lọc không khí và điều hòa nhiệt độ toàn vùng. Phá hủy mầu xanh còn là phá hủy nghiêm trọng không những cảnh quan mà sắc thái văn hóa và quyền sống của hàng chục dân tộc ít người trên vùng cao.

Theo các báo cáo khoa học thì quặng bô-xít để sản xuất nhôm không là kim loại chiến lược. Giá trị kinh tế của nhôm không cao hơn việc trồng cây công nghiệp ở Tây nguyên. Bô-xít là tài nguyên khoáng sản có hạn, không tái sinh. Còn cây công nghiệp là nguồn tài nguyên vô hạn và có tái sinh. Ấy là chưa nói đến công nghệ lạc hậu khai thác quặng bô-xít chỉ có ở Trung quốc là công nghệ “ướt”, trong khi các quốc gia tiên tiến đã chuyển công nghệ “ướt” sang công nghệ “khô” trong việc thải bùn đỏ, là nguy cơ gây đại nạn sinh thái cho Tây nguyên, miền Nam Trung bộ và đồng bằng sông Cửu Long.

Bức thư ngỏ mà Đại tướng Võ Nguyên Giáp gửi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho biết từ năm 1980 Đảng và nhà nước đã đề nghị khối COMECON, tức khối kinh tế cộng sản Liên xô và Đông Âu, khai thác quặng bô-xít Tây nguyên. Nhưng theo thư ông Giáp thì “khối COMECON đã khuyến nghị Chính phủ ta không nên khai thác bô-xít trên Tây nguyên do những nguy cơ gây tác hại sinh thái lâu dài rất nghiêm trọng, không thể khắc phục được đối với dân cư tại chỗ mà còn cả dân cư và vùng đồng bằng Nam Trung bộ”.

Vì tính chất nguy hại sinh thái và cư dân quanh vùng khai thác bô-xít mà Cục bảo vệ môi trường quốc gia Trung quốc đã đóng cửa 100 mỏ bô-xít trên lãnh thổ Trung quốc từ năm 2004 đến 2008. Tại Ấn độ năm 2004 đã có một phong trào quần chúng lớn rộng nổi dậy biểu tình chống việc khai thác bô-xít tại bang Orissa trên diện tích 1000 hecta làm nguy hại 60.000 cư dân.

Tại Việt Nam hiện nay, chỉ nói đến một cứ điểm Đắk Nông ở phía cực nam Tây nguyên hiện đang có 7 mỏ khai thác bô-xít, tất thấy ngay nguy cơ sa mạc hóa - “bùn đỏ hóa mầu xanh” trên 6000 quả đồi với hàng trăm con suối trên một diện tích 600.000 hecta, nơi cư ngụ 29 dân tộc ít người, chủ yếu là cư dân bản địa người M’Nông. Để khai thác 5,4 tỉ tấn quặng thô bô-xít ở Đắk Nông thì chất thải bùn đỏ sẽ phủ lấp hàng nghìn buôn làng : khi ta biết rằng để có 1 tấn nhôm cần khai thác 4 tấn quặng bô-xít và thải ra môi trường 3 tấn bùn đỏ !

Vấn nạn nêu trên nằm trong lĩnh vực môi trường và sinh thái cho cư dân Tây nguyên. Một vấn đề trầm trọng khủng khiếp khác là nguy cơ an ninh quốc phòng. Tây nguyên là vùng chiến lược, yết hầu quân sự cho việc phòng ngự Việt Nam trên ngã ba biên giới Cam Bốt – Lào – Việt Nam. Việc nhà thầu Trung quốc khai thác quặng bô-xít đã bắt đầu, những làng người Hoa vừa dựng lên ở Tây nguyên, khoảng năm, mười nghìn người Trung quốc sẽ tới : Trọng Thủy đã cưỡng bức Mị Nương trên dãy Trường Sơn. Còn ngoài kia trên biển Đông, Trung quốc cũng đang lấn chiếm Hoàng Sa và Trường Sa…

Nguy cơ mất nước bắt đầu.

Lần này không chỉ Bắc thuộc Một Nghìn Năm, mà là Ba Nghìn Năm hay lâu hơn nữa khi lãnh đạo Nước Nhà không là Lý Thái Tổ, Trần Nhân Tông, Lê Thái Tổ, mà là một chính quyền ly khai dân, lệ thuộc nước ngoài, từ ý thức hệ đến cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước, làm đảo lộn xã hội và nhân văn Việt Nam.

CHỈ CÒN LẠI TIẾNG NÓI CỦA TOÀN DÂN MỚI CÓ CƠ CỨU VÃN. Trước là chận đứng việc lấy Vàng, tức dân tộc, đổi lấy Nhôm ngoại quốc. Sau là bảo vệ sự Vẹn toàn lãnh thổ mà tiền nhân đã đem xương máu gầy dựng.

Nhân danh Hội đồng Lưỡng Viện, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, tôi kêu gọi người Việt trong ngoài nước hãy tỏ thái độ trước nguy cơ hủy hoại mầu xanh Tây nguyên và đời sống của người Việt cũng như hàng chục dân tộc ít người trong việc khai thác quặng bô-xít không thông qua nghiên cứu khoa học và kinh tế, mà chỉ vụ vào sự lệ thuộc Bắc phương.

Kính xin người Việt nước ngoài khẩn cấp báo động công luận thế giới về đại nạn sinh thái Tây nguyên, và nguy cơ nối giáo Bắc Kinh trấn đóng yết hầu chiến lược vùng ba biên giới.

Kính xin người Việt trong nước hãy tỏ thái độ bằng cuộc biểu dương BẤT TUÂN DÂN SỰ trong suốt tháng 5 kể từ ngày Lễ Lao động 1.5 sắp tới.

Sống dưới chế độ độc tài, công an trị, người dân đã mất quyền biểu tình công cộng nói lên ngưỡng vọng thiết tha suốt 54 năm tại miền Bắc và 34 năm qua tại miền Nam, thì nay hãy BIỂU TÌNH TẠI GIA như một thái độ Bất tuân dân sự: Nông dân không ra đồng, Công nhân không đến xưởng, Thương gia, Tiểu thương không đến chợ, Sinh viên, học sinh không đến trường. Chúng ta có một tháng Tư để chuẩn bị lương thực cho gia đình nhằm thực hiện tháng Năm BẤT TUÂN DÂN SỰ - BIỂU TÌNH TẠI GIA để đòi hỏi ba yêu sách sau đây :

1. Yêu cầu Nhà cầm quyền Việt Nam cấp tốc nộp hồ sơ xác nhận thềm lục địa của mình theo Công Ước Liên Hiệp Quốc Về Luật Biển cho Ủy Ban Ranh Giới Thềm Lục Địa (UNCLOS) trước ngày quy định của LHQ, là ngày 13 tháng 5 năm 2009, để bảo vệ quyền lợi và lãnh hải tổ quốc.

Nếu Đảng và Nhà nước vẫn làm ngơ trước quyền lợi của tổ quốc, thì xin các Cộng đồng Người Việt hải ngoại cấp tốc thành lập Ủy ban Bảo vệ Lãnh hải Việt Nam, thu tập hồ sơ, vận động quốc tế và can thiệp trực tiếp đến Ủy Ban Ranh Giới Thềm Lục Địa (UNCLOS) để bảo vệ quê hương.

2. Yêu cầu Nhà cầm quyền Việt Nam công bố toàn bộ nội dung hai bản Hiệp ước Biên giới trên đất liền và trên biển ký kết giữa Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1999 và 2000, kèm theo các bản đồ là bộ phận cấu thành không thể tách rời của Hiệp ước, để toàn dân được biết sự toàn vẹn lãnh thổ mà tiền nhân đã đem xương máu gầy dựng.

3. Yêu cầu Nhà cầm quyền Việt Nam khẩn cấp triệu tập một Đại hội đại biểu toàn dân bao gồm các nhà khoa học, các chuyên gia kinh tế, kỹ thuật cơ khí luyện kim, các chiến lược gia quân sự cùng đại biểu các thành phần dân tộc bất phân chính kiến, tôn giáo trong và ngoài nước để cùng nhau thống nhất ý kiến chận đứng việc khai thác quặng bô-xít ở Tây nguyên.

Tháng Năm BẤT TUÂN DÂN SỰ - BIỂU TÌNH TẠI GIA sẽ là thái độ dũng cảm nói lên mối ưu tư Bảo vệ sinh thái và Vẹn toàn lãnh thổ của toàn dân trong giai đoạn cấp cứu của lịch sử. Dân chủ là Tiếng Nói, một tiếng nói đối thoại và tranh luận khi quê hương nguy biến để tiến tới giải pháp cứu nguy dân tộc. Nay là cơ hội và thời điểm sinh tử để Tiếng Nói cất lên thông qua một tháng BIỀU TÌNH TẠI GIA.

Kính xin đồng bào các giới trong nước hưởng ứng THÁNG BIỂU TÌNH TẠI GIA trong suốt tháng 5.2009, và đồng bào các giới ở hải ngoại hưởng ứng bằng việc không về du lịch và không gửi tiền về Việt Nam trong suốt tháng Năm 2009, ngoại trừ những trường hợp riêng tư khẩn cấp hay bất khả.

Kính xin các cơ quan truyền thông, báo chí giúp đỡ chuyển vận Lời kêu gọi này của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất đến các giới đồng bào trong và ngoài nước.

Thanh Minh Thiền viện, Saigon ngày 29.3.2009
Xử lý Thường vụ Viện Tăng thống
Kiêm Viện trưởng Viện Hóa Đạo
(ấn ký)
Sa môn Thích Quảng Độ


Sống Phúc Âm giữa lòng Dân Tộc - LM Trần Quý Thiện

Bài thuyết giảng của LM Trần Quý Thiện (cựu tù nhân chính trị dưới chế độ CSVN từ 1975-1988) trong Thánh Lễ cầu nguyện cho LM Tađêô Nguyễn Văn Lý và những tù nhân lương tâm

(do Phong Trào Giáo Dân VN Hải Ngoại, Mạng Lưới Nhân Quyền và Diễn Đàn Giáo Dân phối hợp tổ chức tại Trung Tâm CGVN/GP Orange, Nam Cali ngày 28/3/2009 kỷ niệm 2 năm Cha Lý bị xử án trong phiên toà bịt miệng tại Huế (30/3/2007))



Sống Phúc Âm giữa lòng Dân Tộc
    Kính thưa...
Dưới ánh sáng Niềm Tin Công Giáo, chúng ta xác tín rằng Thiên Chúa là Chủ của Lịch Sử. Ngài đã biểu lộ tình thương của Ngài qua các biến cố lịch sử, vì Ngài đã tạo thành vạn vật và điều khiển muôn loài. Trong cái nhìn vĩnh cửu và quyền năng vô biên, Thiên Chúa luôn luôn quan phòng để mọi sự kiện xảy ra trên thế giới, cũng như trong cuộc đời mỗi người, mang một giá trị tích cực đối với Ơn Cứu Độ, dù con người có thể không nhận thức được giá trị ấy, do tầm nhìn nhất thời và hạn hẹp của mình.

Trong dòng Lịch Sử Việt Nam; dân tộc chúng ta đã trải qua nhiều bước thăng trầm: những chiến thắng oanh liệt cũng như những năm dài nô lệ ngoại xâm, những giai đoạn phát triển thịnh vượng cũng như những cuộc nội chiến đau thương, người Công giáo Việt Nam chúng ta luôn tin tưởng rằng mọi biến cố vui buồn đều mang giá trị cứu độ của Thiên Chúa.

Theo bộ Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, được soạn thảo dưới triều vua Tự Đức năm 1856, thì vào năm Nguyên Hoà (tức 1533), vua Lê Trang Tông đã ban hành chỉ dụ cấm đạo Gia Tô, trong đó có ghi tên một tu sĩ ngoại quốc tên là I Nê Khu, đã theo đường biển lén lút đến truyền đạo Gia Tô tại làng Ninh Cường và Quần Anh thuộc huyện Nam Chân và làng Trà Lũ, thuộc huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định, miền Bắc Việt Nam. Nếu năm 1533 đã có sắc chỉ cấm đạo thì Tin Mừng Đức Kitô tất nhiên đã được rao giảng trước đó, nghĩa là đầu thế kỷ 16. Đó là mốc thời gian đầu tiên ghi dấu vàng son của Lịch Sử Giáo Hội Công Giáo Việt Nam.

Hạt giống bé nhỏ Tin Mừng Đức Kitô ấy đã lặng lẽ âm thầm nảy mầm, và nhờ Thiên Chúa quan phòng đã sinh hoa kết quả. Nhưng không biết bao nhiêu giông tố bão táp kinh hoàng đã bao phủ!! Người ta không thể nào kể hết biết bao cuộc bố ráp, lùng kiếm, bắt bớ, giam cầm, sát hại những lớp giáo dân Việt Nam đầu tiên, dưới thời chúa Trịnh miền Bắc, và chúa Nguyễn, nhà Tây Sơn, các vua nhà Nguyễn và Phong Trào Văn Thân tại miền Nam...

Ngày nay, các nhà viết sử làm sao có thể đo lường được mức độ tàn bạo dã man đến kinh hoàng với muôn vàn hình thức khác nhau mà các nhà cầm quyền thời đó đã thi đua sáng kiến ròng rã bốn thế kỷ (XVI-XIX) trong cố gắng dập tắt Niềm Tin Công Giáo của cha ông chúng ta vào Đức Kitô!! Nào giam cầm tù ngục, tan xương nát thịt, máu chảy đầu rơi, voi giầy ngựa xéo, quẳng vào vạc dầu sôi, nhốt trong cũi sắt, cũng không làm các ngài quá khoá nghĩa là chối bỏ niềm tin vào Đức Kitô!!

Kết thúc 400 năm kéo dài trong đau thương đẫm máu đó của Giáo Hội CGVN là trên 130.000 tín hữu CG đầu tiên đã tuẫn tiết, can trường chấp nhận cái chết để trung thành trong Niềm Tin vào Thiên Chúa!! 400 năm giảng đạo đã biến thành 400 năm sống trong cảnh máu chảy đầu rơi!!

Nhận định về cuộc sống và cái chết các vị Tử Đạo VN, người ta thấy các Ngài không sống và chết cho mình hoặc vì những lý do trần tục như danh vọng, địa vị, tiền bạc! Các Ngài đã sống trên miền đất Quê Hương mà chúng ta đã sống và phục vụ! Các Ngài đã trở thành Chứng Nhân của Niềm Tin sắt đá vào Đức Kitô, đã thà chết hơn là chối bỏ!! Muốn thế, các Ngài phải lựa chọn giữ trung thành và phản bội, giữa sự sống và cái chết, giữa Đức Kitô và thế tục. Chính những nguyên nhân đó đã khiến thế giới Công Giáo luôn ngưỡng mộ và không ngừng khâm phục Tinh Thần Bất Khuất của Cha Ông chúng ta.

Dưới một khía cạnh nào đó, chúng ta cũng có thể nói các vị Tử Đạo Việt Nam là những Chứng Nhân tiền phong cho Nhân Quyền trên thế giới, đã đánh đổi chính mạng sống mình để mọi người sau này được tự do sống đạo và hành đạo mà ngày nay chúng ta gọi là Quyền Tư Do Tôn Giáo, vì trước đây 5 thế kỷ làm gì có tổ chức Liên Hiệp Quốc và bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền.

Chứng nhân nhân quyền thời nay.

Một vấn đề quan trọng khác mà hôm nay chúng tôi xin thưa với qúy vị: Đó là dòng máu tử đạo vẫn còn đang chảy lênh láng trên quê hương Việt Nam. Với chủ trương vô thần, chính quyền Cộng Sản vẫn đang thực hiện chính sách đàn áp mọi quyền ttự do căn bản của con người với những biện pháp tinh vi khoa học hơn trước đây rất nhiều.

Là một Linh Mục đã đi cải tạo 13 năm trong ngục tù CS, chỉ vì đã phục vụ trong ngành Tuyên Úy Công Giáo/QLVNCH. Kinh nghiệm bản thân cho chúng tôi hay hiện nay trên thế giới không có chế độ lao tù nào dã man tàn bạo bằng các nhà tù Việt Cộng, vì họ đã tích lũy kinh nghiệm coi tù từ Liên Xô, Trung Cộng, các nước Đông Âu cộng với những mánh lới ác độc của Việt Cộng.

Kể từ ngày 30/4/1975, khi những người Cộng Sản từ miền Bắc cưỡng chiếm miền Nam, theo lượng đoán của những nhà viết sử thì tổng số các Linh Mục VN dòng và triều đã đi tù cải tạo là trên 200 vị, trong đó gần 30 vị bị chết trong tù. Ngày nay, nếu người ta cần phải nêu cao tấm gương của một Linh Mục VN đã dâng hiến trọn vẹn đời mình cho Quê Hương và Giáo Hội như nhà ái quốc Ái Nhĩ Lan O'Conor đã tuyên bố trước khi bị hành quyết: Trái tim tôi xin dâng hiến cho Thiên Chúa, còn thân xác này, xin gửi lại dân tộc Ái Nhĩ Lan thì con người Việt Nam đó không ai khác, chính là Linh Mục Tađêô NGUYỄN VĂN LÝ.

Chính Cha Lý là người đã thể hiện lời tuyên bố của Đức Kitô Không có tình yêu nào cao qúy bằng chết vì người khác Do đó, cuộc sống của Cha Lý đã trở thành biểu tượng cho những khát vọng tha thiết nhất cho Tự Do và Nhân Quyền của mọi người, đặc biệt cho quyền Tự Do Tôn Giáo không chỉ riêng cho 8 triệu người Công Giáo mà cho tất cả các tôn giáo tại Việt Nam. Chính Cha Lý là người đã thực hiện hoàn hảo nhất Lý Tưởng mà Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đã công bố trong Thư Chung 1980 sau khi thống nhất đất nước. Sống Phúc Âm Giữa Lòng Dân Tộc vì Quê Hương này là nơi chúng ta được Thiên Chúa mời gọi để sống làm con của Chúa. Và Dân Tộc này là Cộng Đồng mà Thiên Chúa trao cho chúng ta để phục vụ với tư cách vừa là Công Dân trần thế vừa là thành phần Dân Chúa.

Vậy, Nguyễn Văn Lý, Ngài là ai?

. Nguyễn Văn Lý là một Linh Mục Công Giáo Việt Nam, tên Thánh là Tađêô, sinh ngày 15 tháng 5 năm 1946, tại làng Ba Bình, xã Vĩnh Chấp, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị, miền Trung Việt Nam trong một gia đình có truyền thống Công Giáo đạo đức.

. Năm 1963, lên 17 tuổi, cậu Lý muốn dâng hiến cuộc đời cho Thiên Chúa và được Linh Mục Nguyễn Như Tự bảo trợ và giới thiệu vào tu học tại tiểu chủng viện Hoan Thiện, thành phố Huế.

. Năm 1966, lúc 20 tuổi, thầy Lý được Bề Trên giáo phận tuyển chọn để theo ban Triết học và Thần học tại Đại chủng viện Xuân Bích, Huế.

. Sau 11 năm tu luyện, nguyện ước trở thành mục tử của Chúa đã trở thành hiện thực, tháng 4 năm 1974, Thầy Tađêô Nguyễn Văn Lý đã được hân hạnh thụ phong Linh Mục tại nhà thờ chính tòa Phủ Cam, thành phố Huế dưới sự đặt tay của Đức Tổng Giám Mục Philipphê Nguyễn Kim Điền. Năm đó, Cha Lý đúng 28 tuổi.

Sau đó tân Linh Mục Nguyễn Văn Lý xin gia nhập Hội Thừa sai do Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Kim Điền sáng lập, với mục đích hoạt động truyền giáo nơi những vùng dân cư nghèo khó. Ngài được bổ nhiệm phụ trách Cộng Đoàn Thừa sai tại quận Gò Vấp, tỉnh Gia Định.

Một biến cố đau thương nhất của dân tộc xảy đến, sau ngày 30/4/1975, tân Linh Mục được gọi trở về Huế làm Thư ký cho Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Kim Điền. Vì được hân hạnh làm bí thư bên cạnh một vị Giám Mục nổi tiếng đạo đức và yêu nước la Đức TGM Nguyễn Kim Điền nên Cha Lý đã nối gót Ngài đi vào con đường tranh đấu cho Giáo Hội và Quê Hương Dân Tộc.

Tính đến nay (năm 2009) Cha Lý đã 63 tuổi, thụ phong Linh Mục 35 năm, đã bị CSVN kết án 4 lần tổng cộng 53 năm. Ngài đã ở tù 16 năm, không kể thời gian bị quản chế; đây là 4 lần bị ra toà lãnh án

- Tháng 9 năm 1977, bị kết án 20 năm tù với tội danh chống phá cách mạng, bị giam tại Thừa Phủ, Huế.

- Tháng 5 năm 1983, bị kết án 10 năm tù và 4 năm quản chế với tội danh gây rối trật tự xã hội bị giam tại Thanh Cẩm (Thanh Hoá) và Ba Sao (Nam Hà).

- Tháng 10 năm 2001, bị kết án 15 năm tù và 5 năm quản chế với tội danh phá hoại chính sách đoàn kết bị đưa về giam tại trại tù Ba Sao (Nam Hà).

- Ngày 8 tháng 4 năm 2006, Ngài thành lập Khối 8406 quy tụ tất cả những ai muốn tranh đấu cho Nhân Quyền tại Việt Nam.

- Ngày 30 tháng 3 năm 2007, cách đây đúng 2 năm, Cha Lý bị kết án 8 năm tù và 5 năm quản chế với tội danh tuyên truyền chống phá Nhà Nước. Đây là một phiên tòa quái đản trơ trẻn bất công nhất thế giới, không có luật sư biện hộ, không nhân chứng, thân nhân không được tham dự!! Cha Lý bị còng tay, lôi kéo ra trước tòa, một nhân viên an ninh mặc thường phục đã lấy tay bịt miệng Ngài! Hình ảnh một Linh Mục bị còng tay trước tòa , gợi cho ta hình ảnh Đức Kitô bị điệu trước toà án Philatô. Nhưng Philatô hỏi, chúa Giêsu còn được trả lời, còn Cha Lý bị bịt miệng.

Chính hình ảnh bịt miệng trước tòa đã tố cáo đời sống bi đát hiện nay của 80 triệu đồng bào chúng ta trong một cuộc sống đọa đày dưới áp bức bạo tàn.


Quả thật, hình ảnh bịt miệng đã đánh động lương tâm nhân loại khiến Quốc Hội Hoa Kỳ và Quốc Hội Âu Châu đã vinh danh Cha Lý là một người tù bất khuất và Hội Đồng Giám Mục Đức dành cả một năm để cầu nguyện cho Việt Nam và cho Ngài. Và lần đầu tiên trong lịch sử, 165 Linh Mục VN hải ngoại trên khắp thế giới đã chính thức công bố Bản Lên Tiếng hỗ trợ cuộc tranh đấu cho Tự Do Tôn Giáo và Nhân Quyền do Cha Lý phát động.

Là những người VN sống xa Quê Hương nhưng vẫn nặng lòng với Dân Tộc, hôm nay chúng ta tụ họp nơi đây để dâng lên Thiên Chúa những lời cầu nguyện tha thiết nhất phát xuất tận đáy lòng để cầu nguyện cho Quê Hương VN thân yêu sớm thoát khỏi nạn CS vô thần, đặc biệt cầu cho Cha Lý kiên tâm vững chí bước theo Đức Kitô.

Cầu cho Cha Lý hôm nay, chúng ta không quên cầu cho tất cả những tù nhân khác đang làm chứng cho Công Lý và Sự Thật, vì chỉ có Công Lý và Nhân Quyền mới giải phóng con người và đất nước chúng ta.

(Nguyễn Lý-Tưởng đánh máy lại và gửi đến các cơ quan truyền thông, báo chí và thân hữu để tuỳ nghi...Westminster, California, lúc 3 giờ PM ngày 28/3/2009)