Monday, March 30, 2009

Giáo hội Công Giáo và Căn Bệnh Thế Kỷ - Kim Nguyên

Kim Nguyên

Trong mấy tuần lễ vừa qua, những luồng dư luận chỉ trích, phê phán Đức Giáo Hoàng Benedic 16 nổi lên dữ dội khắp nơi: từ những chính trị gia, giới dân cử cho đến những cá nhân hay tổ chức độc lập. Người ta dùng mọi phương cách để chỉ trích, chống đối, thậm chí lăng mạ ngài. Người ta thu thập chữ ký trên mạng, tồ chức hội thảo, biểu tình chống đối. ... Có những người còn đòi hỏi chính phủ, bộ ngoại giao nước họ phải có thái độ rõ ràng, phải có những biện pháp “trừng phạt” đối với ĐGH và Vatican vì một lời phát biểu “không thể chấp nhận được” của vị chủ chăn Giáo Hội Công Giáo hoàn vũ trong chuyến viếng thăm Phi Châu vào giữa tháng 03/2009.

Đức Giáo Hoàng đã phát biểu: “Bao cao su (condom) không phải là giải pháp cho bệnh AIDS, thậm chí nó còn có thể làm cho sự việc trở nên nghiêm trọng hơn ...”. ĐGH đã nói ra điều này bằng một ý thức, một lập trường rõ rệt, ngài không nói ra điều này trong một cơn cao hứng, bốc đồng. Thật ra, lập trường này không có gì mới lạ. Vatican xưa nay vẫn có lập trường không tán thành việc dùng bao cao su như một phương pháp chống căn bệnh thế kỷ này. Tuy nhiên, sự chống đối trong quá khứ chưa bao giờ mãnh liệt và có hệ thống như lần này.

Quan điểm bảo vệ luân lý xưa nay luôn luôn gặp sự chống đối của trường phái vô thần và trường phái chủ trương thụ hưởng, phải tận dụng cuộc đời ngắn ngủi này bằng cách tận hưởng những thú vui xác thịt cùng tất cả những lạc thú bao lâu còn hưởng được, bất chấp những giá trị đạo đức. Khi nào số người chủ trương hưởng thụ càng đông thì những người chủ trương bảo vệ những giá trị luân lý càng trở nên cô thế và càng bị tấn công mạnh mẽ hơn, và điều đó hình như đang đúng trong xã hội chúng ta sống hôm nay.

Khi người ta nhìn một sự việc qua hai lăng kính khác nhau thì việc đưa đến những kết luận khác nhau là chuyện bình thường: người chủ trương sống buông thả coi nhẹ những giá trị đạo đức làm sao có cùng cái nhìn với người dám bảo vệ và duy trì những giá trị đạo đức bằng mọi giá. Thế nhưng người ta không chịu tìm hiểu tường tận những lý lẽ gói ghém trong thông điệp của ĐGH, người ta chỉ biết khi cái chủ trương thụ hưởng của mình bị động chạm là liền lớn tiếng “cả vú lấp miệng em” bằng tất cả những phương tiện mình có được và bằng mọi phương pháp có thể vận dụng được.

Làm sao mà Giáo Hội Công Giáo có thể tán thành và cổ võ việc dùng túi cao su để ngừa AIDS. Làm như vậy đồng nghĩa với việc cổ võ tín hữu của mình tự do hưởng thụ thú vui xác thịt một cách bừa bãi và vô trách nhiệm. Không ít người đòi hỏi GH phải làm một cuộc “cách mạng”, phải “vào đời” , phải “cấp tiến” bằng cách chấp nhận những điều trái ngược với truyền thống , giá trị luân lý cốt lõi của đạo Công Giáo, được rao giảng bởi chính Đức Kitô. Nếu không làm như vậy thì bị họ lên án là “bảo thủ“, là “lạc hậu”. Điều khá khôi hài là đại đa số những người lớn tiếng nhất, ồn ào nhất lại là những người không hề chia sẻ cuộc sống của giáo hội, họ thường là những người không bao giờ đến nhà thờ, hoặc chỉ đến nhà thờ trong những dịp “quan hôn tang tế” hiếm hoi !.

Trở lại lời phát biểu của ĐGH Benedic 16, theo thiển ý, nếu tin rằng căn bệnh AIDS là sự cảnh báo của Thượng Đế đối với lối sống sa đọa, trụy lạc của con người trong xã hội hôm nay thì việc phát bao cao su để tiếp tuc đi sâu hơn vào cuộc sống trụy lạc ấy chắc chắn không phải là cách giải quyết, đúng như lời Đức Giáo Hoàng nói. Tại sao bệnh AIDS lại lan tràn một cách nhanh chóng như vậy? Câu trả lời ai cũng có thể tìm thấy không khó: vì người ta xem việc quan hệ tính dục là một trò chơi, một thú vui và cứ miệt mài lăn xả vào như con thiêu thân, không cần quan tâm tới những nguyên tắc luân lý, đạo đức. Người ta có thể đưa nhau vào nhà nghỉ thật dễ dàng chỉ sau một lần gặp gỡ, sau vài câu chuyện qua lại. Người ta có thể thực hiện quan hệ tính dục với thật nhiều người, người ta có thể làm công việc trao đổi vợ chồng một cách hết sức thoải mái, vô tư, như trao đổi những món đồ dùng .... Người ta không còn trân trọng thân xác của mình nữa. Những người thích cuộc sống lang chạ như vậy họ sử dụng bao cao su để có thể an tâm lao vào con đường sa đọa ấy. Đối với những người biết tiết chế, có quan hệ tính dục lành mạnh họ không có nhu cầu dùng bao cao su để chống AIDS. Bởi vậy, phát bao cao su, khuyến khích người ta “mang bùa” rồi thoải mái lao vào vòng trụy lạc mà không cần tiết chế rõ ràng không phải là cách giải quyết tận gốc mà còn làm cho sự việc nghiêm trọng hơn. Ai dám bảo đảm rằng dùng bao cao su là có thể tránh được AIDS 100% ? vi trùng AIDS có thể xâm nhập vào cơ thể bằng nhiều lối khác nhau. Bạn cứ mang bao cao su và chung đụng với thật nhiều người, “đi đêm có ngày gặp ma”, khả năng mắc bệnh của bạn sẽ cao gấp trăm lần những người có cuộc sống lành mạnh, biết tiết chế. Bởi vậy giải pháp cho bệnh AIDS là sự giáo dục, là sự phục hồi những giá trị đạo đức. Biết rằng không phải dễ dàng để thay đổi quan niệm sống. Nhưng vấn đề là các chính phủ, những người có trách nhiệm xã hội hầu như KHÔNG HỀ nhắm tới hướng này mà chỉ nhằm tới việc phân phát bao cao su và tin tưởng rằng đó là giải pháp cho căn bệnh thời đại này, điều đó sai! Là người lãnh đạo tinh thần, là vị chủ chăn của Giáo Hội Công Giáo toàn cầu, Đức Giáo Hoàng phải có tiếng nói rõ ràng. Ngài không thể im lặng cho dù biết rằng nói ra sẽ bị chống đối dữ dội.

Hãy nhìn tất cả các loài động vật trên trái đất này. Đối với chúng, mục đích duy nhất của hành động giao cấu là gì nếu không phải là truyền sinh? Riêng với con người, ngoài mục đích truyền sinh, Thượng đế ban cho một ân huệ, cũng có thể nói là một món quà, đó là sự khoái lạc. Đồng thời Thượng đế cũng ban cho con người lý trí và sự tự do để biết phân biệt, phán đoán và lựa chọn .... Càng ngày, người ta càng có khuynh hướng coi nhẹ (và đang bỏ qua hẳn) cái mục đích chính mà chỉ còn biết đến “món quà” kia mà thôi. Làm như vậy có phải là con người đang phụ tấm lòng của đấng có nhã ý tặng cho ta “món quà“ kia không ? Những ý tưởng này tôi muốn chia sẻ với những ai còn niềm tin vào đấng tạo hóa.

Đức Giáo Hoàng Benedic 16 từng viết trong quyển “Muối cho đời” rằng: "...... Tôi nghe vang vọng bên tai những lời của thánh kinh và của các giáo phụ kết án rất nghiêm khắc những mục tử làm chó câm để tránh bị phiền toái và vì thế để cho nọc độc lan tràn. Tìm yên ổn không phải là bổn phận hàng đầu của công dân; tôi ghê sợ hình ảnh một giám mục chỉ lo an phận và tìm hết cách che đậy và né tránh mọi thứ xung đột ... ”. Ngài đã tâm niệm như vậy và Ngài đang thực hiện điều đó, cho dù gặp phải biết bao phiền toái, chống đối, lăng mạ từ khắp nơi.

Nguyện xin Thiên Chúa gìn giữ và ban sức mạnh cho đấng kế vị thánh Phê Rô để ngài luôn vững vàng trước những cơn sóng dữ.

Nguyện xin thánh cả Giuse, Đấng bảo trợ giáo hội và cũng là thánh bổn mạng của Đức Thánh Cha phù trợ, dẫn dắt vị chủ chăn của chúng con và gìn giữ Giáo Hội, hiền thê của Đức Kytô vượt qua những âm mưu bách hại đến từ khắp nơi, dưới mọi hình thức.

Brussels, Mùa Chay - tháng Thánh Giuse - năm 2009
Kim Nguyên

Đại lão HT Thích Quảng Độ kêu gọi đồng bào biểu tình tại gia suốt tháng 5

Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế
International Buddhist Information Bureau
Bureau International d'Information Bouddhiste

Cơ quan Thông tin và Phát ngôn của Viện Hóa Ðạo,
Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất
B.P. 60063 - 94472 Boissy Saint Léger cedex (France)
Tel.: (Paris) (331) 45 98 30 85
Fax: Paris (331) 45 98 32 61 -
E-mail: ubcv.ibib@buddhist.com
Web: http://www.queme.net
    THÔNG CÁO BÁO CHÍ LÀM TẠI PARIS NGÀY 30.3.2009
Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ kêu gọi Đồng bào các giới trong nước Bất tuân dân sự - Biểu tình tại gia suốt tháng 5 để yêu sách bãi bỏ khai thác quặng bô-xít Tây nguyên gây đại nạn sinh thái và an ninh quốc phòng.

PARIS, ngày 30.3.2009 (PTTPGQT) - Sáng nay Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ gửi đến Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế “Lời Kêu gọi Một Tháng Biểu tình Tại gia” để phổ biến đến các cơ quan truyền thông, báo chí cùng đồng bào các giới mong được sự hưởng ứng trước nguy cơ đại nạn sinh thái và an ninh quốc phòng nơi yết hầu quân sự Tây nguyên.

Nhân danh Hội đồng Lưỡng Viện (Viện Tăng thống và Viện Hóa Đạo), Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ cất lên lời kêu gọi. Bởi vì theo nhận định của Hòa thượng, hiện nay “lãnh đạo Nước Nhà không là Lý Thái Tổ, Trần Nhân Tông, Lê Thái Tổ, mà là một chính quyền ly khai dân, lệ thuộc nước ngoài, từ ý thức hệ đến cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước, làm đảo lộn xã hội và nhân văn Việt Nam”. Nên hy vọng cuối cùng của Hòa thượng là “CHỈ CÒN LẠI TIẾNG NÓI CỦA TOÀN DÂN MỚI CÓ CƠ CỨU VÃN”.

Hòa thượng kêu gọi tháng Tư này xin đồng bào các giới chuẩn bị lương thực để có thể thực hiện suốt tháng 5.2009 làm tháng “Bất tuân dân sự” biểu dương bằng cuộc “Biểu tình Tại gia” : “Nông dân không ra đồng, Công nhân không đến xưởng, Thương gia, Tiểu thương không đến chợ, Sinh viên, học sinh không đến trường”. Sống dưới chế độ độc tài toàn trị, mọi tự do cơ bản đều bị tiêu hủy, đặc biệt tự do ngôn luận, tự do biểu tình. Công an là thế lực đàn áp và bắt bớ Người Biểu tình. Cho nên đối sách là Biểu tình tại chỗ, trong nhà mình, thì cuộc bắt bớ không thể thực hiện.

Với người Việt hải ngoại, Hòa thượng kêu gọi “đồng bào các giới ở hải ngoại hưởng ứng bằng việc không về du lịch và không gửi tiền về Việt Nam trong suốt tháng Năm 2009, ngoại trừ những trường hợp riêng tư khẩn cấp hay bất khả”.

Với các cơ quan truyền thông, báo chí Hòa thượng kêu gọi xin “giúp đỡ chuyển vận Lời kêu gọi này của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất đến các giới đồng bào trong và ngoài nước”.

Lời kêu gọi trình bày chi tiết đầy đủ về đại nạn sinh thái gây ra do việc khai thác quặng bô-xít ở Tây nguyên. Nhất là “công nghệ lạc hậu khai thác quặng bô-xít chỉ có ở Trung quốc là công nghệ “ướt”, trong khi các quốc gia tiên tiến đã chuyển công nghệ “ướt” sang công nghệ “khô” trong việc thải bùn đỏ, là nguy cơ gây đại nạn sinh thái cho Tây nguyên, miền Nam Trung bộ và đồng bằng sông Cửu Long”. Điều trầm trọng hơn nữa, theo lời Hòa thượng, là “nguy cơ an ninh quốc phòng. Tây nguyên là vùng chiến lược, yết hầu quân sự cho việc phòng ngự Việt Nam trên ngã ba biên giới Cam Bốt – Lào – Việt Nam”.

Lời kêu gọi thống thiết của Hòa thượng Thích Quảng Độ là: “Trọng Thủy đã cưỡng bức Mị Nương trên dãy Trường Sơn. Còn ngoài kia trên biển Đông, Trung quốc cũng đang lấn chiếm Hoàng Sa và Trường Sa…”

Mục tiêu của Tháng 5 Bất tuân dân sự - Biểu tình Tại gia, nhắm đạt 3 mục tiêu:

1. Yêu cầu Nhà cầm quyền Việt Nam cấp tốc nộp hồ sơ xác nhận thềm lục địa của mình theo Công Ước Liên Hiệp Quốc Về Luật Biển cho Ủy Ban Ranh Giới Thềm Lục Địa (UNCLOS) trước ngày quy định của LHQ, là ngày 13 tháng 5 năm 2009, để bảo vệ quyền lợi và lãnh hải tổ quốc.

“Nếu Đảng và Nhà nước vẫn làm ngơ trước quyền lợi của tổ quốc, thì xin các Cộng đồng Người Việt hải ngoại cấp tốc thành lập Ủy ban Bảo vệ Lãnh hải Việt Nam, thu tập hồ sơ, vận động quốc tế và can thiệp trực tiếp đến Ủy Ban Ranh Giới Thềm Lục Địa (UNCLOS) để bảo vệ quê hương.

2. Yêu cầu Nhà cầm quyền Việt Nam công bố toàn bộ nội dung hai bản Hiệp ước Biên giới trên đất liền và trên biển ký kết giữa Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1999 và 2000, kèm theo các bản đồ là bộ phận cấu thành không thể tách rời của Hiệp ước, để toàn dân được biết sự toàn vẹn lãnh thổ mà tiền nhân đã đem xương máu gầy dựng.

3. Yêu cầu Nhà cầm quyền Việt Nam khẩn cấp triệu tập một Đại hội đại biểu toàn dân bao gồm các nhà khoa học, các chuyên gia kinh tế, kỹ thuật cơ khí luyện kim, các chiến lược gia quân sự cùng đại biểu các thành phần dân tộc bất phân chính kiến, tôn giáo trong và ngoài nước để cùng nhau thống nhất ý kiến chận đứng việc khai thác quặng bô-xít ở Tây nguyên.

Chúng tôi xin đăng tải toàn văn Lời Kêu Gọi Một Tháng Biểu Tình Tại Gia như sau:

GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT VIỆN HÓA ĐẠO
Thanh Minh Thiền Viện, 90 Trần Huy Liệu, Phường 15, Quận Phú Nhuận, TP Saigon
---------------------------------------------------------
Phật lịch 2552 Số 03 /VHĐ/VT
    LỜI KÊU GỌI MỘT THÁNG BIỂU TÌNH TẠI GIA
    để chống việc lấy Vàng dân tộc đổi Nhôm nước ngoài
Bất chấp những lời báo động hiểm nguy của các chuyên gia, trí thức về việc khai thác quặng bô-xit ở Tây nguyên, ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vẫn một mực tiến hành việc lựa chọn nhà thầu Trung quốc vào Tây nguyên khi khẳng định : “Khai thác bô-xít Tây nguyên là chủ trương của Đảng nêu trong Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X”, nghĩa là từ năm 2006.

Đảng quyết định. Nhưng toàn dân thì sao ?

Toàn dân thông qua ý kiến của các giới chuyên gia, trí thức, học giả… đưa lên báo chí, truyền thông, Internet đều báo động rằng khai thác bô-xít sẽ hủy diệt mầu xanh rừng Tây nguyên, làm thay đổi thổ nhưỡng của vùng đất đỏ bazan, làm tăng thêm nguy cơ về hạn hán kéo dài, lũ ống, lũ quét sẽ xẩy ra nhiều hơn, đồng thời ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước ngọt để phát triển kinh tế cho các tỉnh vùng hạ lưu ở miền Nam Trung bộ, Đồng Nai, Bình Dương, thành phố Saigon. Từ nghìn xưa, mầu xanh rừng Tây nguyên bảo vệ cho việc tích trữ nước trong lòng đất, lọc không khí và điều hòa nhiệt độ toàn vùng. Phá hủy mầu xanh còn là phá hủy nghiêm trọng không những cảnh quan mà sắc thái văn hóa và quyền sống của hàng chục dân tộc ít người trên vùng cao.

Theo các báo cáo khoa học thì quặng bô-xít để sản xuất nhôm không là kim loại chiến lược. Giá trị kinh tế của nhôm không cao hơn việc trồng cây công nghiệp ở Tây nguyên. Bô-xít là tài nguyên khoáng sản có hạn, không tái sinh. Còn cây công nghiệp là nguồn tài nguyên vô hạn và có tái sinh. Ấy là chưa nói đến công nghệ lạc hậu khai thác quặng bô-xít chỉ có ở Trung quốc là công nghệ “ướt”, trong khi các quốc gia tiên tiến đã chuyển công nghệ “ướt” sang công nghệ “khô” trong việc thải bùn đỏ, là nguy cơ gây đại nạn sinh thái cho Tây nguyên, miền Nam Trung bộ và đồng bằng sông Cửu Long.

Bức thư ngỏ mà Đại tướng Võ Nguyên Giáp gửi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho biết từ năm 1980 Đảng và nhà nước đã đề nghị khối COMECON, tức khối kinh tế cộng sản Liên xô và Đông Âu, khai thác quặng bô-xít Tây nguyên. Nhưng theo thư ông Giáp thì “khối COMECON đã khuyến nghị Chính phủ ta không nên khai thác bô-xít trên Tây nguyên do những nguy cơ gây tác hại sinh thái lâu dài rất nghiêm trọng, không thể khắc phục được đối với dân cư tại chỗ mà còn cả dân cư và vùng đồng bằng Nam Trung bộ”.

Vì tính chất nguy hại sinh thái và cư dân quanh vùng khai thác bô-xít mà Cục bảo vệ môi trường quốc gia Trung quốc đã đóng cửa 100 mỏ bô-xít trên lãnh thổ Trung quốc từ năm 2004 đến 2008. Tại Ấn độ năm 2004 đã có một phong trào quần chúng lớn rộng nổi dậy biểu tình chống việc khai thác bô-xít tại bang Orissa trên diện tích 1000 hecta làm nguy hại 60.000 cư dân.

Tại Việt Nam hiện nay, chỉ nói đến một cứ điểm Đắk Nông ở phía cực nam Tây nguyên hiện đang có 7 mỏ khai thác bô-xít, tất thấy ngay nguy cơ sa mạc hóa - “bùn đỏ hóa mầu xanh” trên 6000 quả đồi với hàng trăm con suối trên một diện tích 600.000 hecta, nơi cư ngụ 29 dân tộc ít người, chủ yếu là cư dân bản địa người M’Nông. Để khai thác 5,4 tỉ tấn quặng thô bô-xít ở Đắk Nông thì chất thải bùn đỏ sẽ phủ lấp hàng nghìn buôn làng : khi ta biết rằng để có 1 tấn nhôm cần khai thác 4 tấn quặng bô-xít và thải ra môi trường 3 tấn bùn đỏ !

Vấn nạn nêu trên nằm trong lĩnh vực môi trường và sinh thái cho cư dân Tây nguyên. Một vấn đề trầm trọng khủng khiếp khác là nguy cơ an ninh quốc phòng. Tây nguyên là vùng chiến lược, yết hầu quân sự cho việc phòng ngự Việt Nam trên ngã ba biên giới Cam Bốt – Lào – Việt Nam. Việc nhà thầu Trung quốc khai thác quặng bô-xít đã bắt đầu, những làng người Hoa vừa dựng lên ở Tây nguyên, khoảng năm, mười nghìn người Trung quốc sẽ tới : Trọng Thủy đã cưỡng bức Mị Nương trên dãy Trường Sơn. Còn ngoài kia trên biển Đông, Trung quốc cũng đang lấn chiếm Hoàng Sa và Trường Sa…

Nguy cơ mất nước bắt đầu.

Lần này không chỉ Bắc thuộc Một Nghìn Năm, mà là Ba Nghìn Năm hay lâu hơn nữa khi lãnh đạo Nước Nhà không là Lý Thái Tổ, Trần Nhân Tông, Lê Thái Tổ, mà là một chính quyền ly khai dân, lệ thuộc nước ngoài, từ ý thức hệ đến cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước, làm đảo lộn xã hội và nhân văn Việt Nam.

CHỈ CÒN LẠI TIẾNG NÓI CỦA TOÀN DÂN MỚI CÓ CƠ CỨU VÃN. Trước là chận đứng việc lấy Vàng, tức dân tộc, đổi lấy Nhôm ngoại quốc. Sau là bảo vệ sự Vẹn toàn lãnh thổ mà tiền nhân đã đem xương máu gầy dựng.

Nhân danh Hội đồng Lưỡng Viện, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, tôi kêu gọi người Việt trong ngoài nước hãy tỏ thái độ trước nguy cơ hủy hoại mầu xanh Tây nguyên và đời sống của người Việt cũng như hàng chục dân tộc ít người trong việc khai thác quặng bô-xít không thông qua nghiên cứu khoa học và kinh tế, mà chỉ vụ vào sự lệ thuộc Bắc phương.

Kính xin người Việt nước ngoài khẩn cấp báo động công luận thế giới về đại nạn sinh thái Tây nguyên, và nguy cơ nối giáo Bắc Kinh trấn đóng yết hầu chiến lược vùng ba biên giới.

Kính xin người Việt trong nước hãy tỏ thái độ bằng cuộc biểu dương BẤT TUÂN DÂN SỰ trong suốt tháng 5 kể từ ngày Lễ Lao động 1.5 sắp tới.

Sống dưới chế độ độc tài, công an trị, người dân đã mất quyền biểu tình công cộng nói lên ngưỡng vọng thiết tha suốt 54 năm tại miền Bắc và 34 năm qua tại miền Nam, thì nay hãy BIỂU TÌNH TẠI GIA như một thái độ Bất tuân dân sự: Nông dân không ra đồng, Công nhân không đến xưởng, Thương gia, Tiểu thương không đến chợ, Sinh viên, học sinh không đến trường. Chúng ta có một tháng Tư để chuẩn bị lương thực cho gia đình nhằm thực hiện tháng Năm BẤT TUÂN DÂN SỰ - BIỂU TÌNH TẠI GIA để đòi hỏi ba yêu sách sau đây :

1. Yêu cầu Nhà cầm quyền Việt Nam cấp tốc nộp hồ sơ xác nhận thềm lục địa của mình theo Công Ước Liên Hiệp Quốc Về Luật Biển cho Ủy Ban Ranh Giới Thềm Lục Địa (UNCLOS) trước ngày quy định của LHQ, là ngày 13 tháng 5 năm 2009, để bảo vệ quyền lợi và lãnh hải tổ quốc.

Nếu Đảng và Nhà nước vẫn làm ngơ trước quyền lợi của tổ quốc, thì xin các Cộng đồng Người Việt hải ngoại cấp tốc thành lập Ủy ban Bảo vệ Lãnh hải Việt Nam, thu tập hồ sơ, vận động quốc tế và can thiệp trực tiếp đến Ủy Ban Ranh Giới Thềm Lục Địa (UNCLOS) để bảo vệ quê hương.

2. Yêu cầu Nhà cầm quyền Việt Nam công bố toàn bộ nội dung hai bản Hiệp ước Biên giới trên đất liền và trên biển ký kết giữa Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1999 và 2000, kèm theo các bản đồ là bộ phận cấu thành không thể tách rời của Hiệp ước, để toàn dân được biết sự toàn vẹn lãnh thổ mà tiền nhân đã đem xương máu gầy dựng.

3. Yêu cầu Nhà cầm quyền Việt Nam khẩn cấp triệu tập một Đại hội đại biểu toàn dân bao gồm các nhà khoa học, các chuyên gia kinh tế, kỹ thuật cơ khí luyện kim, các chiến lược gia quân sự cùng đại biểu các thành phần dân tộc bất phân chính kiến, tôn giáo trong và ngoài nước để cùng nhau thống nhất ý kiến chận đứng việc khai thác quặng bô-xít ở Tây nguyên.

Tháng Năm BẤT TUÂN DÂN SỰ - BIỂU TÌNH TẠI GIA sẽ là thái độ dũng cảm nói lên mối ưu tư Bảo vệ sinh thái và Vẹn toàn lãnh thổ của toàn dân trong giai đoạn cấp cứu của lịch sử. Dân chủ là Tiếng Nói, một tiếng nói đối thoại và tranh luận khi quê hương nguy biến để tiến tới giải pháp cứu nguy dân tộc. Nay là cơ hội và thời điểm sinh tử để Tiếng Nói cất lên thông qua một tháng BIỀU TÌNH TẠI GIA.

Kính xin đồng bào các giới trong nước hưởng ứng THÁNG BIỂU TÌNH TẠI GIA trong suốt tháng 5.2009, và đồng bào các giới ở hải ngoại hưởng ứng bằng việc không về du lịch và không gửi tiền về Việt Nam trong suốt tháng Năm 2009, ngoại trừ những trường hợp riêng tư khẩn cấp hay bất khả.

Kính xin các cơ quan truyền thông, báo chí giúp đỡ chuyển vận Lời kêu gọi này của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất đến các giới đồng bào trong và ngoài nước.

Thanh Minh Thiền viện, Saigon ngày 29.3.2009
Xử lý Thường vụ Viện Tăng thống
Kiêm Viện trưởng Viện Hóa Đạo
(ấn ký)
Sa môn Thích Quảng Độ


Sống Phúc Âm giữa lòng Dân Tộc - LM Trần Quý Thiện

Bài thuyết giảng của LM Trần Quý Thiện (cựu tù nhân chính trị dưới chế độ CSVN từ 1975-1988) trong Thánh Lễ cầu nguyện cho LM Tađêô Nguyễn Văn Lý và những tù nhân lương tâm

(do Phong Trào Giáo Dân VN Hải Ngoại, Mạng Lưới Nhân Quyền và Diễn Đàn Giáo Dân phối hợp tổ chức tại Trung Tâm CGVN/GP Orange, Nam Cali ngày 28/3/2009 kỷ niệm 2 năm Cha Lý bị xử án trong phiên toà bịt miệng tại Huế (30/3/2007))



Sống Phúc Âm giữa lòng Dân Tộc
    Kính thưa...
Dưới ánh sáng Niềm Tin Công Giáo, chúng ta xác tín rằng Thiên Chúa là Chủ của Lịch Sử. Ngài đã biểu lộ tình thương của Ngài qua các biến cố lịch sử, vì Ngài đã tạo thành vạn vật và điều khiển muôn loài. Trong cái nhìn vĩnh cửu và quyền năng vô biên, Thiên Chúa luôn luôn quan phòng để mọi sự kiện xảy ra trên thế giới, cũng như trong cuộc đời mỗi người, mang một giá trị tích cực đối với Ơn Cứu Độ, dù con người có thể không nhận thức được giá trị ấy, do tầm nhìn nhất thời và hạn hẹp của mình.

Trong dòng Lịch Sử Việt Nam; dân tộc chúng ta đã trải qua nhiều bước thăng trầm: những chiến thắng oanh liệt cũng như những năm dài nô lệ ngoại xâm, những giai đoạn phát triển thịnh vượng cũng như những cuộc nội chiến đau thương, người Công giáo Việt Nam chúng ta luôn tin tưởng rằng mọi biến cố vui buồn đều mang giá trị cứu độ của Thiên Chúa.

Theo bộ Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, được soạn thảo dưới triều vua Tự Đức năm 1856, thì vào năm Nguyên Hoà (tức 1533), vua Lê Trang Tông đã ban hành chỉ dụ cấm đạo Gia Tô, trong đó có ghi tên một tu sĩ ngoại quốc tên là I Nê Khu, đã theo đường biển lén lút đến truyền đạo Gia Tô tại làng Ninh Cường và Quần Anh thuộc huyện Nam Chân và làng Trà Lũ, thuộc huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định, miền Bắc Việt Nam. Nếu năm 1533 đã có sắc chỉ cấm đạo thì Tin Mừng Đức Kitô tất nhiên đã được rao giảng trước đó, nghĩa là đầu thế kỷ 16. Đó là mốc thời gian đầu tiên ghi dấu vàng son của Lịch Sử Giáo Hội Công Giáo Việt Nam.

Hạt giống bé nhỏ Tin Mừng Đức Kitô ấy đã lặng lẽ âm thầm nảy mầm, và nhờ Thiên Chúa quan phòng đã sinh hoa kết quả. Nhưng không biết bao nhiêu giông tố bão táp kinh hoàng đã bao phủ!! Người ta không thể nào kể hết biết bao cuộc bố ráp, lùng kiếm, bắt bớ, giam cầm, sát hại những lớp giáo dân Việt Nam đầu tiên, dưới thời chúa Trịnh miền Bắc, và chúa Nguyễn, nhà Tây Sơn, các vua nhà Nguyễn và Phong Trào Văn Thân tại miền Nam...

Ngày nay, các nhà viết sử làm sao có thể đo lường được mức độ tàn bạo dã man đến kinh hoàng với muôn vàn hình thức khác nhau mà các nhà cầm quyền thời đó đã thi đua sáng kiến ròng rã bốn thế kỷ (XVI-XIX) trong cố gắng dập tắt Niềm Tin Công Giáo của cha ông chúng ta vào Đức Kitô!! Nào giam cầm tù ngục, tan xương nát thịt, máu chảy đầu rơi, voi giầy ngựa xéo, quẳng vào vạc dầu sôi, nhốt trong cũi sắt, cũng không làm các ngài quá khoá nghĩa là chối bỏ niềm tin vào Đức Kitô!!

Kết thúc 400 năm kéo dài trong đau thương đẫm máu đó của Giáo Hội CGVN là trên 130.000 tín hữu CG đầu tiên đã tuẫn tiết, can trường chấp nhận cái chết để trung thành trong Niềm Tin vào Thiên Chúa!! 400 năm giảng đạo đã biến thành 400 năm sống trong cảnh máu chảy đầu rơi!!

Nhận định về cuộc sống và cái chết các vị Tử Đạo VN, người ta thấy các Ngài không sống và chết cho mình hoặc vì những lý do trần tục như danh vọng, địa vị, tiền bạc! Các Ngài đã sống trên miền đất Quê Hương mà chúng ta đã sống và phục vụ! Các Ngài đã trở thành Chứng Nhân của Niềm Tin sắt đá vào Đức Kitô, đã thà chết hơn là chối bỏ!! Muốn thế, các Ngài phải lựa chọn giữ trung thành và phản bội, giữa sự sống và cái chết, giữa Đức Kitô và thế tục. Chính những nguyên nhân đó đã khiến thế giới Công Giáo luôn ngưỡng mộ và không ngừng khâm phục Tinh Thần Bất Khuất của Cha Ông chúng ta.

Dưới một khía cạnh nào đó, chúng ta cũng có thể nói các vị Tử Đạo Việt Nam là những Chứng Nhân tiền phong cho Nhân Quyền trên thế giới, đã đánh đổi chính mạng sống mình để mọi người sau này được tự do sống đạo và hành đạo mà ngày nay chúng ta gọi là Quyền Tư Do Tôn Giáo, vì trước đây 5 thế kỷ làm gì có tổ chức Liên Hiệp Quốc và bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền.

Chứng nhân nhân quyền thời nay.

Một vấn đề quan trọng khác mà hôm nay chúng tôi xin thưa với qúy vị: Đó là dòng máu tử đạo vẫn còn đang chảy lênh láng trên quê hương Việt Nam. Với chủ trương vô thần, chính quyền Cộng Sản vẫn đang thực hiện chính sách đàn áp mọi quyền ttự do căn bản của con người với những biện pháp tinh vi khoa học hơn trước đây rất nhiều.

Là một Linh Mục đã đi cải tạo 13 năm trong ngục tù CS, chỉ vì đã phục vụ trong ngành Tuyên Úy Công Giáo/QLVNCH. Kinh nghiệm bản thân cho chúng tôi hay hiện nay trên thế giới không có chế độ lao tù nào dã man tàn bạo bằng các nhà tù Việt Cộng, vì họ đã tích lũy kinh nghiệm coi tù từ Liên Xô, Trung Cộng, các nước Đông Âu cộng với những mánh lới ác độc của Việt Cộng.

Kể từ ngày 30/4/1975, khi những người Cộng Sản từ miền Bắc cưỡng chiếm miền Nam, theo lượng đoán của những nhà viết sử thì tổng số các Linh Mục VN dòng và triều đã đi tù cải tạo là trên 200 vị, trong đó gần 30 vị bị chết trong tù. Ngày nay, nếu người ta cần phải nêu cao tấm gương của một Linh Mục VN đã dâng hiến trọn vẹn đời mình cho Quê Hương và Giáo Hội như nhà ái quốc Ái Nhĩ Lan O'Conor đã tuyên bố trước khi bị hành quyết: Trái tim tôi xin dâng hiến cho Thiên Chúa, còn thân xác này, xin gửi lại dân tộc Ái Nhĩ Lan thì con người Việt Nam đó không ai khác, chính là Linh Mục Tađêô NGUYỄN VĂN LÝ.

Chính Cha Lý là người đã thể hiện lời tuyên bố của Đức Kitô Không có tình yêu nào cao qúy bằng chết vì người khác Do đó, cuộc sống của Cha Lý đã trở thành biểu tượng cho những khát vọng tha thiết nhất cho Tự Do và Nhân Quyền của mọi người, đặc biệt cho quyền Tự Do Tôn Giáo không chỉ riêng cho 8 triệu người Công Giáo mà cho tất cả các tôn giáo tại Việt Nam. Chính Cha Lý là người đã thực hiện hoàn hảo nhất Lý Tưởng mà Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đã công bố trong Thư Chung 1980 sau khi thống nhất đất nước. Sống Phúc Âm Giữa Lòng Dân Tộc vì Quê Hương này là nơi chúng ta được Thiên Chúa mời gọi để sống làm con của Chúa. Và Dân Tộc này là Cộng Đồng mà Thiên Chúa trao cho chúng ta để phục vụ với tư cách vừa là Công Dân trần thế vừa là thành phần Dân Chúa.

Vậy, Nguyễn Văn Lý, Ngài là ai?

. Nguyễn Văn Lý là một Linh Mục Công Giáo Việt Nam, tên Thánh là Tađêô, sinh ngày 15 tháng 5 năm 1946, tại làng Ba Bình, xã Vĩnh Chấp, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị, miền Trung Việt Nam trong một gia đình có truyền thống Công Giáo đạo đức.

. Năm 1963, lên 17 tuổi, cậu Lý muốn dâng hiến cuộc đời cho Thiên Chúa và được Linh Mục Nguyễn Như Tự bảo trợ và giới thiệu vào tu học tại tiểu chủng viện Hoan Thiện, thành phố Huế.

. Năm 1966, lúc 20 tuổi, thầy Lý được Bề Trên giáo phận tuyển chọn để theo ban Triết học và Thần học tại Đại chủng viện Xuân Bích, Huế.

. Sau 11 năm tu luyện, nguyện ước trở thành mục tử của Chúa đã trở thành hiện thực, tháng 4 năm 1974, Thầy Tađêô Nguyễn Văn Lý đã được hân hạnh thụ phong Linh Mục tại nhà thờ chính tòa Phủ Cam, thành phố Huế dưới sự đặt tay của Đức Tổng Giám Mục Philipphê Nguyễn Kim Điền. Năm đó, Cha Lý đúng 28 tuổi.

Sau đó tân Linh Mục Nguyễn Văn Lý xin gia nhập Hội Thừa sai do Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Kim Điền sáng lập, với mục đích hoạt động truyền giáo nơi những vùng dân cư nghèo khó. Ngài được bổ nhiệm phụ trách Cộng Đoàn Thừa sai tại quận Gò Vấp, tỉnh Gia Định.

Một biến cố đau thương nhất của dân tộc xảy đến, sau ngày 30/4/1975, tân Linh Mục được gọi trở về Huế làm Thư ký cho Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Kim Điền. Vì được hân hạnh làm bí thư bên cạnh một vị Giám Mục nổi tiếng đạo đức và yêu nước la Đức TGM Nguyễn Kim Điền nên Cha Lý đã nối gót Ngài đi vào con đường tranh đấu cho Giáo Hội và Quê Hương Dân Tộc.

Tính đến nay (năm 2009) Cha Lý đã 63 tuổi, thụ phong Linh Mục 35 năm, đã bị CSVN kết án 4 lần tổng cộng 53 năm. Ngài đã ở tù 16 năm, không kể thời gian bị quản chế; đây là 4 lần bị ra toà lãnh án

- Tháng 9 năm 1977, bị kết án 20 năm tù với tội danh chống phá cách mạng, bị giam tại Thừa Phủ, Huế.

- Tháng 5 năm 1983, bị kết án 10 năm tù và 4 năm quản chế với tội danh gây rối trật tự xã hội bị giam tại Thanh Cẩm (Thanh Hoá) và Ba Sao (Nam Hà).

- Tháng 10 năm 2001, bị kết án 15 năm tù và 5 năm quản chế với tội danh phá hoại chính sách đoàn kết bị đưa về giam tại trại tù Ba Sao (Nam Hà).

- Ngày 8 tháng 4 năm 2006, Ngài thành lập Khối 8406 quy tụ tất cả những ai muốn tranh đấu cho Nhân Quyền tại Việt Nam.

- Ngày 30 tháng 3 năm 2007, cách đây đúng 2 năm, Cha Lý bị kết án 8 năm tù và 5 năm quản chế với tội danh tuyên truyền chống phá Nhà Nước. Đây là một phiên tòa quái đản trơ trẻn bất công nhất thế giới, không có luật sư biện hộ, không nhân chứng, thân nhân không được tham dự!! Cha Lý bị còng tay, lôi kéo ra trước tòa, một nhân viên an ninh mặc thường phục đã lấy tay bịt miệng Ngài! Hình ảnh một Linh Mục bị còng tay trước tòa , gợi cho ta hình ảnh Đức Kitô bị điệu trước toà án Philatô. Nhưng Philatô hỏi, chúa Giêsu còn được trả lời, còn Cha Lý bị bịt miệng.

Chính hình ảnh bịt miệng trước tòa đã tố cáo đời sống bi đát hiện nay của 80 triệu đồng bào chúng ta trong một cuộc sống đọa đày dưới áp bức bạo tàn.


Quả thật, hình ảnh bịt miệng đã đánh động lương tâm nhân loại khiến Quốc Hội Hoa Kỳ và Quốc Hội Âu Châu đã vinh danh Cha Lý là một người tù bất khuất và Hội Đồng Giám Mục Đức dành cả một năm để cầu nguyện cho Việt Nam và cho Ngài. Và lần đầu tiên trong lịch sử, 165 Linh Mục VN hải ngoại trên khắp thế giới đã chính thức công bố Bản Lên Tiếng hỗ trợ cuộc tranh đấu cho Tự Do Tôn Giáo và Nhân Quyền do Cha Lý phát động.

Là những người VN sống xa Quê Hương nhưng vẫn nặng lòng với Dân Tộc, hôm nay chúng ta tụ họp nơi đây để dâng lên Thiên Chúa những lời cầu nguyện tha thiết nhất phát xuất tận đáy lòng để cầu nguyện cho Quê Hương VN thân yêu sớm thoát khỏi nạn CS vô thần, đặc biệt cầu cho Cha Lý kiên tâm vững chí bước theo Đức Kitô.

Cầu cho Cha Lý hôm nay, chúng ta không quên cầu cho tất cả những tù nhân khác đang làm chứng cho Công Lý và Sự Thật, vì chỉ có Công Lý và Nhân Quyền mới giải phóng con người và đất nước chúng ta.

(Nguyễn Lý-Tưởng đánh máy lại và gửi đến các cơ quan truyền thông, báo chí và thân hữu để tuỳ nghi...Westminster, California, lúc 3 giờ PM ngày 28/3/2009)


CẢNH GIÁC NHÀ CẦM QUYỀN HÀ NỘI VỀ VIỆC PHÂN ĐỊNH THỀM LỤC ĐỊA VIỆT NAM - Luật sư Nguyễn Hữu Thống

Chính quyền nào rồi cũng qua đi
Nhưng dân tộc và đất nước thì vẫn còn mãi
    ỦY BAN LUẬT GIA VIỆT NAM BẢO VỆ DÂN QUYỀNCẢNH GIÁC NHÀ CẦM QUYỀN HÀ NỘI VỀ VIỆC PHÂN ĐỊNH THỀM LỤC ĐỊA VIỆT NAM
Luật sư Nguyễn Hữu Thống

Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển

Luật Sư Nguyễn Hữu Thống
Từ khi biết sống hợp quần trong xã hội để thành lập quốc gia, con người đã biết đặt ra luật lệ để giải quyết các tương quan về quyền lợi và nghĩa vụ trong sinh hoạt cộng đồng.

Địa cầu gồm 3 phần đất và 7 phần nước. Nếu có luật quốc tế tại các lãnh thổ thì cũng phải có luật biển cho miền lãnh hải hay hải phận.

Ngày 10-12- 1982, 119 quốc gia đã ký Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển trong đó có Trung Quốc và Việt Nam. Muốn thành luật, Công Ước phải được đa số các quốc gia kết ước phê chuẩn. Ngày 16-11-1993, 60 quốc gia đã phê chuẩn Công Ước, và một năm sau, ngày 16-11-1994 Công Ước có hiệu lực chấp hành.

Danh từ lãnh thổ bao gồm cả lục địa, hải phận và không phận.

Tại vùng hải phận đường cơ sở (baseline) thông thường là lằn mức thủy triều xuống thấp.

Biển lãnh thổ (territorial sea) rộng 12 hải lý tính từ đường cơ sở ra khơi

Cần phân biệt giữa biển lãnh thổ và lãnh hải hay hải phận của quốc gia duyên hải (maritime zone).

Theo án lệ cố định của Tòa Án Quốc Tế The Hague và chiếu Điều 8 Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, biển lịch sử (historic waters) chỉ là nội hải (internal waters).

Muốn có biển lịch sử phải hội đủ 3 điều kiện:

a. Quốc gia duyên hải đang hành sử chủ quyền;
b. Sự hành sử chủ quyền có tính liên tục và trường kỳ;
c. Các quốc gia kế cận và đối diện thừa nhận chủ quyền của quốc gia duyên hải.

Dầu sao biển lịch sử chỉ là nội hải tọa lạc trên đất liền, về phía bên trong đường cơ sở của biển lãnh thổ.

Như vậy biển lịch sử của Trung Hoa hay Lưỡi rồng Trung Quốc chỉ là nội hải. Nó không thể là Biển Nam Hoa hay Biển Đông Nam Á cách Hoa lục đến 2000 cây số.

Vùng đặc quyền kinh tế rộng 200 hải lý để đánh cá chạy từ biển lãnh thổ ra khơi.

Thềm lục địa để thăm dò và khai thác dầu khí trùng điệp với vùng đặc quyền kinh tế để đánh cá và cũng rộng 200 hải lý (370 km).

Chiếu Điều 76 Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, thềm lục địa pháp lý (legal continental shelf) của các quốc gia duyên hải dài 200 hải lý tính từ biển lãnh thổ ra khơi. Ngoài ra còn có thềm lục địa địa chất (geological continental shelf) có thể kéo dài tối đa đến 350 hải lý (650 km), nếu về mặt địa chất và địa hình, đáy biển là sự tiếp nối tự nhiên của lục địa từ đất liền ra ngoài khơi trên triền biển sâu đến mũi xa bờ nhất của nền lục địa (continental margin).

Đó là một yếu tố đặc thù của các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Tại Hoàng Sa, thềm lục địa địa chất nằm trên nền lục địa, chạy thoai thoải từ dẫy Trường Sơn ra biển, phía đông Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi. Độ sâu nhất quanh đảo Hoàng Sa là 900 mét. Về mặt địa chất và địa hình, đáy biển Hoàng Sa là sự tiếp nối tự nhiên của dẫy Trường Sơn từ Cù Lao Ré ra các đảo Tri Tôn, Hoàng Sa và Phú Lâm. Đây là những cao nguyên của lục địa Việt Nam trên mặt biển. Nếu nước biển rút xuống 900 mét thì toàn thể các hải đảo Hoàng Sa sẽ biến thành một dẫy hành lang chạy thoai thoải từ Trường Sơn ra Biển Đông.

Năm 1925 nhà địa chất học quốc tế, Tiến Sĩ khoa học A. Krempt, Giám đốc Viện Hải Học Đông Dương, sau 2 năm nghiên cứu, phân chất đất đai, đo đạc, vẽ bản đồ các hải đảo và đáy biển đã lập phúc trình kết luận rằng: “Về mặt địa chất những đảo Hoàng Sa là thành phần của Việt Nam” (Geologiquement les Paracels font partie du Vietnam).

Trong khi đó từ quần đảo Hoàng Sa về Hoa lục có một rãnh biển sâu hơn 2300 mét. Vì đáy biển Hoàng Sa không phải là sự tiếp nối tự nhiên của lục địa từ đất liền ra ngoài biển, Trung Quốc không có hy vọng đòi nới rộng thềm lục địa Trung Hoa từ 200 hải lý đến 350 hải lý như trường hợp Việt Nam.

Vả lại các đảo Hoàng Sa tọa lạc tại các vĩ tuyến 17-15 bắc, cách bờ biển Việt Nam khoảng 160 hải lý và cách Hoa lục tới 270 hải lý, nên thuộc thềm lục địa của Việt Nam.

Tại Trường Sa cũng vậy. Về mặt địa chất và địa hình đáy biển, Trường Sa là sự tiếp nối tự nhiên từ lục địa Việt Nam ra ngoài biển. Tại bãi Tứ Chính, nơi khai thác dầu khí, biển sâu không tới 400 mét, và tại vùng đảo Trường Sa và cồn An Bang (do Việt Nam chiếm cứ), độ sâu chỉ tới 200 mét. Bãi Tứ Chính cách bờ biển Việt Nam khoảng 170 hải lý và cách Hoa lục tới 800 hải lý. Các đảo Trường Sa tọa lạc tại các vỹ tuyến 12-8 bắc (từ Cam Ranh đến Cà Mâu), cách bờ biển Việt Nam 220 hải lý và cách Hoa lục tới 750 hải lý, nên thuộc hải phận của Việt Nam.

Hơn nữa về mặt địa chất và địa hình, đáy biển Trường Sa cách bờ biển Trung Quốc bằng một rãnh biển sâu hơn 4 ngàn mét. Vì đáy biển không phải là sự tiếp nối tự nhiên của lục địa từ đất liền ra ngoài biển, Trung Quốc không có hy vọng đòi nới rộng thềm lục địa đến mức 350 hải lý. Trong mọi trường hợp, các đảo Trường Sa cách Hoa lục quá xa, từ 700 đến 800 hải lý, vượt quá mức tối đa 350 hải lý dành cho thềm lục địa địa chất, nên không thuộc chủ quyền lãnh thổ của Trung Q uốc,

Khác với vùng đặc quyền kinh tế đánh cá, thềm lục địa (pháp lý hay địa chất) thuộc chủ quyền tuyệt đối và đặc quyền chuyên hữu của quốc gia duyên hải trong việc thăm dò và khai thác dầu khí. Các quốc gia duyên hải không phải chia dầu khí cho ai, mặc dầu chưa khai thác hay không khai thác hết (các Điều 77 và 81). Các quốc gia khác không được quyền đến thăm dò hay khai thác dầu khí nếu không có sự ưng thuận minh thị của quốc gia duyên hải. Mọi sự vi phạm bằng cách chiếm cứ, dầu có võ trang hay không, cũng đều bất hợp pháp và vô hiệu lực.

Hơn nữa, tại thềm lục địa, quyền của các quốc gia duyên hải không tùy thuộc vào điều kiện phải có sự chiếm cứ (occupation), thăm dò (exploration), khai thác (exploitation) hay công bố minh thị (express proclamation). Do đó, mặc dầu không còn chiếm cứ các đảo tại Hoàng Sa từ 1974, Việt Nam vẫn không mất chủ quyền tuyệt đối và đặc quyền chuyên hữu tại quần đảo này.

Trong những năm 1974, 1988 và 1992 Trung Quốc đã chiếm cứ võ trang một số đảo, cồn, đá, bãi tại Hoàng Sa và Trường Sa. Đây là những hành động vi phạm thô bạo Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển. Dầu sao sự chiếm cứ bất hợp pháp này cũng không có tác dụng tước đoạt chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam tại thềm lục địa. Hành vi bạo hành dầu kéo dài bao lâu cũng không làm mất tính bạo hành của nó. Và sự bạo hành võ trang không được viện dẫn quy chế tiêu diệt thời hiệu theo luật lệ hiện hành tại các quốc gia văn minh trên thế giới.

Đơn yêu cầu mở rộng thềm lục địa của Việt Nam

Chiếu Điều 4 Phụ Đính 2 Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, các quốc gia duyên hải có quyền đệ đơn tại Ủy Ban Phân Định Thềm Lục Địa (Commission on the Limits of the Continental Shelf) để được hưởng quy chế thềm lục địa địa chất đến mức tối đa 350 hải lý, trong trường hợp nền lục địa của quốc gia duyên hải dài hơn thềm lục địa pháp lý (200 hải lý).

Thời hạn đệ đơn yêu cầu mở rộng thềm lục địa là 10 năm kể từ khi Công Ước có hiệu lực chấp hành (tháng 11-1994).

Qua năm 1995, nhân kỳ Đại Hội Khu Vực Hiệp Hội các Quốc Gia Đông Nam Á (ASEAN) họp tại Brunei, Ủy Ban Luật Gia Việt Nam Bảo Vệ Dân Quyền đã gửi 7 vị nguyên thủ quốc gia thuộc tổ chức ASEAN một bản tường trình về vụ tranh chấp tại Hoàng Sa Trường Sa trên bình diện công pháp quốc tế. (Lúc này Việt Nam đã gia nhập ASEAN). Trong phần kết luận, Ủy Ban Luật Gia yêu cầu Khối ASEAN đổi danh xưng Biển Nam Hoa (South China Sea) thành Biển Đông Nam Á (Southeast Asia Sea). Đồng thời đề nghị Khối ASEAN triệu tập những cuộc đàm phán đa phương để giải quyết toàn bộ vấn đề tranh chấp tại Biển Đông Nam Á giữa các Quốc Gia hội viên của Hiệp Hội các Quốc Gia Đông Nam Á..

Riêng đối với Việt Nam, Ủy Ban Luật Gia cũng đề nghị nhà cầm quyền triệu dụng các luật gia và chuyên gia trong các tổ chức hải dương quốc tế (như Viện Hải Dương Đông Tây tại Hawaii) để lập bản tường trình về những yếu tố đặc thù liên quan đến địa lý, địa hình và địa chất tại Hoàng Sa và Trường Sa theo các tiêu chuẩn hướng dẫn của Liên Hiệp Quốc. Mục đích để kiện toàn hồ sơ yêu cầu Ủy Ban Phân Định Thềm Lục Địa chấp thuận cho Việt Nam được mở rộng thềm lục địa từ 200 hải lý cho đến mức 350 hải lý. Về thủ tục tố tụng Ủy Ban Luật Gia cũng lưu ý rằng thời hạn đệ đơn là 10 năm chiếu Điều 4 Phụ Đính 2 Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển. Thời hạn này sẽ mãn vào tháng 11-2004.

Từ đó đến nay đã 14 năm, nhà cầm quyền Hà Nội vẫn im lìm bất động. Hơn nữa, năm 2000, Chính phủ Hà Nội còn ký một hiệp ước bất bình đẳng về Hợp Tác Nghề Cá với Trung Quốc. Trong hiệp ước này có điều khoản quy định rằng, khi dầu khí được phát hiện, hai bên sẽ khởi sự khai thác dầu khí chung tại thềm lục địa đồng thời với sự hợp tác đánh cá trong vùng đặc quyền kinh tế tại Vịnh Bắc Bộ.

Theo những tin tức mới đây, căn cứ vào thỉnh nguyện của một số quốc gia hội viên, Ủy Ban Phân Định Thềm Lục Địa Liên Hiệp Quốc đã đồng ý triển hạn cho các quốc gia kết ước hay gia nhập Công Ước trước ngày 13-5-1999 (như Việt Nam) được có thời hạn 10 năm nghĩa là đến ngày 13-5-2009 để đệ đơn yêu cầu mở rộng thềm lục địa từ 200 hải lý đến 350 hải lý.

Quyết định này căn cứ vào hai sự kiện sau đây:

1. Mặc dầu Công Ước đã có hiệu lực chấp hành từ tháng 11-1994, vậy mà 3 năm sau, mãi tới tháng 5-1997, các ủy viên trong Ủy Ban Phân Định Thềm Lục Địa mới được tuyển chọn.

2. Hơn nữa, mãi tới ngày 13-5-1999 Ủy Ban Phân Định mới soạn thảo và công bố Cương Lĩnh hướng dẫn các quốc gia hội viên về các tiêu chuẩn phải khai trình về mặt chuyên môn và về khoa học kỹ thuật.

Vì có sự chậm trễ 5 năm, Ủy Ban Phân Định đã đồng ý cho triển hạn thêm 5 năm (từ ngày 16-11-2004 đến ngày 13-5-2009) để các quốc gia hội viên đệ nạp hồ sơ.

Điều đáng lưu ý là đơn thỉnh nguyện có thể chưa viện dẫn đầy đủ các dữ kiện và yếu tố theo các tiêu chuẩn ghi trong Cương Lĩnh về Khoa Học Kỹ Thuật ngày 13-5-1999 của Ủy Ban Phân Định. Trong trường hợp này các quốc gia đệ đơn có thể dành quyền sẽ xuất trình thêm tài liệu về những yếu tố và dữ kiện bổ túc để kiện toàn hồ sơ.

Vì những lý do nêu trên, cũng như năm 1995, một lần nữa, Ủy Ban Luật Gia Việt Nam Bảo Vệ Dân Quyền cảnh giác và khuyến cáo nhà cầm quyền Hà Nội đệ đơn thỉnh nguyện tại Ủy Ban Phân Định Thềm Lục Địa Liên Hiệp Quốc trong thời hạn luật định, nghĩa là trước ngày 13-5-2009.

Mục đích để bảo vệ và tranh thủ tối đa chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam tại các thềm lục địa nơi tọa lạc các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Cùng đồng bào trong và ngoài nước, Ủy Ban Luật Gia sẽ quan tâm theo dõi thái độ, hành động và tinh thần trách nhiệm của nhà cầm quyền Hà Nội trong việc thi hành nhiệm vụ lịch sử này. Nếu còn ngoan cố hay bất lực, bất cứ vì lý do gì, Chính Phủ và Đảng Cộng Sản sẽ phải chịu tội trước Quốc Dân và Lịch Sử.

Làm tại Hải ngoại ngày 20-2-2009

T.M. Ủy Ban Luật Gia Việt Nam Bảo Vệ Dân Quyền
Luật Sư Nguyễn Hữu Thống