Monday, March 30, 2009

HUYẾT TÂM THƯ (UBTV ĐẢNG TTVN)


ĐẢNG THĂNG TIẾN VIỆT NAM
VIETNAM PROGRESSION PARTY (VNPP)
Việt Nam, ngày 24 tháng 03 năm 2009
    HUYẾT TÂM THƯ
Kính gửi:
    - Toàn Thể Người Việt Nam trong và ngoài nước
    - Ban điều hành lâm thời Khối 8406
    - Các Tổ chức - Tôn Giáo- Đảng phái phi cộng sản
    - Các Cơ quan Truyền thông - Báo chí trong - ngoài nước
Mỗi năm vào những ngày này chúng tôi không tránh khỏi bùi ngùi nhớ đến ngày OAN NGHIỆT của Vị lãnh đạo tinh thần kính mến LM Nguyễn Văn Lý và các anh em ĐẢNG TTVN đã đấu tranh Tự Do -Dân Chủ cho ĐỒNG BÀO VN mà bị nhà cầm quyền csVN kết án OAN SAI!

Mối hận này không những riêng các thành viên Khối 8406 hay của đảng TTVN mà của cả Đồng bào và các Dân tộc yêu chuộng TỰ DO - DÂN CHỦ .

"NHẤT NHẬT TẠI TÙ- THIÊN THU TẠI NGOẠI", nhưng Cha Lý đã không ngần ngại đau khổ mà Ngài còn sẵn sàng tranh đấu trực diện và rằng: "TỰ DO HAY LÀ CHẾT" !

Gần cả cuộc đời, Ngài sống vì ĐẠO và luôn nghĩ đến việc cứu ĐỜI.

Bao nhiêu lần bị tù đày chỉ vì hai chữ TỰ DO.

Cộng sản coi TỰ DO là kẻ thù, có TỰ DO thì không thể ĐỘC TÀI, không thể ĐÈ ĐẦU - CƯỠI CỔ người dân lương thiện.

Chủ trương chính sách của cs là: "NGU DÂN & BẦN CÙNG HÓA NHÂN DÂN " !

Nghèo đói lấy đâu ăn học mà không ngu dốt, và đã dốt nát thì chỉ làm tay sai - nô lệ truyền kiếp.

Cộng sản luôn luôn dùng chiêu bài: ĐÁNH ĐỔ GIAI CẤP BÓC LỘT (Tư bản), ĐẤU TRANH GIAI CẤP ĐỂ GIẢI PHÓNG DÂN NGHÈO, nhưng chính bọn chúng không những bóc lột mà còn ăn cướp của dân một cách trắng trợn.

Tuy thế chưa thỏa mãn còn tiếp tục gây tội lỗi tày trời: CẮT ĐẤT - GIAO BIỂN ĐÔNG cho Trung cộng & CHUẨN BỊ BÁN NƯỚC nếu Đồng bào cứ im lặng cúi đầu khuất phục!
    Hỡi tất cả những Người Việt nam !
    Nước Việt Nam còn, là còn Người Việt !
    Nếu nước VN mất , thì chúng ta là người gì ???
    CHÚNG TA MỖI NGƯỜI VN THÀ CHẾT CÒN HƠN CHỨ KHÔNG THỂ CHẤP NHẬN LÀ NGƯỜI TÀU !!!
Mất nước đến nơi mà nhiều người vẫn chưa thức tỉnh, vẫn còn nhẹ dạ tin nghe những luận điệu tuyên truyền lừa gạt của csVN . Thậm chí một vài tổ chức do những tên BẮT CÁ HAI TAY cầm đầu vẫn còn hy vọng sẽ có Jelsin thứ II, rồi yên tâm chờ SUNG RỤNG .

Trước lễ Giáng sinh, công an nói với anh Nguyễn Bình Thành (Đảng TTVN) rằng anh sẽ được thả trong dịp Tết Nguyên Đán.

Mặt khác cũng chính công an csVN tung tin là trong tháng 3 năm 2009 này Cha Lý và LS LTCN sẽ được thả về.

Dĩ nhiên chúng tôi mừng khi nghe tin, nhưng chúng tôi không tin !

Chúng tôi không bao giờ quên câu nói bất hủ của Cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu "ĐỪNG NGHE NHỮNG GÌ CS NÓI - MÀ HÃY NHÌN KỸ NHỮNG GÌ CS LÀM " !

Chúng ta đã thấy tất cả SỰ THẬT những gì csVN đã và đang làm, chúng ta không thể thơ ngây tin tưởng bất cứ một luận điệu nào của csVN, cũng như không ỷ lại trông chờ thế lực của ngoại bang, mà chính mỗi một người dân VN phải tự đứng lên giải phóng ÁP BỨC cho chính mình dưới sự lãnh đạo của các tổ chức đấu tranh TD-DC chân chính trong nước.

Cha Lý đã nhắn nhủ: "ĐẤU TRANH PHẢI QUYẾT LIỆT, ....."

Mới đây Cha Lý đã nhắn lời ra thăm tất cả các anh em, bạn bè thân thiết và cho biết: "NGÀI LÚC NÀO CŨNG KIÊN VỮNG , CŨNG ... DÙ Ở ĐÂU"!

Vì sự nghiệp đấu tranh chung cho TD-DC Việt Nam Uỷ Ban Thường Vụ Đảng TTVN đề nghị :

Thứ nhất:

- Yêu cầu các Vị điều hành lâm thời Khối 8406 (LM Phan Văn Lợi, Kỹ sư Đỗ nam Hải, Anh Trần Anh Kim, GS Nguyễn Chính Kết) không vì bất cứ lý do gì mà bỏ tên Cha Lý trong danh sách Ban Lãnh Đạo Khối 8406, bởi Cha Lý là Người sáng lập Khối 8406 không những người Việt mà cả Thế giới ngưỡng mộ và kính trọng.

Chúng tôi cảm thấy việc bỏ tên Cha Lý ra khỏi danh sách NHƯ MỘT HÀNH ĐỘNG KÉO CỜ ĐẦU HÀNG.

Trong khi Cha Lý vẫn sống, vẫn kiên vững đấu tranh dù ở đâu. Đó là chưa nói đến việc xúc phạm DANH DỰ của Cha Lý và UY TÍN của cả phong trào đấu tranh Tự D0-Dân Chủ cho VN.

Ngay sau khi Cha Lý bị bọn csVN kết án OAN SAI theo luật rừng, Quý Vị đã bỏ tên Cha Lý trong danh sách Lãnh đạo Khối 8406, chúng tôi đã viết thư 2 lần cho LM Phan Văn Lợi đề nghị ghi tên Cha Lý vào, nhưng LM Lợi không trả lời.

Vì vậy UBTV ĐẢNG TTVN yêu cầu các Vị Lãnh đạo lâm thời Khối 8406 nói trên ghi tên Cha Lý vào danh sách BAN LÃNH ĐẠO Khối 8406 như ban đầu.

Thứ hai:

Khối 8406 là một tập hợp QUẦN CHÚNG RỘNG RÃI bao gồm các Tổ chức, Đảng phái không cs và toàn dân, trong đó Đảng TTVN là một trong những thành viên nòng cốt. Chúng tôi luôn mong muốn góp sức cùng Quý Vị để đấu tranh Tự Do-Dân Chủ một cách hữu hiệu cho đồng bào VN.

Kinh nghiệm qua các cuộc Cách mạng Tự Do-Dân Chủ tại Đông Âu và Nam Tư (Yugoslavia), họ vận động đồng bào xuống đường với sự dẩn đầu của các nhà Lãnh đạo Dân chủ cho đến ngày thành công, họ bất chấp thời gian và khí hậu lạnh. Cuộc xuống đường của đồng bào Nam Tư kéo dài hai tháng trường dưới sự DẨN ĐẦU của Vị Lãnh tụ phong trào đấu tranh TD-DC và họ đã thành công.

Vẫn biết: "Viết 10 pho triết không khó bằng thực hiện một phương châm", nhưng không có nghĩa khó không làm được. Các nước Đông Âu và Nam Tư họ làm được thì dân tộc VN cũng làm được !

Vấn đề là các Vị lãnh đạo Khối 8406 hiện nay có sẵn sàng hy sinh và can đảm như lãnh tụ của các nước nói trên hay không ?

Đảng TTVN sẵn sàng chung sức cùng Quý Vị và đồng bào khi tình huống xảy ra, trong điều kiện bảo mật vì csVN lúc nào cũng tìm kiếm Thành viên Đảng TTVN để bắt.

CSVN đã và đang sẵn sàng bán nước cho Trung cộng.

CHÚNG TA THÀ CHẾT CHỨ KHÔNG LÀM NÔ LỆ, KHÔNG ĐỘI TRỜI CHUNG !!!

Kính mong tất cả các Tổ chức - Tôn Giáo - Đảng phái và Đồng bào trong - ngoài nước cùng đồng tâm - nhất trí đứng lên CỨU NGUY DÂN TỘC & BẢO VỆ TỔ QUỐC VN !

Trân trọng kính chào

UBTV ĐẢNG TTVN

Chủ tịch
- Nguyễn Phước

Phó Chủ tịch
- Võ Đình Chương



Friday, March 27, 2009

HUYỀN SỬ TIÊN RỒNG: MINH TRIẾT UYÊN NGUYÊN CỦA DÂN TỘC - Đông Lan

Đông Lan

Huyền Thoại là tự truyện của một dân tộc được kể lại trong cái lung linh sử mệnh của dân tộc. Sử mệnh của một dân tộc là con đường tiền nhân mặc khải qua những thăng trầm, của phút nội tỉnh, những phút trổi vượt về miền tâm linh siêu việt, của những ước vọng hừng hực LỬA SINH SINH không mất đi trong hành trình sinh tử.

Do đó, Huyền sử là Tiềm Thức Cộng Thông của Dân Tộc, nơi đó tiền nhân gửi gấm linh hồn vượt không gian và thời gian qua huyền thoại.

Thật thế, Huyền sử là di bảo thiêng liêng, là giá trị tinh thần của dân tộc do bao đời kết tinh, là linh hồn của lịch sử. Huyền sử là ý nghĩa của sử, là đạo lý của sử, là mạch sống đời đời của sử. Nếu sử ký là Sử Hàng Ngang, nhằm ghi lại sự kiện bám sát vào không gian và thời gian, thì Huyền Sử là Sử Hàng Dọc, vượt lên, bao trùm không thời, đi vào cội nguồn của hồn sử. Những biến cố của sử ký có tính cách cá thể, chỉ xẩy ra một lần, trong một không gian và thời gian nhất định. Vì thế, địa danh và niên đại phải được ghi chép rõ rệt và trở thành quan trọng. Nhưng trái lại, ý nghĩa của Huyền sử nhắm tới cái gì phổ quát, vượt lý trí phân minh, đi vào miền thâm sâu của tiềm thức, tiếp cận miền vi tế của tâm linh. Vì thế những địa danh, niên đại, cũng như các nhân vật phải được hiểu một cách co dãn, trừu tượng, vì Huyền sử là đạo lý của dân tộc được gửi gấm qua những mảnh vụn lịch sử. Do đó, nếu sử ký là Sử Vòng Ngoài của những biến cố Ngoại Diện, thì Huyền Sử là Sử Vòng Trong của Tâm Linh Dân Tộc.

Hay nói cách khác, nếu sử ký là câu chuyện của Tử Sinh, thì Huyền sử là cõi Sinh Sinh Bất Tuyệt.

Do đó, muốn tiếp cận Ánh Sáng Tâm Linh của Huyền Sử, con người cần phải thả lỏng các ràng buộc của quy luật sử ký, cần dọn tâm hồn cho trống rỗng, tâm không nghiêng lệch, ô nhiễm từ bất cứ ý niệm nào. Cùng nhau, chúng ta, những người con Việt muôn phương, mở lòng ra, lòng Hư Không, và bắt đầu cung kính mở trang đầu tiên Huyền Sử Việt. Cuộc hội thoại với Tâm Linh Dân Tộc chỉ cần một hành trang duy nhất là không một hành trang gì được mang theo – Đọc Huyền Sử với Tâm Vô Tư, Vô Nhiễm, Vô Cầu.

* ( Chính Văn) Truyện Hồng Bàng

Cháu ba đời Viêm Đế họ Thần Nông tên là Đế Minh, sinh ra Đế Nghi, rồi đi tuần đến núi Ngũ Lĩnh, gặp được nàng con gái Vụ Tiên đem lòng yêu mến mới cưới về, sinh ra Lộc Tục, dung mạo đoan chính, thông minh túc thành; Đế Minh lấy làm lạ, cho nối ngôi vua; Lộc Tục cố nhường cho anh, Đế Minh lập Đế Nghi làm tự quận cai trị phương Bắc, phong Lộc Tục làm Kinh Dương Vương cai trị phương Nam, đặt quốc hiệu là Xích Quỷ Quốc.

Kinh Dương Vương xuống thủy phủ, cưới con gái vua Động Đình là Long Nữ, sinh ra Sùng Lãm tức là Lạc Long Quân; Lạc Long Quân thay cha để trị nước, còn Kinh Dương Vương thì không biết đi đâu. Lạc Long Quân dậy dân ăn mặc, bắt đầu có trật tự về quân thần, tôn ty, có luân thường về phụ tử, phu phụ; hoặc có lúc đi về thủy phủ nhưng trăm họ vẫn được yên ổn. Dân lúc nào có việc cần thời kêu Lạc Long Quân: “Bố đi đằng nào, không đến mà cứu chúng ta”, thì Lạc Long Quân lập tức đến ngay, uy linh cảm ứng không ai có thể trắc lượng được.

Đế Nghi truyền ngôi cho Đế Lai cai trị phương Bắc; nhân khi thiên hạ vô sự, sực nhớ đến chuyện ông nội là Đế Minh nam tuần gặp được tiên nữ Đế Lai bèn khiến Xi Vưu tác chủ quốc sự mà nam tuần qua nước Xích Quỷ thấy Long Quân đã về thủy phủ, trong nước không vua, mới lưu ái thê la Âu Cơ cùng với bộ chúng thị thiếp ở lại hành tại. Đế Lai chu du khắp thiên hạ, trải xem tất cả hình thể, trông thấy kỳ hoa, dị thảo, trân cam dị thú, tê tượng, đồi mồi, kim ngân, châu ngọc, hồ tiêu, nhũ hương, trầm đàn, các loại sơn hào hải vị, không thứ nào là không có; khí hậu bốn mùa lại không nóng không lạnh, Đế Lai ái mộ quá, quên cả ngày về.

Nhân sẵn về nên mới đem nhau kêu rằng: “Bố ở phương nào nước nam khổ về sự phiền nhiễu, không yên ổn như xưa, đêm ngày mong đợi Long Quân, nên mau về cứu nhân dân”.

Lạc Long Quân bỗng nhiên lại về, thấy nàng Âu Cơ ở một mình dung mạo đẹp lạ lùng, yêu quá mới hóa ra một chàng trai nhi lang phong tú mỹ lệ, tả hữu thị tùng đông đảo, tiếng đàn ca vang đến hành tại. Âu Cơ trông thấy mà lòng cũng ưng theo; Long Quân bèn rước nàng về núi Long Trang. Đế Lai về không thấy Âu Cơ bèn sai quân thần tìm khắp thiên hạ. Long Quân có thần thuật, biến hiện trăm cách, nào là yêu tinh quỷ mị, nào là long xà hổ tượng, kẻ đi tìm úy cụ, không dám lục đảo tận cùng. Đế Lai trở về Bắc lại truyền ngôi cho Đế Du Võng. Du Võng truyền lại cho Xi Vưu cùng với Hoàng Đế đánh nhau ở Bản Truyền và Trác Lộc không hơn nên tử trận. Họ Thần Nông biến mất.Âu Cơ ở với Lạc Long Quân, sinh ra một bọc trứng, cho là điềm không hay nên bỏ ra ngoài đồng nội; hơn bảy ngày, trong bọc nở ra một trăm trứng, mỗi trứng là một con trai, bà đem về nuôi nấng, không phải cho ăn, cho bú mà tự nhiên trường đại, trí dũng song toàn, ai cũng uy phục, bảo nhau đó là những anh em phi thường.

Long Quân ở lâu dưới Thủy Phủ; mẹ con ở một mình, nhớ về Bắc quốc liền đi lên biên cảnh; Hoàng Đế nghe tin lấy làm sợ mới phân binh ngày đêm trấn ngự quan tái; mẹ con không về Bắc được, đêm ngày gọi Long Quân “Bố ở phương nào làm cho mẹ con ta thương nhớ!” Long Quân hốt nhiên lại đến, gặp mẹ con ở Tương Dã. Âu Cơ nói:

-Thiếp vốn người Bắc, cùng ở một nơi với quân, sinh được một trăm trai mà không có gì cúc dưỡng, xin cùng theo nhau chớ nên xa bỏ, khiến cho ta là người không chồng không vợ, một mình vò võ.Lạc Long Quân bảo:

-Ta là loài rồng, sinh trưởng ở thủy tộc; nàng là giống Tiên, người ở trên đất, vốn chẳng như nhau, tuy rằng khí âm dương hợp lại mà có con, nhưng phương viên bất đồng, thủy hỏa tương khắc, khó mà ở cùng nhau trường cửu. Bây giờ phải ly biệt, ta đem năm mươi trai về thủy phủ phân trị các xứ, năm mươi trai theo nàng ở trên đất, chia nước mà cai trị, dù lên núi xuống nước nhưng có việc gì thì cùng nghe, không được bỏ nhau.

Trăm trai đều nghe mệnh, rồi mới từ giã ra đi. Âu Cơ cùng với năm mươi người con trai ở tại Phong Châu (bây giờ là huyện Bạch Hạc), tự suy tôn người hùng trưởng lên làm vua, hiệu là Hùng Vương, quốc hiệu là Văn Lang; về bờ cõi của nước thì Đông giáp Nam Hải, Tây đến Ba Thục, Bắc giáp Động Đình Hồ, Nam đến nước Hồ Tồn (bây giờ là nước Chiêm Thành), chia trong nuớc làm mười lăm bộ là: Giao Chỉ, Chu Diên, Ninh Sơn, Phúc Lộc, Việt Thường, Ninh Hải, Vũ Định, Dương Tuyền, Quế Dương, Vũ Ninh, Hoài Hoan, Cửu Chân, Nhật Nam, Quế Lâm, Tượng Quận, sai các em phân trị, đặt em thứ là tướng võ, tướng văn; tướng văn gọi là Lạc Hầu, tướng võ gọi là Lạc Tướng; con trai vua gọi là Quan Lang, con gái gọi là Mỵ Nương, quan Hữu Ty gọi là Bố Chính, thân bộc nô lệ gọi là nô tỳ, xưng thần là khởi, đời đời cha truyền con nối gọi là phụ đạo, thay đời truyền cho nhau đều hiệu là Hùng Vương không đổi.

Dân ở rừng núi xuống sông ngòi đánh cá, thường bị giao long làm hại nên bạch với vua. Vua bảo rằng:

- Ở núi là loài rồng cùng với thủy tộc có khác, bọn chúng ưa đồng mà ghét dị cho nên mới xâm hại.
Bèn khiến lấy mực châm hình trạng thủy quái ở thân thể, từ đó tránh được nạn giao long cắn hại; cái tục văn thân của Bách Việt thực khởi thủy từ đấy.

Ban đầu quốc dân ăn mặc chưa đủ, phải lấy vỏ cây làm áo mặc, dệt cỏ ống làm chiếu nằm; lấy gạo cất làm rượu, lấy cây quang lang, cây soa đồng làm bánh; lấy cầm thú, cá tôm làm nước mắm, lấy rễ gừng làm muối; lấy dao cầy, lấy nước cấy đất trồng gạo nếp, lấy ống tre thổi cơm, lấy cây làm nhà để tránh nạn hổ lang; cắt ngắn đầu tóc để tiện việc vào rừng núi, con đẻ ra lót lá chuối cho nằm; nhà có người chết thì giã cối gạo cho hàng xóm nghe mà chạy đến cứu giúp; trai gái cưới nhau trước hết lấy muối làm lễ hỏi, rồi sau mới giết trâu để làm lễ thành hôn, đem cơm nếp vào trong phòng cùng ăn với nhau cho hết, rồi sau mới tương thông; lúc bấy giờ chưa có trầu cau nên phải thế.

Bách Nam là thủy tổ của Bách Việt vậy.

* Ý Nghĩa

Qua Huyền Sử Hồng Bàng, dân tộc ta có truyền thuyết về nguồn gốc Người Việt là Con Rồng Cháu Tiên.

Như đã trình bầy ở trên, huyền thoại dân tộc là lời gửi gấm sâu xa về ý nghĩa nhiều hơn sự kiện. Tiên và Rồng là hai biểu tượng chỉ Hai Linh Lực của cuộc sống. Hai sức sống ngược chiều nhau như Tiên và Rồng trong huyền thoại, ví von như Tiên ở trên núi, Rồng gốc dưới nước. Hai sức đối nghịch không giống nhau được, như Hữu -Vô, Tán- Tụ, Tử- Sinh, Tâm-Vật, Lý-Tình v.v…Sự mâu thuẫn phải gây ra ly biệt, cho nên sự chia tay của Lạc Long Quân và Âu Cơ là sự chia tay tất yếu của lý trí khi nhìn ở sự cách ly của vạn hữu. Vì, Lý Trí là Phân Biệt.

Thật thế, nếu ta thử ngắm nhìn ngoại giới với giác quan thông thường ta sẽ thấy vạn vật rõ ràng phân biệt với hai khuynh hướng cực kỳ khác biệt: Thế giới cụ thể này quả thực là có; có xác thân với bao là nhu cầu cần thỏa mãn, có cảm xúc mừng giận buồn vui với tất cả chấn động của thân tâm; có mùa trăng hạ huyền, có hương táo nồng nàn…Nhưng rồi tất cả những đọng ngừng tưởng chừng như có thật ấy rồi cũng trôi qua. Không níu giữ được mãi, nên con người mới vỡ lẽ ra cái hư vô đã ẩn tàng nơi sự vật , nơi kết tụ mong manh đã ngầm chứa sự biệt ly, trong sự sinh tồn đã có lưỡi hái huỷ diệt. Ý thức về hai sức mâu thuẫn trong bản thể vạn vật làm con người - dù mặc nhiên hay minh nhiên - xác nhận bản tính cho nó nơi chọn lựa cách thái sinh hoạt: Nếu nhận rằng bản chất đời sống là những gì hữu hạn, cụ thể, thoả mãn những giá trị mà giác quan có thể kiểm nhận được, người ta đi theo khuynh hướng duy vật hữu vi một cách tích cực. Ngược lại, con người cũng có thể chọn lựa thái độ tích cực với vô vi. Hoặc một chọn lựa dung hợp, như An Vi chẳng hạn. Nghĩa tích cực ở đây có nghĩa là coi trọng, nghiêng về một giá trị này và coi nhẹ giá trị khác, là đặt nổi yếu tố đối kháng và chọn lựa dứt khoát.

Sự việc Lạc Long Quân đề cập với Âu Cơ về các sự khác biệt, nào là: Thủy hỏa tương khắc, phương viên bất đồng chính là ý nghĩa của cái nhìn của Lý trí trên hiện tượng vạn vật. Lý trí là một khả năng hữu hiệu của con người trên bứơc đường phân tán. Nó có tính sắc bén của một con dao nên khi xử dụng lý trí trên bất cứ sự vật, sự việc gì, việc đầu tiên của lý trí là chia cắt, chẻ nhỏ, cô lập sự vật, sự việc ấy lại, nên thấy nước là nước, lửa là lửa, làm sao không bất đồng. Chỉ đặt nổi sự khác biệt, là đặt nặng đối kháng, tất phải chia lìa.

Trong đời sống, chúng ta đã biết bao lần để cho lý trí làm chủ các quyết định, chỉ nhìn thấy sự việc một chiều. Hoặc chọn cái lợi thì phải bỏ nghĩa, hoặc chọn ích kỷ thì phải dứt tình người, hoặc chọn sắc đẹp thì phải quên đi phần đức hạnh, hoặc chọn danh vọng thì phải hy sinh chính nghĩa, hoặc chọn tâm bỏ vật, chọn vô bỏ hữu… Như thế, có nghĩa là ta đã đi vào cái vấn nạn của câu chuyện mở đầu huyền sử: Câu chuyện của Lý Trí, câu chuyện của Phân Biệt, câu chuyện của sự Chia Ly, và dĩ nhiên là câu chuyện của sự Bất An, có nước mắt, hoạn nạn, khổ đau.
Nhưng câu chuyện Lạc Long Quân và Âu Cơ không dừng lại ở đây.

Quan trọng nhất là đoạn Giải Kết cái mâu thuẫn của đời sống phân chia bởi lý trí. Minh Triết Việt cho sự việc Âu Cơ và Lạc Long Quân cùng đồng ý với nhau, nếu có việc cần vẫn phải gặp nhau trên Cánh Ðồng Tương, và nghe lời nhau, không được bỏ nhau, lại là một Hóa giải mâu thuẫn từ nền tảng của Tâm Vô Phân Biệt. Chữ Tình được kết thúc nơi đây thay cho Lý phải là từ giác ngộ Tâm, vì nơi đáy nội tâm sâu xa thăm thẳm ấy mới dung chứa được mọi sự khác biệt, mới nhìn thấy được cái phân chia của lý trí là giả tạo, hẹp hòi, thiển cận. Trầm tư, tâm tư, thả lỏng ý thức bén nhậy đi, con người mới bắt được cái Hư Không, mới trực nhận được Hư Không ấy mới là Lẽ Thật, mới không chỉ thấy đời chỉ là phân ly, dị biệt của từng vạn vật, mới Hội Tụ về Nhất Thể, mới tìm được suối nguồn Bình An, Hạnh Phúc miên viễn giữa lòng đời.

Trong ý nghĩa đó, Huyền thoại Tiên Rồng đã muốn nói một sự Tương Quan giữa hai đối nghịch đều phải Kết Hợp làm một ở đích điểm của mâu thuẫn.

Tiên Rồng là nguồn gốc của người Việt, hay nói chính xác hơn, Tiên Rồng là Bản Thể của vũ trụ, vạn vật và con người muôn nơi muôn thuở. Thật thế, chúng ta thử quan sát và chiêm nghiệm mọi lẽ vận hành trong tự nhiên hay mỗi sinh hoạt của con người đều phản ánh nguyên lý hòa hợp trong mâu thuẫn, tương quan trong đối lập. Vạn sự vạn vật tự bản thể đều có rồi không, không rồi lại có. Nhưng làm sao ta biết được là Thực Tại là có hay không. Vạn vật nương nhau tồn tại và phân định danh phận cho nhau xuất lộ nơi từng cặp mâu thuẫn tịnh hành: Nam-Nữ, Thiện-Ác, Tiểu-Đại, Động-Tịnh, Ngày-Đêm…Trong sự tương đối ấy, mọi sự mâu thuẫn đều là điều kiện của nhau. Có xác định người nam thì mới có tiêu chuẩn y cứ mà cho rằng người kia là nữ. Vì cho rằng có điều gọi là thiện thì mới gọi điều ngược lại là ác. Có vật cho là nhỏ thì mới có vật lớn. Không có biến động thì làm sao có ý thức về thường tịnh. Không có ánh sáng ban ngày thì làm sao có bóng tối để gọi là đêm…Cho nên, chính trong mâu thuẫn, vạn vật tự xác định cái danh và phận của nhau, tự giúp nhau tồn tại, tự sinh ra nhau, và cũng sẽ tự diệt với nhau. Bản chất ấy gọi là mối tương quan nền tảng. Nếu Chân Lý là Sự Thật, thì Mâu Thuẫn là Chân Lý, Tương Quan Mâu Thuẫn là Chân Lý Tối Cao, Kết Hợp Mâu Thuẫn là Chân Lý Nền Tảng. Khi Kết Giải Mâu Thuẫn cho Tiên và Rồng không được bỏ nhau, vẫn gặp nhau ở Cánh Đồng Tương, có nghĩa là Huyền Sử Việt đã xác tín nhận thức về Chân Lý Toàn Diện ấy. Chân lý là nơi lưu thông những bế tắc. Chân lý là sự tương quan giữa hai chiều đối nghịch. Chân lý là nơi giao hòa của mâu thuẫn. Tiên tổ truyền lại bài học về Bản Tính của vạn vật tiêu biểu trên cánh đồng Tương, nơi gặp gỡ của hai lực đối nghịch Tiên Rồng. Cánh đồng Tương cũng chính làCánh đồng Tâm.

Như thế, ta có thể gọi Rồng Tiên là Âm Dương, Sắc Không cũng cùng một ý nghĩa như vậy. Rồng Tiên, Âm Dương , Sắc Không chính là Bản Thể Mâu Thuẫn bất Khả Phân Ly qua ý nghĩa của Mùa Tiên Rồng Hội Ngộ nơi Tương Dã trong Huyền Sử Việt.

Ngày nay khoa học minh chứng trong điện, cũng có hai dòng điện tiêu, tích. Phân tích một nguyên tử cho biết đó chỉ là sự cấu tạo của âm điện tử và dương điện tử. Với thuyết tương đối của Einstein thì hai thực thể cơ bản làm nên mọi hiện tượng vạn vật là Thời gian và Không gian không phải là hai thực thể độc lập không có chi liên hệ. Mà không gian và thời gian tương quan, liên kết, có thể nói vũ trụ này chỉ là một khối Không-Thời-Liên. Trong lãnh vực y khoa, cơ thể luôn sinh ra chất đề kháng với các chất có hại cho nó (bệnh chỉ là sự bất quân giữa các liều lượng của chất thuận và nghịch). Hệ thống điện toán ngày nay chỉ dựa trên sự áp dụng của hai tình trạng 0 và 1.

Như vậy theo kiểu nói của ngôn ngữ nào, biểu tượng trong huyền sử, mạch lạc trong triết lý, hay cụ thể trong khoa học, cũng đi đến những ý nghĩa như nhau về bản thể của vạn vật, và cũng là bản chất của con người: HÒA điệu giữa hai đối nghịch, Một mà Hai, Hai mà Một, Mâu Thuẫn nhưng không hủy diệt, Tương khắc Tương sinh, Sắc Sắc Không Không.

Trên chiều hướng đó, Huyền Sử Con Rồng Cháu Tiên được hiểu như hai cột trụ chống đỡ khung Tâm Thức con người của Minh Triết Việt. Khi Rồng Tiên còn chia cách, thì Rồng có thể biểu hiệu cho bản chất hướng ngoại, phân chia, suy luận, lý trí, ý thức, hiển nhiên như Tâm còn ở trong chốn đầm lầy tù hãm có tính chất vật thể giới hạn, tức Rồng mới ở giai đoạn khởi đầu của tiến trình Cá thể hóa của cõi Hiện tượng, còn nặng phần tiểu tâm, tiểu trí của cái “ta” nhỏ bé ở đợt hiện hình, ngoại diện. Còn Tiên có thể biểu hiệu cho bản chất hướng nội, tổng quát, trực giác, tâm tư, tiềm thức, nhưng Tâm vẫn còn ở trong trạng thái mông lung, hàm hồ, đồng nhất với cõi Vô thức.

Muốn thoát khỏi “gọng kềm” nhị nguyên đối kháng nêu trên, là tình cảnh phải “chọn một bỏ một”, hoặc một bên Ý Thức phân ly, tính toán sắc cạnh, hoặc bên kia, Tiềm Thức hàm hồ, âm u, tăm tối, như phải chọn hoặc Lý hoặc Tình, một vấn nạn khó khăn, mà muốn giải quyết, Hành giả phải tạo điều kiện cho Rồng Tiên Hội Ngộ. Được như vậy thì Rồng mới vùng vẫy, uốn khúc được để trở thành Rồng Thiêng, vì Rồng không còn biểu hiệu cho lý trí của ý thức cá nhân hữu hạn nữa, mà nhờ tiếp cận với Tiên, tức nội dung của Tiềm Thức thâm sâu nên Rồng đã trở thành Biểu Tượng của Ý Thức Sáng Láng Về Toàn Thể Thực Tại mang tính Vô Biên. Còn Tiên dưới ánh sáng của Ý Thức Toàn Diện của Rồng, đã vượt qua được trạng thái “vô phân biệt” Nguyên thủy của trạm Quỳnh Hư của cõi Tiềm Thức mông lung để bước vào điện GIAO QUANG của miền TÂM LINH SIÊU TUYỆT.

Rồng Phải Hội Ngộ cùng Tiên trong Ý Nghĩa con người với cái “ta” Ngoại Diện thuộc về Lý Trí Hiện Tượng có khuynh hướng liên hợp với cái “TA” uyên áo của Nội Tâm sâu thẳm. Rồng không còn là Rồng nữa với xác thân hữu hạn, mà đã “Siêu Việt” để trở thành Rồng Thiêng khi tiếp cận Giấc Mơ Tiên. Cũng tương tự, Tiên cũng rộn ràng đam mê nhiệt đới, cũng không thể khước từ trái Táo địa đàng. Tâm Thức Rồng Tiên là Tâm Thức Toàn Diện của Cơ Cấu Uyên Nguyên. Cá nhân chỉ Trọn Vẹn Hóa trong Tương Quan, Thống Nhất với Toàn Diện Tính của Bản Thể Rồng Tiên. Trong tất cả những đa đoan của đời sống chẳng qua chỉ là một trường thử nghiệm của khuynh hướng tìm về chính Mình, Bản Tính Liên Hợp, có nước mắt của chia xa và niềm hân hoan hạnh ngộ. Nói một cách khác, Chân Lý Rồng Tiên ẩn tàng nơi Tương Dã chính là Lời Hẹn của Tình Yêu giữa Đạo với Đời. Cho nên Đạo Mới Không Xa Đời.

Huyền Sử Tiên Rồng còn gửi lại ý nghĩa thêm nữa trong việc Mẹ Âu Cơ sinh được 100 trứng trong một bọc, sau này 50 con ở lại với mẹ và 50 con theo cha xuống biển. Bọc đây phải là Bọc Tâm Linh . Bọc Tâm Linh nên ôm ấp chân lý tròn đầy, chân lý kết hợp, hòa tan mọi mâu thuẫn của thế giới hiện tượng phân biệt, Chân lý Hòa Hợp, bất khả phân ly của Đạo Thể Viên Dung. Một trăm ở đây cũng là biểu tượng cho sự toàn vẹn của mỗi khả thể, 100 là cái toàn thể, toàn thiện của chân lý. Chân lý không để phần tử nào phải lẻ loi cô độc. Chân lý là tròn đầy. Chân lý như là tổng số 100.

Đi vào thể dụng của chân lý, Tiên Rồng với bọc trăm trứng giúp cho người Việt cảm thấy gần gũi nhau hơn trong ý nghĩa đều là cùng một bụng mẹ Âu Cơ, cùng phải thân yêu, đùm bọc lẫn nhau, kết quả là ta có chữ đồng bào (cùng một bọc) để gọi nhau. Và, gọi người cai quản sinh hoạt xã hội bằng “bố”, một từ mà sau này người Việt dùng để gọi cha ruột thịt của mình. Một hình ảnh thân yêu và gần gũi giữa người một nước coi nhau là con một bọc của mẹ, dân gọi vua âu yếm và tin tưởng như cha, ta thấy một dân tộc có trình độ văn hóa cao siêu và nhân bản đã biểu hiện qua Huyền sử Tiên Rồng một cách thơ mộng mà thiết thực như thế là cùng! Còn có một nền nhân bản nào cao siêu hơn?

Chúng ta hãy tìm hiểu các nền văn minh trên thế giới. Tây phương khởi nguồn từ văn minh Hy Lạp, mà theo đó, con người là con cháu của các thần thánh hung dữ và độc ác, đầy đủ thói hư tật xấu của trần gian. Con người vì vậy rất sợ hãi sự thịnh nộ và trừng phạt của các thần, nên giới thống trị dựa vào sự tin tưởng ấy để đưa đến một xã hội phi nhân bản, phân chia giai cấp, điển hình là chế độ nô lệ. Tổ sư triết học Tây phương là Socrate, Platon, Aristote đã chấp nhận và bênh vực cho chế độ nô lệ. Rồi sau đó kỹ thuật tiến dần thì chế độ nô lệ bãi bỏ, chứ không do một lý tưởng cao đẹp nhân chủ bình đẳng nào hô hào bãi bỏ. Ấn Độ cũng không hơn gì. Niềm tin vào thần thánh khiến sự phân chia giai cấp vì lý do sanh bởi chân tay của thần thánh thì phải làm nô bộc cho giai cấp sanh từ đầu của thần thánh, rốt cuộc đại đa số dân chúng làm nô bộc cho một thiểu số tư tế và quý tộc. Ta thử xem bảng thống kê về sự bãi bỏ nô lệ, mới chỉ xẩy ra chưa bao lâu: Hoa Kỳ bãi bỏ nô lệ năm 1808, Anh 1833, Pháp 1845, Bồ Đào Nha 1856.

Trở lại Ý Nghĩa Huyền Sử trên, Tiên Rồng còn mãi mãi ly biệt, khi đời còn theo quan niệm chia cắt Thực Tại Toàn Diện bằng cái nhìn của Lý Trí, như những thuyết Duy vật, Duy tâm, Duy Một Chiều Kích. Tiên Rồng chỉ được Hội Ngộ khi con người nhận thức Chân Lý Hai Chiều Toàn Diện của cuộc Nhân Sinh. Hay nói cách khác, Huyền Sử Tiên Rồng đã đưa ra 3 mệnh đề : Chính Đề là Hiện Tượng Mâu Thuẫn, Phản Đề là Lý Trí Phân Ly, Tổng Đề là Tâm Linh Vô Phân Biệt, qua sự việc Tiên Rồng chia tay rồi hội ngộ nơi Cánh Đồng Tương .

Tóm lại, qua Huyền sử Con Rồng Cháu Tiên của Việt Đạo, bài học đơn giản mà ta có thể nhận ra ngay là: “Ngoài thì là Lý, nhưng trong là Tình”. Sâu xa hơn nữa, đây là một Biện Chứng Tâm Linh Tổng Hợp Chân Thực Hiện Tượng và Bản Chất của nền MINH TRIẾT UYÊN NGUYÊN của Dân Tộc.

(Trích trong Yêu Mến An Vi, cùng tác giả)


Đông Lan


Cảm Nghĩ: LỄ GIỖ QUỐC TỔ HÙNG VƯƠNG - Phùng Ngọc Sa

Phùng Ngọc Sa

Từ ngàn xưa trên giải giang sơn gấm vóc Việt Nam, mỗi năm cứ đến độ xuân về, khi trăm hoa khoe sắc và chim muông ca hót thì tất cả con dân đất Việt khắp nơi, từ thành thị đến thôn quê, ai nấy đều quây quần với nhau tại những nơi trang nghiêm như đình chùa và nhà làng để làm lễ Giỗ Tổ. Quốc lịch gọi là lễ Hùng Vương. Lễ được ấn định vào ngày mồng l0 tháng 3 âm lịch. Đây là nghi lễ truyền thống để nhắc nhở con cháu nhớ đến cội nguồn dân tộc, tưởng nhớ đến công ơn các vị vua Hùng thuộc họ Hồng Bàng dựng nước. Chính nhờ các Ngài mà ngày nay con cháu mới có được một mảnh đất dung thân.

Xin nhắc lại, hai vị Khởi Tổ của dân tộcViệt đã sống vào thời khuyết sử nên các nhà sử học chỉ ghi chép lại đôi dòng về các vị Thủy tổ, trong đó có Lạc Long Quân lấy bà Âu Cơ sinh ra một bọc một trăm trứng và nở thành một trăm con; ngoài ra không nói rõ chi tiết sinh hoạt của các vị như thế nào. Với đà phát triển, lòng kính mến và biết ơn sâu xa đối với hai vị Khởi Tổ nên từ mấy ngàn năm trước, Tổ Tiên ta đã tôn hai Ngài thành Biểu Tượng Linh Thiêng là Tiên và Rồng. Dân Việt âu yếm gọi hai Ngài là Mẹ Tiên, Cha Rồng. Cho tới nay hồn thiêng của hai Ngài vẫn linh hiển và với sứ mệnh sinh sản cả một dân tộc đông đúc siêu vượt, hai Ngài là Tổ trên hết các Tổ của Tộc Việt.

Cùng với hai vị Khởi Tổ, nguồn gốc tộc Việt cũng được truyền thống văn hóa thăng hoa kết tinh thành chuyện Tiên Rồng và đã được truyền miệng một cách phổ quát cho toàn thể dân chúng suốt mấy ngàn năm qua: giống dân Việt khởi nguồn từ một ông Rồng nói với bà Tiên:”Ta là giống Rồng, nàng là giống Tiên, nàng đem 50 con lên núi, ta đem 50 con xuống biển khi cần thì gọi nhau về.”-Từ đó dòng giống Việt mỗi ngày một phát triển, và theo đặc tính địa phương, chia thành nhiều nhánh.

Theo biễu tượng Bọc Trăm Con, các nhánh của Tộc Việt thường được gọi chung là Bách Việt. Một trong các nhánh đó là Lạc Việt. Với thời gian, một phần các nhánh Lạc Việt ở cực Nam thành lập quốc gia, nay là Việt Nam.

Theo quan niệm chung của dân tộc Việt, nước Việt Nam được thành lập do nhiều vị Quốc Tổ. Quốc Tổ không phải chỉ là vua đầu tiên, mà gồm có mười tám vị gọi là vua Hùng. Như vậy, quan niệm lập quốc của dân Việt nhấn mạnh đến sự thành hình của một dân tộc, một nền văn hóa hơn là thành lập một quốc gia theo nghĩa chính trị hiện nay.

Theo truyền thống cao quý nói trên nên không những trong nước, mà tại hải ngoại, giữa nơi đất khách quê người, bất cứ ở đâu, hàng năm chúng ta đều tổ chức lễ Giỗ Quốc Tổ để nhắc nhở và hướng dẫn con cháu luôn hướng về cội nguồn dân tộc.

Trước bàn thờ Tổ Quốc có linh vị của Quốc Tổ, trong không khí trang nghiêm cùng khói hương nghi ngút do con cháu thắp lên để tưởng nhớ đến các Ngài. Có thể nói đây là cơ hội thuận tiện và quý báu cho chúng ta dành đôi phút suy tư để nghĩ đến Quốc Gia Dân Tộc; tự xét lại trong cuộc đời mình đã làm, hay đóng góp được thêm gì cho gia tài quý giá của tiền nhân để lại. Bằng biết bao công lao khó nhọc, các Ngài đã kiến quốc, cứu quốc, mở mang bờ cỏi để lại cho con cháu hậu thế một giải giang sơn gấm vóc cùng với một nền đạo lý và văn hóa vững vàng mang tính chất của giòng giống Lạc Việt; chính nhờ vậy mà l0 thế kỷ dưới ách nô lệ của kẻ thù phương Bắc và gần non một thế kỷ bị thực dân Tây phương đàn áp, nhưng ngoại bang không thể làm sao đồng hóa nổi và cũng không thể phá hủy được truyền thống quý báu của giòng giống Lạc Việt.

Hãy tự hỏi, tất cả chúng ta đã làm được những gì để đóng góp thêm cho di sản thiêng liêng của tổ tiên để lại? Hay chúng ta chẳng những không bồi đắp mà còn nở lòng phá hoại?

Xét lại những trang sử cận đại, trong hơn nửa thế kỷ qua, trên mảnh đất Việt thân yêu mà các vị Quốc Tổ từng tốn bao công sức xây dựng đã trở thành bãi chiến trường loang máu do chính con cháu gây ra. Hãy đọc lại một vài câu thơ được lưu truyền trong dân gian mô tả nổi thống khổ của người dân bị đọa đầy bởi các thế lực đối kháng, kẹp giữa hai lằn đạn:

Chốn thành thị An ninh Bảo vệ
Miền thôn quê Tự vệ Công an
Bốn bề Vệ Bảo Ninh An
Dân càng chết kẹt, chết oan, chết phiền.

Hoặc:

Nhiều gia quyến hai bên mắc nghẹt
Kẻ bên nầy người kẹt bên kia
Anh em cha chú phân ly
Chồng xa vợ mọn mẹ lìa con thơ.

Miệng lưởi của người cộng sản thường rêu rao “Tình ruột thịt nghĩa đồng bào”nhưng khi có được lợi thế nhờ mưu mô xảo quyệt, nhờ được sự hổ trợ của Cộng Sản Quốc Tế thì bọn chúng lại đưa dân tộc vào cảnh hủy diệt tương tàn và bọn chúng đã thẳng tay đàn áp đồng bào bằng những thủ đoạn độc ác nhứt trong lịch sử dân tộc cũng như lịch sử nhân loại.

Bạo quyền Hà Nội sẽ nói thế nào trước vong linh của Quốc Tổ về những thủ đoạn đê hèn mà chúng đã dùng để thủ tiêu và tận diệt những tinh hoa của đất nước; những người đã từng đồng lao cộng khổ với chúng trong cuộc đấu tranh dành lại độc lập cho quê hương từ tay thực dân Pháp? Thử hỏi, biết đến mấy thế hệ nữa Việt Nam mới có được những nhân tài đầy lòng ái quốc, biết dùng mối đạo để phục vụ quốc gia như Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ; một lãnh tụ Lê Ninh (tự Lê Khang ) của Việt Nam Quốc Dân Đảng tài ba thao lược, nhiều kinh nghiệm chiến đấu và tài tổ chức, kế thừa truyền thống của người anh hùng dân tộc Nguyễn Thái Học; hoặc như lãnh tụ Lý Đông A ( tức Nguyễn Hữu Thanh) của Đại Việt Duy Dân, tuổi trẻ tài cao, uyên thâm bác học. Với tư chất thông minh thiên phú, ông ta đã lý giải sự việc một cách rất nhanh chóng chỉ một khoản khắc ngắn, trong khi mà các nhà khoa bảng thời danh khác phải mất hàng tháng mới làm nồi. Sau cùng là sự kiện của ông Trương Tửû Anh, Đảng Trưởng Đại Việt Quốc Dân Đảng, từ 22 tuồi, ông đã nghiên cứu tạo lập chủ thuyết Dân Tộc Sinh Tồn thích hợp cho dân Việt và đã trở thành sấm ngữ khi thực tế chứng minh cho lời tiên đoán về sự sụp đổ của chủ nghĩa Duy Vật Biện Chứng Pháp của Cộng Sản Quốc Tế. Chính chủ thuyết của ông là kim chỉ nam của Đại Việt Quốc Dân Đảng trong sự nghiệp đấu tranh dành độc lập cho quốc gia. Khi mới được 25 tuổi, nhà lãnh tụ tài ba nầy đã được hai đảng cách mạng tiền phong là Việt Nam Quốc Dân Đảng và Đại Việt Quốc Dân Đảng bầu làm chủ tịch của Mặt Trận Quốc Dân Đảng để chống lại Mặt Trận Việt Minh Cộng Sản.

Tất cả những thiên tài ái quốc và lổi lạc nói trên đã bị bọn Cộng Sản Việt Nam ám hại chỉ vì quyền lợi của Cộng Sản quốc tế.

Sau khi nhờ được yểm trợ tối đa của cộng sản quốc tế chiếm được nửa nước, bọn CSVN đã tiến sâu vào con đường tội ác. Với chủ trương cải cách ruộng đất, bọn chúng đã làm đảo lộn luân thường đạo lý, và truyền thống của dân tộc Việt; chúng bày ra cảnh đấu tố, dậy con tố cha, vợ tố chồng, chỉ đạo giai cấp đấu tranh, chia để trị và dể bề bóc lột. Tới khi lợi dụng được thời cơ đánh chiếm được miền Nam, người cộng sản lại tiến hành hủy diệt văn hóa và trí thức bằng chính sách cải tạo, tịch thu sách vở, biến những người làm văn hóa trở thành những lợi khí nô dịch.. Do đó, chỉ mới hơn vài thập niên đàn áp, cộng sản đã làm thoái hoá cả một thế hệ con dân của Mẹ Việt Nam.

Hiện những người cộng sản đang tiếp tục phá hoại sự nghiệp của Tiền Nhân bằng cách bán đất nhường biển cho kẻ thù phương Bắc; khốn nạn hơn, buôn bán đàn bà và trẻ em cho ngoại nhân để làm nô lệ tình dục. Bọn người man rợ cộng sản sau khi bị đồng bào trong nước và hãi ngoại đồng loạt lên án về tội ác bán nước buôn dân, bèn tìm cách đánh lận con đen bằng cách nâng ngày Giỗ Quốc Tổ lên hàng “quốc lễ”, ngụ ý là bọn họ vẫn tôn thờ Quốc Tổ. Qủa thật đây là một lối phỉnh gạt trắng trợn. Lý do, CSVN làm gì có tổ quốc. Với họ, tổ quốc đồng nghĩa với xã hội chủ nghĩa. Vì “yêu Tổ Quốc là yêu Xả Hội Chủ Nghĩa”Tổ quốc của Cộâng Sản Việt Nam là Liên Xô. Và tổ tiên của bọn họ là Mác, Lê Nin và Mao. Nay Liên xô đã không còn thì CSVN quay sang sùng bái Trung Cộng và những tay đầu sỏ tại Trung-Nam-Hải.

Người cộng sản thì phá hoại như thế thế còn người Việt Quốc gia đã đóng góp gì cho đất nước? Cộng đồng người Việt hải ngoại trên ba triệu người, kẻ trước người sau bỏ nước ra đi sau ngày 30 tháng 4 đã cống hiến được gì cho quê hương ?

Hãy trung thực, và can đảm kiểm điểm lại, chúng ta chỉ thấy được một ít kết quả quá ư là khiêm nhượng. Có nhiều người cho rằng 30-4 là ngày Quốc Hận để ghi nhớ biến cố tang thương khiến người dân Việt miền Nam phải từ bỏ quê cha đất tổ ra đi lánh nạn cộng sản. Những cũng từ sự bất hạnh nầy, đã có biết bao kẻ may mắn được công thành danh toại ở xứ người. Đã có biết bao thanh niênViệt đã may mắn học được cái hay và những kỷ thuật tân tiến của ngoại quốc, đổ đạt hiển hách, thành công vược bực trên hai phương diện kiến thức cũng như tài chánh. Họ thích được đánh bóng là người vẻ vang dân Việt . Nhưng trong đó chẳng ai nghe nói đến những gì họ đóng góp cho quê hương về các thành quả mà họ đã gặt hái được.

Tiên trách kỷ, hậu trách nhân. Trước sau một phần lỗi lớn cũng bởi tại chúng ta gây nên. Cho đến giờ phút nầy, vẫn chưa thấy người Việt hải ngoại cụ thể đóng góp được gì khả dĩ cùng nhân dân trong nước sớm hóa giải được quyền lực cộng sản để tái thiết quốc gia. Nguyên nhân và lý do chính, là chúng ta chỉ thích đóng kịch, làm giả nhiều hơn thiệt. Ngoài ra còn cái nạn phân hóa trầm trọng. Có thể nói chính đây là căn bệnh trầm kha của người Việt quốc gia, và chính nó là nguyên nhân làm cho miền Nam bị sụp đổ và chính đó là một trở ngại lớn trong việc phục hưng đất nước.

Phải hãnh diện mà nói là trong lịch sử ngôn ngữ của văn minh nhân loại, chỉ có dân Việt Nam mới tự hào dùng chữ Đồng Bào để gọi nhau,(vì chung một bào thai của mẹ Việt) tượng trưng cho tinh thần Đoàn Kết. Quốc Tổ vì sự nghiệp mở mang bờ cõi mới phải chia nhau, người lên núi kẻ xuống biển, ra đi khắp bốn phương tám hướng nhưng Ngài quyết định để người Trưởng Nam ở lại làm vua, tiếp tục nắm giữ giếng mối quốc gia tượng trưng cho việc thống nhất đất nước. Quốc Tổ vì sự nghiệp quốc gia đã hành động như thế, trong khi đó con cháu của Ngài thì làm trái ngược lại.

Trong nước thì bọn CSVN càng ngày càng gian ác, nhất quyết trị dân bằng bạo lực; hàng ngũ đối kháng đã thấy được họa diệt vong những chưa có khả năng kết tụ được. Kẻ ra đi, khi đã may mắn đến bờ tự do thì chia năm xẻ bảy, phân hóa trầm trọng chỉ vì không san bằng được dị biệt. Thật ra dị biệt đâu có gì là sai quấy, trong sinh hoạt, sai quấy là thái độ tương quan của dị biệt. Thay vì phải coi dị biệt như là những yếu tố làm thêm phong phú cho văn hóa, thêm vị tươi và sống động cho cuộc sống mà không gây trở ngại cho sự thuần nhất quốc gia. Oái ăm thay, ở đây đồng bào chúng ta lại xem dị biệt như là bức tường kiên cố ngăn chận cá nhân nầy với cá nhân khác, tập thể nầy với tập thể khác để đến nổi đưa đến tình trạng rả rời và tan nát. Cũng vì nguyên nhân nói trên mà từ trước đến nay, hải ngoại chưa bao giờ kết tụ nổi thành một khối khả dĩ tạo thành được một cái lực đáng kể và cần thiết trong việc tranh đấu cho mục tiêu chung. Tất cả mọi người ai cũng biết đến điều đó, từ trước đến nay đã có biết bao cố gắng và biết bao nhiêu lần tìm cách tập họp nhưng cũng đã bấy nhiêu tan vở, và mỉa mai thay, những nơi tập họp lại chính là những chốn mà hiện tượng phân hóa dể dàng xuất hiện nhất. Và, ai cũng kêu gọi đoàn kết, nhưng là đoàn kết sau lưng họ chứ không phải để có sức mạnh.

Tại sao, vì nguyên nhân nào? Xin thưa là tại cái tôi trong chúng ta quá lớn, đó là chưa kể những yếu tố khác làm trì trệ, như đầu óc kiêu căng đố kỵ, lòng vị kỷ và tệ hơn nữa là tinh thần ganh tỵ với những ai tỏ ra có khả năng hơn mình, chỉ vì bản tính tự cho mình là cái rốn của vũ trụ. Lý do đó mới dẫn đến việc lạm phát hội đoàn, đảng phái. Trong cộng đồng chẳng ai bảo được ai vì thế mới có tình trạng thừa lãnh tụ nhưng lại thiếu lãnh đạo. Hãy can đảm để nhìn nhận sự thật, đừng nghĩ chi đến việc so sánh với những cộng đồng dân tộc nổi tiếng như Do Thái, Cuba, ngay đến những cộng đồng nhỏ của các nước lân bang với Việt Nam như Lào, Cam Bốt, trong sinh hoạt người Việt hải ngoại chưa có sự gắn bó như họ đã làm được. Với tình trạng yếu kém nầy, hải ngoại làm sao có thể áp lực để Cộng Sản Việt Nam từ bỏ quyền lực.

Lịch sử là một tấn kịch được tái diễn không ngừng. Chúng ta mấy ai ngờ đế quốc cộng sản lại sụp đổ mau chóng như vậy. Giả dụ một ngày nào đó, CSVN thấy là không thể nào tiếp tục đường lối độc tài đảng trị được bèn nghĩ đến chuyện mời những người trong nước cũng như hải ngoại cùng chung lo việc tái thiết quốc gia. (Đây chỉ là giả thiết, vì VC có bao giờ chia quyền cho ai; ngược lại hải ngoại biết đến khi nào mới đủ lực để nói chuyện với nó). Thử hỏi, liệu những ai và đoàn thể nào dám nhận trọng trách lịch sử đó? Dám hỏi những vị khoa bảng đã từng được đào tạo trong nếp sống văn minh, hưởng thụ vật chất Tây phương, có thể hy sinh trở về phục vụ quốc gia trong một tình trạng bán khai như Việt Nam hiện nay hay không? Hay cũng chỉ tình nguyện làm tay sai cho chúng?

Trên đây chỉ là một vài sự kiện cụ thể trong muôn vàn khó khăn mà những ai còn nặng lòng với quê hương phãi nghĩ đến khi muốn bắt tay nhau thực hiện cho được việc gì đó, khả dĩ đem lại lợi ích cho nước nhà. Quả thật là phức tạp, nhưng không phải vì trở ngại mà bỏ cuộc thì biết đến bao giờ mới có thể cùng nhau góp sức để tái thiết quê hương. Và làm sao để giải thích với con cháu về ý nghĩa của việc làm chúng ta, là hàng năm cứ họp nhau Giổ Quốc Tổ Hùng Vương. Chẳng lẽ chỉ đến lễ bái cho có lệ rồi lại buông tay ra về như những kẻ mê tín không hơn không kém.

Qua tổng hợp ý kiến của nhiều tầng lớp nhân sĩ và các nhà lãnh đạo tôn giáo cũng như các đoàn thể chính trị, chúng tôi nhận thấy con đường khả dĩ kết hợp được nhau để tái thiết quốc gia là con đường Trở về nguồn, phục hồi văn hóa Việt. Muốn phục Việt, trước hết phải là người Việt. Tiên quyết chúng ta phải cố tìm cách gìn giữ tinh túy của giòng Lạc Việt trước khi tiếp nhận và tinh lọc văn minh cùng những đổi mới của thời đại. Là người Việt mang huyết thống Rồng Tiên. Rồng thì uy vũ. “Phong Thái Uy Vũ Bất Năng Khuất”. Tiên lại hiền lành xinh đẹp.Với tinh thần đó thì dù đất nước có hưng thịnh hay suy vi, lòng chúng ta vẫn vững như bàn thạch, tâm vẫn không sờn, kiên trì hãy cùng nhau gạt đi những tị hiềm nhỏ nhặt, không chùn bước trước những khó khăn hiện tại, vì đây chỉ là những trở ngại nhỏ và tạm thời; với trạng huống khi đã cùng thì tất biến và biến tất thông. Chúng ta sẽû rút ra những kinh nghiệm quý giá để sử dụng trong tương lai. Hãy nhìn lại lịch sử, xem gương mười năm kháng chiến gian lao đưa đến thành công của vị anh hùng đất Lam Sơn cũng chỉ vì mục tiêu và chủ trương :

Đem đạo nghĩa thắng hung tàn
Lấy chí nhân mà thay cường bạo.

Trong Bình Ngô Đại Cáo, Nguyễn Trãi đã xác định rõ ràng: Dùng đạo nghĩa là căn bản của nền văn hóa của giống Lạc Việt để xóa bỏ cái hung tàn và cường bạo của kẻ thù xâm lược phương Bắc. Người anh hùng áo vải đất Tây Sơn cũng đã phất mgọn cờ đào. Chỉ kiếm về phương Bắc mà xuất chinh. Cuộc chiến thắng thần tốc đại phá quân Thanh trong mùa Xuân Kỷ Dậu đã nói lên mục đích là đánh đuổi quân xâm lăng ra khỏi bờ cõi để phục hồi văn hóa Việt, vua Quang Trung nói:

Đánh cho để tóc dài
Đánh cho để đen răng
Đánh cho sử tri Nam quốc
Anh hùng chi hữu chủ

Với di chúc cách mạng của Nguyễn Trãi, và mục tiêu giải phóng đất nước để phục hồi văn hóa của Quang Trung thì con cháu các ngài không thể đi ngược lại bằng cách lấy cường bạo nầy để thay thế cho việc hung tàn khác. Do đó, không thể chấp nhận độc tài đảng trị của miền Bắc thay thế tư bản miền Nam, cũng như ngày nay khó có thể nói đến việc dùng bạo lực vũ khí để lật đổ chế độ CSVN hiện đang thống trị đất nước. Như vậy chỉ còn kế sách là phục hồi văn hóa Lạc Việt, may ra nhờ cùng chung truyền thống văn hoá chúng ta hy vọng xóa bỏ những dị biệt đang là bức tường kiên cố ngăn cách dân tộc.

Hiện nay tại hải ngoại đã có nhiều dấu chỉ đáng khen. Các cộng đồng các nơi đang cố gắng bằng cách phổ biến tinh thần dân tộc; với những lễ tổ chức long trọng các nghi thức truyền thống như Tết Nguyên Đán, lễ Giỗ Quốc Tổ, kỷ niệm Hai Bà Trưng, giỗ Hưng Đạo Vương, Lê Lợi, Quang Trung v.v.Ngoài ra còn các buổi ra mắt sách, bình thơ, trình diển áo dài . Những việc đó một phần nào hướng dẫn con em nhớ đến ccäi nguồn Lạc Việt. Với đà phát triển thế hệ trẻ, nhu cầu cung ứng của tuổi thanh xuân cần tìm hiểu cội nguồn văn hóa mỗi ngày một gia tăng. Ước mong các nhà lãnh đạo tinh thần, những đoàn thể chính trị và chính đảng quốc gia đấu tranh hãy cố gáng tích cực hơn trong công cuộc đóng góp cho sự nghiệp văn hóa dân tộc. Tất cả cho văn hóa Việt và để cùng nhau về nguồn, chúng ta xác nhận rằng:

Mất nước còn có cách lấy lại
Mất dân rất khó, nhưng cũng có cách thu phục
Nhưng một khi văn hóa đã mất, tức dân tộc tính không còn thì vô phương cứu chữa.
Văn Hóa Còn Dân Tộc Còn.

Phùng Ngọc Sa


Ý nghĩa của ngày Quốc Hận 30 tháng 4 - Trần Thanh

Trần Thanh

Năm nào cũng vậy, cứ gần đến ngày 30 tháng 4 là băng đảng cướp Việt Tân lại hô hào "hướng về tương lai, xóa bỏ hận thù", hoặc "chúng ta đấu tranh vì chính nghĩa chứ không phải đấu tranh vì lòng thù hận"* Theo ý của những con chó săn Việt Tân, "xóa bỏ hận thù" tức là phải xóa bỏ ngày 30 tháng 4! Bố của chúng nó (việt gian cộng sản) dạy chúng phải sủa như thế thì chúng phải sủa như thế, không thể nào khác được! Mỗi lần sủa đúng những "bài bản" do chủ dạy, con chó săn được thưởng cho một ít đô la, đủ để đi làm "một dù" (chơi đĩ), một chầu phở và một chầu cà phê. Như vậy cũng là quá "vinh quang, hoành tráng" cho cuộc đời làm chó săn rồi!

Ðể nhìn vấn đề thật đơn giản, đừng bị những cái vỏ danh từ làm rối trí, chúng ta hãy suy luận về những điểm sau đây:

1. Giữa THIỆN và ÁC, bạn chọn cái nào?

Dĩ nhiên, khi được hỏi về điều này thì hầu như ai cũng nói:

- Tôi chọn cái thiện, tôi yêu cái thiện; tôi thù ghét cái ác, tôi quyết tâm chống lại cái ác, tiêu diệt cái ác.

Cái thiện tựa như ánh sáng, cái ác tựa như bóng tối. Ví dụ chúng ta đang sống trong một căn nhà tối tăm, không đủ ánh sáng cho con cái chúng ta học. Muốn có ánh sáng, chúng ta phải đốt lên một ngọn nến để xua bóng tối đi. Nhưng một ngọn nến chưa đủ sáng, thằng cu Tí, cu Tèo, cái Hĩm đồng kêu lên:" Bố ơi, đèn mờ quá, tụi con nhìn không rõ!" Thế là ông bố, bà mẹ phải thắp thêm ngọn nến thứ hai, rồi thứ ba, thứ tư, thứ năm ..v..v.. Và khi có điều kiện, họ xài bóng đèn điện neon, ánh sáng chan hòa trong khắp căn nhà, bóng tối đã bị đẩy lùi đi và biến mất.

Trong lãnh vực nông nghiệp, chúng ta có thể ví cây lúa tượng trưng cho cái thiện; và các loài sâu rầy, cỏ dại tượng trưng cho cái ác. Muốn có gạo ăn, bắt buộc chúng ta phải diệt sâu rầy. Hoặc khi trồng khoai, trồng bắp, chúng ta phải diệt cỏ dại.

Thực hành điều thiện (trồng lúa, trồng bắp) phải luôn luôn đi đôi với việc tiêu diệt sâu rầy và cỏ dại (diệt cái ác) Hai việc làm này phải được thực hành cùng một lúc. Nếu chúng ta không tiêu diệt sâu rầy thì những cây lúa sẽ bị chúng phá hại hết, chúng ta sẽ đói. Không bao giờ có nhà nông nào ngu tới mức, chủ trương "hòa hợp hòa giải", vừa trồng lúa và đồng thời cứ dung dưỡng cho các loại sâu rầy sống chung với lúa để tự do phá hoại mùa màng!

Chỉ có đảng cướp Việt Tân là muốn nuôi sâu rầy và cỏ dại vì chính bản thân bọn chúng là sâu rầy và cỏ dại. Bọn chúng chính là hiện thân của cái ÁC, là những kẻ phá hại xã hội, ăn bám xã hội, lười biếng không chịu làm việc, chỉ muốn đi làm việc "từ thiện", móc túi đồng bào!

2. Tự đặt câu hỏi và tự trả lời:

Xin các bạn tự hỏi và tự trả lời những câu hỏi sau đây:

- Ðảng việt gian cộng sản là tượng trưng cho THIỆN hay ÁC?

- Ðảng cướp Việt Tân là tượng trưng cho THIỆN hay ÁC?

3. Vậy phe THIỆN gồm những ai?

Xin thưa đó chính là toàn dân nô lệ trong và ngoài nước đang khao khát được tự do và đang nổ lực đấu tranh cho hai chữ TỰ DO.

Những người Việt đang sống tại hải ngoại vẫn đang bị những vòi bạch tuộc của bọn việt gian cộng sản chi phối chứ chưa phải đã được tự do hoàn toàn đâu. Chúng ta cần ý thức rõ điều này để cùng phối hợp với đồng bào trong nước đấu tranh tiêu diệt những kẻ ÁC.

4. Ngụy biện của đảng cướp Việt Tân:

Ðảng cướp Việt Tân tự nhận: " ... chúng ta đấu tranh vì chính nghĩa chớ không phải vì hận thù"*.

"chúng ta" là ai? Ðây là hành động quơ đũa cả nắm. Cái gọi là "chúng ta" của băng đảng Việt Tân chỉ là những tên chó săn đi làm tay sai cho bọn việt gian cộng sản. Những người dân lương thiện không bao giờ là thành viên trong cái đảng cướp đó.

Chính nghĩa tượng trưng cho điều THIỆN. Chính nghĩa là những hành động như đốt lên những ngọn nến xua tan bóng đêm, trồng lúa và trồng bắp. Chính nghĩa tượng trưng cho luật pháp công minh, không dung dưỡng tội ác. Những kẻ phạm tội trộm cướp, giết người, lừa đảo thì phải bị trừng phạt, bị tống cổ vào tù hoặc bị treo cổ.

Ðảng cướp Việt Tân không có tư cách gì tự xưng chúng là đại diện cho "chính nghĩa". Ai đời cái thằng chuyên đi ăn cướp mà tự xưng mình là đại diện cho công lý! Cái gọi là "chính nghĩa" của bọn chúng chính là sự lừa bịp đồng bào, quyên được vài chục triệu Mỹ kim để nuôi một sư đoàn kháng chiến .... ma gồm 10 ngàn tay súng ở biên giới Thái Lan! Cái gọi là "chính nghĩa" của bọn chúng chính là chủ tịch Hoàng Cơ Minh có phép thần thông tựa như Tề Thiên Ðại Thánh, bị việt cộng bắn vỡ sọ rồi mà vẫn tiếp tục sống tới 14 năm sau mới chết!!! Cái gọi là "chính nghĩa" của bọn chúng chính là đi ám sát những ký giả, đi gieo rắc khủng bố trong cộng đồng, gây chia rẽ, phá hoại sự đoàn kết của những người quốc gia. Cái gọi là "chính nghĩa" của bọn chúng chính là đòi xóa bỏ ngày Quốc Hận 30 tháng 4, đòi hủy bỏ lá cờ vàng ba sọc của người quốc gia ..v..v...

NHỮNG ÐIỀU CẦN DẠY CHO THẾ HỆ TRẺ:

Nếu chúng ta dạy cho thế hệ trẻ cách trồng lúa, trồng bắp thì đồng thời phải dạy cho chúng biết cách diệt trừ sâu rầy và cỏ dại. Muốn hiểu rõ điều thiện, trân quý điều thiện thì ta phải biết rõ những sự tai hại của điều ác. Một người chỉ biết quý trọng giá trị của cây nến khi người đó đã từng bị sống trong bóng đêm hãi hùng. Chúng ta dạy cho thế hệ trẻ hiểu rõ chính nghĩa quốc gia thì đồng thời phải dạy cho chúng biết rõ thế nào là những núi tội ác của cộng sản và thế nào là những tội ác cùng những trò lưu manh, điếm đàng của đảng cướp Việt Tân.

Gây dựng điều thiện và chống lại điều ác là hai hành động phải được thực hiện cùng một lúc. Chống lại điều ác chính là bảo vệ điều thiện. Hiểu rõ điều ác và thù ghét nó cũng là điều rất tốt. Có thù ghét mới có yêu thương và ngược lại. Không hận thù bọn cướp việt gian cộng sản và Việt Tân thì chúng ta không thể nào đấu tranh thành công, giải thoát được 85 triệu nô lệ. Bọn chúng là sâu bọ, là cỏ dại thì phải bị diệt bỏ. Giết một con rắn hổ mang để cứu hàng trăm con thỏ, con gà là điều rất nên làm. Nếu chúng ta sợ mang tiếng là "hận thù" mà không dám giết con rắn thì sinh mạng của bầy thỏ và bầy gà sẽ đi về đâu?

Giả sử chúng ta thấy một băng cướp có súng, cướp tiền trong nhà băng xong rồi tẩu thoát. Chúng ta có thể gọi điện thoại tới sở cảnh sát, mô tả tỉ mỉ những gì đã chứng kiến để giúp nhà chức trách lùng bắt những tên tội phạm. Hành động đó của chúng ta chính là bảo vệ điều thiện, chống lại điều ác. Nếu không dám chống lại điều ác thì một ngày nào đó xã hội sẽ bị những thế lực đen cai trị thì chúng ta sẽ hết đường sống. Kẻ nào thấy những điều ác xảy ra ngay trước mắt mà vẫn dửng dưng, không dám hận thù thì kẻ đó là đồng lõa với tội ác.

Ý NGHĨA CỦA NGÀY 30 THÁNG 4:

Ngày 30 tháng 4 là điểm mốc thời gian có giá trị lịch sử, nhắc nhở chúng ta ý thức rõ tại sao cho đến giờ phút này, hơn 60 năm đã trôi qua mà 85 triệu người vẫn phải tiếp tục làm nô lệ? Và muốn thoát khỏi cảnh nô lệ thì chúng ta phải làm gì? Phải chăng là đi theo lá cờ "chính nghĩa" của đảng cướp Việt Tân, quên đi quá khứ, hướng về tương lai, xóa bỏ hận thù, chỉ biết yêu bác Hồ và yêu đảng việt gian cộng sản mà thôi!?

Không, trăm ngàn lần không phải như vậy. Ngày 30 tháng 4 nhắc cho chúng ta phải nhớ những điều quan trọng sau đây:

1. Phải tiêu diệt bọn việt gian cộng sản và băng đảng cướp Việt Tân vì bọn chúng là hiện thân của TỘI ÁC.

2. Một khi điều (1) đã được thực hiện thì 85 triệu nô lệ mới được tự do.

3. THIỆN luôn luôn chiến thắng ÁC. Trong một thời điểm nào đó cái ác có thể thắng thế nhưng đó chỉ là tạm thời. Chung cuộc THIỆN sẽ chiến thắng ÁC. Ðây là chân lý vĩnh hằng.

4. Chúng ta dạy cho thế hệ trẻ hiểu rõ những điều 1, 2 và 3 để cùng góp sức với thế hệ cha anh gieo trồng điều thiện, tiêu diệt điều ác.

Ý nghĩa ngày Quốc Hận 30 tháng 4 quan trọng như vậy mà bầy chó săn Việt Tân cứ đòi xóa bỏ và còn ngoác mồm ra sủa ông ổng, ca ngợi chủ của bọn chúng là những kẻ "chiến thắng"! Bọn chúng không hề biết rằng toàn dân đã làm xong hai sợi giây thòng lọng trên giá treo cổ. Một cái dành cho đảng cướp việt gian cộng sản và một cái dành cho con chó săn Việt Tân. Ngày đó chắc chắn sẽ đến! Và ngày treo cổ bọn chúng cũng sẽ rơi đúng vào ngày 30 tháng 4!!!

Trần Thanh
Ngày 25 tháng 4 năm 2009