Friday, March 27, 2009

Ý nghĩa của ngày Quốc Hận 30 tháng 4 - Trần Thanh

Trần Thanh

Năm nào cũng vậy, cứ gần đến ngày 30 tháng 4 là băng đảng cướp Việt Tân lại hô hào "hướng về tương lai, xóa bỏ hận thù", hoặc "chúng ta đấu tranh vì chính nghĩa chứ không phải đấu tranh vì lòng thù hận"* Theo ý của những con chó săn Việt Tân, "xóa bỏ hận thù" tức là phải xóa bỏ ngày 30 tháng 4! Bố của chúng nó (việt gian cộng sản) dạy chúng phải sủa như thế thì chúng phải sủa như thế, không thể nào khác được! Mỗi lần sủa đúng những "bài bản" do chủ dạy, con chó săn được thưởng cho một ít đô la, đủ để đi làm "một dù" (chơi đĩ), một chầu phở và một chầu cà phê. Như vậy cũng là quá "vinh quang, hoành tráng" cho cuộc đời làm chó săn rồi!

Ðể nhìn vấn đề thật đơn giản, đừng bị những cái vỏ danh từ làm rối trí, chúng ta hãy suy luận về những điểm sau đây:

1. Giữa THIỆN và ÁC, bạn chọn cái nào?

Dĩ nhiên, khi được hỏi về điều này thì hầu như ai cũng nói:

- Tôi chọn cái thiện, tôi yêu cái thiện; tôi thù ghét cái ác, tôi quyết tâm chống lại cái ác, tiêu diệt cái ác.

Cái thiện tựa như ánh sáng, cái ác tựa như bóng tối. Ví dụ chúng ta đang sống trong một căn nhà tối tăm, không đủ ánh sáng cho con cái chúng ta học. Muốn có ánh sáng, chúng ta phải đốt lên một ngọn nến để xua bóng tối đi. Nhưng một ngọn nến chưa đủ sáng, thằng cu Tí, cu Tèo, cái Hĩm đồng kêu lên:" Bố ơi, đèn mờ quá, tụi con nhìn không rõ!" Thế là ông bố, bà mẹ phải thắp thêm ngọn nến thứ hai, rồi thứ ba, thứ tư, thứ năm ..v..v.. Và khi có điều kiện, họ xài bóng đèn điện neon, ánh sáng chan hòa trong khắp căn nhà, bóng tối đã bị đẩy lùi đi và biến mất.

Trong lãnh vực nông nghiệp, chúng ta có thể ví cây lúa tượng trưng cho cái thiện; và các loài sâu rầy, cỏ dại tượng trưng cho cái ác. Muốn có gạo ăn, bắt buộc chúng ta phải diệt sâu rầy. Hoặc khi trồng khoai, trồng bắp, chúng ta phải diệt cỏ dại.

Thực hành điều thiện (trồng lúa, trồng bắp) phải luôn luôn đi đôi với việc tiêu diệt sâu rầy và cỏ dại (diệt cái ác) Hai việc làm này phải được thực hành cùng một lúc. Nếu chúng ta không tiêu diệt sâu rầy thì những cây lúa sẽ bị chúng phá hại hết, chúng ta sẽ đói. Không bao giờ có nhà nông nào ngu tới mức, chủ trương "hòa hợp hòa giải", vừa trồng lúa và đồng thời cứ dung dưỡng cho các loại sâu rầy sống chung với lúa để tự do phá hoại mùa màng!

Chỉ có đảng cướp Việt Tân là muốn nuôi sâu rầy và cỏ dại vì chính bản thân bọn chúng là sâu rầy và cỏ dại. Bọn chúng chính là hiện thân của cái ÁC, là những kẻ phá hại xã hội, ăn bám xã hội, lười biếng không chịu làm việc, chỉ muốn đi làm việc "từ thiện", móc túi đồng bào!

2. Tự đặt câu hỏi và tự trả lời:

Xin các bạn tự hỏi và tự trả lời những câu hỏi sau đây:

- Ðảng việt gian cộng sản là tượng trưng cho THIỆN hay ÁC?

- Ðảng cướp Việt Tân là tượng trưng cho THIỆN hay ÁC?

3. Vậy phe THIỆN gồm những ai?

Xin thưa đó chính là toàn dân nô lệ trong và ngoài nước đang khao khát được tự do và đang nổ lực đấu tranh cho hai chữ TỰ DO.

Những người Việt đang sống tại hải ngoại vẫn đang bị những vòi bạch tuộc của bọn việt gian cộng sản chi phối chứ chưa phải đã được tự do hoàn toàn đâu. Chúng ta cần ý thức rõ điều này để cùng phối hợp với đồng bào trong nước đấu tranh tiêu diệt những kẻ ÁC.

4. Ngụy biện của đảng cướp Việt Tân:

Ðảng cướp Việt Tân tự nhận: " ... chúng ta đấu tranh vì chính nghĩa chớ không phải vì hận thù"*.

"chúng ta" là ai? Ðây là hành động quơ đũa cả nắm. Cái gọi là "chúng ta" của băng đảng Việt Tân chỉ là những tên chó săn đi làm tay sai cho bọn việt gian cộng sản. Những người dân lương thiện không bao giờ là thành viên trong cái đảng cướp đó.

Chính nghĩa tượng trưng cho điều THIỆN. Chính nghĩa là những hành động như đốt lên những ngọn nến xua tan bóng đêm, trồng lúa và trồng bắp. Chính nghĩa tượng trưng cho luật pháp công minh, không dung dưỡng tội ác. Những kẻ phạm tội trộm cướp, giết người, lừa đảo thì phải bị trừng phạt, bị tống cổ vào tù hoặc bị treo cổ.

Ðảng cướp Việt Tân không có tư cách gì tự xưng chúng là đại diện cho "chính nghĩa". Ai đời cái thằng chuyên đi ăn cướp mà tự xưng mình là đại diện cho công lý! Cái gọi là "chính nghĩa" của bọn chúng chính là sự lừa bịp đồng bào, quyên được vài chục triệu Mỹ kim để nuôi một sư đoàn kháng chiến .... ma gồm 10 ngàn tay súng ở biên giới Thái Lan! Cái gọi là "chính nghĩa" của bọn chúng chính là chủ tịch Hoàng Cơ Minh có phép thần thông tựa như Tề Thiên Ðại Thánh, bị việt cộng bắn vỡ sọ rồi mà vẫn tiếp tục sống tới 14 năm sau mới chết!!! Cái gọi là "chính nghĩa" của bọn chúng chính là đi ám sát những ký giả, đi gieo rắc khủng bố trong cộng đồng, gây chia rẽ, phá hoại sự đoàn kết của những người quốc gia. Cái gọi là "chính nghĩa" của bọn chúng chính là đòi xóa bỏ ngày Quốc Hận 30 tháng 4, đòi hủy bỏ lá cờ vàng ba sọc của người quốc gia ..v..v...

NHỮNG ÐIỀU CẦN DẠY CHO THẾ HỆ TRẺ:

Nếu chúng ta dạy cho thế hệ trẻ cách trồng lúa, trồng bắp thì đồng thời phải dạy cho chúng biết cách diệt trừ sâu rầy và cỏ dại. Muốn hiểu rõ điều thiện, trân quý điều thiện thì ta phải biết rõ những sự tai hại của điều ác. Một người chỉ biết quý trọng giá trị của cây nến khi người đó đã từng bị sống trong bóng đêm hãi hùng. Chúng ta dạy cho thế hệ trẻ hiểu rõ chính nghĩa quốc gia thì đồng thời phải dạy cho chúng biết rõ thế nào là những núi tội ác của cộng sản và thế nào là những tội ác cùng những trò lưu manh, điếm đàng của đảng cướp Việt Tân.

Gây dựng điều thiện và chống lại điều ác là hai hành động phải được thực hiện cùng một lúc. Chống lại điều ác chính là bảo vệ điều thiện. Hiểu rõ điều ác và thù ghét nó cũng là điều rất tốt. Có thù ghét mới có yêu thương và ngược lại. Không hận thù bọn cướp việt gian cộng sản và Việt Tân thì chúng ta không thể nào đấu tranh thành công, giải thoát được 85 triệu nô lệ. Bọn chúng là sâu bọ, là cỏ dại thì phải bị diệt bỏ. Giết một con rắn hổ mang để cứu hàng trăm con thỏ, con gà là điều rất nên làm. Nếu chúng ta sợ mang tiếng là "hận thù" mà không dám giết con rắn thì sinh mạng của bầy thỏ và bầy gà sẽ đi về đâu?

Giả sử chúng ta thấy một băng cướp có súng, cướp tiền trong nhà băng xong rồi tẩu thoát. Chúng ta có thể gọi điện thoại tới sở cảnh sát, mô tả tỉ mỉ những gì đã chứng kiến để giúp nhà chức trách lùng bắt những tên tội phạm. Hành động đó của chúng ta chính là bảo vệ điều thiện, chống lại điều ác. Nếu không dám chống lại điều ác thì một ngày nào đó xã hội sẽ bị những thế lực đen cai trị thì chúng ta sẽ hết đường sống. Kẻ nào thấy những điều ác xảy ra ngay trước mắt mà vẫn dửng dưng, không dám hận thù thì kẻ đó là đồng lõa với tội ác.

Ý NGHĨA CỦA NGÀY 30 THÁNG 4:

Ngày 30 tháng 4 là điểm mốc thời gian có giá trị lịch sử, nhắc nhở chúng ta ý thức rõ tại sao cho đến giờ phút này, hơn 60 năm đã trôi qua mà 85 triệu người vẫn phải tiếp tục làm nô lệ? Và muốn thoát khỏi cảnh nô lệ thì chúng ta phải làm gì? Phải chăng là đi theo lá cờ "chính nghĩa" của đảng cướp Việt Tân, quên đi quá khứ, hướng về tương lai, xóa bỏ hận thù, chỉ biết yêu bác Hồ và yêu đảng việt gian cộng sản mà thôi!?

Không, trăm ngàn lần không phải như vậy. Ngày 30 tháng 4 nhắc cho chúng ta phải nhớ những điều quan trọng sau đây:

1. Phải tiêu diệt bọn việt gian cộng sản và băng đảng cướp Việt Tân vì bọn chúng là hiện thân của TỘI ÁC.

2. Một khi điều (1) đã được thực hiện thì 85 triệu nô lệ mới được tự do.

3. THIỆN luôn luôn chiến thắng ÁC. Trong một thời điểm nào đó cái ác có thể thắng thế nhưng đó chỉ là tạm thời. Chung cuộc THIỆN sẽ chiến thắng ÁC. Ðây là chân lý vĩnh hằng.

4. Chúng ta dạy cho thế hệ trẻ hiểu rõ những điều 1, 2 và 3 để cùng góp sức với thế hệ cha anh gieo trồng điều thiện, tiêu diệt điều ác.

Ý nghĩa ngày Quốc Hận 30 tháng 4 quan trọng như vậy mà bầy chó săn Việt Tân cứ đòi xóa bỏ và còn ngoác mồm ra sủa ông ổng, ca ngợi chủ của bọn chúng là những kẻ "chiến thắng"! Bọn chúng không hề biết rằng toàn dân đã làm xong hai sợi giây thòng lọng trên giá treo cổ. Một cái dành cho đảng cướp việt gian cộng sản và một cái dành cho con chó săn Việt Tân. Ngày đó chắc chắn sẽ đến! Và ngày treo cổ bọn chúng cũng sẽ rơi đúng vào ngày 30 tháng 4!!!

Trần Thanh
Ngày 25 tháng 4 năm 2009


Thursday, March 26, 2009

ĂN VÀ ÔM - Đinh Lâm Thanh


Đinh Lâm Thanh

Ầm thực là một ngành nghệ thuật thuộc văn hóa cổ truyền của từng dân tộc, trong đó, từ cách chế biến, trình bày cho đến thưởng thức đều mang một sắc thái riêng. Mỗi xứ, mỗi vùng đều có tục lệ ăn uống riêng và những món ăn đặc biệt được giữ bí mật, có thể nói, là gia truyền từ nguyên vật liệu, phương thức pha chế cho đến kỹ thuật nấu nướng. Nói về phương diện hưởng thụ thì vùng nào, tùy theo thời gian và không gian, cũng đều có những phong tục tập quán riêng biệt về ăn uống. Nói một cách chung chung về hình thức, vua quan quý tộc La Mã ngày xưa thì ăn nằm, có người đẹp dâng đến tận miệng. Người Châu Âu (nhất là Pháp) từ xưa đến nay vẫn thường nặng phần trình diễn ly, chén dĩa, muỗng nĩa với bình hoa và đèn cầy để bàn, bữa ăn có thể kéo dài đến ba bốn tiếng đồng hồ. Dân Mỹ thì thực tế, vừa làm việc vừa ăn hay vừa đi vừa nhai một cách thoải mái tự nhiên. Đôi khi trong các buổi tiệc, vừa qua vài mục ca hát thì thực khách đã chấm dứt các món ăn trong thực đơn ! Người Tàu "xực phàn" với tất cả tâm tình, vừa ăn vừa húp sùm xụp, vừa "xí xô xí xà" trước hàng chục món lí nhí trên bàn ! Ngược lại đối với một số dân tộc người Phi Châu thì thật đơn giản, chỉ cần miếng lá chuối và năm ngón tay là giải quyết xong chuyện !

Hình thức ăn uống biểu lộ tác phong và nhân cách của từng cá nhân một, do đó bài học đầu tiên của các nhà ngoại giao hoặc chính khách là cách thức ăn uống trong các buổi hội họp, giao tế, tiếp tân. Như vậy, vấn đế ăn uống không đơn giản như đa số người bình dân thường nghĩ, mà chính là một nghệ thuật, vì ăn làm sao cho ra vẻ văn minh, đẹp mắt và có giáo dục !

Trở lại vần đế ẩm thực của người Việt Nam ngày trước cũng lắm phong cách theo tập tục cổ truyền và đây cũng là một vấn đề quan trọng mà các cụ rất chú trọng chương trình giáo dục con người ngay từ lúc vừa khôn lớn theo câu "Học ăn, học nói, học gói, học đùm". Như vậy việc ăn uống ngày xưa được đưa lên hàng đầu trước những chuyện khác như dạy nói và làm việc (gói, đùm)… Ngoài ra việc ăn uống trong các gia đình trước kia còn phải tuân theo tôn ty trật tự mà bậc cha mẹ bắt buộc dạy cho con cháu như "ăn xem nồi ngồi xem hướng". Nhưng khi ra ngoài dự đám cỗ thì các cụ dạy phải nhanh tay lẹ mắt để ăn "một miếng giữa đàng bằng một sàng trong bếp", đừng giả vờ e lệ rồi ôm bụng đói ra về !

Phong cách ăn, bậc cha mẹ ngày xưa còn dạy con cái về hình thức lễ phép khi có dịp ngồi chung với người lớn. Vào bàn thì phải biết lựa chỗ thích hợp với vai vế tuổi tác và phải đọc một bài thuộc lòng mời đủ mọi người có mặt như (đa số ở những gia đình người Băc) "Mời ông, mời bà, mời cha, mời mẹ, mời chú, mời bác mời cô mời dì, mời anh, mời chị xơi cơm", rồi phải đợi tất cả nâng chén lên xong xuôi mới đến lượt trẻ nhỏ. Trong lúc ăn phải ngậm miệng để nhai, không được chắp lớn tiếng, không được nhìn ngang liếc dọc hay chen vào chuyện người lớn (khuôn phép của các gia đình người Trung). Ngoài ta cũng không được ăn nhanh và phải nhắm chừng thức ăn trong mâm, tránh vượt quá số lượng khẩu phần dự trù những người có mặt. Ngồi vào bàn, con cháu không được lựa miếng ngon gắp hết vào chén mình ! Và cuối cùng một điều quan trọng là phải canh chừng thế nào để cùng chấm dứt bữa ăn một lượt với người lớn, nếu bỏ đũa bước ra thì xem như thái độ vô lễ !

Khác với trong Nam, ngày trước việc ăn ngoài đường đối với người Huế là một điều tối kỵ. Muốn ăn sang thì vào tiệm (rất hiếm tiệm ăn ở Huế, cả thành phố chỉ có vài ba nhà hàng gì đó), bình dân thì vào chợ Đông Ba… Nhưng đàn ông ăn tiệm thường bị thiên hạ xem như một hiện tượng "quái đản" và bà nào ăn chợ thì bị gán cho danh từ "mất nết" ! Con trai ăn ngoài đường chắc chắn ế vợ, con gái ăn hàng thì sẽ ế chồng ! Về vấn đề kinh tế, đối với đồng bào miền Bắc cũng như Trung, việc ăn uống của những gia đình bình dân có vẻ đơn giản. Làm ra mười chỉ ăn một hai, còn bao nhiêu chắt chiu dành dụm để phòng khi trở mùa giông bão lụt lội. Trái lại dân miền Nam thì ăn uống thoải mái, làm bao nhiêu ăn bấy nhiêu, vì họ sống trên các vùng đất tài nguyên phong phú. Chẳng cần lo lắng, hôm nay có gì ăn hết ngày mai ra đồng bắt cua, xuống ao mò ốc, ra đồng mót lúa, quăng mẻ lưới dưới sông thì tôm cá ăn cả tuần chưa hết…

Theo quan niệm của giới bình dân, ăn được xếp vào hàng đầu trong những cái khoái của con người. Ở đâu cũng vậy, miếng ăn rất quan trọng, người nghèo đói không ăn thì chết nhưng đối với kẻ giàu, ngoài việc hưởng thụ còn là một hình thức phô trương và nặng phần trình diễn. Nếu hỏi một người nghèo đói rằng họ muốn ăn gì thì được trả lời ngay rằng "cái gì cũng thèm cả". Nhưng một khi trở nên giàu có thì họ thường trả lời câu hỏi một cách trịch trượng rằng "Chán quá ! Chẳng còn biết ăn cái gì cho vừa miệng nữa !"

Động từ "ăn" nếu đứng một mình thì chỉ hành động đưa thức ăn vào miệng, nhai và nuốt xuống dạ dày. Nhưng kèm theo với một động từ, danh từ hay tỉnh từ khác thì chữ ăn được hiểu qua một hướng khác như : ăn lời, ăn chia, ăn quỵt, ăn có, ăn tạp, ăn bám, ăn xài, ăn năn, ăn gian, ăn hiếp, ăn hại (đồ ăn hại !) ăn bận (ăn mặc), ăn sương (gái điếm), ăn nhằm (ăn nhằm gì !), ăn nằm (giữa hai người khác phái), ăn không ngồi rồi, muốn ăn thì lăn vô bếp, ăn nên làm ra, ăn đi trước lội nước đi sau, cha ăn mặn con khát nước, ăn xem nồi ngồi xem hướng, học ăn học nói học gói học đùm….. trong nhân gian còn nhiều từ khác và các nhà nghiên cứu ngữ học chắc chăn còn cả một kho tàng về chữ ăn nữa…

Có nhiều cách dùng tiếng ăn: Tôn trọng thì mời ngài thỉnh, mời cụ thỉnh. Lịch sự thì mời ông bà xơi cơm, mời anh chị tạm dùng bữa. Bình dân thì mời ăn cơm, "đánh chén một chầu", "nhậu" một bữa cho vui, hoặc "làm láng sáng về sớm", "vô đi kẻo phí của Trời". Miệt thị ai thì dùng chữ xực, đớp, giộng, táp (ám chỉ heo và chó) và tứa. Viết đến đây, tôi còn nhớ câu chuyện do cụ Nguyễn Văn Hanh, là người cầm lọng chạy theo hầu vua từ thời Khải Định cho đến Bảo Đại, kể lại cho nghe từ hồi còn nhỏ: Một vị quan có nhiệm vụ hầu Vua Khải Đinh về việc trầu cau, điếu đóm và ăn uống trong cung, rất ghét thực dân Tây. Một hôm vua Khải Định tiếp và đãi quan toàn quyền tại cung An Định, đến giờ cơm, vị quan trình mời vua dùng bữa và quay qua kính cẩn nói xỏ quan toàn quyền: Mời ngài vào "táp" ! Quan toàn quyền bằng lòng vì vị quan nầy biết nói một chữ tiếng Tây là "táp"! (à table, có nghĩa là vào ăn, theo lối nói bình dân).

Ngày nay "nhờ" văn hóa đỏ của cộng sản, ngành ẩm thực đã tiến nhanh tiến mạnh lên đến "đỉnh cao dạ dày". Từ hang cùng ngõ hẻm ra đến đường cái, từ giới bình dân lao động đến quan chức cán bộ, cũng như từ trong Nam ra Trung đến tận ngoài Bắc… đi đâu cũng thấy ăn và nghe nói đến chuyện ăn ! Vậy trong tình trạng kinh tế đình trệ, thất nghiệp đói kém nhưng tại sao lúc nầy người ta ăn nhiều ? Đây là một điều nghịch lý nhưng thử tìm hiểu lý do qua ba hình thức xếp thực khách vào các loại sau :

1. Dân lao động thì nghèo đói, bất mãn. Công nhân viên nhà nước mất niềm tin, không ai còn nghĩ đến cuộc sống ngày mai, tương lai gia đình và con cái… Kiếm được đồng nào, dù không đủ tiền mua ký gạo, nhưng trước khi về nhà cũng ghé vào quán, chén cháo, củ khoai, trái cóc, con ốc, miếng cá… là miếng mồi cần thiết để mượn hơi men quên hôm nay, quên ngày mai và quên luôn cuộc đời… Đối với thành phần nầy, sau một ngày làm việc khổ cực, họ cần phải say để ngủ lấy sức và ngày mai còn hơi kéo cày trả nợ ! Thành phần thất nghiệp, học sinh cũng như sinh viên là khách hằng ngày của các gánh hàng rong. Việc làm không có, tiền cũng không thì các quán bình dân ngoài đường là nơi mà bất cứ ai chỉ cần có một số tiền nhỏ cũng có thể ngồi tán gẫu hàng giờ. Sinh viên học sinh dưới chế độ "ưu việt" cộng sản đều mất niềm tin, con đường học vấn của họ chưa biết đi về đâu ? Nếu không phải thuộc thành phần COCC (con ông cháu cha) , tỷ phú đỏ, gia đình Việt Kiều thì dù phải thắt lưng buộc bụng để đeo đuổi vài năm đại học, nhưng rồi trước sau gì cũng trở thành thợ vịn (thợ phụ bất đắc dĩ) hay phải đóng tiền cho nhà nước để được ra nước ngoài làm nô lệ hay tự bán thân để nuôi miệng mình !

2. Giới trung lưu tập trung vào các nhà hàng. Họ là những người kiếm tiền khá dễ dàng, đa số nhờ bám vào chế độ, nhất là thành phần thương mãi và trung gian. Hai nghề nầy đang thịnh hành, thành công tiền bạc nếu biết núp bóng ác quỷ, ăn chia đồng đều với tham nhũng, ma giáo và bọn vô lương tâm để lừa lọc, bóc lột những người cô đơn thất thế… Nhất là bọn trung gian biết mánh lới, xảo quyệt, bịp bợm, biết ăn nói lưu loát, dụ dỗ hay, có thể kiếm hàng triệu, hàng chục triệu không mất một giọt mồ hôi. Thành phần nầy ngồi đầy cả trong các nhà hàng tiệm ăn…. vì nơi đây là văn phòng làm việc, nơi môi giới trả giá thương lượng. Ngoài ra cũng không quên trong giới ăn chơi nầy còn có Việt kiều áo gấm, trở về Việt Nam là phải vào các nhà hàng sang trọng, ăn để trả thù tại những nơi mà trước kia đã có lần nhịn thèm đứng bên ngoài nhìn vào ! Cuối cùng cũng nên để ý sẽ thấy một số thân nhân của Việt kiều nước ngoài, ăn uống tại những nơi nầy rất thoải mái vì họ đã có người bà con ở hải ngoại hằng ngày kéo cày để thanh toán hóa đơn nhà hàng giùm cho họ!

3. Giới thứ ba là thành phần đảng viên, cán bộ, COCC và dòng họ của "nón cối dép râu", hay "bọn giòi bọ" (tên để đời do người Nhật đặt cho bọn Cộng Sản Việt Nam), ăn chơi trả thù cho những ngày đói rách trong rừng với cơm độn khai sắn chấm muối vừng. Tiền của của dân thì tội gì chúng không ăn tiêu phí phạm. Khách của nhà hàng khách sạn từ 4 đến 5 sao là toàn những bộ mặt ngu đần, mặt mo, mặt mẹt dòng họ bọn chúng. Chúng "giộng", chúng "táp" hết đồ ngon của lạ đến độ mỗi ngày phải uống thuốc xổ tống đồ chưa tiêu hóa ra đàng sau, ói ra bằng miệng trước các món vừa nuốt vào để còn chỗ trống ăn tiếp tục... trong lúc người dân thấp cổ bé miệng, nghèo đói không đủ ngay hai bữa khoai, sắn, cháo, cơm ! Bọn nầy ăn no rồi rửng mỡ mà "bộ máy ái tình" của tên nào cũng trở thành "liệt sĩ" nằm yên bất động. Chúng phải tìm cách vực "bộ máy ái tình" đứng dậy, do đó chúng không chừa bất cứ một thứ gì và mua với bất cứ giá nào miễn là kéo lại sức lực để hưởng thụ. Xã hội Việt Nam bây giờ cái gì bổ thận cường dương, phục vụ tốt chuyện phòng the thì tự nhiên trở thành đắt giá. Các ông chẳng cần kiêng cử gì, cái gì cũng ăn, con gì cũng xực để phục vụ những ngày hồi xuân… từ ngọc dương, cóc nhái, rùa rắn, khỉ, hổ, chồm, báo, cá sấu, ong kiến, bò cạp, các kè, mật gấu, sừng tê giác, bửa củi đến "của quý " thú vật đều không tha… Khốn nạn nhất là nghe lời mấy thằng Tàu cộng, uống máu trinh, ăn thai nhi còn trong bụng mẹ để được "đêm bảy ngày ba vô ra không kể ". Đối với bọn nầy cuộc đời của chúng chỉ có cái mồm để "giộng" vào, lỗ sau "nhả" ra và ngày đêm trau chuốt "bộ máy ái tình" thật tốt để thỏa mãn thú tính.

Người có giáo dục thường xem bữa ăn rất thiêng liêng và phải được tôn trọng. Ăn phải lên mâm lên chén, không bốc hốt ăn vụng trên bếp hoặc trong nồi, ăn mặc tươm tất trước khi vào bàn, ăn từ tốn để thưởng thức hương vị. Có những tôn giáo dạy giáo dân đọc kinh cảm tạ Thượng Đế trước khi cầm đũa, hoặc phải rửa tay cẩn thận và chỉ được dùng mấy ngón của bàn tay trái để bốc thức ăn ! Người có lỗi dù nặng đến đâu cũng phải tôn trọng miếng ăn và để yên cho họ xong bữa ăn trước khi la rầy phân xử theo châm ngôn "Trời đánh tránh bữa ăn". Tử tội xứ nào cũng vậy, đều được đãi một bữa ăn thịnh soạn trước khi ra pháp trường lãnh lát dao hay viên đạn cuối cùng. Đó là nề nếp của một nền văn hóa nhân bản, buộc mọi người xem miếng ăn và bữa ăn là ân huệ thiêng liêng của Trời, nhưng đối với cộng sản, chúng lại dùng miếng ăn để chỉ huy và sai khiến con người ! Đó là chủ trương văn hóa đỏ của cộng sản. Người ta không ngạc nhiên khi khám phá ra cấp chỉ huy cộng sản giam đói quân lính bộ đội, buộc những con thiêu thân nầy phải tiến chiếm mục tiêu trước để được nhận lãnh khẩu phần hằng ngày. Do đó nhiều bộ đội trẻ phải liều chết chiếm đồn (thời Pháp cũng như Việt Nam Cọng Hòa) để được miếng ăn còn hơn phải chết đói ngoài mặt trận. Một chứng minh cho đồng bào miền Nam sau ngày mất nước, cộng sản cắt hộ khẩu, cúp phần thực phẩm bán theo đầu người, nếu gia đình nào vắng mặt nhiều lần họp tổ dân phố, hoặc trốn tránh lao động nghĩa vụ hay chống việc khăn gói lên đường đi vùng kinh tế. Đỉnh cao trí tuệ của chế độ ưu việt cộng sản là dùng bao tử để cai trị con người là một vết nhơ phải ghi vào lịch sử của nhân loại.

Ăn xong rồi bây giờ đến Ôm ! Ôm là một bộ môn văn hóa độc đáo và ưu việt của "thiên đường" cộng sản. Không biết thú vui nầy được sắp vào thứ bậc nào nhưng giới mày râu mỗi khi nghe đến chữ "ôm" thì hai mắt sáng rực lên ! Như vậy đối với đàn ông ôm sẽ chiếm ngôi vị đầu trong ngũ khoái (tứ khoái cọng thêm ôm là ngũ khoái)

Ở Việt Nam ôm có nhiều hình thức:

Bia ôm: Đàn ông nhân danh đi uống bia nhưng vào bar rồi lại uống ít mà tay chân thì làm việc nhiều. Các em chiêu đãi tự nhiên như người Hà Nội, mở bia lia lịa, giấu dưới bàn, đổ ra sàn gạch… rồi khổ chủ cứ tự nhiên trả tiền trước đứng dậy ra về mà... vẫn sướng !

- Cà-phê ôm: Hình thức gần giống như bia ôm, nhưng một ly cà phê có thể lên hàng chục ngàn đồng nếu biết lợi dụng câu giờ ôm và tận tình thám hiểm thì không đến nỗi phí tiền phí bạc !

- Karaokê ôm: Chưa có thú tiêu khiển nào thanh lịch và văn minh hơn hình thức ôm nầy. Khách vào mở nhạc, miệng hát mà tay chân thì làm việc thoải mái… đến một lúc nào đó chẳng biết mình đang hát cái gì và hát đến đâu nữa thì, một là ra về, hai tiếp tục dẫn em lên thiên thai hay đi xuống địa ngục !.

- Tắm ôm: Hình thức độc đáo này phát xuất trước kia tại các vùng biển. Khách được mời xuống biển vừa tắm, vừa ôm, vừa làm những chuyện khác rất sạch sẽ ở dưới nước. Tắm ôm có giá cả và giờ giấc đàng hoàng. Chỉ ôm không thì "giá mềm", nhưng mấy ai đã ôm nhau như sam mà không tới luôn bác tài !

Trường hợp nầy thì chủ tính tiền theo "giá cứng". Do vừa tiện lợi vừa kiếm nhiều tiền, nghề tắm ôm được phát triển mạnh mẽ thêm ở trên cạn ! Hình thức tắm ôm trên bờ cũng thuận lợi đủ điều, chẳng cần phòng ốc, giường chiếu, khăn màn và công an gác cửa. Vì không có biển có sông thì tắm ở trong bồn ! Ôm được "tối đa" mà chẳng sợ ai dòm ngó !

- Võng ôm: Một số nhà trong các quận ven đô Sài Gòn lợi dụng vườn cây ăn trái để tổ chức võng ôm. Chủ nhà treo những chiếc võng khuất trong các lùm cây và đặc biệt dành cho học sinh, sinh viên trốn học dẫn nhau vào đây du hí từ sáng đến tối. Chỉ cần đóng tiền thuê võng rồi tha hồ ăn trái cây và vui chơi thoải mái không thầy cô nào kiểm soát, quấy rầy ! Cha mẹ thì yên chí con đến trường, lên lớp và vào thư viện làm bài từ sáng đến tối, ngày nào cũng như ngày nào cho đến lúc nào kết quả trông thấy… thì mới ngưng ôm võng !

- Đấm bóp ôm: Việt Nam là học trò của Thái Lan nhưng lại vượt qua mặt thầy không kèn không trống ! Đấm bóp ở Việt Nam là hình thức nói chơi cho vui vì khách vừa nằm lên giường, đấm bóp viên đã bỏ hết lớp áo quần, ngồi ngay trên bụng khách mà xoa bóp thì ông già bảy mươi cũng hồi xuân huống gì trai trẻ hay các ông đang độ sồn sồn ! Cứ việc ra giá tiền bạc thì đấm ngồi, đấm nằm, đấm nghiêng đấm ngửa gì cũng được !

- Hớt tóc ôm: Một người đi Việt Nam về kể cho nghe, có ông già tại Việt Nam cứ vài ba ngày đi hớt tóc một lần. Tóc thì chỉ còn lơ thơ vài sợi mà cứ hớt đi hớt lại mãi, đến nỗi đầu chằng còn thấy sợi nào nữa. Thế mà vẫn khoái đi hớt cái đầu trọc ! Cứ ngồi, mở lớn mắt ra mà thưởng thức của (còn) non, của lạ đang vờn qua vờn lại trước mặt. Các tay thợ muốn dụ khách kiếm thêm tiền "boa" thì cứ việc kéo đầu mấy ông già vào ngay bộ ngực nửa hở nửa kín kia là ăn tiền ! Thế nào ngoài tiền hớt của chủ, thợ cũng kiếm được "boa" gấp đôi, nhất là khi gặp được vài ông Việt kiều già mất nết !

- Ráy tai ôm: Đây là kiểu ôm mấy ông Việt kiều thích nhất. Cô thợ ngồi bên trái nhưng lại ráy tai phải của khách hoặc ngược lại, mặc dù ngồi kiểu nầy cô thợ trẻ chẳng thấy gì trong lỗ tai khách hàng. Khách cũng không cần thắc mắc, cứ nhắm mắt đê mê cho đến lúc đứng dậy móc ví trả tiền !

- Câu ôm: Đóng tiền, nhận mồi và cần câu rồi kiếm một túp lều trống hay đi ra xa một chút, thả cần xuống câu rồi… tự do ôm, có công an canh chừng khu vực ! Chẳng cần biết có cá hay không, cá căn câu hay mồi còn hay hết làm gì, cứ việc say sưa ôm cho đến hết giờ, xong trả cần ra về thoải mái…

- Du lịch ôm : Chắc chắn cộng sản đã tổ chức những cuộc du lịch ôm cho những Việt kiều có máu mặt, những ông già khoa bảng về nghiên cứu hợp tác và kinh doanh buôn bán làm ăn tại Việt Nam, nhưng chưa thấy báo chí khui ra những vụ nầy. Tôi lấy chuyện xảy ra tại Châu Âu các đây vài năm để dẫn chứng vấn đề du lịch ôm. Một tổ chức địch-vận-kiều-vận của Cộng Sản nước ngoài nghiên cứu từng cá nhân một mà chúng nhắm vào để tổ chức một cuộc du ngoại, học hỏi, tìm hiểu văn hóa ở nước ngoài và cuộc du ngoạn nghiên cứu chỉ dành riêng cho các vị trí thức khoa bản đàn ông… Dĩ nhiên là đoàn du lịch không có đàn bà (đa số các bà ít tham dự vào các sinh hoạt chính trị của các ông, nhất là nghe đi quan sát nghiên cứu). Chương trình kéo dài một tuần tại thủ đô ở một nước Đông Âu (một quốc gia định cư của nhiều người lao động được Cộng Sản gài lại và cũng là cái ổ "nô lệ chui" do nhà nước tổ chức gởi qua). Đoàn người chừng khoảng gần 20 người, khi qua đến nơi, những người nầy được giới thiệu những cô gái trẻ, đẹp sẽ cùng đi tháp tùng với đoàn trong thời gian du ngoạn, nghiên cứu… Thế là mỗi ông được một cô làm bạn hầu hạ tới bến của cuộc du lịch nằm cho đến lúc chia tay. Nhưng sau đó các ông đều tá hỏa tam tinh vì những cuộc du lịch "nằm" đã được tận tình thu hình, các ông muốn yên thân thì nghe lời đừng chống đối chế độ và hãy tích cực tham gia chương trình hoà giải hòa hợp…

- Ôm tới bến: Hay còn nói ôm từ A đến Z. Kinh nghiệm ôm không cho phép người đàn ông bỏ ngang giữa chừng, dù ôm dưới hình thức nào, giờ giấc nào nhưng khi đã "tiến nhanh tiến mạnh" lên tột đỉnh đê mê khoái cảm thì phải đi tới bến. Các em bé thì rủ rê mời mọc "tới luôn đi bác tài" thì chuyện gì xảy ra sau đó chỉ có trời biết nếu không ôm phải một đống vi khuẩn HIV thì đã thành công qua mặt được bà xã !

Ôm cũng có nhiều kiểu:

- Ôm đứng: Ôm kiểu "dã chiến" nầy ở Việt Nam thường xảy ra trong các bụi cây, vách tường, trụ đèn, nhà vệ sinh cửa hàng, quán ăn, tiệm cà-phê, kẹt lắm thì trong toilette công sở, phi trường, trên phi cơ… hay ngay trong "bureau" của cán bộ cao cấp… Đây chỉ là "ôm khai vị" của hai người kẹt giờ, kẹt tiền, kẹt chỗ, mới quen nhau, hoặc giữa thư ký với chủ trong giờ làm việc…

- Ôm ngồi: Hình thức nầy thấy nhiều trong các bar, quán cà-phê, phòng trà… là giai đoạn đầu của "ôm nằm" nhưng thật đắt khách. Tại các thành phố lớn với hàng ngàn bar, tiệm, quán mỗi đêm đều đông nghẹt khách hàng. Đây là hình ảnh thành công đậm nét qua việc giáo dục theo chủ nghĩa văn hóa đỏ cũng như mưu đồ ru ngủ thế hệ trẻ của chế độ cộng sản.

- Ôm nằm: Là giai đoạn chót của các hình thức ôm để kết thức việc mua bán giữa hai người khác phái.

- Ôm bay: Hiện giờ thì chưa xuất hiện tại Việt Nam nhưng tôi cam đoan chỉ một thời gian ngắn nữa sẽ được nhà nước khai trương. Các cô các cậu muốn làm nhân viên phi hành, dù là rót trà bưng cà-phê nhưng muốn được thu dụng mỗi người phải đóng từ năm, bảy đến cả chục cây vàng. Khi được thu nhận thì phải làm thêm để kiếm tiền như chuyển tiền lậu, buôn bạch phiến (xảy ra tại Úc), giao áo quần may sẵn, buôn thịt chó tươi (giao cho khách hàng tại Pháp), ăn cắp hàng trong các siêu thị, chở hàng lậu về Việt Nam (xảy ra tại Nhật) đã bị khám phá thì đồng lương lương thiện đâu đủ để đóng hụi chết. Hơn nữa, Việt kiều tẩy chay Air Việt Nam, chắc chắn công ty nầy sập tiệm. Chỉ cón một cách mở "dịch vụ bay ôm" để móc tiền khách trên các đoạn đường bay suốt hàng chục tiếng đồng hồ. Các ông thường đi về Việt Nam chuẩn bị để hưởng của lạ đắt giá nầy vì "đối tượng ôm" được tuyển chọn gắt gao bằng cả chục cây vàng ! Nhưng khuyên các ông mất nết về hưu ăn tiền già, đừng hòng rớ vào của quý nầy, phỏng tay đấy ! Giá không rẽ như ôm "mari-sến" ở Việt Nam đâu ! Coi chừng chúng đập thẳng tay để đủ tiền đóng hụi chết !

Một xã hội mà chuyện "ăn" và "ôm" được người dân đưa lên hàng đầu, những tệ trạng xấu xa nầy nếu không phải là chủ trương của nhà cầm quyền thì cũng là con đẻ của cái văn hóa đỏ. Vậy tương lai đất nước và dân tộc Việt Nam sẽ đi về đâu khi chỉ biết "ăn" và "ôm" !

Đinh Lâm Thanh


Tuesday, March 24, 2009

Trao đổi ngỏ gửi Ông Dương Trung Quốc - Phạm Hồng Sơn

Trao đổi ngỏ gửi Ông Dương Trung Quốc, tác giả bài viết «Những người đi theo cách mạng ».

Phạm Hồng Sơn

Kính gửi Ông Dương Trung Quốc,

Vừa rồi tôi có đọc bài viết «Những người đi theo cách mạng » của ông đăng trên Lao Động cuối tuần số 12 năm 2009. Tôi xin được trao đổi với ông một số chi tiết sau:

1. Ông có viết: «Lịch sử hiện đại nước ta luôn được quan niệm là lịch sử cách mạng. Vì xuyên suốt thế kỷ XX vừa qua là cả một trường kỳ, một chuyển đổi chính trị to lớn làm thay đổi một cách căn bản diện mạo của đất nước từ xã hội truyền thống sang hiện đại, từ khép kín trong thế giới Trung Hoa sang đối chọi với chủ nghĩa thực dân phương Tây, rồi hội nhập với những trào lưu chính trị thế giới và cuối cùng là xây dựng một thể chế cộng hòa, xác lập nền độc lập và thống nhất quốc gia bằng cách mạng và chiến tranh cách mạng...Cách mạng Tháng Tám 1945 hiện diện trong lịch sử dân tộc như một cái mốc quyết định của sự chuyển đổi, như một cái bản lề mở ra một cánh cửa mới, như một động thái « bẻ ghi » hướng con tàu của đất nước sang một hướng đi hoàn toàn khác trước. Cuộc cách mạng ấy không chỉ gạt bỏ cái ách thống trị của ngoại bang, giành độc lập như tổ tiên đã từng làm trong lịch sử, mà quan trọng hơn hết là nó đã chấm dứt vĩnh viễn chế độ quân chủ đã tồn tại cả ngàn năm, mở ra một sự lựa chọn mới cho dân tộc trên nền tảng của một thể chế Dân chủ-Cộng hòa. » (tôi xin nhấn mạnh bằng những chữ in đậm)

- Tôi không nghĩ cái « xã hội hiện đại » được xây dựng sau Cách mạng Tháng Tám 1945 là đáng ca ngợi hơn cái « xã hội truyền thống » của ông cha ta trước đây. Chỉ căn cứ vào một tiêu chí có tính nền tảng của mọi xã hội là tính trung thực, thì cái « xã hội hiện đại » đó đã không vượt qua được cái « xã hội truyền thống » trước đó. Vì nếu như trong « xã hội truyền thống » trước đó, các thư lại, quan quân của triều đình phải phục tùng vua một cách tuyệt đối thì trong cái « xã hội hiện đại » sau năm 1945 đó, các cán bộ nhà nước cũng phải phục tùng tuyệt đối mọi chỉ đạo của Đảng (Lao động hay Cộng sản Việt Nam). Và trong « xã hội truyền thống » trước đó, sự tiết tháo giữ gìn liêm sỉ của các công chức nhà nước (nói theo ngôn ngữ hiện đại ngày nay) trước sự hách dịch, suy đồi, hủ bại của kẻ có quyền vẫn còn là một truyền thống. Cuộc sống phú quí thì con người ở thời nào cũng muốn, nhưng trong « xã hội truyền thống » vẫn có nhiều công chức sẵn sàng dứt bỏ phú quí, rũ áo từ quan chịu cảnh nghèo hèn để giữ lấy liêm sỉ như Huỳnh Mẫn Đạt, Nguyễn Khuyến,... hay giữ thái độ cương trực của kẻ sĩ như Lê Sĩ Nghị, Ông Ích Khiêm, Nguyễn Hữu Huân,...Thử hỏi hệ thống cầm quyền trong cái « xã hội hiện đại » sau năm 1945 của chúng ta có liệu có ít sai lầm, hách dịch hay độc đoán hơn triều đình trước năm 1945 không và cái « xã hội hội hiện đại » đó đã có được bao nhiêu công chức nhà nước tiết tháo như trong «xã hội truyền thống » vừa kể ? Có lẽ chưa bao giờ trong lịch sử Việt Nam, người trí thức phải than thở rằng « bệnh giả dối đang trở thành thành nỗi nhục lớn » (lời của một giáo sư khả kính đương thời) của xã hội Việt Nam như ngày hôm nay (sự tiếp nối của cái « xã hội hiện đại » sau năm 1945 như ông viết). Dĩ nhiên, điều đó không có nghĩa là cái xã hội sau năm 1945 không có những tiến bộ so với xã hội trước đó, nhưng có thể khẳng định rằng một nền tảng quan trọng cho sự tiến bộ của xã hội đã bị hủy hoại đi sau năm 1945.

- Tôi không nghĩ là sau Cách mạng Tháng Tám 1945, nước ta đã xây dựng được một « thể chế cộng hòa » ( ở đây xin tạm chưa nói tới chính thể Việt Nam Cộng Hòa tại miền nam trước 1975). Theo các lý thuyết chính trị hiện đại, định nghĩa tối giản của một chính thể Cộng hòa có thể khái quát là một chính thể trong đó quyền lực tối cao thuộc về nhân dân, được thực thi thông qua các đại diện do nhân nhân bầu chọn. Dựa trên định nghĩa này ta sẽ thấy chính thể của Việt Nam chúng ta tại miền bắc từ năm 1954 – 1975 và trên toàn Việt Nam từ 1975 cho đến nay (thời kỳ chính quyền 1946-1954 là thời kỳ kháng chiến, xin được không xét ở đây) không thể gọi được là chính thể cộng hòa theo đúng bản chất chính trị. Chỉ cần xét trên cách tổ chức các cuộc bầu cử quốc hội từ năm 1954 cho đến nay và xét thực quyền của những người đại diện do dân trực tiếp bầu ra (đại biểu quốc hội) có thể thấy rõ hệ thống quyền lực công tồn tại từ năm 1954 cho đến nay không phải do người dân quyết định. Và quyền lực hình thức của đại biểu quốc hội Việt Nam đã bị coi thường đến mức nào thì tôi xin không dám lạm bàn vì chính quí ông là người đang trải nghiệm.

- Về vấn đề độc lập: cái chính thể của chúng ta vừa nhắc tới, tôi cũng không nghĩ, là đã thoát được sự khống chế, ràng buộc với « thế giới Trung Hoa ». Trường lịch sử của Việt Nam chúng ta luôn ghi đậm nét ảnh hưởng và đã nhiều lần bị mất độc lập bởi « Thế giới Trung Hoa », nhưng có lẽ chưa có một chính thể nào tại Việt Nam lại phải thuần phục đến mức áp dụng những tư vấn tai họa từ người Trung Hoa như «cải cách ruộng đất », phải chịu sự áp đặt của Trung Hoa trong hiệp định Geneve như chính thể sau năm 1945 trên miền Bắc Việt Nam. Và chả nhẽ thái độ của chính quyền hiện nay về các vấn đề Hoàng Sa, Trường Sa, Hiệp định biên giới Việt-Trung, dự án khai thác Bauxit tại Tây Nguyên lại chứng tỏ chính thể Việt Nam hiện nay đã có tinh thần độc lập, thoát khỏi sự khống chế, điều khiển của « Thế giới Trung Hoa » ? Trong khi đó nhiều quốc gia tương tự với Việt Nam không những đã thoát hoàn toàn khỏi sự khống chế của «Thế giới Trung Hoa » mà còn vượt lên đi trước cả « Thế giới Trung Hoa » như Hàn Quốc, Đài Loan, Nhật Bản.

2. Trong bài ông có viết : «...công dân Vĩnh Thụy chỉ «đi theo cách mạng» một thời gian ngắn sau đó lại sa vào vũng bùn phản bội và nhận cái kết cục bi thảm của một cựu hoàng bị phế truất phải lưu vong (tôi xin nhấn mạnh bằng những chữ in đậm)

- Thưa ông Dương Trung Quốc, ca ngợi hay không ca ngợi một chế độ là quyền của mỗi con người, cũng như việc có tán thành hay không một cải biến xã hội (cách mạng) cũng là quyền của mỗi con người. Theo tôi, chúng ta không nên và không có quyền kết tội những người khác chỉ vì họ có quan điểm khác mình. Nhất là trong giai đoạn hiện nay việc đánh giá cuộc Cách mạng Tháng Tám vẫn là một việc khó khách quan. Theo tôi, có thể công dân Vĩnh Thụy không quá say mê đi theo « cách mạng » như những công dân khác, nhưng không thể viết là ông «lại sa vào vũng bùn phản bội ». Trong khi khả năng nhận thức lại và quyết định lại là một trong những đặc tính quan trọng của động vật có tư duy (nhiều nghiên cứu hiện nay cho thấy có lẽ không chỉ là đặc tính duy nhất có ở loài người). Những người đã bị công dân Vĩnh Thụy từ chối tiếp tục hợp tác có thể dùng từ « phản bội » để chỉ trích ông theo lối thóa mạ. Nhưng đối với người nghiên cứu lịch sử một cách khách quan thì không thể dùng thứ ngôn ngữ đó. Phẩm chất tối thiểu của một công dân yêu nước, theo tôi, là cần phải dứt bỏ mọi cam kết, ràng buộc và cả những tuyên thệ nếu những cam kết, ràng buộc, tuyên thệ đó trở nên (hoặc được phát hiện là) nguy hại cho lợi ích chung của cộng đồng, xã hội, đất nước. Tôi chưa thấy một nhà sử học nào chứng minh được công dân Vĩnh Thụy (vua Bảo Đại) đã phản bội đất nước, nhưng điều chắc chắn là lịch sử sẽ không thể ghi tên công dân Vĩnh Thụy vào danh sách những người có trách nhiệm trong những thảm họa đối với dân tộc như « Cải cách ruộng đất », vụ án «Nhân văn giai phẩm », vụ án « Xét lại chống đảng », « Công hàm của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa công nhận lãnh hải 12 hải lý của Trung Hoa », « Cải tạo công thương nghiệp », v.v.Và trong tình hình đất nước hiện nay, vấn đề ai đang phản bội lại đất nước, ai đang đi ngược lại quyền lợi của nhân dân cũng đang được xã hội bàn luận gay gắt, trong đó có rất nhiều người đã đi trọn cuộc « cách mạng » năm 1945 đó. Và tôi thiển nghĩ, một người « chép sử » chỉ có thể chép lại đúng lời phán xét của nhân dân đương thời nếu thoát được bàn tay của người cầm quyền nhất thời, thưa ông.

- Đúng là chả có gì vinh quang khi một ông vua cuối cùng của một đất nước lại phải từ giã cuộc đời nơi đất khách quê người. Nhưng không thể lấy sự « lưu vong » để hạ phẩm giá một con người, nhất là khi người đó đã không còn khả năng lên tiếng. Theo tôi, tư cách, trách nhiệm của công dân Vĩnh Thụy hay của ông Vua Bảo Đại có nhiều điều đáng bàn. Nhưng với tư cách là người hậu thế, chúng ta không nên soi xét lịch sử bằng phương pháp « hạ gục » nhân vật lịch sử này để tô điểm cho nhân vật lịch sử khác. Nói như thế không có nghĩa là tôi ca ngợi hoàn toàn công dân Vĩnh Thụy. Cũng như, theo tôi, những người chuyên viết bài để ca tụng chế độ chính trị hiện nay không có nghĩa là họ đã hoàn toàn tán đồng với chế độ này.

Thưa ông Dương Trung Quốc, đó là mấy lời trao đổi xin được trân trọng gửi tới ông. Vì ngôn từ có thể còn sự thô kệch, rất mong được ông lượng thứ và chỉ bảo.

Trân trọng,

Phạm Hồng Sơn
Nhà 21 Ngõ 72 B – Thụy Khuê – Hà Nội.


Monday, March 23, 2009

Bí Ẩn Cuộc Đời Lê Duẩn - Hứa Hoành

Hứa Hoành

Người CS nào cũng có cuộc đời ly kỳ, do họ cố tình che dấu, ngụy trang để hoạt động. Lê Duẩn (1907-1986) từng là Bí thư của đảng CSVN, nhưng là 1 trong những nhân vật lãnh đạo có trình độ học thức kém nhất, chỉ ở bậc Tiểu học. Do đó, ông ta tàn ác đối với đồng bào còn hơn kẻ thù ngoại nhân. Ông là người có tính tình cục mịch như nông dân, tính cọc cằn.

Sau năm 1975, 1 cán bộ cao cấp hỏi ông về chính sách đối đãi với những sĩ quan miền Nam thì Duẩn trả lời bằng cách ra dấu lấy tay quẹt ngang cổ (có nghĩa là giết).

Chủ trương tàn bạo, có tính thiếu nhân tính của người lãnh đạo CS, làm cho hàng trăm ngàn sĩ quan cao cấp của QLVNCH phải chết trong các trại cải tạo, phơi thây trong rừng thiêng nước độc, gieo tang tóc đau thương cho gia đình họ. Cuộc đời của Lê Duẩn có nhiều bí ẩn ít ai biết rõ. Tài liệu này được viết dựa theo những lời kể của người trong cuộc cũng như dựa theo 1 vài tài liệu khác, nhất là do sự giúp đỡ của Xuân Vũ và Dương Đình Lôi, họ đã cho biết những chi tiết sống thực mà chính họ đã chứng kiến.

Lê Duẩn, còn được biết là Lê Văn Duẩn, Lê Văn Nhuận hay anh Ba, người thôn Bích La, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, sinh ngày 7/4/1907 trong 1 gia đình sống bằng nghề đóng quan tài. Chỉ được theo học hết cấp Tiểu học ở Triệu Phong. Năm 18 tuổi, Lê Duẩn xin vào làm cho Sở Hỏa xa Quảng Trị. Theo nhiều người biết thì ban đầu Duẩn làm người "bẻ ghi", cầm cờ hiệu cho xe lửa mỗi khi vào sân ga. Năm 21 tuổi, Duẩn tham gia hoạt động chính trị bí mật chống Pháp, gia nhập "Việt Nam Thanh Niên Đồng Chí Hội", là tiền thân của đảng CSVN.

1 năm sau, khi đảng CSVN được thành lập ở Hong Kong, 3/2/1930, Duẩn được cử làm Ủy viên Xứ ủy Bắc Kỳ. Sau cuộc khởi nghĩa thất bại "Sô Viết Nghệ Tỉnh", Duẩn bị Pháp bắt giam ở Hỏa Lò rồi đày lên nhà tù Sơn La (1931-1936).

Năm 1936, Mặt Trận Bình Dân lên cầm quyền ở Pháp, nới lỏng chế dộ cai trị thuộc địa. Tại Đông Dương, Pháp phóng thích 1 số chính trị phạm. Lê Duẩn được tha trong dịp này. Về Trung Kỳ, Duẩn lại tiếp tục hoạt động. 1 năm sau, Duẩn được cử làm Ủy viên Xứ ủy Trung Kỳ (1937-1939). Sở dĩ Duẩn được tiếp tục tiến cử vào chức vụ cao hơn là nhờ xuất thân từ giai cấp nghèo khổ, ít học, trung kiên. Năm 1939, Duẩn được vào Ban chấp hành Trung ương đảng (Ủy Viên Thường Vụ Lâm Thời Trung ương đảng, 1939-1940), và được phái vào Saigon hoạt động. Bấy giờ đảng viên CS ở miền Nam chỉ có 1 nhúm người. Lúc đó ở Nam Kỳ có Nguy­n Văn Cừ là Tổng bí thư, và Duẩn dưới quyền của Cừ.

Tháng 8/1939, Đảng CS Liên xô ký hiệp ước thân thiện với kẻ thù Đức Quốc Xã, và coi Pháp không còn là đồng minh nữa. Phản ứng lại, ở Đông Dương, Toàn quyền George de Catroux ra lịnh thanh trừng tất cả đảng viên CS. Ngày 17/1/1940, mật thám bắt được tại trận Nguy­n Văn Cừ (Tổng bí thư đảng đương thời), Võ Đình Hiệu, Vũ Thiên Tân và Duẩn đang hội họp tại con hẻm số 19 đường Nguy­n Tấn Nghiệm, nay là Trần Đình Xu. 2 hôm sau, Lê Hồng Phong và Hà Huy Tập (Uy viên Trung ương đảng) cũng bị tóm ở Phan Thiết. Tuy nhiên, trong dịp này, số người hoạt động chính trị bị bắt, không chỉ CS mà thôi mà còn gồm đủ mọi thành phần, đủ khuynh hướng chính trị và số lượng bị bắt ngày càng đông. Thống đốc Nam Kỳ Veber có lập trại giam mới ở Tà Lài, nằm sâu trong rừng gần Định Quán, khoảng cây số 123 để chứa thêm, sau khi các nhà tù khác đã "quá tải". Đây là chiến dịch "tổng ruồng, vét sạch" của thực dân, đề phòng cuộc khởi nghĩa của người dân bản xứ.

Lúc ấy, Nguy­ên Thị Minh Khai (tức Nguye­n Thị Vịnh) cũng bị sa lưới mật thám Pháp (30/7/1940) tại Hóc Môn. Lúc này, Thường vụ Trung ương đảng đang đóng ở miền Nam với Phan Đăng Lưu, Tạ Uyên,...chưa bị bắt. 30/9/1940, họ đồng thanh quyết nghị khởi nghĩa chứ không chịu ngồi yên chờ chết. Kế hoạch nổi dậy nhiều tỉnh cùng 1 lúc gọi là Nam Kỳ Khởi Nghĩa vào cuối năm 1940 (22/11/1940) . Phan Đăng Lưu được cử ra Bắc xin chỉ thị, tuy nhiên cuộc họp lần thứ 7 của Trung ương đảng ở Bắc Ninh (có Hoàng văn Thụ, Trần Đăng Ninh, Hạ Bá Cang tức Hoàng Quốc Việt...) đã không tán thành.

Theo lịch sử công khai của Đảng thì như thế. Tuy nhiên, có người trong cuộc, biết cái bí ẩn của Nam Kỳ Khởi Nghĩa (22/11/1940) . Không phải bỗng nhiên nhóm Thường vụ Trung ương đảng lẫn trốn ở Hóc Môn, Bà Điểm mà Pháp biết được và bắt trọn ổ. Đó chính là miền Bắc "chỉ điểm cho Pháp", vì muốn "đảo chính" Trung ương đảng miền Nam để đem Trung ương đảng ra Bắc Kỳ cho người Bắc lãnh đạo. Họ mượn tay người Pháp để diệt nguội Nam Kỳ. Chính vì lẽ đó, Phan Đăng Lưu bị bắt. Lần lượt, các nhân vật lãnh đạo ở Nam Kỳ bị đưa ra tòa kêu án tử hình. Nguye­n Thị Minh Khai bị bắt trước, cũng bị hành quyết chung (28/8/1941) với Nguy­en Văn Cừ (Tổng bí thư năm 1938), Võ Văn Tần (người Đức Hòa, Tân An, Bí thư Xứ ủy Nam Kỳ), Hà Huy Tập (Ủy viên Trung ương đảng).

Từ đó, ở Bắc, vào đầu tháng 11/1940, tại Hội nghị thứ 7 Ban chấp hành Trung ương đảng CS Đông Dương, Trường Chinh lên làm "Tổng Bí thư Lâm Thời" (thay cho Nguye­n Văn Cừ đã bị bắt cùng Lê Duẩn, Võ Đình Hiệu và Vũ Thiên Tân ngày 17/1/1940 tại Saigon), và đầu não CS dĩ nhiên nằm tại Bắc Kỳ. Các đảng viên Bắc và Trung Kỳ chia nhau nắm giữ các chức vụ then chốt trong kháng chiến cũng như sau khi hòa bình. Đó là chủ trương thầm kín của Hồ Chí Minh. Sau khi Nhật đầu hàng, ở Nam Kỳ, các phần tử trí thức Nam Bộ như Trần Văn Giàu, Nguy­en Văn Trấn, Dương Bạch Mai, Nguy­en Văn Tạo, Huỳnh Văn Tiểng, Ngô Tấn Nhơn, Phạm Ngọc Thạch,...mặc tình thao túng. Họ lập ra Ủy Ban Hành Chánh Kháng Chiến Nam Bộ, có đầu óc địa phương, manh nha muốn tách ra khỏi sự khống chế của nhóm đảng viên Trung và Bắc Kỳ để thành lập 1 quốc gia CS Nam Kỳ. Không ngờ HCM biết thâm ý này nên sai Cao Hồng Lĩnh (tham gia Cách Mạng Thanh Niên Hội từ năm 1926), Hoàng Quốc Việt vào Nam bắt cóc Trần Văn Giàu, Dương Bạch Mai đem về giam lỏng ở Hà Nội.

Trong khi đó, vào tháng 9/1945, sau khi Nhật đầu hàng, thì Duẩn rời khỏi Côn Đảo (bị giam từ 1940-1945). Kế đó ít tháng, Duẩn được HCM gọi ra Hà Nội nhận chỉ thị. Khi cuộc chiến tranh Việt - Pháp lan rộng ở Nam Kỳ, Hồ cử Lê Duẩn với chức vụ Bí Thư Xứ Bộ Nam Kỳ (1946) đi vào Nam. Đi theo Duẩn có Lê Đức Thọ. Hồ muốn Duẩn vào Nam để lãnh đạo cuộc kháng chiến. Những người Trung và Bắc từ trước đến nay sống ở miền Nam như Trần Văn Trà, Võ Quang Anh, Phan Trọng Tuệ, Nguye­n Kim Cương... được Hồ cất nhắc lên cấp chỉ huy. 5 năm sau, 1951, khi Trung Ương Cục Miền Nam (bao gồm Nam Bộ và Cao Miên) được thành lập, Duẩn được cân nhắc lên làm Bí Thư Trung Ương Cục Miền Nam. Từ đó, Duẩn vào Nam ra Bắc như con thoi : nào là "rèn quân, chỉnh cán", nào kiểm thảo,...

Năm 1954, sau khi Hà Nội và Pháp ký Hiệp định Geneva, thì Duẩn được cài ở lại miền Nam, nằm vùng tại 1 căn nhà đường Phan Đình Phùng thuộc khu Bàn Cờ. Duẩn có cấp tốc ra Bắc để nhận chỉ thị lo việc tập kết, ém người và cán bộ ở lại miền Nam, để phát động cuộc chiến tranh mới. Duẩn sử dụng thông hành của 1 thương gia Tàu, do người vợ tên là LKD giới thiệu. Bà này là vợ hờ, theo kiểu già nhân ngải non vợ chồng. Duẩn lợi dụng bà này vì bà là vợ 1 thương gia giàu có, vừa làm cán bộ kinh tài cho CS, mà lại được cảnh "cơm no bò cỡi". Với thông hành hợp pháp, Duẩn đi đường bộ qua Phnom Penh, rồi đáp máy bay của Hàng không Pháp đi Côn Minh, thủ phủ tỉnh Vân Nam, Trung Quốc. Tới đây, Duẩn đổi máy bay về Hà Nộị Lãnh chỉ thị xong, Duẩn lại đội lốt 1 sĩ quan liên lạc của Bắc Việt, tháp tùng máy bay của Ủy Hội Kiểm Soát Đình Chiến, trở về Saigon. Sau đó, Duẩn lén về Phụng Hiệp, rồi bí mật trốn ra mật khu ở Cà Mau. Tại nhà thờ Huyện Sử, Duẩn chủ trì 1 phiên họp cán bộ cao cấp của Trung Ương Cục Miền Nam và ra lịnh :

- Phân tán, chôn vũ khí, máy móc.
- Moi móc những súng đạn phế thải của các công binh xưởng phát ra cho các cán binh CS tập kết cầm theo "làm cảnh", để chứng tỏ cho mọi người và Ủy Hội Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến rằng họ nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định Geneva.

Chuyến tàu cuối cùng chậm chạp rời cửa sông Ông Đốc. 2 bên bờ, dân chúng tụ tập để ti­n chân thân nhân tập kết. Mọi người nhìn thấy rõ ràng Bí Thư Lê Duẩn đứng trên bong tàu Bilixki, đưa tay vẫy đồng bào... Khuya hôm đó, khi tàu Bilixki vừa ra khơi, Lê Duẩn xuống 1 chiếc ca nô trở lại bờ. Người tổ chức bí mật việc này là Võ Văn Kiệt, lúc đó làm Bí Thư Tỉnh Ủy Bạc Liêu. Duẩn được cài vào 1 gia đình ở Cà Mau để chờ đợi. Mấy tháng sau, Duẩn lại lén lút về Saigon ăn ở với người vợ hờ vừa kể trên. Đây là 1 người đàn bà lẳng lơ, vóc cao lớn, thân hình hấp dẫn, là đàn em của Mã Thị Chu (dược sĩ, có nhà thuốc Tây ở Cần Thơ), là 1 đại gian thương Chợ Lớn. Bà này có với Lê Duẩn 1 đứa con. Khi Lê Duẩn có lịnh ra Bắc (đầu năm 1957, sau khi Trường Chinh bị thất sủng, và chính phủ VNCH từ chối tổng tuyển cử), chính bà này lái xe đưa Duẩn qua Phnom Penh, để đáp phi cơ ra Hà Nội. Nhưng thực ra, từ đây Duẩn đi thẳng qua Hong Kong, Quảng Châu, rồi đổi máy bay khác về Hà Nội.

Nói thêm về tuyến đường này. Kể từ năm 1960, cán bộ cao cấp CS từ Nam VN muốn ra Bắc, họ sử dụng đường bay Phnom Penh - Quảng Châu do hãng Hàng không Air Azur của Pháp khai thác. Trước khi ra mắt Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời ở miền Nam, đại diện CS là Trần Bửu Kiếm cũng qua Phnom Penh rồi đáp máy bay đi Algeria, Cuba, báo tin trước. Khi VC vừa công bố làm l­ ra mắt Chính Phủ trên thì trên đài phát thanh của Algeria, Cuba, người ta nghe tiếng 2 chính phủ này "nhìn nhận" tân chính phủ ấy tức thì. Chuyến về, Trần Bửu Kiếm về thẳng Quảng Châu, qua Hà Nội để đánh lạc hướng tình báo Mỹ. Lần đó, Kiếm về Cục R (Trung Ương Cục Miền Nam) báo cáo di­n tiến Hoà đàm Paris. Khi cuộc chiến miền Nam trở nên ác liệt, Trịnh Đình Thảo, Lâm Văn Tết (Lực Lượng Liên Minh Dân Tộc, Dân Chủ và Hoà Bình) từ Cục R được đưa ra Bắc lánh nạn, cũng sử dụng đường bay nói trên. Sau đó họ được đưa về Đồ Sơn "nghỉ dưỡng".

Trở lại năm 1948. Duẩn và Thọ tới chủ trì 1 phiên họp của đại biểu Phụ Nữ Cứu Quốc Nam Bộ, họp tại mật khu ở Cà Mau. Duẩn gặp 1 cô gái xinh đẹp, có học thức, đang giữ chức Chủ tịch Ban chấp hành Phụ nữ tỉnh Cần Thơ, thì Duẩn mê ngay. Cần nhắc lại, lúc đó Duẩn đã 42 tuổi và có mấy đời vợ ở ngoài Bắc. Người vợ thứ nhứt được Duẩn cưới hồi 20 tuổi, ở quê nhà Quảng Trị, tên Cao Thị Khê. Vì bà vợ này mà Duẩn cất nhắc em ruột bà ta là Cao Xuân Diệm (bí danh Dương Thông), làm Cục trưởng Cục An ninh Nội chính, lúc đó mới cấp Đại tá, sau này lên Trung tướng. 1 người vợ khác của Lê Duẩn là Võ Thị Sảnh, con ông Võ Văn Kính, người Quảng Nam. Ông Kính là công nhân hỏa xa, đồng nghiệp với Duẩn ở Quang Trị. Bà Sảnh gia nhập đảng CS năm 1948, xâm nhập vào hàng ngũ Việt Nam Quốc Dân Đảng để báo cáo cho Trần Văn Trà, lúc đó làm Tư lịnh Quân khu 4.

Khi vào Nam, Duẩn tuyên bố là minh chưa vợ vì còn "mãi lo làm cách mạng". Thương hại đồng chí Duẩn, tới tuổi này (42) mà chưa vợ, nhiều cán bộ muốn kiếm vợ cho Lê Duẩn để ông ta an tâm lo việc nước. Cô Đỗ Thị Thúy Nga là con 1 đại điền chủ quê ở Thác Lác, cháu gọi Đỗ Hữu Vị bằng chú ruột, và gọi Đỗ Hữu Phương, người giàu nhất Nam Kỳ hồi đầu thế kỷ 20, bằng ông nội. Số là năm 1900, Toàn quyền Doumer có dịp vào Saigon, không biết Phương nịnh hót thế nào mà Doumer đã cấp cho Phương cả ngàn mẫu ruộng ở Thác Lác.

Đến năm 1945, số đất ấy chỉ còn vài trăm mẫu, do 1 người con của Phương quản lý. Như vậy cô Nga xuất thân từ giai cấp địa chủ, kẻ thù không đội trời chung với CS.

Nhắc lại, lúc đó Nguy­en Văn Trấn (tác giả "Viết cho Mẹ và Quốc hội") vừa đổi xuống miền Tây, mới hơn 30 tuổi. Trấn sanh vào ngày 21/3/1914 tại Chợ Đệm (làng Tân Kiên), huyện Bình Chánh, tỉnh Long An, đang giữ 2 chức vụ quan trọng : Bí Thư Khu Ủy, Chính Ủy Kiêm Tư Lịnh Khu 9, uy quyền tột bực. Trấn lại có học (Trường Tiểu học Phú Lâm, Trung học Petrus Ký, tốt nghiệp Trung học, làm báo), khá điển trai, là đối tượng của các cô gái đẹp ở Saigon mới vô khu kháng chiến. Trấn bắt tình với cô Đỗ Thị Thúy Nga, 1 mối tình qua đường vì Trấn đã có vợ con hẳn hoi. Mối tình vụng trộm này không kéo dài được vì bà vợ của Trấn ghen.

Để cứu vãn danh dự và để lấy lòng anh Ba Duẩn, Trấn liền giới thiệu cô Nga cho Duẩn. Thấy Nga, Duẩn rất thích. Nhưng, Duẩn vóc dáng cục mịch, ăn nói cộc lốc như "dùi đục chấm mắm nêm", lại già hơn, gấp đôi tuổi cô Nga, nên Nga từ chối thẳng thừng. Duẩn kêu vài cán bộ thân tín giữ những chức vụ quan trọng tới họp mật. Bà Lê Đoàn, Chủ tịch Ban chấp hành Hộ Phụ Nữ Cứu Quốc Nam Bộ, được lịnh anh Ba tới "động viên" cô Nga ưng anh Ba. Anh Ba tuy lớn tuổi nhưng chưa vợ con vì mãi lo việc cách mạng. Rồi Hà Huy Tập (Ủy viên Trung ương đảng), cũng được Duẩn giao nhiệm vụ vận động Thúy Nga. Chưa hết, giáo sư Đặng Minh Trứ, Chủ tịch Ủy Ban Hành Chánh Kháng Chiến tỉnh Cần Thơ, nhận lịnh Duẩn đến thẳng tư gia của cô Nga để "vận động" song thân của cô. Tất cả đều là công dã tràng, vì cô Nga từng là nữ sinh tường đầm, nói tiếng Pháp như gió, không chịu làm vợ 1 anh nhà quê thất học.

1 người từng ở trong hàng ngũ kháng chiến kể lại rằng, khi mọi cuộc "vận động" bế tắc, Duẩn liền dùng bạo lực. Duẩn cho lịnh mời cô Nga với tư cách đại biểu Cứu Quốc Cần Thơ, đến họp tại 1 ngôi nhà giữa rừng, bên bờ sông Trẹm, chỗ giáp ranh U Minh Thượng và U Minh Hạ. Đêm ấy trời mưa, chuyện gì xảy ra không rõ, sáng chỉ thấy cô Nga mặt mày sưng húp vì khóc suốt đêm qua. Ván đã đóng thuyền, cô Nga mi­n cưỡng làm vợ bé của Lê Duẩn.

Từ đó, đảng ra lịnh cấm bất cứ ai bàn tán về việc "đồng chí Ba Duẩn cưới vợ". Năm 1955, cô Nga theo đoàn quân tập kết ra Bắc. Duẩn cho dấu cô Nga với 2 con trong 1 biệt thự trên đường Hùng Vương. Không hiểu do ai báo cáo, bà vợ cả Đỗ Thị Khê tìm tới đánh ghen. Cô Nga chỉ biết ôm mặt khóc. Duẩn dàn xếp dấu Nga ở Hải Phòng, cũng bị vợ lớn tìm tới chửi bới, khiến Nga đòi tự tử. Duẩn báo cáo việc lem nhem với Hồ. Hồ gợi ý đưa Nga qua Trung Quốc tỵ nạn vợ lớn, với danh nghĩa theo học chính trị tại Thiên Tân. Mỗi năm, Hồ cho Duẩn mượn chiếc máy bay riêng, ẩn số BH 195 (có nghĩa là Bác Hồ 19/5) qua Thiên Tân thăm vợ. Mỗi lần đi, Duẩn có đem theo đứa con gái lớn con bà vợ cả là Lê Thị Hồng, để cô này thăm tình nhân là 1 Thiếu úy đẹp trai, quê ở Cái Tàu, Bạc Liêu. Viên Thiếu úy này đang học trường quân sự Cáp Nhĩ Tân. Về sau, nghe đâu cô này học bên Liên Xô và lấy chồng người Liên Xô.

Xưa nay, lấy vợ lấy chồng là chuyện bình thường, nhưng có vợ rồi mà còn muốn có vợ bé...lại còn làm việc bất chính để chiếm đoạt. Hồ Chí Minh luôn luôn răn đe đảng viên phải có "đạo đức cách mạng, đời công, đời tư phải trong sáng..." Thật ra, lời giáo dục ấy chỉ là tuyên truyền, áp dụng cho đảng viên cắc ké. Các Ủy viên Trung ương đảng, Bộ chính trị, ai cũng lấy vợ hai, vợ ba, dựa vào quyền lực để ép duyên, hoặc dùng thủ đoạn để lấy gái tơ cỡ tuổi con mình, như Lê Đức Thọ, Võ Quang Anh (Tham mưu trưởng Khu 9), Trần Văn Trà, Hà Huy Giáp, Văn Tiến Dũng, Hoàng Văn Hoan,...

Hứa Hoành