Monday, March 23, 2009

Hành trình đi theo Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam - Nguyễn An

Hành trình đi theo Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam của một số trí thức miền Nam

2006.12.20

Nguyễn An, phóng viên đài RFA

Vào ngày này năm 1960, Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam được thành lập như một tập hợp những người miền Nam chống đối lại chính phủ hợp pháp lúc bấy giờ ở miền Nam do Tổng thống Ngô Đình Diệm lãnh đạo.

  • Tải xuống để nghe

    Tuy nhiên, trong thực tế, Mặt Trận được thành lập theo quyết định của Hội nghị Trung ương lần thứ 15 của Đảng Lao động Việt Nam, tiền thân Đảng Cộng sản Việt Nam, và được sự yểm trợ mọi mặt của miền Bắc, lúc bấy giờ là Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.

    Một số nhân sĩ miến Nam thời đó đã đi theo Mặt Trận, giúp họ tạo dựng được một số uy tín nhất định.

    Biên tập viên Nguyễn An của Ban Việt ngữ RFA phỏng vấn Tiến sĩ Dân tộc học Lê Văn Hảo, giáo sư Đại Học Văn Khoa Huế, Đà Lạt và Sài Gòn về hành trình đi theo Mặt Trận của ông.

    Ông Lê Văn Hảo từng là Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Cách mạnh Thừa Thiên - Huế hồi Tết Mậu Thân 1968. Khi được hỏi ông vào Mặt Trận từ bao giờ, Tiến sĩ Lê Văn Hảo cho biết:

    Tiến sĩ Lê Văn Hảo: Kính chào qúy bạn nghe đài RFA. Thật ra thì tôi không có vào trong Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam mà tôi chỉ là một cảm tình viên của Mặt trận ấy thôi. Tôi bắt đầu biết khá nhiều về Mặt trận ấy từ biến cố Tết Mậu Thân, là ví nó như thế này: Trước đó tôi có nghe nói có cái Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam mà tôi đã ngờ ngợ nó là một tổ chức của Cộng sản miến Bắc tạo ra thôi, chứ nó không có thực chất đâu.

    Thế thì đến hồi Tết Mậu Thân, những người lãnh đạo của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam ở Huế có mời tôi đi dự một cuộc họp. Và chính cuộc họp này đã tạo ra một bước ngoặt quan trọng trong đời tôi, bởi vì họ nói là họ mời tôi đi họp nhưng mà thực chất nó gần như một cuộc bắt cóc vậy đó.

    (xin theo dõi toàn bộ cuộc trao đổi trong phần âm thanh phía trên)


    Vào ngày này năm 1960, Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam được thành lập như một tập hợp những người miền Nam chống đối lại chính phủ hợp pháp lúc bấy giờ ở miền Nam do Tổng thống Ngô Đình Diệm lãnh đạo.

  • Tải xuống để nghe

    Tuy nhiên, trong thực tế, Mặt Trận được thành lập theo quyết định của Hội nghị Trung ương lần thứ 15 của Đảng Lao động Việt Nam, tiền thân Đảng Cộng sản Việt Nam, và được sự yểm trợ mọi mặt của miền Bắc, lúc bấy giờ là Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.

    Một số nhân sĩ miến Nam thời đó đã đi theo Mặt Trận, giúp họ tạo dựng được một số uy tín nhất định.

    Biên tập viên Nguyễn An của Ban Việt ngữ RFA phỏng vấn Tiến sĩ Dân tộc học Lê Văn Hảo, giáo sư Đại Học Văn Khoa Huế, Đà Lạt và Sài Gòn về hành trình đi theo Mặt Trận của ông.

    Ông Lê Văn Hảo từng là Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Cách mạnh Thừa Thiên - Huế hồi Tết Mậu Thân 1968. Khi được hỏi ông vào Mặt Trận từ bao giờ, Tiến sĩ Lê Văn Hảo kể tiếp:

    Lê Văn Hảo: Sau khi tôi nhận chức đó rồi thì có nhiều cuộc họp và họ nói cho tôi biết thế nào là chủ nghĩa CS, thế nào là chủ nghĩa Max Lenin, thế nào là chính quyền cách mạng, thế nào là đấu tranh giai cấp. Họ cũng làm cho tôi một loạt các bài học vỡ lòng để cho tôi biết chức vụ đó thì tôi phải nên làm thế nào để cho xứng đáng với chức vụ đó

    Nguyễn An: Thưa Ông, như vậy tức là Mậu Thân sau khi họ tấn công Huế thì sau đó họ đưa ông về?

    Lê Văn Hảo: Không! Tôi không có về lúc đó, lúc đấy là chỉ có mấy anh CS về đánh nhau ở dưới thành phố thôi, chớ còn tôi họ đâu có dám đưa tôi về! Họ biết rằng khi tôi nhận thì tôi cũng miễn cưỡng mà nếu đưa tôi về thì tôi chắc cũng chuồn luôn thì họ đâu có dám đưa tôi về. Trong tất cả khi nổ ra Mậu Thân tức là trong 26 ngày đêm CS chiếm thành phố Huế thì tôi ngồi trên núi để nghe đài phát thanh suốt ngày, tất cả những gì xảy ra dưới Huế tôi chỉ biết qua đài phát thanh của Hà Nội và đài phát thanh giải phóng.

    Nguyễn An: Tức là Ông không biết những cái gì thêm ngoài những điều mà đài phát thanh nói?

    Lê Văn Hảo: Tôi không thể biết được bởi vì tôi không có mặt ở Huế mà nó đâu có dám để cho tôi về Huế vì anh biết khi nó đề nghị một chức vụ như vậy là cả một sự áp đặt. Nó nói là anh phải nhận, nếu anh không nhận thì anh cũng không còn đường về thì cả một sự đe dọa . Anh có thấy tính chất đe dọa đàng sau lời đề nghị đó không?

    Nguyễn An: Đây là một chi tiết rất là mới bởi vì hồi xưa cho đến bây giờ người ta cứ tưởng rằng là những đoàn quân họ chiếm đóng Huế hai mươi mấy ngày đó là Ông về trực tiếp điều hành công việc ở đó, thì hóa ra hoàn toàn không có chuyện này!

    Lê Văn Hảo: Than ôi! Đó không phải là sự thật lịch sử mà tôi chỉ là một con tin đã bị ở trong thế kẹt phải nhận lấy chức vụ để bảo tồn sự sống còn để mà mong có ngày về với vợ con thôi! Chớ tôi nói thật với anh vai trò của tôi trong Tết Mậu Thân là vai trò hoàn toàn thụ động, tôi chỉ ngồi trên núi để nghe đài, nghe tin tức. Rồi lâu lâu mấy ông như: Trần Văn Quang và các ông lãnh đạo khác ở Thừa Thiên, Huế ghé qua thăm và an ủi tôi và nói là sự việc diễn biến như vậy thì mình theo thời cuộc thôi, mình phải theo cách mạng thôi, chớ không có cách nào khác. Anh thấy như vậy đó!

    Nguyễn An: Tức là cũng không có ai báo cáo với Ông tình hình như thế nào với tư cách là chủ tịch UBND hết?

    Lê Văn Hảo: Có chứ! Tức là trong khi đánh nhau và chiếm thành phố Huế như vậy thì chúng có điện đài theo dõi thì cũng nắm được tình hình lắm chớ, chớ đâu có phải là không biết gì!

    Nguyễn An: Sau khi rút ra khỏi Huế rồi, thì ông vẫn tiếp tục trên núi hay là ông đi theo họ?

    Lê Văn Hảo: Dạ thưa tôi vẫn tiếp tục ở trên núi và lúc đấy thì quân đội Hoa Kỳ và quân đội VNCH đã phản ứng rất mạnh bằng cách ném bom rất dữ dội các vùng giải phóng chung quanh các thành phố lớn, thú thật với anh là chúng tôi sống toàn trong các hang núi, nếu ra ngoài thì cũng ăn bom như thường vì tình hình quá căng thẳng, bom đạn quá sức tưởng tượng.

    Cho nên lệnh ở ngoài Hà Nội là đưa những người gọi là nhân sĩ theo cách mạng như là Hòa Thượng Thích Đôn Hậu, bà Nguyễn Đình Chi, tôi, cụ Nguyễn Đóa, Tôn Thất Dương Tiềm và một số vị khác, để đưa các vị này ra ngoài Bắc.

    Như vậy chúng tôi bắt đầu lên đường,nếu tôi nhớ không lầm, vào đầu tháng 7, tôi phải đi theo đường Trường Sơn (đường mòn HCM), ngày thì ngủ trong hang, đêm thì đi và tôi đến Hà Nội vào ngày mùng 3 tháng 9 năm 1968.

    Nguyễn An: Dạ thưa, đi cùng với ông có các vị trí thức mà Ông đã nêu trên?

    Lê Văn Hảo: Dạ đúng, có cả phái đoàn như vậy và trong đó có nhiều vị phải ngồi võng như cụ Đôn Hậu phải ngồi võng cho 2 anh quân giải phóng khiêng, bà Nguyễn Đình Chi và cụ Nguyễn Đóa cũng ngồi võng, còn tôi lúc đó chỉ mới 32 tuổi thì tôi đi bộ như mọi người thôi

    Nguyễn An: Lúc ở với nhau trên núi thì ông có nói chuyện với các vị kia không?

    Lê Văn Hảo: Có chứ! Chúng tôi sống chung trong một khu vực

    Nguyễn An: Hoàn cảnh đưa đẩy họ đến núi đó có tương tự như ông không?

    Lê Văn Hảo: Giống hệt như tôi! Vị nào cũng được mời họp hết. Riêng cụ Thích Đôn Hậu thì cụ bị bắt cóc lúc mà quân giải phóng đã chiếm được thành phố Huế rồi thì họ mời cụ lên võng để đi họp thì nó cũng võng cụ lên trên núi luôn. Bà Nguyễn Đình Chi cũng trường hợp như vậy, tức là mời bà đị họp rồi võng Bà lên núi luôn.

    Những người trẻ hơn như anh Tôn Thất Dương Tiềm thì lúc đó đi theo quân giải phóng, ông Tiềm là Việt Cộng nằm vùng mà! và một vài vị khác cũng là Việt Cộng nằm vùng thì cũng tà tà lên núi thôi và tất cả chúng tôi gặp nhau ở trên núi, và khi đi ra ngoài Bắc thì chúng tôi cũng đi cùng một lượt với nhau.

    Nguyễn An: Như vậy thì ông sinh hoạt ở trong đó bao lâu thì biết rằng là MTGPMN chỉ là chi nhánh của Mặt trận Tổ quốc ở miền Nam thôi?

    Lê Văn Hảo: Nói thật anh, việc ấy thì tôi biết ngay khi tôi lên trên núi thì tôi biết MTGP là một trò bịp bợm, tức là một tổ chức hữu danh vô thực, nó là tổ chức của CS thôi, gọi là Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam nhưng mà tất cả đều do Hà Nội chỉ đạo thôi . Việc đó tôi biết ngay và họ cũng không dấu anh ạ ! Lúc đó mình ở trong tay họ rồi nên họ cũng không dấu.

    Nguyễn An: Ông ở đó cho đến năm 1975?

    Lê Văn Hảo: Anh nói đúng, tôi đến Hà Nội tôi là khách của Trung Ương Đảng cùng với nhóm của chúng tôi như Hoà thượng Thích Đôn Hậu, v.v... Trong mấy năm từ 1968 đến năm 1975 là tôi được học trường Đảng, tôi được Đảng giáo dục cho trong bấy nhiêu năm học nhiều về chính trị như thế nào là cách mạng, giải phóng dân tộc, đấu tranh giai cấp v.v...

    Học như vậy trong mấy năm liền mà cuối cùng sau khi học 5 năm thì có một cuộc kiểm tra, tôi nói thật với họ là những thứ này tôi không hấp thụ được, chủ nghĩa Max Lenin và chủ nghĩa CS đối với tôi là một cái gì quá xa lạ và tôi không chấp nhận. Anh có biết khi tôi nói như vậy là rất dại dột.

    Nguyễn An: Đó, chính muốn hỏi anh ở chỗ đó…

    Lê Văn Hảo: Dại dột bởi vì họ bày ra chuyện học tập, rồi bày ra cuộc thi cử như vậy để xem thái độ mình thế nào? Những ông lãnh tụ cộng sản cũng nói ra mặt: "Người như anh Lê Văn Hảo này không xài được!"

    Nguyễn An: Nhưng sau đó họ có thay đổi cách đối xử với ông không?

    Lê Văn Hảo: Dạ không, họ rất là ngoại giao, họ đổi xử bình thường thôi, nhưng họ biết là loại này sau 1975 sẽ cho vào giỏ rác…

    Nguyễn An: Và họ đã làm như thế?

    Lê Văn Hảo: Và họ đã làm như thế 100%.


    Chúng tôi đã gởi đến quý vị cuộc phỏng vấn do biên tập viên Nguyễn An của ban Việt ngữ thực hiện với tiến sĩ Lê Văn Hảo, giáo sư đại học văn khoa Huế, Đà Lạt và Sài Gòn. Ông Hảo đã kể lại hành trình ông tham gia vào Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và được chỉ định làm chủ tịch Ủy ban nhân dân cách mạng Thừa Thiên Huế hồi Tết Mậu Thân 1968 rồi sau đó được đưa ra Bắc.

    Bấm vào đây để nghe cuộc trao đổi này
    Tải xuống để nghe http://www.rfa. org/vietnamese/ in_depth/ 2006/12/22/ The_National_ Front_for_ the_Liberation_ of_SouthVN_ part3_NAn/


    Giờ xin gởi đến quý thính giả phần cuối của cuộc phỏng vấn, trong đó tiến sĩ Lê Văn Hảo kể lại những diễn biến kể từ khi cuộc chiến chấm dứt hồi mùa Xuân năm 1975. Mời quý vị theo dõi.

    Nguyễn An: Xin ông kể lại giai đoạn từ tháng 5 năm 1975 về sau này ạ.

    Lê Văn Hảo:
    Khi tôi về Huế là trước ngày 30/4. Trước 30/4 thì cộng sản đã chiếm Huế trước rồi, chiếm Huế vào khoảng cuối tháng 3. Khi tôi về đến Huế thì nó trở mặt ngay anh ạ. Nó chỉ nói một cách vắn tắt là bây giờ anh không phải làm chính trị nữa mà anh trở về nghề cũ của anh là nghề dạy học thôi. Tức là đùng một cái mình đang là chủ tịch thì nó bằng một câu nói như vậy nó xóa chức vụ của mình đi, nó cho mình trở lại với anh Lê Văn Hảo trước Tết Mậu Thân, vậy thôi. Kiểu của nó là kiểu không coi mình ra gì cả.

    Sau khi trở lại Huế thì tôi được một chức khác, tuy tôi là giảng sư ở đại học nhưng tôi lại trở thành phó chủ tịch của Mặt trận Tổ Quốc Bình Trị Thiên vì lúc đó nó xác nhập 3 tỉnh làm một mà. Đối với quần chúng thì cũng là một chức oai lắm rồi, ông này không làm chủ tịch Ủy ban Dân chủ cách mạng Thừa Thiên - Huế mà ông đi làm phó chủ tịch của Ủy ban Mặt trận Tổ Quốc Bình Trị Thiên thì cộng sản đâu có đối xử không tốt với ông. Anh thấy cũng là một trò bịp nữa.

    Nguyễn An: Thưa ông, như vậy đến lúc vào tháng 7 năm 1976 khi họ xác nhập Mặt trận giải phóng miền Nam vào Mặt trận Tổ Quốc thì rốt cuộc đối với ông không có gì thay đổi?

    Lê Văn Hảo:
    Bù nhìn vẫn tiếp tục là bù nhìn chớ không có gì thay đổi cả. Tôi chỉ được thông báo như vậy và tôi cũng chẳng làm lạ gì cả. Bởi vì lúc đó Mặt trận giải phóng thì thừa rồi. Họ xóa bỏ Mặt trận giải phóng miền Nam và họ xóa bỏ chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam. Nghĩa là như trở tay, tất cả đều là những trò đùa cả, tất cả đều là những cách gọi, những cách gọi mà tôi nghĩ là để lừa bịp dư luận thế giới thôi.

    Nguyễn An: Ở trong Mặt trận giải phóng miền Nam lúc bấy giờ có một số những trí thức cũng đi theo, ông thấy có những người nào đi theo mà khác với hoàn cảnh của ông với những người khác là bị giống như bắt cóc không?

    Lê Văn Hảo:
    Khi tôi ra Hà Nội thì tôi cũng gặp rất nhiều vị trong miền Nam, ở Sài Gòn cũng được đưa ra miền Bắc ở với chúng tôi. Hầu hết các vị gọi là nhân sĩ, trí thức ấy thì hoàn cảnh cũng gần giống như tôi thôi. Một người tôi hơi hiểu lầm là như bà Dương Huỳnh Hoa chẳng hạn, tôi tưởng bà cũng là một thứ Việt cộng nằm vùng nhưng hóa ra không phải.

    Cuối cùng tôi thấy bà Dương Huỳnh Hoa giống như tôi thôi, bà cũng không phải là người mà cộng sản tin cậy lắm đâu. Bởi vì sau tháng 4/1975 thì cộng sản cũng rất coi thường bà Dương Huỳnh Hoa, nó cho bà một cái chức là thứ trưởng Bộ y tế mà bà không có quyền hành gì cả. Sau đó một thời gian ngắn thì bà cũng phải từ chức thôi. Đó là trường hợp bà Dương Huỳnh Hoa.

    Một ông khác mà tôi cũng quen rất nhiều là ông Trương Như Tảng. Ông đó là Bộ trưởng Bộ tư pháp của chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam. Ông cũng bị nó đối xử một cách rẻ rúng như vậy. Ông bèn vượt biên và thoát ra được, ông qua xin tị nạn bên Pháp.

    Tôi chỉ nêu ra hai trường hợp cụ thể tôi biết.


    Nguyễn An:
    Đây cũng là điều rất lạ, tức là rất nhiều người đều bị đưa vào trong một cái giống như một màn kịch. Giống như một vụ bị lừa và rốt cuộc người nào cũng bị kẹt hết.

    Lê Văn Hảo: Đúng. Cái đó đúng quá anh ạ. Anh biết tất cả những người được cộng sản cho những chức vụ này nọ trong những năm từ Tết Mậu Thân cho đến tháng 4/75 thì về sau ngày 30/4 thì họ đều bất mãn ghê lắm. Thí dụ như HT Thích Đôn Hậu ở Huế cũng bất mãn ghê lắm. Mỗi lần tôi lên chùa Thiên Mụ thăm ông thì ông cũng than thở. Ông nói rằng ông chưa thấy đám nào đối xử với người ta một cách ngạo mạn, rẻ rúng như cộng sản. Cụ Thích Đôn Hậu nói với tôi như vậy.

    Nguyễn An: Thưa ông, như vậy thì cơ duyên nào đã đưa ông ra khỏi Việt Nam?


    Lê Văn Hảo:
    Chuyện tôi được trở lại Pháp là một sự rất tình cờ. Vào khoảng tháng 5/1989 thì có một ông giáo sư đại học Pháp được cộng sản mời sang nói về 200 năm cách mạng Pháp. Ông này cũng là một trí thức khuynh tả, ông cũng có ít nhiều cảm tình với cộng sản cho nên nó mời ông sang nói chuyện. Tôi với tư cách là phó chủ tịch của mặt trận Tổ Quốc Bình Trị Thiên thì tôi cũng đi nghe giáo sư này nói chuyện. Hai anh em nhìn ra nhau thì mừng quá. Tôi mới nói với ông là ở đây cũng không thoải mái, cậu có thể đề nghị với đại học Paris 7 cho mình một giấy mời sang dạy học được không? để mình thoát ly ra khỏi bầu không khí ngột ngạt quá. Với giấy mời dạy học của ông giáo sư này thì tôi được sang Pháp và tôi đã đến Pháp vào ngày 14/7/1989.

    Nguyễn An: Như vậy là trong đời sống của anh có những cơ duyên rất lạ...


    Lê Văn Hảo:
    Rất lạ anh ạ. Nếu không có ông giáo sư đó sang nói về 200 năm cách mạng Pháp thì tôi làm sao ra khỏi nước Việt Nam được?

    Nguyễn An: Theo chỗ chúng tôi biết thì vào năm 2000 anh trở thành thành viên của Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên? anh có thể trình bày lý do tại sao?

    Lê Văn Hảo:
    Đúng rồi. Lý do là anh Kiểng với tôi quen biết nhau từ gần nữa thế kỷ rồi. Tôi theo dõi việc làm của anh Kiểng rất kỹ. Trước năm 2000 tôi không gia nhập Tập Hợp là vì tôi phải nuôi 2 đứa con ăn học cho nên cũng bận rộn công ăn việc làm. Đến khi tôi sắp sửa về hưu thì tôi mới nghiên cứu kỹ thêm về hoạt động của Thông Luận và của anh Nguyễn Gia Kiểng.

    Đã bao nhiêu năm tôi cũng đi tìm một nơi để mình gởi gấm sự thiết tha của mình đối với tương lai của dân tộc. Tôi thấy những gì mà Tập Hợp đề nghị thì tôi thấy nó quá phù hợp với sự mong đợi của tôi, cho nên đến năm 2000 tôi đã chính thức nộp đơn xin làm một thành viên khiêm tốn của Tập Hợp và tôi đã được chấp thuận. Tôi cho đấy cũng là một bước ngoặc của đời tôi.

    Nguyễn An: Xin cảm ơn tiến sĩ Lê Văn Hảo đã dành thì giờ cho cuộc trao đổi ngày hôm nay.

    Thông tin trên Internet:
    - Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam
    - Đảng Cộng sản Việt Nam
    - Sự kiện Tết Mậu Thân - Wikipedia
    - Thảm sát Huế Tết Mậu Thân - Wikipedia

    http://www.rfa. org/vietnamese/ in_depth/ 2006/12/22/ The_National_ Front_for_ the_Liberation_ of_SouthVN_ part3_NAn/

  • Suy nghĩ về sự việc Bác Sĩ Bùi Trọng Cường khởi kiện Chủ Tịch Huỳnh Bá Phụng - Nguyễn Quốc Bảo

    Nguyễn Quốc Bảo

    Trong bối cảnh đấu tranh của cộng đồng NVTD tại hải ngoại, trong những năm gần đây đã bị một số con buôn chính trị hay tay sai CSVN, luồn lọt quấy phá trên mọi hình thức, mọi ngõ ngách, hầu cố gắng tạo ra những nhiêu khê bằng cách gây phân hóa, tạo lũng đoạn trong các cơ chế Hội Đoàn, Đoàn Thể, nhất là đối với lực lượng Cựu Quân Nhân. Tất cả không ngoài mục đích giảm thiểu tới mức tối đa sức mạnh trong công cuộc đấu tranh chung cùng toàn dân trên con đường đi tìn tự do, dân chủ cho quê hương. Riêng tại Úc Châu, sự việc Bs Bùi Trọng Cường, Chủ Tịch CĐ/NVTD/ Qld khởi xướng kiện ông Huỳnh Bá Phụng, Chủ Tịch Hội CQN/Qld cũng đã làm cho dư luận rất xôn xao và cảm thấy buồn phiền không ít, khi nhìn thấy sự việc càng ngày càng có chiều hướng gây bất ổn cho cộng đồng, và như vậy là vô tình quý vị lãnh đạo cộng đồng đã làm lợi cho CSVN.

    Theo dõi sự kiện, đại đa số đều rất buồn và ai ai cũng hy vọng các vị chủ tịch sẽ có một ý thức về danh dự của cộng đồng trước nhãn quan chính quyền và người dân sở tại để đi đến một sự hoà hoãn ngỏ hầu giải quyết mọi chuyện trên căn bản "chuyện to biến thành nhỏ, chuyện nhỏ biến thành không". Nhưng rất tiếc sự hy vọng ấy càng ngày càng nguội lạnh và đã không đến. Không hiểu vì lý do gì mà BS Cường phải cương quyết đưa đơn đi kiện CT Phụng, măc dù câu chuyện nhiêu khê này do chính Bs Cường khơi ra như nhận định của ông Mai Đức Hoà, cựu Chủ Tịch Tổng Hội CQN Úc Châu, qua bài trả lời phỏng vấn trên báo SGT số 603, ngày 12-3-2009 vừa qua? Theo bài phỏng vấn, có lẽ ai cũng nhận thấy những phân tích chính xác về sự bất lợi của vụ kiện. Nó không có lợi cho bất cứ ai, mà ngược lại chỉ tự "bôi tro trát trấu" lên danh dự cộng đồng và lực lượng CQN/VNCH mà thôi. Đây cũng chính là một nhược điểm để CSVN có cơ hội tuyên truyền xuyên tạc, gây phân hóa, rất bất lợi cho công cuộc đấu tranh chung hiện nay. Điều khiến cho chúng ta thấy lo ngại hơn cho Bs Cường là trong thời gian hơn một năm trở lại đây, ông đã làm những việc khiến dư luận cho rằng có lợi cho cộng sản. Tỷ dụ như việc ông đi họp với cán bộ du sinh VC, việc ông hô hào cộng đồng người Việt giúp đỡ công nhân do CSVN xuất cảng, rồi việc ông phát biểu tuyên truyền cho chính sách du sinh của VC tại cuộc biểu tình chống CS ở Canberra, vân vân... Trước những việc đáng nghi ngờ này, nay lại thấy ông nhất định đòi kiện Chủ Tịch HBP, thì bà con lại càng nghi ngờ ông, không biết ông làm vậy là do vô tình hay cố tình có lợi cho CS? Nhất là bây giờ ai ai cũng biết, chính ông là người gây sự, rồi thêm nữa là cái lý do được ông nêu ra thì chẳng đáng kiện chút nào. Sinh hoạt cộng đồng ở Úc, chúng ta thấy chuyện người này nói qua, kẻ kia nói lại, tức giận lên còn chửi bới nhau nữa, vậy mà có ai kiện tụng nhau bao giờ. Vậy mà Bs Cường cứ nhất định đòi kiện ông Chủ Tịch HBP thì phải lý do sâu xa của nó, chứ không thể nào chỉ vì chuyện ông HBP viết thư ngỏ bảo Bs Cường đi biểu tình bằng phi cơ lấy từ tiền công quỹ được. Nhưng dù vì bất cứ lý do gì đi nữa thì sau khi đọc bài trả lời phỏng vấn của ông Mai Đức Hoà, dư luận đều hy vọng Bs Cường và ông Phụng sẽ suy nghĩ kỹ hơn trước những lời tâm huyết ông Hoà đã đưa ra, để chọn cho mình một thái độ hành xử chín chắn, hầu bảo vệ danh dự công đồng nói chung và tập thể CQN nói riêng.

    Có điều, qua câu chuyện này tôi thấy điều đáng buồn nữa không thấy các vị cựu và đương kim chủ tịch cộng đồng cũng như CQN lên tiếng, nhất là vai trò của Tổng Hội CQN. Mãi cho đến nay mới thấy sự lên tiếng của ông Mai Đức Hoà, nhưng chỉ là vai trò của một cựu chủ tịch tiền nhiệm. Như vậy, Chủ tịch đương nhiệm là ông Nguyễn Hưng Đạo ở đâu? Tại sao cứ mãi im lặng một cách khó hiểu, trong khi danh dự của CQN nói chung và Hội CQN tại tiểu bang Qld đang bị bôi nhọ? Nếu chuyện kiện tụng này là chuyện riêng giữa Bs Cường và ông Phụng, quý vị lãnh đạo cộng đồng và hội CQN cũng có trách nhiệm, huống hồ chuyện kiện tụng này liên quan đến vị Chủ Tịch CĐ và Chủ Tịch Hội CQN. Nhưng bất mãn hơn nữa là trước việc Bs Cường, Chủ Tịch CĐ/QLD viết thư ngỏ bôi nhọ Hội CQN/QLD mà không hề thấy vị Chủ Tịch Tổng Hội CQN là ông Nguyễn Hưng Đạo lên tiếng. Vậy là tại sao? Nếu bảo là chuyện mới xảy ra, quý vị đang âm thầm dàn xêp thì còn có lý. Đằng này Hội CQN/QLD đã bị Bs Cường bôi nhọ cả năm nay, rồi không những vậy, khi ông Phụng viết thư bảo vệ danh dự của Hội CQN/QLD thì Bs Cường lại nộp đơn kiện. Vậy mà ông Nguyễn Hưng Đạo vẫn bình chân như vại thì quả là không xứng đáng tư cách Chủ Tịch Tổng Hội.

    Xoay quanh sự việc, nhiều cũng người thắc mắc, chẳng lẽ sự việc xảy ra một cách đáng tiếc như thế mà ông Nguyễn Hưng Đạo không biết, hay ông không quan tâm đến danh dự chung của cộng đồng và nhất là lực lượng CQN/QLVNCH? Điều này cũng rất khó hiểu. Sự im lặng của ông Đạo đã khiến dư luận phải suy nghĩ và đặt ra nhiều nghi vấn như: Chẳng lẽ trong tư cách Chủ tịch Tổng hội CQN mà ông Đạo lại tán đồng việc làm của Bs Cường, một việc làm có hại đến công việc chung, tạo phân hoá và bôi nhọ danh dự, làm giảm thiểu niềm tin của đồng hương, tạo cơ hội cho đám đảng phái hoạt đầu chính trị và CS nằm vùng lũng đoạn? Điều này khó có thể tin được, nhất là đối với vai trò Chủ tịch Tổng Hội CQN Liên bang Úc Châu như ông Đạo. Hơn nữa, đứng trên tư thế của một cựu quân nhân, sáu chữ "Tổ Quốc - Danh dự - Trách Nhiệm" không bao giờ có thể lơ là hay lãng quên, ngoại trừ người ấy đã bị chệch hướng để coi thường xương máu của đồng đội. Như vậy, có phải ông Đạo đang có những uẩn khúc khó giải bày, hoặc bị một thế lực nào đó sau lưng tạo áp lực?

    Trong bối cảnh cộng đồng người Việt tỵ nạn CS tại hải ngoại, người ta thường nói, CQN chính là "cái xương sống của cộng đồng". Do đó, nhiệm vụ của CQN không những phải nỗ lực góp sức xây dựng cộng đồng mỗi ngày thêm vững mạnh, mà còn phải luôn đề cao cảnh giác trong mọi tình huống để bảo vệ sáu chữ "Tổ Quốc - Danh dự- Trách nhiệm" một cách tích cực trọn vẹn như trước đây Tổng Hội đã có hành động cụ thể, mà tôi xin nêu ra đây để Chủ Tịch Nguyễn Hưng Đạo dù sao cũng nên cố gắng noi theo.

    Đi ngược dòng thời gian nhiệm kỳ ông Mai Đức Hòa giữ chức Chủ tịch Tổng Hội, tất sẽ thấy nhiệm vụ người CQN đã hoàn thành như thế nào qua sự việc Tổng Hội đã ra văn thư phản đối đảng Việt Tân, khi họ cho phát thanh những bài viết của Hà Dương Dực mang chủ đích bôi nhọ chính nghĩa và xương máu của Quân Dân Cán Chính VNCH trong cuộc chiến trước năm 1975. Việc Tổng hội CQN lúc đó kịp thời ra một Tuyên Cáo phản đối cứng rắn, rõ ràng và cuộc họp chất vấn trực tiếp Lý Thái Hùng, Tổng Bí Thư đảng Việt Tân, ngay sau đó, rõ ràng là những việc làm sáng suốt đầy chính nghĩa với sáu chữ "Tổ Quốc - Danh Dự -Trách Nhiệm" của người cựu quân nhân VNCH. Sự việc này không những đã làm nức lòng tập thể CQN trên toàn thế giới, mà tất cả đồng hương cũng tỏ ra ngưỡng mộ, ủng hộ. Như vậy, thiết nghĩ ông Đạo nên noi gương vị Chủ Tịch tiền nhiệm Mai Đức Hòa mà hành xử sao cho đúng vai trò của mình.

    Sau cùng cũng xin nhắc ông Đạo một điều, đối với một người lính VNCH quan trọng nhất là bảo vệ "Tổ Quốc- Danh Dự- Trách Nhiệm". Hơn nữa, xin ông Đạo nhớ cho câu nói bất hủ "Người ta có thể đưa tôi ra khỏi quân đội, nhưng quân đội không bao giờ ra khỏi tôi".

    Nguyễn Quốc Bảo - Cabramatta NSW


    Sunday, March 22, 2009

    Sáng Mắt ra chưa (bài 5) - Đoàn Văn Toại

    Thổn thức cho Việt Nam

    Đoàn Văn Toại
    Felix lược dịch từ: A Lament for Vietnam, The New York Times, March 29, 1981


    Khi cộng sản chiếm miền Bắc Việt Nam năm 1954, hàng triệu người đã lũ lượt di cư vào Nam.

    Tôi đã tận tai nghe nhiều câu chuyện về sự đau khổ tột cùng của họ. Nhưng cũng như nhiều người miền Nam lúc ấy, tôi đã không tin vào những câu chuyện đó. Cả về sau này, tôi cũng đã không tin về những câu chuyện được kể trong tác phẩm Quần Đảo Ngục Tù (The Gulag Archipelago) của văn hào Solzhenitsyn. Tôi không tin vì cho rằng đó là những luận điệu tuyên truyền chống Cộng. Nhưng vào năm 1979, tôi đã cho xuất bản cuốn sách Việt Nam Ngục Tù của chính tôi. Liệu những người đã từng nếm trải những kinh hoàng dưới chế độ cộng sản có bao giờ thử thuyết phục những người không có cái kinh nghiệm này?

    Kể từ năm 1945, năm tôi ra đời tại huyện Cái Vồn thuộc tỉnh Vĩnh Long, một tỉnh lỵ cách Sài Gòn 160 km về hướng Nam, cho đến khi ngày tôi rời Việt Nam vào tháng 5/1978, tôi chưa từng một ngày vui hưởng hoà bình. Căn nhà gia đình tôi đã bị đốt 3 lần trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Trong suốt cuộc đời niên thiếu, tôi đã phải theo cha mẹ di tản từ làng này sang làng khác để tránh tên bay đạn lạc. Cũng giống như những người Việt Nam yêu nước khác, cha mẹ tôi cũng tham gia kháng chiến chống Pháp. Khi tôi lớn lên, tôi lại tận mắt chứng kiến các nông dân đã bị các quan chức địa phương của chính quyền Sài Gòn áp bức ra sao, và họ đã phải chịu những cuộc oanh tạc tàn khốc của quân Pháp như thế nào. Tôi đã học trong lịch sử sự chiến đấu kiên cường của dân tộc chống lại ách đô hộ ngàn năm của giặc Tàu rồi đến các cuộc kháng chiến gian khổ chống ách thống trị trăm năm của giặc Tây. Với hành trang đó, tôi và các bạn đồng lứa đã lớn lên cũng với nỗi căm thù sự can thiệp của ngoại bang.

    Khi các sinh viên Sài Gòn bầu tôi vào chức Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp Sinh viên Sài Gòn vào năm 1969 và 1970, tôi đã tham gia vào các hoạt động đòi hoà bình khác nhau, đã lãnh đạo sinh viên biểu tình chống chế độ Thiệu và sự dính líu của người Mỹ. Tôi đã ấn hành nguyệt san Tự Quyết, và đã làm một cuộc du hành đến California để thuyết trình về các hoạt động phản chiến ở Đại học Berkeley và Stanford vào tháng 1/1971. Vì các hoạt động đó, tôi đã bị bắt và tống giam nhiều lần dưới chế độ Thiệu.

    Vào thời điểm ấy, tôi tin rằng tôi đang thi hành sứ mệnh hoà bình và độc lập cho đất nước tôi. Tôi cũng tin tưởng vào đề cương của MTDTGPMN, một tổ chức đang lãnh đạo cuộc kháng chiến cách mạng ở miền Nam Việt Nam. Tôi căm ghét các nhà lãnh đạo Sài Gòn, các người như Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu, Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ, Trung tướng Đặng Văn Quang ‒ những cựu chiến binh trong quân đội viễn chinh Pháp. Đó là những người được Pháp tuyển mộ vào năm 1940 để giúp chúng tiêu diệt các phần tử kháng chiến Việt Nam. Theo thời gian, họ đã vươn lên thành những nhà lãnh đạo, nhưng sự lãnh đạo của họ không thu được lòng dân. Và chính vì không có được ủng hộ của người dân, nên họ phải dựa vào các thế lực nước ngoài.

    Với tư cách một lãnh tụ sinh viên, tôi cho rằng tôi phải hoàn thành khát vọng của người dân Việt Nam về dân chủ, tự do và hoà bình.

    Một cách ngây thơ, tôi nghĩ rằng chế độ Hà Nội ít nhất cũng là người Việt Nam, trong khi người Mỹ chỉ là những kẻ xâm lược giống như người Pháp trước đó. Như nhiều người trong phong trào đối lập tại miền Nam lúc ấy, tôi tin rằng dù sao các đồng bào cộng sản miền Bắc cũng sẽ dễ có sự tương nhượng và dễ nói chuyện hơn là người Mỹ. Hơn thế nữa, tôi lại thấy choáng ngợp trước các thành tích hy sinh và tận tâm của các lãnh tụ cộng sản. Chẳng hạn, Tôn Đức Thắng, Phó Chủ tịch Bắc Việt, đã bị nhốt đến 17 năm trong nhà tù của Pháp. Tôi cũng bị hớp hồn trước bản đề cương chính trị được MTDTGPMN áp dụng, bao gồm chính sách hoà giải dân tộc, không hề có sự trả thù, và chính sách ngoại giao phi liên kết. Cuối cùng, tôi đã chịu ảnh hưởng của các phong trào tiến bộ khắp thế giới và các nhà đại trí thức phương Tây lúc ấy. Tôi đã có cảm tưởng rằng các lãnh đạo phong trào phản chiến ở Mỹ cuối thập niên 60 đầu 70 đã chia sẻ cùng niềm tin với tôi.

    Niềm tin ấy càng được củng cố hơn sau khi Hiệp định Paris ký kết vào năm 1973 và sự sụp đổ của Đệ nhị Việt Nam Cộng hòa năm sau đó. Khi cuộc giải phóng đã hoàn tất, tôi chính là người đã khuyên bảo bạn bè và thân nhân không nên di tản. “Tại sao các người lại bỏ đi?” tôi hỏi, “Tại sao các người lại sợ cộng sản?” Tôi chấp nhân một viễn cảnh khó khăn trong thời gian tái thiết quê hương nên đã quyết định ở lại và tiếp tục làm việc với tư cách một quản trị viên một chi nhánh của Ngân hàng Saì Gòn, nơi tôi đã làm việc hơn 4 năm, và là nơi tôi viết các báo cáo mật về tình hình kinh tế Nam Việt Nam cho MTDTGPMN (Sau khi tốt nghiệp đại học, tôi đã không bị chính quyền Việt Nam Cộng hòa động viên vì là con một trong gia đình. Tôi cũng không gia nhập Việt Cộng vì MTDTGPMN nghĩ rằng tôi sẽ phục vụ tốt hơn trong vai trò báo cáo tài chính từ ngân hàng).

    Sau khi Sài Gòn thất thủ được nhiều ngày, MTDTGPMN thành lập chính quyền Cách mạng Lâm thời, mời tôi gia nhập một uỷ ban tài chính, một nhóm bao gồm các trí thức có nhiệm vụ cố vấn cho chính quyền về các vấn đề kinh tế. Tôi hăng hái tham gia, chấp nhận mức cắt giảm lương đến 90%. Nhiệm vụ đầu tiên của tôi là giúp thảo ra một kế hoạch nhằm tịch thu tất cả các tài sản tư nhân ở miền Nam Việt Nam. Tôi cảm thấy sốc, và đề nghị chỉ nên thi hành điều đó với tài sản những người từng cộng tác với chính quyền cũ và với những người đã làm giàu nhờ chiến tranh, và sẽ phân phối lại theo một cách thức nào đó cho các người nghèo và nạn nhân chiến tranh không phân biệt thuộc phe nào. Đề nghị của tôi bị bác bỏ, dĩ nhiên.

    Tôi đã quá ngây thơ khi nghĩ rằng các quan chức địa phương đã sai lầm, rằng họ đã hiểu lầm ý định tốt của các lãnh đạo đảng cộng sản. Tôi đã tranh đấu với họ nhiều lần, vì hoàn toàn đặt niềm tin vào các tuyên bố của Hà Nội trước đây rằng “tình hình ở Nam Việt Nam rất đặc biệt và rất khác với tình hình miền Bắc Việt Nam”. Chỉ vài tháng trước khi Sài Gòn thất thủ, Lê Duẩn, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản, đã tuyên bố “miền Nam cần có chính sách riêng của nó”. Sau cùng, tôi không thể tuân theo lệnh sắp đặt các cuộc tịch thu tài sản tư hữu, một kế hoạch vẫn đang được xúc tiến. Một kế hoạch như vậy không hề đáp ứng nguyện vọng của người dân Nam Việt Nam, và nó đi ngược với lương tâm của tôi. Tôi quyết định từ chức. Nhưng không ai được phép từ chức trong chế độ cộng sản.

    Một ngụ ý bất tuân lệnh sẽ không được người cộng sản tha thứ. Khi tôi đưa đơn từ chức, người lãnh đạo uỷ ban tài chính đã cảnh cáo rằng hành động của tôi “sẽ bị xem là sự tuyên truyền nhằm kích động quần chúng, và rằng chúng ta không bao giờ cho phép điều đó xảy ra”. Nhiều ngày sau đó, trong khi tôi đang tham dự một buổi hoà nhạc tại Nhà Hát Lớn (trước đây là trụ sở Quốc hội Việt Nam Cộng hòa, nơi mà tôi đã lãnh đạo các sinh viên chiếm giữ nhiều lần trước đây dưới chế độ Thiệu), tôi bị bắt. Không có sự truy tố cũng như không có lý do nào được đưa ra. Sau khi Sài Gòn thất thủ, rất nhiều nhà trí thức tiến bộ cũng như nhiều nhà lãnh đạo các phong trào phản chiến trước đây đều tin rằng chính quyền mới sẽ đem lại dân chủ và tự do thay cho sự thống trị của ngoại bang. Họ tin rằng chính quyền mới sẽ đeo đuổi các quyền lợi tốt nhất cho nhân dân. Sẽ giữ đúng lời hứa của chính họ về chính sách hoà giải dân tộc, không có sự trả thù. Phủi sạch những hứa hẹn, nhà cầmn quyền cộng sản đã bắt giam hàng trăm ngàn người ‒ không chỉ những người đã cộng tác với chế độ Thiệu mà cả những người khác, bao gồm các vị lãnh đạo tôn giáo và các cựu thành viên MTDTGPMN.

    Việt Nam ngày nay trở thành một quốc gia không có luật pháp nào khác hơn là sự điều hành độc đoán của những kẻ đang nắm quyền lực. Không hề có cái gọi là dân quyền. Bất cứ ai cũng đều có thể bị bắt mà không cần truy tố cũng như không cần xét xử. Và khi đã ở trong tù, các tù nhân đều được giáo dục rằng chính các thái độ, hành vi và sự “cải tạo tốt” là yếu tổ chủ chốt đễ xét xem liệu họ có thể được trả tự do hay không- không cần biết họ đã phạm tội gì. Vì vậy, các tù nhân thường là phải tuân lệnh tuyệt đối các quản giáo để hy vọng được thả sớm. Trong thực tế, họ không bao giờ biết được khi nào họ sẽ được thả – hay có thể bản án của họ sẽ được kéo dài thêm. Ở đất nước Việt Nam ngày nay có bao nhiêu tù chính trị? Không ai có thể biết được con số chính xác. Bộ Ngoại giao Mỹ cho rằng có khoảng từ 150.000 đến 200.000 chính trị phạm, người Việt tỵ nạn thì ước đoán con số đó là 1 triệu.

    Hoàng Hữu Quýnh, một trí thức tốt nghiệp Đại học Mạc Tư Khoa, hiệu trưởng một trường kỹ thuật tại Tp. HCM (trước đây là Sài Gòn), vừa mới bỏ trốn trong một chuyến đi tham quan các nước Châu Âu do nhà nước bảo trợ. Ông đã nói với báo chí Pháp, “Hiện nay ở Việt Nam có ít nhất 700.000 tù nhân”. Một nhân chứng khác, Nguyễn Công Hoan, một cựu thành viên trong Quốc hội thống nhất được bầu vào năm 1976, đã vượt biển thành công vào năm 1978, đã tuyên bố chính bản thân ông được biết về “300 trường hợp xử tử” chỉ nội trong tỉnh Phú Yên của ông.

    Vào năm 1977, các quan chức Hà Nội khăng khăng rằng chỉ có 50.000 người bị bắt giữ vì có những hành vi gây nguy hại cho an ninh quốc gia. Nhưng trong khi đó, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã tuyên bố trên tờ Paris Match số ra ngày 22/9/1978, “Trong vòng 3 năm qua, tôi đã trả tự do cho hơn 1 triệu tù nhân từ các trại cải tạo”. Người ta có thể tự hỏi làm thế nào có thể thả 1 triệu tù nhân trong khi chỉ bắt giữ có 50.000!

    Tôi bị tống vào một xà lim 1m x 2m, tay trái bị xiềng vào chân phải và tay phải xiềng vào chân trái. Thứ ăn của tôi là cơm trộn với cát. Khi tôi khiếu nại về cát trong cơm, các quản giáo đã giải thích rằng cát được cho vào cơm để nhắc nhở các tù nhân về các tội ác mà họ đã phạm. Tôi đã khám phá ra khi đổ nước vào tô cơm có thể tách cát ra khỏi cơm và lắng nó xuống đáy. Nhưng phần nước chỉ có 1lít cho một ngày dùng cho uống và tắm rửa, do vậy tôi phải dùng nó hết sức tiết kiệm.

    Sau 2 tháng biệt giam, tôi được chuyển ra phòng giam lớn, một phòng giam 5m x 9m, tuỳ theo thời điểm được nhồi nhét từ 40 đến 100 tù nhân. Nơi đây chúng tôi phải thay phiên để được nằm xuống ngủ, và phần lớn các tù nhân trẻ và còn mạnh khoẻ phải chịu ngủ ngồi. Trong cái nóng hầm hập, chúng tôi cũng phải thay phiên để được hứng vài cơn gió mát của khí trời từ một lỗ thông gió chút xíu và cũng là cửa sổ duy nhất của phòng giam. Mỗi ngày tôi đều chứng kiến các bạn tù chết dưới chân tôi.

    Vào tháng 3, 1976, khi một nhóm phóng viên phương Tây đến viếng thăm nhà tù của tôi, các quản giáo đà lùa các tù nhân đi và thay vào đó là các bộ đội miền Bắc. Trước cửa nhà tù, không còn thấy các hàng rào kẻm gai, không có tháp canh, chỉ có vài công an và một tấm bảng lớn chăng ngang cửa chính đề câu khẩu hiệu nổi tiếng của Hồ Chí Minh, “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Chỉ có những người đang bị giam và các quản giáo là biết cái gì thực sự ẩn giấu đằng sau những dấu hiệu đó. Và mọi tù nhân đều biết rằng nếu họ bị tình nghi đào thoát thì người bạn đồng tù và người thân của họ tại nhà sẽ bị trừng phạt thay vì chính họ.

    Chúng ta sẽ không bao giờ biết được con số thực sự của những tù nhân bỏ mạng, nhưng chúng ta đã biết cái chết của nhiều tù nhân nổi tiếng, những người trong quá khứ chưa bao giờ cộng tác với Chính quyền Thiệu hay với người Mỹ: chẳng hạn, Thích Thiện Minh, nhà chiến lược cho các phong trào tranh đấu hoà bình của Phật tử tại Sài Gòn, một nhà đấu tranh phản chiến đã từng bị kết án 10 năm dưới chế độ Thiệu, sau cùng bị buộc phải thả ông vì sự phản đối mạnh mẽ của nhân dân Việt Nam và các nhà hoạt động phản chiến khắp thế giới. Đại Đức Thiện Minh đã chết trong tù 6 tháng sau khi ông bị bắt vào năm 1979. Một cái chết âm thầm khác là của Luật sư Trần Văn Tuyên, một lãnh tụ khối đối lập tại Quốc hội dưới thời Tổng thống Thiệu. Nhà hoạt động nổi tiếng này đã chết dưới bàn tay cộng sản vào năm 1976, mặc dù vào cuối tháng 4/1977, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã tuyên bố với các phóng viên Pháp rằng ông vẫn còn sống mạnh khoẻ trong trại cải tạo. Một trong những tổn thất to lớn nhất là cái chết của triết gia nổi tiếng Việt Nam Hồ Hữu Tường. Tường, bạn đồng môn với Jean Paul Sartre thập niên 30 tại Paris, có lẽ là nhà trí thức hàng đầu tại Nam Việt Nam. Ông chết tại nhà tù Hàm Tân vào ngày 26/06/1980. Đây là những người bị bắt, cùng với rất nhiều những người khác trong nhóm những người Nam Việt Nam ưu tú và được trọng nể nhất, với mục đích ngăn ngừa bất cứ một sự chống đối nào với chế độ cộng sản.

    Một số người Mỹ ủng hộ Hà Nội đã làm lơ hoặc biện minh cho những cái chết này, như họ đã từng làm với vô số các thảm kịch đã xảy ra từ khi Việt Nam Cộng hòa sụp đổ năm 1975. Rất có thể họ sẽ vẫn tiếp tục giữ im lặng nhằm lãng tránh một sự thật về Việt Nam nếu tiết lộ sẽ mang lại một nỗi vỡ mộng sâu xa đối với họ. Cay đắng thay nếu tự do và dân chủ vẫn là mục tiêu xứng đáng để chiến đấu tại Philippines, tại Chile, tại Nam Hàn hay tại Nam Phi, thì nó lại không xứng để bảo vệ tại các nước cộng sản như Việt Nam.

    Mọi người đều nhớ đến vô số các cuộc biểu tình chống đối Mỹ can thiệp vào Việt Nam và chống lại các tội ác chiến tranh của chế độ Thiệu. Nhưng một số trong các người đã từng một thời nhiệt thành với các nguyên tắc dân chủ và nhân quyền thì nay lại tỏ ra hết sức lãnh đạm khi cũng chính các nguyên tắc ấy đang bị chà đạp tại nước Việt Nam cộng sản. Chẳng hạn, một nhà hoạt động phản chiến, William Kunstler, vào tháng 5, 1979 đã từ chối ký vào một bức thư ngỏ gởi nhà nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, trong đó có chữ ký của nhiều nhà hoạt động phản chiến khác, kể cả Joan Baez, phản đối sự vi phạm nhân quyền của chế độ Hà Nội. Kunstler nói “Tôi không tin vào sự chỉ trích công khai một chính quyền xã hội chủ nghĩa, dù đó là sự vi phạm nhân quyền”, và “toàn bộ chiến dịch này của Baez có thể là một âm mưu của CIA”. Câu nói này đã làm tôi nhớ lại lập luận mà chế độ Thiệu thường đưa ra làm lý do đàn áp các người đối lập, Tất cả các hoạt động phản chiến và đối lập đều do cộng sản giựt dây”.

    Còn có rất nhiều những huyền thoại về chế độ hiện hành tại Việt Nam mà người dân rất nên được soi sáng. Nhiều người cho rằng Hồ Chí Minh đầu tiên là một người quốc gia và rằng đảng cộng sản Việt Nam trước đây cũng như hiện nay đều độc lập với Liên Sô. Tôi cũng là người tin như vậy trước khi cộng sản chiếm miền Nam.Nhưng rồi chân dung các nhà lãnh đạo Soviet nay được treo đầy các chung cư, trường học và các công sở trên khắp nước “Việt Nam độc lập”. Ngược lại, người ta chưa từng thấy chân dung bất cứ một nhà lãnh đạo Mỹ nào được treo ngay cả trong chế độ được gọi là bù nhìn của Tổng thống Thiệu. Mức độ lệ thuộc của chính quyền hiện hành vào các ông chủ Soviet được thể hiện rõ ràng nhất do thi sĩ nổi tiếng của cộng sản Việt Nam, Tố Hữu, thành viên Bộ Chính Trị và là Trưởng Ban Văn hoá Đảng Cộng sản Việt Nam. Chúng ta có cơ hội được nghe người thi sĩ cao cấp này than khóc nhân cái chết của Stalin:

    "Xít-ta-lin! Xít-ta-lin,
    Yêu biết mấy, nghe con tập nói
    Tiếng đầu lòng, con gọi Xít-ta-lin
    Ông Xít-ta-lin ôi. Ông Xít-ta-lin ôi,
    Hỡi ôi ông mất, đất trời có không?
    Thương cha, thương mẹ, thương chồng
    Thương mình thương một, thương ông thương mười".
    (Đời đời nhớ ông - Tố Hữu).

    Thật là khó mà tưởng tượng những vần thơ như vậy lại được viết tại Việt Nam, một đất nước mang nặng truyền thống gia đình và bổn phận với con cái. Và bài thơ ấy vẫn đang chiếm một vị trí trang trọng trong ấn bản về thơ ca Việt Nam hiện đại được xuất bản tại Hà Nội.

    Hơn thế nữa, Lê Duẩn , Tổng Bí thư đảng cộng sản Việt Nam, trong một bài diễn văn chính trị đọc trước Hội nghị khoáng đại của Quốc hội thống nhất năm 1976, “Cuộc cách mạng Việt Nam là để thực thi bổn phận và các cam kết quốc tế”, và vì vậy, trong lời lẽ của bản luận cương của đảng năm 1971 đã viết, “dưới sự lãnh đạo của Liên bang Soviet”. Sự vinh quang của một xã hội Soviet là mục tiêu chính yếu trong sách lược của đảng cộng sản Việt Nam.

    Sau khi Sài Gòn thất thủ, nhà nước đã ngay tức khắc đóng cửa toàn bộ các nhà sách và rạp hát. Tất cả các sách vở được xuất bản trong chế độ cũ đều bị tịch thu hay đốt bỏ. Các tác phẩm văn hoá thuần tuý cũng không ngoại lệ, kể cả các bản dịch tác phẩm của Jean Paul Sartre, Albert Camus và Dale Carnegie. Ngay cả tác phẩm Cuốn Theo Chiều Gió của Margaret Mitchell cũng nằm trong danh sách văn chương đồi trụy. Nhà nước thay thế những tác phẩm ấy bằng những tác phẩm văn chương nhằm nhồi sọ trẻ em và người lớn với ý tưởng chủ đạo, “Liên bang Soviet là thiên đường của xã hội chủ nghĩa”.

    Một lập luận khác của các nhà biện luận phương Tây có liên quan đến vấn đề tự do tôn giáo tại Việt Nam. Một điều khoản của bản hiến pháp mới, được đưa ra vào năm nay, có nêu rằng “nhà nước tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng và quyền tự do không tín ngưỡng”. Về điều khoản này, Lê Duẩn đã nhiều lần tuyên bố, “Chế độ của chúng ta triệu lần dân chủ hơn bất cứ chế độ nào trên thế giới”.

    Ngược lại, trên thực tế, đã trình bày rõ sự thật qua một sự kiện mang tính báng bổ một ngôi chùa Phật giáo, trong vụ đó một người đàn bà khoả thân theo lệnh nhà nước đã tiến vào ngôi chùa trong giờ hành lễ. Khi Hoà thượng Thích Mẫn Giác, một nhà lãnh đạo Phật giáo nổi tiếng, lên tiếng phản đối, nhà nước đã nhân vụ này lên án Phật giáo là kẻ thù của dân chủ, chính xác là vi phạm quyền tự do không tín ngưỡng. Hoà Thượng Thích Mẫn Giác, người đóng vai trò là cầu nối giữa Phật giáo và nhà nước cộng sản, đã phải vượt thoát Việt Nam bằng thuyền vào năm 1977 và nay đang định cư tại Los Angeles. Tất cả những ai từng ủng hộ MTDTGPMN trong cuộc chiến đấu chống chế độ Sài Gòn đều có thể cảm nhận sự bị phản bội và nỗi tuyệt vọng của họ. Khi Harrison Salisbury của tờ New York Times viếng thăm Hà Nội vào tháng 12, 1966, các nhà lãnh đạo Hà Nội đã nói với ông, “Sách lược tranh đấu của miền Nam được chỉ đạo từ miền Nam chứ không phải từ miền Bắc”. Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói với Salisbury, “Không có ai ở miền Bắc có ý tưởng ngu ngốc, tội ác” rằng miền Bắc muốn thôn tính miền Nam.

    Vậy mà trong diễn văn đọc nhân lễ mừng chiến thắng vào ngày 19/05/1975, Lê Duẩn đã nói, “Đảng của chúng ta là một và là người lãnh đạo duy nhất đã tổ chức, kiểm soát và điều hành toàn bộ cuộc chiến đấu của nhân dân Việt Nam ngay từ ngày đầu của cuộc cách mạng”.

    Trong bản báo cáo chính trị đọc trước Quốc hội hợp nhất tại Hà Nội vào ngày 26/05/1976, Lê Duẩn nói, “Nhiệm vụ cách mạng chiến lược của đất nước ta trong thời kỳ mới là thống nhất tổ quốc và đưa toàn bộ đất nước tiến nhanh, tiến mạnh và tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội, lên chủ nghĩa cộng sản”.

    Vào năm 1976, Chính phủ Cách mạng Lâm thời do MTTGPMN thành lập đã bị xoá sổ, và toàn thể 2 miền Nam Bắc Việt Nam đều nằm dưới sự cai trị của những người cộng sản. Ngày nay,trong số 17 thành viên Bộ Chính trị và 134 Uỷ viên Trung ương thuộc Đảng Cộng sản Việt Nam, không hề có người nào thuộc MTDTGPMN trước kia. Ngay cả Nguyễn Hữu Thọ, cựu Chủ tịch MT, chỉ nắm chức vụ Chủ tịch nhà nước, một chức vụ mang tính nghi lễ với nhiệm vụ đón tiếp khách nước ngoài và tham dự các buổi lễ lạc. Nhưng ngay cả vị trí đó rồi sẽ bị xoá bỏ khi bàn hiến pháp mới ra đời.

    Hãy nghe lời của ông Trương Như Tảng, một những người sáng lập MT, cựu Bộ trưởng Tư pháp của Chính phủ Cách mạng Lâm thời, vừa mới đây cũng là một thuyền nhân vượt biển. Ông Tảng trốn thoát khỏi Việt Nam vào tháng 12, 1979 và hiện nay sống tại Paris. Ông đã nói với các phóng viên về kinh nghiệm của ông trong cuộc họp báo gần đây vào tháng 5, 1980. 12 năm trước, ông nói, khi ông bị bỏ tù dưới chế độ Thiệu vì các hoạt động thân cộng của mình, cha của ông đã đến thăm ông. Ông cụ đã hỏi ông, “Tại sao con lại dứt bỏ tất cả ‒ một công việc tốt, một gia đình sung túc ‒ để gia nhập cộng sản? Con không biết rằng cộng sản rồi sẽ phản bội con và sẽ thủ tiêu con, và khi con thật sự hiểu ra thì đã quá muộn?” Tảng, một nhà trí thức, đã trả lời cha “Tốt hơn là cha nên im lặng và chấp nhận sự hy sinh một trong các đứa con của cha cho nền dân chủ và độc lập của đất nước”.

    Sau cuộc Tổng Công kích Tết Mậu thân 1968, Tảng được trao đổi với 3 Đại tá tù binh chiến tranh Mỹ, và sau đó ông biến mất vào rừng với MT. Ông đã viếng thăm nhiều nước cộng sản và các nước thế giới thứ 3 để kêu gọi sự ủng hộ dành cho MT trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Ông đã nói trong cuộc họp báo. “Tôi đã biết MT là một tổ chức do cộng sản chi phối và tôi đã quá ngây thơ khi cho rằng Hồ Chí Minh và Đảng của ông ta sẽ dặt quyền lợi quốc gia lên trên ý thức hệ và đặt quyền lợi nhân dân Việt Nam lên trên quyền lợi của đảng. Nhưng nhân dân Việt Nam và tôi đã sai lầm”.

    Trương Như Tảng đã kể về kinh nghiệm của ông về phương sách các tầng lớp lãnh đạo cộng sản cai trị, “Người cộng sản là chuyên gia về nghệ thuật chiêu dụ và có thể làm bất cứ cách nào để dụ bạn về phe họ một khi họ chưa nắm được chính quyền. Nhưng một khi đã nắm được quyền lực lập tức họ trở thành sắt máu và tàn nhẫn”. Ông tóm tắt tình hình tại Việt Nam hiện nay, “Gia đình ly tán, xã hội phân ly, ngay cả đảng cũng chia rẽ”.

    Bây giờ nhìn lại cuộc chiến Việt Nam, tôi chỉ cảm thấy buồn rầu cho sự ngây thơ của mình khi tin rằng cộng sản là những người cách mạng và xứng đáng được ủng hộ. Trên thực tế, họ đã phản bội nhân dân Việt Nam và làm thất vọng các phong trào tiến bộ trên toàn thế giới.

    Tôi nhận lãnh trách nhiệm về những thảm kịch xảy ra cho đồng bào của tôi. Và nay tôi chỉ còn cách đóng vai nhân chứng cho sự thật này hầu các người đã từng ủng hộ Việt Cộng trước kia có thể cùng chia sẻ trách nhiệm với tôi.

    Khi tôi còn trong tù, Mai Chí Thọ, một Uỷ viên Trung ương đảng, đã nói chuyện trước một nhóm tù nhân chính trị chọn lọc. Ông ta đã nói với chúng tôi, “Hồ Chí Minh có thể là một quỷ dữ, Nixon có thể là một vĩ nhân. Người Mỹ có thể có chính nghĩa, chúng ta có thể không có chính nghĩa. Nhưng chúng ta đã chiến thắng và người Mỹ đã bị đánh bại bởi vì chúng ta đã thuyết phục được người dân rằng Hồ Chí Minh là một vĩ nhân, Nixon là một tên sát nhân và người Mỹ là những kẻ xâm lược”. Ông ta đã kết luận, “Yếu tổ chủ chốt là làm thế nào kiểm soát người dân và ý tưởng của họ. Chỉ có chủ nghĩa Mác Lê mới có thể làm được như vậy. Không ai trong các anh đã từng biết đến một sự kháng cự nào đối với chế độ cộng sản, bởi vậy không nên nghĩ đến điều đó nữa. Hãy quên chuyện đó đi? Giữa các anh ‒ những nhà trí thức ưu tú ‒ và tôi, tôi đã nói với các anh sự thật”.

    Và quả là ông ta đã nói sự thật. Từ năm 1978, khi cộng sản Việt Nam chiếm đóng Lào, xâm lấn Kampuchea và tấn công Thailand, trong khi đó Liên Sô xâm lăng Afghanistan. Trong mỗi một sự kiện đó, người cộng sản vẫn tự phác hoạ chân dung của họ một cách ly kỳ, là những người giải phóng, người cứu rỗi, người bảo vệ chống lại các lực lượng xâm lăng nước ngoài. Và trong mỗi sự kiện, dư luận thế giới vẫn tương đối êm dịu.

    Nhưng ở Việt Nam, người dân vẫn thường nhắc nhau, “Đừng nghe những gì cộng sản nói mà hãy nhìn những gì cộng sản làm”. Một trong những người Nam Việt Nam theo cộng sản, ông Nguyễn Văn Tăng, bị tù 15 năm dưới thời Pháp, 8 năm dưới thời Diệm, 6 năm dưới thời Thiệu, và hiện nay vẫn còn đang nằm tù, đã nói với tôi, “Muốn hiểu người cộng sản, trước nhất phải sống với cộng sản”. Vào một buổi chiểu mưa rơi tại nhà tù Lê Văn Duyệt, Sài Gòn, ông đã nói với tôi, "Ước mơ của tôi bây giờ không phải là được thả ra, không phải là được gặp lại gia đình. Tôi chỉ mơ được trở lại nhà tù của Pháp 30 năm trước”. Đó là giấc mơ của một người đàn ông 60 tuổi đã gởi trọn tuổi thanh xuân vào việc ra vào nhà tù để chiến đấu cho tự do và độc lập của đất nước. Giờ này, có lẽ ông đã chết trong tù hay có thể đã bị nhà nước của nhân dân hành quyết.

    Ước mơ của nhân dân Việt Nam là một cuộc cách mạng thực sự, họ không muốn chủ nghĩa cộng sản. Mức độ đo lường sự chán ghét cộng sản là việc hàng ngàn người đã từ bỏ sự ràng buộc lịch sử của họ với đất mẹ. Dưới thời thực dân Pháp, trải qua bao năm dài chiến tranh, ngay cả trong thảm cảnh nạn đói năm 1945 có đến 2 triệu người chết đói, người Việt Nam vẫn không đành đoạn rời bỏ quê hương, mảnh đất có mồ mả ông cha. Các cuộc đổ xô ra đi tỵ nạn là bằng chứng trực tiếp của sự kinh hoàng với chế độ hiện nay. Hãy nghe lời một người tỵ nạn khác, Nguyễn Công Hoan, cựu thành viên MT và là thành viên Quốc hội thống nhất được bầu năm 1976, “Chế độ hiện nay là chế độ phi nhân và áp bức nhất mà nước Việt Nam từng được biết đến”. Ông Hoan trốn thoát bằng thuyền vào năm 1977, sau khi từ bỏ chức vụ của ông trong Quốc hội cộng sản. “Quốc hội”, ông tuyên bố, “là một bù nhìn, các thành viên ở đó chỉ biết nói dạ, không bao giờ biết nói không”.

    Giữa các thuyền nhân sống sót, bao gồm cả những người bị hải tặc hảm hiếp và những người chịu nhiều cực nhục trong các trại tỵ nạn, không hề có người nào hối tiếc đã tìm cách trốn khỏi chế độ hiện nay. Tôi tuyệt đối tin rằng sự thật về Việt Nam sẽ dần dần hiện rõ. Nó có sẵn cho những ai muốn tìm hiểu về nó. Như Solzhenitsyn đã từng nói, “Sự thật cũng nặng nề như là thế giới vậy”. Và Việt Nam là một bài học về sự thật.

    Đoàn Văn Toại


    Saturday, March 21, 2009

    Một vài sự thật về tên vgcs Nguyễn Tấn Dũng và sui gia

    "Chuyện về gia đình phò mã và sui gia của Thủ tướng"
    Trích từ:Vietland

    Chắc trong chúng ta sẽ có lần thắc mắc sao lại không có mã di động 099 mà chỉ có 090, 091, 092, 093, 094, 095, 096, 097, 098. Năm trước thấy Bộ Thông Tin Truyền Thông nói hết kho số 09 cho di động nên mới ra kho số 012… Sắp tới mọi người sẽ có câu trả lời vì sẽ thấy một “chú” di động mới ra đời, có dịch vụ di động mang mã số 099-xxx-xxxx.

    Nhà cung cấp dịch vụ này mang tên Indochina Telecom. Chắc ai cũng sẽ đang thắc mắc Indochina Telecom của ai mà lại được dành cho mã di động đẹp nhất Việt Nam như thế. Indochina Telecom được thành lập dưới danh nghĩa của Tổng cục II Bộ Quốc Phòng nhưng nguồn vốn và chi phối thực tế từ ông sui của anh 3 Thủ Tướng – ông Nguyễn Bang (cha của Nguyễn Bảo Hoàng hay Henry) và con rể của ông ấy (Thomas O’Connor, tức anh rể của Hoàng), có sự tham gia của ông Đỗ Trung Tá – nguyên Bộ trưởng Bộ BCVT.

    Ngoài ưu tiên được dành mã số đẹp, công ty viễn thông này còn có một đặc tính khác lạ hơn so với các công ty di động khác hiện nay, đó là nó sẽ phải bỏ ra hàng trăm triệu Đô-La để đầu tư nhà trạm phát sóng, máy móc thiết bị đắt tiền tốn kém, mà tất cả các công ty di động của Tập Đoàn Bưu chính Viễn Thông VNPT bao gồm Vinaphone, Mobifone và một phần của Viettel Mobile sẽ phải “phát sóng thay” cho nó. Mà nó cũng chẳng phải bỏ tiền ra mua các sóng này, thay vào đó nó chơi rất “cha” bằng cách khi nào nó bán được dịch vụ, tức là khách hàng 099 mà có gọi và phát sinh doanh thu thì nó ăn chia phần trăm lại cho các công ty di động này.

    Đúng là một trường hợp trong mơ cũng không thể có được. Chẳng phải bỏ tiền ra đầu tư ban đầu tốn kém, cũng chẳng phải chịu rủi ro nếu mua sóng theo dung lượng nào đó mà chưa biết bán tới đó hay không. Ấy vậy mà một công ty di dộng có mã đẹp như thế chỉ cần vài chục triệu Đô-La Mỹ là hoạt động được rồi. Dự kiến là siêu lợi nhuận vì di động bình thường (phải đầu tư lớn) đã lời rất nhiều, còn cái này thì chẳng phải đầu tư gì đáng kể.

    Mấy chục triệu Đô-La này phía Tổng cục II không phải bỏ ra mà gia đình ông sui anh Ba Dũng lo hết. Nhưng trên thực tế, khoản tiền này cũng chẳng phải là tiền túi của gia đình này mà nó có nguồn gốc thật đáng xấu hổ. Những ai đọc các loạt bài ca ngợi phò mã Henry cách đây hơn một tháng trên các báo lề phải thì chắc vẫn còn nhớ các bồi bút nhắc tới VITC là một công ty được vị phò mã (tức là lúc đó chưa phải phò mã) Henry thành lập và phát triển nó lớn mạnh đến mức doanh số cả chục triệu Đô. Doanh số lên cả chục triệu là thật nhưng sự thật đầy đủ thì hãy đọc tiếp dưới đây.
    Đỗ Trung Tá (dấuX) trong chuyến tháp tùng
    Nguyền minh Triết sang Mỹ

    Indochina Telecom được thành lập dưới danh nghĩa của Tổng cục II Bộ Quốc Phòng nhưng nguồn vốn và chi phối thực tế từ ông sui của anh 3 Thủ Tướng – ông Nguyễn Bang (cha của Nguyễn Bảo Hoàng hay Henry) và con rể của ông ấy (Thomas O’Connor, tức anh rể của Hoàng), có sự tham gia của ông Đỗ Trung Tá – nguyên Bộ trưởng Bộ BCVT. Ngoài ưu tiên được dành mã số đẹp, công ty viễn thông này còn có một đặc tính khác lạ hơn so với các công ty di động khác hiện nay, đó là nó sẽ phải bỏ ra hàng trăm triệu Đô-La để đầu tư nhà trạm phát sóng, máy móc thiết bị đắt tiền tốn kém, mà tất cả các công ty di động của Tập Đoàn Bưu chính Viễn Thông VNPT bao gồm Vinaphone, Mobifone và một phần của Viettel Mobile sẽ phải “phát sóng thay” cho nó.

    Mà nó cũng chẳng phải bỏ tiền ra mua các sóng này, thay vào đó nó chơi rất “cha” bằng cách khi nào nó bán được dịch vụ, tức là khách hàng 099 mà có gọi và phát sinh doanh thu thì nó ăn chia phần trăm lại cho các công ty di động này. Đúng là một hợp trong trong mơ cũng không thể có được. Chẳng phải bỏ tiền ra đầu tư ban đầu tốn kém, cũng chẳng phải chịu rủi ro nếu mua sóng theo dung lượng nào đó mà chưa biết bán tới đó hay không. Ấy vậy mà một công ty di dộng có mã đẹp như thế chỉ cần vài chục triệu Đô-La Mỹ là hoạt động được rồi. Dự kiến là siêu lợi nhuận vì di động bình thường (phải đầu tư lớn) đã lời rất nhiều, còn cái này thì chẳng phải đầu tư gì đáng kể.

    Mấy chục triệu Đô-La này phía Tổng cục II không phải bỏ ra mà gia đình ông sui anh Ba Dũng lo hết. Nhưng trên thực tế, khoản tiền này cũng chẳng phải là tiền túi của gia đình này mà nó có nguồn gốc thật đáng xấu hổ. Những ai đọc các loạt bài ca ngợi phò mã Henry cách đây hơn một tháng trên các báo lề phải thì chắc vẫn còn nhớ các bồi bút nhắc tới VITC là một công ty được vị phò mã (tức là lúc đó chưa phải phò mã) Henry thành lập và phát triển nó lớn mạnh đến mức doanh số cả chục triệu Đô. Doanh số lên cả chục triệu là thật nhưng sự thật đầy đủ thì hãy đọc tiếp dưới đây.

    Nguyễn Bang khi mới sang VN móc nối được với Đỗ Trung Tá và mua chuộc tay quan tham này cho một kế hoạch mà nhiều người tin là được toan tính từ đó đến nay. VITC do con rễ của ông Bang là Thomas O’Connor thành lập, đang buôn linh tinh đủ thứ từ xử lý môi trường, PVC, xuất khẩu ở VN thì đột ngột nhảy vào lĩnh vực viễn thông và có ngay hợp đồng với công ty Viễn thông Quốc tế VTI (trực thuộc VNPT) để chuyển lưu lượng điện thoại từ nước ngoài về VN với trị giá cả triệu Đô-La Mỹ một tháng.

    Điều kỳ lạ là nếu như các công ty khác làm ăn tương tự với VTI (như AT&T, France Telecom, …) đều phải thanh toán trước thì VITC luôn được thanh toán sau với trị giá có thời điểm lên đến gần 50 triệu Đô. Việc làm ăn này bắt đầu từ 2002 và lúc đó Henry đang làm Giám đốc kinh doanh cho VITC, anh rể Thomas làm Tổng Giám Đốc, ông bố Nguyễn Bang làm Chủ Tịch. Ai cũng thắc mắc tại sao những tay Việt kiều này lại có thể chiếm dụng một số lượng vốn hàng chục triệu Đô thường xuyên và lâu dài như vậy. Có một số quan chức VNPT muốn đưa vấn đề này ra nhưng đều thất bại vì lúc đó ông Đỗ Trung Tá đã trở thành Bộ Trưởng Bộ BCVT từ cái ghế Chủ Tịch HĐQT VNPT.

    Số vốn chiếm dụng này gia đình Nguyễn Bang dùng đầu tư vào chứng khoán, bất động sản và mở một nhà nhà hàng tên Vine ở số 1 Xuân Diệu. Đến tháng 3/2008 VITC tuyên bố đóng cửa VPĐD tại VN với số nợ VTI lúc đó lên tới 23 triệu Đô-La Mỹ, và giải tán toàn bộ nhân viên đang làm việc ở đây. Tuy nhiên sau đó, theo đề nghị của ông Tá và lãnh đạo VTI nên VITC duy trì một văn phòng giả, lẳng lặng chuyển hết máy móc về số 1 Xuân Diệu, cho thiết bị chạy không tải, không có lưu lượng để qua mắt các nhà chức trách để duy trì cái hợp đồng với VTI nhằm chiếm dụng 23 triệu lâu dài. Kế hoạch của gia đình Nguyễn Bang cấu kết với Đỗ Trung Tá (dù giờ đây không còn làm Bộ Trưởng nhưng vẫn còn ảnh hưởng mạnh trên chính trường, đặc biệt là với ông 3 Dũng) là VTI sẽ xóa nợ 23 triệu này bằng những thủ đoạn như đối soát cước, mua lại cổ phần của VITC bên Mỹ, …

    Tuy nhiên việc này đến hiện nay đang gặp phản đối của nhiều người trong VNPT nên đến giờ vẫn không thực hiện được. Nhưng số tiền 23 triệu Đô thì vẫn nằm trong túi gia đình Nguyễn Bang và bây giờ được tiếp tục đầu tư vào Indochina Telecom. Trong quá trình lừa đảo trên, có một số nhân viên VITC, người nước ngoài lẫn người Việt cũng bị gia đình Nguyễn Bang lừa đảo và lợi dụng nên rất bất bình. Họ đang tìm cách đưa vấn đề này ra ánh sáng. Donald Berger (người Canada) đầu tiên hùn hạp với Thomas làm nhà hàng Vine, mới đây bị Thomas hất văng khỏi nhà hàng này.

    Nguyễn Thanh Phượng con gái Nguyễn tấn Dũng và phò mã Tổng giám đốc Henry Nguyễn bảo Hoàng (dấuX) trong ngày khai trương đầu tư công ty IDG Venture Việt Nam

    Hay như Larry Grace, một luật sư rất ở Chicago và là bạn học đại học của Hoàng phò mã, có thời được Thomas (thường gọi là Tom) mời sang tư vấn vụ bán một phần cổ phần của VITC cho VNPT (25%). Tuy nhiên chỉ sau 1 thời gian ngắn làm việc với gia đình này thì Larry phát hiện ngay ra đây là một công ty lừa đảo và ngay lập tức bỏ dở dự án và rút về nước làm Thomas và Hoàng vô cùng cay cú. Larry đã nhận ra bản chất lừa đảo của Tom và gia đình Nguyễn Bang từ rất sớm đã có một lần khởi kiện Tom ở Singapore liên quan đến việc lừa đảo và sử dụng vốn sai mục đích.

    Tom đã phải tốn khá nhiều tiền để lo lót vụ này êm xuôi. Larry cách đây vài năm đã gửi thư đến VNPT tố cáo bản chất lừa đảo của VITC và dụng ý xấu của Tom nhưng chả ai quan tâm. Nhưng Larry tuyên bố sẽ không bỏ cuộc trong việc vạch mặt việc chiếm dụng 23 triệu Đô tiền của nhà nước (tức của nhân dân).

    Tôi tin là câu chuyện này sẽ bị lôi ra ánh sáng, không sớm thì muộn. Anh 4 cũng đã nắm được thông tin này, hy vọng sẽ là một bằng chứng tốt để trừng trị Đỗ Trung Tá – thân tín của anh 3.