Monday, November 15, 2010

Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất và Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam khác nhau chỗ nào ? - Thích Viên Định

Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế
International Buddhist Information Bureau
Bureau International d'Information Bouddhiste
Cơ quan Thông tin và Phát ngôn của Viện Hóa Ðạo, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất
B.P. 60063 - 94472 Boissy Saint Léger cedex (France)
Tel.: (Paris) (331) 45 98 30 85
Fax : Paris (331) 45 98 32 61
E-mail: ubcv.ibib@free.fr
Web: http://www.queme.net
*******************************************************************************
    THÔNG CÁO BÁO CHÍ LÀM TẠI PARIS NGÀY 15.11.2010
    Thượng tọa Thích Viên Định phân tích sự sai khác giữa Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất và Giáo hội Phật giáo Việt Nam của Hà Nội
PARIS, ngày 15.11.2010 (PTTPGQT) - Thượng tọa Thích Viên Định, Phó Viện trưởng kiêm Tổng Thư ký Viện Hóa Đạo, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, có bài viết phân tích sự khác biệt từ nội dung đến hình thức giữa Giáo hội dân lập và lịch sử gọi là Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất và Giáo hội công cụ do Đảng Cộng sản thiết lập năm 1981 có tên Giáo hội Phật giáo Việt Nam mà quần chúng thường gọi là Giáo hội Nhà nước hay Giáo hội Quốc doanh.

Xin mời bạn đọc vào xem nguyên văn bài viết ấy sau đây:

Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất và Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam khác nhau chỗ nào ?

Thích Viên Định

Trong các cuộc thẩm vấn những thành viên thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, Công an thường hỏi một cách căng thẳng và thách thức rằng: “Tại sao đi theo Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN) mà không chọn Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN) ?”. Đây là cuộc áp đảo chính trị lớn. Bài này chúng tôi phân tích cho rõ trắng đen.

Chủ thuyết Vô thần Mác-Lê Nin chủ trương tiêu diệt tôn giáo vì xem tôn giáo là thuốc phiện. Nếu không tiêu diệt được thì tìm cách kiểm soát để lợi dụng làm công cụ cho Đảng Cộng sản theo phương châm của Lê-Nin: “Đảng phải thông qua tôn giáo để tập hợp quần chúng”.

Năm 1980, Ông Nguyễn Văn Linh, Thành Uỷ Sài Gòn đã nói tại cuộc họp đủ mặt các vị Giáo Phẩm các Giáo Hội và Hội Đoàn Phật Giáo rằng: “Phải thống nhất Phật giáo để làm chỗ dựa vững chắc cho Đảng CSVN”.

Năm 1981, sau 6 năm đàn áp, tù tội, khủng bố, đe doạ. Cộng sản đã mua chuộc, dụ dỗ, khuất phục được một số chư Tăng trong hàng lãnh đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (GHPGVNTN) tham gia vào việc thành lập Giáo hội mới của nhà nước gọi là Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam (GHPGVN). Ngoài một số vị đã vượt biển ra nước ngoài và cố Hoà thượng Thích Thiện Minh bị tra tấn đến chết trong tù, chỉ còn hai Hoà thượng Thích Huyền Quang và Thích Quảng Độ là chống đối đến cùng, không chịu đem GHPGVNTN, một Giáo hội dân lập truyền thống, sáp nhập vào Giáo Hội tân lập của nhà nước, nên hai Ngài bị Nhà cầm quyền CS bắt đưa đi lưu đày về nguyên quán, một vị ở miền Trung hẻo lánh, một vị ở miền Bắc xa xôi.

Tại sao nhị vị Hoà thượng Thích Huyền Quang và Thích Quảng Độ lại chống đối quyết liệt việc sáp nhập Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất truyền thống vào Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam của nhà nước đến như vậy ?

Trong Tuyên Cáo Giải Trừ Quốc nạn và Pháp Nạn ngày 20.11.1993, Đại Lão Hoà thượng Thích Huyền Quang đã viết: “Với mục tiêu đàn áp tôn giáo nói chung, giải thể GHPGVNTN nói riêng, khởi phát sau ngày 30.4.1975 không thành. Năm 1981, Nhà cầm quyền Cộng sản đã thay đổi chiến lược bằng cách tạo dựng một Giáo hội công cụ tay sai để dùng người Phật giáo đánh phá Phật giáo theo chính sách chia để trị”.

Và trong bức thư gửi Nhà cầm quyền Hà Nội, nói về “Sáu điều sai trái của Nhà cầm quyền Cộng sản và 5 điều xác định của GHPGVNTN”, Đại Lão Hoà thượng Thích Huyền Quang cũng khẳng định rằng :

“Giáo Hội chúng tôi không muốn cho Giáo Hội của mình biến thành chiếc ghế để Đảng Cộng Sản Việt Nam ngồi lên cho vững. Như lời ông Nguyễn Văn Linh tuyên bố tại cuộc họp với chúng tôi hai ngày 12 và 13.2.1980. Chúng tôi xem lời tuyên bố đó là sự xúc phạm tôn giáo thiêng liêng của chúng tôi. Khinh rẽ Giáo Hội chúng tôi, vì xem Giáo Hội như chiếc ghế sử dụng tạm thời cho Đảng”.

Khái quát về GHPGVN, trong “Chín điểm yêu sách” của Đại Lão Hoà thượng Thích Huyền Quang, gửi Nhà cầm quyền Cộng sản Hà Nội, lúc còn bị lưu đày ở Quảng Ngãi, Ngài nhận định rằng:

“Cuối năm 1981, một tổ chức mang tên “Giáo hội Phật giáo Việt Nam” được Nhà nước dựng lên tại Hà nội. Chính quyền đã dùng Giáo hội Nhà nước chụp lên đầu Giáo hội chúng tôi. Tuy Giáo hội Nhà nước này được thông qua một Đại hội, nhưng đại hội đó đã do Nhà nước chỉ đạo, sắp đặt tất cả, chứ không phải một Đại hội do chư vị Cao Tăng, Tăng Ni, Phật tử bầu lên theo truyền thống Phật giáo Việt Nam. Cho nên chúng tôi khằng định Giáo hội Nhà nước là một Giáo hội chính trị, thời đại, công cụ của chế độ hiện tại và đã bỏ rơi quần chúng Phật tử. Một Giáo hội như vậy không đủ tư cách để hưởng sự truyền thừa chính thống của Phật giáo Việt Nam. Giáo hội ấy chỉ là hậu thân của (các tổ chức tuyên truyền trước kia từng được gọi là) “Phật giáo Liên Lạc” và “Phật giáo Yêu nước”.

Lược qua những trích dẫn và ghi nhận trên, đã thấy có sự khác biệt giữa hai Giáo Hội, khác biệt từ mục đích đến hình thành, từ nội dung đến hình thức.

I. Mục đích và hình thành GHPGVNTN

1. Sự hình thành GHPGVNTN

Đại Lão Hoà thượng Thích Huyền Quang đã nêu tổng quát sự hình thành GHPGVNTN trong Bản Tuyên Cáo của Quyền Viện Trưởng Viện Hoá Đạo ngày 20.11.1993:

“GHPGVNTN trong thực tế Việt Nam, kế thừa nền Phật giáo dân tộc từ 20 thế kỷ qua, đại diện cho 80% quần chúng Việt Nam. Trên pháp lý, GHPGVNTN đã thống hợp sáu tập đoàn Tăng, Ni và Cư sĩ đại diện khắp ba miền Bắc, Trung, Nam tại đại hội toàn quốc ở chùa Từ Đàm Huế ngày 6.5.1951, thành lập “Tổng hội Phật giáo Việt nam”, tiền thân của GHPGVNTN. Gọi là Tổng hội vì dưới thời Pháp thuộc, Dụ số 10 cấm nền Phật giáo dân tộc không được dùng danh xưng Giáo Hội, trên pháp lý chỉ được hiện hữu như một hiệp hội. Tuy nhiên cuộc tranh đấu bảo vệ Chánh pháp và yêu sách tự do tôn giáo của Phật giáo đồ khởi phát từ tháng 5 năm 1963 đã thành công huỷ bỏ Dụ số 10, phục hồi danh xưng và hoạt động cổ truyền của Giáo hội, tức GHPGVNTN, tại đại hội Phật giáo đầu năm 1964 ...”

2. Mục đích và lập trường của GHPGVNTN

- Lời Mở đầu bản Hiến Chương GHPGVNTN xác định rằng:

“Công bố lý-tưởng hòa-bình của giáo-lý Ðức Phật, các tông phái Phật-giáo, Bắc Tông và Nam Tông tại Việt-Nam, thực-hiện nguyện-vọng thống-nhất thực-sự đã hoài-bão từ lâu để phục-vụ nhân-loại và dân-tộc: đó là lập-trường thuần nhất của Giáo-Hội Phật-Giáo Việt-Nam Thống-Nhất.

Giáo-Hội Phật-Giáo Việt-Nam Thống-Nhất không đặt sự tồn tại của mình nơi nguyên vị cá biệt, mà đặt sự tồn tại ấy trong sự tồn tại của nhân loại và dân tộc.

Quan niệm thống nhất Phật Giáo Việt Nam được thể hiện theo chủ trương điều hợp, nghĩa là giáo lý, giới luật và nếp sống của các tông phái, cũng như của hai giới tăng sĩ và cư sĩ, chẳng những được tôn trọng mà còn phải nỗ lực phát triển trong sự kết hợp có chỉ đạo. Chính đó là sắc thái đặc biệt của nền Phật Giáo Thống Nhất tại Việt Nam”.

- Điều thứ 4 Hiến Chương cũng ghi rõ: “Giáo Hội Phật Giáo Việt nam Thống Nhất được thành lập với mục đích phục vụ Nhân Loại và Dân Tộc bằng cách Hoằng Dương Chánh Pháp”. Đó chính là lý tưởng, “Thượng cầu Phật đạo, hạ hoá chúng sanh”, đem giáo lý giác ngộ, giải thoát truyền bá đến với mọi người trong tận hang cùng ngõ hẻm.

II. Mục đích và hình thành GHPGVN

1. Sự hình thành GHPGVN được ông Đỗ Trung Hiếu nêu rõ trong tập tài liệu “Thống nhất Phật Giáo” (do Phòng Thông Tin Phật giáo Quốc tế tại Paris ấn hành)

“Thực sự đại biểu là giữa Phật giáo của ta và Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN). Ban Vận động Thống nhất Phật giáo Việt Nam đều là đại biểu dự Ðại hội, trong đó đại biểu của ta đa số (tức Ðảng Cộng sản). Chín tổ chức và hệ phái Phật giáo, GHPGVNTN là một, còn lại tám với những danh nghĩa khác nhau, nhưng tất cả đều hoặc là ta hoặc là chịu sự lãnh đạo của Ðảng (...). Cuộc thống nhất Phật giáo lần này, bên ngoài do các Hòa thượng gánh vác, nhưng bên trong bàn tay Ðảng Cộng sản Việt Nam xuyên suốt quá trình thống nhất để nắm và biến tướng Phật giáo Việt Nam trở thành một tổ chức bù nhìn của Ðảng”.

Ông Hiếu còn cho biết Ban Dân vận Trung ương chỉ thị khống chế Phật Giáo như sau:

“Nội dung đề án (thống nhất) là biến hoàn toàn Phật giáo Việt Nam thành một hội đoàn quần chúng. Còn thấp hơn hội đoàn, vì chỉ có Tăng, Ni, không có Phật tử; chỉ có tổ chức bên trên không có tổ chức bên dưới, tên gọi là Hội Phật giáo Việt Nam (...) Nội dung hoạt động là lo việc cúng bái chùa chiền, không có hoạt động gì liên quan tới quần chúng và xã hội (...) Lấy chùa làm cơ sở chứ không phải lấy quần chúng Phật tử làm đơn vị của tổ chức Giáo hội”.

2. Mục đích của GHPGVN là kiểm soát và hướng dẫn chư Tăng theo sự lãnh đạo của Đảng, như lời xác nhận của ông Đổ Trung Hiếu

“Dưới chế độ chuyên chính vô sản tất cả các tổ chức và cá nhân nhất nhất đều phải tuân thủ sự lãnh đạo chỉ đạo của đảng một cách cụ thể chi ly. Trong tôn giáo lại càng chặt chẽ kỷ lưỡng hơn nhiều”.

Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam lấy khẩu hiệu: “Đạo Pháp - Dân tộc - Xã Hội Chủ Nghĩa” làm phương châm, dùng chư Tăng làm bình phong để trang hoàng và làm công cụ tuyên truyền cho chế độ. Nhà cầm quyền Cộng sản còn sử dụng Cơ chế Giáo Hội, Pháp lệnh tôn giáo để kiểm soát và cô lập làm cho chư Tăng xa lìa và bỏ rơi quần chúng.

Để quản lý chặt chẽ, GHPGVN nằm trong Mặt Trận Tổ Quốc, một tổ chức ngoại vi, công cụ của Đảng Cộng sản. Vì là thành viên, nên tiếng nói của GHPGVN phải thông qua cơ quan chủ quản là Mặt Trận Tổ Quốc, nhưng Mặt Trận Tổ Quốc lại do Đảng lãnh đạo. Do đó, GHPGVN không có tiếng nói riêng của mình. Tờ báo Giác Ngộ cũng là tờ báo của Đảng CS, mặc dù mang hình thức Phật giáo, nhưng thực chất chỉ là công cụ tuyên truyền cho Đảng.

Trong khi cả thế giới đều lên án Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam chà đạp nhân quyền, đàn áp tự do tôn giáo, thì GHPGVN lại im lặng, không ngó ngàng gì đến niềm ước mơ được tự do, dân chủ, nhân quyền của dân tộc mà còn làm ngược lại.

Theo sự chỉ đạo của Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam, ngày 03.12.2003 tại chùa Phổ Quang, Phú Nhuận, nhân khai mở Đại Giới Đàn, một đại lễ thiêng liêng trong Phật giáo, GHPGVN (Nhà nước) đã lợi dụng, lấy chữ ký của Giới tử, biến Giới Đàn thành cuộc mít tin phản đối Nghị Quyết 427 của Hạ viện Hoa Kỳ ngày 19.11.2003 và Nghị Quyết của Nghị viện Âu châu ngày 20.11.2003, cả hai Nghị quyết đều lên án Nhà cầm quyền Cộng sản đàn áp nhân quyền và GHPGVNTN.

III. Các tên thường gọi theo mục đích và nguyên nhân hình thành

1. Giáo hội chính thống và Giáo hội chính thức

- Theo Lời Ngỏ của bản Hiến Chương, GHPGVNTN được thành lập “Trên cơ sở tự nguyện, tổng hợp các hệ phái Nam Bắc Tông, Việt Miên, Hoa Tông để hình thành Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất năm 1964 để đoàn kết, để bảo vệ lẫn nhau trước những âm mưu chia rẽ, áp bức của các thế lực chính trị phi dân tộc chứ không do các chế độ cầm quyền dựng lên để sai sử”. GHPGVNTN đã kế thừa lịch sử truyền thống 2000 năm của Phật giáo Việt Nam, do chư vị Trưởng Lão Đại Tăng, cao Tăng, danh Tăng và Phật tử lập thành, chứ không do một thế lực chính trị thế tục nào lập ra. Nên GHPGVNTN là “Giáo hội chính thống”.

- GHPGVN do Nhà cầm quyền Cộng sản áp đặt dựng lên năm 1981, tại chùa Quán Sứ Hà Nội, là thành viên của Mặt Trận Tổ Quốc, một tổ chức ngoại vi của đảng Cộng sản. Nên, trên mặt pháp lý, GHPGVN được gọi là “Giáo hội chính thức”.

2. Giáo Hội Truyền thống và Giáo Hội Tân lập

- GHPGVNTN được truyền thừa từ ngàn xưa của chư Tổ mà vị Tăng Thống đầu tiên là Ngài Khuông Việt tức Thiền sư Ngô Chân Lưu thời Tiền Lê, nên gọi là Giáo Hội Truyền Thống.

- GHPGVN mới được Nhà cầm quyền Cộng sản thành lập năm 1981, nên gọi là Giáo Hội Tân lập.

3. Giáo Hội Dân tộc và Giáo Hội Nhà nước

- GHPGVNTN do chư Tăng và Phật tử cùng nhau tự nguyện dựng lên, vì vậy, GHPGVNTN là “Giáo hội Dân tộc”.

- GHPGVN do Nhà cầm quyền cộng sản dựng lên, là thành viên của Mặt Trận Tổ Quốc, một tổ chức chính trị ngoại vi của Đảng CS, nên GHPGVN là “Giáo Hội Nhà nước” (quần chúng thường gọi nôm na là Giáo Hội Quốc Doanh).

4. Giáo Hội thuần tuý và Giáo hội chính trị

- GHPGVNTN chỉ hoạt động thuần tuý tôn giáo, đem giáo lý giải thoát, giác ngộ đến cho chúng sanh. Chư Tăng không baơ giờ đảm nhận chức vị gì của thế gian. Nên GHPGVNTN là Giáo hội Thuần tuý.

- GHPGVN là thành viên của Mặt Trận Tổ Quốc, một tổ chức chính trị. GHPGVN đưa người ra tranh cử các chức vị thế gian như Hội Đồng Nhân Dân, Dân biểu quốc hội. Nên GHPGVN là Giáo Hội chính trị.

5. Giáo Hội và Hiệp hội

GHPGVNTN được thành lập sau cuộc tranh đấu thành công năm 1963, hủy bỏ được Dụ số 10 thời Pháp thuộc. Dụ số 10 của Thực dân Pháp chỉ công nhận Thiên Chúa giáo là Giáo Hội, các tôn giáo khác chỉ là Hiệp hội. GHPGVNTN đã là Giáo Hội, độc lập hoàn toàn với các tổ chức khác.

GHPGVN thuộc quy chế Hiệp Hội, không độc lập, vì là thành viên của Mặt Trận Tổ Quốc, chịu mọi sự chi phối, điều khiển của tổ chức chính trị này. Trong tiếng Việt, viết là Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam cho dễ coi, chứ trong bản tiếng Anh thì viết là “Vietnam Association for Buddhism” tức là Hội Phật Giáo Việt Nam. Chữ Association chỉ là Hội. Đúng với mục đích ban đầu của Ban Dân Vận: “Nội dung đề án là biến hoàn toàn Phật giáo Việt Nam thành một hội đoàn quần chúng. Còn thấp hơn hội đoàn vì chỉ có tăng ni không có Phật tử, chỉ có tổ chức bên trên không có tổ chức bên dưới, tên gọi là Hội Phật giáo Việt Nam (HPGVN).

Sau khi một số thành viên lãnh đạo GHPGVNTN rời bỏ con thuyền Giáo Hội để bước sang thuyền khác, đau đớn về việc này, Hoà Thượng Thích Đức Nhuận, Cố Vấn Viện Hoá Đạo, GHPGVNTN, than rằng: “Ðau xót biết bao, khi Phật giáo Việt nam từ con lạch nhỏ vùng thoát ra được biển khơi, thì nay quí Hòa-thượng lại tự bước vào nước vũng ao tù” (trích thư của cố Hòa thượng Thích Ðức-Nhuận).

IV. Pháp lý, Địa vị, Cơ sở

1. GHPGVNTN

“Pháp lý là gì ? Ở đây và hiện nay, pháp lý chỉ là mảnh giấy được viết và cấp phát cho một tổ chức tân lập để hỗ trợ những mục tiêu riêng tư, cục bộ phi Phật giáo. Trái lại, Giáo hội ta có mặt trên dải đất này đã 2000 năm rồi. Đinh, Lê, Lý, Trần đã chấp nhận Phật giáo. Do đó, mà những khẩu hiệu như thế này đã vang lên ở Đại Hội bất thường của GHPGVNTN sau năm 1975 tại Hội trường Ấn Quang ở Sài gòn … :

- “Pháp lý của Giáo Hội là 2000 năm dựng Văn mở Đạo trên đất nước Việt Nam này !

- “Địa vị của Giáo Hội là 80% dân chúng già, trẻ, lớn, bé !

- “Cơ sở của Giáo Hội là nông thôn, thành thị, cao nguyên và hải đảo !”

2. GHPGVN

- Pháp lý của GHPGVN là giấy công nhận của Nhà nước Cộng sản Việt Nam do Thủ Tướng Phạm Văn Đồng ký, kèm với bản “lý lịch”, viết về quá trình thành lập GHPGVN của ông Đỗ Trung Hiếu bí danh Mười Anh.

- Địa vị của GHPGVN là thành viên đứng trong tổ chức chính trị Mặt Trận Tổ Quốc.

- Cơ sở của GHPGVN là các Tự Viện, Tịnh Xá, Tịnh Thất, Niệm Phật Đường, đã chiếm đoạt của GHPGVNTN chứ GHPGVN không có gì cả.

V. Hệ thống tổ chức

- Theo Hiến Chương GHPGVNTN, Điều 6, Chương Thứ Tư, “Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất là một trong những Quốc Gia Phật Giáo sáng lập và là trung tâm điểm địa phương của Phật Giáo Thế Giới”.

Hệ thống tổ chức gồm có: Trung Ương và các Tỉnh, Thành, Thị Xã, Quận, Huyện, Xã, Phường, Thôn, Khóm, Khuôn hội, Vức hội ở các địa phương. GHPGVNTN lấy quần chúng Phật tử làm cơ sở. Mỗi đơn vị đều có Ban Đại Diện hành chánh hợp pháp.

- Hệ thống GHPGVN của Nhà nước chỉ có 2 cấp Trung Ương và Tỉnh, không có Quận, Huyện, Xã, Thôn, Khuôn, Vức. Sau này có thành lập thêm Quận hội, nhưng chỉ như Ban liên lạc giữa các chùa với Tỉnh hội mà thôi. Toàn bộ hệ thống tổ chức như “HÌNH THÁP – LỘN NGƯỢC, chỉ có tổ chức bên trên, không có tổ chức bên dưới.” (trích Đỗ Trung Hiếu). GHPGVN lấy Tự Viện, Tịnh Xá, Tịnh Thất, Niệm Phật Đường làm cơ sở. Tại địa phương chỉ có Ban Hộ Tự tức là Ban giữ chùa mà thôi.

VI. Nhân sự và phạm vi hoạt động

1. Về Nhân Sự

- GHPGVNTN được thành lập từ những tổ chức địa phương tiến đến cả nước, từ những Hội đoàn riêng biệt tiến đến thống nhất cả nước. Nơi nào có tín đồ Phật giáo, nơi đó có tổ chức Giáo hội. Tất cả nhân sự, chức vụ đều do chư Tăng, Ni và Phật tử hội ý thỉnh cử mà không bị bất cứ áp lực nào từ bên ngoài.

Hiện nay, GHPGVNTN vừa mới phục hoạt, vẫn đang bị Cộng sản tìm đủ cách đánh phá. Trong nước thì không hội họp được. Ngay cả các chi nhánh Giáo hội ở hải ngoại cũng bị đánh phá dữ dội như “Tài Liệu Mật” của Bộ Công An ghi rõ:

- “Đề nghị Ban Việt kiều liên lạc với các cộng đồng Phật giáo ở nước ngoài, để tổ chức tập hợp lực lượng phân hoá cô lập bọn phản động”.

- “Đề nghị Ban Bí thư tổ chức họp các ngành: dân vận, tôn giáo, nội vụ, ngoại giao, Việt kiều để thống nhất tình hình và chương trình hành động chung đối với Phật giáo”. (trích tập Hồi ký “Sự thật về việc thống nhất Phật giáo của Đỗ Trung Hiếu”)

Với tình hình và hoàn cảnh hiện nay, GHPGVNTN phải uyển chuyển trong nguyên tắc điều hành nhân sự cốt làm sao để bảo toàn sự tồn tại của Giáo Hội.

- GHPGVN là thành viên của Mặt Trận Tổ Quốc, nên vấn đề nhân sự phải chịu sự chi phối, điều hành của tổ chức chính trị này. Ngoài ra còn phải qua sự thanh lọc của Công an, Ban Tôn giáo và cuối cùng là Uỷ Ban Nhân Dân. Nhân sự GHPGVN từ cấp trung ương cho đến địa phương đều do Nhà cầm quyền lựa chọn.

Trả lời thắc mắc của một vị Tăng: “Tại sao có vị mới xuất gia, có thê tử, đạo hạnh chưa cao, lại được giữ chức vị cao cấp trong Ban Trị sự Giáo Hội Tỉnh như vậy ?”. Một vị chức sự trong một Ban Trị Sự Giáo Hội Tỉnh nói rằng: “Ban Tôn giáo sắp xếp tất cả chứ mình (chư Tăng) đâu có quyền gì !”. Thật vậy, Tài Liệu Mật của Bộ Công An, có chỉ thị rằng: “Công an các địa phương cần chủ động tính toán đưa một số đặc tình tham gia vào các thành phần lãnh đạo Giáo hội các cấp”. Nhà cầm quyền Cộng sản kiểm soát tất cả các thành phần nhân sự, từ vị Trụ Trì các Tự viện, cho đến Chức sự trong Giáo hội các cấp, từ Tăng sinh đến Giáo Thọ, Ban Giám Hiệu các Trường Phật học, từ Giới tử đến Thập Sư các Giới Đàn đều phải qua sự kiểm soát, chọn lọc bắt đầu từ Công an qua Mặt Trận Tổ Quốc đến Ban Tôn giáo và cuối cùng là Uỷ Ban Nhân Dân.

Ngay cả việc tấn phong Thượng toạ, Hoà thượng là việc cao quý trong Giáo Hội, cũng phải qua sự duyệt xét của Nhà cầm quyền các cấp, biến việc thiêng liêng này thành việc mua danh, bán tước, đút lót, xin xỏ, gây ra nhiều chuyện buồn cười. Tại Sài gòn, chư Tăng đã kể chuyện về một vị Thượng toạ tuổi gần 80, theo thể lệ của GHPGVN, muốn được tấn phong lên Hoà thượng, phải làm đơn xin từ cấp Địa phương lên đến Trung ương mới được (riêng tấn phong Thượng toạ thì Uỷ Ban Nhân Dân Tỉnh, hoặc Thành Phố chấp thuận là được). Ngài đem đủ giấy tờ, nào là Khai sanh, Lý lịch, Căn cước ra phường xin xác nhận. Anh cán bộ Công an Phường, tuổi chừng 25-27, chỉ đáng cháu nội vị Thượng toạ, đã đặt bút phê một câu thấm thía khó quên: “Thầy này còn mê tín dị đoan, nhưng địa phương đồng ý cho lên Hoà thượng, hứa sẽ giáo dục sau !”

Ở miền Trung, lại xảy ra một trường hợp khác. Có một vị Thượng toạ đem giấy tờ hồ sơ xin tấn phong Hoà thượng ra Xã, Huyện xác nhận xong, rồi đem thẳng vào Văn Phòng II tại Sài gòn, nhờ người quen thông qua, để chuyển lên Trung ương mà không qua sự phê duyệt của Uỷ Ban Nhân Dân Tỉnh, vì sợ Tỉnh không chấp thuận. Khi Trung Ương đã ký duyệt xong, chuyển về, thì Tỉnh lại không chịu công nhận, vì cho rằng vị Thượng toạ này đã qua mặt Uỷ Ban Nhân Dân Tỉnh, gây ra chuyện dở khóc dở cười, Hoà thượng cũng được mà Thượng toạ cũng xong.

Ở miền Nam, chư Tăng lại kể chuyện công an xét lý lịch tấn phong dễ hay khó tuỳ theo “thành tích”. Có một vị, tu hành không suông sẻ, có thời gian ra đời, nhưng vì được xét có “thành tích tốt”, nên khi làm đơn xin tấn phong Thượng toạ thì Công an bỏ qua chuyện ấy. Nhưng về sau, vị này đã có những lời phát biểu trái ý Nhà cầm quyền, nên khi làm đơn xin tấn phong lên Hoà thượng, bị moi lại chuyện cũ, Công an phê là: “Có thời gian gián đoạn”, nên không được xét cho tấn phong lên Hoà thượng.

Nhận định về nhân sự lãnh đạo trong GHPGVN, Bản Tự Thuật của Đức Tăng Thống, Đại Lão Hoà thượng Thích Huyền Quang, có đoạn: “Giáo Hội Nhà nước ngày nay còn thua kém Giáo Hội Tăng già thời 1930. Tăng già lúc đó có tổ chức, có chọn lọc. Thành phần Tăng sĩ của Giáo Hội Nhà nước hiện nay đa phần là các vị có thê noa, giới luật không tu trì, đạo hạnh suy thoái. Tệ nạn cửa quyền, tham nhũng, bê tha trong các cấp Giáo Hội Nhà nước cũng giống hệt như các cấp trong Chính quyền hiện tại…” (Trích Bản Tự Thuật của Hoà thượng Thích Huyền Quang trong sách “Một Đời Vì Đạo Vì Dân”, do NXB Quê Mẹ tại Paris ấn hành.).

2. Về hoạt động

- GHPGVNTN được thành lập với mục đích phụng sự cho nhân loại và dân tộc. Nên chỉ trong 10 năm từ 1964-1975, bên trong, Giáo hội đã đào tạo chư Tăng, bên ngoài hỗ trợ cho xã hội rất nhiều về các mặt văn hoá, giáo dục, từ thiện xã hội, y tế như : khai mở nhiều Phật Học Viện, thành lập Viện Đại Học Vạn Hạnh, tạo dựng hàng trăm Trường Bồ Đề, hàng chục Cô ký nhi viện, Trường Mẫu giáo, ra báo chí, làm nhà in để truyền bá giáo lý đến với quần chúng nhằm đưa dân tộc, xã hội đến cuộc sống giải thoát, an vui.

- GHPGVN của Nhà nước 30 năm nay chỉ hoạt động giới hạn trong việc trùng tu tự viện và giáo dục Tăng sinh, không hề tham gia vào các phương diện văn hoá, giáo dục, xã hội trong dân chúng. Nên không có trường học, không nhà in, không báo chí ... Nói chung chỉ lo cho chư Tăng mà không lo cho Phật tử. Chỉ lo sửa chùa, không lo phục vụ xã hội.

Về vấn đề này, Đức Tăng Thống, Đại Lão Hoà thượng Thích Huyền Quang, lúc còn bị lưu đày ở Quảng Ngãi, trong Bản Tự Thuật (trong sách “Một Đời Vì Đạo Vì Dân”, do NXB Quê Mẹ tại Paris ấn hành), Ngài có nhận định rằng:

“Giáo hội Nhà nước chỉ biết có Tăng đồ, bỏ rơi thê thảm hàng chục triệu tín đồ cư sĩ ở hạ tâng thôn xã toàn quốc. Khiến họ bơ vơ không nơi nương tựa. Nếu bị khó khăn gì về tín ngưỡng thì Giáo hội đó không biết đến, không can thiệp ! Thậm chí ở Quảng Ngãi, chùa bị đốt mà Giáo hội Nhà nước chẳng phản ứng gì cả. Tín đồ đau khổ thế nào Giáo hội Nhà nước cũng chẳng biết, chẳng quan tâm ! Đất đai của chùa bị chiếm dụng, Giáo hội cũng chẳng can thiệp. Thậm chí chùa lớn của Phật giáo Quảng Ngãi bị chính quyền chiếm dụng làm trường Đảng, mà Giáo hội cũng không một lần chất vấn, đòi hỏi. Hằng 4 năm cho ra trường độ 100 Tăng sinh tốt nghiệp cao cấp Phật học, nhưng Giáo hội cũng chẳng lo điều động đi giảng đạo các nơi. Vì Giáo hội Nhà nước đâu có quần chúng để thực hiện việc này”.

VII. Tổng kết

Tóm lại, Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam đánh phá Phật giáo bằng cách dùng: “các Chỉ thị của Đảng, Nghị quyết của chính phủ, sự điều động của Ban Dân vận, Mặt trận hay Công an theo sách lược “vừa đánh vừa kéo”. “Vừa đánh” là sử dụng trấn áp, khủng bố, bắt, giết, quản chế … ; “Vừa kéo” là dụ dỗ bằng món mồi lợi dưỡng hay hăm doạ. “Vừa đánh” là bức tử Giáo Hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất, một Giáo hội dân lập và truyền thống có quá trình lịch sử hai nghìn năm. “Vừa kéo” bằng cách thiết lập tập đoàn công cụ gọi là Giáo Hội Phật giáo Việt Nam, mà nhân dân gọi tắt là Phật giáo Nhà nước hay Phật giáo Quốc doanh.” (trích Nhận định của Phòng Thông Tin Phật giáo Quốc tế).

Dù vậy, Nhà cầm quyền cũng không vừa lòng về Giáo hội này, như nhận định trong Tài Liệu Mật:

“Số cao Tăng Phật giáo Ấn Quang tham gia Giáo hội Phật giáo hiện nay (HT Thích Trí Tịnh, HT Thích Thiện Siêu, HT Thích Minh Châu, TT Thích Trí Quảng …). Nói chung họ có tư tưởng, thái độ tốt, nhưng có nhiều tâm trạng khác nhau. Trước đây, họ không có vị trí ảnh hưởng trong Phật giáo Ấn Quang. Hiện nay là lãnh đạo Giáo hội mới nên nằm trong thế e ngại không dám đấu tranh, nên không phát huy được vai trò lãnh đạo của Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, không đủ uy tín và tầm cở để tập hợp Giáo hội đấu tranh nên ngày càng dựa vào Nhà nước, do đó uy tín càng bị giảm. “Đề nghị Ban Bí thư, Thủ tướng Chính phủ xem xét lại thực chất cơ cấu tổ chức Giáo hội Phật giáo Việt Nam hiện nay đã thật sự đại diện cho toàn thể Phật giáo Việt Nam chưa ?”

Vì bị khống chế, bị áp lực, bị mua chuộc hoặc vì cầu an, nên một số chư Tăng trở nên thụ động. Nếu chủ trương, tự tu, tự độ, không nghĩ đến độ tha, chỉ lo cho chư Tăng, không lo cho Phật tử, chỉ chú trọng chùa chiền, không màng đến xã hội, thì Phật tử lấy đâu mà nương tựa, dân tộc biết đâu để trông chờ. Vì bịt mắt bưng tai, không nghe tiếng dân oan kêu than dậy đất, tiếng rên siết của dân tộc bị áp bức, đoạ đày. Không thấy người dân bị cướp mất tự do, tước đoạt dân chủ, chà đạp nhân quyền. Không thấy tổ quốc đang bị Bắc phương xâm lăng lấn chiếm. Đau xót về thái độ mũ ni che tai này, Hoà thượng Thích Quảng Độ đã làm bài thơ Liên ngâm dại khôn (trích tập Thơ Tù do NXB Quê Mẹ ở Paris ấn hành):
    Đêm ngày tôi dạy cái thằng tôi
    Đạo pháp suy vi: bởi lẽ trời
    Thấy kẻ phá chùa: khoanh tay đứng
    Nhìn người đập tượng: nhắm mắt ngồi
    Bắt bớ Tăng Ni: thây mẹ nó
    Giam cầm Phật tử: mặc cha đời
    Miễn được yên thân là khôn đấy
    Can chi ặm oẹ để thiệt thòi
    .
Truyền thống Phật giáo Việt Nam luôn gắn bó, không xa lìa dân tộc: “Phật giáo Việt Nam luôn hoà nhập, thăng trầm theo vận mạng của dân tộc. Thiền sư Việt nam luôn ghi nhớ Giới Luật là mạng mạch của đạo pháp, nhưng các Ngài cũng không quên Độ sanh là sự nghiệp của chư Tăng. Với tinh thần Bồ Tát Đạo, “vô ngã vị tha”, các Thiền sư không chỉ cầu giải thoát cho riêng mình mà thờ ơ với xã hội. Các Ngài luôn tâm nguyện giải thoát mọi sự đau khổ cho đời. Các Thiền sư, khi thì làm ông chèo đò, khi thì đi sứ, lúc xông pha chiến trận, muôn hình vạn trạng, nhưng khi xong việc, các ngài đều quay về nơi chốn tòng lâm, không nhận chức tước của thế gian, giữ vững truyền thống: “Sa môn bất bái vương giả”…” (trích “Nhân một ngàn năm Thăng Long, nghĩ đến Đạo pháp và Dân tộc” của TVĐ do Phòng Thông Tin Phật giáo Quốc tế ấn hành).

Sáu mươi lăm năm qua, Cộng sản đã theo chủ thuyết vô thần Mác-Lênin, đấu tranh giai cấp, củng cố nền cai trị độc tài của Đảng cộng sản, không dung hoà với các thành phần dân tộc khác, là phá hoại sự đoàn kết dân tộc. Năm 1981, Cộng sản lập Giáo hội Nhà nước, thành viên của Mặt trận Tổ Quốc, một tổ chức ngoại vi công cụ của đảng Cộng sản, để chống lại Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất dân lập truyền thống, là phá hoại nội bộ Phật giáo. Từ năm 1992, sau 10 năm triệt phá làm cho GHPGVNTN bị tê liệt, vẫn còn chưa đủ, Cộng sản lại tiếp tục tìm cách đánh phá để tiêu diệt cho bằng được mới thôi. Tài liệu tuyệt mật của Bộ Công an đã chỉ thị hai biện pháp tấn công cơ bản:

- “Phân hoá cao hàng ngũ giáo sĩ, tranh thủ số có xu hướng tiến bộ, lôi kéo số lưng chừng; răn đe những biểu tượng có biểu hiện tiêu cực; đối với số cực đoan chống đối phải cắt đứt tay chân, lấy giáo luật, pháp luật đấu tranh, không cho chúng co cụm đánh phá ta”.

- “Củng cố nòng cốt, cốt cán của ta đặt biệt là trong tăng tín đồ Phật giáo, thúc đẩy cách mạng trong vùng giáo”.

Phá hoại nội bộ Phật giáo, phá hoại đoàn kết dân tộc, thì đến bao giờ, Tổ quốc Việt Nam mới hùng mạnh, tự chủ, tự cường để sánh vai cùng các dân tộc văn minh khác trên thế giới ?

Thích Viên Định


Thursday, November 11, 2010

Thư Ngỏ của Tướng Lê Minh Đảo

    Kính thưa quý Chiến Hữu, Thân Hữu và Đồng Hương,
Trong mấy tuần vừa qua, tôi nhận được nhiều điện thư và điện thoại từ khắp nơi bày tỏ sự lo lắng, thắc mắc và bất bình trước vài bài viết gửi ra trên các Diễn Đàn Internet vu khống tôi giết chết cố Đại Tá Lê Quang Tung và Thiếu Tá Lê Quang Triệu. Trước nỗi quan tâm và sự ưu ái của quý vị, tôi thấy cần minh xác để quý vị an tâm.
    Kính thưa quý vị,
Với danh dự của một cựu chiến sĩ VNCH, tôi, Lê Minh Đảo, long trọng xác định rằng trong suốt cuộc đời binh nghiệp, tôi không bao giờ có một hành động nào vi phạm đến tài sản hoặc sinh mệnh của các chiến hữu của tôi trong QLVNCH. Đặc biệt là tôi không có một liên hệ gì đến cái chết của cố Đại Tá Lê Quang Tung và Thiếu Tá Lê Quang Triệu.

Từ năm 1963 đến 1975, trong tất cả các cuộc điều tra của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa về cái chết của hai sĩ quan kể trên, không có ai đề cập đến tên tôi bởi vì đã có những bằng chứng rõ ràng là tôi không thể có bất cứ một liên hệ nào đến vụ sát nhân nầy.

Trong thời gian gần đây, cộng sản Việt Nam đang nỗ lực thực hiện chiến dịch vu cáo và bôi nhọ các viên chức cao cấp trong Chính Phủ và Quân Lực VNCH nhằm chính nghĩa hoá hành động của cộng sản Bắc Viêt đánh chiếm Miền Nam và toàn trị đất nước Việt Nam. Xin quý vị lưu ý và đề cao cảnh giác trước kế hoạch thâm độc nầy của cộng sản.

Đây là lời minh xác chân thành và duy nhất của tôi. Tôi sẽ không quan tâm đến những vu cáo tiếp tục sau nầy (nếu có) của cộng sản và tay sai.

Trân trọng kính chào đoàn kết.

Lê Minh Đảo

Tuesday, November 9, 2010

Hòa thượng Thích Quảng Độ phản đối công an csVN đàn áp thương phế binh VNC


GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT
VIỆN HÓA ĐẠO
Thanh Minh Thiền Viện, 90 Trần Huy Liệu, P. 15, Q. Phú Nhuận, TP. Sài gòn
Phật lịch 2554 Số : 13/VHĐ/VT
    Thư Phản kháng về việc Công An đàn áp Thương Phế Binh không cho nhận quà
Kính gửi :
Ông Nguyễn Tấn Dũng,
Thủ tướng nước CHXHCNVN

Phật Lịch 2554 - Sài gòn, ngày 01.11.2010

Thưa Thủ tướng,

Việt Nam bị lôi cuốn vào cuộc tranh chấp ý thức hệ quốc tế làm cho đất nước bị chia đôi. Đảng Cộng sản miền Bắc vì theo đuổi chủ thuyết Mác-Lênin, muốn nhuộm đỏ Miền Nam bằng bạo lực, gây ra cuộc nội chiến huynh đệ tương tàn, làm cho dân tộc Việt Nam phải hứng chịu bao đau thương tang tóc.

Vào thế kỷ 19, Hoa Kỳ đã có một cuộc nội chiến. Ngay sau khi chiến thắng, các sĩ quan và binh sĩ miền Bắc, được lệnh không có bất cứ hành động nào vô lễ với sĩ quan và binh sĩ miền Nam bại trận. Vì nhân dân và chính giới Hoa Kỳ hiểu rằng, khi một người Mỹ bị nhục, thì dù là Mỹ miền Nam hay Mỹ miền Bắc, người Mỹ nói chung đang bị sỉ nhục. Nên trong cuộc nội chiến tại Hoa Kỳ được thua thì cũng vẫn là nước Mỹ và người Mỹ. Khi chiến tranh chấm dứt, không có tù binh, không có trại tập trung cải tạo, ai về nhà nấy, cùng nhau xây dựng lại quê hương.

Hơn một thế kỷ sau, tại Việt nam, với chủ thuyết vô thần, vô gia đình, vô tổ quốc, với lòng hận thù đấu tranh giai cấp, Nhà cầm quyền Cộng sản miền Bắc, sau ngày chiến thắng, không noi theo gương sáng của Hoa Kỳ, đã bắt hàng trăm ngàn sĩ quan, binh sĩ bại trận miền Nam bỏ vào nhà tù dưới mỹ từ “trại học tập cải tạo” để trả thù, đày đoạ cho đến chết. Ai còn may mắn, sống sót, đều đau ốm, tật nguyền, sống lê lết qua ngày bên lề xã hội, chẳng ai thương xót, đoái hoài.

Vừa qua, Hoà thượng Thích Không Tánh, Tổng Vụ trưởng Tổng Vụ Từ Thiện Xã Hội, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN) ra chùa Phước Huệ, tỉnh Quảng Trị, thay mặt cho những người có tấm lòng vàng, gửi quà cho anh em Thương Phế Binh Việt Nam Cộng hòa, món quà tình thương cao quí của những người dân Việt ly hương, thương về những mảnh đời đau khổ nơi quê nhà.

Từ sáng tinh mơ, có người lê đôi nạng gỗ từ Cam Lộ về đến Đông Hà, có người gồng mình với chiếc xe lăn từ Gio Linh đến Chùa Phước Huệ, nơi hội ngộ của tình thương, hy vọng nhận được món quà mọn sưởi ấm gia đình. Thế nhưng niềm hy vọng nhỏ nhoi đã tan thành mây khói khi hàng chục công an, dân phòng tấn công chùa Phước Huệ, xua đuổi, giải tán những con người tàn tật, làm náo loạn chốn thiền môn.

Xuyên suốt lịch sử bi thương nhưng hào hùng của dân tộc Việt, từng chịu đựng bao lần ngoại xâm, bao phen nội chiến, nhưng chưa có một triều đại nào nuôi dưỡng lòng hận thù dân tộc lâu như chế độ hiện nay. Chiến tranh đã chấm dứt hơn 35 năm mà lòng thù hận vẫn chưa nguôi, nhẫn tâm tước đoạt cả hạnh phúc nhỏ nhoi của người phế binh bên lề cuộc sống, dẫu trong quá khứ họ là đối phương nhưng nay đã là những người tàn phế.

Để giữ gìn truyền thống văn hoá khoan hoà, thương yêu, nâng đỡ, đùm bọc lẫn nhau, tôi yêu cầu Thủ tướng hãy cho ngưng ngay những hành động thiếu văn hoá, thiếu đạo đức của Công An đối với những anh em Thương Phế Binh thuộc Việt Nam Cộng hòa cũ.

Trong hoàn cảnh đất nước đang bị ngoại xâm, cần đoàn kết dân tộc trong thể chế đa nguyên, khoan hoà, tiến đến tự do, dân chủ, nhân quyền cho toàn dân mới hy vọng tạo được sức mạnh để cứu nguy tổ quốc.

Trân trọng.

Thanh Minh Thiền Viện, Sai gòn

Xử Lý Thường Vụ Viện Tăng Thống kiêm Viện trưởng Viện Hoá Đạo, GHPGVNTN
(ấn ký)
Sa môn Thích Quảng Độ

Sunday, November 7, 2010

Ðừng giải trang căn cứ quân sự Cam Ranh - Nguyễn Ðạt Thịnh



Nguyễn Đạt Thịnh

Việt Cộng đang chủ trương giải trang căn cứ quân sự Cam Ranh, trong một thông cáo đăng trên website bộ Ngoại Giao, bà Nguyễn Phương Nga, phát ngôn nhân của bộ, nói hải cảng Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa, sẽ được khai thác tiềm năng để “phục vụ cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Câu nói có thể dịch cách nào, hiểu cách nào cũng được.

Tuy nhiên sân bay Cam Ranh đang trở thành sân bay dân sự, và Việt Nam “sẽ không hợp tác với nước ngoài để sử dụng cảng Cam Ranh vào mục đích quân sự”.

Câu nói này phản ánh tình trạng “muốn bảo vệ tổ quốc, nhưng vẫn ném khẩu súng đang cầm trên tay xuống đất, để không phật ý người Tầu”.

Người Tầu không muốn Cam Ranh trở lại vị trí đúng của nó là một căn cứ quân sự lý tưởng, hội đủ mọi thuận lợi cho việc sử dụng hải và không lực, hai sức mạnh thực sự quan trọng nếu tranh chấp Biển Ðông chuyển đổi từ tình trạng căng thẳng hiện nay sang hình thái va chạm quân sự.

Mời bạn đọc quan sát địa hình Cam Ranh dưới góc nhìn quân sự qua bức bản đồ này: Cam Ranh là một bán đảo, chỉ bám vào đất liền bằng một giải đất hẹp và một cây cầu; cả hai cùng dễ dàng kiểm soát để bảo vệ căn cứ quân sự đặt bên trong bán đảo.

Từ Hải Phòng xuống đến Vũng Tầu, bờ biển Việt Nam không thiếu chỗ để thiết lập hải cảng hay phi trường dân sự, nhưng tìm địa điểm để thiết lập một căn cứ quân sự có đủ thuận lợi cho cả không quân lẫn hải quân thì không chỗ nào hơn Cam Ranh.

Vị trí Cam Ranh

Trong cuộc nội chiến Việt Nam , quân đội Hoa Kỳ, đến giúp Nam Việt, đã thiết lập tại Cam Rang một căn cứ hải-không quân mà họ cho là nhiều tiện nghi và thuận lợi không kém căn cứ Subic Bay tại Phi Luật Tân, hay căn cứ Okinawa tại Nhật.

Ðường bay của phi trường Cam Rang rất dài khiến mọi loại phi cơ, kể cả phóng pháo cơ B52 dễ dàng cất cánh và đáp xuống; tiện nghi kỹ thuật để bảo trì và sửa chữa mọi loại phi cơ quân sự được thiết kế, trang bị tân tiến; hệ thống kho đụn tàng trữ và bảo vệ quân cụ, đạn dược vượt quá mức đầy đủ.

Quân cảng Cam Rang từ Họn Nhạn đến Mũi Cam Linh có thừa chỗ cho nguyên cả Hạm Ðội 7 thả neo, mặc dù một cuộc tập trung hàng ngàn chiến hạm như vậy chưa bao giờ xẩy ra.

Mũi Ðá-Hả-Miệng, có mức sâu trên 30 thước, từng là căn cứ tiềm thủy đĩnh lớn có thể so sánh với căn cứ tiềm thủy đĩnh Okinawa .

Nga thuê căn cứ Cam Ranh từ 1979 nhưng rút đi hồi tháng Năm 2002 vì giá thuê quá cao -300 triệu đôla mỗi năm.

Cam Ranh từng là căn cứ quân sự lớn nhất của hải quân Nga tại nước ngoài và đóng vai trò quan trọng trong các kế hoạch của hải quân Nga, Cam Ranh còn là quân cảng duy nhất cho phép tàu chiến Nga hiện diện và hoạt động trong khu vực Biển Ðông, Ấn Ðộ Dương và Vịnh Ba Tư.

Bộ trưởng Quốc phòng Nga Anatoly Serdyukov đến thăm Việt Nam cuối tháng Ba 2010, trong dịp này ông đã bàn với Việt Cộng việc “hoàn tất một số hợp đồng mới trong lĩnh vực hợp tác kỹ thuật quốc phòng từ nay tới 2020″, trong đó có thỏa thuận về thiết lập căn cứ tàu ngầm.

Tác giả viết, với thỏa thuận thiết lập căn cứ cho sáu chiếc tàu ngầm hạng kilo mà Việt Nam đã đặt mua của Nga, Hạm đội Thái Bình Dương một lần nữa sẽ chịu trách nhiệm về quá trình xây dựng cũng như duy trì cơ sở này.

Dĩ nhiên Trung Cộng không “thoải mái” với viễn ảnh hạm đội Thái Bình Dương của Nga hiện diện tại Cam Ranh, cản trở tham vọng cuốn Biển Ðông vào vùng lưỡi bò. Do đó Việt Cộng phải cam kết là Cam Ranh “sẽ chỉ được sử dụng với mục đích dân sự”. Nhiều quan sát viên nói là Hà Nội phát ngôn một quyết định của Tầu.

Hà Nội còn đề nghị Mạc Tư Khoa giúp xây dựng một nhà máy bảo trì và sửa chữa tàu chiến, nơi mà trong tương lai, các tàu hải quân Nga trên đường làm nhiệm vụ tại các vùng biển xa xôi ở Thái Bình Dương và Ấn Ðộ Dương có thể cập bến sử dụng dịch vụ. Công tác xây dựng này thật ra chỉ là trùng tu những thiết trí của Hoa Kỳ mà Nga đã sử dụng suốt 23 năm.

Trùng tu và tân trang một hải quân công xưởng tại Cam Ranh cũng là nhu cầu của Nga, vì hiện nay Nga chỉ có một trung tâm sửa chữa tàu chiến tại Syria .

Bộ trưởng Quốc phòng Nga Anatoly Serdyukov trong chuyến thăm Việt Nam tháng Ba 2010, đã bàn về việc “hoàn tất một số hợp đồng mới trong lĩnh vực hợp tác kỹ thuật quốc phòng từ nay tới 2020″, trong đó có thỏa thuận về thiết lập căn cứ tàu ngầm, và thúc đẩy các hợp đồng mua vũ khí mới.

Hãng thông tấn Ria-Novosti trích lời người phát ngôn cho ông Serdyukov nói ông hội kiến với Nguyễn Minh Triết và Phùng Quang Thanh. Sau khi thảo luận với Thanh, ông nói với truyền thông là Nga và Việt Nam đang tìm cách hoàn tất một số hợp đồng mới trong lĩnh vực hợp tác kỹ thuật quốc phòng từ nay tới 2020.

Hãng Itar-Tass trích lời Serdyukov: “Chúng tôi đã gặp các đồng nghiệp Việt Nam. Nhiều vấn đề quan trọng đã được thảo luận. Vấn đề thứ nhất liên quan đến hợp tác kỹ thuật quốc phòng; đã có tiến bộ đáng kể. Trong khoản thời gian 2008 – 2009, hai bên ký nhiều hợp đồng trị giá tổng cộng 4,5 tỷ đôla.

“Chúng tôi đang thảo luận để hoàn tất một số hợp đồng bổ túc có hiệu lực từ nay tới 2020,” Serdyukov nói. Ông cho biết Việt Cộng quan tâm đặc biệt tới các hệ thống phòng không của Nga. Họ quan tâm tới tất cả những gì ch́úng tôi có, thí dụ các hệ thống tên lửa Tor, Buk và S-300.” Trước khả năng không quân to lớn của Trung Cộng, ưu tư phòng không của Việt Cộng tưởng cũng dễ hiểu.

Serdyukov nói Nga sẵn sàng bán cho Việt Cộng, mọi quân dụng họ cần, kể cả những vũ khí tiên tiến nhất vừa được giới kỹ nghệ quốc phòng Nga chế tạo.

Vấn đề thứ nhì được Việt Cộng đem ra thảo luận với Serdyukov là hợp tác quân sự Việt-Nha; ông tiết lộ tổng cộng 14 hoạt động chung được thảo hoạch cho năm 2010, những “hoạt động chung” này được thực hiện tại trên lãnh thổ, lãnh hải Nga và Việt Nam.

Ông Serdyukov cũng cho hay phía Việt Cộng muốn Nga giúp cung cấp phụ tùng sửa chữa quân cụ do Nga sản xuất mà quân đội Việt Cộng đang sử dụng; dĩ nhiên ông đồng ý. “Tôi đã đề nghị các đồng chí Việt Nam cho chúng tôi chi tiết về mọi nhu cầu, và gửi chuyên gia sang Nga,” Serdyukov nói.

Liên hệ quốc phòng Việt – Nga được đánh giá là nối tiếp và chiến lược. Họ đã mật thiết cộng tác từ 1953, lúc còn Liên Bang Sô Viết; liên hệ này vẫn nối tiếp: năm 1998 Mạc Tư Khoa và Hà Nội ký thỏa thuận hợp tác quốc phòng, và một ủy ban chuyên trách về những liên hệ này được thành lập năm 1999.

Tháng 10/2008, trong chuyến Nguyễn Minh Triết sang Nga, hai bên đã đưa ra chiến lược hoạt động hợp tác quốc phòng và quân sự cho tới năm 2020.

Các hợp đồng quân sự giữa hai bên trong năm 2008 là vào khoảng hơn 1 tỷ đôla, năm 2009 là trên 3,5 tỷ. Trị giá hợp đồng ký đầu năm nay là gần 1 tỷ đôla, và Việt Nam đang là một trong 4 nước mua vũ khí của Nga nhiều nhất, ba nước kia là Ấn Ðộ, Algeria, và Trung Quốc.

Trong các hợp đồng ký năm 2009, Việt Nam đặt mua 6 tàu ngầm hạng Kilo Project 636 trị giá 4 tỷ đôla, 8 chiến đấu cơ Su-30MK2 Flanker-C trị giá 400 triệu đôla. Tháng Hai 2010, Việt Nam cũng đặt mua thêm 12 chiếc Su-30MK2 trị giá nhiều tỷ đôla.

Giới quan sát quân sự nói trong thời gian 2011-2012, Việt Nam có thể sẽ mua mỗi năm khoảng 1 tỷ đôla tiền vũ khí và thiết bị quốc phòng của Nga.Nga cũng đang chuẩn bị giao hai tàu chiến Gepard 3.9 cho hải quân Việt Cộng vào cuối năm nay.

Mâu thuẫn của Việt Cộng là một mặt tăng cường khả năng quốc phòng, mặt khác giải trang Cam Ranh, phương tiện quân sự quan trọng nhất. Chỉ có thể luận ra là bàn tay quân sự làm một việc, bàn tay ngoại giao làm việc trái ngược lại: kế hoạch dân sự hóa căn cứ Cam Ranh do bộ ngoại giao công bố. Bộ này công bố quyết định chuyển mọi hoạt động của hải cảng và sân bay sang mục tiêu kinh tế và du lịch.

Dù cho chiến tranh Việt-Hoa không thực sự xẩy ra, những tình trạng “sử dụng và hăm dọa sử dụng sức mạnh” để áp đặt quyết định một chiều (ngôn từ của ngoại trưởng Hillary Clinton) vẫn là một thực tế không ai chối cãi.

Một thực tế khác, chua chát hơn, là Việt Cộng hoàn toàn không chống cự lại sức mạnh của Trung Cộng đàn áp, bắn giết, bắt bớ ngư dân Việt Nam. Chúng có lý do của chúng: theo Tầu để bảo vệ chế độ cộng sản, bảo vệ ghế ngồi quyền lực.

Thái độ Trung Cộng không chấp nhận sự hiện hữu của căn cứ quân sự Cam Ranh cũng dễ hiểu: những chiến hạm, những tiềm thủy đĩnh và những chiến đấu cơ bố trí tại đây đe dọa “chủ quyền” của Tầu trên lãnh hải Việt Nam .

Giải pháp Clinton và thiện chí của Nga trở lại Cam Ranh đang làm viễn ảnh Biển Ðông sáng sủa hơn, nhưng trở lực chót vẫn là thuyết phục Việt Cộng bảo vệ lãnh hải, mà việc đầu tiên là đừng giải giới căn cứ quân sự Cam Ranh.

Việc Nga mướn rồi phải trả lại Cam Ranh vì không đủ sức chi 300 triệu mỹ kim mỗi năm hầu hiện diện trên vùng biển Ðông Nam Á và Ấn Ðộ Dương đủ nói lên trị giá quân sự của Cam Ranh, vậy mà Việt Cộng lại triệt phá giá trị tự vệ quý báu đó!

Nguyễn Ðạt Thịnh

Saturday, November 6, 2010

Tân Thẩm Phán Quận Oklahoma, Hoa Kỳ


    Cindy Trương Được Bầu Vào Chức Vụ Thẩm Phán Quận Oklahoma, Hoa Kỳ
Một người Mỹ gốc Việt ở tiểu bang Oklahoma, cô Cindy Trương, 35 tuổi, đã đánh bại đối thủ là ông Pat Crawley, 67 tuổi, cũng là một cựu đồng nghiệp, khi hai người cùng là Phụ tá District Attoney của Oklahoma County và giành được chiến thắng vẻ vang trong chức vụ: District Judge, Dist. 7 – Oklahoma County, Oklahoma.

Cô Cindy Trương, mồ côi cha, rời Việt Nam đến thành phố Oklahoma, Hoa Kỳ năm 1986 lúc mới được 11 tuổi và không biết một chữ tiếng Anh nhưng đã đứng đầu lớp khi tốt nghiệp Mustang High School.

Trong tóm lược tiểu sử tranh cử, cô cho biết vì không thể quên được những bất công xảy ra hàng ngày tại Việt nam mà cô đã chứng kiến từ nhỏ, nên cô quyết tâm theo đuổi ngành luật để đem lại cán cân công lý cho mọi người: từ lúc làm việc (law clerk) cho công ty Luật McKinney & Stringer, cho đến khi làm phụ tá công tố quận (assistant district attorney) Oklahoma County.

Ngày 27 tháng 7 năm 2010, trong cuộc bầu cử sơ bộ, cô Cindy Trương dần đầu số phiếu trước 6 ứng cử viên khác.

Vì là một người sinh trưởng tại Việt Nam, nên trong lúc tranh cử, phiá đối phương đã cố gán cho cô là muốn trở thành một quan tòa Việt Nam (Vietnamese judge) thay vì là một quan tòa Mỹ (American judge), nhưng tân Thẩm phán Cindy Trương đạt được số phiếu: 95,777 (56.57%) , còn đối thủ Pat Crawley được: 73,519 phiếu (43.43%).

Cũng cần nói thêm, quỹ vận động tranh cử của cô đã gây được $181,000; trong lúc ông Crawley có được hơn $31,000.

Cô đã lập gia đình và có một con trai 6 tuổi.


Cộng Sản Việt Nam là tội đồ của dân tộc - Thạch Hãn



Thạch Hãn

Những tội ác của bọn lãnh đảo Cộng Sản Việt Nam không còn bút mực nào viết ra hết được và có lẽ từ đời này cho đến đời khác sẽ không bao giờ đẩy lùi những ám ảnh của sự tàn ác dã man của bọn chúng đối với nhân dân hai miền Nam, Bắc của chúng ta.

Những tội trạng trời không dung đất không tha của bọn tội đồ Quốc Tế CS đã gieo tang thương, cho dân tộc từ cái ngày oan nghiệt 2-9-1945 nơi đất Bắc và miền Nam 30-4-75 cho đến nay nhân dân Việt Nam chưa bao giờ có một ngày an lành từ ngày chúng áp đặt chính sách cai trị tàn bạo lên đầu nhân dân.

Những sự tàn ác của chúng đối với nhân dân miền Bắc thì đã có nhiều sử gia, nghiên cứu gia đã tốn khá nhiều giấy mực hài tội bọn đầu lãnh từ Hồ Chí Minh trở xuống của trong cái tập đoàn bạo chúa Bộ Chính Trị và Trung Ương Ðảng. Bài viết này người viết chỉ viết lại sự trả thù ác độc của CSBV đối với nhân dân miền Nam từ sau ngày chúng xua quân XÂM LƯỢC 30-4-75.

Sau ngày dùng bạo lực dưới sự trợ giúp hùng hậu của cộng sản quốc tế Nga Tàu chiếm trọn miền Nam chúng thẳng tay trả thù mọi từng lớp từ Quân Cán Chính đến nhân dân của VNCH không nương tay bất cứ ai sinh sống phía nam của Vĩ Tuyến 17 chúng đều ghép tất cả nhân dân miền Nam là “là ngụy quân, ngụỵ quyền, ngụy dân … có tội ác với cách mạng” và chúng đã dùng bạo lực để trả thù.

* Sự trả thù hành hạ tàn bạo với thân nhân của Quân Cán Chính VNCH (QCCVNCH)

Từ ngày thủ đô thất thủ, người dân luôn sống trong lo âu, khiếp sợ từng phút từng giây, ngoài sự giam cầm tù đày tra tấn dã nam những vị từng phục vụ trong chính quyền, quân đội, chính trị gia tu sĩ của các tôn giáo, nhà văn nhà báo v.v... Chúng còn thiết lập hệ thống rất quỷ quyệt để đày đọa trả thù hành hạ cho đến vợ con và thân nhân không riêng bất cứ một ai trước đây sống dưới chính thể VNCH, nghĩa là toàn dân Việt Nam (Nam Vĩ Tuyến đến mũi Cà Mau).

Kế hoạch trả thù của ba thành của chế độ VNCH

* - Trả thù thành phần thứ nhất chính bản thân Quân, Cán Chính VNCH

Chúng gom tất cả những vị từng là sĩ quan, công chức, dân biểu, nghị sĩ, nhà văn nhà báo … Từng phục vụ trong chính quyền VNCH nhốt trong những trại lao động khổ sai. Bọn cán bộ quản giáo là những con ác thú đội lớp người, chúng ra tay hành hạ từ thể xác đến tinh thần, bỏ đói, lao động lam lũ mà cái tàn độc nhất về tư tưởng là dùng những người “tù cải tạo” dùng phân người bón sau trái cho bằng hữu cùng ăn những hoa màu tự sản xuất. Sự hành hạ dã nam của bọn quản giáo đã khiến cho nhiều người kiệt sức gục ngã đã bỏ mình trong những trại tập trung theo hình thức như Tây Bá Lợi Á của Liên Xô cũ, không kể hết những tội ác tày trời của bọn đầu lãnh Cộng Sản Việt Nam.

* - Thành phần thứ hai, con của gia đình quân cán chính VNCH

Chính sách cai trị “kỳ thị” của bọn đầu lãnh CSBV là con của quý vị Quân Cán Chính Việt Nam Cộng Hòa (QCCVNCH) không bao giờ bước vào được ngưỡng cửa đại học và cũng không bao giờ xin được việc làm trong các công tư sở của nhà cầm quyền Cộng Sản. Con của quý vị QCCVNCH từng phục vụ trong chính quyền miền nam trở thành lực lượng nô dịch khai khẩn đất đai đào kinh dẫn thuỷ nhập điền (thủy lợi).

Những nữ sinh, nam sinh của các trường Gia Long, Lasan Ðức Minh, Lasan Hiền Vương, Lasan Taberd, Nguyễn Bá Tòng Lê Quý Ðôn ... và những sinh viên ưu tú trong các viện đại học nay đã biến thành những con vật bị bỏ đói nhưng phải lam lũ cực nhọc trong các nông trường: Lê Minh Xuân, Phạm Văn Cội, Cần Giờ cùng với những “vùng kinh tế mới” mà lực lược chính mà chúng khai thác bóc lột tận xương tủy là lớp trẻ, là con cháu của nhân dân miền Nam. Mà tên chúa tể cai quản khai thác trả thù lực lượng trẻ nầy là tên lãnh chúa Trương Tấn Sang với danh từ hoa mỹ “THANH NIÊN XUNG PHONG”

Người viết đã có lần chứng kiến những buổi ăn của lực lượng TNXP, thức ăn chính là bột mì nhồi nước dùng hai bàn tay áp miếng bột giống theo hình một của chiếc lá rồi bỏ vào nồi nước luộc chấm muối mà ăn. Nhìn thấy các người trẻ của Saigon hoa lệ trong chiếc áo dài trắng thước tha với mài tóc thề óng ánh buông xỏa bờ vai ngày ngày cặp sách đến trường nay lại biến thành những nô lệ, những lao nô lo sản xuất vật chất cho đảng, cho bọn lãnh chúa đảng Cộng Sản. Chỉ một chớp mắt toàn quân xâm lược của CSBV dùng vũ lực xâm chiếm niền Nam đặt một chính sách cai trị cực kỳ tàn ác lên toàn dân không chừa một ai, sự trả thù tàn bạo, những sự đàn áp man rợ của CSBV không bút mực nào kể hết. Lực lượng “thanh niên xung phong này” sau này biến thành “nghĩa vụ quân sự” làm bia đỡ đạn cho quân Khờ Me đỏ ở chiến Tường Campuchia.

* - Thành phần thứ ba là vợ của các vị từng phục vụ cho chính quyền VNCH

Người đàn bà Việt Nam với sự chịu đựng phi tường dù bất cứ nghịch cảnh nào, nhưng đối với sự tàn ác man rợ của bọn cán bộ CS những thủ đoạn gian manh của chúng không ngoài mục đích là chiếm đoạt tài sản, nhà đất ruộng vườn của sĩ quan, công chức thương gia kỹ nghệ gia của miền Nam, qua chiêu bài “vùng kinh tế mới” những người phụ nữ đáng kính đã ngả gục trên những “vùng kinh tế mới” đầy khắc nghiệt do tập đoàn CSBV lập nên.

Danh từ hoa mỹ do bọn CSBV nặn ra để chiêu dụ vừa phỉnh gạt những người vợ có chồng trong tù đày (cải tạo). Bọn chúng khuyến dụ “Nếu muốn chồng mau hoàn hương thì nên đi vùng kinh tế mới (VKTM) tài sản nhà cửa hiến cho đảng. Những người phụ nữ chân yếu tay mền chưa bao giờ biết gì là nghề nông nay trở thành những lực lượng lao động trên núi rừng để chúng khai thác sức lao động nơi hoang vu này thành những mãnh đất trù phú cho bọn cán bộ chia nhau làm tài sản riêng.

Người dân ở vùng kinh tế mới như những con vật hai chân bị nhốt trong một vùng đất rộng có cổng ra vào luôn do bọn du kích địa phương tuần canh nghiêm ngặt, nội bất xuất, ngoại bất nhập. Cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, đau bệnh không thuốc, tất cả các bệnh đều trị một thứ “ thần dược "xuyên tâm liên” . Củi không được đem về thành, gạo không được đem lên VKTM, ngăn sông cấm chợ.

Chính sách cai trị của cộng sản là bỏ đói, bệnh để chúng sai khiến hành hạ như những con vật hai chân, nhiều thiếu phụ vì nóng lòng, thương chồng trong ngục tù lao động khổ sai đã hy sinh tất cả tài sản cho đảng thu tóm đi lên vùng kinh tế mới để rồi ngày tháng mong chờ chồng hoàn hương nhưng đâu ngờ bọn CSBV là bọn lưu manh để chiếm đoạt tài sản những người chồng người cha vẫn biền biệt giam hãm nơi rừng thiêng nước độc để bọn chúng tha hồ hành hạ tàn bạo.

Nhìều thiếu phụ dù can đảm chịu đựng đến đâu nhưng sức người có hạn nhiều người đã chết đói, chết bệnh nơi hoang dã trước khi thấy mặt chồng được bọn chúng thả về. Nhiều người không chịu nổi sự dã man của những Lãnh Chúa cai trị tàn ác nơi VKTM đành bỏ trốn về thành phố; nhà cửa của họ nay đã thành nhà của cán bộ. Ðành sống lây lất cho qua ngày tháng trên các hè phố, đầu đường xó chợ.

CSBV xua quân chiếm Nam là một cuộc xâm lược tàn ác và dã man nhất trong lịch sử nhân loại. Cuộc chiến tàn ác sử sách có ghi chép lại là cuộc chiến ở nước Trung Hoa đời Tần Thuỷ Hoàng tóm thâu Lục Quốc. Theo truyền thuyết vào thời đó theo “khẩu lệnh” của Tần Thủy Hoàng ra lệnh bất cứ một Nguyên Soái chỉ huy trận khi tấn công chiếm được thành của đối phương thì người chỉ huy trận thắp lên một cây nhan cho lệnh toàn quân chiến thắng được tha hồ chém, giết, cướp bóc hãm hiếp cho đến khi cây nhang tàn hết thì tất cả đều phải ngưng những hành động nêu trên.

Nhưng Cộng Sản Việt Nam đã đốt lên cây nhang đó từ ngày 2-9-45 cho nhân dân miền Bắc và cây nhang “tàn ác” 30-4-75 áp đặt cho nhân dân miền nam cho đến nay cây nhang đó vãn chưa tàn vẫn còn cháy và cháy mãi cho tới khi không còn chủ nghĩa Mác Lê .

Sự tàn phá khủng khiếp nhất trong lịch sử dân tộc do bè lũ Cộng Sản Bắc Việt gây nên là một đại họa cho con Rồng Cháu Tiên. Nơi nào có gót giày xâm lược của Cộng Sản Việt Nam dẫm qua thì nơi đó một ngàn năm sau vẫn còn tanh mùi máu.

Nỗi đau thương của dân tộc tan dần cho đến khi nào không còn hình bóng một tên đảng viên cộng sản hiện điện trên quê hương mến yêu MẸ VIỆT NAM.

Thạch Hãn

Nhân Bài Ngồi Lại Bên Nhau - Ts Hồng Lĩnh

    Nhân Bài Ngồi Lại Bên Nhau
    (Chưởi nữa đi em…)
Ts Hồng Lĩnh

Phi Lộ

Hoàng đế Napoléon Bonaparte, một thiên tài quân sự và suốt cả chiều dài binh nghiệp 19 năm, đi từ chiến thắng nầy tới chiến thắng khác: Arcole (1796), Rivoli, Pyramides, Marengo, Austerlitz, Iéna, Friedland, Wagram, La Moskova và thua trận chót tại Waterloo (1815).

Sau trận ấy, Napoléon Bonaparte bị cầm tù tại đảo Sainte Hélène và qua đời tại đó. Như một bài học độc nhất để lại cho các thế hệ tiếp theo, ông gói gém bài học ấy qua câu nói: «Muốn luôn giữ được ưu thế, cứ sau mỗi 10 năm phải thay đổi hoàn toàn từ chiến lược tới chiến thuật».

Chu kỳ 10 năm là một định mệnh hay chỉ là một tình cờ cho tập thể cựu chiến sĩ của quân lực VNCH Nam California? Theo tác gỉa Giao Chỉ-San Jose, trong bốn lần đại hội, đánh dấu mỗi năm đầu của ba chu kỳ 10 năm, đi từ năm 1980 tới 2010, tập thể ấy luôn mời một số người và xem họ là những thượng khách của đại hội. Những con người đang ôm trọn đống song chảo mà hiện tại hay lịch sử xem ra khủng khiếp.
    1. - Năm 1980 có Nguyễn Cao Kỳ bên cạnh Trần Văn Đôn.

    2. - Năm 1990 có Nguyễn Văn Thiệu.

    3. - Năm 2000 có Nguyễn Khánh.

    4. - Năm 2010 có Trần Thiện Khiêm.
Những Tội Đồ Ghê Gớm

Nếu hiện tại Nguyễn Cao Kỳ theo CSVN phản bội lại đồng đội, còn Trần Văn Đôn, Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Khánh và Trần Thiện Khiêm là những tội đồ của dân tộc từ năm 1963 !

Họ phản loạn đảo chánh tại một thế chế dân chủ là VNCH, một cấm kỵ tuyệt đối. Vì không ai có quyền thay lãnh đạo ngoài lá phiếu của tòan dân và chỉ có toàn dân mới có quyền quyết định thay đổi.

Những tên ấy đã trực tiếp phá nát nền Đệ I Cộng Hòa của thể chế dân chủ đầu tiên của Việt Nam, phản lại vị tổng tư lệnh của QLVNCH, hay đã nhúng tay, một cách trực tiếp hay gián tiếp, vào máu của vị tổng Tổng Thống tiên khởi của dân chủ Việtnam cũng như tổng tư lệnh của QLCNCH hay vào máu của hai cố vấn Ngô Đình Nhu và Ngô Đình Cẩn, không kể máu của một số sĩ quan như Đại Tá Hồ Tấn Quyền, Lê Quang Tung và Lê Quang Triệu. Nhựng tên tổ chức hay cầm quân đảo chánh phải trả lời về các tội kể trên, không cần phải cầm súng bắn vào các nạn nhân.

Riêng đối với một cựu chủ tịch của tập thể ấy, gần đây, tại diễn đàn http://hon-viet.co.uk, tác gỉa Lệ Tuyền có những kết án chung cũng như một số chất vấn cựu chủ tịch Lê Minh Đảo như sau:

«Hàng năm, cứ đến ngày 1-11, thì đa số những người Việt Nam yêu nước chân chính, thì đều thấy lòng xót đau khi hồi tưởng về cái chết bi thương của Cố tổng Thống Ngô Đình Diệm cùng nhị vị bào đệ: Ông Cố vấn Ngô Đình Nhu và Ông Ngô Đình Cẩn.

Và khi nhắc đến sự sụp đổ của Nền Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa, qua các sách báo, thì mọi người đã biết đến những kẻ đã nhúng vào máu.

Song tiếc rằng, ít ai nói đến ba vị Sĩ quan đã chết dưới cờ, chỉ vì họ trung thành với Chính Nghĩa Quốc Gia, nên hôm nay, người viết bài này muốn nhắc đến ba vị Sĩ quan trung thành đó:

Trước hết, là Đại Tá Lê Quang Tung, Tư Lệnh Lực Lượng Đặc Biệt. Vào thời điểm đảo chánh, Trần Văn Đôn đã gọi điện thoại cho ông, nói là mời đến họp. Và trước phiên họp của cái gọi là «Hội Đồng quân Nhân Cách Mạng» Đại tá Lê Quang Tung đã lớn tiếng:
    «Chúng bay đeo lon, mặc áo, thụ hưởng phú quý, lạy lục để được Tổng Thống ban ơn, mà nay lại dở trò bất nhơn bất nghĩa … ».

Đại tá Lê Quang Tung chỉ kịp nói đến đó, thì liền bị cựu Tướng Lê Minh Đảo, lúc đó là Đại úy, Tùy viên của tướng Lê Văn Kim, lôi lên chòi canh trên sân thượng của tòa nhà chánh Bộ Tổng Tham Mưu bắn chết ngay.

Em ruột của Đại Tá Lê Quang Tung là Thiếu Tá Lê Quang Triệu, Tham Mưu Trưởng Lực Lượng Đặc Biệt, được tin cũng liền chạy sang Bộ Tổng Tham Mưu để xem hư thực, thì cũng bị Đại úy Lê Minh Đảo dùng súng bắn chết tức khắc.

Sở dĩ người viết bài này, chưa muốn nêu lên tài liệu, và nhân chứng sống, là vì muốn cựu Tướng Lê Minh Đảo hãy nghiêm khắc với chính mình mà lên tiếng nhận tội giết cả huynh đệ Đại Tá Lê Quang Tung và Thiếu Tá Lê Quang Triệu. Song nếu Tướng Lê Minh Đảo vẫn im lặng thì người viết phải xin nhị vị nhân chứng sống, một vị là Thiếu tướng và một vị là Đại Tá QLVNCH, hãy lên tiếng trước công chúng.

Riêng Đại tá Hồ Tấn Quyền, Tư Lệnh Hải Quân, thoát chạy, nhưng sau đó cũng bị chính thuộc hạ là Hải quân Trung úy Nguyễn Văn Lực, Sĩ quan tùy viên bắn chết trên chiếc xe Traction màu đen. Về cái chết của Đại Tá Hồ Tấn Quyền thì nhiều người đã biết.

Người viết chỉ muốn nói với cựu tướng Lê Minh Đảo: Kể từ phút giây hạ thủ để bắn chết nhị huynh đệ của Đại Tá Lê Quang Tung và Thiếu Tá Lê Quang Triệu cho đến hôm nay, có bao giờ ông nhớ lại hai tấm thân nhuộm đầy máu của nhị vị Sĩ Quan ưu tú của quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã phải gục chết bởi họng súng của ông hay không?!


Nếu Nguyễn Cao Kỳ phản bội sau đại hội 1980, nên tập thể ấy không biết tước đưọc, thời các sự kiện xảy ra vào các năm 1963 và 1964 cũng như những tội phạm, không lẽ tập thể ấy không biết, không thấy cũng như không nghe gì hết hay sao? Trái lại tập thể ấy vẫn xem các tội phạm tày trời kia là những thượng khách của đại hội! Nhất là khi các chất vấn của tác giả Lệ Tuyền có thể trở thành sự thật nơi Lê Minh Đảo?

Thời cái tổ chức ấy là cái gì, trên lãnh vực trách nhiệm cũng như nhân bản? Từ đó một số vấn đề cần được đề cập với tập thể ấy.

Quá Khứ Trách Nhiệm Của QLVNCH Và Của Tập Thể Cựu Quân Nhân Nam California

QLVNCH do chính cố TT Ngô Đình Diệm lập ra và cũng chính quân lực ấy đã phá nát tất cả của 9 năm xây dựng, qua đảo chánh 1960 và vụ ném bom vào dinh Độc Lập 1961 cũng như phản loạn năm 1963, hay đã nhúng tay vào máu của vị tổng tư lệnh và một số sĩ quan của quân lực ấy cũng như máu của một số người khác.

Đã đành, QLVNCH gồm hàng tướng lãnh, hàng sĩ quan cũng như hạ sĩ quan không tuớng lãnh và binh sĩ. Trong các vụ kể trên nhất là vụ phản loạn 1963, hầu hết tướng lãnh, nhất là ba tên chỉ huy ba quân đoàn (I, II. III) trên bốn quân đoàn và một số sĩ quan là những tên chủ xướng và ra lệnh (theo các giải mã của Mỹ cũng như nhiều tài liệu khác).

Nhưng binh sĩ và không tất cả đã nổ súng phạm tội ác. Tuy biết đó là phản loạn cũng như tội ác. Một cách nào đó, các binh sĩ ấy, vì không muốn lãnh cái bất hãnh do không tuân lệnh nổ súng, đã trút cái bất hãnh có thể ấy lên nạn nhân của họ. Nghĩa là lấy da thịt kẻ khác để che da thịt mình. Nói cách khác là phải giết kẻ khác, tuy vô tội, để mình sống !

Do đó, trên lãnh vực tinh thần, từ tướng tới quân đã phạm tội ác. Nhưng trên phương diện luật pháp, binh sĩ cũng như kẻ dưới quyền luôn được khinh giảm vì lý do phải vâng lệnh cấp trên trực tiếp.

Không chịu trách nhiệm trên luật pháp không có nghĩa là không có trách nhiệm trên tinh thần. Vì các binh sĩ, có thề thà chết, chứ không nổ súng tấn công dinh Gia Long hay sát hại các sĩ quan không theo đảo chánh.

Làm hại kẻ khác là một bất công. Một bất công không được sửa đổi luôn là một bất công. Nhất là khi không có ý chí sửa bất công. Lại phạm thêm một tội nữa là đã không sửa bất công.

Vì các yếu tố kể trên, tập thể cựu chiến binh nam California, một cựu thành phần quân lực ấy, đều có trách nhiệm phải đặt vần đề sửa sai.

Nay trên đất tự do, đã không đặt vấn đề chịu trách nhiệm đã tấn công vào vị tổng chỉ huy QLVNVH mà lại còn mời mọc những tên chủ động của tội ác nữa là sao ?

Nhất là khi đã thông suốt vấn đề cũng như không còn phải tuân lệnh cấp trên và có tự do hành động! Không rõ quan niệm về trách nhiệm tinh thần cũng như nhân bản và nhân tính của tập thề ấy còn có nữa hay không? Hơn nữa, khi hành động như vậy, không rõ họ có biết hành động như vậy là sai quấy đối với các nạn nhân nữa không?

Xin thành thật cáo lỗi với những ai của tập thể ấy đã cư xử đúng đắn và hào hùng trong quá khứ, nhất là trong biến cố 1963 làm mất nước và mất chính nghĩa của một chiến đấu bảo vệ tự do cho miền Nam.

Tuy dân gian có câu: «Một con sâu làm rầu nồi canh». Hỡi chí sĩ Ngô Đình Diệm, chính hàng ngũ của chúng ta cũng như đồng đội đã là những bất hãnh!

Lời Đề Nghị Chân Tình

Quý vị của tập thể cựu quân nhân của QLVNCH, vì chinh chiến, đã phải gác tất cả để theo việc binh đao và không một ai, có chút chất xám, lại dựa trên thắng bại để luận anh hùng. Thất trận 1975 chỉ là một thất trận, chứ chưa phải thua cuộc chiến.

Cố TT Ngô Đình Diệm, khi thành lập trường võ bị quốc gia Đà Lạt, luôn có hoài bão mong muốn quý vị sẽ là những lãnh đạo tài ba, văn cũng như võ, của quốc gia.

Mỗi lần cố TT Diệm tới Đà Lạt, cố TT không lần nào tới mà không tới thăm trường mẹ Đà Lạ của một số trong quý vị cũng như lo lắng cho các sĩ quan tương lại của đất nước.

Chính vì thế, khóa đầu tay của truờng võ bị quốc gia là khóa XVI, một khóa đã tạo ra biết bao sĩ quan tài ba trên khắp bốn vùng chiến thuật.

Nay Cố TT Diệm đã về bên kia thế giới, chính do bàn tay của các loạn tướng đầy phản bội như Trần Thiện Khiêm, các tên khác thuộc hàng ngũ của tập thể của quý vị hay những thượng khách của tập thể trong bốn đại hội của ba thập niên (80, 90, 2000), và sau khi quý vị đã nhận được nhiều phản ứng dữ dội từ quần chúng đối với những cựu loạn tướng ấy hay những thành phần ấy, xin đề nghị quý vị hãy có thái độ cương quyết đối với những loạn tướng ấy và có một số hành động giải tỏa oan ức cho cố Tổng Tư Lệnh của quý vị.

Đó có thể là những hành động mà quý vị luôn có khả năng làm. Thay vì đi vào những con đường rừng mất hướng, tạo lý do hay biện minh câu nói của tác giả Gai Chỉ-San Jose «HỌ NGỒI LẠI BÊN NHAU ! Chưởi nữa đi em ...».

Chưởi vì quá khứ và hiện tại với không có tương lai của một tập thể. gần mực thì đen và gần đèn thì tối!

Thưa quý vị.

Napoléon Bonaparte khuyên thay đổi chiến lược và chiến thuật sau mỗi 10 năm có mục tiêu để luôn giữ được ưu thế, chứ Napoléon Bonaparte không bao giờ khuyên, cứ sau mỗi 10 năm, phải lôi hết tên cựu tướng phản loạn nầy tới tên cựu tướng phản loạn khác, để mất hết tất cả, từ tinh thần trách nhiệm tới nhân tính và để giống ra điên cũng như vô hướng trong hành động.

Ts Hồng Lĩnh

Tham chiếu:
    NGỒI LẠI BÊN NHAU
    (Chửi nữa đi em...)
Giao Chỉ - San Jose

Cứ 10 năm một lần:

Sau cuộc chiến phe nào cũng có các cựu chiến binh. Trận chiến tranh Nam Bắc Việt Nam thực sự có thể kể từ Genève 1954 đất nước chia đôi cho đến 1975. Trải qua 21 năm từ chuẩn bị cho đến cuộc chiến nổi dậy, du kích chiến, vận động chiến rồi tấn công quy ước. Cuối cùng quân nhân Việt Nam Cộng Hòa tan hàng theo mệnh nước. Tiếp theo là di tản, tù đày, vượt biên, HO và đoàn tụ. Số phận cựu chiến binh cộng sản sau 75 cũng không khá, ngoại trừ một số cán bộ và đảng viên. Trong khi sĩ quan miền Nam đi tù thì sĩ quan miền Bắc phục viên cũng không có tương lai. “Ðầu đường đại tá vá xe, cuối đường thiếu tá bán chè đậu đen”

Nhưng ở đây, nhân dịp vị đại tướng 85 tuổi Trần Thiện Khiêm lần đầu tiên họp mặt với đại hội Tập thể chiến sĩ tại miền Nam California, tôi xin nói chuyện về cựu quân nhân Việt Nam Cộng Hòa tại hải ngoại.

Ðây cũng không phải là lần đầu anh em ngồi lại bên nhau.

Ðầu thập niên 80, các hội cựu quân nhân với đa số thành phần chiến binh di tản từ 1975 đã kết đoàn. Sau 5 năm lưu vong, đời sống anh em tạm thời ổn định, bắt đầu nhớ về quê hương và nhớ về đồng đội. Ở đâu có đủ một tiểu đội là ngồi lại thành một bàn. Tại San Jose hội Không quân, Hải quân, Nhảy dù là các tổ chức tiên phong. Ða số xây dựng trên tinh thần tương trợ, quan hôn tương tế. Anh em chạy 75 được người Hoa kỳ bảo trợ nay quay ra bảo trợ người mới đến.

Một số anh em khắc khoải hờn vong quốc đã không cam chịu cảnh suốt đời đất khách quê người. Thêm một lần, tôi xin nhắc lại con đường về phục quốc đấu tranh võ trang khởi đi từ Trần văn Bá (Âu Châu), Võ đại Tôn (Úc Châu) và Hoàng cơ Minh (Mỹ Châu). Một sự tình cờ lịch sử là ba người anh hùng tìm đường về đại diện cho cả ba miền đất nước.

Tại Hoa kỳ, cựu chiến sĩ Cộng hòa đã cất tiếng gọi đàn, mở rộng vòng tay. Ðại tá thiết giáp Hà Mai Việt mời anh em về họp mặt tại Texas để chính thức ra mắt một tổng hội cựu chiến sĩ đầu tiên. Thiếu tướng không quân Ðặng đình Linh được bầu làm chủ tịch. Ngôi sao sáng của đại hội là thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ. Ông Kỳ mời được đại tướng Cao văn Viên và trung tướng Trần văn Ðôn về dự. Trong bài nói chuyện, với sự cảm xúc cố hữu ông Kỳ đã khóc. Ông Viên lên tiếng xin lỗi toàn quân. Ðó là đại hội cựu chiến sĩ đầu tiên của đa số anh em di tản 75.

Chứa chan tình cảm với đầy hy vọng nhưng rồi lại không có đoạn kết.Tướng Nguyễn cao Kỳ, ngôi sao của đại hội toàn quân lần đầu tiên từ thập niên 80 ngày nay ra sao. Thiết tưởng chẳng cần nói thêm. Ðời lính già sống lâu, chỉ thấy thêm nhiều chuyện đau lòng.

Tổng Thống Thiệu ra quân.

Mười năm sau, vào đầu thập niên 90, một đại hội toàn quân quy mô được hình thành tại California. Chưa bao giờ San Jose lại có dịp đón tiếp một số lượng đông đảo các tướng lãnh như thế. Có cả Ðại tướng Cao Văn Viên, các trung tướng, các thiếu tướng và quan trọng hơn hết có cả ngôi sao rực rỡ nhất hải ngoại là trung tướng Nguyễn Văn Thiệu. Các nhà lãnh đạo một thời của miền Nam đang nuôi ảo tưởng có thể đòi hỏi quốc tế và Hoa kỳ đưa Việt Nam trở lại với sự cam kết theo Hiệp định Paris 1973. Nhưng sự kết hợp trong đại hội hoàn toàn chỉ có hình thức. Không phải vì có sự chống đối, mà chính vì nội dung không thực tế nên một lần nữa, anh em lại tan hàng. Sự trăn trở vẫn còn nguyên.

Qua đến năm 2000, đại tướng Nguyễn Khánh nguyên là quốc trưởng đầu tiên của miền Nam Việt Nam đã có cơ hội ra mắt tại Cali với tổ chức Nguyễn Hữu Chánh.

Trong vai trò tự phong làm thủ tướng, ông Chánh đã đưa đại tướng Nguyễn Khánh trở lại ngôi quốc trưởng tại hải ngoại. Mặc dù đã có nhiều bài báo phanh phui những mánh khóe bịp bợm, nhưng phong trào của chính phủ Nguyễn hữu Chánh vẫn có cả trăm người tin tưởng và đại hội thường quy tụ cả ngàn người. Trong đó gồm cả các chức sắc, tướng lãnh cao cấp của Việt Nam Cộng Hòa. Sự ngây thơ không phải là độc quyền của tuổi thiếu niên hay anh em cấp dưới. Lúc đó đại tướng Nguyễn Khánh là ngôi sao rực rỡ của phong trào Nguyễn Hữu Chánh.

Niên trưởng của tôi dường như cũng biết hết sự tình, nhưng tiếng vỗ tay và ánh đèn sân khấu vẫn còn khả năng hấp dẫn tuổi cao niên. Mỗi lần đại hội hay mỗi lần tập hợp xuống đường, phong trào này đã đạo diễn chụp hình hàng trăm thiếu nữ Việt Nam áo trắng cờ vàng vẫn được thế giới mạng xử dụng trong mọi trường hợp. Giòng đời vẫn trôi qua, lịch sử Việt Nam Cộng Hòa kéo dài tại hải ngoại sẽ còn lưu lại một bức hình đáng giá.

Năm 2010, thủ tướng xuất hiện.

Như vậy là cứ 10 năm một lần, anh em cựu quân nhân lại thấy có một vì sao của thời xưa xuất hiện. Lần này đại tướng Khiêm đến với đại hội Tập thể chiến sĩ Việt nam Cộng Hòa. Ông gặp gỡ báo chí, dự bửa cơm thân mật, nhận lời làm cố vấn. Còn chuyện sau này sẽ ra sao chưa ai biết. Dư luận khá ồn ào, có người thông cảm, có người phê bình chỉ trích thậm tệ, hết sức tàn nhẫn.

Nhưng về cuộc đời và sự nghiệp thực sự của thủ tướng Trần Thiện Khiêm thì những người biết chuyện không nói hết, những người nói ra cũng chưa biết hết chuyện. Cuộc đời chính trị hết sức may mắn của ông vui nhiều hơn buồn. Nhưng để lại những thành tích cho quốc gia thì buồn nhiều hơn vui. Sau cùng, một câu hỏi đặt ra là, ý nghĩa thực sự của việc đại tướng Khiêm xuất hiện là chuyện gì. Phải chăng Mỹ đã tính chuyện với Việt Nam và bây giờ là lúc tìm đến Việt nam Cộng Hòa. (?)Thắc mắc này từ ngày xưa, cũng đã được thiên hạ đưa ra cứ 10 năm một lần. Thời kỳ 80 phải chăng CIA tính dùng ông Kỳ qua đại hội Texas. (?)Thời kỳ 90 ông Thiệu xuất hiện do Mỹ dự trù trở lại hiệp định Paris. (?)Qua 2000 chính phủ của chú Chánh tuyên bố úp mở là có Mỹ đứng sát sau lưng thủ tướng lưu vong để ủng hộ đại tướng quốc trưởng.(?) Nếu những chuyện không tưởng như thế đã không xảy ra mấy chục năm trước thì ngày nay người Mỹ dùng các cựu chiến binh cao niên Việt Nam Cộng Hòa với niên trưởng 85 tuổi của anh em ta để làm việc gì. Sao anh em lại có thể tiếp tục ngây thơ vô tội như thế. Sự thực là chẳng hề có yếu tố Hoa Kỳ trong thế giới Việt Nam Cộng Hòa di tản trong suốt 35 năm qua và vĩnh viễn về sau. Sức mạnh của cộng đồng Việt Nam nếu có phải trong khuôn khổ người công dân Mỹ gốc Việt.

Riêng phần chiến sĩ cộng hòa đã đành nếu bạn nhập ngũ một ngày cũng là lính. Người lính mặc áo trận năm 75 lúc 18 tuổi ngày nay cũng đã là cựu quân nhân trên 50 tuổi. Nhưng trên thực tế, đa số cựu chiến binh VNCH tại Hoa Kỳ bây giờ đã hưởng tiền già hoặc sắp hưởng tiền già, hoặc tiền hưu bổng vào lớp tuổi lục tuần. Phần lớn các nhà lãnh đạo quân đội, các tướng lãnh ở lớp tuổi bát tuần. Rõ ràng là lực bất tòng tâm. Không phải là lúc ôm mộng lấp bể vá trời. Cũng chẳng ai đòi hỏi những người anh hùng mỏi mệt chúng ta phải thi hành những sứ mạng lớn lao như thế. Nhu cầu hết sức cần thiết và đơn giản là anh em ta ngồi lại bên nhau.Vì vậy sinh hoạt của các hội đoàn quân đội, các khu hội, các tổng hội quân binh chủng, các đơn vị vùng, tại khắp năm châu bốn bể, dù trong hay ngoài tập thể, đều là những sinh hoạt lành mạnh, hợp với hoàn cảnh thực tế. Trong tinh thần xây dựng như thế, tôi xin viết lời bình luận về tổ chức Tập Thể vừa họp xong đại hội bất thường.

Ðường trường xa, muôn vó câu bay ...

Cách đây 7 năm, một số niên trưởng trong quân đội đã ngồi lại bàn tính xây dựng một cơ cấu kết đoàn giữa các cựu quân nhân và các khu hội, tổng hội quân binh chủng.

Một trong các nhu cầu then chốt là tìm người lãnh đạo. Bất cứ nhân vật nào thì cũng sẽ bị búa rìu dư luận phê phán, chê bai. Tuy nhiên sau cùng cũng tìm ra được những nhà lãnh đạo có vẻ đủ điều kiện và điều quan trọng là can đảm nhận lời. Tướng Lê Minh Ðảo, người anh hùng cuối cùng của mặt trận Long Khánh, cựu tù chính trị lâu năm nhận lời làm vai trò then chốt. Ngoài ra còn có giáo sư Nguyễn Xuân Vinh, khoa bảng nổi danh nhận làm chủ tịch quản trị. Xin coi như ông Ðảo là sĩ quan bộ binh đóng vai chính. Ðại hội mở ra khí thế tưng bừng và được khá nhiều đoàn thể quân đội hưởng ứng. Tập thể ra đời, mở rộng tổ chức và kiện toàn. Họp tới họp lui từ địa phương đến trung ương được vài năm thì tướng Ðảo từ chức vì lý do sức khỏe. Ðại tá không quân Nguyễn Xuân Vinh kiêm nhiệm luôn việc điều hành. Từ bộ binh, lá cờ Tập thể chuyển qua không quân. Ngày xưa các tư lệnh làm việc chỉ tay năm ngón. Tất cả trông cậy cấp dưới chạy việc từ tham mưu đến binh đoàn. Ngày nay tư lệnh chỉ có một mình, đường lối thì đao to búa lớn nhưng lấy phương tiện đâu mà lên đường. Dậm chân tại chỗ để giữ được anh em là may. Rồi đến khi vị chủ tịch không quân từ chức. Từ bên trong, anh em đều biết, các nhà vận động suốt nhiều tháng trường cố gắng tìm người ra thay thế. Lập danh sách năm vị anh hùng của quân lực Việt nam Cộng Hòa trong hàng ngũ đại tá được coi là tương đối trẻ trung. Tuổi từ khoảng 75 hay 76. Tất cả đều từ chối. Tập thể đứng ở ngã ba dường. Hoặc là cứ đại hội rồi bầu ra bất cứ ai, hoặc là tan hàng. Xem như thế vai trò lãnh đạo tương đối gọi là chính thức tại hải ngoại vô cùng khó khăn. Tại sao không ai nhận công tác lãnh đạo? Xin trả lời: Tuổi già sức yếu, phương tiện không có, hoài bão lớn lao, đánh phá tưng bừng và còn gì nữa xin bổ túc cho đầy đủ một danh sách dài ...

Nhưng sau cùng dường như một người ít vấn đề nhất trong số anh em cựu chiến sĩ đã nhận lời thử thách. Phó đề đốc Hồ Văn Kỳ Thoại chấp nhận ra làm việc. Trong lá thư ngỏ ông viết rằng ra ngồi với anh em để anh em tiếp tục ngồi lại với nhau. Mục tiêu đơn giản và chân thành. Phải nhìn lại trong hàng ngũ lãnh đạo của tập thể ta có thể thấy sự cô đơn của những người tâm huyết nhiệt thành. Vị đô đốc hải quân 90 tuổi Trần văn Chơn trong ghế chủ tọa. Tướng Nguyễn khắc Bình, ngôi sao trẻ trung của quân đội ngày xưa, nay cũng đã 80 tuổi. Và thêm phó đề đốc Thoại. Các tướng lãnh Việt Nam Cộng Hòa khác đều không có mặt. Nhiều tên tuổi đã ra đi. Không còn ai là cựu tổng thống. Không còn ai là các tư lệnh Vùng của thời kỳ 75. Có vị già yếu, hoặc là đã chán chường. Chỉ cần đến để gặp anh em, nhưng các ngài cũng quản ngại. Trong hoàn cảnh đó tướng Khiêm xuất hiện, gọi là để khích lệ tinh thần. Nào ngờ mang nặng quá khứ với nhiều vấn đề, lại thêm 35 năm tránh né cộng đồng nên đã bị dư luận chỉ trích kịch liệt. Một người anh em đi dự đại hội về đã nói một câu đáng đồng tiền bát gạo. Nói rằng:”Anh em ra ngoài phơi nắng cộng đồng mấy chục năm nay, nghe chửi đã nhiều. Bây giờ cũng là dịp niên trưởng đại tướng ra phơi nắng để nghe chửi với anh em cho biết đá vàng. Gọi là chia ngọt xẻ bùi.” Như vậy phải chăng kỳ này anh em mời niên trưởng ra là để phơi nắng ông Thầy. Cùng vui hưởng những tràng pháo tay và những lời chửi rủa. Anh em sinh hoạt, bị nắng cháy gần thành than, nhờ niên trưởng ra chịu đạn thay cho anh em một thời gian.

Tiếng gọi từ biển Ðông.

Từ khi Tập thể thành hình, có một vị sinh hoạt từ đầu nhưng chẳng mang chức vụ chính thức. Nếu có hỏi đi hỏi lại thì ông chỉ nhận là liên lạc viên. Thiếu tướng Nguyễn Khắc Bình năm nay 80 tuổi, sinh quán Ba Tri thuộc tỉnh Bến Tre. Ông đã kiên trì trong vai trò kiến trúc sư xây dưng ngôi nhà Tập thể. Ðể có thể gác bỏ ngoài tai những lời phê phán, công việc đầu tiên của vị sĩ quan cao cấp về tình báo an ninh của VNCH là cắt đứt Internet. Tướng Bình yểm trợ ông Lê Minh Ðảo, tư vấn cho đại tá Vinh và ông tình nguyện làm tài xế cho đô đốc Trần Văn Chơn. Mối chân tình sâu đậm với ông cựu tư lệnh hải quân cho đến nỗi trong anh em, ông Chơn cũng gọi luôn ông tài xế Bình là đô đốc. Từ khi ông Vinh từ chức, tướng Bình đôn đáo tìm người ra gánh vác tập thể. Hết sức kiên trì, tận tụy và nhiệt thành, ông đã suy tư đi tìm nhà lãnh đạo cho giai đoạn mới. Thời cơ mới rất thời sự chính là tiếng gọi từ biển Ðông. Thành quả rất đáng kể lần này của tướng Bình có được vị chủ tọa là đô đốc nguyên tư lệnh hải quân. Ðồng thời ông mời được đại tướng Trần thiện Khiêm xuất hiện. Và sau cùng tình thế đưa đẩy phó đề đốc Hồ Văn Kỳ Thoại, quê Gò Công ra nhận công tác. Từ nay tạm thời ông Bình có thể ngủ yên và đến lượt ông Thoại mất ngủ.

Là tướng lãnh trẻ trung của hải quân Việt Nam Cộng Hòa, đề đốc Thoại đã từng có thành tích chỉ huy các chiến dịch biệt kích hải bên kia vỹ tuyến, trước khi làm tư lệnh hải quân Vùng I trong trận Hoàng Sa. Thân phụ là cụ Hồ Văn Kỳ Trân và ông nội là Hồ Biểu Chánh. Trong thời đệ nhất cộng hòa, ông Thoại là sĩ quan tùy viên của tổng thống Ngô Ðình Diệm. Khác với nhiều vị tướng lãnh, suốt 30 năm qua, ông Thoại có cơ hội tiếp tục làm việc trong công tác chỉ huy và quản trị tại các cơ quan Hoa Kỳ. Ông là người của nguyên tắc và hiểu rõ thể thức sinh hoạt chính thức của hội đoàn. Dù vậy, ra nhận trách nhiệm lãnh đạo Tập thể trong tuổi về hưu quả thực là một hành động bất thường. Nguyên do chính vì anh em, nhưng thực sự ông rất nể trọng vị tư lệnh hải quân tóc bạc 90 tuổi. Tướng Trần văn Chơn, người chỉ huy trực tiếp của ông Thoại thời kỳ Hoàng Sa 74 đã nhắc đến 60 chiến sĩ hải quân chết tại biển Ðông. Những tin tức thời sự về biển Ðông ngày nay đã đưa tâm tư người lính biển về với chiến tích oai hùng 36 năm trước. Ông Chơn nói rằng xin đề đốc Thoại hãy vì các chiến binh nằm lại Hoàng Sa mà nhận lời.

Sau bộ binh Lê Minh Ðảo, qua không quân Nguyễn Xuân Vinh, bây giờ đến hải quân Hồ Văn Kỳ Thoại lên phiên. Ông Thoại có bà vợ là giáo sư dạy học nhiều năm tại Mỹ. Bà rất hết lòng yểm trợ phu quân. Thuận vợ, thuận chồng tát biển Ðông cũng cạn. Tát cạn biển Ðông lúc đó thiên hạ cùng thấy rõ, Hoàng Sa, Trường Sa gắn liền vào Việt Nam ra sao. Nhưng ngay bây giờ, ông bà cùng chuẩn bị đón nhận búa rìu dư luận...

Một cái tóc là một cái tội.

Bất cứ người nào ra nhận trách nhiệm đều có thể lãnh búa tạ. Cuộc đời binh nghiệp cũ được đưa ra bình luận. Ðời sống 35 năm qua cũng là cả vấn đề. Anh làm gì bấy lâu nay. Anh chạy trước thì có tội bỏ anh em. Anh ở tù thì có thể thiếu tư cách, có thể đã khiếp nhược trước kẻ thù. Một cái tóc là một cái tội. Ở cái đất nước tự do này, chửi bới được hiến pháp bảo vệ trong tu chính án dân quyền. Và chửi thượng cấp ngày xưa là một cái thú vô cùng hấp dẫn. Phần lớn các bài báo và tham luận của anh em viết về quân đội thường đề cao chiến binh và mắng chửi tướng tá đã trở thành cái mốt rất thời thượng. Nhưng tôi cũng xin nói một lần để các bạn rõ. Các bạn liệt kê vô tội vạ danh sách tướng bẩn tướng sạch, tướng anh hùng tướng hèn nhát. Kể tội tá xấu tá đẹp, tá hiên ngang ở lại hay tá nhục nhã chạy làng, phần lớn đều không phải như vậy. Thành ngữ thấy vậy mà không phải vậy chính là hình ảnh của quân đội. Khi phải nói lại cho thế hệ tương lai, ta có thể nói rằng, Chúng ta đang ở thời đại của người biết chuyện không nói. Kẻ nói nhiều lại là người không biết chuyện. Các bạn có giận thế hệ đàn anh xin vui lòng chửi bới toàn thể hàng tướng tá, để anh em chúng tôi cùng chia xẻ theo tình nghĩa huynh đệ chi binh. Nếu cứ tuyên dương hay lên án theo danh sách lếu láo chính là những lầm lẫn chết người. Quân đội nào cũng thế, có kẻ xấu người tốt. Nhưng đã cùng trong hàng ngũ, nếu không phải chính phạm làm mất nước thì ta cũng là tòng phạm. Nước mất nhà tan, dậu đổ bìm leo. Chửi nữa đi em. Các em chửi là đúng quá. Nhưng cần ghi nhận rằng tội của thế hệ đàn anh làm mất nước là quan trọng nhất. Còn tội chạy trước chạy sau, dốt nát, ăn chơi, ngậm miệng ăn tiền, ba cái lẻ tẻ đó chỉ là thứ yếu. Tập thể ngày nay chẳng qua cũng chỉ là di sản về già của cuộc binh đao. Chẳng khác gì ngày xưa quân đội cũng lẫn lộn cả người xấu kẻ tốt. Trong buổi hoàng hôn, anh em ta đã ngồi lại bên nhau. Nếu không làm nên cơm cháo gì, thì cũng nên ngồi lại cùng nghe thiên hạ chửi, hầu vơi được phần nào trách nhiệm tội lỗi với non sông.

Xin các bạn ngồi lui vào, dành cho tôi một chỗ hàng đầu. Chẳng phải vì tôi nhiều tội hơn anh em, chẳng qua mình đã phơi nắng nghe chửi hơn 30 năm, trở thành điếc không sợ súng. Chửi nữa đi em ... May ra giúp các niên trưởng siêu thoát ngay trong cõi trần gian.

Chửi nữa đi em ...


Giao Chỉ - San Jose.
giaochisanjose@sbcglobal.net


Quét Sạch Chúng Đi - Thụy Ái

Thụy Ái

Theo tin báo trong nước, Sở Giáo Dục & Đào Tạo Hà Nội vừa thông báo, bắt đầu từ học kỳ 2 năm học này, tất cả học sinh từ lớp 1 đến lớp 11 sẽ được học nếp sống thanh lịch, văn minh dựa theo bộ tài liệu mà Sở vừa biên soạn.

Bản tin này nói lên điều gì? Và nó có liên quan đến những chê trách phê bình của dư luận trước những tác phong của người dân Hà Nội trong những năm gần đây hay không? Có phải đến bây giờ khi không còn thi hành được chính sách ngăn sông cấm chợ nữa, giới lãnh đạo CSVN biến thái mới thấy được cái kết quả của xây dựng con người xã hội chủ nghĩa của “bác và đảng” trong môi trường bế quan tỏa cảng đã đưa tới những tai họa lớn lao cho nếp sống dân tộc như thế nào cho nên mới vội vàng chữa cháy?

Hỏi tức là trả lời. Cái chính sách ngu dân, đấu tranh giai cấp hơn nửa thế kỷ bắt đầu từ thập niên 50 đã thay đổi toàn bộ cốt cách của nhiều thế hệ Việt Nam. Nó đã xóa sạch đi sự chất phác của người nông dân Việt nam, sự hiếu khách kiểu cách của người dân trung lưu hiểu biết thành thị mà CS gọi là tiểu tư sản, để thay vào đó là sự hung dữ, thô bạo của giai cấp mới vô sản, vô học được tuyên xưng là thành phần tiền phong của chế độ, nhưng thực ra chỉ là những công cụ bạo lực được dùng để bảo vệ chế độ gồm một nhóm lãnh đạo quỷ quyệt, đứng đầu là Hồ chí Minh.

Sức mạnh bạo lực dựa trên căm thù giai cấp áp dụng một cách không khoan nhượng trong mục tiêu gọi là xây dựng chuyên chính vô sản này đã trấn áp tất cả mọi thành phần không phải là công nông. Tất cả, muốn tồn tại thì phải yên lặng, nói trắng thành đen, và tàn nhẫn. Cái tác phong tư thái này đã khiến cho con người lớn lên trong môi trường đó trở thành vô cảm. Chỉ cần một cơn giận, một lời khích bác là có thể đánh đập hay giết người một cách vô lý. Không cần lý do chính đáng, mạng sống của một con người bất cứ lúc nào, bất kể nơi đâu cũng có thể bị lấy đi một cách thản nhiên, vô tư, bởi những người mà đa số là những thanh niên rất trẻ.

Đọc những câu chuyện trên báo Việt Nam mà thấy rùng mình. Một cụ già đi ngang thấy một tốp thanh niên tụ tập chuẩn bị đi đánh người, cụ can ngăn thì bị những thanh niên này đánh cho tới chết. Sinh viên vì muốn cưóp tài sản, đã cắt đầu người yêu và lóc các ngón tay xác chết để phi tang dấu tích, rồi cho thả đầu và các đầu lóng tay trôi sông. Cô gái xinh đẹp sau khi trải qua đêm với người yêu, đã dùng dao đâm người tình liên tục cho đến chết vì ghen tuông. Người cha hay say sưa về nhà đánh vợ con, đã bị con truyền điện giật cho tới chết. Em chặt đầu anh vì bị anh đánh. Bà chủ quán thịt rừng rút guốc đánh và chửi rửa tục tằn người phóng viên nước ngoài đã đến thâu phim quán hàng của bà ta. Người dân đi xem hội chợ hoa Nhật Bản triển lãm đã vít cành bẻ gẫy những bông hoa xinh đẹp, phá nát vườn hoa Anh Đào. Dân chúng Hà Nội đi xem chợ hoa ngày Tết đã bê các cây cảnh trưng bầy đem về nhà. Qua các clip video gần đây tung lên mạng, người ta chứng kiến các nữ sinh đánh nhau một cách dữ dội, hung bạo: nắm tóc, tát vào mặt, lên gối, thọi vào ngực, đạp lên đầu, lột áo, bắt đối phương quỳ lậy, vân vân … Sự hung dữ này của gái Hà nội đã được uốn nắn lại để mô tả trong bài viết quảng cáo Hà nội nhân dịp đại lễ ngàn năm Thăng Long của cô xướng ngôn viên Hồng Hạnh đài PHTH Hà Nội 2 là “đằm thắm, nhẹ nhàng nhưng lại vừa có gì đó mãnh liệt”, "êm dịu và mỏng mềm như ngọn lửa, vừa nấu chín cơm vừa có thể đốt cháy rừng". Những hiện tượng nữ sinh hung bạo này không phải là lẻ tẻ. Bởi vì khảo sát hiện tượng nữ sinh đánh nhau tại Hà Nội, PGS.TS. Hoàng Bá Thịnh, Chủ nhiệm Bộ môn Giới và Gia đình, Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn – ĐHQG Hà Nội đã cho thấy rằng có tới 64% các nữ sinh Hà Nội thừa nhận đã từng đánh nhau với các bạn khác.

Hồ Chí Minh cho đàn em giết vợ mình, giết người ơn, hại đồng chí để thiết lâp chuyên chính vô sản. Đảng CSVN thời toàn trị làm chư hầu cho Liên Xô Trung quốc. Lãnh đạo CS biến thái bây giờ dâng biên giới miền Bắc và các đảo biển Đông cho Tầu, còn các cán bộ quyền lực điạ phương xẻ từng mảnh đất mảnh rừng hiến cho tài phiệt ngoại quốc, nhân danh đầu tư khai thác. “Bác và Đảng” đã như thế, thì những con người mới xã hội chủ nghĩa được thúc đẩy sống và học tập theo gương đạo đức và tư tưởng bác Hồ dưới sự lãnh đạo của đảng làm sao khác được?

Với thực trạng như vậy thì làm sao có thể gọi là “tiếp cận để thay đổi”, “để canh tân” như mấy nhà chính trị thời cơ chạy hiệu? Những hô hào kiến nghị đóng góp ý kiến cho lãnh đạo, tức là những thành phần chủ chốt điều hành cái guồng máy thống trị bệnh hoạn đó - phải chăng chỉ là để biểu lộ sự chấp nhận uy quyền của cơ chế? Người đầu óc bình thường chỉ còn thấy có một giải pháp, là quét sạch chúng đi !

Thụy Ái


LUẬN VỀ 4 CHỮ ĂN CHÁO ĐÁ BÁT - Nguyễn Công Lý

Nguyễn Công Lý

Cách đây mấy tuần, trên bục giảng vào thánh lễ Chúa Nhật, linh mục Nguyễn Văn Kiên đã giảng qua về những từ ngữ như phải nhớ ơn cho những người làm phúc cho mình, ghi lòng tạc dạ v..v.., sau đó linh mục Kiên còn nói đừng hành động như kẻ ăn cháo đá bát. Không hiểu khi giảng và nói đến 4 chữ “Ăn Cháo Đá Bát” thì linh mục Kiên có hiểu rõ ràng 4 chữ này không?

Nhưng suy luận cho kỹ ở 4 chữ Ăn Cháo Đá Bát mà linh mục Kiên đã răn dạy cho giáo dân thì có thể áp dụng đúng vào những trường hợp của linh mục Nguyễn V. Kiên như sau:

1. - Bố mẹ của linh mục Kiên và nhiều đồng bào Miền Bắc đã được chính quyền của cụ Ngô Đình Diệm đem vào Nam và cho định cư tại Cái Sắn, linh mục Kiên lớn lên và để trốn lính nên xin đi tu, bây giờ đã được làm quản nhiệm một họ đạo Việt-Nam tại Honolulu. Như vậy mà hàng năm tới tháng 11 Dương Lịch là lễ cầu hồn và kỷ niệm ngày tổng thống Diệm bị thảm sát, anh em công giáo xin lễ cho cụ Diệm và xin để hình cố Tổng Thống Diệm cùng một bàn với những giáo dân khác đã qua đời, thì linh mục Kiên không cho và tiền xin lễ mồ thì bỏ túi, rồi còn nói tôi không biết ông ta là ai. Đó không phải là hành động Ăn Cháo Đá Bát hay sao?

2. - Mỗi năm tới ngày 30 tháng 4 Dương Lịch, một số anh em cựu quân nhân và giáo dân xin linh mục Kiên cho đặt một bàn thờ nhỏ có bản đồ Việt-Nam và treo lá cờ vàng ba sọc đỏ, để tưởng nhớ ngày Quốc Hận, linh mục Kiên không cho và nói tôi không làm chính trị. Vậy nhờ ai mà linh mục Kiên và gia đình được nhận vào định cư tại Hoa Kỳ? Đó không phải là một hành động Ăn Cháo Đá Bát hay sao ?

3. - Mới đây nhất là khi làm lễ tại một tư gia, linh mục Kiên đã giảng thuyết và nói nước Mỹ là một nước tư bản thối nát và sa đọa nhất thê giới . Chắc có lẽ chủng viện nào đó tại nước Mỹ không cho thầy Nguyễn Văn Kiên đậu chức linh mục và phải sang Đài Loan để thi linh mục, tuy nhiên tiếng Mỹ và tiếng Đài Loan cũng không thông thạo. Vậy mà đã đậu được chức linh mục ở Đài Loan mới là một phép lạ? rồi lại trở về Mỹ sinh sống và quay lại chửi Mỹ là quốc gia đã bao dung số rất đông người tỵ nạn Việt-Nam. Đó không phải là một hành động Ăn Cháo Đá Bát hay sao ?

4. - Linh mục Kiên di cư vào miền Nam, lớn lên ở miền Nam, được sự bảo vệ của chính quyền và quân đội miền Nam. Vậy mà dám giảng thuyết và so sánh tên đồ tể Hồ Chí Minh là một vĩ-nhân,vì không bị chôn vùi dưới lòng đất thì cũng ngang hàng với Chúa Giêsu Kitô. Chẳng những đó là một hành động Ăn Cháo Đá Bát của linh mục Kiên mà còn là tên phản bội Chúa Giêsu, như chính Giuđa đã bán Chúa Giêsu để lấy mấy chục đồng, nhưng sau đó đã hối hận và treo cổ chết, để đền tội phản bội Thầy. Riêng linh mục Kiên không hiểu đã nhận của Cộng Sản Việt-Nam bao nhiêu tiền mà dám so sánh tên đồ tể Hồ Chí Minh với Chúa Giêsu Kitô nhân từ và bác ái của chúng ta? Thử hỏi linh mục Kiên có học được một chút gì trong bài học của Giuđa, về tội phản bội Thầy của mình không? Tôi khuyên linh mục Kiên không nên treo cổ như Giuđa, mà hãy sống để thụ hưởng các món tiền đã vơ vét được của giáo dân Việt-Nam tại Hawaii.

5. - Cha Trịnh Tuấn Hoàng thuộc dòng Phaxicô, khi còn là một chủng sinh thì ngài đã tận tình giúp đỡ linh mục Kiên lúc đó mới ở Đài Loan về, tiếng Mỹ còn ú ớ, nên cha Hoàng đã hướng dẫn cho linh mục Kiên về mọi mặt và hai người rất thân với nhau, thế mà khi cha Hoàng ra Hawaii thì linh mục Kiên đã cố ý làm ngơ, như chưa hề quen biết. Đó không phải là một hành động Ăn Cháo Đá Bát hay sao?

6. - Kể về chuyện bà sơ (sister) Grace, trước đây là trưởng phòng Các Sắc Tộc tại tòa Giám Mục Honolulu, bà sơ Grace đã cố gắng giúp đở cho linh mục Kiên về Hawaii, mặc dù có những thư từ gửi lên toà Giám Mục nói là:

- Linh mục Kiên kém tiếng Anh và vừa bị Đức cha ở tòa Giám Mục San Jose’ sa thải, nhưng bà sơ Grace vẫn cố gắng thuyết phục Đúc cha Lorenzo cho linh mục Kiên về Hawaii, vì cộng đoàn đang cần một linh mục. Vậy mà khi bà sơ Grace về hưu, các cộng đoàn công giáo khác cử người đi tham dự rất đông đảo, riêng cộng đồng Việt-Nam thì các viên chức đề nghị linh mục Kiên cử người tham dự nhưng linh mục Kiên làm ngơ, nên một số anh chị em phải bỏ tiền túi ra, đóng góp với nhau, hầu mua chút quà tặng và chúc mừng cho vị ân nhân của cộng đoàn Công Giáo Việt-Nam.

Linh mục Kiên đã không nhớ ơn người đã giúp cho mình có công việc làm khi bị sa thải ở cộng đoàn Công Giáo San Jose, đang phải lêu bêu đi xin việc làm phó xứ ở tiểu bang Louisiana. Đó không phải là một hành động Ăn Cháo Đá Bát hay sao?

Con kính lạy 117 vị Thánh Tử Đạo Việt-Nam, con xin thưa là những điều con phát biểu trên đây là đúng sự thực, nếu con nói sai sự thực thì xin các Ngài vì danh Chúa mà trừng phạt con và con xin sẵn sàng đón nhận.

Một giáo dân thuộc Giáo Xứ Các Thánh Tử Đạo Việt-Nam tại Honolulu.

Nguyễn Công Lý