Thursday, September 25, 2008

Trí thức thổ tả

Lời mở đầu:

Qua nhiều lần trao đổi ý kiến giữa tôi và hai đồng môn cùng học, trước năm 1975, tại trường “Cao Đẳng Canh Nông - Sài Gòn:” một người là thuyền nhân hiện định cư tại Hoa kỳ, một người là sinh viên Việt Nam du học cao học ở Nhật (trước năm 1975) và bây giờ định cư tại Úc; tôi mạn phép được thu hợp các ý kiến này lại rồi viết lại thành ra bài nhận định này. Nội dung bàn về một giới rất “ồn ào” mà chúng ta vẫn thường gọi là “Trí thức thiên tả.”

1. Nhận định của đồng môn cư trú tại Hoa Kỳ:

Những người Việt Nam ở ngoại quốc có học vị cao rất nhiều, họ giỏi về chuyên môn, nhưng một số lớn còn rất kém cỏi về trình độ chính trị. Vì thế nên họ dễ bị cộng sản tuyên truyền rồi trở thành mù quáng, quá tin tưởng vào cái thiên đàng bánh vẽ của CHXH và cái lý thuyết trời ơi đất hỡi của đảng cộng sản. Ngày xưa (trước năm 1975) thì không nói làm gì, vì lúc đó lịch sử chưa sang trang, chưa rõ ràng; lại đi du học ngoại quốc với nổi dằn vặt quê hương đang có chiến tranh thì hình ảnh người lính bộ đội bắc Việt hay du kích của MTGPMN dễ làm cho người Việt trí thức ở ngoại quốc suy nghĩ thiên vị, không rõ đâu là chính nghĩa. Có lẽ đó là một phần nguyên nhân đã khiến họ trở thành thiên tả. Ngay tại Sài gòn vào thờì chiến tranh, sinh viên mà cứ mải, ham đọc những tạp chí như Đối diện, Thức tỉnh của Linh mục Chân Tín, Nguyễn Ngọc Lan… là muốn cuốn gói vô Hố Bò, Tam Giác Sắt, Chiến khu D… rồi; Đâu cần dùng tới bộ máy tuyên truyền bất kể hao tốn của Việt cộng.

Nhưng mà… đảng cộng sản đã cai trị đất nước trên 32 năm rồi, hồ sơ sử liệu đã được bạch hóa, cùng với sự lên tiếng của những nhân chứng còn sống từng là nạn nhân của chế độ cộng sản bạo tàn đầy rẩy đây mà.

Mình đâu có sống dai để đủ kiếp học hết bài học đắng cay này đến bài học cay đắng khác từ cộng sản. Hãy nhìn lại nổi đắng cay nghiệt ngã của kẻ đã đi vào quỹ đạo của CS. Họ là “trí thức” chứ không phải là bần nông khố rách ít học. Họ đã được cộng sản Hà nội trả công khuyển mã của họ cái gì?

Thời xa xưa kia, Nguyễn Văn Trấn (đại gia chợ Đệm) [1], Dương Bạch Mai (đại địa chủ, “parler francais” như gió) Trần Văn Giàu (lý thuyết gia cộng sản, công lao qúa xá trời trong Nam). Những người nầy đã cúng dường tam bảo CS không biết bao nhiêu của cải, tim óc, sức lực của mình cho “cách mạng” trong thời Việt minh còn mặc quần xà lỏong chơi tầm vông vạt nhọn. Năm 1975, khi về Nam, ông “khai quốc công thần” Nguyễn Văn Trấn “được” bộ chính trị CS cho công an “hầu hạ” canh gác cửa 24/24 vì thấy thả hổ về rừng nguy hiểm qúa… Mấy chục năm công lao mà CS chỉ cho người ta chức “Bật mã ôn” (giữ ngựa) thì lỡ người ta quậy thì sao? Trần Văn Giàu thì đã bị thất sủng từ lâu lắm rồi. Chủ tịch quốc hội Dương Bạch Mai thì phổi bò và thẳng ruột ngựa Nam kỳ nên được đảng cho đi chầu Lenin sớm để vừa tiện sổ sách (đóng một cái mõm hay sủa bậy!) vừa tiết kiệm ngân quỹ nhà nước. Nên biết Dương Bach Mai chết trong lúc nghỉ giải lao trong một phiên họp quốc hội CS. Nhiều nguồn tin cho biết Dương Bạch Mai uống chén nước trà bị bỏ thuốc độc (?!) Cay hơn nữa là Dương Bạch Mai còn được chính ngay kẻ đã “trừ khử” mình đến dự tang lễ khóc thống thiết làm tuồng “kính chúc đồng chí chết mạnh giỏi!” Thế mới biết chính trị cao là gì!

Gần hơn chút nữa, những tay “vô trí thức” của MTGPMN anh hùng làm được trò trống gì sau 30 tháng 4 năm 1975? Nguyễn Hữu Thọ, “người” được bác giao cho nhiệm vụ lãnh đạo mặt trợn và cũng là “người” đã đi đến cuối con đường…đã hoàn thành một cách xuất sắc nhiệm vụ mà dân tộc đã giao cho…” Ai có theo dõi tin tức, báo chí cũng biết thân phận của “người” này như thế nào trước khi đi chầu “Bác” rồi. Nguyễn Thị Định (người Giồng Trôm, Bến Tre) chưa hề biết sờ (hay bóp cò) súng đến một lần lấy hên mà lại được CS phong là “nữ tướng tóc dài,” “tư lịnh phó lực lương võ trang quân đội Giải phóng,” trong khi kẻ nhắc tuồng cho em Định là đồng chí Nguyễn Chí Thanh – một cánh tay dài của Hà nội. Sau ngày MTGPMN bị xóa sổ, em Định được làm cái giống gì (?) ở chức vụ “thứ truởng bộ thương binh” và chủ tịt hội liên hiệp phụ nữ?” Nguyễn Thị Bình (tên thật là Nguyễn Châu Sa sinh tại Sa đéc, năm 1962 mới đổi tên là Nguyễn thị Bình) “được” làm “phó chủ tịch nhà nước,” “phó trưởng ban đối ngọai trung ương đảng.” Mấy cái hàm “phó” đó cũng chỉ lại là những cái chức ngồi chơi xơi nuớc cho đẹp mắt với bà con miền Nam, đâu có ý nghĩa gì trong chế độ lúc nào cũng duy trì các Nhiếp Chính Vương (còn gọi là bộ chính trị - nếu thu hẹp hơn thì có Duẩn, Thọ, sau nầy thì thêm Mười, Anh…), khi các Nhiếp Chính Vương nầy phát cân đai áo mão cho ai thì hãy coi như hồng ân từ Bác và đảng. Sống dưới thời buổi “độc lập tự do hạnh phúc” mà “than vãn” thì cũng được CS xem như đồng nghĩa với đang chán sống; có mà tiêu tùng sớm. Còn ông giám đốc công ty đường thời Tổng thống Ngô Đình Diệm là ông Trương Như Tảng đường mía nữa chứ! Me xừ này phải chờ đến lúc CS thu hết miền Nam mới biết “đường” nào là đường trắng, đường nào là đường thẻ, may phước gài kịp “số de,” chứ chậm chân một chút nữa có thể bị tai nạn lưu thông chềt hết cả nhà (như trường hợp kịch tác gia Lưu Quang Vũ và gia đình). Đề nghị “trí thức” phe ta nên đọc cuốn “memoir” của cái gọi là “Tảng đường mía chết hụt này” (sao hắn không chết đi cho rảnh!) để cho sáng mắt sáng lòng.

Thôi, phải cất công nói chi cho xa xôi, tấm gương sát bên mình là thầy (?) Châu Tâm Luân [2] nè, bà Ngô Bá Thành [3], ông Chu Phạm Ngọc Sơn, Trần Ngọc Liễng… bằng cấp treo đầy cả tường, nhìn phát chóng mặt… hay là các ông cố đạo Nguyễn Ngọc Lan, Chân Tín không lo phận sự rao giảng phúc âm của Chúa mà cứ lo nói xa nói gần để ru ngủ người mọi người dân miền Nam bỏ súng hướng về xã hội “thiên đường.” Nhưng ngay chính cá nhân của mình lại phải đợi được đối diện thật sự với thiên đường (?) mới thức tỉnh (!)

Đừng mong đợi người cộng sản đang ngồi ghế lãnh đạo hồi tâm (còn được gọi cho hoa mỹ mị dân là “đổi mới”). Họ tra thêm son trét thêm phấn vào mặt, thay đổi ngoại hình chút chút để dễ diển màn (bỉ ổi) khác thôi. Trí thức tay mơ thấy gái bia ôm lên giọng “em đang đổi mới” mà lại dại dột “yêu em lòng chợt từ bi bất ngờ” là bỏ mẹ cả đám. Cứ rước em về nâng khai sửa tráp (văn chương bình dân giáo dục gọi là”nâng bi sửa dế”) đi, ba bảy 21 ngày là biết liền hà... Cộng sản là cái gì? Bộ chính trị là cái quái gì trong trào lưu dân chủ trên thế giới ngày nay? Các trào lưu dân chủ và nhân quyền đang làm cho họ xanh mặt, tóat mồ hôi… trán. Ở ngòai mặt hộ vẫn đang khoác cái áo cộng sản chứ thật ra họ là đại tư bản từ lâu rồi. Phải giữ cái áo cộng sản thì họ mới có thể chơi ngang, đàn áp, cầm tù, bịt mồm và cướp giật của người dân đồng thời bảo vệ tài sản đã vơ vét mà không sợ pháp luật! “Organized Crime” ở Mỹ như Mafia chỉ đáng sách dép cho mấy tên CSVN.

Trí thức mà quá kém cỏi về sự gian xảo trong chính trị thì thua là phải rồi… nhưng mà cũng thấy tội nghiêp cho cái đám trí thức lọai này, đến giờ này vẫn còn muốn thua thêm chút nữa cho nó trọn vẹn, cho nó đầy đủ, hòan tất cho nó xong phim! Bởi vậy nên anh Ba Bếp (tên gọi của “Bác” Hồ khi lên làm việc đầu bếp trên tầu buôn của Pháp từ hãng nhà Rồng Sài gòn 1910?) đâu cần học hành gì nhiều cho tốn thời giờ! Từ ngày anh Ba (bếp) bị quan Tây bác đơn (1911) xin học trường hậu bổ (của Tây thuộc địa) để làm quan cho Tây, anh Ba hơi căm, chuyển qua học nghề làm chính trị gian ác nên sai khiến hết đám trí thức nhẹ dạ dễ dàng như lấy đồ trong túi ra. Thấy mà tội nghiệp!!!

Phụ Chú:

[1] Nguyễn Văn Trấn đây là Bảy Trấn (chứ không phải là ông Nguyễn Văn Trấn hậu sinh nào đó mới “về thăm Việt Nam sau 32 năm” đâu!) Đây là Trấn “Camel” (dân cậu miệt vườn, chỉ hút thuốc lá hiệu Camel) người chợ Đệm Long An, loại trí thức địa chủ, một đại thụ của cộng sản thời thập niên 30… Đại thụ nầy là tác gỉa cuốn sách “Viết cho mẹ và quốc hội;” hắn cùng cỡ tuổi với các tên trùm CS như Trần Văn Giàu, Dương Bạch Mai, Ung Văn Khiêm… đã bỏ lúa ruộng không ai thâu, nhà lầu không ai ở để đi theo cộng sản. Nguyễn Văn Trấn đã từng là chính ủy khu 9 (miền Tây nam bộ), chủ nhiệm báo “Le Peuple” đấu tranh công khai với thực dân thời cộng sản miền nam như vịt mới ra ràng. Tập kết ra bắc (cùng lúc với Tô Ký, Đồng Văn Cống, Huỳnh Văn Nghệ...) Sau này Lê Duẩn không cho Nguyễn Văn Trấn được đến một cục xương còn dính chút thịt để gặm cho đỡ tủi! Về Nam sau năm 75, chả có chức vụ gì dù đã có 62 tuổi đảng (tính đến năm 1997), ôm nỗi uất ức cho tới ngày chết.

[2] Ông Châu Tâm Luân người Việt gốc “xì dầu củ cải muối,” được đi du học Hoa kỳ bằng học bổng quôc gia của VNCH, tốt nghiệp Tiến sĩ Kinh tế (đại học Illinois năm 1966?), về Việt Nam cuối thập niên 60, dậy môn “Kinh tế nông thôn” và “Quản trị nông trại” tại Trung tâm quốc gia Nông nghiệp (TTQGNN) Sài gòn (và cũng dậy môn Kinh tế tại đại học Vạn Hạnh). Ông Châu Tâm Luân đã có lần giữ chức vụ “Gíam đốc” TTQGNN (gồm cả 3 trường Cao đẳng Canh nông, Cao đẳng Thủy lâm và Cao đẳng Thú y Sài gòn) trong một thời gian ngắn (vào giai đọan mà các chính trị gia mới trổ mã dậy thì Hùynh Tấn Mẫm và Lê Văn Nuôi sách động sinh viên, học sinh Sài gòn “xuống đường” biểu tình chống Mỹ và chống chính phủ VNCH mạnh mẽ nhất). Trong các lớp học kinh tế mà ông Luân dậy, ông công khai giảng cho sinh viên là “Xả hội chủ nghĩa là con đường duy nhất (sic) để đưa Việt Nam đến vinh quang (Giỏi nhỉ! Tiến sĩ này chép y chang lại lời của việt gian HCM)” mà không hề thấy ông ta bị Công an cảnh sát của chính phủ VNCH đến hỏi thăm(?) – Có lẽ ông ta “too visible!”lúc bấy giờ vì thường xuyên được truyền thông của Mỹ đến trường phóng vấn dài dài (đài CBS, NBC, ABC…) Vào những năm, những ngày cuối cùng của VNCH, ông xì dầu Luân đứng cùng danh sách với các nhân vật của “thành phần (lòng tòong ở chính giữa!) gọi là thứ 3,” rất ồn ào hô hào hòa giải hòa hợp dân tộc… Sau 30 tháng 4 năm 1975, con vẹt ngây thơ này không được CS dùng đến 1 ngày để quát lá đa (không phải đi “cải tạo” vì đã tốt nghiệp tiến sĩ tại Hoa kỳ là may lắm rồi). Sau đó ông Châu Tâm Luân trốn vượt biên đi định cư ở ngọai quốc (hình như là Thụy sĩ? Chứ Mỹ chắc chắn là họ không chấp nhận con két “thổ tả” này! )

[3] Bà (?) Ngô Bá Thành tên thật là Phạm Thị Thanh Vân (Ngô bá Thành là tên chồng của bà). Ông Ngô Bá Thành cũng là công chức của VNCH, dậy học trường Cao đẳng Canh nông Sài Gòn. Kể ra chinh phủ VNCH dân chủ và dễ dãi thiệt, vẫn trả lương tháng đầy đủ, vẫn cho ông Ngô bá Thành dậy học như chẳng hề có chuyện gì xẩy ra… Bà Thành tốt nghiệp tiến sĩ Luật tại Pháp và sau đó có học và làm việc trong một thời gian ngắn tại đại học Columbia (New York) Hoa Kỳ. Ở Sàigòn, bà Ngô bá láp này tự phong cho mình là “chủ tịt” của “Phong trào phụ nữ đòi quyền sướng;” biểu tình, tuyệt thực chống chính phủ VNCH (và sự hiện diện của đồng minh ở Việt Nam) rất kịch liệt. Sau 30 tháng 4 năm 1975 được CS cho làm đại biểu quốc hội CS trong 3 khóa (6,7 và 8). Đến khóa 9 thì bị gạt ra. Bà chỉ tuyên bố sự tức giận của mình (bà cho là mình bị gian lận bầu cử? Xin nhờ bà một tí: Chế độ CS làm quái gì có bầu cử một cách dân chủ?) qua sự phỏng vấn của đài BBC chứ chả bao giờ dám biểu tình hay tuyệt thực gì cả? (nên biết, CS chỉ chờ bà này tuyệt thực là tụi nó “cúp” nước luôn thì có mà uống nước tè!)

2. Nhận định của đồng môn cư trú tại Úc:

Về Thành phần thứ ba (còn được bà con miền Nam gọi là “bộ phận nằm ở giữa!”) hay còn gọi là cho oai, cho kêu là "Trí thức thiên tả!"

Đa số họ là những người đi du học thời VNCH (con nhà nghèo đi học bổng quốc gia cũng có; con nhà giàu - đại đa số - đi du học tự túc cũng có…) mà lại theo, hay ít ra cũng thích làm dáng CS!? (cái vụ nầy nghe hơi nghịch lý khó tin nhưng là chuyện có thiệt – còn gọi nôm na là “ăn cơm quốc gia thờ ma CS”).

Tôi có những người bạn thân hồi học đại học ở Sài gòn vô bưng theo CS (giờ thì có ít danh phận, con cái đi du học tự túc ở Mỹ hay Canada) và những người bạn “thiên tả”của lúc tôi qua Nhật du học (bây giờ họ vẫn còn thiên tả một cách thầm lặng - tức là không ồn ào binh vực chính quyền CS như xưa - nhưng hầu như vẫn còn mong mỏi CS đổi mới, hồi tâm y như người vợ đã bị chồng bỏ theo vợ bé nhưng vẫn mong chồng có ngày quay trở về mái gia đình xưa!!!). Ở ngọai quốc, CS Bắc Việt thi hành triệt để chính sách tuyên truyền. Qua hình ảnh (tuyên truyền), họ là “những người đại diện cho một quốc gia nghèo khó nhưng quyết tâm chống lại cuộc chiến tranh ‘xâm lược’ của Mỹ!!!” Thế giới và sinh viên Nhật lúc đó còn mông nuội và tin lời dối trá (như vẹm) của họ. Những vụ như Mỹ Lai được thiên hạ biết rất nhiều và hình ảnh người lính VNCH bị xem như là “lính đánh thuê”... lãnh thổ VNCH bị xem như một cái thùng rác để các chính trị gia Mỹ (ngạo mạn) và các ông lãnh đạo Việt Nam (bất xứng) tự tiện phóng uế bừa bãi ...

Tôi cũng có những người bạn thân “thiên tả” đã “can đảm” về Việt Nam sau 1975 làm việc (khỏang đầu năm 1980). Đa số bây giờ nếu không nghèo thì cũng không giàu nhưng tạm đủ để gởi con đi du học xứ ngoài. Con cái họ muốn đi học bổng nhà nước thì chắc không được rồi vì lý lịch không nặng cân bằng mấy tay vô bưng hay cán bộ CS ngoài Bắc. Nhưng họ cũng không dám nói gì ngoài chuyện khuyên tôi có về thì “đợi khi già có tiền hưu rồi hãy về sống với tiền hưu của mầy." Tôi đã có lần hỏi thử họ là “muốn làm cái gì để đóng góp cho quê hương thì phải làm gì?" thì được họ trả lời là “về Việt Nam chơi, đem tiền về xài cũng là đã đóng góp cho quê hương rồi!!!” Tôi nghĩ đây là câu trả lời này nghe thấy nửa chua chát nửa khôi hài nhưng là câu trả lời chân thật nhất của họ.

Tôi cũng đã có nhiều cơ hội tiếp xúc với những đàn anh, đàn em “thiên tả” hồi học ở Nhật cũng như bây giờ sống và làm việc bên Úc. Tôi dự định trong tương lai sẽ viết về họ một cách khách quan, trình bày những “political psychology,” “paranoia,” “ autism...” của họ.

Có điều là “thiên tả trầm lặng ở ngoài” (mà muốn về Việt Nam) hay “thiên tả im lặng ở trong nước” (muốn trốn ra ngọai quốc) đều có chung một tâm lý: cả hai hình như lúc nào nơm nớp sợ Công an CS bắt (nên nhớ là CS chủ trương “bắt và giết lầm hơn tha lầm!”). CS đã có rất nhiều tuyệt chiêu và sáng kiến về sự bắt bớ này: khi bắt chẳng những họ bắt đương sự mà còn bắt luôn cả gia đình đương sự để khủng bố. Thí dụ như hồi bắt lính đi “Kampuchia” năm 1980, thằng em vợ tôi trốn lính (CS gọi là trốn “nghĩa vụ quân sự!”) công an phường bắt bà mẹ vợ tôi mỗi ngày phải lên phường “làm việc” liên tục trong 3 tháng trời, hăm he sẽ bỏ tù bà cụ nếu em tôi không ra trình diện). Lọai “Thiên tả” này không bao giờ sợ Cảnh sát tư bản vì khi bị bắt ít ra còn có luật sư bào chữa, báo chí truyền thông hô hóan là vi phạm “human right” dùm!

Riêng “thiên tả ở ngoài nước” dầu “trầm lặng” hay vẫn còn “ồn ào” ủng hộ CS bằng cách thỉnh thỏang rình rập cơ hội xả rác, phê bình đá giò lái, chọc gậy bánh xe tư bản Mỹ, Anh, Pháp, Úc etc... thì đều có chung một đặc điểm: “Vẫn đi cày lảnh lương ở xứ người cho đến ngày tàn hơi, mà không bao giờ dám về làm việc luôn dưới chính quyền CS để xây dựng CHXHVN độc lập - tự do – hạnh phúc!!!" Bởi vì họ biết thừa là về Việt Nam sẽ bị “thổ tả” đầy quần ngay!!!

Tôi không biết luật Nhân Quả của nhà Phật sẽ áp dụng như thế nào vào các hòan cảnh (“thiên tả”) này? Muốn bàn thêm nhưng lại sợ bị đụng chạm!! Thành ra… tốt nhất là im cho được việc thôi! Có điều tôi tin rằng “muốn biết những gì họ có trong tương lai thì hãy nhìn những gì họ làm trong quá khứ và hiện tại." Đôi khi biết phân tích mà không dám (hay không có cách) giải quyết được cũng là cái khổ của đời sống.

Nghĩ lại đôi khi tôi cũng thấy “thông cảm” cho mấy ông “thiên tả” bạn hay đàn anh của tôi: cái khổ của người bên phe thua cuộc như tôi thì nó quá rõ ràng nên không có gì ấm ức, ít ra còn có đối tượng để “chửi bới” cho đã miệng khi giận; còn cái khổ của “kẻ đứng trong hàng ngũ chiến thắng” sau khi thấy “xã hội chủ nghĩa” lý tưởng của mình không hơn câu nói thực tế của tài phiệt báo chí lá cải (tabloid papers) Rupert Murdock (người Úc quốc tịch Mỹ):

“Khi còn trẻ mà không có lý tưởng xã hội thì mình là người không có con tim; còn vào tuổi trung niên mà vẫn còn ôm ấp "xã hội chủ nghĩa" thì mình là người không có đầu óc (mindless)."

Mấy ông nội trong bộ chính trị CSVN xem ra biết áp dụng câu nói nầy; còn mấy ông “trí thức thiên tả” thì vẫn còn ôm ấp nó; dù đã vào lứa tuổi lục (hay thất) tuần rồi nên đó là nỗi khổ thiên thu của “loài chó hoang” không biết phải trở về với chủng loại nào cho hợp: Lòai chó hay lòai chồn…??!!

Trần Văn Giang


Dân Chủ: Sóng Ngầm Và Bão Nổi

Đỗ Thái Nhiên

Vào nửa đêm rạng sáng ngày 19/09/2008, trên khu đất của họ đạo Thái Hà, có hai thanh niên lực lưỡng mang một chậu dầu mỡ, trộn lẫn mắm tôm, hắt lên bàn thờ Đức Mẹ giữa lúc nghi thức cầu nguyện đang tiến hành. Lập tức vài giáo dân chạy đi trình báo toán công an ngồi canh gác gần đó. Thế nhưng nhóm công an này án binh bất động. Rõ ràng là công an và thanh niên du đãng đã phối hợp với nhau trong việc khiêu khích dân chúng Thái Hà. Dĩ nhiên, Thái Hà lòng buồn vô han, căm giận ngút ngàn, nhưng đành phải nén nước mắt, quyết tâm ôm lấy phương châm “bất bạo động”

Chỉ vài tiếng đồng hồ sau vụ Thái Hà bị tấn công bằng mắm tôm, sáng sớm ngày 19/09/2008 khu Tòa Khâm Sứ Hà Nội bất ngờ bị tràn ngập bởi tiếng vận chuyển ầm ỉ của các loại xe cơ giới xây dựng cầu đường. Thêm vào đó, vô số công an thuộc nhiều đơn vị khác nhau với sự tăng cường của chó ngiệp vụ canh gác các chốt an ninh dẫn vào khu vực Tòa Khâm Sứ. Hỏi ra mới biết: đang khi Tòa Tổng Giám Mục Hà Nội và Nhà cầm quyền CSVN thương lượng để tìm giải pháp cho vu tranh chấp đất đai tại tòa khâm sứ thì chế độ Hà Nội đột ngột quyết định biến khu đất Tòa Khâm Sứ thành công viên. Như vậy, thay vì trả tòa khâm sứ lại cho tổng giáo phận Hà Nội như đã hứa, CSVN chạy làng bằng lá bài công viên cây xanh. Trong khi đó, giáo dân Hà Nội, có khi lên tới 5000 người, vẫn bình tâm đọc kinh cầu nguyện, xin cho công lý và hòa bình đến với Việt Nam. Mặc dầu bi công an gây ra đủ loại khó khăn, nghi thức cầu nguyện vẫn diễn ra liên tục trong các ngày thứ sáu 19, thứ bảy 20 và chủ nhật 21/09/2008.

Giữa lúc mọi người đang tập trung chú ý tới Tòa Khâm Sứ thì bất thình lình Thái Hà bị tấn công vào đêm ngày 21/09/2008 và các ngày kế tiếp. Chế độ Hà Nội vân dụng tất cả ma thuật du đảng để đánh vào Thái Hà. CS bao vây Thái Hà bằng công an, chó săn, hàng rào kẽm gai. CS huy động hàng trăm đoàn viên thanh niên Cộng Sản xông vào nhà thờ, tu viện Thái Hà đập phá tài sản, phun nước bọt, chửi bới giới linh mục và giáo dân bằng những lời lẽ cực kỳ vô văn hóa. CS thiết lập hệ thống loa phóng thanh hướng thẳng vào tu viên Dòng Chúa Cứu Thế và nhà thờ Thái Hà, cho phát ra những âm thanh quái ác với cường độ cực lớn nhằm làm cho tu sĩ và giáo dân hoàn toàn không thể đọc kinh hay cầu nguyện. Đây là phương pháp khủng bố vừa tinh thần vùa thể xác mà Hitler đã sử dụng thời đệ nhị thế chiến. Cuối cùng ngày 24/09/2008, vẫn với cung cách làm việc lấp liếm của những kẻ bất chính, chế độ Hà Nội vội vàng đưa ra quy hoạch biến lô đất 178 Nguyễn Lương Bằng thành công viên cây xanh.

Những trận đột kích do Hà Nội điều động lấy Dòng Chúa Cứu Thế và Tòa Tổng Giám Mục Hà Nội làm mục tiêu trông có vẻ muôn hình vạn trạng nhưng tựu trung lại chỉ là chiến thuật dương đông kích tây của những tay chuyên sống bằng nghề đá cá, lăn dưa tại các chợ Bến Thành Saigon, Đồng Xuân Hà Nội. Cả võ Bến Thành lẫn võ Đồng Xuân không thể làm cho vị Tổng Giám Mục Hà Nội nao núng. Vì vậy, Hà Nội phải tìm cơ hội khác để có thể tấn công Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt một cách độc hiểm hơn. Cơ hội đó như sau: ngày thứ bảy 20/09/2008 nhân cuộc gặp mặt với UBNDTP Hà Nội, Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt có phát biểu một số ý kiến, trong đó có đoạn nói rằng:

“Chúng tôi đi nước ngoài rt nhiu, chúng tôi rt nhc nhã khi cầm cái h chiếu Vit Nam. Đi đâu cũng b soi xét , chúng tôi bun lm ch, chúng tôi mong mun mình mnh lên. Làm sao như mt anh Nht, nó cm cái h chiếu là đi qua tt c mi nơi, không ai xem xét gì c. Anh Hàn Quc bây gi cũng thế. Còn người Vit Nam chúng ta thì tôi cũng mong đt nước ln mnh lm và làm sao tht s đoàn kết, tht s tt đp, đ cho đt nước chúng ta mnh, đi đâu chúng ta cũng được kính trng.”

Hà Nội và hệ thống truyền thông của Hà Nội vội vã nắm lấy nhóm chữ: “Chúng tôi rất nhục nhã khi cầm hộ chiếu Việt Nam” để mạnh mẽ lên án Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt phản quốc!

Muốn tìm hiểu ý nghĩa của một câu văn, người khảo sát cần làm việc theo hai chuẩn mực: dòng văn và mạch ý. Trích nguyên văn, không cắt đầu, cắt đuôi. Đó là tôn trọng dòng văn. Ý của hai đoạn văn trước và sau câu-nói-gây-tranh-cãi là những ý nào. Đó là sự kết nối thích nghi của dòng ý. Trước khi đề cập tới hộ chiếu Việt Nam tại các phi trường quốc tế, Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt đã đặt vấn đề khu đất số 42 Tòa Khâm Sứ. Cách đây nhiều thập niên khu đất này bị CSVN tịch thu kiểu luật rừng, không hề có giấy tờ chứng minh. Vì vậy khi tranh luận về căn bản pháp lý của hành động tịch thu đất số 42, UBNDTP Hà Nội kêu gọi hãy giải quyết vấn đề “theo tình người”. Ngược lại TGM Ngô Quang Kiệt chủ trương “V phương din pháp lut chúng ta phi làm theo pháp lut, thì cái gì cũng phi có cơ s pháp lý (Hết lời dẫn). Kế đến, TGM Kiệt nhấn mạnh: “Chúng ta phi sng theo lut pháp”. Mặt khác, do thiện ý muốn giữ phép lịch sự đối với UBNDTP Hà Nội, Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt không nói thành bạch văn hậu quả của tình trạng sống không theo luật pháp, nhưng những người tinh ý đều hiểu rằng “không theo luật pháp” đồng nghĩa với tham ô, rửa tiền và buôn lậu. Các tội phạm kia chỉ có đảng viên CSVN mới “được quyền” trở thành bị can. Các tội phạm kia nhiều và nổi tiếng đến độ những người mang hộ chiếu Việt Nam bị chú ý tại phi trường quốc tế các loại. Nhớ rằng tuyệt đa số những người mang hộ chiếu Việt Nam đều là đảng viên và gia đình đảng viên. Và nhớ rằng nhóm chữ “đi đâu cũng bị soi xét” hàm ý bị nghi ngờ buôn lậu Đó là tất cả các lý do giải thích tai sao Tổng Giám Muc Ngô Quang Kiệt nói rằng: “Chúng tôi rất nhục nhã khi cầm cái hộ chiếu Việt Nam, đi đâu cũng bị soi xét”. Muốn hết nhuc thì đất nước chúng ta phải mạnh, tức là việc điều hành xã hội “phi có lý lun xây dng tht vng chc trên nn tng pháp lý” (Hết lời dẫn ).

Như vậy, khi tách riêng một câu nói ra khỏi dòng văn, mạch ý để lên án TGM Ngô Quang Kiệt phản quốc, chế độ Hà Nội đã tỏ ra vô văn hóa hoặc giả vờ vô văn hóa.

Một ngày trước trước khi cắt xén ngôn ngữ để bóp méo nội dung lời phát biểu của Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt, CSVN đã cố ý đả thương một ký giả Hoa Kỳ. Ngày 19/09/08 hãng thông tấn Associated Press của Hoa Kỳ cho hay ông Ben Stocking trưởng đại diện của AP tại Hà Nội đã bị đấm, bị bóp cổ, và đập vào đầu khi lấy tin về cuộc cầu nguyện của giáo dân tại khu vực tòa khâm sứ. CSVN đã tịch thâu máy ảnh của ông Stocking, đến nay vẫn chưa hoàn lại. AP là hãng tin lớn hàng đầu của thế giới. Bộ ngoại giao Hoa Kỳ cùng tổ chức Phóng Viên Không Biên Giới và Ủy Ban Bảo Vệ Nhà Báo đều mạnh mẽ phản đối CSVN về hành động hành hung ký giả.

Càng ngày CSVN càng tỏ ra quyết tâm đánh Đông, diệt Tây để bảo vệ cho đến cùng đất đai họ đã cướp được từ tay nhân dân. Do đâu mà CSVN có quyết tâm kia? Phải chăng đó là bài học của quan thầy Trung Quốc? Thưa không phải như vậy! Ngày 23/09/2008 trả lời phỏng vấn của đài BBC luân đôn, tiến sĩ Tăng Chuyên Huy, Học Viện Khoa Học Xã Hội Trung Quốc, cho biết: “Thi kỳ ci cách nhng năm 1950, chính ph Trung Quốc tch thu đt, bt k đt ca Công Giáo hay Pht Giáo đ phc v cho mc đích ca nhà nước. Nhưng khong 20 năm sau đó, tc thp niên 1970, chính ph dn tr li đt đai cho tôn giáo. Thm chí các nhà th cũ thường nhng v trí rt đp trong thành ph, nếu chính ph Trung Quc mun trưng dng hoàn toàn nhng khu đt này, h phi tr tin theo đúng thi giá hoc cung cp cho các giáo hi liên h nhng lô đt khác ln hơn. Tôi nghĩ phi t 80% đến 90% tài sn ca các giáo hi đã được hoàn tr. (Hết lời dẫn)

Tại sao CSVN không theo gương quan thầy Trung Quốc đệ trả laị đất đai cho nhân dân? Chúng ta hãy đi tìm giải đáp cho câu hỏi vừa nêu bằng cách kiểm điểm những thắng và những thua trong cuộc đụng độ về đất đai giữa triều đình Hà Nội và giáo hội Công Giáo Hà Nội.

Trước tiên, hãy nói về những thua: Lý do nào đã khiến cho hơn nữa thế kỷ qua CSVN không xây dựng công viên trên đất Thái Hà và Tòa Khâm Sứ ? Thưa rằng CSVN cố tình bỏ hoang hai miếng đất kia để chờ cơ hội thuận tiên sẽ biến chúng thành tài sản riêng của tư bản đỏ. Như mọi người đã biết trong lịch sử cướp đất của nhân dân, CSVN chưa hề, dầu chỉ một lần, trả lại cho dân một tấc đất. Ngày nay, trước khí thế của giáo dân Hà Nội, CSVN đành phải dùng hai đồ án xây dựng công viên để che thân: cái- thân- bỏ- của- chạy- lấy- người. Đó là nội dung thua thứ nhất.

Thua thứ nhất kéo theo thua thứ hai, CSVN quyết định và xây dựng hai công viên với tốc độ làm việc của lính cứu hỏa. CSVN sợ rằng nếu chậm tay xây dựng, lòng căm giận của người dân lên quá cao, lúc bấy giờ vấn đề an ninh xã hội vượt ra ngoài tầm kiểm soát cùa Hà Nội. Từ nhiều năm nay, CSVN bao giờ cũng tự nhân là cha mẹ của nhân dân. Tháng 09/2008 là thời điểm giáo dân Hà Nội dạy cho CSVN bài học về sức mạnh của lòng dân. Dân thắng tức là đảng thua.

Bây giờ hãy nói về dân thắng. Ngày 20/09/2008 trong lần gặp mặt giữa UBNDTP Hà Nội và Tòa Tổng Giám Mục Hà Nội, với chủ ý thuyết phục giáo dân ngưng đòi đất, ông chủ tịch UBNDTP kể lể rằng: “UBNDTP đã tạo rất nhiều điều kiện cho giáo hội Công Giáo trong những năm vừa qua, nhất là dịp lễ Noel …”.

Đáp lời ông chủ tịch TP Hà Nội, TGM Ngô Quang Kiệt đã thẳng thắn nhận định: “Khi nói ta điu kin vn còn mang cái tâm lý “xin cho”. Tiếp đó TGM Ngô Quang Kiệt nhấn mạnh: “T do tôn giáo là quyn ch không phi là cái ân- hu-xin -cho”. Có thể nói đây là lần đầu tiên một công dân Việt Nam mạnh mẽ tuyên xưng quyền tự do tôn giáo, quyền dân chủ của người dân trước mặt giới chức lãnh đạo cao cấp của CSVN. Nó là một tuyên ngôn dân chủ có tác động vang dội nhất. Nó là thắng lợi chính trị ngoạn mục hàng đầu trong những giao đấu giữa giáo hội Công Giáo Hà Nội với triều đình Hà Nôi.

Mặt khác, tuy chưa lấy lại được đất đai như ý muốn nhưng Tòa Tổng Giám Mục Hà Nội đã làm cho CS Hà Nội thức tĩnh rằng: từ đây giai đoạn tự do cưởng đoạt và tùy tiện sử dụng đất đai cùa quần chúng nhân dân đã chấm dứt.

Hơn thế nữa, Tòa Tổng Giám Mục Hà Nội là một xã hội dân sự. Mỗi lần xã hội dân sư “đụng độ” với chế độ độc tài là một cơ hội để xã hội dân sự thực tập tẩy rửa tâm lý sợ sệt bạo lực của độc tài. Ngày nào xã hộdân sự hết sợ con ma độc tài, ngày đó chế độ bạo quyền Hà Nội cáo chung.

Nói tóm lại chính vì không theo gương quan thầy Trung Quốc để trả lại đất đai cho nhân dân, chiếc ghế cai trị của CSVN đang dần dần mất thăng bằng. Tuy nhiên, từ mất thăng bằng cho đến hoàn toàn xụp đỗ vẫn còn một khoảng cách với nhiều nan đề mà phe dân chủ cần quan tâm. Nan đề trọng yếu hàng đầu nằm ở sự thể rằng: lịch sử của CSVN chính là lịch sử của vô số trường hợp CSVN vừa hầu hạ vừa dựa vào uy thế của ngoại bang để “ổn định chính trị Việt Nam” thông qua chính sách khủng bố và bóc lột người dân.

Tin tức thời sự trong các tuần lễ vừa qua cho thấy Hoa Kỳ ngày càng gặp nhiều khó khăn trong việc đưa bộ binh Mỹ vào chiến trường Trung Đông, nhất là chiến trường nằm dọc theo biên giới giữa Afghanistan và Pakistan. Vì an ninh của chính Hoa Kỳ, chính phủ Mỹ , dầu là Dân Chủ hay Cộng Hòa, đều không thể bỏ Trung Đông như đã bỏ miền Nam Việt Nam. Trong khi đó “bán dân” là hành động có tính truyền thống của CSVN. Bán dân những năm sau 1975 gọi là “Vượt biên bán chính thức”. Bán thanh niên nam nữ gọi là “xuất khẩu lao động”. Bán phụ nữ gọi là chương trình “lấy chồng nước ngoài”. Bán trẻ em gọi là “chế độ tân nô lệ” được che đậy bởi các loại hợp đồng con nuôi. Nay mai nếu CSVN phát động phong trào “xuất khẩu lính Việt Nam” qua Trung Đông chắc hẳn thế giới sẽ không ngạc nhiên. Trong trường hợp này quan hệ giữa Hoa Kỳ và CSVN sẽ rất mật thiết. Trong trường hợp này các thế lực đấu tranh cho dân chủ Việt Nam sẽ phải đương đầu với những khó khăn mới. Khó khăn không có nghĩa là không thể vượt qua. Hoa Kỳ là quốc gia không ngừng vươn lên dựa vào hai cập đối lập trọng yếu. Đối lập hành pháp và lập pháp. Đối lập Dân Chủ và Cộng Hòa. Trên biên cương giữa những đối lập kia, người Việt Nam sẽ mang dân chủ về cho Việt Nam.

Đỗ Thái Nhiên

Hình Hoà Lan Biểu Tình chống vc Phạm Gia Khiêm

VNO-NCW Vereniging
Bezuidenhoutseweg 12
2594 AV Den Haag
LÚC 9:00 SÁNG THỨ 6 NGÀY 19 THÁNG 9 NĂM 2008












































Ăn Cháo Đá Bát

Hoàng Hải Thủy

Tôi gọi họ là những người vô ơn, là bọn bạc nghĩa, bọn bất lương, bọn ăn cháo, đá bát. Sau Ngày 30 Tháng Tư 1975, tuy không nhiều, nhưng phải nói là có khá đông bọn ăn cháo, đá bát trong giới văn nghệ sĩ Sài Gòn.

Như tên Đá Bát Trịnh công Sơn. Toàn bộ sáng tác của Y được thực hiện trong Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà. Quốc Gia, và người Quốc Gia, rộng lượng thương tài Y, cho Y sống yên để Y sáng tác những bài nhạc mang tinh thần phản chiến, bài Mỹ. Quốc Gia VNCH, và người Quốc Gia, coi Y là một người dân của Quốc Gia. Nếu Trịnh công Sơn sống ở miền Bắc Xã Hội Chủ Nghĩa, nếu Y không chết ngắc Y chỉ là một anh dân ngu cu đen, làm gì có chuyện Y sáng tác nhạc phản chiến và nhạc của Y được truyền bá trong nhân dân. Nếu Y là người, hay Y có chút síu Tình Người, Y phải mang ơn Quốc Gia VNCH và những người Quốc Gia VNCH đã cho Y sống để Y làm nhạc.

Sau 1975 Trịnh công Sơn sáng tác, tối tác được cái gì gọi là ra hồn? Một con Dzê-rô nhỏ như cái tĩ con gà mái.

Anh Văn sĩ Sơn Nam cũng vô ơn như Trịnh công Sơn, tất cả những tác phẩm của Sơn Nam đều được viết ở Sài Gòn từ năm 1954. Sơn Nam thành danh Nhà Văn, Nhà Biên Khảo ở Sài Gòn. Chính quyền VNCH biết anh là dân kháng chiến làm văn nghệ ở khu về thành, nhưng chỉ bắt giam anh khoảng một năm, rồi thả anh, cho anh ở Sài Gòn anh tự do viết sách. Sơn Nam thành danh là nhờ chính quyền VNCH nương tay cho sống. Những người có quyền, có thể bắt giam anh, hay bằng cách này hay cách khác, ngăn cấm anh hành nghề viết sách, chắc đã nghĩ rất có tình người về cá nhân Sơn Nam: “Hắn ở khu Việt Minh về, nhưng hắn chịu ở yên, không quấy phá, để cho hắn sống, khi nào hắn quậy phá ta sẽ tính.” Nhờ sự đại lượng ấy Sơn Nam mới sống được trong 20 năm ở Sài Gòn, mới viết được những tác phẩm biên khảo làm anh nổi tiếng. Như Vương Hồng Sển chịu ơn Quốc Gia trong 70 năm, Sơn Nam chịu ơn Quốc Gia VNCH trong 20 năm, lẽ ra Y phải biết ơn Quốc Gia VNCH.

Nhưng như Vương Hồng Sển, Y ta — Sơn Nam — đã trâng tráo vô ơn với Quốc Gia VNCH, Y là một trong những thằng văn nhân vô hạnh ăn cháo đá bát. Y chết, nhiều người viết ở hải ngoại viết bài thương tiếc Y, đề cao Y, bùi ngùi nói lời vĩnh biệt Y, chúc Y yên nghỉ trong cõi vĩnh hằng!

Không có tôi trong số những người đó.

Mời quí vị đọc vài đoạn văn Sơn Nam viết trong cái gọi là “Hồi Ký 20 Năm giữa lòng Đô Thị,” xuất bản ở Sài Gòn năm 2002. Đây là đoạn Đá Bát Sơn Nam viết về trận đánh Tết Mậu Thân:

Sơn Nam. Hồi Ký. Tập 3. Trang 77, 78, 79.

Hừng sáng, thức dậy khi nghe người hàng xóm gọi. Đài Truyền Hình, bấy giờ còn mới mẻ cứ phát mãi nhiều lần bản nhạc mừng Xuân! Bấy giờ, máy truyền hình mới nhập, giá cao, trong xóm chẳng mấy người mua sắm nổi. Đến quán cà phê đầu đường hẻm, vài người ăn nói bình thản:

- Đài truyền hình mà ngọng nghịu.

Truyền hình mà ngọng nghịu, ắt là nhân viên đi vắng, biệt tăm tích. Nhất định là có đảo chánh nữa. Không biết tụi Mỹ muốn cái gì.

Nhưng súng lại nổ đì đẹt xa xa. Cái gì đây? Xe buýt không còn chạy như ngày thường. Lập tức, tôi gọi xích lô máy đi về phiá Quận Nhất, nơi tập trung các tờ nhật báo lớn. Nhất định là dịp này các phóng viên tha hồ săn tin. Nhưng chưa chi, anh phu xích-lô dừng lại ngay Ngã Sáu — Lý Thái Tổ, nơi có chừng 5 chiếc xe tải đậu lại, chặn giữa lòng đường, ngổn ngang. Anh phu xích-lô như hoảng sợ:

- Chẳng lẽ đảo chính?

Tôi thì giựt mình: Quân đội Giải Phóng đã vào nội thành quá táo bạo. Quân đội Mỹ đâu mất rồi?

Tôi xuống xe, trả tiền, nhìn trở ngược phiá sau. Đúng là tấn thối lưỡng nan. Đi dọc theo đường Lý Thái Tổ, ngay đầu hẻm, một cậu bé lanh lợi đứng sẵn:

- Cậu Hai ơi, vô trong này mà chơi trong giây lát. Ngộ lắm. Chưa bao giờ vui như vầy.

Độ ba cậu trai ngồi lom khom trên mái ngói. Tôi vào nhà, khung cảnh rộn rịp. Hai ba trái dưa hấu đặt trên bộ ván. Cô cán bộ — áo bà ba trắng, quần đen — xin muợn của chủ nhà cây dao to. Cô xẻ dưa ra, mời, ăn dưa dịp Tết. Kẻ trước, người sau, mọi người cùng ăn. Súng nổ từng loạt xa xa, tôi chẳng phân biệt tiếng nào của ta, tiếng nào của địch. Có tiếng gọi nhanh. Một cậu bé vuốt vầng trán ướt mồ hôi đi sau anh cán bộ lớn tuổi. Cậu bé đến xin nhập ngũ, do cán bộ cơ sở nội thành giới thiệu. Được trao cho khẩu súng, cậu nói dõng dạc:

- Tôi là đứa đạp xích-lô, thà chết với mấy anh cán bộ, bộ đội mà khoẻ thân hơn là sống với “tụi nó”. Còn thiếu hiểu, xin các anh chỉ dậy cho.

Cậu bé này cầm lấy miếng dưa hấu nhưng xin phép được trao tặng một cụ già trong xóm. Ai nấy vỗ tay. Nhưng súng lại nổ, như gần như xa. Nhìn phiá đầu hẻm, tôi hơi “ngao ngán”. Phải đến toà soạn nhật báo, ở gần chợ Bến Thành, đường Gia Long. Anh em ký giả lai rai vài người, còn thợ thì khá đông, ngồi hút thuốc. Lại có sáng kiến “Chủ báo đã lánh mặt, không tới đây thì bọn “cu- li” tụi mình cứ ra báo.”

- Ai chịu trách nhiệm với chủ báo? Tụi bán báo con nít cỡ này, lo chuyện nhà, lo đi chơi hết rồi.

Máy bay trực thăng bay khi cao, khi thấp. Thôi thì tìm bạn quen ở bên kia cầu chữ Y. Súng nổ xa xa. Hàng chục kiểu xe bọc sắt, xe tăng đậu chật trên cầu, cản trở lưu thông.

Bọn lính Mỹ ngồi thủ trong xe, tung ra nhiều bao để đựng cát, tung tiền thêm để mướn trẻ con hốt cát cho đầy, sắp xếp lại để làm một thứ phòng tuyến bảo vệ mớ xe bọc sắt. Chúng lại có sáng kiến thuê bọn trẻ em mua từng cây nước đá đem về xếp hai bên vách phiá trong xe cho thêm mát. Nằm bên cạnh cục nước đá, chúng tha hồ lật xem mấy tạp chí có nhiều ảnh chuyên về khiêu dâm. Bên kia cầu chữ Y, máy bay cứ bắn phá vào nhà cửa của thường dân.

Tôi đã định không viết gì về đoạn văn cà chớn trên đây, để quí vị đọc, quí vị thấy sự ngu xuẩn của người viết. Tôi không thể ngờ được anh ta — anh Đá Bát Sơn Nam — lại có thể viết tệ mạt đến như thế:

- Ác chiến trong thành phố, Nữ Cán Cộng làm cái trò khỉ gió là mượn dao bổ dưa hấu mời bà con ăn. Việc Nữ Cộng mượn dao cho thấy mấy trái dưa do Thị đem đến.

- “Chú bé” mà đạp xích-lô? “Chú bé” đến xin mấy anh VC “cấp súng” và được cấp súng liền một khi, để chú ôm súng ra bắn nhau vơi “bọn địch”, chú nói chú thà chết với mấy anh bộ đội hơn là chú sống với “tụi nó.”

- Lính Mỹ ngồi trong xe tăng, xe bọc sắt còn dùng bao cát che quanh xe, mua cây nước đá để trong xe tăng cho mát!!!

Fí-ní lô đia. Viết ngu quá cỡ thợ mộc. Không những chỉ ngu, một thằng điên mới viết những chuyện nhảm như thế. Vậy mà Hồi Ký vẫn in ra, không ai chê người viết viết láo. Hết nước nói.

Hắn nhận hắn ở trong phe Cộng, hắn coi phe “Quốc Gia là địch”. Hắn chết! Thương tiếc, vĩnh biệt ký gì!

Mời quí vị đọc Đá Bát Sơn Nam thêm một đoạn nữa:

Hồi ký. Trang 83, 84:

Dự Số 10/59 mà theo đó Diệm cho phép “lê máy chém” đi các tỉnh và bắt nhốt người bị tình nghi như thế nào, tôi chưa bao giờ đọc hoặc thấy sơ qua. Thời Diệm mặc dầu có Bộ Tư Pháp, Toà Án Quân Sự nhưng rõ ràng chẳng có luật pháp gì cả. Dưới mắt họ, trừ số ít người thì tất cả đều là Việt Cộng hoặc có thể theo Việt Cộng, thì có thể bị bắt. Trước khi ban hành Luật 10/59 cho có lệ thì quá nhiều người đã bị bắt giết rồi. Tuy nhiên, ai cũng sợ, ngao ngán. Hằng ngày, nhiều xe “rép” chở đầy tù nhân chạy tới, chạy lui, chưa nói đến những xe nhà binh chạy, có tiếng còi hụ. Xe đi từ khám của Sở Công An tới Sở Lục Hình, tới Toà Án, Bến Bạch Đằng, đôi khi tội nhân bị còng tay đi bộ. Tôi ngẫm nghĩ, để “lấy tinh thần” rằng hồi ở chiến khu mình làm văn nghệ, chưa bao giờ mình cầm khẩu súng bắn ai thì trong đại cuộc, địch sẽ xem như “lòng tong, lục chốt “, đâu phải là cán bộ quan trọng! Nhưng lại nghe bạn bè đưa tin khá xác thực rằng kẻ không có hành động cụ thể chống Diệm, miễn là ở chiến khu về thì có thể bị bắt buộc đi “cải tạo tư tưởng”. Mỹ đã chấp nhận trao cho Diệm số tiền to để nuôi tù Việt Cộng.

Bấy giờ, tôi lo ngại, cố tránh né chuyện chính trị, cứ đi thư viện để soạn quyển “Tìm hiểu Đất Hậu Giang“. Nhà in đã sẵn sàng xuất bản, sách bán ra, trả tiền sau.

Lại nghe tin nhiều giáo viên, giáo sư, nhà báo lớn tuổi bị bắt vì trước kia họ có đi biểu tình lúc xảy ra phong trào Trần Văn Ơn, biểu tình chống tàu binh Mỹ ghé Sài Gòn thời Luật sư Nguyễn hữu Thọ, hoặc tham gia những phong trào cứu đồng bào Sài Gòn bị nạn, nhà cửa cháy lúc Diệm dẹp Bình Xuyên. Bắt luôn cả những giáo viên dạy Truyền Bá Quốc Ngữ có tiền án trước năm 1954. Đồng Khởi Bến Tre gây tiếng vang mạnh. Nhơn viên công an tới lui trước các báo mà tôi thường tới lui giao thiệp, thỉnh thoảng uống cà phê, nghe chúng khoe khoang:

Công an là bạn của dân,
Ở xa dễ ghét, lại gần khó thương.

Hồi ký. Trang 106 đến trang 200.

Về mặt bình dân, tôi thấy Ni sư Huỳnh Liên ở Tịnh xá Ngọc Phương là được uy tín lớn. Bà cầm đầu một số đông nữ tu sĩ, mặc áo vàng, thích diễn thuyết, thích ngâm thơ to tiếng có máy vi âm ngay công trường chợ Bến Thành. Cảnh sát bao vây, bà và các ni cô, thêm một số dân lao động cứ ngồi, dường như đã chuẩn bị lương thực để ngồi. Lời lẽ thơ ca của ni sư Huỳnh Liên ca ngợi lòng yêu nước, đánh đổ ngoại xâm. Lắm khi thơ không có vần điệu, ngẫu hứng, nhưng trong bối cảnh lớn ấy quả là gây xúc động, cảnh sát dã chiến bao vây, vòng vây ngày càng xiết chặt với súng, lựu đạn và lăn khiên. Tác động quả là lớn, nhiều người đi chợ đứng nghe, chạy đến, tặng bánh mì, khoai lang. Ký giả nước ngoài tha hồ chụp ảnh, quay phim. Lần đó, đích thân tôi đứng xem, thấy xe Cảnh sát từ xa chạy tới chợ Bến Thành nhưng có hai ni cô chạy ra nằm dài trên đường, ngăn cản. Cảnh sát cho xe chạy lui, dừng lại, bỗng dưng rồ máy tăng tốc lực nhưng khi bánh xe lăn sát bên các “ni cô cảm tử ” thì xe thắng lại nhanh, kiểu hăm doạ ấy quả là vô hiệu quả. Đồng bào la to, chửi ruả :

- Làm chuyện bá láp.

Nhưng bọn cảnh sát ấy quả là thấy “tự xấu hổ,” nói để tự an ủi. Phải chăng vì đồng lương hàng tháng mà các anh phải “làm việc” lấy lệ ?

Chánh nghĩa đã thắng, đã về ta.

Trước tình thế “chín muồi” ấy lại xảy ra chuyện “ký giả ăn mày”. Tại sao lại chín muồi ? Theo tôi, thì lúc bấy giờ, về tâm lý, mọi người đều muốn chấm dứt chiến tranh bằng mọi giá. Công chức, quân nhân của quốc gia đều muốn như thế. Nhiều người đã chết… từ lâu rồi. Các báo ở Sài Gòn, bấy giờ ra quá nhiều đều muốn bán báo cho chạy, mặc dầu các ông chủ báo muốn “mị dân”. Bọn phản động cũng muốn mị dân. Trước làn sóng ào ạt của biển khơi, mà tôi tạm gọi là “hải triều âm”, bọn Thiệu thấy quá cô đơn, chắc rằng từ lâu chúng đã ăn cắp viện trợ Mỹ để chuyển nhiều món tiền to ra qua ngân hàng Mỹ, mua sắm nhà to, nhà nhỏ, cho con cái học nước ngoài. Từ lâu rồi! Và người Mỹ cũng muốn giải quyết theo kiểu cho người theo “lực lượng thứ ba” mà chúng sẽ đưa vào, vì có lẽ chúng nhận định rằng đã sống từ lâu dưới chế độ tư sản, người dân rất xa lạ và sợ hãi chế độ xã hội chủ nghiã mà chưa ai biết. Còn chuyện khác nưã. Thiệu và Kỳ mâu thuẫn nhau về quyền lợi, trong cuộc tranh chấp ấy, ai thắng cũng sẽ thích chế độ tư sản !

Thiệu nổi giận về những cuộc biểu tình chống đối, những cuộc hội thảo giữa sinh viên chỉ có mục đích lật đổ Thiệu. Chúng bèn ra luật báo chí mới và lập tức đóng cửa 12 tờ báo (!).

Việc đụng chạm trực tiếp về sinh kế và thể diện của các chủ báo, khiến bỗng dưng ký giả thất nghiệp, người “chống cộng và thân cộng”. Mặc dầu chẳng ai biết chủ nghiã cộng sản là như thế nào.

Bạn bè rủ ren, vài người đáng tin cậy vì đã nhiều lần vào tù ra khám. Vài người tương đối lớn tuổi, anh em tin cậy bảo tôi nên đi vào những hàng đầu.

Chưa đến giờ khởi hành, tôi thấy hăng hái vì trong hàng ngũ “phe ta” khá đông, tập họp tại ngôi nhà ở ngã tư Lê Lợi và Tự Do (Catinat cũ.) Ai nấy thúc hối vì đã đến giờ. Cảnh sát dã chiến tập họp lai rai. Tôi thấy nào lãnh tụ giáo phái! Vài cô gái ăn mặc sang trọng, nhận ra là nữ nhân viên của “chiến dịch Phượng Hoàng” chuyên làm điểm chỉ viên chống Cộng. Các cô xem như vui vẻ lắm. Nhưng đi biểu tình theo lộ trình nào, chưa ai biết. Cứ lời thúc giục: “Mau lên. Ký giả quốc tế đã đến rồi, họ yểm hộ ta bên kia, chỗ Nhà hát lớn, trụ sở dân biểu cũ.” Cánh cửa nhỏ trong cơ quan mở ra và anh em tung ra nhiều bị, gậy, có thêm nón lá, những món mới mua, gậy là cây trúc ngắn, cái bị cuả ký giả những cái “tụng” đan bằng cói còn mới tinh.

- Chúng ta đi nhanh, không do dự.

Đông đảo quá, anh em ra trước cổng, trong những người đi hàng đầu, thấy có Nguyễn Bảo Hoá, tôi tin vào sự hỗ trợ của phe ta. Nào linh mục, chức sắc Cao Đài, ni cô.. Trên trời có chiếc trực thăng bay tơi, từ từ hạ thấp. Địch đã biết và đề phòng. Nhiều anh em đi hàng đầu xốc tới, bọn cảnh sát chỉ xáp lại rồi lui ra, vì thấy vài vị “quốc gia” nhưng “thiên Cộng”, như dân biểu quốc hội, linh mục, chức sắc Cao Đài hoặc gốc sĩ quan, bà con gần xa với giám mục Nguyễn Văn Bình.

Cảnh sát ập tới, không dám đánh đập, tôi nhớ rõ dân biểu Hồ Ngọc Nhuận, nhỏ bé về thể xác nhưng gương mặt như toé lửa. Anh Nhuận trả lời khi chúng hỏi :

- Như vầy, ăn mày là sao? Đói hồi nào?

- Tôi đi ăn mày là ăn mày giùm cho anh em cảnh sát. Mấy anh chưa chắc khá hơn tôi.

Đã có lịnh cho anh em đi biểu tình. Không hề trương bất cứ khẩu hiệu nào. Và không phân phát bất cứ truyền đơn nào.

Anh em ký giả phấn khởi khi thấy trực thăng bay thấp, đảo vòng tròn nhưng không làm gì khác. Tôi hiểu đó là viên Đô trưởng e ngại, không dám làm gì hết. Bọn cảnh sát đứng hai bên đường như yên tâm, vô tư. Chúng đoán rằng trong số đi biểu tình phần đông muốn chống Thiệu — tức là theo phe trung lập của Dương Văn Minh. Nếu Dương Văn Minh lên nắm chính quyền được thì cảnh sát và luôn cả Đô trưởng đều ngồi yên, ăn lương, không sao cả. Quên kể chuyện cảm động của đồng bào. Họ đi theo anh em ký giả, chạy vào hàng người đang biểu tình, nhét vào túi chút ít tiền.., đôi khi có khăn nhúng nước chanh, để chùi mặt chống lựu đạn cay lúc bị đàn áp. Chợ, phố ngừng hoạt động; dĩ nhiên. Mấy chủ hiệu ở tầng lầu trên đều mở cửa, vỗ tay. Nhìn trở lại, tôi thấy sao mà quá đông. Đầu đoàn biểu tình đã đến công trường trước chợ Bến Thành nhưng khúc đuôi đang lảo đảo ở ngoài Nhà Hát Lớn. Chợ Bến Thành đóng cửa nhưng giới tiểu thương ngồi vòng quanh cứ mỉm cười, lắm người đứng dậy, vỗ tay. Bỗng dưng, vài em bé ở trần, chạy đến chặn đường, chăng băng-đơ-rôn: “Anh em ký giả đừng gây rối loạn. Để cho bà con sinh hoạt bình thường.” Một ký giả đi tới hỏi: “Ai muớn tụi bây trương mấy biểu ngữ ?”

Một đứa nọ liệng cả băng-đơ-rôn xuống, vưà chạy vừa cười :

- Mấy ông cảnh sát mướn tụi tôi.

Anh em đi vòng quanh quảng trường rồi trở lại nơi xuất phát hồi sáng. Nắng lên khá cao. Đi đã khó, giải tán về càng khó hơn. Về rồi đi đâu? Giặc sẽ bắt lẻ tẻ từng đứa. Chúng đã chụp ảnh, nhận diện. Về nhà, không khéo sẽ bị bắt chiều nay, đêm nay!

Gọi những tên vô ơn, bạc nghĩa, muối mặt chửi chế độ nuôi chúng no đủ, chửi người chúng chịu ân, như Vương Hồng Sển, Sơn Nam, là bọn ăn cháo, đá bát. Chưa đúng. Chúng là những tên áo cháo lền mõm, nhoèn lưỡi rồi trâng tráo đái vào bát.

Một sáng tháng Chín, tháng Mười năm 1975, tôi ngồi ăn phở trong một tiệm phở nghèo Ngã Ba Ông Tạ. Gần bàn tôi có ba, bốn người khách. Các anh trạc số tuổi 35, 40. Có thể các anh là những hạ sĩ quan chỉ bị bọn Bắc Cộng bắt “học tập” 3 ngày. Một anh nói:

- Đ.M. mấy thằng ký giả. Sướng bỏ mẹ đi, bày đặt đi ăn mày. Phen này ông cho đi ăn mày hết!

Tôi nghe chửi mà chẳng thấy buồn, thấy bực gì. Cũng chẳng thấy cay đắng. Chửi đúng thôi. Có điều là cả nước đi ăn mày, không chỉ mấy thằng ký giả.

Hoàng Hải Thủy


Vở Tuồng Cải Lương: "Của Chồng Hờ, Hậu Cổng Chùa"


Trương Minh Hòa

Một vị tăng sĩ lớn tuổi, có cái duyên với Đức Phật, đã thí phát qui y từ lúc mới 16 trăng tròn, bỏ lại sau lưng tất cả những "lục dục thất tình" để tìm đường giải thoát khỏi cái kiếp trầm luân khổ ải; vị tu sĩ Phật Giáo có nhiều chục năm "hạ lạp" đó chính là Hòa Thượng Thích Phước Huệ, nổi tiếng khắp ta bà thế giới, trong quá trình tu hành, tu tỏi, tu ớt, tu ... đạo, đạo tu từ trong nước ra tới hải ngoại, từng được nhiều người kính trọng qua vai trò "lãnh đạo tinh thần", một chức vụ hkhông ai bầu và không có nhiệm kỳ, vậy mà có người cho là "phi chính trị" mới dốt làm sao!. Trong cái "cõi đời là cõi tạm", "Ngài" từng là Giáo Hội Chủ Tổng Hội Phật Giáo Úc Đại Lợi, khi mới thành lập và sau nầy là Giáo Hội Chủ Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Úc Đại Lợi và Tân Tây Lan; dù trên bản hiệu hai, thông bạch, thông báo, kêu gọi gây quỷ từ thiện, cất chùa, xây tượng ... luôn có chữ "Thống nhất" nhưng tại đây Phật Giáo: "Thống nhất tâm là cùng thờ hay lợi dụng Phật để làm thương mại; nhưng mỗi thầy hùng cứ một nơi, góp công cùng xây đạo tiên".

"THỨC NHÓNG chờ hoài THỐNG NHẤT câu PHÁO GIẬT lòng ai, PHẬT GIÁO nào? TIỀN THU lắm kẻ TU THIỀN dạy. NÀNG BIẾT hỏa ngục, NIẾT BÀN đâu?"

Trước đây, khi còn tu hành và "phục vụ đạo pháp" trong khối Phật Giáo Ấn Quang, được vị thượng tạ Thích Trí Quang tin cậy trong nước, từng giữ chức Trưởng Ban Thông Tin, có nhà in ấn" Sen Vàng", Ngài có pháp danh là Thích Tắc Phước; sau năm 1975, Ngài cùng với người Hoa đăng ký để đi "thỉnh kinh tự do" ở thế giới Tây Phương Cực Lạc, sang đến "thiên đàng hạ giới", sau thời gian định cư ở Úc, đổi pháp danh là Thích Phước Huệ, được chúng đệ tử ruột tổ chức lễ "suy tôn huề thượng" và lễ nầy được đài phát thanh SBS do cô trưởng đài Ngọc Hân ở Sydney phổ biến khắp nước Úc, nghe qua như là "lễ đăng quang của một vị vua thời Trung Cổ" vậy. Do đó Ngài thuộc hàng: "Công đức vĩ đại, sống mãi trong sự nghiệp tu hành của những kẻ theo thầy mà quên Phật", hết lòng đi theo dù biết thầy có "hai pháp danh, hai chữ ký", Ngài có nhà xuất bản "SEN HỒNG" tại Úc, cho phù hạp với "khuynh hướng tu học thời thượng". Theo vài nguồn tin chưa kiểm chứng, tức là thuộc loại "báo cáo khí tượng thủy văn" xì xầm từ lâu, là cái Pháp danh nầy là do Ngài sáng tạo bằng cách ghép từ hai cái tên của hai "cái quả" mà Ngài từng gieo trước đây? Sự thật ra sao, thì chỉ có Ngài biết, còn tin đồn thì xin kiểm chứng, vì trong báo chí nước ngoài thuộc thế giới nói tiếng Ăn-Lê, thường Ăn táo, Ăn bơ, Ăn bánh mì kẹp thịt ... có câu: "we report, you decide"

Ngài là bậc CAO TU, nhưng con "CU TAO" đâu có tu, là điều không ai théc méc; do đó Phật Tử nào chủ trương "đời là bể sướng" thay câu "đời là bể khổ" cũng nên "giác ngộ" điều nầy để cho "thanh tâm trường khoái lạc" mà cùng thầy "dắt tay nhau đi theo tấm bản chỉ đường đến cõi Non Bồng Nước Nhược" để tâng bốc, thương kính thầy là bậc "căn tu" có đầy đủ "cu tăng" mà hát bài "tiếng chày trên sóc Bam Bo" thay bài kinh sám hối, để "giã gạo ban đêm" mà vẫn giác ngộ cao; tu theo kiểu nầy, nếu hổng thành" chánh quả" cũng có hy vọng thành" chánh quỷ" hay đi theo đảng Cộng Sản lâu năm, lập công cướp bóc cũng trở thành "chánh ủy" lắm! . Tu thể hiện ở bộ áo cà sa, đầu cạo, nhưng con "cao tu" thì không bao giờ "qui y" đâu; do đó thầy có thể đi tìm "đường vào tình yêu" mà vẫn "đạo tu" hay "tu đạo" vẹn toàn từ con "cao tu" mà phát huy không ngừng, tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc đến cái tuyệt thứ ba trong tứ tuyệt của giới thâm Nho, Háng rộng ngày xưa: "Hòa thượng động phòng hoa chúc dạ" mà lòng "phơi phới một niềm vui".

Ngài hòa thượng Thích Phước Huệ là bậc tu áo, tu đầu, và khi gặp người khác phái cũng phải mang "căn tu" ra ứng dụng, nếu Ngài ở tịnh thất lâu ngày, đứng trước cái trống thì trống không còn kêu nữa, là cái "tu đạo" thượng thừa. Một bậc "căn tu" vẹn toàn cả hai đường "đạo-đời" uyển chuyển: vừa đóng vai huề thượng và vừa là người biết quí trọng loài hoa biết nói, nên cũng có một số đệ tử kính tăng hơn cha mẹ đi theo phò tá, sẵn sàng nhảy vào binh vực khi thầy "gặp quả báo nhãn tiền", một lòng bảo vệ thầy, dù thầy làm bậy, còn bảo vệ đạo pháp thì còn hỏi lại. Từ tư tưởng biến sang hành động, Ngài Thích Phước Huệ cũng từng "điều nghiên" thiền Tiếp Hiện của chưởng môn thiền sư Thích Nhất Vẹm. Nên nhớ là muốn tu phái Tiếp Hiện, thì THIỀN SƯ mới truyền dạy được, còn THIẾN SƯ là không đạt "mục đích yêu cầu tu đạo" như cái thứ ba trong Tứ Tuyệt Tức (bốn điều tức nhất): "Hoạn nhân động phòng hoa chúc dạ". Do đó, từ khi còn ở Việt Nam, Ngài Thích Tắc Phước từng có mối quan hệ "hữu cơ" với Năm Thợ May và nghe đâu khi sang đến "thế giới Tây Phương Cực Lạc" ở Úc Châu, Ngài cũng có tu "thiền Tiếp Hiện" với một Tín Nữ khác, cho ra cái quả, tín nữ đã "viên tịch" và cái quả đó đang coi một cơ sở thương nghiệp, nhà hàng chay ở Cabramatta (Take 2 Tango, trong phần góp ý vài: cha ơi! thầy ơi!). Nhờ "cao tu" nên Ngài Thích Phước Huệ tạo được cơ sở tu học hàng chục triệu mà hổng cần phải làm việc cực khổ, cài hai ba Jobs như "bá tánh", đúng là "tu nhất kiếp, triệu phú nhất thời" Ngài cùng với các đệ tử ruột "phe cánh" phát triển nhanh, mạnh, vững chắc hệ thống "Phước Huệ Công Đức Tùm Lum" (Tùm Lum ở đây là nhiều nơi, lan rộng hệ thống chùa Phước Huệ nhiều nơi, chứ hổng có nghĩa, ý xấu nhé), nhờ tiền bá tánh "CÚNG DƯỜNG", để thầy dùng tiền "CÚNG CHIẾU" với tín nữ Diệu Đức, nên Ngài thường lấy danh nghĩa "hoằng pháp" để "qui mã" hàng năm, hầu cùng tín nữ "tu đạo", thực hành thiền "tiếp hiện" suốt 15 năm mà "không ai hay biết" đến khi "cơ duyên" là tín nữ "Diệu Đức" đã "dứt điệu" bản nhạc đời và đạo: "tình cho không biếu không" khi công bố bức thư, hình ảnh về sự quan hệ "hữu cơ" giữa thầy và tín nữ, rất là lâm ly bi đát.

"TAO DÂM nên có mối TÂM GIAO. MÌNH TỐI đường tu MỐI TÌNH vào. GIÀ ĐI cửa Phật, DI ĐÀ chẳng. MA TÌNH vương vấn MÌNH TA đau. DỨT ĐIỆU tình ca từ DIỆU ĐỨC. PHƯỚC HUỆ cao tu PHẾ HƯỢT mau. TU MÀ phạm giới TA MÙ mắt. CAO TĂNG nghiệp chướng, lụy CĂN TAO."

Con đường tình ta đi giữa hai hàng "đời và đạo" được vun bồi "mãi mãi xanh tươi, một thời bền vững" như thứ tình "hữu nghị Việt-Trung bền vững như răng với môi" là nhờ tiền mồ hôi của thiện nam tín nữ mang đến cúng dường và những "công quả, công đức, mồ hôi ấy" được thầy mang sang Mỹ để "cúng chiếu" với tín nữ "cực kỳ thân thương", để cùng dắt tay nhau đi vào cõi thiên thai ở ngay tại thế gian, cùng nhau tu tập "thiền Tiếp Hiện" mà thanh tâm "trường khoái lạc" đạt đến mức "cao tu" nên "cu tao" cũng phải "xử lý" cho có được nhiều "chất lượng" trong mối quan hệ "hữu cơ"; nên hàng năm, chàng và nàng giống như tâm trạng chia phôi của mối tình "Ngưu Lang Chức Nữ" thay vì nhờ "bầy quạ đen bắt nhịp cầu", thì ngày nay trong cái "tình huống hiện đại", chàng dùng" phản lực cơ có người lái" (chớ không có người lái là ông cố nội cũng không dám đi) để bay sang tận "Châu Mỹ La Tin" đáp xuống Bắc Mỹ hầu cùng với nàng hát bản nhạc "Bác cùng chúng cháu hành quân" khi mà Bác Hồ được "đoàn tụ và hội ý, hội thảo" ở hang Pác Pó là đạt được cái đạo tu ý nghĩa. Thế nên, khi mà: "Thầy ơi! gặp gỡ làm chi, trăm năm biết có duyên gì hay không?" hoặc như bản nhạc Chuyến Đi Về Sáng của Nhật Trường và Mạnh Phát được sửa chửa vài chữ cho phù hạp với cái "tình huống" đạo đời toàn vẹn: "Thầy ơi! Nếu yêu rồi, chớ để nhạt màu son trên đôi môi". Khi mà thầy xa vắng một thời gian, khiến tín nữ đâm ra nhung nhớ "Cái thuở ngồi thiền lưu luyến ấy" nên tín nữ lặn lội sang tìm, nhưng thầy mãi lo "đạo pháp" mà không thèm tiếp, thế là nàng đành phải bạch hóa cái mối tình "chỉ đẹp khi tình chưa công bố" trên các tờ báo. Đây cũng là do cái quả mà thầy không biết quí trọng tấm lòng của tín nữ, hết lòng cùng thầy "tu đạo" hay" đạo tu" từ nhiều năm qua:

" Xa xa, tít tít, mù mù đợi. Đợi, đợi chàng về, đợi đợi chu"

Thế nên chứng từ, hình ảnh về mối "quan hệ hữu cơ" được tung lên báo giấy lẫn báo điện, gây xôn xao dư luận, nhất là các Phật Tử thuần thành, từng đóng góp "cúng dường" để cho thầy mang sang Mỹ "cúng chiếu" với tín nữ Diệu Đức từ lâu nay mà không ai "phát hiện" cả. Sự kiện nầy vang lừng khắp năm châu, ta bà thế giới, nên mới biết "cánh Phước Huệ Công Đức Tùm Lum Tà la" có những phần chìm trồi lên như "dán bị xịt thuốc sát trùng" với những loại thuốc Pest Control được nhiều tờ báo điện, giấy tung ra. Tại xứ Căn-Ga-Ru, có hai tờ béo núp bóng làm VĂN NGHỆ, văn gừng để binh vực cho chuyện CHIẾU GIƯỜNG của bậc "cao tu" Hòa Thượng Thích Phước Huệ (tờ béo là vì họ làm báo thương mại, ra vào Việt Nam, quảng cáo cho Việt Cộng như hãng hàng không Vietnam Airline, đoàn văn công sang ... nên những tờ báo nầy đã thành tờ béo, có nhiều tiền). Bộ tam sên với ba nhà béo "đỉnh cao trí tệ" HỒ TÚI GIAN thi nhau chửa cháy cho Ngài Huề Thượng Thích Phước Huệ, vì ngại thầy trở thành HỀ THƯỢNG THÍCH PHƯỚC XỆ là còn gì là "cao tu" và lãnh đạo tinh thần tối cao, với cái công đức vĩ đại phải không?

Vụ Phước Huệ công đức tùm lum mang nhiều dư âm, được ba nhà béo tung nhiều hỏa mù liên tục và không biết hổ thẹn, nhằm binh vực, đánh lạc hướng dư luận trong kế "thanh đông kích tây", giống như sách lược của Việt Cộng trước đây, nay được áp dụng tại xứ tự do. Trong cuộc chiến Việt Nam, những tên khủng bố đặt mìn, giết hại đồng bào, được Việt Cộng tấn phong thành "anh hùng" hay "dũng sĩ", những câu chuyện giết người thường dân vô tội được biến sang "giết Mỹ, giết Ngụy" tuyên truyền tại các vùng nông thôn, hay tại miền Bắc, khiến cho dân chúng u mê tin là như vậy. Sau hiệp định Paris, một câu chuyện buồn cười là vụ Việt Cộng vi phạm ngưng bắn, pháo kích làm sập một cây cầu ở tỉnh Chương Thiện; trong khi các phái đoàn khác tường trình là do đạn pháo kích, nhưng phái đoàn Ba Lan thì cho là: "cầu cũ quá nên bị sập". Đến nay, nhiều nguồn tin do hai "tờ béo" với bộ tam sên "Hồ Túi Gian" tung hỏa mù, được ghi nhận như:

- Hình ảnh của tín nữ Diệu Đức tung là là giả, ghép và thư cũng hổng có thiệt, để binh vực tối đa cho thầy. Nếu là tài liệu giả, tại sao Ngài Hòa Thượng Thích Phước Huệ hổng chịu lên tiếng phản bác, đính chánh, nhằm minh oan? Chớ ngậm miệng, rồi cho là đợi kiếp sau mới nói là không ổn nhé! Người có can dự chánh là Phước Huệ không phản ứng, thì mấy nhà béo nầy nhảy vào "cứu chúa", trở thành "nhà béo đánh thuê" hoặc là thứ nhà béo xạo ke (có quyền nghi ngờ là được Ngài chi tiền?)

- Vì Hòa Thượng Thích Phước Huệ có quá nhiều tiền nên tín nữ Diệu Đức muốn làm tiền mà tung ra vụ tình ái lem nhem nhằm triệt hạ uy tín và moi tiền. Vụ nầy thì trớt quớt đấy, vì nếu tín nữ Diệu Đức muốn moi tiền thì cứ hù dọa bên trong và đương nhiên là thầy "có tịch phải rụt rịt chi tiền" chớ tội gì phải tung lên báo cho mang tiếng mang tai suốt đời là có dan díu với thầy chùa. Nhưng xin hỏi mấy nhà béo "đỉnh cao trí tệ nòi người" một câu: Tiền của thầy hay là của bá tánh đóng góp? Vì từ ngày qua sứ "tây phương cực lạc" thầy không làm gì mà ra tiền, thế mà ngày nay trở thành "triệu phú Phật Giáo". Như vậy, ĐẦU TIÊN hỏi TIỀN ĐÂU mà thầy chùa Phước Huệ có? Nếu như vậy thì những ai từng đóng tiền cúng dường cho thầy, chẳng những không có phước mà còn giúp thầy phương tiện để bay sang Mỹ "CÚNG CHIẾU" với tín nữ Diệu Đức thoải mái, tạo ra nghiệp, cũng giống như chuyện vô tình cung cấp cây dao cho kẻ sát nhân, thì người cung cấp dao cũng cắn rức lương tâm chớ bộ!.

- Việc các cơ quan truyền thông khác đăng những bài báo nêu lên sự thật, có chứng từ của tín nữ Diệu Đức, thì bị chụp mũ với ngụy chứng như sau: Úc Châu nổi tiếng là thành trì chống Cộng, nên ai đưa lên vụ Ngài Phước Huệ có mối quan hệ "hữu cơ" là làm bất lợi cho công cuộc chống Cộng, làm hại cộng đồng. Tức là biến vụ "đường vào tình yêu có trăm lần vui, có vạn lần sầu" của Ngài Phước Huệ thành "liên quan đến đất nước, tinh thần chống Cộng", nói trắng thành đen, thật khó ai nghe ở tại một nước dân chủ, thế mà những nhà béo nầy tung ra, khinh thường dân tỵ nạn ngu ngốc như thời 1945.

- Bị chụp mũ là "đánh phá Đạo Phật" để kích động Phật Tử nhảy vào vòng chiến. Tuy nhiên việc lột mặt lũ "gian, dâm tăng" là điều cần thiết để bảo vệ đạo pháp, cần phải loại bọn quỷ phá nhà chay ra khỏi chùa. Ngày nay cái màng qui kết: "đụng tới thầy là đụng tới Phật, đạo Phật" đã lỗi thời rồi. Mấy tay nằm vùng nào còn u mê, áp dụng chiến thuật cũ của Thích Trí Quang là bị lòi ra ánh sáng cả.

Hai tờ béo còn lợi dụng "sinh hoạt dân chủ tại nước tự do", mở trang góp ý, dàn dựng cái trò hỏi ý kiến nhân dân như tên thủ tướng không người lái Nguyễn Tấn Dũng đã làm cách đây không lâu, nay ở hải ngoại, các nhà béo nầy cũng áp dụng như "vị chủ của họ" trong nước qua bài bản "dân chủ". Tuy nhiên, những ý kiến nào "bất lợi" cho thầy thì họ văng bỏ vô thùng rác hay delect nếu gởi bằng email, ngoài ra chưa kể đến biện pháp "cò mồi" dùng diễn đàn để "bảo vệ dâm tăng, như bảo vệ con ngươi trong tròng mắt". Cho nên trong thời gian qua, có nhiều ý kiến binh thầy một cách trơ trẽn, đọc qua là biết ngay bọn nầy dàn dựng, chẳng khác nào các cơ quan truyền thông trong nước đang bôi nhọ, xuyên tạc các linh mục, giáo dân đòi đất nhà thờ ở Tòa Khâm Sứ và Thái Hà:

- Cho tín nữ Diệu Đức là quỷ ma, mê dụ thầy vào con đường "tu đạo". Tức là trâu tìm cọc, là kết tội người đàn bà đau khổ, vì lỡ "trao duyên lầm dâm tăng" mà phải lén lúc từ lâu, uổn phí cả cuộc đời. Nếu chàng Phước Huệ là người thường, thì nàng Diệu Đức đã làm đám cưới đàng hoàng, còn trường hợp nầy, thì người phụ nữ bị thiệt thòi, phải nên thông cảm cho thân phận phụ nữ mới đúng chớ. Những kẻ nào kết án tín nữ Diệu Đức là ma quỷ, thì cũng nên sám hối cái tội "vọng ngữ" là vừa (nếu là phe cánh hay ăn tiền của thầy, xin miễn bàn, vì đám nầy nói với họ như "đàn gảy tai trâu")

- Binh thầy, vì cho là bà Diệu Đức lợi dụng trong lúc "cận tăng" mà dụ thầy đi vào "con đường tình ta đi", càng ngày trở thành "NGÁO BỊP" khi mà cái "NGHIỆP BÁO" chồng chất. Nên biết là Ngài Hòa Thượng Thích Phước Huệ vừa "cao tăng" là "cao tu" và cũng "cao tuổi" hơn tín nữ Diệu Đức, như vậy thì "ai dụ ai?". Những kẻ tung tin nầy khinh thường mọi người, ăn ngược nói ngạo như Vẹm, lại được hai tờ béo "hồ hởi phấn khởi" phổ biến và được một số "TĂNG CHÚNG" lúc "TÚNG CHĂNG" thì nhào lên hùa theo như bầy chó, binh bậy; lòi ra đây là một lũ có quan hệ dây dưa rễ má, tức là chúng nhào lên để tự thú "lạy ông con ở bụi nầy". Nên nhớ là Phật Tử ngày nay không còn "kính tăng" nữa, vì tăng bây giờ bể quá rồi, cửa chùa bị Việt Cộng xâm nhập, lợi dụng từ trước 1975 ở trong nước, tăng ni của khối Phật Giáo Ấn Quang từng đóng góp công sức cho Vẹm để làm sụp đổ miền Nam, lịch sử vẫn còn đó. Nay thì cửa chùa bị quốc doanh hóa từ năm 1981 với cái gọi là Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam thành lập ở chùa Quán Sứ (Hà Nội) do đám tăng "áo vàng cờ đỏ" với Thích Trí Tịnh, Thích Thanh Tứ, Thích Nhật Từ .... và ở hải ngoại, bọn công an tôn giáo xuất ngoại, được các" cơ sở nằm vùng "thuộc các chùa về nguồn", bên ngoài treo cờ vàng và bên trong lại quàng cờ đỏ. Do đó, kính tăng không còn được thể hiện, tùy theo đức độ mỗi vị, nhất là cái lập trường "đạo pháp với dân tộc" là thước đo lòng thành, cái tâm của tu sĩ.

Vụ Hòa Thượng Thích Phước Huệ công đức tùm lum hảy còn dư âm, nhất là được một số tăng chúng của phe cánh, được hai tờ béo, bộ tam sên "nhà béo" hỗ trợ, tiếp tục dùng "diễn đàn" núp bình phong "VĂN NGHỆ" để biện minh cho việc "CHIẾU GIƯỜNG" của vị "CAO TU" từng tung "CU-TAO" tung hoành trong tín nữ từ Việt Nam ra hải ngoại mà "thanh tâm trường khoái lạc", lại được nhiều người mang tiền đến nộp "cúng dường" và có người xá dài khi diện kiến. Vụ Phước Huệ nầy làm hoen ố đạo pháp, là mụt ung thư của Phật Giáo, cần phải cắt bỏ để bảo vệ uy danh của Đức Phật; do đó các Tam Tạng Thời Đại nên sáng mắt để nhận chân ra ma quái đang mặc áo cà sa, nói năng toàn là lời từ bi, kinh sách và hành vi thì trái ngược. Trái với Thiên Chúa, khi linh mục làm bậy, bị giáo hội treo chén, thì các sư Phật Giáo, khi làm bậy, tà dâm ... có ai có thẩm quyền "treo mõ" đâu, thầy vẫn "thanh tâm trường an lạc" hành đạo và tiếp tục được Phật tử tôn kính suốt đời.

Đi đêm có ngày gặp ma, buôn bán với Việt Cộng có ngày bị đánh tư sản, trở về Việt Nam du hý, du dâm có ngày bị Si Đa, lập đảng kháng chiến cuội có ngày bị lột mặt .... nên Hòa Thượng Phước Huệ "tu đạo" có ngày bị bạch hóa. Đó là điều công bằng, khi mà kẻ gian "lừa thầy phản bạn, thường hay giả dạng kẻ nhân từ" theo thời gian, trôi hết lớp sơn "đạo đức" để hiện nguyên hình trong "kiếng chiếu yêu công luận".

Vở tuồng cải lương "CỦA CHỒNG HỜ, HẬU CỔNG CHÙA" đã hạ màn từ lâu, thế mà vẫn còn có kẻ gian manh, nhân danh, lợi dụng làm làm truyền thông cứ muốn đánh lạc hướng dư luận quần chúng, nói trắng thành đen, biến nạn nhân thành thủ phạm ... là lối truyền thông "nhà nước quản lý, đảng lãnh đạo", thế mà ba nhà béo nầy lại áp dụng và càng ngày càng tung ra nhiều hỏa mù, xả xú uế, thật là trơ trẽn, lòi ra LŨ GIAN mặc chiếc áo nhà béo, ký giả, từng quảng cáo cho Việt Cộng, về nước như đi chợ; là đám LÃN DU, tỵ nạn gian, là mục ung thư truyền thông hải ngoại, phù hạp với nghị quyết 36, cần phải đề cao cảnh giác. Mua báo, đọc báo, quảng cáo cho nhừng tờ "gian báo" là giúp cho Việt Cộng thực thi nghị quyết 36, tốt nhất là tẩy chay là cách biểu lộ tấm lòng yêu nước thầm lặng của những người bỏ nước ra đi tìm tự do. Một điều dể nhận là khi đến nhà bất cứ ai, nhìn thấy họ là đọc giả trung thành các tờ báo ấy, thì khỏi cần "động não" cũng biết lập trường của họ rồi.

Trương Minh Hòa