Friday, May 20, 2011

LẠY ÔNG - Đỗ Thái Nhiên

ĐỗTháiNhiên

“Lạy ông” là hai chữ đầu của câu nói: “Lạy ông tôi ở bụi này”. Trước tòa án, bị can rất thường chối tội. Tuy nhiên, tòa án không xét xử một hồ sơ tội phạm đơn thuần theo lời khai của bị can. Chính những chất vấn từ phía thẩm phán công tố đối với bị can mới dồn bị can rơi vào hoàn cảnh mất khả năng che giấu sự thật trong một vụ án.

Ngày 08 tháng 05 năm 2009, tai thành phố Geneva, Thụy Sĩ, Hội Đồng Nhân Quyền của Liên Hiệp đã nhóm họp với mục đích kiểm điểm vấn đề nhân quyền tại Việt Nam. Phiên họp này được sự tham dự của trên 70 quốc gia thành viên. Trong đó có đại diện của 60 quốc gia đã được phép phát biểu ý kiến. Cuộc kiểm điểm kéo dài 04 tiếng đồng hồ, kể cả 45 phút phụ trội. Ông Phạm Bình Minh, thứ trưởng ngoại giao của CSVN, trưởng phái đoàn Việt Nam, quốc gia đối tượng của kiểm điểm. Đây là một hồ sơ nhân quyền. Hội Đồng Nhân Quyền của Liên Hiệp Quốc là biểu tượng của một tòa án. CSVN là “Nghi can” của tội phạm chà đạp nhân quyền. Các quốc gia “chất vấn CSVN” là biểu tượng của quyền công tố. Sau đây là lời khai của CSVN trước tòa án Nhân Quyền:

“Trình độ nhận thức của bộ phận nhà nước, kể cả trung ương và địa phương về quyền con người còn nhiều hạn chế: không chỉ không nắm được các qui định của luật pháp quốc tế, nghĩa vụ của Việt Nam với tư cách là quốc gia thành viên của các công ước quốc tế về quyền con người, mà đôi khi còn nắm không chắc các qui định của luật pháp và chủ trương chính sách của nhà nước, do vậy có nơi, có lúc còn để xảy ra các vụ việc vi phạm, làm hạn chế và ảnh hưởng đến việc thụ hưởng quyền của người dân”.

Nói ngắn và gọn: CSVN nhìn nhận có vi phạm nhân quyền. Đồng thời đưa ra hai lý do để tự biện hộ:

Một là: giới chức lãnh đạo địa phương cũng như trung ương không hiểu biết đầy đủ luật quốc tế về nhân quyên.

Hai là: nhiều địa phương không nắm vững luật pháp và chính sách của trung ương.

Hai lý do nêu trên nên gom lại thành một lý do duy nhất. Đó là sự ngu dốt luật pháp của nhà cầm quyền CSVN trung ương cũng như địa phương, luật quốc nội cũng như luật quốc tế. Sau khi luật pháp được ban hành theo đúng thủ tục và thời hạn luật định, không ai được phép viện dẫn sự ngu dốt luật pháp để vi pham luật pháp. Đó là một trong những nguyên tắc pháp lý trọng yếu giúp cho luật pháp có giá trị cưởng hành. Phải chăng chế độ Hà Nội không nắm rõ luật pháp đúng như họ đã “tự khai”?. Thực ra luật quốc tế nhân quyền bao gồm Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền 1948 cộng với các công ước về quyền dân sự, chính tri; công ước về quyền kinh tế văn hóa xã hội … là những văn bản luật pháp rất minh bạch và đơn giản. CSVN chỉ khai là họ (chính quyền trung ương và địa phương) “Không nắm được các quy định của luật pháp quốc tế” về nhân quyền nhưng tránh không nói chính xác điều nào, khoản nào mà Hà Nội “không nắm rõ”.

Muốn biết Hà Nội vi phạm nhân quyền vì dốt luật hay vì một ly do nào khác chúng ta hãy theo dõi những đối thoại giữa CSVN và các “thẩm phán công tố” trước Hội Đồng Nhân Quyền của LHQ. Ngày 14/05/2009 Hội Đồng Nhân Quyền của LHQ công bố phúc trình về cuộc kiểm điểm vấn đề nhân quyền tại Việt Nam, trong đó có những đối thoại đáng chú ý như sau:

Hoa Kỳ đòi hỏi CSVN hãy công nhận Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất và cho phép các chi nhánh của Hòa Hảo và Cao Đài hoạt động. CSVN bác bỏ đề nghị này của Hoa Kỳ. Như vậy, Hà Nội đàn áp quyền tự do tôn giáo vì độc tài chứ không vì “Nắm không chắc” ý nghĩa của quyền tự do tôn giáo qui định trong luật quốc tế nhân quyền. Sức lớn mạnh của tôn giáo tại Việt Nam là một đe dọa trầm trọng đối với chế đô độc tài Hà Nội. Đó là lý do giải thích tai sao ngày 8 tháng 5 năm 2009, trong báo cáo đọc trước Hội Đồng Nhân Quyền Của LHQ, CSVN nhấn mạnh rằng: dân số VN trên 85 triệu người nhưng tín đồ các tôn giáo cộng gộp lai chi đạt con số 20 triệu người.

Canada đòi hỏi CSVN công bố số lượng người bị giam cầm vì lý do an ninh và tin tức về những người này. CSVN bác bỏ đòi hỏi vừa nêu của Canada. Sự thể này cho thấy tại VN còn rất nhiều tù chính trị. Đây là sự tố cáo CSVN đã trắng trợn vi phạm Công ước quốc tế về quyền dân sự chính tri mà Hà Nội đã ký cam kết tôn trọng.

Anh quốc yêu cầu CSVN hãy mở ra những đối thoại giữa nhà cầm quyền và những tổ chức dân sự. Hà Nội bác bỏ yêu cầu vừa nêu. Tổ chức dân sự là những tổ chưc hoàn toàn không có bàn tay chi phối của chính quyền. Tổ chức dân sự là những tổ chức do người dân tự đứng ra thành lập và điều hành nhằm thực hiện một số tác vụ theo đúng đòi hỏi của xã hội. Ngăn cấm sự ra đời cua các tổ chức dân sự chế độ Hà Nội vừa chà đạp quyền tự do lập hội của luật quốc tế nhân quyền vừa tự tố cáo trước công luận CSVN là chế độ độc tài đến độ từ chối tiếp xúc với người dân, từ chối đối thoại với các tổ chức dân sự.

Thụy Sĩ yêu cầu CSVN hãy mời đặc sứ nhân quyền của LHQ vào Việt Nam kiểm tra nhân quyền trên mọi lãnh vực khác nhau. Hà Nội dứt khoát từ chối đề nghị này của Thụy Si. Sự việc kia cho thấy thái độ gian dối của CSVN trước Hội Đồng Nhân Quyền của LHQ ngày 08/05/2009. Thực vậy, một mặt CSVN khai rằng họ vi phạm nhân quyền vì họ “nắm không chằc” luật quốc tế nhân quyền. Mắt khác CSVN lại ngăn cấm đặc phái viên nhân quyền LHQ vào Việt Nam kiểm tra nhân quyền. Kiểm tra tức là hướng dẫn Hà Nội hiểu biết thế nào là nhân quyền trong những vụ việc cụ thể. Rõ ràng là Hà Nội khai một đường, hành động một nẻo.

Áo quốc đề nghị Hà Nội cho biết số lượng trại tù và hoàn cảnh pháp lý của mỗi tù nhân. CSVN bác bỏ dề nghị của Áo Quốc. Hà Nội bao giờ cũng lớn tiếng khẳng định Việt Nam không có tù chính tri, tai sao trước Hội Đồng Nhân Quyền của LHQ, CSVN lai che dấu tình trạng bắt bớ giam cam dưới chế độ CS?

Điều 19 của Công Ước Quốc Tế Về Các Quyền Dân Sự và Chính trị (ICCPR) đòi hỏi quyền tự do báo chí phải độc lập và tư nhân. Các quốc gia: Canada, Na Uy, Hà Lan, Anh, Mỹ, Phần Lan, Đức yêu cầu CSVN phải tôn trọng quyền tự do truyền thông đúng theo điều 19. Chế độ Hà Nội bác bỏ tức thời lới yêu cầu vừa nêu. Chế độ dân chủ là chế dộ dối thoại. Đối thoại giữa người dân với người dân, giữa người dân với nhà cầm quyền và giữa những cơ quan công quyền với nhau. Không thể có đối thoại nếu không có tự do truyền thông. Tự do truyền thông là xương sống của chế độ dân chủ. Chế độ dân chủ và nhân quyền như cá với nước. Mọi loại nhân quyền tại Việt Nam đều là bánh vẽ chừng nào nhà cầm quyền còn ngăn cấm quyền tự do truyền thông của tư nhân.

Tóm lại trong báo cáo nhân quyền đọc trước Hội Đồng Nhân Quyền LHQ, CSVN nhìn nhận họ đã vi phạm nhân quyền vì hiểu biết của Hà Nội về luật quốc tế nhân quyền rất hạn chế. Thế nhưng khi bị những quốc gia thành viên Hội Đồng Nhân Quyền LHQ yêu cầu CSVN tôn trọng nhân quyền theo từng điều khoản cụ thể thì Hà Nội đã phản ứng ra sao? Thưa rằng: Trong trường hợp này CSVN không thể bảo là họ không hiểu luật, Hà Nội đành ra mặt lì lợm bác bỏ những yêu cầu chánh đáng của quốc tế về nhân quyền. Sự việc “đành ra mặt” vừa kể được gọi là “Lạy ông tôi ở bụi này”. Nhìn vào trong bụi, LHQ thấy rất rõ: chà đạp nhân quyền người dân Việt Nam đích thực là “Chủ trương lớn của đảng và nhà nước”CSVN. Chủ trương này có mục đích bảo vệ sự tồn tại của một triều đình độc tài, bán nước và tham ô.

Đỗ Thái Nhiên

BA MƯƠI SÁU NĂM QUA RỒI... - Trọng Đạt



Trọng Đạt


Ngày 30-4-1975, một ngày kinh hoàng nhất đối với người dân miền nam nước Việt khi họ thấy xe tăng và bộ đội Cộng Sản tràn vào tiếp thu Sài gòn, ai nay mường tượng ra một tương lai đen tối mù mịt sẽ diễn ra tại mảnh đất này: đói khổ, thóc cao gạo kém, mất tự do, sưu cao thuế nặng, bị trả thù, lưu đày… Mặc dù cũng là người Việt Nam máu đỏ da vàng nhưng người Sài gòn chỉ biết đây là những người ngọai lai, xâm lược, họ biết rằng đất nước của mình đã bị đạo quân từ bên ngoài tới chiếm đóng.

Từ sau 1954, Việt Nam chia ra làm hai nước, một nước ở phía trên vĩ tuyến 17, hay trên sông Bến Hải và một nước ở dưới vĩ tuyến và dòng sông nhỏ này. Từ những năm đầu thập niên đã diễn ra cuộc chiến tranh giữa hai nước: miền Bắc được Cộng sản quốc tế trợ giúp vũ khí đạn dược đã mở cuộc chiến tranh dưới danh nghĩa “giải phóng” chiếm cho được vựa lúa miền Nam để cứu đói miền Bắc đã và đang thiếu thốn thực phẩm, lúa gạo trầm trọng. Cuộc chiến mở rộng bắt đầu từ 1964, 1965 khi miền Bắc công khai đưa quân vào miền Nam để chiếm cho được mảnh đất phì nhiêu béo bở này. Tình hình chiến sự trở nên tàn khốc trong khoảng 10 năm từ 1965 cho tới 1975, đó là cuộc chiến giữa một nước nghèo đói lạc hậu miền Bắc VN và một nước sung túc tiến bộ ở miền Nam VN. Miền Bắc có ưu thế ở chỗ họ được CS quốc tế viện trợ vũ khí dồi dào, vô hạn định và một dân số đông đúc, họ có cơ hội thuận tiện để đẩy hàng triệu thanh niên vào cuộc chiến.

Mặc dù bị thiệt hại nặng nề nhiều trăm ngàn người trong những năm giữa và cuối thập niên 60, nhưng miền Bắc vẫn tiếp tục cuộc phiêu lưu, họ có ưu thế của kẻ nghèo đói không sợ chết, dù tổn thất bao nhiêu cũng không đáng kể miễn là chiếm được vựa lúa miền Nam VN. Sau khi nướng hơn một triệu thanh niên họ đã đạt được mục tiêu, chinh phục được miền Nam sung túc.

Khi mới vào tiếp thu Sài gòn họ nói “Đế quốc Mỹ bại trận, dân tộc ta là kẻ chiến thắng”, miệng nói hòa giải dân tộc nhưng trên thực tế sau khi thắng trận họ đã thỏa thuê mãn nguyện tha hồ mà vơ vét, chiếm đoạt nhà cửa, ruộng đất, quý kim, hàng hóa. Cựu đảng viên Cộng Sản Bùi Tín đã gọi đây là một cuộc ăn cướp vĩ đại. Nhà cửa, tài sản của dân di tản đương nhiên thuộc về quân chiếm đóng dù họ còn thân nhân ruột thịt, tất cả những nhà lớn đều thuộc về quân chiếm đóng, chủ nhà phải dọn đi ở những căn nhà nhỏ lý do phó thường dân không được quyền ở những nhà rộng lớn, cao tầng.

Có người nói đây là cuộc chiến tranh ý thức hệ giữa Tư bản và Cộng Sản, người cho đây là cuộc chiến chống Đế Quốc xâm lược, người nói đây là cuộc chiến tranh ủy nhiệm, hai miền Nam Bắc đã được các siêu cường uỷ nhiệm, nhưng sự thực đã quá rõ ràng, nó chỉ là một cuộc “chiến tranh ăn cướp” giữa một nước nghèo đói lạc hậu và một đất nước giầu có tân tiến. Nước nghèo ra sức đánh thí mạng để cướp của cải vật chất bên kia, để chiếm cho được mảnh đất phì nhiêu rồi tha hồ mà vơ vét, bóc lột. Nước nghèo đói chỉ biết lấy lưỡi lê và họng súng để theo đuổi cuộc chiến tranh ăn cướp lâu dài, họ chủ trương chính quyền đẻ ra từ họng súng.

Khi chiếm được miền Nam, cán bộ Cộng Sản tươi cười với đồng bào nói nào hoà bình thống nhất rồi, nào hai miền cùng xoá bỏ hận thù và cùng nhau xây dựng đất nước, hàn gắn vết thương chiến tranh. Thế nhưng họ không bao giờ bỏ được bản chất gian trá có từ hồi mới cướp chính quyền mùa thu 1945, chiếm xong Sài Gòn hoa lệ, đạo quân chiến thắng vội vã chở hết vàng bạc, quý kim của ngân hàng, tháo gỡ các máy móc trong các cơ xưởng, bệnh viện, vét hết các kho dụng cụ, hàng hoá, máy móc hiện đại ... chở ra Bắc. Số vàng bạc quý kim vơ vét được vào túi các quan cán bộ gộc hết, họ vơ vét nhanh gọn y như đàn cào cào châu chấu phá hoại mùa màng, sau cơn trấn lột tập thể vĩ đại ấy miền Nam chỉ còn là một mảnh đất nghèo xơ xác. Thực tế chứng tỏ tại châu Âu, nước Đức sau khi thống nhất, Đông Đức đã trở thành gánh nặng cho Tây Đức, họ gồm hàng tá khuyết điểm: lười biếng, gian trá, lạc hậu, ngu xuẩn … và tình hình Việt Nam cũng y hệt như thế, miền Bắc đã dựa hẳn vào miền Nam để sống.

Một hai năm sau ngày 30-4-75 Cộng Sản đánh tư sản hai lần để lấy nhà cho cán bộ, đổi tiền ba lần, chính quyền đã vét cạn sạch túi tiền người dân, kế đó họ phát động chiến dịch đẩy dân chúng đi kinh tế mới để dãn dân ra khỏi thành thị ngõ hầu có chỗ đưa dân từ miền Bắc vào. Kế hoạch chiếm nhà dân đã được kẻ chiến thắng hoạch định một cách tinh vi khoa học. Những người đi vượt biên dù thoát hay không thoát đều bị lấy nhà, những nhà lớn, nhà mặt đường của dân cải tạo liên hệ chế độ cũ hầu hết bị tịch thu, họ lấy tất cả nhà cửa tài sản của những người đi chính thức. Sau ngày 30-4-75 một hai tháng, họ lùa các viên chức, sĩ quan chế độ cũ vào các trại cải tạo lâu dài rồi đẩy miền Nam tới chỗ nghèo nàn cùng cực để không thể trỗi dậy chống lại họ. Người Sài Gòn mỗi ngày một nghèo, nhiều người phải bán nhà với giá rẻ mạt cho kẻ chiến thắng để lấy tiền đong gạo sống qua ngày. Cán bộ cao cấp từ miền Bắc kéo nhau vào Nam chiếm nhà của kẻ bại trận, cán bộ lớn chiếm nhà lớn, cán bộ nhỏ chiếm nhà nhỏ rồi tha hồ mà vơ vét cho đầy túi tham.

Thấm thoắt đã 36 năm trôi qua, đời sống kinh tế miền Nam ngày nay cao hơn những năm thập niên 80, 90 rất nhiều nhờ Hoa Kỳ bãi bỏ cấm vận và nhờ các nước giầu Đài Loan, Hoa Kỳ, Tây Âu, Đại Hàn, Nhật ... vào đầu tư cộng với tiền đô la của Việt kiều ở ngọai quốc gửi về dồi dào. Đời sống có khá hơn xưa nhưng cái hố chênh lệch giầu nghèo lại sâu gấp bội lần tình trạng xã hội trước 1975. Trong khi những bà mẹ nghèo khổ tay bế con, tay bán vé số thì những đảng viên quyền thế có cơ ngơi, nhà mặt đường, trong nhà lúc nào cũng có cả triệu đô la tiền mặt, mấy nghìn lượng vàng. Các quan to tỉnh ủy, ủy viên trung ương đảng đã thành phú gia địch quốc có khách sạn, nhà hàng, đất đai, cơ sở thương mại, sản xuất ... tài sản của họ có thể lên tới hàng trăm triệu đô la hoặc hơn thế. Nhiều người khi mới vào Nam chỉ mang theo có một manh chiếu rách nay đã trở thành những triệu phú đô la, xe ngựa nghênh ngang.

Nay người nghèo tại các tỉnh đổ xô lên Sài gòn và các thành phố lớn làm công nhân, họ chen chúc nhau thuê phòng trọ, hàng chục người một phòng nhỏ xíu với mức lương thấp 100 đô la hàng tháng, sau khi trả tiền phòng, tiền ăn họ chẳng còn dư đồng nào, những người cùng khổ này làm lụng vất vả nhưng chỉ đủ bỏ vào mồm. Đời sống thành thị tương đối còn khá, tại miền quê người dân lam lũ vật lộn với cuộc sống đắt đỏ, một hiện tượng phổ thông tại các nước kém mở mang, người nghèo ngày càng khốn khổ, người giầu ngày càng giầu thêm.

Mặc dù mức sống đã được nâng cao nhưng gần đây Thủ tướng CSVN nhìn nhận Việt Nam vẫn là một nước nghèo, thật vậy lợi tức đầu người VN nay vào khỏang 1,000 đô la một năm, trên thực tế chỉ bằng một nửa, hoặc một phần ba của các nước Phi châu như Ai cập, Lybia, Tunisie… nếu so với các nước láng giềng tại Đông Nam Á thì VN còn thua xa hơn nữa.

Nay người miền Bắc kéo vào Sài Gòn và các thành phố lớn tại miền Nam rất đông, họ là những người giầu có và quyền thế nhất Sài Gòn hiện nay, làm chủ hầu hết các nhà cửa to lớn của Sài Gòn và các nhà hàng lớn, các cơ sở thương mại, các cơ quan nhà nước... Họ là những cán bộ cao cấp và bà con thân thuộc được đưa vào đây để tranh dành hết những chức vụ béo bở, những công việc hái ra tiền. Tại các cửa hàng lớn, các cơ quan chỗ nào cũng thấy toàn là Bắc Kỳ, đó là giai cấp giầu có thống trị tại Sài Gòn hiện nay. Kẻ chiến thắng lấy đi tất cả, Winner takes it all, họ hưởng đủ tất cả lạc thú trên đời, biệt thự, xe hơi, rượu ngon, gái đẹp … không còn thiếu thứ gì.

Cho tới nay bộ mặt đổi đời của miền Nam càng lộ rõ hơn bao giờ hết bộ, kẻ thắng trận ngày càng giầu có, vơ vét, tập trung tài sản của nhân dân vào trong tay, bà con của họ cũng được chia chác những chức vụ béo bở, cơ sở làm ăn lớn tha hồ mà đớp hít… trong khi ấy người dân miền Nam, những kẻ bại trận ngày càng khốn khổ, trừ những người có thân nhân ở nước ngoài trợ giúp, đa số phải làm lụng đầu tắt mặt tối vì miếng cơm manh áo. Người miền Bắc nay đã trở thành giai cấp thống trị người miền Nam, họ tước đoạt tài sản nhà cửa của người miền Nam, đuổi người miền Nam đi các vùng kinh tế xa xôi khỉ ho cò gáy. Những kẻ bị áp bức bóc lột đành ngậm đắng nuốt cay, chịu khuất phục trước lưỡi lê và họng súng của đạo quân chiến thắng.

Đã một phần ba thế kỷ trôi qua, người miền Nam ngày nay dù là lớp người cũ hay lớp trẻ em sinh sau đẻ muộn vẫn nhìn chính quyền CS, nhìn người miền Bắc như đạo quân chiếm đóng, như bọn xâm lăng đã tước đọat tài sản, quyền sống của họ. Dù nói cùng một thứ tiếng, viết cùng một văn tự nhưng không hẳn phải là một quốc gia, thời xa xưa, Xuân thu, Chiến Quốc, thời Tam Quốc nước Tầu đã chia làm nhiều nước Tần, Sở, Yên, Ngô… và bây giờ Bắc Hàn, Nam Hàn cũng là hai quốc gia riêng biệt, châu Mỹ La Tinh cùng nói tiếng Tây Ban Nha, Trung Đông cùng nói tiêng Ả Rập nhưng đã chia làm mấy chục nước. Người miền Nam VN xa xưa không muốn thống nhất với miền Bắc cũng như Nam Hàn hiện nay không muốn thống nhất với Bắc Hàn lý do nước tân tiến sung túc không muốn mang cái gánh nặng lạc hậu trên vai.

Nay CS đưa ra luận điệu ru ngủ dân miền nam như hãy để Việt Nam Cộng Hòa lùi vào quá khứ, hãy quên đi lá cờ vàng, chúng ta hãy bắt tay nhau cùng xây dựng lại những vết thương do chiến tranh để lại, cùng nhau xoá bỏ hận thù nhưng người miền Nam lớp già cũng như lớp trẻ vẫn tiếc nhớ đất nước của họ, tiếc những cái họ đã mất từ bao năm qua:

- Tự do

Cái mất mát lớn nhất của người miền Nam phía dưới vĩ tuyến 17 là mất tự do, trước hết là tự do ngôn luận, thời xa xưa tại nước Việt Nam Cộng Hòa … báo chí được quyền chỉ trích sai trái của chính phủ, người dân được nói cái mình muốn nói, được biểu lộ sự phản kháng, biểu tình chống chính phủ, được thành lập đảng phái đối lập, được tự do hội họp. Người dân được quyền tự do tư tưởng, được đọc và viết điều mình muốn, sách báo không bị kiểm duyệt hoặc chỉ bị kiểm duyệt hạn chế, người dân được đọc sách báo nhập từ ngọai quốc trái với tình trạng ngày nay, sách báo hải ngọai gửi về bị vất vào thùng rác. Người dân VNCH được tự do cư trú, muốn ở đâu thì ở, muốn đi đâu thì đi nhưng nay họ phải chịu chỉ định cư trú, theo chế độ hộ khẩu, bị chính quyền địa phương giám sát, theo dõi nghiêm ngặt. Từ mấy chục năm nay quân chiếm đóng đã tước đọat hết mọi quyền tự do của người dân miền nam nước Việt.

- Luật pháp

Người dân VNCH đã được luật pháp bảo vệ tài sản tính mạng, có tòa án, có luật sư bào chữa, người dân chỉ bị bắt giam tối đa 24 giờ đồng hồ nếu không có bằng cớ phạm pháp, nay họ có thể bị công an nhà nước bắt giam vì bất cứ lý do gì hoặc chỉ là tình nghi. Họ có thể bị giam giữ vô thời hạn mà không cần đưa ra tòa xét xử, phải có án, người dân có thể bị chính quyền, bị kẻ thống trị cướp đoạt đất đai tài sản mà không thưa kiện ai được. Sau 30-4-1975, trại tập trung, nhà giam mọc lên như nấm tại miền Nam, hàng trăm ngàn người bị lùa vào trai tù dưới danh nghĩa cải tạo mà không hề được xét xử, họ bị giam giữ lâu dài có người lên tới mười mấy năm trời. Sống trong xã hội áp dụng luật rừng hiện nay, người miền Nam ai cũng nơm nớp lo sợ, họ có thể bị bắt bất cứ lúc nào không có lý do, chỉ một sự tình nghi hoặc tư thù với cán bộ có thể bị giam giữ lâu dài.

- Đạo đức

Người dân miền Nam nay tiếc nhớ xã hội có kỷ cương đạo lý của VNCH ngày xưa, trước 1975, miền nam là một xã hội có tổ chức nghiêm chỉnh, chịu ảnh hưởng sâu xa của giáo lý Khổng Mạnh, con người có nhân phẩm, gia đình và học đường giáo dục đạo đức luân lý cho con em để trở thành con người tốt của xã hội. Nay thì khác hẳn, xã hội đương thời sô bồ, băng hoại phản đạo đức luân lý, phim ảnh khiêu dâm đồi bại lan tràn, đĩ điếm, bia ôm, đầy rẫy cả thôn quê thành thị, con gái bị bán đi làm đĩ khắp nơi. Con người ngày nay chỉ biết có đồng tiền, lửa đảo, lưu manh trộm cướp, băng đảng lộng hành, trẻ nít chửi thề tục tĩu ngay tại học đường, tham nhũng hối lộ từ trên xuống dưới, có người nói giả thử chế độ CSVN sụp đổ, người ta phải mất ít nhất là ba thế hệ mới xây dựng được xã hội lành mạnh như xưa.

- Tài sản

Nhiều người mất cơ mất nghiệp, nhiều người xưa là thương gia, đại phú bị quân chiếm đóng lấy nhà tịch thu tài sản đuổi đi vùng kinh tế mới rồi trốn về Sàigòn với tấm thân tàn ma dại. Nhiều người khá giả có nhà lớn hoặc nhà mặt đường đi vượt biên không thoát bị quân chiếm đóng lấy nhà nay nghèo khốn nghèo khổ tiếc nhớ thời oanh liệt xa xưa. Những người có tài sản làm việc cho chế độ cũ phải vào trại tập trung cũng bị chính quyền “mượn nhà” nay tiếc nhớ thủa vàng son của mình ….

- Giáo dục, Y tế

Khoảng 1980, trong một phiên họp nhân viên tại bệnh viên Vũng Tầu, một chị dược sĩ gốc ngoài Bắc vào đã phát biểu: “Chế độ Ngụy mà chúng ta đánh đổ nó nhưng nó đào tạo các chuyên viên như kỹ sư bác sĩ giỏi hơn chúng ta”.

Thật vậy nền giáo dục Việt Nam Cộng Hòa trước 1975 đã đào tạo các chuyên viên khoa học kỹ thuật tương đương với các nước tân tiến và đã được chính phủ Pháp công nhận có giá trị ngang hàng. Văn bằng trung học VNCH đã theo đúng chương trình của người Pháp, việc thi cử rất nghiêm chỉnh, văn bằng trung học, đại học cũng đã được coi ngang hàng với văn bằng bên Pháp, việc thi cử dưới trung học nhất là thời Đệ nhất cộng hòa thập niên 60 có phần còn khó khăn hơn ở ngọai quốc. Nay người gốc miền Nam vẫn tiếc nhớ một thời giáo dục vàng son của họ vì nền giáo dục hiện nay của quân chiếm đóng đã sản xuất ra một lô những văn bằng “lèo”, thạc sĩ, tiến sĩ nhiều như lá mùa thu, các quan to Thứ trưởng, Tỉnh ủy, huyện ủy đều có thể mua bằng tiến sĩ “ma”, thạc sĩ “lèo”, nạn bằng giả bằng ma tại VN ngày nay không còn gì xa lạ. Học sinh từ tiểu học lên trung học, đại học VNCH hồi xưa đều được học miễn phí, chỉ riêng bậc trung học có thêm trường tư thu học phí, ngày nay trẻ em thất học nhiều vì không có tiền đóng học phí.

Trước 1975, nhà giầu hoặc những người có tiền khi ốm đau nặng đi bệnh viện tư, người nghèo đã có nhà thương thí của chính phủ lo. Nay lấy danh nghĩa xã hội chủ nghĩa để mị dân, chính quyền CS chỉ biết thu thuế, không mảy may để tâm tới phúc lợi người dân, các bệnh viện ở Việt Nam hiện nay đòi hỏi bệnh nhân phải có tiền, không có tiền thì chịu chết, đi học, chữa bệnh phải có tiền, cái gì cũng phải mất tiền.

- Bình đẳng

Mặc dù có một số khuyết điểm nhưng VNCH trước đây tương đối là một xã hội công bình, tuy có nạn bè phái nhưng người có tài đức dù thân cô thế cô vẫn có cơ hội tiến thân điển hình là Giáo sư Nguyễn Văn Bông. Xuất thân từ người con thông minh trong một gia đình nghèo tại miền quê, Bông đã phải làm lao động thêm để lo đèn sách, lớn lên anh ta xuất dương du học, làm bồi tầu, khuân vác cực nhọc rồi thành công vẻ vang, đậu tiến sĩ, thạc sĩ, làm tới chức Viện trưởng một Học viện lớn, nếu sống dưới chế độ CSVN hiện nay, tột đỉnh cuộc đời của ông ta chỉ có thể làm một thầy giáo làng quèn mà thôi.

Từ 1975 cho tới nay, sự học hành, công ăn việc làm chỉ con cái cán bộ, đảng viên hoặc những người từ miền Bắc vào mới được ưu tiên, con cháu các cựu quân nhân, viên chức chế độ cũ hoặc phó thường dân Nam bộ vẫn bị kỳ thị phân biệt đối xử nặng nề, chính quyền CS duyệt xét lý lịch đương đơn rất kỹ. Những công việc tốt, lương cao, béo bở hái ra tiền … chỉ dành cho các đảng viên hoặc họ hàng thân thuộc, những người từ miền Bắc vào Nam còn những việc xương xẩu, làm chỉ đủ bỏ vào mồm mới đến tay thành phần chế độ cũ hoặc phó thường dân Nam bộ.

Nay người dân phía dưới sông Bến Hải vẫn tiếc nhớ một thời vàng son của miền Nam nước việt nhưng cái thời ấy nay đã chết rồi, nó chỉ còn để lại một tiếng vang, vang bóng một thời. Quân chiếm đóng đã tàn nhẫn bế mạc cái thời huy hoàng ấy, mặc dù họ lớn tiếng kêu gọi xóa bỏ hận thù nhưng người miền Nam vẫn không thể quên những hành động trắng trợn của họ tại mảnh đất này.

Quân chiếm đóng có thực sự muốn xoá bỏ hận thù hay không? Họ xóa bỏ hay đào sâu thêm cái hố sâu hận thù đã vốn dĩ sâu thăm thẳm từ bao năm qua? Người Việt Hải ngoại chúng ta hòa hợp với quân chiếm đóng, đem tài nguyên tài năng về Việt Nam xây dựng quê hương hay là để củng cố thêm quyền lực và tài sản cho bọn thống trị, để họ vơ vét thêm tài sản nhân dân cho đầy túi tham và đè đầu cưỡi cổ nhân dân miền Nam thêm nhiều thế kỷ nữa? Trước mắt chúng ta thấy họ vẫn ngoan cố như tự bao giờ, trước sau như một.

Địa vị của quân chiếm đóng, của bọn thống trị vẫn phải được củng cố vững mạnh hơn bao giờ hết bằng lưỡi lê và họng súng.

Trọng Đạt

Tuesday, May 17, 2011

Kết quả của sau hơn 36 năm tiến nhanh xuống hàng chó ngựa

    The dangers facing Vietnam's street kids
May 16, 2011 5:14 p.m. EDT

(CNN) -- Every day, thousands of children are living and working on the streets of Vietnam's cities. Michael Brosowski is trying to give many of them a chance at a brighter future.

Through Brosowski's Blue Dragon Children's Foundation, more than 350 Vietnamese children have been given safe shelter and enrolled in school. The organization has a network of programs in cities throughout Vietnam, and it recently broadened its efforts to combat child trafficking. So far, it has rescued more than 100 trafficked children.

Brosowski recently spoke with CNN about the struggles facing Vietnam's street children.

CNN: Who are Vietnam's street kids?

Michael Brosowski: When we were starting out back in 2002, the kids were pretty much all boys coming from rural areas. And they were coming to make a little bit of money to supplement the family income. Mom and dad can hardly afford money to send the rest of the kids to school, can't afford to get enough food on the table, so they think, well, you might as well go to Hanoi and work.

These days, we're mostly coming across runaway children, and it's where kids are having some kind of family problem. Poverty is usually part of the problem, but it's not the only problem. Very often, there might be alcoholism, sometimes drug use.

It might be that one of the parents has died and the remaining parent has remarried and then that new husband and wife couple don't want the kids from the previous marriage. So kids are ending up now on the streets of Hanoi more because they feel unwanted at home rather than coming here to earn money to support the family.

CNN: What dangers do the kids face on the streets in Vietnam?

Brosowski: The dangers now are much greater, and there are more of them than when we started out. There's a lot more gang activity on the streets and a lot more cases of trafficking.

One reason that street kids here in Vietnam are mostly boys is that the families have this view that the girls should be somewhere safe and secure, but the boys are fine (and) they can wander around at will.

In reality, they're not fine. In reality, the boys are facing gangs, they're facing arrest. And the longer they're out on the street, the worse habits they learn. There are gangs selling heroin, and heroin here is very cheap, widely accessible and a lot of people's job is to get young people hooked on it so that then they've got to start buying it.

Meanwhile, the girls ... they're going to end up in positions that can very often be exploitative or abusive. So we've also got to think about how to protect the girls.CNN: What are some of the challenges you and your group encounter when working with street kids?

Brosowski: As satisfying as (this work) is, it's not easy. One of the things I always tell my staff is, "It's never the end of the story."

Today, there might be a kid who is getting in trouble, has broken the law, he's had a fight in our center, he's told the staff to get lost. Tomorrow, that same kid might really start to make a change in their life. But equally there can be a kid doing really well today -- doing his best at school, behaving well. And tomorrow he might be out there stealing with a gang. So our work is never finished, in a sense. There's always something more that could happen, and I think that's the biggest frustration for us.

Sometimes there are kids we've worked with for a year who've then come back at night, broken in and robbed us. That's what hurts us all the most, because we take that personally. We put so much of ourselves into the kids.

But we've had kids do that and then come back to us later really sorry. And they've actually come back to make amends. And that's more powerful still to have someone who's been with us and then gone astray and then come back, because I think that shows the power of our work.

See the full story on CNN Hero Michael Brosowski:http://www.cnn.com/2011/WORLD/asiapcf/05/16/cnnheroes.brosowski.vietnam.trafficking/


Sunday, May 15, 2011

Chương trình Gây Quỹ Xây Dựng Tượng Đài Tưởng Niệm Thuyền Nhân Việt Nam tại Saigon Place

Vietnamese Community In Australia
Cộng Đồng Người Tự Do Úc Châu Sydney, NSW
http://www.vietnamese.org.au/

*****

Bankstown Office
23 Greenwood Avenue
Bankstown NSW 2200
(02) 9796 8035 - (02) 9790 3934
(02) 9796 3794
bankstown@cdnvnsw.org

Cabramatta Office
4/50 Park Road
Cabramatta NSW 2166
(02) 9727 7599
(02) 9727 5599
(02) 9727 5276
bankstown@cdnvnsw.org

Community and Cultural Centre
6-8 Bibbys Place
Bonnyrigg NSW 2177
bankstown@cdnvnsw.org

Sydney, ngày 11 tháng 5 năm 2011
    Kính thưa: Quý vị Lãnh đạo Tinh Thần
    Quý hội đoàn, đoàn thể, tổ chức
    Quý cơ quan truyền thông Việt Ngữ
    Quý Đồng Hương
Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, khoảng 2 triệu người Việt đã bỏ nước ra đi tìm tự do trên những con thuyền mong manh bất chấp muôn vàn hiểm nguy. Hàng trăm ngàn người đã bỏ mình trên biển cả vì sóng gió, bão táp, đói khát, bệnh tật, bị hải tặc tấn công, cướp bóc, hãm hiếp và giết chết. Theo thống kê của Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc có khoảng 600,000 thuyền nhân Việt Nam đã bỏ mình trên đường vượt biển, vượt biên tìm tự do.

Được sự hỗ trợ của Hội Đồng Thành Phố Bankstown, Cộng Đồng Người Việt Tự Do NSW sẽ thực hiện một Tượng Đài Tưởng Niệm Thuyền Nhân Việt Nam tại Saigon Place, Bankstown, để tưởng niệm các thuyền nhân đã bỏ mình trên biển. Chương trình xây dựng nầy là một công trình chung của cộng đồng chúng ta, vì Tượng Đài Thuyền Nhân Việt Nam là một biểu tượng mang nhiều ý nghĩa gắn liền với tình cảm, lý tưởng tự do và lịch sử định cư của người Việt Tỵ Nạn. Tượng Đài nầy cũng là để ghi nhận sự định cư, hội nhập và đóng góp thành công của Thuyền Nhân Tỵ Nạn Việt Nam tại tiểu bang New South Wales nói chung và thành phố Bankstown nói riêng.

Tượng Đài sẽ được làm bằng đồng cao 3 mét 8 bao gồm 3 phần chính là Thuyền Nhân Việt Nam, Con Thuyền Tỵ Nạn dài 3 mét 5 và Sóng Biển theo như mẫu thiết kế đã được chấp thuận. Chi phí cho chương trình xây dựng nầy là $240,000 cộng GST là $264,000.
    - Hội Đồng Thành Phố Bankstown trao tặng: $ 75,000
    - Chính phủ tiểu bang NSW trao tặng: $ 50,000
    - Số tiền do CĐNVTD/NSW đóng góp: $139,000
    Tổng cộng: $264,000
Để giúp Cộng Đồng Việt Nam trong việc gây quỹ, Bankstown Sports Club đã tặng CĐ một bữa tiệc gây quỹ trị giá $60,000 để khoản đãi 600 khách. Ban Chấp Hành CĐNVTD/NSW tha thiết mời gọi Đồng Hương tích cực tham gia đóng góp cho Chương Trình Gây Quỹ Xây Dựng Tượng Đài Thuyền Nhân Việt Nam nhằm giúp Cộng Đồng có đủ số tiền $139,000 để chương trình xây dựng được hoàn tất theo dự trù. Xin trân trọng kính mời Quý Vị xem chi tiết chương trình gây quỹ được trình bày trong tập tài liệu nầy.

Chúng tôi tin rằng kể từ nay, người Việt Tỵ Nạn và con cháu chúng ta tại Tiểu Bang NSW và tại Úc sẽ có thêm một biểu tượng có giá trị lịch sử để hãnh diện với Cộng Đồng Thế Giới vì nơi đây, chúng ta có Tượng Đài Thuyền Nhân Việt Nam đặt tại Saigon Place.

Trân trọng kính chào

Nguyễn Văn Thanh
Chủ Tịch



Số tiền đóng góp

Phưong cách ghi nhận

Dưới $200

Biên lai chính thức và đặc biệt do CĐNVTYD/NSW ấn hành

Trên $200 - $500

Tấm hình tượng đài (A4 – 21cmx30cm) & Biên lai chính thức

Trên $500-$2000

Bằng Cảm Tạ & Tấm hình tượng đài (A4 – 21cmx30cm)

Trên $2000 - $5000

Plaque Cảm Tạ & Tấm hình tượng đài (A4 – 21cmx30cm)

Trên $5000

Bằng Cảm Tạ & Khung hình tượng đài khổ lớn (A1 – 60cmx85cm)

Đặc biệt: Quý vị đóng góp từ $1000 trở lên sẽ nhận được Thiệp Mời Đặc Biệt tham dự Bữa Tiệc Gây Quỹ vào ngày Thứ Sáu 1 th áng 7 năm 2011 t ại Bankstown Sports Club (trị giá $100/người) như sau: $1,000: 2 thiệp, $2000: 4 thiệp, $3000: 6 thiệp, $4000: 8 thiệp và $5000: 1 bàn 10 người.

ĐỊA ĐIỂM NHẬN ĐÓNG GÓP:

BANKSTOWN

  1. Văn phòng CĐNVTD/NSW tại Bankstown
    23 Greenwood Avenue, Bankstown NSW 2200
    - ĐT: 9796 8035

  2. Phòng mạch Bác sĩ Liêu Vĩnh Bình
    310 Chapel Road South, Bankstown NSW 2200
    - ĐT: 9796 7545

  3. Phòng mạch Bác sĩ Vũ Ngọc Tấn
    1/326 Chapel Road South, Bankstown NSW2200
    - ĐT: 9790 5375

CABRAMATTA

  1. Văn phòng CĐNVTD/NSW tại Cabramatta
    4/50 Park Road, Cabramatta NSW 2166
    PO Box 106 Cabramatta NSW 2166
    - ĐT: 9227 5599

  2. Phòng mạch Bác sĩ Nguyễn Mạnh Tiến
    16/49 Park Road, Cabramatta NSW 2166
    ĐT: 9726 6595

  3. Văn phòng Luật sư Nguyễn Văn Thân
    10/104 John Street, Cabramatta NSW 2166
    - ĐT: 9724 7188

  4. Phòng mạch Bác sĩ Lê Đình Cường
    3/76-80 John Street, Cabramatta NSW 2166
    - ĐT: 9755 9040

PHƯƠNG CÁCH ĐÓNG GÓP:

Bằng tiền mặt:

- Xin vui lòng đến một trong những địa điểm đóng góp trên để trao tiền và lấy Biên Nhận.

Bằng ngân phiếu (cheque): Xin viết ngân phiếu trả cho:

    Vietnamese Community in Australia/NSW Chapter – Boat People Monument.
    Commonwealth Bank of Australia
    Số BSB: 062 130 - Số trương mục: 1105 4935
- Xin đến một trong những địa điểm kể trên để trao ngân phiếu và lấy Biên Nhận.

- Nếu gửi ngân phiếu qua đường Bưu Điện, xin ghi rõ tên người gửi, địa chỉ, điện thoại và email (nếu có) để chúng tôi liên lạc gửi Biên Nhận.

- Nếu số tiền là do các Hội Đoàn, Đoàn Thể, Tổ Chức và Nhóm Sinh Hoạt Cộng Đồng gây quỹ quyên góp được, xin ghi rõ tên của tổ chức, chi tiết của người liên lạc và danh sách người đóng góp để việc đóng góp được ghi nhận.

Bằng cách chuyển ngân khoản (electronic transfer)

- Quý vị có thể chuyển tiền thẳng vào trương mục:
    Vietnamese Community in Australia/NSW Chapter – Boat People Monument
    Commonwealth Bank of Australia
    Số BSB: 062 130 - Số trương mục: 1105 4935
- Sau khi chuyển tiền, xin gửi email đến quynh.bui@vietnamese.org.au báo cho chúng tôi biết để tiện việc kết toán và gửi Biên Nhận đến quý vị.

Muốn biết thêm chi tiết, xin liên lạc: