Sunday, August 30, 2009

Bi kịch Làng Mai Bát Nhã - Đỗ Thái Nhiên

Đỗ Thái Nhiên

Làng Mai bát nhã và kịch bản trắng tay

Trên địa bàn hành chánh công quyền, ngôn ngữ Việt Nam có rất nhiều chữ để xác định vị trí hành chánh của thành phần quan-chức-nhà-nước: Quan văn, quan võ, chánh án, thượng thư, tể tướng, v.v … Những năm gần đây, công luận trong và ngoài nước thường nhắc tới một loại chức chưởng nghe rất lạ tai. Đó là “quan cướp ngày”. Thế nào quan cướp ngày? Câu hỏi vừa nêu đã được giới bình dân Việt Nam trả lời như đùa, nhưng rất nghiêm chỉnh:
    “Con ơi nhớ lấy câu này,
    Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan”
    (Ca dao Việt Nam)
Về mặt thời sự Việt Nam, các quan Cộng sản (CS) đang thực hiện một vụ cướp ngày nhằm vào Làng Mai Bát Nhã. Câu chuyện này chẳng khác nào một vở kịch gồm hai màn:

Màn một – Hồi một - Sơ giao và dụ dỗ con mồi:

Làng Mai là một trung tâm thiền tập do Thiền Sư Nhất Hạnh sáng lập. Trung tâm này hình thành tại miền Tây Nam nước Pháp năm 1982.

Năm 1998 chương trình “Hiểu và Thương” của Làng Mai nhận lời cộng tác với Thượng Tọa Đức Nghi để mở các lớp nhà trẻ tại Bảo Lâm và Bảo Lộc. Được biết Thầy Đức Nghi là thành viên của Ban Trị Sự tỉnh Lâm Đồng, trực thuộc Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, gọi tắt là Phật Giáo quốc doanh. Vẫn năm 1998 thầy Đức Nghi đi Pháp để thăm Làng Mai và đi Mỹ thăm tu viện Lộc Uyển và để quyên tiền xây chùa Bát Nhã. Năm 2001, 2003, 2005 cho đến nay thầy Đức Nghi và các đệ tử của thầy liên tục đến Pháp gọi là để tu học pháp môn Làng Mai.

Các năm 2003-2004 thầy Đức Nghi mời một số giáo thọ (giảng viên) của Làng Mai về Việt Nam giảng dạy các khóa tu 5 ngày tại chùa Bát Nhã, Bảo Lộc, Lâm Đồng. Đồng thời thầy Đức Nghi còn ngỏ ý sẵn lòng bảo lãnh cho các giáo thọ Làng Mai được về Việt Nam 6 tháng mỗi năm để giảng dạy pháp môn Làng Mai cho đồng bào Phật tử.


Đại bịp sư hổ mang gặp Tướng việt cộng
Năm 2005, lần đầu tiên, Thiền Sư Thích Nhất Hạnh hướng dẫn 100 thiền sinh về thăm Việt Nam. Trước mặt đông đảo tăng ni, đồng bào Phật Tử, cán bộ các cấp tỉnh Lâm Đồng, thầy Đức Nghi long trọng tuyên xưng các lý lẽ sau đây:

1. Thầy Đức Nghi rất tâm đắc với những tác phẩm của thiền sư Nhất Hạnh.

2. Thầy Đức Nghi muốn khôi phục lại trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội do Hòa Thượng Nhất Hạnh sáng lập năm 1964 tại Việt Nam.

3. Sau nhiều năm đi thăm viếng những trung tâm tu học trên thế giới, thầy Đức Nghi cho rằng: pháp môn Làng mai là pháp môn thích hợp với đồng bào Việt Nam nhất.

4. Hòa Thượng Thích Nhất Hạnh là người yêu nước, có lòng tôn vinh Đạo Pháp và Dân Tộc.
Bởi các lý lẽ nêu trên thầy Đức Nghi quyết định cúng dường tu viện Bát Nhã cho Thiền Sư Thích Nhất Hạnh và Làng Mai Pháp quốc. “Được lời như cởi tấm lòng”, thiền sư Nhất Hạnh hoan hỉ chấp nhận sự cúng dường kia. Với tâm trạng “như cởi tấm lòng”, thầy Nhất Hạnh tuyên bố:
“Làng Mai chỉ chuyên phụ trách việc tu học pháp môn Làng Mai. Chủ bất động sản vẫn là thầy Đức Nghi. Đồng thời thầy Đức Nghi nắm giữ công việc điều hành toàn bộ các vấn đề hành chánh, tài chánh, thay mặt tu viện Bát Nhã tiếp xúc với chính quyền các cấp”. Từ đó, tu viện Bát Nhã, Bảo Lộc, Lâm Đồng nghiểm nhiên được gọi là Làng Mai Bát Nhã.

Tháng 01/2006, tại Làng Mai Pháp, thầy Đức Nghi cùng với đệ tử là thầy Thích Đồng Châu được thiền sư Nhất Hạnh truyền đăng đắc pháp, trở thành giáo thọ Làng Mai, đồng thời là đệ tử của Sư Ông.

Đầu tháng 05/2007, thầy Nhất Hạnh và phái đoàn được Nguyễn Minh Triết tiếp kiến tại phòng khách, phủ chủ tịch, Hà Nội.

Ngày 07/07/2006, bằng công văn số 525-TGCP-PG, Ban tôn giáo chính phủ đã chấp thuận cho phép Làng Mai Bát Nhã tu học theo pháp môn Làng Mai.


Hai Đại Ma Đầu Gian Hùng Gặp Gỡ

Như vậy, với sự chứng giám của chủ tịch nhà nước CHXHCNVN Nguyễn Minh Triết, một đàng là thầy Đức Nghi, đại diện Phật Giáo quốc doanh, đàng khác là thiền sư Nhất Hạnh, đại diện Làng Mai Pháp, hai đàng đã kết hợp cả về pháp lý lẩn cơ sở vật chất cùng nhân sự điều hành nhằm xây dựng và phát triển Làng Mai Bát Nhã. Thế là con mồi Làng Mai đã bước hẳn vào cạm bẩy của Phật Giáo Quốc Doanh.

Thế là công việc “Cùng nhau xây dựng quê hương” bắt đầu.

Hồi hai - Khai thác con mồi:

Làng Mai Bát Nhã có khoảng 250 tăng ni và 100 tập sự xuất gia. Hàng tuần ban giáo thọ Làng Mai họp sinh hoạt đều đặn với sự tham dự của Thượng Tọa Thích Đức Nghi, viện chủ tu viện Bát Nhã, cùng với phụ tá thầy Đức Nghi là thầy Thích Đồng Hạnh. Làng Mai Bát Nhã có ba hoạt động căn bản:

1. Hoạt động tu học:

– Hướng dẫn Phật tử đến tu học thường xuyên tại tu viện.
– Hướng dẫn các ngày tu quán niệm hàng tháng.
– Mỗi năm tổ chức hai khóa tu học 5 ngày dành cho giới trẻ. Mỗi khóa học có tới nhiều ngàn người tham dự. Có những khóa tu dành riêng cho tăng sinh. Tổ chức và tham dự lễ Tết, Phật Đản, Vu Lan, lễ Vesak. Phục hồi hoạt động GĐPT …

2. Hoạt động thiện nguyện:

– Hệ thống nhà trẻ của chương trình “Hiểu và Thương” do tăng thân Làng Mai Bát Nhã điều hành. Hệ thống này gồm 25 lớp, 60 cô giáo và bảo mẫu và 1000 trẻ em Bảo Lâm, Bảo Lộc. Chi phí của nhà trẻ bao gồm: tiền lương cho các cô giáo, tiền ăn cho trẻ em, học bổng tặng cho những em nghèo, hiếu học. Chi phí nhà trẻ và nhân sự điều hành do Làng Mai chịu trách nhiệm. Thầy Đức Nghi là thủ quỹ.

– Mặt khác, Làng Mai Bát Nhã còn được người Việt Nam trong nước biết đến như là một trung tâm vận dụng các phương pháp tu học và tĩnh tâm nhằm giúp những người bị chứng trầm cảm bình thường hóa sinh hoạt tâm sinh lý.

3. Hoạt động xây dựng cơ sở tu viện Bát Nhã:

– Tăng thân Làng Mai kêu gọi Phật tử trong và ngoài nước giúp đỡ 2 tỷ 800 triệu để nhờ Thầy Đức Nghi đứng tên mua giùm 8 mẫu đất nhằm mở rộng cơ sở Làng Mai Bát Nhã.

– Xây dựng nhà dưỡng lão trên khuôn viên tu viện Bát Nhã, trị giá 90 ngàn Mỹ kim. Ngày 21/02/2008 hoàn trả lại thầy Đức Nghi 1 tỷ 440 triệu, tiền ứng trước cho công tác xây cất vừa kể.

– Xây dựng cơ sở trên đất Phật tử Làng Mai (Thầy Đức Nghi đứng tên) trị giá 3 tỷ 370 triệu.

– Xây dựng tăng xá, ni xá và các loại thiền đường trị giá 12 tỷ 509 triệu.

Tháng 02/2007 công việc xây dựng cơ sở đã tạm xong. Lúc này Làng Mai Bát Nhã đã đủ sức chứa 500 người ăn ở và sinh hoạt. Tăng thân Làng Mai dự tính tập trung mọi năng lực vào việc xây dựng tăng thân và Phật Tử. Thế nhưng tăng thân định một đường, thầy Đức Nghi định một nẻo. Thầy Đức Nghi muốn tăng thân Làng Mai phải tích cực giúp thầy quyên góp một số tiền lớn để thầy xây dựng chùa Hoa Nghiêm. Chùa này sẽ là một trung tâm Phật Giáo đại qui mô có khả năng thu hút đông đảo du khách năm châu. Tăng thân Làng Mai giải thích để thầy Đức Nghi hiểu rằng mạnh thường quân của Làng Mai chỉ có khả năng giúp Làng Mai bảo quản và duy trì một trung tâm tu thiền cho khoảng trên dưới 400 người. Và rằng tăng thân Làng Mai tập trung xây dựng tăng thân và Phật tử chứ không có khả năng xây dựng và điều hành một trung tâm du lịch cấp quốc gia. Nói là nói vậy, trong thực tế tăng thân Làng Mai vẫn tìm cơ hội làm vui lòng thầy Đức Nghi. Tháng 11/2007 tăng thân Làng Mai Bát Nhã thu xếp cho thầy Đức Nghi đi thăm Làng Mai Hoa Kỳ (Tu viện Lộc Uyển). Đồng thời, tạo cơ hội để thầy Đức Nghi quyên góp tài chánh cho việc xây chùa Hoa Nghiêm. Điều không may là trong những ngày ở Mỹ kia, thầy Đức Nghi chỉ thâu được 45.000 Mỹ Kim. Từ đó, sau khi ở Mỹ về, thầy Đức Nghi tránh gặp mặt tăng thân Làng Mai Bát Nhã.

Màn hai – Hồi một

Luận tội và cưỡng hành trục xuất

18/06/2008 – Tại Làng Mai Bát Nhã, thầy Thích Nhất Hạnh nói chuyện với đệ tử bằng một bài pháp thoại mang tựa đề “Thầy dặn dò”. Sau đó, thầy Đức Nghi cắt đầu, cắt đuôi bài pháp toại kia chỉ còn 5 phút để xuyên tạc thiền sư Nhất Hạnh đã coi thường nhà cầm quyền và giáo hội Phật giáo địa phương, vi phạm qui chế của giáo hội Phật Giáo Việt Nam (Giáo Hội quốc doanh).

29/10/2008 – ông Nguyễn Thế Doanh, trưởng ban tôn giáo chính phủ đã ban hành văn thư số 1329/TGCP-PG. Văn thư này có đoạn viết nguyên văn như sau:

“Ba lần về Việt Nam, tăng thân Làng Mai (Nước Pháp) đã thực hiện một số việc như: tấn phong giáo phẩm không thông qua GHPGVN, đề cập sai lệch những vấn đề chính trị của đất nước, đưa lên internet (Website Làng Mai) một số thông tin sai sự thực và thực tế ở Việt Nam … Những việc làm ấy là vi phạm pháp luật Việt Nam.”

Cobra được các sư Quốc Doanh tiếp đón
Ngày 13/11/2008, công an xã Dambri, Lâm Đồng áp dụng biện pháp cưỡng hành nhằm trục xuất 400 đệ tử xuất gia cùng tập sự tu học theo pháp môn Làng Mai ra khỏi tu viện Bát Nhã. Con số 400 tu sĩ kia bao gồm ngoại kiều lẫn người Việt Nam cùng 40 ni cô xuất thân từ Huế.

Hồi hai

Cưỡng đoạt tài sả và đánh lạc hướng dư luận

Lo sợ văn bản số 1329/TGCP-PG ngày 29/10/2008 cùng với hành động trục xuất thô bạo các vị tu hành của công an Damb’ri, Lâm Đồng sẽ bị quốc nội và quốc tế phản ứng gay gắt, ngày 19/11/2008, CSVN triệu tập tại v/p 2GHPGVN, số 294 Nam Kỳ Khởi Nghĩa Saigon một phiên họp gọi là hội nghị Phật Giáo bất thường. Hội Nghi này gồm:

1. Đại diện nhà nước: ông Bùi Hũu Dược, vụ trưởng vụ Phật Giáo, từ Hà Nội vào.
2. Phật Giáo Trung Ương có HT Thích Hiển Pháp, phó pháp chủ, Hòa Thượng Thiện Nhơn Chánh thư ký, HT Từ Nhơn, Trí Quảng …
3. Phật Giáo Lâm Đồng: Ban trị sự Phật Giáo tỉnh Lâm Đồng, thầy Pháp Chiếu, Linh Toàn, Đức Nghi…

Đại diện Làng Mai không được mời tham dự phiên họp.

Sau vài giờ thảo luận, hội nghị bất thường về Phật Giáo đã đưa ra bốn kết luận dưới hình thức biên bản của phiên họp. Bốn điều kết luận như sau:

1. Mọi người, nếu muốn có thể tu theo pháp môn Làng Mai.
2. Tăng thân Làng Mai ai có đầy đủ giấy tờ, tu học tốt, có thể tiếp tục tu. Ai chưa đủ giấy tờ thì phải bổ xung.
3. Ai quậy phá thì sẽ bị xử lý.
4.Về tài sản, đôi bên tự giải quyết hoặc giải quyết theo luật pháp.

Biên bản này do thầy Thích Linh Toàn, trưởng ban từ thiện Phật Giáo Lâm Đồng ký tên.
Đọc bốn kết luận nêu trên người đọc hiểu ngay rằng: Hội nghị 19/11/2008 là một hội nghị lơ mơ, không có giải pháp rõ ràng, không có hiệu lực pháp lý. Nó chỉ có tác dụng đánh lạc hướng suy nghĩ của dư luận sau vụ CSVN ồn ào và thô bạo trục xuất 400 tu sĩ Làng Mai. Hội nghị tránh không nhắc tới công việc giảng dạy pháp môn Làng Mai. Riêng vấn đề tài sản, biên bản ghi rằng “giải quyết theo luật pháp”. Điều này có nghĩa là tất cả tài sản Làng Mai nhờ thầy Đức Nghi đứng tên, ắt hẳn sẽ thuộc về thầy Đức Nghi, hay nói rõ hơn, khối tài sản đồ sộ kia nay thuộc về GHPG/Lâm Đồng/Quốc doanh.

Làng Mai hoàn toàn trắng tay.

Đặc biệt, sự việc Làng Mai không đươc phép có tiếng nói trong hôi nghị 19/11/2008 đã mạnh mẽ xác nhận: ngày nay, đối với CSVN, Làng Mai hiển nhiên là một con số không. Đã là con số không, làm gì Làng Mai có tư cách thương thảo về tài sản.

Nói tóm lại, sau ba năm hòa hợp, hòa giải với CSVN, Làng Mai Bát Nhã đã bị hội nghị bất thường của Phật Giáo quốc doanh trung ương đẩy vào một hoàn cảnh đặc biệt bi thảm: từng người một đang bi trục xuất khỏi Việt Nam trong âm thầm với hai bàn tay trắng. Đó là nội dung cốt lõi của câu chuyện: Làng Mai Bát Nhã và Kịch Bản Trắng Tay.

Đỗ Thái Nhiên

DÙNG TIỀN DÂN CỦNG CỐ ĐẢNG - Ngô Nhân Dụng

Ngô Nhân Dụng

Marx và Engels đã lên án đồng tiền, coi đó chỉ là một khí cụ để giai cấp thống trị tư bản bóc lột giai cấp vô sản bị trị. Cho đến thập niên 1970, nhiều người cộng sản ở Âu Châu vẫn còn nuôi giấc mộng loài người sẽ tiến tới một xã hội không cần đến tiền tệ. Khi đó, mọi người đều làm việc cho guồng máy sản xuất chung mà không cần lãnh lương. Mỗi khi ai có nhu cầu nào thì cứ việc tới các cửa hàng chung, lấy về nhà sử dụng (Un Monde sans Argent: Le Communisme; Paris, 1975).

Các đảng Cộng Sản Trung Quốc và Việt Nam hiện nay trên lý thuyết vẫn theo chủ nghĩa Marx-Engels, nhưng họ học ngược lý thuyết của hai ông thầy. Bài học mà hai nhà tiên tri này dạy cho họ là: Ðồng tiền là một khí cụ để giai cấp thống trị bóc lột đám dân bị trị. Họ áp dụng ngay phương pháp này, để củng cố quyền lực và quyền lợi của quý ngài lãnh tụ đảng đang ngồi giữ các chức vụ trong guồng máy hành chánh và kinh tế.

Năm ngoái khi kinh tế thế giới rơi vào cơn khủng hoảng, chính phủ Bắc Kinh đã dùng 4,000 tỷ nhân dân tệ (khoảng 585 tỷ Mỹ kim, bằng 14% tổng sản lượng nội địa năm đó) gọi là để kích thích nhu cầu trong nền kinh tế, cũng giống như các kế hoạch kích thích ở các nước Âu Mỹ. Chương trình ở Trung Quốc bắt đầu từ Tháng Mười Một, năm 2008, đến nay đã đưa tới một hậu quả là nó làm trì hoãn việc cải tổ cơ cấu nền kinh tế, có khi còn quay chiều đi ngược lại. Vì số tiền trên được dùng nuôi nấng các doanh nghiệp nhà nuớc, tiêu tiền vào những việc phí phạm trong khi chèn ép các xí nghiệp tư nhân cho họ bị khó khăn hơn. Ở Trung Quốc thế nào thì Việt Nam chắc cũng không khác, vì ít khi thấy Hà Nội có sáng kiến nào khác với đường lối của Bắc Kinh. Chính các chuyên gia kinh tế ở Trung Quốc đã nêu lên nhưng hậu quả trên, chứ không phải do “các thế lực thù nghịch” nào cả.

Giáo Sư Vương Nhất Giang (Wang Yijiang) thuộc Viện Ðại Học Thương Mại Trường Giang (Cheung Kong), Bắc Kinh, nói rằng “Chương trình kích thích kinh tế đã khiến cho cơ cấu kinh tế ở Trung Quốc càng mất cân bằng hơn.” Cảnh mất cân bằng trầm trọng hơn là số tiền kích thích được dồn cho các doanh nghiệp nhà nước, còn lãnh vực tư nhân bị bỏ rơi. Sau 30 năm cải cách kinh tế, đây là lần đầu tiên tỷ lệ hoạt động trong lãnh vực tư doanh giảm xuống thay vì tăng lên. Mà chính các xí nghiệp tư nhân cung cấp ba phần tư số công việc làm cho giới lao động Trung Quốc.

Ở các nước theo kinh tế thị trường, các ngân hàng chỉ cho vay khi thấy xí nghiệp xin vay có lời và dự án sử dụng tiền vay có triển vọng sinh lợi. Ở Trung Quốc thì ngược lại. Trong sáu tháng đầu năm 2009, các ngân hàng Trung Quốc đã đem một số tiền khổng lồ cho các xí nghiệp vay qua các món nợ mới: 7370 tỷ nhân dân tệ, gấp ba lần số nợ mới trong nửa đầu năm 2008, vượt cao hơn mục tiêu của cả năm. Ngân hàng NBP Paribas tính số nợ mới này lớn bằng 45% tổng sản lượng nội địa và nhận xét chưa có một hệ thống ngân hàng nước nào đã bơm nhiều tiền vào nền kinh tế như vậy.

Theo Royal Bank of Scotland thì các xí nghiệp vay được tiền rồi không dùng hết, đã đem 20% mua cổ phiếu và 30% dùng vào việc mua hoặc xây dựng nhà cửa mới, và các vụ đầu tư không sản xuất. Hai thị trường cổ phần và thị trường địa ốc lên cơn sốt báo động chính quyền Bắc Kinh, họ phải ra lệnh các ngân hàng “tốp” lại. Nhưng các quan chức lãnh đạo từ xí nghiệp đến ngân hàng đều đã có dịp bỏ túi rồi. Từ Tháng Mười Một năm ngoái đến đầu Tháng Bảy, giá chứng khoán đã tăng 64% trước khi tụt xuống 14% trong ba tuần lễ đầu Tháng Tám sau khi nghe tin lệnh ngưng cho vay.

Khi ngân hàng của đảng đem tiền cho các doanh nghiệp nhà nước do đảng kiểm soát, không những khiến cho các xí nghiệp tư nhân không thể cạnh tranh với xí nghiệp nhà nước; mà còn giúp các cán bộ có dịp tấn công bỏ tiền ra mua các xí nghiệp tư bị yếu để đưa chúng vào trong vòng kiềm tỏa của họ. Một vụ “tấn công” đang được cả nước Trung Hoa và giới kinh doanh nước ngoài chú ý là công ty Sắt Thép của tỉnh Sơn Ðông đang hiến giá mua công ty sắt thép tư Rizhao (Nhật Chiếu), đẩy người làm chủ nhiều cổ phần nhất của công ty tư này xuống hàng cổ đông thứ yếu.

Năm ngoái công ty Rizhao được ước tính trị giá 30 tỷ nguyên. Trong 6 tháng đầu năm nay Rizhao khai có lời 1.8 tỷ nguyên trong khi Sơn Ðông khai lỗ 1.3 tỷ. Nhưng nay Sơn Ðông đang đề nghị trả 16 tỷ nguyên để làm chủ 2 phần ba cổ phần trong Rizhao, phần còn lại để cho ông Ðỗ Song Hoa là chủ nhân đa số cũ, là người đã từng được xếp hạng giầu thứ nhì ở Trung Quốc. Ông Hoa đã tính kế “thoát xác” bằng cách chia một nửa quyền sở hữu cho một công ty ở Hồng Kông, do một thân nhân của ông Hồ Cẩm Ðào làm chủ; nhưng việc không xong.

Nếu cuộc tấn công này thành công, nội trong tuần tới sẽ biết, thì ông Ðỗ Song Hoa (Du ShuangHua) vẫn có thể coi là may mắn. Vì năm ngoái, người được mô tả là giầu nhất Trung Quốc đã biến mất một cách bí mật khiến các cổ phiếu của công ty Gome trên thị trường Hồng Kông phải ngưng mua bán, trước khi có tin của cảnh sát nói ông ta bị bắt về tội gian lận chứng khoán. Chủ nhân công ty Gome về điện khí và khí cụ điện tử là Hoàng Quang Dục (Huang GuangYu) có tội lớn nhất là đã làm ăn khá giả ngoài vòng kiểm soát của đảng Cộng Sản Trung Quốc.

Hiện tượng các doanh nghiệp nhà nước lấn bước và mua chiếm các xí nghiệp tư nhân được báo chí Trung Quốc gọi là “quốc tiến dân thoái,” (guo jin min tui). Chính phủ Bắc Kinh vẫn nói họ không hề có một chính sách bành trướng lãnh việc quốc doanh để lấn áp lãnh vực tư doanh. Nhưng nhân cơ hội kinh tế thế giới khủng hoảng và dùng các món tiền “kích thích” của nhà nước cộng sản, các xí nghiệp quốc doanh đang lấn chiếm quay ngược kim đồng hồ của chương trình tư nhân hóa đã thi hành từ thời Ðặng Tiểu Bình. Với số tiền khổng lồ mà các ngân hàng của đảng có thể đưa cho các xí nghiệp của đảng vay, các cán bộ lãnh đạo doanh nghiệp nhà nuớc được cơ hội “vùng lên.” Những nhà tư doanh, là “lực lượng sản xuất tiên tiến” theo lối nói của đảng Cộng Sản, đã được mời gia nhập hàng ngũ đảng viên sau khi họ sửa cương lĩnh; nhưng vẫn chưa làm hài lòng giai cấp thống trị. Vì đại đa số các cán bộ quản lý các doanh nghiệp nhà nuớc nằm trong nhưng “đại gia đình” của các lãnh tụ, họ chia nhau địa vị trong các xí nghiệp công lớn. Và họ biết chắc là họ không thể cạnh tranh với các xí nghiệp tư trên một sân banh bằng phẳng, dù các chủ nhân xí nghiệp tư đó có gia nhập đảng cộng sản cũng chẳng có lợi gì cho họ. Cho nên, nếu có dịp là họ dùng tiền của nhà nước, dùng quyền hành nhà nước trao cho, để làm nghiêng sân chơi về phía có lợi cho họ! Chương trình kích thích kinh tế là một cơ hội bằng vàng để “quốc tiến dân thoái.”

Nếu đảng Cộng Sản Trung Quốc tiếp tục con đường này, nền kinh tế cả nước sẽ bị níu kéo trở lại tình trạng kém hiệu năng; vì trong 30 năm qua các xí nghiệp tư là khu vực hoạt động mạnh nhất, tạo nên nhiều công việc làm cho dân nhất.

Một chuyên gia kinh tế cao cấp trong chính quyền Bắc Kinh cũng lên tiếng cảnh cáo việc sử dụng tiền kích thích kinh tế không đúng. Ông Dư Vĩnh Ðịnh (Yu YongDing), từng làm trong Ủy Ban Tiền Tệ của Ngân Hàng Nhân Dân (tức ngân hàng trung ương Trung Quốc) viết trên nhật báo Financial Times trong tuần này, báo động rằng chương trình kích thích kinh tế đang kéo dài tình trạng thiếu cân bằng trong cơ cấu kinh tế quốc gia. Sự phát triển trong các năm qua dựa quá nhiều trên số gia tăng đầu tư vào cơ sở sản xuất tạo nên cảnh dư thừa không dùng tới, nay chuyển sang hạ tầng cơ sở mà vẫn không được đưa vào lãnh vực tiêu thụ. Có 89% số tiền kích thích đem dùng trong các dự án hạ tầng cơ sở (xa lộ, thiết lộ, phi trường) mà chỉ có 8% được dùng kích thích tiêu thụ. Trong khi đó, số tiêu thụ ở Trung Quốc đã quá thấp so với các hoạt động kinh tế khác. Người dân tiêu thụ bị hy sinh cho các doanh nghiệp nhà nước dùng tiền đi vay vào các dự án không chắc có lời, mà không biết trong tương lai có thể trả nợ được hay không.

Ông Dư Vĩnh Ðịnh viết, “Tiền kích thích đã làm cho tình trạng dư thừa khả năng sản xuất đã nghiêm trọng càng trầm trọng hơn, trong khi tiền đem cho lại được dùng để thổi cho quả bong bóng chứng khoán phồng lên nguy hiểm.” Ông cho biết số tiền đầu tư vào cơ sở và thiết bị đã tăng 36% so với năm ngoái, và đưa tỷ lệ của hoạt động đầu tư lên 50% tổng số GDP. Trong khi đó, người dân Trung Hoa tạo ra được 100 đồng của cải thì chỉ được tiêu thụ 35 đồng, tỷ lệ thấp nhất trong số các nền kinh tế lớn, so với ở Mỹ là 70 đồng hay ở Ðức là 60 đồng.

Ở nước Mỹ, khi chính quyền Obama đưa ra chương trình kích thích kinh tế gần 800 tỷ Mỹ kim, nhiều đại biểu Quốc Hội đối lập đã chỉ trích rằng nhiều món tiền trong số đó được đem vào những hoạt động kích thích dân tiêu thụ mà chỉ nhắm thực hiện nhưng chính sách của đảng Dân Chủ, thí dụ như nghiên cứu nguồn năng lượng mới và bảo vệ môi trường. Nhưng có một chính phủ Mỹ nào dám dùng tiền của dân đóng thuế để kích thích riêng cho các cán bộ kinh tế của mình có thể làm giầu thêm. Vì một nước có báo chí tự do và Quốc Hội độc lập không cho phép chính quyền làm như vậy.

Ở Trung Quốc thì rõ ràng nhưng số tiền do chính phủ đem kích thích kinh tế chỉ nhắm làm giầu cho các cán bộ quốc doanh. Ở Trung Quốc không ai đặt câu hỏi tại sao lại dùng tiền đóng thuế của dân như vậy. Vì không ai dám nói đó là tiền của dân. Nhiều người nghĩ đó là tiền của đảng Cộng Sản, họ muốn làm gì thì làm! Phải có các nhà kinh tế phân tích cho người dân thấy tiền đóng thuế của họ được đem dùng cho ai hưởng!

Ðảng Cộng Sản Trung Quốc đã làm đúng việc mà Marx và Engels kết tội giai cấp tư bản khi xưa. Là dùng tiền bóc lột của dân lao động để củng cố địa vị và quyền lợi giai cấp thống trị! Cộng Sản Việt Nam cũng đang theo từng bước chính sách của đảng đàn anh, nhưng chưa thấy trong nước có tờ báo nào dám nói lên nhưng lời cảnh cáo như các ông Dư Vĩnh Ðịnh và Vương Nhất Giang đã làm! Nếu Marx và Engels sống trong thời này chắc hẳn họ phải viết một bộ sách “Tư Bản Nhà Nước Ðộc Quyền” để hô hào người dân lao động đứng lên làm cách mạng!

Ngô Nhân Dụng

Chuyện nhục nhã của chế độ CSVN





Saturday, August 29, 2009

Con muốn làm người bình thường! - Dương Phạm

Dương Phạm

Viết cho BBCVietnamese. com từ London




Nhân đọc loạt bài viết về ‘Tthói háo danh và vĩ cuồng của giới trí thức’ cũng như về một thứ quốc nạn có tên là ‘loạn chức danh, học vị’, tôi xin mạn phép đưa ra đôi ba dòng về ‘chứng nan y’ đang lan rộng không chỉ trong giới trí thức trưởng thành mà còn cả một thế hệ trí thức mầm non của nước nhà.

Cách đây lâu lâu khi còn làm việc ở Việt Nam, tôi được một chị bạn rủ đi mua sắm đồ cho con trai mới vào lớp một. Nhân chuyện ra chuyện vào, chị vui mồm kể đã phải khó nhọc thế nào mới ‘chạy’ được cho con vào một trường điểm có tiếng ở Hà Nội, mà theo lời chị là ‘một ngôi trường không vừa đâu, toàn con cháu người nổi tiếng và các vị to học ở đây’. Chưa hết, chị còn cho biết phải dùng ‘kế’ và tiền thế nào để vào được lớp chuyên, lớp chọn, mặc dù theo tôi biết thì nhà nước đã bỏ chế độ trường chuyên lớp chọn từ khá lâu rồi.

Vào được trường tốt đã khó, để con lọt vào ‘top 10’ học sinh giỏi của lớp mới là việc đau đầu. Tuy là vào lớp một, nhưng chị khoe cháu đã học xong gần hết chương trình học lớp một để vào cái là bứt được lên ngay so với các bạn. ‘Anh ấy là nhà thơ hẳn hoi, bây giờ mà con nó học không ra gì thì chỉ có nước chui xuống đất’, đấy là lời giải thích cho mọi nỗ lực cố gắng với chuyện học hành của đứa con nhỏ của chị.

Thực ra tôi cũng chẳng ngạc nhiên. Chị chỉ là một trong số hàng triệu triệu bà mẹ trẻ có con và muốn con có được những gì tốt nhất. Nhưng thực ra, đó là lý do hết sức hợp lý để che đậy một nguyên nhân khác sâu xa hơn, thói hám danh không những đã ám vào người lớn chúng ta mà bây giờ còn đang len lỏi vào cả những thế hệ thơ bé.

Trẻ con bây giờ làm gì còn cái quyền được đi đá bóng, đánh khăng, chơi búp bê cho đến lúc mệt nhoài rồi lăn ra ngủ? Như một công dân 18 tuổi, quyền và nghĩa vụ của các cháu là phải ‘học, học nữa, học mãi’ (mà một anh bạn tôi đã dám mạn phép nói lái đi: ‘học, học nữa, hộc máu’). Học chính khóa, học thêm, học đàn, học múa, học hát, học vẽ, v.v… mà mục đích của sự học này là để bất cứ khi nào có dịp, bố mẹ sẽ đem con mình ra khoe ngay lập tức.

Học, học nữa, hộc máu!

Khẩu hiệu 'trong trường và gia đình'

Còn nữa, đã học là phải học giỏi, phải ‘top 10’, không có quyền học kém hoặc chán học. Nhưng sức người có hạn, nên bố mẹ lại phải giúp, gia sư chưa đủ thì đã có tiền để ‘chạy’ mong thầy cô thông cảm. Còn trẻ con thì dưới sức ép phải là ‘nhất’ nên cũng xoay xở mọi cách, từ chép bài cho đến quay bài rồi thi hộ. ‘Mọi con đường đều dẫn đến thành Rome’, thôi thì kiểu gì cũng xong được cho cái chức danh ‘học sinh giỏi’.

Dần dần, tỷ lệ học sinh khá giỏi càng tăng thì tỷ lệ hạnh kiểm và đạo đức tốt càng giảm (đương nhiên là không có con số thống kê cụ thể). Tôi biết nhiều ông bố bà mẹ, vì không muốn bị mang tiếng là con ‘học kém’ với ‘thi trượt’ còn khuyến khích con mang ‘phao’ vào phòng thi cho ‘yên tâm’, hoặc thậm chí thuê người làm luận văn tốt nghiệp giúp. Thế là lại thêm một loạt các dịch vụ ra đời phục vụ cho ngành giáo dục, tạo thêm biết bao công ăn việc làm.

Rồi cơn lốc du học nước ngoài ào đến. Hình như thời nào cũng giống nhau, cứ ‘ở bển’ về là oai. Thế là từ đại gia, doanh nhân, nghệ sĩ, tri thức đều lo để con mình được hưởng một nền giáo dục ‘được cả thế giới công nhận’, bất cần biết sức học của cháu đến đâu. Không học được trong nước thì là do ‘chương trình chưa chuẩn, ra nước ngoài kiểu gì cũng xong.’

Nhưng du học rồi mới thấy được nhiều chuyện dở khóc dở cười. Tôi từng học cùng trường ở Anh với cậu ấm một vị cục trưởng ở Việt Nam. Hai đứa cùng học Thạc sỹ nhưng khác ngành. Đến khi tốt nghiệp, rành rành là cậu ấm này bị đánh trượt do luận văn không đạt yêu cầu và chỉ được cấp một chứng chỉ là Postgraduate Certificate (chứng nhận đã tham gia khóa học này nhưng chưa được tốt nghiệp, khác với Master Degree – bằng Thạc sỹ) nhưng về đến Việt Nam thì gia đình mở cỗ rất to mừng ‘Thạc sỹ về làng’.

Học sinh ngày nay có còn được hồn nhiên?
Chưa kể trong gần 7 năm đại học ở đây (do trượt hai năm), cậu ấm này luôn là khách hàng quen thuộc của bạn tôi do chuyên đặt hàng viết các bài luận hoặc các bài tập về nhà. Bao nhiêu tiền đổ ra cuối cùng chỉ để mua một thứ danh ‘hão’, nhưng lại rất thực trong đời sống xã hội ở Việt Nam.
Cùng thế hệ 8x, tôi đã chứng kiến biết bao nhiêu tài năng ở lứa tuổi mình vươn lên nhưng cũng không ít những ‘thùng rỗng kêu to’. Tuy nhiên, chính những thế hệ đi trước đã góp phần lớn xây dựng nên tính háo danh của một thế hệ trí thức trẻ. Từ những lời động viên trở thành khen ngợi quá đáng rồi thành tâng bốc mù quáng. Tài năng bé nhưng xé ra danh to.
Xưa, Nguyễn Công Trứ từng nói ‘đã mang tiếng ở trong trời đất, phải có danh gì với núi sông’; nay, con cháu đều nhất mực học theo ông, nhưng đánh tiếc, chỉ chạy theo ‘danh’ mà không có ‘thực’.

Kết lại bài viết, tôi xin kể lại câu chuyện cười ra nước mắt về đứa con anh bạn tôi. Hôm cháu ngủ gật trên bàn học vì quá mệt, anh bạn tôi ra đánh thức rồi động viên: ‘Con có muốn làm siêu nhân không? Muốn làm siêu nhân thì phải học giỏi nhất, đánh võ giỏi nhất, chơi đàn hay nhất chứ? Không thì làm sao thành siêu nhân?’.

Thằng bé thẫn người ra một lúc rồi bật khóc: ‘Con không muốn làm siêu nhân đâu, con chỉ muốn làm người bình thường thôi’.

Dương Phạm
*****

    Thói háo danh và vĩ cuồng của trí thức
Source: http://tuanvietnam.net/vn/thongtindachieu/7621/index.aspx

Vương Trí Nhàn

Thói háo danh và căn bệnh vĩ cuồng, từ xưa trong hoàn cảnh nhược tiểu nhiều người đã mắc, tới nay trong hoàn cảnh chớm hội nhập với thế giới, bệnh lại trầm trọng hơn trong một bộ phận trí thức.

Lời TS: Trí thức là một thành phần quan trọng, đóng vai trò định hình tư tưởng, dẫn dắt xã hội. Tuy vậy, theo nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn, không phải toàn bộ nhưng ít nhất một bộ phận trong số họ có những nhược điểm cố hữu. Tuần Việt Nam xin giới thiệu một số bài viết của ông về chủ đề này với mục đích tự nhìn lại mình, phản tư để thấu hiểu và thay đổi chính mình.


Bệnh sùng bái danh hiệu, chức vụ ... trong giới trí thức vừa được Đặng Hữu Phúc xem như một quốc nạn. Chỉ có thể chia sẻ với một khái quát như thế nếu người ta nhận ra những gì đứng đằng sau cái căn bệnh có vẻ dễ thương đó là sự liên đới của nhiều “chứng nan y“ cùng là sự tha hoá của giới trí thức cũng như của nhiều lớp người khác.

Bài viết Tôi chỉ là Ashkenazy! Hay quốc nạn loạn chức danh, học vị gợi tôi nhớ tới một câu chuyện trong sử cũ.

Nhìn người bằng ... chức danh

Nửa cuối thế kỷ thứ XVII, có một trí thức Trung Quốc là Chu Thuấn Thuỷ trên bước đường chống Thanh phục Minh nhiều lần đến Việt Nam. Lần ấy, khoảng 1657, nghe Chúa Nguyễn có hịch chiêu mộ những ai biết chữ để giúp vào việc nước, Chu ra trình diện. Nhưng ông cảm thấy chung quanh không hiểu mình, không thi thố được tài năng, lại bị làm phiền, nên bỏ sang Nhật. Sau ông đóng góp rất nhiều vào viêc phát triển xã hội Nhật.

Chu không phải là loại người đọc sách xa lánh sự đời. Một học giả Nhật đã viết về Chu “Cái học của tiên sinh nhấn mạnh về "kinh bang tế thế". Giả sử nếu cần biến một vùng đất hoang thành phố thị, phải tập hợp sĩ nông công thương, thì một tay tiên sinh có thể cáng đáng để xây dựng nên phố thị. Thay vì “ thi thư lễ nhạc” tiên sinh thích nghiên cứu và tìm hiểu sâu sắc về cách canh tác ruộng nương và cách xây dựng nhà cửa, cách làm rượu làm tương ... Tiên sinh có thể dạy người ta bất cứ việc gì”. (1)

Riêng chuyện bộ máy chính quyền Đàng Trong không thể chấp nhận một người như trên, đủ cho ta hiểu trình độ của bộ máy đó là như thế nào.

Trong tập ký sự của mình, Chu Thuấn Thuỷ kể khi trình diện nhà cầm quyền địa phương, gặp chuyện buồn cười là người Việt Đàng Trong bắt ông ứng khấu ngay một bài thơ rồi viết trên giấy. Tiếp đó câu đầu tiên bị hỏi là “Cống sĩ với cử nhân và tiến sĩ, bên nào hơn ?“.

Khi biết Chu chỉ là cống sĩ, viên quan địa phương có ý xem thường, cho học lực của Chu không thể nào đọ được các vị khoa bảng nhà mình.

Từ câu chuyện về Chu Thuấn Thuỷ tới câu chuỵên về nghệ sĩ Nga Vladimir Ashkennazy mà Đặng Hữu Phúc vừa kể, như là có sự nối tiếp. Hoặc có thể nói cả hai phối hợp với nhau làm nên một đôi câu đối khá chỉnh. Một bên thì không thể hiểu người nổi tiếng lại không có một chức danh nào, còn bên kia thì không cần biết trước mặt mình là người đã được hoàng đế nhà Minh mời ra giúp nước, chỉ nghe cái bằng cống sĩ đã bĩu môi chê bai - giữa người ngày xưa với người ngày nay, sao mà có sự ăn ý đến thế!

Từ háo danh tới vĩ cuồng

Đặng Hữu Phúc đã nói tới cái khó chịu khi phải nghe đám người “mở miệng là họ nói tới chức tước “ - tức đám người háo danh - trò chuyện với nhau. Ai đã sống trong giới trí thức ở ta hẳn thấy chuyện đó chẳng có gì xa lạ.

Anh A và anh B vốn cùng nghề và cùng cơ quan, họ cùng dự buổi họp nhỏ, chứ không phải đăng đàn diễn thuyết trước bàn dân thiên hạ gì.

Thế mà cứ động phát biểu thì từ miệng anh A, vang lên nào là “như giáo sư B đã nói” (gọi đầy đủ cả tên họ), nào là “tôi hoàn toàn đồng tình với các luận điểm giáo sư B. vừa trình bày“ (Thực ra có luận điểm khoa học gì đâu mà chỉ là mấy nhận xét vụn). Và B cũng đáp lại bằng cách nói tương tự.

Khi phải dự những cuộc hội thảo ở đó cách xưng hô và nói năng giữa các thành viên theo kiểu như thế này, tôi chỉ có cách ráng chịu một lúc rồi lảng. Tôi không sao nhớ nổi họ nói với nhau điều gì. Và tôi đoán họ cũng vậy. Vì mỗi người trong họ có vẻ còn mải để ý xem người phát biểu đã gọi người khác đúng chức danh chưa, hay để sót, chứ đâu có chú ý tới nội dung các phát biểu. Không khí nhang nhác như những buổi họp quan viên trong các làng xóm xưa, mà Ngô Tất Tố hay Nam Cao đã tả.

Tại sao chúng ta khó chịu với lớp người háo danh này? Đơn giản lắm, ta thấy họ ấu trĩ, non dại, thực chất họ thấp hơn cái vị thế mà họ chiếm được, không xứng với chức danh họ nhăm nhăm mang ra khoe.

Ai đã thử quan sát tình trạng tinh thần của đám người mê tín hẳn biết, người càng thiếu lòng tin, thì khi vào cuộc mê tín càng cuồng nhiệt.

Giới trí thức cũng vậy, cái sự thích kêu cho to chẳng qua là một cách để xoá bỏ mặc cảm. Kẻ yếu bóng vía lấy cái mã bên ngoài để làm dáng che đậy cho sự trống rỗng bên trong.

Mấy thói xấu mà Đặng Hữu Phúc nêu lên chỉ đáng để người ta cười giễu, ghét bỏ, thương hại. Song ác một nỗi chính nó lại là dấu hiệu đầu tiên của nhiều chứng nan y khác chẳng hạn căn bệnh mà Cao Xuân Hạo trong một bài viết ở cuốn Tâm lý người Việt nhìn từ nhiều góc độ (2) gọi là bệnh vĩ cuồng (me’ganomanie).

Cao Xuân Hạo kể một chuyện mà thoạt nghe chắc chẳng ai dám tin. Hàng năm cơ quan lưu trữ nước mình thường phải thanh lý hàng tấn những hồ sơ “sáng kiến phát minh“ gồm toàn đề nghị viển vông do người trong nước ùn ùn gửi tới. Cao Xuân Hạo nói thêm điều đáng lo là ở chỗ phần đông chúng ta khi nghe những điều quái gở ở đây đều thấy bình thường, cùng lắm thì là loại sai lầm dễ tha thứ; còn ai tỏ ý kinh hoàng thì bị mọi người coi là bệnh hoạn vô đạo đức vì đã không tin vào khả năng sáng tạo của những người bình thường.

Cần phải gộp cả thói háo danh và bệnh vĩ cuồng nói trên để phân tích vì giữa chúng có một điểm chung là đều xuất phát từ những người và nhóm người sống trong tình trạng cô lập, không có khả năng tự nhận thức, đứng ngoài nhịp phát triển tự nhiên của thế giới.

Tình hình lại cần được xem là tệ hại bởi nó bám rễ vào bộ phận tinh hoa của xã hội.

Trí thức là bộ phận mũi nhọn của một cộng đồng, của những thể nghiệm làm người của cộng đồng đó. Những nhược điểm của trí thức chẳng qua chỉ là phóng to nhược điểm của cộng đồng. Và nếu như những nhược điểm này đã thâm căn cố, đế trở thành một sự tha hoá, thì tình trạng của người trí thức sẽ là một phòng thí nghiệm hợp lý để nghiên cứu về tình trạng tha hoá nói chung. Phải nghiên cứu kỹ lưỡng thì may ra mới có cơ hội chữa chạy hay ít nhiều cũng giảm thiểu tình hình nguy hại.

Vương Trí Nhàn

Ghi chú:

(1) Chu Thuấn Thuỷ Ký sự đến Việt Nam năm 1657 (An Nam cung dịch kỷ sự), Vĩnh Sính dịch và chú thích, Hội khoa học lịch sử Việt Nam 1999, tr.11
(2) Trung tâm nghiên cứu tâm lý dân tộc -- Tâm lý Người Việt nam nhìn từ nhiều góc độ, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh,2000, tr.82-87

*****
    Tôi chỉ là Ashkenazy! Hay quốc nạn loạn chức danh, học vị
Đặng Hữu Phúc
Source:
http://tuanvietnam.net/vn/thongtindachieu//7317/index.aspx


"Bệnh thành tích, cơ hội, trọng bằng cấp, trọng chức quyền ... đang làm tê liệt trí tuệ Việt Nam. Phải chăng nó là một trong ba loại giặc đang đe doạ sự tồn vong của dân tộc mà Hồ Chí Minh đã nói, đó là: giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm?"

Tôi chỉ là Ashkenazy

Người đứng giữa cầm quyển sách là Ashkenazy - ông không
nhìn vào ống kính.
Tôi xin được bắt đầu bài viết này bằng một câu chuyện có thật xảy ra ở TP Hồ Chí Minh vào năm 1995. Chuyện như sau: Trong một chuyến đi bằng đường hàng không, do trục trặc, nghệ sỹ Piano lớn của thời đại chúng ta là Vladimir Ashkenazy đã phải dừng lại ở TP HCM hai ngày.

Tất nhiên một nghệ sỹ lớn như Ashkenazy khó lòng mà không bị phát hiện ra trong thế giới nhiều thông tin này. Và ông đã được mời tổ chức một buổi hoà nhạc nho nhỏ cho những người hâm mộ. Với sự khiêm tốn vốn có ở những người vĩ đại, ông chỉ muốn biểu diễn ở phòng nhỏ trong Nhạc viện TPHCM và chủ yếu dành cho một công chúng hẹp, trong giới nhà nghề. Việc này tất nhiên được nhạc viện thành phố chú ý ngay và họ muốn biến chuyến thăm bất đắc dĩ này quảng cáo thêm cho uy tín của nhạc viện.

Người lãnh đạo nhạc viện lúc đó là một giáo sư, tiến sỹ, nghệ sỹ nhân dân đã dẫn đầu một nhóm giáo sư, tiến sỹ của nhạc viện TPHCM đón tiếp Ashkenazy.

Trong buổi tiếp, sau khi trân trọng giới thiệu với Ashkenazy từng thành viên của ta với đầy đủ chức danh, học vị, thì việc mà phía ta muốn hỏi ông ta, để đưa vào programe (tờ in chương trình) và giới thiệu khi biểu diễn là: Ashkenazy là gì? Thạc sỹ, tiến sỹ, giáo sư hay là gì gì hơn thế nữa ? Và câu trả lời là: Tôi chỉ là Ashkenazy.

Tưởng khách không hiểu. Chủ lại hỏi lại và gợi ý thêm cho dễ hiểu hơn: chắc một nghệ sỹ lớn như ông thì phải có tham gia giảng dạy, vậy khi đó chức danh và học vị của ông là gì? Câu trả lời vẫn không thay đổi: Tôi chỉ là Ashkenazy.

Ô hay! Lạ cái ông này, cỡ như ông ta ít nhất cũng phải có một chức danh gì chứ? hay ông ta giấu? Và cuộc gặng hỏi vẫn tiếp tục. Tuy vậy, truy mãi, cuối cùng, dù đông người, ta đã phải chịu thua một mình ông, vì câu trả lời vẫn chỉ có thế, dù đã được pha thêm chút khó chịu: Tôi chỉ là Ashkenazy!

Cách giới thiệu một cuộc hoà nhạc ngày nay và cái tên cha sinh mẹ đẻ

Trên thế giới thì hàng trăm năm nay, khi giới thiệu một buổi biểu diễn nhạc chuyên nghiệp (hoặc in trên bìa CD) chỉ đơn giản như sau, ví dụ:

1. Về tác giả: Sonate số 2, giọng Si giáng thứ của F.Chopin.

2. Về biểu diễn: Piano : V.Ashkenazy

Cách đây khoảng trên hai chục năm, ở Việt Nam ta cũng tương tự như vậy. Nhưng bây giờ thì khác xa rồi, thường họ sẽ giới thiệu theo công thức như sau:

1. Về tác giả: Tên tác phẩm, của + Chức danh (giáo sư, phó giáo sư) + học vị (tiến sỹ, thạc sỹ) + Danh hiệu (nghệ sỹ Nhân dân, nghệ sỹ ưu tú. Nhà giáo Nhân dân, nhà giáo ưu tú). + Giải thưởng (giải thưởng Hồ Chí Minh, giải thưởng nhà nước) + Chức vụ quản lý (Chủ tịch, Giám đốc, Hiệu trưởng, Viện trưởng...) + tên tác giả

2. Về biểu diễn: Độc tấu + tên nhạc cụ, do + Chức danh (giáo sư, phó giáo sư) + học vị (tiến sỹ, thạc sỹ) + Danh hiệu (nghệ sỹ Nhân dân, nghệ sỹ ưu tú. Nhà giáo Nhân dân, nhà giáo ưu tú) + Giải thưởng (giải thưởng Hồ Chí Minh, giải thưởng nhà nước) + Chức vụ quản lý (Chủ tịch, Giám đốc, Hiệu trưởng, Viện trưởng ...) + tên người + biểu diễn

Bao nhiêu sức lực, thời gian và tiền bạc đáng ra để tập trung làm chuyên môn, làm nghề thì lại bị phung phí vào các cuộc đua tranh lấy bằng cấp.

Mời bạn đọc thử lắp những chức danh, danh hiệu này trước những tên tuổi như: Mozart, Beethoven, Chopin ….. hoặc: Karajan, Rubinstein, Horowitz v.v… bạn sẽ thấy nó hài hước tới mức nào ngay. Thêm bất cứ cái gì trước những cái tên đó, đều là một sự xúc phạm khó tha thứ. Bản thân nó đã là vàng mười. Sự sâu sắc luôn mộc mạc, giản dị. Ngược lại với sự son phấn loè loẹt, hàng mã.

Hãy để chính những nghệ sỹ, bằng tài năng, làm nên tên tuổi riêng của mình
Và không chỉ dừng lại ở các cuộc biểu diễn, mà ngay cả trong các cuộc họp hành, hiếu hỷ. Khi mời ai lên phát biểu, người ta cũng luôn luôn phủ đầu làm tối tăm mặt mũi cử toạ bằng một tràng dài các chức danh, học vị, chức vụ quản lý, chức vụ Đảng, cuối cùng mới đến tên người. Điều này dần dần đã thành thói quen, gây sự thiếu thân thiện và tủi phận với những kẻ chỉ có cụt lủn mỗi cái tên cha sinh mẹ đẻ. Họ cảm thấy hẫng như mình thiếu hẳn một cái đuôi.

Cuộc họp nội bộ ngày xưa thì giản dị: “Mời anh Trí” hay “Mời chị Tuệ” lên phát biểu. Chỉ vỏn vẹn có 3 từ thôi, mà sao thân mật, ấm cúng và hiệu quả biết bao. Còn bây giờ thì phải khoảng trên dưới 30 từ. Cũng theo công thức trên, ta lại cùng nghép thử, ví dụ:

Xin kính mời + chức danh + học vị + toàn bộ danh hiệu đã được phong + toàn bộ giải thưởng đã được tặng + toàn bộ chức vụ quản lý, chức vụ Đảng đang có + Ông(Bà) + họ tên đầy đủ + lên phát biểu.

Mời bạn tham khảo thêm tên và tước hiệu của cụ Phan Thanh Giản (1796-1867) một đại thần triều Nguyễn phong kiến như sau: Hiệp biện Đại học sỹ, lãnh Lễ bộ thượng thư, kiêm quản Hộ bộ ấn triện, sung Kinh diên giảng quan, sung Cơ mật viện đại thần, kiêm Quốc tử giám sự vụ, kiêm quản Văn thần phò mã đô uý, Phan Thanh Giản, tự Tĩnh Bá, hiệu Ước Phu. (50 từ)

Ôi, nếu cụ sống lại và đến dự một cuộc họp nội bộ của chúng ta ngày nay, và được ta giới thiệu cụ với đầy đủ chức danh như trên, thì chắc cụ rất hãnh diện. Vì lũ con cháu chúng ta sao mà giống thời các cụ thế! tiếp nối được truyền thống cha ông xưa. Và vẫn đang liên tục phát triển.

Đây là hiện tượng phổ biến trên toàn quốc khoảng hai chục năm nay chứ không chỉ riêng ở một đơn vị nào, và nó vẫn còn đang phát triển theo hướng rườm rà hơn nữa. Tôi sợ với đà này, một ngày nào đó, ngay trong gia đình, bố mẹ, con cái, vợ chồng … hoặc bạn bè gặp nhau ngoài phố, khi gọi nhau cũng phải kèm theo những danh hiệu rườm rà đã kể trên thì thực là rồ dại.

Vậy bạn đọc nghĩ sao về những hiện tượng này? Bản chất của những hiện tượng này là gì?

Một cuộc chạy đua chức danh trên toàn quốc “trồng lúa thu hoạch khoai”

Ta tự hào về chế độ ưu việt xã hội chủ nghĩa (mà hiện nay chỉ có người dân ở một số ít nước được hưởng là: Triều Tiên, Cu ba, Lào và Trung Quốc) mọi người đều bình đẳng. Nhưng thực chất thì người ta đang dựa theo chức quyền để phân chia đẳng cấp, quyền lợi, tất nhiên chức càng cao, bổng lộc càng lớn.

Lúc sống đã vậy, tận tới lúc chết chôn ở đâu cũng có tiêu chuẩn dựa theo chức tước. Vì thế cả xã hội đều trọng chức quyền. Mà muốn có chức quyền thì cần có bằng cấp, cộng thêm danh hiệu Đảng viên, là người ta có thể tiến thân, có thể trở thành lực lượng lãnh đạo với nhiều bổng lộc mà không cần phải có thực lực.

Đó là nguyên nhân sâu xa đã và đang dẫn đến việc nhiều kẻ cơ hội đổ xô đi săn bằng cấp bằng mọi giá. Đua bằng cấp, chức danh chứ không đua tài năng. Bởi đua tài năng, cuộc đua dưới ánh mặt trời, thì khó hơn nhiều, dễ lộ chân tướng và dễ bị thua. Bao nhiêu sức lực, thời gian và tiền bạc đáng ra để tập trung làm chuyên môn, làm nghề thì lại bị phung phí vào các cuộc đua tranh lấy bằng cấp. Nhìn vào con đường để trở thành thạc sỹ, tiến sỹ hiện nay ở nước ta đã bị biến chất. Nhiều người có lòng tự trọng không khỏi ngại ngùng và muốn lánh xa.

Bản thân bằng cấp và chức danh chân chính, lương thiện thì rất có ích cho xã hội. Trước kia, số giáo sư, tiến sĩ ở ta không nhiều, nhưng đó là những tên tuổi như: Đào Duy Anh, Tôn Thất Tùng, Nguyễn Mạnh Tường ... Còn ngày nay thì đúng là “Ta tự hào đi lên. Ôi Việt Nam” giáo sư nhiều đến mức có thể “ra ngõ gặp giáo sư”. Với thực trạng này thì nền học thuật của nước nhà có nguy cơ trở thành hữu danh, vô thực.

Trong lĩnh vực biểu diễn âm nhạc chuyên nghiệp, để chơi đàn, hát, làm được concert thì khó quá, muốn thế phải rèn luyện hàng ngày, phải hy sinh rất nhiều mà lại không oai bằng rẽ ngang đi làm tiến sỹ, đơn giản hơn, chóng được thăng chức với nhiều bổng lộc hơn.

Kết quả là: mục đích cuối cùng và duy nhất của âm nhạc là tiếng đàn, tiếng hát, những buổi concert và viết những tác phẩm âm nhạc chuyên nghiệp thì dần dần không còn ai làm, thay vào đó là rất nhiều tiến sỹ âm nhạc ra đời. Có được cái bằng tiến sỹ, phần lớn không ai chơi đàn và hát nữa. Tiền của nhân dân bỏ ra đào tạo họ để mang lại tiếng đàn tiếng hát cho đời đã trở thành vô ích vì sai mục đích. Trồng lúa thì lại thu hoạch khoai!

Hướng dẫn làm luận văn tiến sỹ chéo ngành chéo nghề

Ở hầu hết các trung tâm đào tạo đại học của Việt Nam trên toàn quốc hiện nay, để có được chức danh thạc sỹ, tiến sỹ, phải có người hướng dẫn viết luận văn, luận án. Đó là các giáo sư, phó giáo sư. Nhưng để đào tạo ra càng nhiều, càng nhanh và để “phổ cập” học vị thạc sỹ, tiến sỹ, người ta đã sử dụng các giáo sư hoặc phó giáo sư nghề này, hướng dẫn luận văn cho các thạc sỹ, tiến sỹ nghề khác.

Tuy cùng là một ngành, nhưng càng lên cao, càng phải chuyên sâu, và cùng một ngành nhưng rất nhiều nghề hoàn toàn khác nhau. Ví dụ như trong ngành thể thao thì môn cờ tướng với bắn súng hoặc đấm bốc, không hề có liên quan đến nhau. Hoặc trong ngành điện ảnh thì nghề viết kịch bản và nghề tạo khói lửa, cũng không hề có liên quan. Nghề nào cũng vậy. Nên dù biện minh rằng, đó là “hướng dẫn phương pháp luận” thì cũng chỉ là ngụy biện, và không thể chấp nhận được.

Thử tưởng tượng trong cùng ngành y. Giáo sư chuyên nghề phụ khoa lại đi hướng dẫn luận văn cho tiến sỹ chuyên nghề nha khoa thì có được không? Bởi vì hai bộ phận này của cơ thể chúng ta là hoàn toàn khác nhau, có những chức năng hoàn toàn khác nhau. Vậy mà chéo ngành chéo nghề vẫn vô tư hướng dẫn đã trở thành bình thường từ lâu.

Vậy xin hỏi cấp trên có biết vấn đề này không? Với những sự hướng dẫn như vậy, những bản luận văn đó có giá trị gì không? Và trong việc này liệu có thể tránh được tiêu cực không? Có được cái bằng cấp ấy, có đáng tự hào để mời mọi người đi khao “rửa bằng” không? Có lẽ sự “rửa bằng” nghĩa đen lại chính xác hơn vì nó vốn không được sạch sẽ cho lắm.

Theo chúng tôi, cấp bộ hãy cho dừng ngay kiểu hướng dẫn trái ngành trái nghề như hiện nay ở hầu hết các cơ sở đào tạo trên cả nước. Và cho rà soát lại tất cả các luận văn thạc sỹ, tiến sỹ đã có. Nếu không phải do người hướng dẫn có cùng chuyên môn thì cho thu hồi lại, và các luận văn đó phải được làm lại, với sự hướng dẫn của các giáo sư cùng chuyên ngành và công khai việc này trong giới chuyên ngành.

Các danh hiệu, giải thưởng, câu chuyện cười ra nước mắt
Vườn hoa chỉ có 2 loại hoa

Định kỳ một hai năm gì đó, ta có những đợt phong tặng danh hiệu nghệ sỹ ưu tú, nghệ sỹ Nhân dân và trao tặng các giải thưởng Nhà nước và giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật. Việc này không phải do người Việt Nam ta nghĩ ra, mà do chúng ta học tập từ Liên Xô cũ. Họ phong nghệ sỹ Công Huân, nghệ sỹ Nhân dân, giải Stalin, giải Lê Nin về văn học nghệ thuật (ví dụ Giao Hưởng số 11 của Shotstakovich được giải Xtalin năm 1953 v.v…).

Sau khi Liên Xô tan vỡ, họ đã bỏ thói quen đã có từ hàng chục năm này. Rất nhiều cách tổ chức dập theo kiểu Liên Xô cũ như: nền kinh tế có kế hoạch, hành chính bao cấp, phân phối theo tem phiếu v.v… ta đã bỏ. Nhưng không hiểu vì sao cái thói quen trao những danh hiệu và giải thưởng văn học nghệ thuật học từ họ thì ta lại vẫn duy trì, bởi nó là một phần đồng bộ trong tư duy cấu thành chế độ bao cấp, cơ chế xin cho?

Lịch sử dân tộc ta đã chứng minh bằng máu và nước mắt một quy luật là: những chính sách dập khuôn theo ngoại bang sớm muộn rồi cũng gây những hậu quả xấu, thậm chí là những thảm hoạ dân tộc.

Về việc phong danh hiệu nghệ sỹ, hãy để chính những nghệ sỹ, bằng tài năng, họ làm nên tên tuổi riêng của mình (như Ashkenazy) thì nó mới có giá trị thực, bền lâu và duy nhất. Không ai có thể ghen tỵ với ai được, vì không ai giống ai. Hàng ngàn nghệ sỹ tài năng, thì sẽ có hàng ngàn cái tên khác nhau, có giá trị khác nhau, giống như vườn hoa với muôn hoa, muôn màu khoe sắc, chứ không phải chỉ có 2 loại hoa ưu tú và nhân dân.

Mà muốn được hưởng các danh hiệu này, phải làm đơn xin, cùng sự “vận động” để được phong (ban) tặng từ trên xuống. Trong hoàn cảnh đất nước ta tệ nạn xã hội tràn lan. Khó có thể tránh khỏi nhiều sự tiêu cực trong sự ban tặng danh hiệu, nếu vẫn giữ kiểu cơ chế ban phát như cũ.

Về việc trao giải thưởng Nhà nước và giải thưởng Hồ Chí Minh về VHNT, đây cũng là một kiểu cơ chế xin cho với những thành phần Ban giám khảo hoàn toàn được chỉ định từ trên, với những tiêu chí chấm giải tuỳ hứng. Người xin trao giải cũng phải làm đơn và “vận động”.

Riêng trong ngành nhạc đã xảy ra những câu chuyện cười ra nước mắt xung quanh việc trao giải thưởng này. Điển hình là trong đợt đua tranh phong tặng năm 2006 (đây nên là đợt phong tặng cuối cùng) cả nước đều biết tới những chuyện “đồng nghiệp tương tàn” mà báo chí gọi là “cơn địa chấn trong làng nhạc”. Nếu ta lại cứ tiếp tục trao giải thì không ai có thể khẳng định rằng những cơn “địa chấn” sẽ không trở thành “động đất”!

Nói tóm lại: Nhà nước ta nên bỏ lối tư duy kiểu dập theo Liên Xô cũ này!

Kết

Hãy để cho mọi người đánh giá tài năng và giá trị con người qua công việc. Dù anh có độn vào trước cái tên của anh hàng trăm danh vị đi nữa mà sản phẩm anh làm ra cho xã hội không có, hoặc tồi, hoặc có hại, thì khác nào gỗ mục được sơn son thếp vàng?

Một xã hội lành mạnh và có tương lai, là một xã hội biết tôn trọng những tài năng và những giá trị thực, bất kể họ có hay không có bằng cấp danh vị cao, tiền của nhiều, chức tước lớn.

Đối với người làm nghề nhạc chuyên nghiệp, thì đó là tiếng đàn, tiếng hát của người biểu diễn và tác phẩm của người sáng tác. Anh hãy tự hào về điều đó, và hãy gắn nó với cái tên cha sinh mẹ đẻ, chứ không phải là những thứ bằng cấp, danh hiệu (mà ở nước ta hiện nay của rởm nhiều hơn thật) và chức vụ quản lý anh đang có, đó chỉ là những thứ son phấn nhất thời.

Bảng giá trị tưởng như là chân lý đơn giản và hiển nhiên này lại đang bị lật ngược. Nguyên nhân chủ yếu là do bệnh thành tích, cơ hội, trọng bằng cấp, trọng chức quyền. Nó đang làm tê liệt trí tuệ Việt Nam. Phải chăng nó là một trong ba loại giặc đang đe doạ sự tồn vong của dân tộc mà Hồ Chí Minh đã nói, đó là: diặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm? Với tiềm năng trí tuệ thế này, rồi dân tộc Việt Nam ta sẽ đi đến đâu? “Một dân tộc dốt, là một dân tộc yếu”

Là một người hoạt động trong nghề nhạc, tôi thấy cần phải viết bài này chỉ vì trách nhiệm công dân, với mong muốn nền học thuật nước nhà - nhất là âm nhạc - ngày càng trở nên lành mạnh và thực chất hơn. Tôi không nhằm vào bất cứ ai và cũng mong đừng ai giật mình bởi tôi luôn luôn kính trọng sâu sắc những giáo sư, tiến sỹ, thạc sỹ chân chính. Tuy không nhiều, nhưng họ có lương tri và trình độ chuyên môn thực sự. Tôi chắc rằng những người này sẽ ủng hộ những ý kiến trên của tôi.

Vì chúng ta đã nói dối quá nhiều và quá lâu rồi, nên những lời nói tử tế bây giờ lại trở nên hài hước. Tuy vậy - dù chỉ nhỏ bé như con Dã Tràng - tôi vẫn muốn nói rằng: Đừng sợ thay đổi vì chỉ nghĩ tới quyền lợi của bản thân, hãy nghĩ tới một tương lai tốt hơn cho tất cả. Đừng sợ ánh sáng, sợ thuốc đắng và sự thật.

Để kết bài viết này tôi xin mượn một câu Kiều của: [Giáo sư, tiến sỹ] Nguyễn Du (xin tạ tội với bậc tiền nhân vì sự xúc phạm này):

“Mượn màu son phấn đánh lừa con đen”

Chữ “Con đen” ở đây được hiểu là những người dân bình thường

Đặng Hữu Phúc