Friday, April 18, 2014

NGƯỜI KHÔN NÓI MÁNH NGƯỜI DẠI ĐÁNH ĐÒN - Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất

NGƯỜI KHÔN NÓI MÁNH NGƯỜI DẠI ĐÁNH ĐÒN
Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất
Chuyện ông Tiến sĩ Luật Sorbonne Cù Huy Hà Vũ được cho đi Mỹ chữa bệnh gây ra một chút ồn ào, nhưng cũng chẳng bao nhiêu. Cả đến mấy ông chính khứa chạy rông xưa nay vốn háo hức các trò chơi chính chị chính em xem chừng cũng không mặn mòi với vấn đề này cho lắm, bởi vì lần này gánh hát tuy có trình làng kép mới, nhưng tuồng tích vẫn y nguyên là tuồng tích cũ, không có gì mới lạ. Bọn chính khứa này thường rất say mê những vở tuồng cải lương của cái tập đoàn soạn giả “Liên Minh Ma Quỉ” nhưng cũng đành phải buông tiếng thở dài: “Tưởng có gì hay ho, khổ lắm xem rồi, diễn mãi”. Chỉ có Vẹt Tanh (danh từ của bà Trần Khải Thanh Thủy) tung ra vài ba con cò mồi, mấy cái ống loa ngoại vi, cùng với một vài phong trào ma trơi lên giọng hợp ca để quảng cáo cho vở tuồng. Kẻ tung người hứng theo nhịp của chủ gánh hát bật, tắt cái remote control, hơi ồn ào nhưng tẻ nhạt. Còn lại, quảng đại quần chúng chống cộng chết bỏ xưa nay im hơi lặng tiếng vẫn giữ thái độ lặng tiếng im hơi. Lý do là bởi vì họ chẳng còn lạ gì cái trò chơi “Star trek” của “nghệ thuật làm ma nớp chính trị” của cái Liên Minh Ma Quỉ kia nữa. Rốt cục gánh hát xem chừng ế khách và như thế chắc là lỗ khẳm.

Thấy cái công phu biên soạn vở tuồng, lại nữa dạo diễn rình rang cũng tốn phí thời gian mà gánh hát ế ẩm, người viết tự đặt mình như một nhà phê bình kịch nghệ, đi coi hát rồi về kể lại cho bà con nghe chơi. Họ là những người nằm nhà chỉ biết qua trên các tờ quảng cáo, mọi sự rất ư là ù ù cạc cạc, tuồng tích nội dung như thế nào, không biết, đào kép ra sao, cũng chẳng hay, nhất là tài nghệ của nhà soan kịch cao siêu đến đâu, đều mù tịt, vở tuồng có thu hút được giới mộ điệu không thì nhất định không thể đánh giá được …

Có nhiều điều đáng nói lắm. Nó là một vấn đề mà các khía cạnh chằng chịt với nhau như giây mơ rễ má, không thể tách riêng ra được. Vì thế, người viết xin được gói lại thành một gói để nói cho gọn.

Như đã nói trên, tuồng tích chỉ là bổn cũ soạn lại chứ chẳng có gì hay ho cả. Vẫn là chuyện các nhà dân chủ trong nước sang Mỹ chống cộng và đòi hỏi tự do dân chủ. Người viết không phải là một “chiến lược gia” như ông bạn Việt Sĩ thường diễu cho vui, nhưng thật tình thấy rằng các nhà dân chủ VN mà sang Mỹ chống cộng nghe nó trái khoáy làm sao ấy. Này nhá, ở Mỹ có cộng sản đâu mà chống. Nói cho ngay cũng có chứ không phải không có. Đảng CS Mỹ hiện do Sam Webb là chủ tịch, họ sắp họp đại hội lần thứ 30 vào tháng 6 này tại Chicago. Nhưng có được bao nhiêu ngoe đâu mà chống cho mất công. So với Đảng Xanh, Đảng Đỏ gì đó thì nó còn thua xa. Ấy thế mà nghe đâu đảng CS Mỹ lại có liên hệ với chuyện Cù công Tử đi Mỹ thế mới lạ. Việc này thì xin nói sau. Còn như các “nhà dân chủ” sang Mỹ để đòi hỏi tự do dân chủ thì cũng lại trấc uốc luôn. Có muốn đòi thì đòi thằng VGCS, chứ người Mỹ có nắm giữ tự do dân chủ của quí vị đâu mà đòi. Sang Mỹ đòi dân chủ không mắc cỡ với mấy người dân oan trong nước sao? Cũng còn nghe thiên hạ đồn là công tử họ Cù đi Mỹ chữa bệnh cao máu. Chuyện này thì không biết hư thực ra sao. Cũng khó tin, bởi vì - hẳn Cù công tử đã biết - bệnh cao máu thì chỉ có Hoa Đà (Tầu khựa) trị bằng mấy thứ lá cây vớ vẩn họa may hết được thôi chứ mấy thầy lang Mỹ làm sao cao tay nghề bằng Hoa Đà mà trị hết được. Nếu chủ đích đi chữa bệnh thiệt, tại sao Cù công tử không bắt chước Hoàng Văn Hoan sang nhờ Tầu khựa chữa cho mà lại đi Mỹ. Chuyện không tin được là ở chỗ đó.

Như vậy thì vấn đề Cù công Tử sang Mỹ hẳn có lý do khác. Người viết rờ mu rùa để bói xem vấn đề hóc búa này, quẻ không linh nên đành phải đi “tam cố thảo lư” nơi những bậc cao minh. Đúng là trăm bó đuốc cũng phải bắt được một con ếch, góp ý của nhiều bậc cao minh thì vấn đề được soi sáng phần nào. Có một vị bàn khá độc đáo, người viết xin thuật lại. Chuyện kể cũng có lý, chỉ là phải mất công “wait & see”, nghĩa là chờ để xem ứng nghiệm ra sao.

Theo vị này, trước đã có nhiều nhà dân chủ được đưa sang Mỹ trong cái vở tuồng mà dân gian gọi là hòa hợp hòa giải do cái Liên Minh Ma Quỉ vừa là soạn giả vừa là đạo diễn bầy ra, nhưng tất cả đều làm ăn chẳng đi đến đâu cả. Đoàn Viết Hoạt chủ tâm sang Mỹ để gặp vợ hơn là chú tâm làm việc lớn. Hỏng. Nguyễn Chí Thiện, thi hành kế hoạch khá trôi chẩy, nhưng lại lòi cái đuôi quá dài cho người ta thấy. Chỉ có việc sang Anh để cám ơn Bộ Ngoại Giao Anh và xin chứng thực cho việc đột nhập tòa đại sứ Anh ở Hànội mà Thiện làm không xong, phải nhờ đến nhà văn Sơn Tùng, nhưng Bộ Ngoại Giao Anh trả lời cho Sơn Tùng là làm gì có chuyện đó. Thế là Thiện lòi cái đuôi bịp ra. Hỏng luôn. Bùi Kim Thành là một mụ điên, mà có thể là điên thật, chỉ quậy phá lung tung. Nguyễn Chính Kết tranh đấu cũng chủ yếu là để đưa vợ con đi Mỹ, nay thì đã yên bề gia thất nên chỉ còn đấu tranh cầm hơi cho qua ngày. Trần Khải Thanh Thủy bị Vẹt Tanh “chơi” quá nên đành phải “sayonara” Việt Tanh mặc dầu vẫn tha thiết với những ngày xưa thân ái.

Những nhân vật này mặc dầu vậy nhưng không phải là “kép chính” của vở tuồng, mà chỉ là những hoạt náo viên, giống như những con khỉ trong gánh bán thuốc rong cao đơn hoàn tán. Kép chính là ông bố đẻ ra cái kế hoạch dụ hàng Hoàng Minh Chính. Nhà sáng chế ra cái Hội Nghị Bàn Tròn 3 Bên Tiểu Diên Hồng chẳng may qui tiên sớm vì bệnh bí đái khi chưa có người nối nghiệp. Đảng và nhà nước lúng túng đi tìm người kế nghiệp, mãi mới tìm ra nhân tuyển thích hợp là vị công tử họ Cù: Cù Huy Hà Vũ.

Dàn dựng có bài bản để Cù công tử thừa kế cái sáng kiến “Tiểu Diên Hồng” là cả một công phu. Bù lại về tất cả các mặt thì Cù công Tử vượt xa nhà sáng chế họ Hoàng nhiều. Cù công tử xuất thân là “con dòng cháu giống” (hay CS nòi cũng vậy, lời ngài Thích Quảng Độ), quí tử của đại công thần VGCS Cù Huy Cận, chứ không phải dân cu li cu leo hay bần cố nông quê mùa răng đen mã tấu. Công tử lại có bằng cấp cao, tiến sĩ luật Sorbonne kia đấy. Cái chuyện bằng cấp thì thực ra chỉ là thói làm dáng của mấy ông bà Mít nhà mình chưa trưởng thành, nhưng thời buổi chuyện gì cũng phải định hướng này nó vẫn còn tác dụng. Dù ở nước Mỹ, một anh cà lơ thất thểu nhưng dán trước ngực cái bằng “Tiến Sĩ” là thiên hạ lác mắt rồi. Có bằng cấp được tiếng là có TRÍ cái đã, chẳng cần THỨC mà cứ NGỦ li bì cũng chẳng sao, thiên hạ dễ nghe theo hơn là một anh khố rách áo ôm, mảnh bằng lận lưng không có, có nói cũng chẳng ma nào nghe. Từ cái xu hướng cổ lỗ sĩ đó, thằng VC con nào đi ngoại quốc học, dù dốt nát mấy, lúc trở về cũng phải có mảnh bằng ẵm về theo để nở mày nở mặt. Mua một cái bằng tiến sĩ ở nước ngoài tưởng khó thế mà dễ ợt, giá cả cũng nhẹ nhàng thôi. Bằng cấp của Cù công tử là thứ bằng thiệt nên rất có giá.

Và đây mới là điều quan trọng, điều kiện để đảng CS Mỹ đồng ý hùn vốn đầu tư vào canh bạc “Cái bàn tròn 3 ghế”. Vốn xưa nay đảng CS Mẽo thân anh Tầu khựa và rất mết tên già Hồ. Thế nhưng từ khi anh Ba Khựa xa lìa xu hướng “quốc tế vô sản”, khoác vào cái áo “dân tộc cực đoan” thì anh CS Mẽo bèn nghỉ chơi với Khựa. Nhà Tông Tông lọ nồi “the most leftist” xưa nay quen đàn đúm với chú Sam xếp sòng đảng CS Mẽo, thấy vậy bèn nhờ Sam giúp cho một tay để nắm cho bằng được thằng lưu manh VGCS mà Cù công tử được giới thiệu là một lãnh tụ đầy triển vọng. Sam đưa ra điều kiện là trước hết công tử Cù phải là người tuyệt đối trung thành với lý tưởng cộng sản. Cái này thì không khó, vì Cù công tử đã từng tuyên bố rõ ràng “Tôi không chống đảng”. Không chống đảng tức là vẫn trung thành với CS. Những tấm hình chụp chung với các đấng bề trên trong đảng như Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Lê Đức Anh, Nông Đức Mạnh, Võ Nguyên Giáp v.v.. Cù công tử trưng dẫn cũng quá đủ để chứng minh lòng thành của mình đối với đảng. Còn chuyện hục hặc với 3Dê chỉ là chuyện nhỏ, chuyện xích mích cá nhân chứ không phải xung khắc về lập trường tư tưởng. Chắc ăn hơn nữa, Cù công tử đã phải đưa những bút tích trước đây công tử viết về “bác hồ” của công tử để chứng minh. Chẳng hạn Cù công tử viết: (trích)

- Bố (Cù Huy Cận, cha Cù công tử) được ngủ cùng giường với Bác Hồ 3 đêm tại Bắc Bộ Phủ, trước ngày toàn quốc kháng chiến, vì tình hình lúc đó rất khẩn trương - (ngoài tư cách Thứ trưởng Nội vụ được Hồ Chủ tịch giao trước khi đi Pháp để giúp cụ quyền Chủ tịch Chính phủ Huỳnh Thúc Kháng, cha tôi còn đảm nhận vai trò thư ký đặc biệt giúp Người trong công việc của Chính phủ để rồi những năm sau trở thành Tổng thư ký Hội đồng Chính phủ) - Bố sợ choán chỗ của Bác nên nằm ép sát mép giường thì Bác bảo: “Chú Cận nằm dịch vào trong cho khỏi ngã ”.

Bác Hồ là như thế, rất nhân tình, rất con người! Chính vì vậy - gương mặt cha tôi bừng dậy - trong các lãnh tụ cách mạng của thế kỷ 20, thế giới đánh giá Hồ Chí Minh là số 1…

Vậy là bài báo cuối cùng, và cả câu chuyện cuối cùng của cha tôi đều về một nhà văn hóa lớn, bậc hiền tài của thời đại, nhưng trước hết về một Con Người: Hồ Chí Minh.”
(hết trích)

Và một đoạn khác, Cù công tử viết gởi cho con trai đang học ở Úc:

- "Để nói các Ông Bà của các con chỉ riêng việc dám từ bỏ cuộc sống ổn định mà không phải ai cũng có được để lao vào con đường máu lửa, ấy cũng đã là dũng cảm, cũng đã là hy sinh. sự đánh đổi hay hy sinh ấy đã đơm hoa kết trái khi Độc lập dân tộc đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt chính phủ khai sáng nền Dân chủ Cộng hoà mà Ông nội Cù Huy Cận của các con là Bộ trưởng thành viên dõng dạc cất lên từ Quảng trường Ba Đình, Hà Nội vào ngày 2/9/1945 và 30 năm sau, vào ngày 30/4/1975 khi Non Sông được thu về một mối."

"Cũng như biết ơn những con người đã giành Độc lập cho dân tộc Việt Nam và bảo vệ vững chắc nền Độc lập ấy là công việc của muôn đời, của hết thế hệ người Việt này đến hết thế hệ người Việt khác, như kỷ niệm Ngày Độc lập 2/9 luôn là biểu hiện rõ ràng nhất của những tình cảm dân tộc thiêng liêng ấy!
" (hết trích)

Hai trích đoạn trên đều nói lên những điều mà người bình thường đọc qua đã thấy ngay sự trái nghịch. Một người tranh đấu cho tự do dân chủ mà lại đi ca tụng tên ăn cướp quyền tự do dân chủ của cả dân tộc. Hồ chỉ mới cho nằm chung, nhích một chút xíu chỗ nằm cho bố mình thôi mà Cù công tử đã nhân đó đánh giá Hồ là một nhà văn hóa lớn, bậc hiền tài của thời đại, một con người có nhân cách. Còn những chuyện vợ nọ con kia, chuyện giết người, chuyện làm tôi cho ngoại bang, chuyện bán nước của Hồ thì Cù công tử lại không nhắc tới. Thế nhưng Mẽo thì không ke (care). Chuyện trước mắt Cù công tử rất hãnh diện là Hồ với ông bố mình là Cù Huy Cận đánh đuổi Mỹ, thống nhất đất nước, độc lập tự do. Thế mà nay bỏ nhà bôn ba đi Mỹ để lậy van Mỹ, cầu cạnh Mỹ, Cù công tử cũng không thấy đó là một sự sỉ nhục.

Giải toả được những khúc mắc, và giải thích ổn thỏa được với chú Sam nên Cù công tử mới ung dung bước lên máy bay sang Mỹ để đấu tranh tiếp. Ngưòi ta thấy được sự ra đi vẻ vang của Cù công tử. Trước hết là có mợ Cù đi theo để hầu hạ chứ không phải long đong vất vả như Nguyễn Chánh Kết chẳng hạn, được chính phủ Mỹ hoan nghênh chào đớn như một nhân vật có uy tín, được đầy tớ Mỹ trong một cái tổ chức ăn phân Mỹ xa giá đón đưa, được mấy cái ống loa của hệ thống “Việt Tanh Làm Báo” thổi lên và tung hứng như một nhà lãnh đạo lớn … Ra đi huy hoàng như thế nên khi xuống phi cơ, Cù công tử mới giơ cao hai ngón tay hình chữ V (victory) chào mọi người tỏ ra vẻ tự đắc.

Nhiệm vụ của Cù công tử ở Mỹ là tập hợp các thành phần tại hải ngoại để ngồi vào cái bàn 3 ghế của Hoàng Minh Chính đã công phu đẽo gọt trước kia. Việc này hồi cụ Chính còn thì hơi khó, nhưng bây giờ thì dễ dàng rồi. Bọn trí ngủ ở hải ngoại hầu như đã qui về một mối dưới cái khẩu hiệu Hoàng Duy Hùng đưa ra: “You cannot beat them, join them”. Nhân sự kể như đã đủ. Tuy nhiên cũng còn một vài rắc rối nhỏ, không phải ở ngoài mà là ở trong nước. Chuyện rắc rối này nhìn vào phản ứng của mấy nhà dân chủ trong nước tất thấy được.

Thật ra thì phản ứng ở trong nước về sự ra đi của Cù công tử cũng không nhiều. Nổi bật hơn cả là hai phản ứng của ông GS Tương lai và của LS Nguyễn Văn Đài. Ông giáo sư cường điệu: “Dù đã được ra tù và sang Mỹ, Tiến sỹ Cù Huy Hà Vũ sẽ vẫn tiếp tục 'bản lĩnh yêu nước' và đấu tranh với tư cách một người 'trí thức chân chính”.

Ngược lại, ông luật sư thận trọng và kín đáo hơn: “Đây là một thất bại và mất mát của phong trào Dân chủ và những người dân đang khao khát tự do. Chúng ta đã không đủ sức mạnh để buộc chính quyền thả tự do cho Tiến sĩ Vũ tại Việt Nam. Để ông tiếp tục đóng góp cho tiến trình dân chủ hóa đất nước.”

Đáng thương hại cho một nhà mô phạm như ông Gs Tương Lai. Ông thổi Cù công tử mà không sợ thối mồm. Ở trên đời này làm gì có ai yêu nước mà lại đi nhập bọn với lũ buôn dân, quân bán nước. Trí thức chân chính nào mà lại ca tụng kẻ ăn cắp thơ văn của người khác là nhà văn hóa lớn, kẻ giết dân như ngóe là bậc hiền tài của thời đại, kẻ cướp vợ người, đầu đàn của một lũ bán nước, làm băng hoại xã hội là một con người “rất con người?”. Sự đề cao Cù công tử của ông GS Tương Lai chỉ là một lời nịnh hót hèn hạ và rẻ tiền. Phải chăng là ông giáo sư có ý đầu tư một tí vốn nước bọt cho tương lai của mình vì tin vào tương lai của con người được ông bốc thối.

Trái lại, phản ứng của Ls Nguyễn Văn Đài tuy có vẻ cay đắng, nhưng là những lời có suy nghĩ. Ls Đài hé cho thấy phong trào dân chủ trong nước không phải là thống nhất. Ông thừa nhận sự yếu kém và bất lực của phong trào. Ông tỏ ra hãnh diện về việc mình không thèm đi ngoại quốc mà chọn ở lại trong nước để tranh đấu. Lời lẽ của LS Đài còn hàm ý khinh bỉ hành động bỏ đi như một sự phản bội lý tưởng đấu tranh. Đúng thế, địa bàn tranh đấu là trong nước chứ đâu phải ở bên Mỹ. Anh tự ý bỏ nước ra đi có nghĩa là anh đã đầu hàng. Hơn nữa, tự do dân chủ là quyền thiêng liêng phải tự mình dành lấy cho mình. Anh nhờ vả người khác đòi giúp tức là anh vọng ngoại và tự bán rẻ chính mình cho kẻ khác.

Người Việt mình có câu “Người khôn nói mánh, người dại đánh đòn”. Dĩ nhiên còn những kẻ cố đấm ăn xôi thì không kể. Cù công tử học hành đến tiến sĩ luật bên Tây hẳn thuộc loại người khôn ngoan, thừa sức hiểu thấu những lời nói ra nói vào về chuyện mình đi Mỹ, đặc biệt là những lời tiễn đưa của LS Nguyễn Văn Đài.

Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất

VIỆT CỘNG CÒN, NƯỚC SẼ MẤT - Lê Duy San

VIỆT CỘNG CÒN, NƯỚC SẼ MẤT

Lê Duy San

Sau năm 1975, mặc dầu thù ghét bọn Việt Cộng đến tận xương tủy, nhưng cũng có một số người, nhất là dân miền Nam, thầm phục bọn Việt Cộng đã làm được một việc mà trước kia chính phủ miền Nam Việt Nam (VNCH) đã không làm được đó là đuổi được đám Tầu Chợ Lớn ra khỏi Việt Nam. Nhưng kể từ khi chúng (Việt Cộng) bị Trung Cộng “dậy cho một bài học” vào tháng 2 năm 1979 và cưỡng chiếm quần đảo Trường Sa vào ngày 14 tháng 3 năm 1988 khiến Nguyễn Văn Linh, Tổng Bí Thư của đảng Cộng Sản Việt Nam phải lạy lục Trung Cộng xin hòa hay nói cho đúng hơn là xin hàng Trung Cộng vào năm 1990.

Việc này làm người ta nghĩ rằng việc làm của chúng trước kia chẳng có gì là đáng phục, mà trái lại còn di hại cho đất nước nhiều hơn: đó là việc chúng phải dâng Ải Nam Quan, Thác Bản Giốc và cả chục ngàn cây số vuông ở miến Bắc Việt Nam, hàng trăm ngàn cây sô vuông lãnh hải trong đó có 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Cộng.

Không những thế, nếu trước kia, chúng đuổi đi được vài trăm ngàn Tầu quốc gia, thì nay, chúng lại mở cửa cho Tầu Trung cộng sản tự do vào Việt Nam cả triệu tên, khiến cho có thể đưa Việt Nam tới nguy cơ mất nước. Vì thế, nhiều người ưu tư tới đất nước đã tự hỏi: Nước Việt Nam còn hay đã mất ? Nếu còn thì liệu có giữ được không?

Có người nói rằng nước đã mất rồi, và đã mất từ lâu. Ông giáo sư Trần đình Ngọc còn nói rõ ràng rằng Hồ Chí Minh đã bán nước từ ngày 3/2/1930 (1). Thực ra thì nước Pháp đã chiếm Việt Nam làm thuộc địa từ lâu, từ năm 1884, nước Việt Nam đâu còn nữa mà để cho Hồ Chí Minh bán? Vả lại Hồ Chí Minh lúc bấy giời còn đang lang thang, cầu bơ, cầu bất, du thủ, du thực, đâu đã có danh phận gì ngoài chức Chủ Tịch đảng Cướp Cộng Sản Đông Dương với vài trăm đảng viên, mà đòi bán nước cái nỗi gì.

Hơn nữa, tuy ngày nay Việt Nam đã mất thác Bản Giốc, Ải Nam Quan và cả chục ngàn cây số vuông ở biên giới Việt Hoa và cả trăm ngàn cây số vuông hải phận ở biển Đông, nhưng đứng trên phương diện luật pháp và quốc tế thì Việt Nam vẫn còn. Bởi vì tên Việt Nam vẫn còn trên bản đồ thế giới. Nước Việt Nam vẫn được các quốc gia trên thế giới công nhận và Việt Nam vẫn là một thành viên của Liên Hiệp Quốc.

Nhưng liệu Việt Nam sẽ còn tồn tại đến bao giờ? Điều này thật khó nói trước, có điều chắc chắn rằng Việt Cộng còn, Việt Nam sẽ mất, hay nói cho rõ hơn là: Chế độ Cộng Sản Việt Nam còn tồn tại thì nước Việt Nam sẽ mất về tay Trung Cộng vì những lý do sau:

1. Chính quyền Việt Nam thì hèn với giặc, ác với dân và coi dân như kẻ thù.

Thực vậy, Việt Nam từ xưa tới nay, chưa có một chính quyền nào lại hèn nhát và khiếp nhược như ngụy quyền cộng sản Việt Nam hiện nay.

Ngụy quyền Cộng Sản Việt Nam coi Trung Cộng như Mẫu Quốc. Đi đâu, ngụy quyền Việt Nam cũng phải xin phép quan thầy Trung Cộng. Làm gì, ngụy quyền Việt Nam cũng phải báo cáo quan thầy Trung Công. Dân Trung Cộng tự do ra vào Việt Nam như đi chợ, không cần chiếu khán. Chúng tự do hành nghề, không cần giấy phép và chọn gái Việt Nam làm vợ như đi chợ mua mấy con chó, con mèo! Dân Trung Cộng tự do lập những khu người Hoa ở khắp mọi nơi. Tại những nơi này, họ tự trị và người Việt bất khả xâm phạm giống như mấy tòa Đại Sứ, Lãnh Sự của ngọai quốc, ngay cả công an Việt Cộng cũng không có quyền xâm phạm những khu vực này.

Ngụy quyền Cộng Sản Việt Nam để mặc cho Trung Cộng ngang nhiên lấn chiếm đất đai, lộng hành trong hải phận mà không dám đương đầu hay phản đối, dù chỉ bằng đường lối ngọai giao. Ngư dân Việt Nam đánh cá trong vùng hải phận Việt Nam cũng bị Trung Cộng ngang nhiên bắt giữ cả người lẫn ghe thuyền, cá thì tịch thu, người thì bắt nộp phạt mới chịu tha.

Ngụy quyền Cộng Sản Việt Nam không dám để cho sinh viên, học sinh biểu tình đả đảo Trung Cộng xâm chiếm Hòang Sa, Trường Sa và bắt giam những người biểu tình. Bia tưởng niệm những bộ đội Việt Cộng hy sinh trong cuộc chiến với Trung Cộng vào năm 1979 cũng phải đục bỏ. Các sách giáo khoa từ tiểu học đến đại học, không một dòng chữ nào nói tới Hoàng Sa và Trường Sa. Bộ luật nào của Việt Nam cũng phải in cả 2 thứ tiếng Trung Cộng và Việt Nam.

Trái lại đối với dân thì chúng thật độc ác, dã man và tàn bạo vô chừng. Quan chức chính quyền thì thi đua tham nhũng, ăn hối lộ. Tên nào cũng thi đua vơ vét của dân để có tiền ăn chơi hoặc cho con em trốn tránh ra ngoại quốc dưới hình thức du học, nhất là Hoa Kỳ, để tẩu tán tiền bạc.

Công an thì coi dân như kẻ thù, hơi một chút là đánh đập, bắt giam, bỏ tù. Đi xe máy mà không đội mũ an toàn cũng có thể bị đánh chết như trường hợp anh Nguyễn Văn Khương ở Bắc Giang bị thiếu úy công an Nguyễn Thế Nghiệp đánh bể đầu chết vì không đội mũ bảo hiểm vào ngày 23 tháng 7, 2010. Ông Trịnh Xuân Tùng ở Hà Nội cũng vậy, bị trung tá công an Nguyễn Văn Ninh đánh gẫy cổ chết vào tháng 2/2011 vì lỗi tương tự và nhiều trường hợp tương tự khác. Là con của một tù nhân lương tâm hay người bất đồng chính kiến cũng có thể bị công an cho côn đồ chém trọng thương như trường hợp của anh Phan Nguyễn Trọng Tú con của nhà bất đồng chính kiến Phan Ngọc Tuấn ở Phan Rang vào ngày 18/9/2012. Chính vì vậy mà có người gọi chế độ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam là một Chế Độ Côn Đồ.

Một nhà văn trong nước, ông Huỳnh Ngọc Tuấn, trong bài “Không Giống Ai”, đã viết: “Lực lượng “công an nhân dân” thì coi dân như cỏ rác, buồn buồn thì đánh chết một vài người dân cho vui, mục đích là để thị uy. Nếu dư luận trong nước và quốc tế có phản ứng mạnh quá thì cũng xử cho lấy lệ để bịt miệng công luận rồi đâu lại vào đó. Hãy nhìn những cái chết thê thảm của một số nạn nhân trong mấy năm gần đây thì rõ”.

2 Tinh Thần yêu nước của người dân VN không còn, tự ái dân tộc cũng mất.

Dân số Thủ Đô Hà Nội bây giờ ít ra cũng phải trên 5 triệu người và dân số thành phố Saigon ít ra cũng phải gần 8 triệu. Vậy mà số người tham dự của mỗi cuộc biểu tình để biểu lộ lòng yêu nước và chống Trung Cộng xâm lược, kể cả một số công an chìm, nổi và những người qua đường vì hiếu kỳ đứng coi, cũng chưa tới 500 người. Nếu không kể những người già cả và trẻ em, tính theo tỷ lệ thì con số người thực sự đi biểu tình cũng không tới 1/10,000. Vậy thì còn 9999 phần 10,000 kia đâu ?

Đành rằng ngụy quyền cộng sản Việt Nam là một chính quyền hèn với giặc, ác với dân, nên người dân rất sợ. Nhưng tại sao chính quyền bảo hộ của thực dân Pháp trước kia, cũng ác ôn, cũng tàn bạo, nhưng vẫn có những ông vua như Hàm Nghi, Duy Tân, Thành Thái ra mặt chống đối, vẫn có những cuộc nổi dậy chống Pháp như Nguyễn Trung Trực, Đinh Công Tráng, Phan Đình Phùng, Đề Thám, Nguyễn Thái Học v.v.

Một người dân trong nước đã tự hỏi:“Chính quyền hiện hành có còn là chính quyền của dân tộc Việt Nam hay không ? Tự hỏi để rồi ngầm trả lời: Không, không, không. Chính quyền này không phải là của dân tộc Việt Nam, mà là chính quyền của đảng cộng sản Việt Nam! Tôi và bao bậc cha mẹ khác lẽ nào đưa con mình đi cầm súng để bảo vệ đảng nô lệ như thế này ? Tôi đã rớt nước mắt. Tệ hại quá, tôi phải “nướng” con tôi cho lũ cầm quyền phản dân tộc này? Tôi sẽ phải làm thế nào ?”.

Thực ra thì chính Cộng Sản Việt Nam không phải là chính quyền của người dân từ lâu, ngay từ khi mà ông Hồ Chí Minh cướp được chính quyền từ tay chính phủ Trần Trọng Kim. Nhưng trong thời kỳ chiến tranh từ 1945 tới 1975, lòng yêu nước của dân tộc Việt Nam vẫn còn và vẫn hăng say và nồng nhiệt. Chính vì thế mà chúng vẫn bịp bợm và lợi dụng được để chiến thắng miền Nam với sự ủng hộ triệt để của Liên Sô và Trung Cộng . Ngày nay, chúng không còn cần lòng yêu nước của người dân Việt Nam nữa. Chúng chỉ cần làm sao giữ được Đảng để hưởng thụ. Không những thế, chúng còn muốn tiêu diệt hẳn lòng yêu nước của người dân bằng chính sách hủ hóa (ăn chơi xả láng) để chúng dễ bề cai trị. Người dân đã được dậy ngay từ khi biết mới nói, từ lúc mới cắp sách đi học là: “Yêu nước là yêu Đảng, yêu chủ nghĩa xã hội”. Vì thế chúng ta không lấy làm lạ tại sao những cuộc biểu tình quan trọng như vậy lại chỉ có vài trăm người trong khi những chốn ăn chơi trụy lạc nhỏ bé cũng có cả ngàn người tham dự.

Không những lòng yêu nước bị đui chột mà còn bị chính quyền cấm đóan. Cũng trong bài “Không Giống Ai”, nhà văn Huỳnh Ngọc Tuấn viết: “Lòng yêu nước có thể nói là di sản quý báu của người Việt Nam mà tổ tiên của chúng ta trao truyền từ đời này sang đời khác, chưa có một triều đại một chính quyền nào “kiểm duyệt” lòng yêu nước chứ đừng nói đến chuyện thủ tiêu, ngăn cấm hay độc quyền. Vậy mà ngày hôm nay trước hành động hiếu chiến và ngang ngược của bọn bành trướng Bắc Kinh, người dân Hà Nội, Sài Gòn đã tự nguyện xuống đường để cho thế giới biết là nhân dân Việt Nam không hèn yếu không vô trách nhiệm với quốc gia, vậy mà đã bị chính nhà cầm quyền “của dân, do dân, vì dân” đàn áp, bắt bớ, vu khống và chụp mũ . Điều này chắc làm cả thế giới kinh ngạc và khó hiểu là Việt Nam đang được điều hành bởi một chính quyền đại diện cho ai ?”

Không những lòng yêu nước của người dân Việt Nam bây giờ không còn mà ngay cả lòng tự ái dân tộc cũng mất. Trước kia (1975) gia đình Việt Nam nào, có con gái lấy chồng ngoại quốc đều lấy làm xấu hổ (mắc cở) với họ hàng, làng xóm. Nay thì trái lại, gia đình Việt Nam nào có con gái lấy được chồng ngoại quốc, không những không xấu hổ mà còn lấy làm hãnh diện, không những hãnh diện với họ hàng mà cả với làng xóm. Họ hàng, làng xóm cũng không coi đó là đều xấu mà còn coi đó như một tấm gương sáng để cho con cháu noi gương mà bắt chước. Đành rằng ngày nay thế giới mở rộng, việc lấy người ngoại quốc là chuyện bình thường, nhưng coi đó là một tấm gương sáng để con cháu noi theo thì thật là hết chỗ nói.

Sau mấy chục năm sống dưới chế độ Cộng Sản, người dân Việt Nam bây giờ chỉ biết Tiền, Tiền và Tiền. Vợ chồng, cha con, mẹ con, anh em có thể giết nhau vì Tiền. Bạn bè có thể giết nhau vì Tiền. Thầy trò có thể giết nhau vì tiền. Chủ tớ có thể giết nhau vì Tiền. Học sinh, sinh viên cũng có thể vì tiền mà đi bán dâm hay làm đĩ đực. Hoa hậu hay người mẫu cũng có thể bán dâm vì tiền như trường hợp hoa khôi Thiên Kim từng môi giới cho Hoa Hậu Mỹ Xuân đi bán dâm với một “đại gia” tại khách sạn ở thành phố Vũng Tàu với giá 2,500 USD. Thiên Kim lấy 1,000 USD, còn Mỹ Xuân hưởng 1,500 USD. Vợ cũng có thể vì tiền mà ngọai tình hay bán dâm.

Thùy Linh, một người dân ở Hà Nội viết: “Mình bỗng thương Mỹ Xuân, Hồng Hà, Thiên Kim và các cô gái bị chà đạp thêm nhiều lần sau các chuyên án điều tra, bóc dỡ đường dây mại dâm này. Chính xã hội là nguyên nhân gây nên cơn “thèm tiền” đến điên loạn. Nếu xếp thang bậc cho cơn thèm khát tiền thì quan chức đứng số 1. Họ bất chấp tất cả để lao vào kiếm tiền, các nhiệm kỳ chưa đủ còn bố trí cả vợ, con cùng tham gia. Hầu như không có quan chức nghèo, chỉ chưa là tất cả các quan chức đều có thể gọi là tỷ phú đôla mà thôi.”…

“Càng xa hoa càng trở thành tấm gương để tạo nên một lối sống cho lớp trẻ “noi theo”.

Đắm chìm trong cuộc sống tất cả điên đảo vì tiền mà bảo tuổi trẻ nên có thái độ điềm tĩnh với tiền, vật chất thì khác gì rao giảng đạo đức suông ? Rất ít người thoát khỏi tấm lưới bủa vây của tiền bạc. Và để có được cuộc sống cho bằng người ta, tất nhiên cần tiền. Không thể kiếm tiền bằng các dự án, chính sách như quan chức, đại gia thì đương nhiên phải bán những gì mình có.”

Người nghèo thì sẵn sàng làm bất cứ nghề gì, miễn sao kiếm được tiền để sống, kể cả nghề buôn lậu, ma cô, đĩ điếm đã đành, mà ngay kẻ đã có tiền cũng có thể làm những nghề này để chóng giầu hoặc giầu hơn để hưởng thụ được nhiều hơn, đưa tới gần như cả nước sa đọa. Nhà tan không cần biết, nước mất không cần hay. Đó là thái độ của người dân Việt Nam bây giờ.

3. Dân tộc chia rẽ trầm trọng.

Dân Việt Nam không phải là một dân tộc thuần chủng. Miền Bắc thì có một số lai Tầu, tương lai sẽ có nhiều hơn. Miền Trung thì lai Chiêm. Miền Nam thì lai Miên. Tôn giáo thì có Phật Giáo, Công Giáo, Tin Lành, Cao Đài, Hòa Hảo v.v… Sau 1975, dân Việt Nam cũng chia làm 2 hạng: hạng người đã sống dưới chế độ Cộng Sản và hạng người đã sống dưới chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Dù một vài chục năn nữa, số người sống dưới chế độ Việt Nam Cộng Hòa có chết hết thì cũng vẫn còn hai hạng: hạng là đảng viên cộng sản và hạng không phải là đảng viên cộng sản. Vì thế thật khó mà có sự đoàn kết. Đành rằng khi tổ quốc lâm nguy, chúng ta có thể gạt bỏ tất cả những dị biệt để đoàn kết chống giặc. Nhưng đó là trường hợp chính quyền là chính quyền của dân, biết lo cho dân và biết bảo vệ dân. Chính quyền cộng sản Việt Nam không phải là chính quyền của dân mà là chính quyền của đảng cộng sản nên chỉ biết lo cho đảng, bảo vệ đảng. Còn dân chúng thì Việt Cộng coi như kẻ thù.

Vì thế, một người dân trong nước đã nói: “Cầm súng bảo vệ đất nước thì tôi không sợ. Còn cầm súng, hy sinh con cái chúng tôi cho quyền lợi riêng của đảng cộng sản Việt Nam thì khác nào sự ngu xuẩn, hơn nữa, đó là sự nhục nhã ! Còn nếu không đưa con đi nghĩa vụ, tôi sẽ bảo nó trốn cách nào ? Giá như gia đình tôi có tiền của như đám cán bộ nắm quyền, tôi sẽ “chạy” được cho con ra nước ngoài du học. Hàng triệu gia đình như gia đình tôi phải chạy ăn từng bữa thì làm gì có khả năng cao sang đó? Chúng tôi sẽ đưa con cái chúng tôi trốn đi đâu ? Tôi đang phải trốn chạy, ngay trên chính quê hương Việt Nam của mình sao ?”

Tóm lại, với ba lý do trên, nếu Việt Cộng còn, hay nói cho rõ hơn, nếu chế độ cộng sản Việt Nam còn tồn tại, nước Việt Nam chắc chắn sẽ mất dù chiến tranh có xẩy ra với Trung Cộng hay không.

Đọc lịch sử Việt Nam, chúng ta thấy Việt Nam đã ba lần mất nước. Nhưng cả ba lần chúng ta đều lấy lại được vì tinh thần yêu nước của dân ta thời ấy vẫn còn, tự ái dân tộc của dân ta thời ấy rất cao. Hơn nữa tất cả ba lần mất nước đó đều do ngọai xâm xâm chiếm và chính quyền do chính người ngọai quốc đứng đầu cai trị. Còn lần này, nếu chuyện mất nước xẩy ra thì thật là khó lòng lấy lại được vì nước mất là do chính bọn Việt Cộng dâng cho Tầu. Chính quyền cai trị cũng vẫn chính là bọn Việt Cộng bán nước làm tay sai cho Tầu nắm giữ thì thật là khó có thể lấy lại được nếu chúng không tự tan dã hay tự tiêu diệt lẫn nhau ?

Lê Duy San
Chú thích: (1). Có lẽ ông Bút Xuân đã căn cứ vào các cam kết “giao nước Việt Nam cho Trung Quốc”, đã được “ký” bằng “lời hứa danh dự ” của ông Hồ Chí Minh với 2 Đại Tướng Tàu là Trần Canh và Vị Quốc Thanh, thay mặt cho Mao Trạch Đông vào năm 1926. Bốn năm sau, năm 1930, thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam, ông Hồ khẳng định một lần nữa với Tổng Lý Chu Ân Lai:“Việt Nam và Trung Quốc tuy hai mà một: một dân tộc, một nền văn hóa, một phong tục, một tổ quốc”.

Saturday, April 12, 2014

Chọn lựa của đời người - Trần Trung Đạo

    Chọn lựa của đời người
Trần Trung Đạo

Nỗi lo sợ lớn nhất của một nhà tranh đấu cho tự do dân chủ của một đất nước không phải là sợ bị tù mà bị sống lưu vong, bởi vì với phần đông, đi là hết.

Boris Pasternak không phải là nhà đấu tranh chính trị nhưng khi bị hăm họa nếu đi nhận giải Nobel văn chương có thể không được phép trở về Nga, ông từ chối đi nhận giải. Aung San Suu Kyi được phép đi thăm chồng bịnh nặng nhưng có thể không được trở về, bà đành chịu không thấy mặt chồng còn hơn phải rời Miến Điện. Nhắc lại, năm 1997, chồng bà, Tiến sĩ Michael Aris, bị ung thư tuyến tiền liệt giai đoạn cuối nhưng bị chính phủ quân phiệt Miến từ chối cấp giấy phép nhập cảnh thăm bà và cuối cùng Michael Aris đã chết ở Anh Quốc đúng trong ngày sinh nhật của ông không có mặt vợ.

Vua Hàm Nghi của Việt Nam mình là bài học khác. Trong suốt ba năm từ 1885 đến 1888, chịu đựng bao gian truân đói khổ trong rừng núi Quảng Bình, nhà vua không hề than van và ngay cả khi bị bắt vị vua 17 tuổi còn mắng vào mặt Việt gian Trương Quang Ngọc "Mi giết ta đi còn hơn là mi mang ta ra nộp cho Tây", nhưng khi bước xuống tàu Biên Hòa để bị lưu đày sang Algérie, ngài đã khóc. Giọt nước mắt của vị vua mất nước và cũng là một thanh niên Việt Nam chỉ mới 18 tuổi tuôn rơi chỉ vì phải rời xa tổ quốc thân yêu và một phần khác ngài cũng biết đi là hết, giấc mộng Cần Vương xem như chính thức cáo chung.

Trong giai đoạn từ 1975 đến nay, có hai nhà đấu tranh vì tự do dân chủ và nhân bản Việt Nam nổi tiếng nhưng có hai chọn lựa khác nhau: Giáo sư Đoàn Viết Hoạt chọn lựa ra đi và Bác sĩ Nguyễn Đan Quế chọn lựa ở lại.

Giáo sư Đoàn Viết Hoạt: Không thể ra khỏi nhà tù nếu thiếu điều kiện ra đi khỏi Việt Nam

Giáo sư Đoàn Viết Hoạt bắt đầu các hoạt động chống độc tài CS ngay sau 1975 và bị tù tổng cộng gần 20 năm:

- Lần thứ nhất: Ngày 29 tháng 7 năm 1976 ông bị bắt với cáo trạng “Tuyên truyền tư tưởng phản động chống phá Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam”. Giáo sư bị CSVN giam giữ 12 năm không bản án. Ông ra khỏi tù lần thứ nhất ngày 9 tháng 2 năm 1988.

- Lần thứ nhì: Một năm sau, Giáo sư Đoàn Viết Hoạt góp phần thành lập nhóm Diễn Đàn Dân Chủ và sáng lập viên của tạp chí Diễn Đàn Tự Do. Ngày 17 tháng 11 năm 1990, ông bị CSVN bắt lần thứ hai. Tòa sơ thẩm CSVN ngày 31 tháng 3 năm 1993 kết án giáo sư 20 năm tù giam. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm sau đó, giảm án xuống còn 15 năm tù giam. Năm 1993, ông bị đưa sang trại tập trung lao động khổ sai. Ngay trong tù, ông đã tổ chức hoạt động đối lập và vì vậy, ông bị đưa đi giam giữ cô lập 4 năm liền tại trại giam Thanh Cầm, Thanh Hóa.

Giáo sư Đoàn Viết Hoạt đối diện với chọn lựa không thể ra khỏi nhà tù nếu không chịu rời bỏ Việt Nam, nhưng ông cũng chỉ chịu rời Việt Nam khi vợ, con và nhiều bạn bè khuyên ông nên chấp nhận ra nước ngoài. Năm 1998, từ nhà tù, ông được đưa thẳng tới sân bay Nội Bài để bay sang Mỹ.

Sáng 8 tháng 4, 2014 vừa qua, phái viên Kính Hòa của RFA phỏng vấn Giáo sư Đoàn Viết Hoạt về việc Cù Huy Hà Vũ được trả tự do và tức tốc đưa sang Mỹ. Giáo Sư Đoàn Viết Hoạt phát biểu:

“Tôi nghĩ rằng nếu có thể thì chúng ta nên ở lại để đấu tranh. Tôi cũng muốn sớm được trở lại để đấu tranh với các bạn trong nước. Và ở ngoài này thì chúng ta phải vận động để thả ở trong nước chứ không đưa ra ngoài. Mỗi một người đi ra ngoài là mất một chiến sĩ trong nước, mà chiến sĩ ở trong nước mới là chính. Ngoài này chúng tôi chỉ hỗ trợ thôi. Khi sang ngoài này thì chúng tôi làm hết sức mình để hỗ trợ trong nước. Tất nhiên trong nước là cái chính, chúng ta phải bằng mọi giá đấu tranh để Hà nội thả anh em ra trong nước. Và phải chấp nhận những tiếng nói đối lập để đi đến dân chủ một cách ôn hòa bất bạo động.”

Ông Phạm Văn Thành, một người đã từng ở tù chung với giáo sư Đoàn Viết Hoạt nhận xét trên Facebook về những lời phát biểu của giáo sư:

“Giáo sư Đoàn Viết Hoạt đã trả lời rất thực lòng. Với bản thân tôi, tôi luôn luôn giữ lòng kính trọng với các quyết định của ông, kể cả quyết định chấp nhận đi ra nước ngoài, một quyết định tôi biết là cực kỳ khó khăn đối với ông, người mà tôi trân trọng gọi bằng thầy xưng con ngay từ khi anh em chúng tôi đón nhóm của ông chuyển từ trại Z30D Hàm Tân vào trại Trừng Giới A20 Xuân Phước cuối năm 1993. Thời gian ở trại A20 Xuân Phước, ông là người nỗ lực không ngừng nghỉ trong mục tiêu nâng cao khả năng lý luận cho những anh em tù chính trị đã bị giam cầm quá lâu (từ 1977 /1980/1984). Vốn liếng văn hóa, chính trị, xã hội và quan hệ quốc tế của ông đã làm chúng tôi bật ngửa và đặc biệt nhất là sự can trường và ý nhị của ông. Trước sự đeo bám của an ninh trại, ông bất chấp những đớn đau sẽ đến với mình và liên tục tham dự các buổi họp nhóm với tất cả các anh em tù kỳ cựu tổ chức. Nhiều người trong nhóm (nhóm Diễn Đàn Tự Do) của ông đã phải tránh hẳn ông vì sợ sự liên lụy. Bối cảnh ấy, anh em võ biền chúng tôi mới thật sự kính phục người mà trước đó nhiều anh em có ý không phục vì ông có liên quan đến những nhóm phản đối chính quyền miền Nam VNCH trước 1975. Bối cảnh trại A20 Xuân Phước, một trại khét tiếng tàn khốc với gần hai ngàn nấm mộ số (tính đến 1994) đã giúp cho chúng tôi nhận ra giá trị thực thụ của một kẻ sĩ. Một bậc trí thức thực sự.”

Về việc Giáo sư Đoàn Viết Hoạt ra đi. Cựu tù nhân chính trị Phạm Văn Thành cũng cho biết chính ông là người được giáo sư hỏi ý ngay khi ở trong tù. Hỏi ý nhiều khi không phải để nhận câu trả lời nhưng chỉ là cách để nhẹ những ưu tư đang đè nặng trong lòng.

Câu trả lời của giáo sư Đoàn Viết Hoạt và tiết lộ của một người ở tù chung nhiều năm với ông, cho chúng ta biết chọn lựa ra đi của ông là một chọn lựa khó khăn. Chọn lựa nào mà chẳng có hy sinh. Ông ra đi mang theo một niềm tâm sự luôn chôn giấu trong lòng và tâm sự đó đã nhiều đêm làm ông trăn trở. Ông cho nhiều người thân biết khi máy bay bay lên trời cao, nhìn xuống thấy đất nước xa dần ông đã bật khóc, không cầm được nước mắt. Bởi ngày trở lại không biết đến bao giờ. Ông không bao giờ muốn rời xa quê hương nếu được tự do lựa chọn. Như ông đã chọn lựa trở về Việt Nam sau khi học xong bằng Tiến Sĩ ở Mỹ. Và sau khi CS chiếm miền nam ông cũng đã quyết định ở lại quê hương để tiếp tục chiến đấu cho lý tưởng nhân chủ mà ông đã noi theo thân phụ ông từ khi còn trẻ.

Giáo sư Đoàn Viết Hoạt không phải là mẫu người hoạt động theo kiểu xông xáo đó đây nhưng là một nhà giáo dục, một cựu tù nhân lương tâm phát xuất từ miền Nam, một nhà tư tưởng, học ở Mỹ nên việc hội nhập vào sinh hoạt chính trị dòng chính Mỹ cũng như tham gia vào cộng đồng Việt Nam hải ngoại không mấy trở ngại khó khăn. Không giống như nhiều người tranh đấu khác chỉ tập trung vào các hoạt động có tính cách chiến thuật, ngắn hạn, giáo sư viết sách, phân tích tình hình quốc tế, sử dụng tích cực các mối quan hệ của cá nhân ông với quốc tế, đề nghị các chiến lược dài hạn cho các phong trào đấu tranh, vì thế, vai trò của ông tại hải ngoại có thể hữu hiệu không kém, nếu không muốn nói thuận lợi hơn, vai trò của ông khi còn ở trong nước.

Bác sĩ Nguyễn Đan Quế: Lưu đầy không phải là tự do

Một người bạn tù của Giáo sư Đoàn Viết Hoạt, Bác sĩ Nguyễn Đan Quế thì khác, ông đã chọn lựa sống chết với quê hương ngay trong giờ phút Sài Gòn thoi thóp thở cho đến hôm nay.

Ngày 30 tháng Tư năm 1975, trong lúc nhiều người Việt Nam chạy ra sông, ra biển, Bác sĩ Nguyễn Đan Quế đã chạy ngược dòng người, ông chạy về bệnh viện, nơi hàng trăm thiếu nhi Việt Nam bị thương tích và bệnh hoạn không có người chăm sóc, không có ngay cả một viên thuốc chống đau. Với chức năng của một bác sĩ và tình thương dành cho thể hệ thiếu nhi đang bị chế độ bỏ rơi, ông đã ở lại tiếp tục ngành chuyên môn của mình trong bệnh viện nhi đồng Sài Gòn. Tuy nhiên, một năm sau, trước những bất công, hà khắc mà chế độ CS áp đặt lên nhân dân Việt Nam một cách tàn nhẫn từ trong bệnh viện nơi ông làm việc cho đến ngoài xã hội, Bác sĩ Nguyễn Đan Quế phát động cuộc đấu tranh vì tự do dân chủ và nhân bản cho dân tộc Việt Nam.

Từ đó, ông đã dấn thân vào hành trình tranh đấu cho một Việt Nam tự do dân chủ và nhân bản. Bác sĩ Nguyễn Đan Quế bị bắt nhiều lần và có những bản án kéo dài hàng chục năm qua nhiều trại tù lớn ở miền Nam:

- Lần thứ nhất: Mười năm, từ 1978 đến 1988, trong đó có thời gian dài bị biệt giam vì đã sáng lập Mặt trận Dân tộc Tiến bộ "với âm mưu lật đổ chính quyền cộng sản". Không đưa ra tòa xét xử.

- Lần thứ nhì: Ngày 29 tháng 11 năm 1991, trong phiên tòa chỉ vỏn vẹn ba mươi phút, CSVN đã xử Bác sĩ Nguyễn Đan Quế 20 năm khổ sai và 5 năm quản chế vì "hoạt động lật đổ chính quyền". Đến năm 1993, Bác sĩ Quế bị đưa đi lao động khổ sai ở trại K4 Xuyên Mộc (Bà Rịa) và ở trại K3 Xuân Lộc, cách Sài Gòn 80 cây số về hướng Đông Bắc. Mặc dù sức khỏe của ông ngày càng yếu, quản giáo CSVN vẫn tìm cách hành hạ ông bằng lao động khổ sai và biệt giam.

- Lần thứ ba: Bị bắt năm 2003 vì lên tiếng tranh đấu cho tự do thông tin và phát biểu. Lần nữa, trước áp lực quốc tế và đồng bào trong cũng như ngoài nước. CSVN đã buột phải thả Bác sĩ Nguyễn Đan Quế vào năm 2005.

- Lần thứ tư: Bị bắt vào cuối tháng 2 năm 2011, sau khi công bố “Lời kêu gọi toàn dân xuống đường cứu nước”. CSVN trả ông về nhà sau khi bị tạm giữ 48 giờ.

Năm 1998, trước áp lực quốc tế, chính quyền cộng sản đồng ý thả bác sĩ Nguyễn Đan Quế với điều kiện ông phải rời Việt Nam.

Với hai mươi năm tù tội, CSVN nghĩ rằng bác sĩ đã cạn kiệt tinh thần cũng như thể lực và phải chọn con đường bình an nhất cho những ngày tháng cuối đời là ra đi. Nhưng họ đã lầm. Bác sĩ Nguyễn Đan Quế từ chối. “Lưu đầy không phải là tự do” ông tuyên bố một cách khẳng khái. Tự do của một người chỉ trọn vẹn ý nghĩa nếu được tự do trên quê hương mình và cùng với dân tộc mình. Không có tự do dành cho những kẻ bị lưu đày. Cuối cùng, Cộng Sản đành thả ông và giam lỏng ông tại Sài Gòn.

Ngày 11 tháng 5 năm 2014 sắp tới đây đánh dấu 24 năm ngày Bác sĩ Nguyễn Đan Quế công bố Bản Tuyên Bố của Cao Trào Nhân Bản kêu gọi đồng bào Việt Nam trong và ngoài nước, các chính phủ và nhân dân yêu chuộng tự do dân chủ khắp thế giới tích cực ủng hộ cuộc đấu tranh bất bạo động đòi hỏi nhà cầm quyền CSVN phải (a) Tôn trọng các nhân quyền căn bản của người dân Việt Nam. (b) Phải chấp nhận sinh hoạt chính trị đa nguyên. (c) Phải trả lại cho người dân Việt Nam quyền được lựa chọn một thế chế chính trị phù hợp với nguyện vọng của mình qua các cuộc bầu cử tự đó và công bằng dưới sự giám sát của Liên Hiệp Quốc.

Hôm nay, bác sĩ Nguyễn Đan Quế đã 73 tuổi với gần một nửa đời người trong tù tội lao lung. Ngọn đèn nhân sinh có thể một ngày sẽ tắt nhưng ngọn đèn nhân bản ông thắp lên trong ngày 11 tháng 5 năm 1990 chẳng những không tắt mà mỗi ngày một sáng hơn. Hai mươi năm trước, phong trào xã hội dân sự tại Việt Nam chỉ có Cao Trào Nhân Bản và Diễn Đàn Tự Do, hôm nay hàng trăm nhóm, phong trào, mạng lưới internet, tập hợp xã hội dân sự đang được ra đời và phát triển. Con đường ông đi ngày đó chỉ có một vài dấu chân lẻ loi đơn độc, hôm nay, hàng trăm, hàng ngàn người cùng đi. Tuổi trẻ Việt Nam xem bác sĩ như là một người cha, người chú, một chỗ dựa tinh thần, một nơi để tìm nguồn an ủi trong những lúc khó khăn. Và Bác sĩ Nguyễn Đan Quế, cũng giống như trong buổi chiều 30 tháng Tư, 1975 lại tiếp tục săn sóc, khuyên răn các em bằng đức tính khiêm cung và tấm lòng nhân ái.

Cù Huy Hà Vũ và Mount Everest đang chờ

Cù Huy Hà Vũ là một người đa tài. Anh sinh ngày 2 tháng 12 năm 1957 tại xã Ân Phú, huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh). Anh tốt nghiệp tiến sĩ luật học, thạc sĩ văn chương, họa sĩ nhưng được biết đến nhiều nhất như một nhân vật bất đồng chính kiến với nhà nước CSVN. Anh bị bắt ngày vào 5 tháng 11 năm 2010 tại Sài Gòn và bị khởi tố ngày 15 tháng 11 năm 2010 về tội danh quen thuộc của CS “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Anh bị kết án 7 năm tù. Phiên tòa ngày 2 tháng 8 năm 2013 giữ nguyên bản án. Tuy nhiên, trong lúc đang ở tù, anh Cù Huy Hà Vũ được CS phóng thích và cùng vợ đi thẳng sang Mỹ ngày 7 tháng Tư năm 2014.

Cù Huy Hà Vũ ra khỏi nhà tù CS là một tin vui chung cho phong trào dân chủ Việt Nam. Cuộc vận động và tranh đấu thay mặt anh đã diễn ra không ngừng trên mọi lãnh vực, mọi bình diện, mọi phương tiện, mọi giới và mọi tầm vóc đã có hiệu quả. Trong nước Cù Huy Hà Vũ đã trở thành niềm thôi thúc của tuổi trẻ dấn thân. Ngoài nước, Cù Huy Hà Vũ đứng hàng đầu trong danh sách tù nhân mà các tổ chức nhân quyền dùng để gây áp lực cho CSVN. Phần lớn các nhà phân tích và đồng bào quan tâm đều nghĩ CSVN phải trả tự do cho anh sớm. Và họ đoán đúng. Tuy nhiên thay vì trở về với bạn bè cùng tranh đấu, với công cuộc vận động dân chủ đang quá cần anh, với phong trào bảo vệ Hoàng Sa Trường Sa mà anh từng gắn bó, anh được đưa từ nhà tù sang Mỹ ngay là một tin làm nhiều người ngạc nhiên. Không ít người thất vọng, lo lắng và ngay cả buồn phiền.

Lần nữa, chọn lựa đi hay ở là chọn lựa cá nhân. Nếu anh chọn ra đi để chửa bịnh và được sống bình an sau những năm tháng dài đấu tranh mệt mỏi ở Việt Nam thì đó là chọn lựa riêng tư. Mỗi người trong thế giới này có quyền chọn lựa một cách sống riêng cho mình và gia đình mình. Quyết định đó phải được tôn trọng. Đất nước Việt Nam là của 90 triệu người chứ không phải chỉ của một mình Cù Huy Hà Vũ. Và đừng quên, phong trào dân chủ từ thập niên 1990 đến nay có những lãnh tụ đấu tranh tưởng chừng như “gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo” đã tự biến mất đi không để lại một dấu vết gì. Thỏa hiệp, đầu hàng, mệt mỏi hay dù gì cũng không ai trách và sau một thời gian sẽ không còn ai nhắc. Cuộc vận động dân chủ như một chuyến tàu, tại mỗi sân ga, có người bước xuống nhưng cũng có người khác bước lên. Lịch sử đã, đang và sẽ diễn ra như thế.

Nhưng nếu anh Cù Huy Hà Vũ chọn ra nước ngoài để vừa được bình an vừa tiếp tục con đường tranh đấu như phương cách anh đã làm trong nước thì đó sẽ là một chọn lựa vô cùng khó khăn để thực hiện:

- Phương pháp đấu tranh: Từ trước đến nay, anh Cù Huy Hà Vũ chọn phương pháp đấu tranh trong vòng cơ chế, nghĩa là chấp nhận và dựa trên hiến pháp CS, luật pháp CS. Anh từng ứng cử vào chức vụ Bộ trưởng Thông Tin, tranh cử Đại biểu Quốc Hôi. Anh từng kiện Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Thừa Thiên, kiện cả Thủ tướng CS Nguyễn Tấn Dũng, đòi hỏi phải thay đổi hiến pháp. Nói chung, anh tìm mọi kẽ hở của chế độ để tấn công, nhưng những kẽ hở đó đã được đóng lại cùng lúc với cánh cửa máy bay. Điều kiện đầu tiên để đấu tranh trong vòng cơ chế là phải có mặt. Không gian đấu tranh chính trị như thế không tồn tại ở hải ngoại. Ở Mỹ không có “gậy ông” để anh “đập lưng ông”. Lịch sử đấu tranh giành độc lập cho Việt Nam trong thời kỳ Pháp thuộc có rất nhiều người đã đấu tranh trong vòng cơ chế thực dân như Bác sĩ Nguyễn Văn Thinh, nhà báo Nguyễn Phan Long, kỹ sư Bùi Quang Chiêu, nhà văn Diệp Văn Kỳ v.v... và đã giúp tạo nền móng vững chắc cho chế độ dân chủ tại miền Nam Việt Nam từ 1954 đến 1975 nhưng họ đều trực diện một mất một còn với chế độ thực dân tại Việt Nam.

- Hậu thuẫn đấu tranh: Anh Cù Huy Hà Vũ vận dụng tích cực các mối quan hệ cá nhân, gia đình, môi trường xã hội mà anh xuất phát để làm điểm tựa đấu tranh. Những điều kiện đó thuận lợi bao nhiêu ở trong nước sẽ bất lợi bấy nhiêu ở hải ngoại. Giả thiết rằng điểm hẹn cuối cùng trong hành trình tranh đấu của anh Cù Huy Hà Vũ cũng là một nước Việt Nam tự do dân chủ như phần lớn người Việt trong và ngoài nước đang tranh đấu, điểm khởi hành của anh phát xuất từ trong lòng chế độ CS và vì thế không đi cùng một ngã với đại đa số người Việt hải ngoại. Người Việt hải ngoại không phải bao giờ cũng bằng mặt, bằng lòng với nhau nhưng có một lập trường dứt khoát giống nhau đối với chế độ CS như một điều kiện tiền đề, không có chuyện “tuy nhiên”, “lẽ ra” hay “nói gì thì nói” nào cả.

- Lý luận đấu tranh: Anh Cù Huy Hà Vũ không phải là nhà tư tưởng hay nhà lý luận. Hầu hết các hoạt động của anh chỉ mang tính chiến thuật, ngắn hạn, gây khó khăn cho chế độ nhưng không tấn công vào nền tảng của ý thức hệ Mác Lê và các nguyên nhân dẫn đến một đất nước điêu tàn, nghèo đói, phân hóa như hôm nay. Có thể phương cách đấu tranh đó anh nghĩ là thích hợp nhưng trong điều kiện hải ngoại những chiến thuật như thế không hiệu quả và cũng không thuyết phục được bao nhiêu người. Tham nhũng tại Việt Nam có tính đảng và sinh sôi nảy nở tốt tươi dưới bóng cây cổ thụ quyền lực của đảng, do đó, đánh tham nhũng mà tránh đánh vào đảng CS cũng chẳng khác gì đánh vào chiếc bóng đen mà để yên cho kẻ trộm dọn nhà mình.

Anh Cù Huy Hà Vũ có thể nói đã một mình đã tạo nên một phong trào đấu tranh đầy sinh động. Các nhà chiến lược và lý luận có thể không đánh giá anh cao nhưng cách đấu tranh của anh lại dễ gây phong trào quần chúng và gây khó cho lãnh đạo CS. Nhiều bạn trẻ đã khóc, đã xuống đường, đã bị tù vì anh khi anh bị chế độ CS hạ nhục. Nhiều cụ già đã thương quý anh như con, như cháu khi anh bị lao tù. Ngoài việc can đảm, gan dạ, với tuổi trung niên, anh là chất keo nối kết các tầng lớp xã hội. Quốc tế nhìn anh như một lãnh tụ đấu tranh nổi bật của giai đoạn này và luôn dùng để gây áp lực nhân quyền với chế độ. Nhưng chất keo đó chỉ còn là những giọt nước mưa rớt rơi trên mặt phi đạo khi chuyến bay mang anh đi vừa cất cánh. Nụ cười và dấu V chiến thắng của anh đưa lên khi ra khỏi phi trường Dulles ở Washington DC có thể chỉ để xã giao với người đang cầm máy ảnh nhưng làm đắng cay cho bao nhiêu đồng bào, anh em đang kỳ vọng ở nơi anh.

Lịch sử cũng từng chứng minh không phải đi là hết

Rất nhiều chính khách đối lập lưu vong hay tự lưu vong ở nước ngoài sau đó đã trở về và thành công trong việc lãnh đạo quốc gia như Benazir Bhutto, Kim Đại Trọng ở Á Châu, Jacob Zuma, Moncef Marzouki của Phi Châu và nhiều người khác.

Nhiều độc giả đã biết trường hợp Kim Đại Trọng của Nam Hàn và Benazir Bhutto của Parkistan, xin giới thiệu trường hợp của Tổng thống Tunisia Moncef Marzouki mới đây. Sau khi tốt nghiệp bác sĩ tại đại học Strasbourg, Pháp, Bác sĩ Moncef Marzouki trở lại Tunisia và thành lập Trung Tâm Y Tế Cộng Đồng để ngăn chận lạm dụng thiếu nhi. Bác sĩ Moncef Marzouki không có tham vọng chính trị nhưng trước việc nhà độc tài Ben Ali trấn áp một cách dã man các thành phần đối lập, ông đã đứng ra thành lập Ủy Ban Quốc Gia Bảo Vệ Tù Nhân Lương Tâm (the National Committee for the Defense of Prisoners of Conscience). Ông bị tù nhiều lần trước khi lưu vong sang Pháp. Tại Pháp, ông tiếp tục lãnh đạo Nghị Hội Vì Nền Cộng Hòa (Congrès pour la République) gọi tắt là CPR. Nghị Hội Vì Nền Cộng Hòa quy tụ một tập thể trí thức thuộc nhiều tôn giáo, thành phần xã hội, hữu và tả, Arab và không Arab nhưng theo đuổi một mục tiêu tối hậu là thành lập một chế độ Cộng Hòa đầu tiên tại Tunisia bao gồm tự do ngôn luận, tự do hội hộp, tự do bầu cử và ứng cử. CPR đòi hỏi một hiến pháp mới đặt cơ sở trên các nguyên tắc của chế độ Cộng Hòa. Sau khi nhà độc tài Ben Ali bị lật đổ, Moncef Marzouki trở về Tunisia để tham gia cuộc bầu cử quốc hội và được chọn làm Tổng thống của Tunisia ngày 12 tháng 12 năm 2011. Trả lời báo chí, Moncef Marzouki phát biểu về nhiệm vụ chính của ông ta “Khi một đất nước phải trải qua 50 năm độc tài, nhiệm vụ chính của tôi là ngăn chận độc tài tái diễn”.

Còn hơi sớm để đánh giá, nhận xét về việc anh Cù Huy Hà Vũ ra đi bởi vì có thể có nhiều yếu tố về phía Mỹ, phía CSVN và cả cá nhân anh vẫn chưa được biết, chưa được tiết lộ, chưa được tỏ bày. Những điểm người viết trình bày không có ý phê bình, chỉ trích nhưng chỉ muốn nêu ra một cách thẳng thắn về những hoàn cảnh và tình huống mà anh Cù Huy Hà Vũ có thể sẽ phải đương đầu trong những ngày tháng tới. Nếu anh chỉ muốn có cuộc sống bình an, đọc sách, họa, nghiên cứu luật sẽ không có gì để nói nhưng nếu anh tiếp tục dấn thân trên đường đấu tranh như đã từng làm thì trước mặt là đỉnh Everest đang đợi chờ anh.

Một góp ý chung cho tất cả những người ra đi, dù ra đi bằng ghe như kẻ viết bài này hay bằng máy bay như các lãnh tụ đấu tranh: Xa đất nước là một bất hạnh và ra đi, dù viện dẫn bất cứ một lý do gì, cũng có lỗi với quê hương.

Trần Trung Đạo

Đôi lời về việc Cù Huy Hà Vũ được thả tự do sang Mỹ - Ls Nguyễn Văn Đài

Đôi lời về việc Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ được thả tự do sang Mỹ

Ls Nguyễn Văn Đài

Đây là một thất bại và mất mát của phong trào Dân chủ và những người dân đang khao khát tự do. Chúng ta đã không đủ sức mạnh để buộc chính quyền thả tự do cho Tiến sĩ Vũ tại Việt Nam. Để ông tiếp tục đóng góp cho tiến trình dân chủ hóa đất nước.

Và là một thành công của chính quyền CS, bởi họ đã đạt được 2 mục tiêu: Đáp ứng đòi hỏi của quốc tế và trục xuất được một người kiên cường đấu tranh đòi đa đảng. Chính quyền CS luôn luôn muốn những người bất đồng chính kiến với họ đi khỏi Việt Nam. Để họ được tự do cai trị hay áp bức nhân dân theo ý thích của họ.

Bản thân tôi khi đang ở tù, an ninh nhiều lần hỏi, gợi ý thả tự do cho tôi đi nước ngoài, nhưng tôi không chấp nhận. Ngay cả hiện tại, mỗi lần làm việc với họ, họ đều bảo tôi sao không đi định cư để đỡ làm phiền họ.

Nhưng tôi luôn nói với họ rằng: Những người dân Việt Nam đang khao khát tự do, dân chủ mới cần đến tôi, còn nước Mỹ đã có tự do, dân chủ hàng trăm năm rồi. Tôi sang đó sẽ thành người vô dụng.

LS Nguyễn Văn Đài