Monday, April 11, 2011

Gửi Súng Cho Tao


Gửi Súng Cho Tao



Nguyễn Cung Thương

Tao cụt một chân một tay
Nhưng còn một tay
Viết thư giùm cho thằng mù hai mắt
Nghe nói ở xứ người chúng mày "cày" như trâu
Nhưng không quên đồng đội
Chia đôla cho chúng tao, như chia máu ngày nào
Tao cũng sớt cho mấy thằng bạn: phế binh Việt Cộng!
Chúng cũng què đui sứt mẻ như nhau
Bởi đảng của chúng bây giờ là lũ đầu trâu...

Có điều tao không thể hiểu

Bao nhiêu năm qua
Chúng mày cứ mãi dặn dò
Thế giới văn minh, đừng làm gì bạo động
Liệu chúng mày có thể hoà hợp được không
Với lũ kênh kênh hổ báo?
Những con thú cực kỳ giàu có
Mang " thẻ đỏ, tim đen"
Nợ Nga, sợ Tầu, lạy Mỹ
Với quan thầy cung cúc tận tụy
Quay về đàn áp dân đen
Chúng đóng đinh Jesus lần nữa
Bịt Miệng Cha, trói Phật, nhốt Sư quản lý chùa
Chúng tao lết lê trên thành phố Cáo Hồ
Nên biết rõ từng tên đại ác
Trên bàn tiệc máu xương dân tộc
Nhà hàng nào chúng cũng ăn nhậu
Bé gái nào cũng bị chúng mua trinh!

Chúng tao sẽ tỉa từng thằng

Đất nước cần nhiều "quốc táng"
Bớt được mạng thằng Cộng Sản nào
Thì địa ngục xã hội chủ nghĩa này
Còn có chút sáng láng hơn

Hãy gửi tiền cho những nhà tu

Để họ mở cửa nhà tù

Còn chúng tao là chiến sĩ

Hãy gửi về cho chúng tao vũ khí
Thằng cụt tay sẽ chỉ cho thằng mù mắt bấm cò
Thằng còn chân sẽ cõng thằng què quặt
Trận chiến sau cùng này sẽ không có Dương Văn Minh!


Nguyễn Cung Thương
Sàigòn, VN




MỘT BỨC TƯỜNG ĐÁ HOA VINH DANH NGƯỜI VỊ QUỐC VONG THÂN - ĐN


MỘT BỨC TƯỜNG ĐÁ HOA
VINH DANH NGƯỜI VỊ QUỐC VONG THÂN


ĐN

Hằng năm, vào dịp 30 tháng 4, cõi lòng người dân Việt tỵ nạn Cộng sản khắp năm châu lại một lần thổn thức. Biến cố 30/4 năm 1975 tại miền Nam Việt Nam, không những là khúc quanh trọng đại của lịch sử dân tộc, nó còn là một vết hằng sâu trong buồng tim mổi người dân Việt tại quốc nội cũng như hải ngoại. Đó là cơn hồng thủy đã bứng nhổ và cuốn trôi đi cơ nghiệp của một phần nhỏ nhân loại với quá trình chiến đấu kiên cường cho Tự Do, Dân Chủ và chống lại tội ác. Nó đã hủy diệt từng mảnh đời, giết chết từng hy vọng của tương lai. Nó là loại ác thần gieo định mệnh nghiệt ngã, xẻ từng con tim người sống, tạo phân ly, tan nát trên từng mái âm gia đình. Tác giả của đủ loại thảm cảnh mà dân tộc chúng ta đã và đang phải gắnh chịu một tập đoàn CSVN. Tưởng nhớ ngày 30/4, mỗi người chúng ta phải tâm nguyện để đừng vội quên đầu mối của khổ đau và bất hạnh này; đồng thời, cũng để tưởng niệm anh linh những người đã nằm xuống vì lý tưởng phục vụ tha nhân.

58.000 người Mỹ bỏ thây trong cuộc chiến Việt Nam, đã được nhân dân xứ này tỏ lòng tri ân, qua bức tường đá hoa nổi danh tại Washington DC. Khách thập phương, người bản xứ, quanh năm suốt tháng, đến nới đây chiêm bái linh hồn người quá cố; hằng ngày không thiếu những tràng hoa tươi bày trên bệ đá. Lòng tri ân đã thể hiện trọn vẹn để vinh danh người chết và làm ấm lòng người sống. Riêng đối với những vị anh hùng của Dân Tộc, gần gũi nhất là những người đã chết vào những ngày cuối của cuộc chiến cũng như sau này, chúng ta chưa có một bức tường đá hoa để tưởng niệm, dù không ai có thể phủ nhận sự góp phần vô giá bằng cái chết cho cuộc đời tự do của chúng ta và thế hệ con cháu ngày hôm nay.

Ngược giòng thời gian trở về quá khứ của 27 năm về trước, không thiếu những gương anh dũng làm sáng ngời giá trị truyền thống và đạo đức Việt Nam. Dọc theo quốc lộ 1 đổ dồn về phương Nam, trong khoảng thời gian sôi bỏng nhất, trong cảnh tên bay đạn lạc của tháng 3 và tháng 4 năm 75, đã có bao gương quả cảm, hy sinh thân mình cho đồng loại của những tên tuổi vô danh về phía dân chúng cũng như các đơn vị quân đội. Tử lệnh hàng giặc của Dương Văn Minh, vài giờ sau buổi bình minh ảm đạm ngày 30/4, đã gây ra bao cảnh huống bi hùng. Đã có bao người tuẩn tiết để vẹn toàn khí tiết, "ninh thọ tử, bất ninh thọ nhục" ! Bên cạnh những tên tuổi đã đi vào sử xanh như Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Lê Nguyên Vỹ, Trần Văn Hai ... là một dọc dài tên họ mà chúng ta chưa hề biết đến. Người trung tá Cảnh Sát Nguyễn Văn Đức (xuất thân khóa 11 trường VBQGVN) đã tự xử mình trên đường phố Sàigòn với đầy đủ quân phục trên người. Một gia đình dân đã kết thúc cuộc đời 8 sinh mệnh bằng một liều độc dược, trong buổi cơm chiều thường lệ. Một số đông binh sĩ cắc đơn vị ưu tú đã tập họp thành từng nhóm 5 hay 10 đồng đội, nở nụ cười ngạo nghễ trong tiếng hô "đảo đảo Cộng nô" và bình thản mở chốt lựu đạn để cùng chết trên hè phố thủ đô.

Giờ thứ 25 của cuộc chiến, tiếng súng bất khuất vẫn còn rền vang trên một số trận tuyến, rải rác khắp miền Nam. Nguyễn Văn Phát, thiếu tá quận trưởng quận Thạnh Trị, Ba Xuyên, đã cùng binh sĩ chiến đấu đến hết đạn rồi tự kết thúc đời bằng những khẩu súng cá nhân. Tại Chương Thiện, quân, dân toàn tỉnh đã anh dũng chiến đấu đến lúc cạn hết nguồn đạn dược lưu trử và khi Việt Cộng tràn vào được, chúng đã sát hại tại chỗ trung tá Võ Ngọc Đường trưởng ty Cảnh Sát (xuất thân khoá 11 VBQGVN). Đại tá Hồ Ngọc Cẩn, tỉnh trưởng, vì niềm tin tôn giáo đã không thể tự xử, hiên ngang bước lên pháp trường, theo gương dũng liệt của các tiền nhân Yên Bái. Thiếu tá Nguyễn văn Bé, Nguyễn văn Tư (cả hai cùng xuất thân khóa 19 VBQGVN) đã chửi thẳng vào mặt lũ vô nhân, đám cai tù Cộng sản, và nở nụ cười ngạo mạn, rẻ khinh, trước cái gọi là phiên tòa nhân dân với hai chiếc hòm gỗ tạp chờ sẵn, vào một buổi chiều mưa ảm đạm nơi trại tù Suối Máu … Còn nhiều, và thật nhiều cảnh bi hùng tô thắm giòng sử dân tộc trong các trại tù, trên các đường phố đô thị và tận cáx xã, ấp vùng nông thôn, sau ngày CSVN cưỡng chiếm miền Nam Việt Nam.

Trước những cái chết đầy ý nghĩa của bao anh hùng suốt đời đấu tranh cho Lý Tưởng Quốc Gia, Dân Tộc đó, chúng tôi xin thành kính thắp nén tâm hương cho người dưới mộ, đồng thời, cũng xin chia xẻ mối đau thương vô bờ đối với từng thân nhân của quý vị này còn hiện tiền, vào ngày tang chung của dân tộc.

Trong hoàn cảnh và khả năng hạn hẹp, chúng tôi xin biểu tỏ lòng tri ân sâu rộng bằng cách Vinh Danh những người vị quốc vong thân vào dịp tháng Tư máu lệ này. Chúng tôi xin dựng lên một BỨC TƯỜNG ĐÁ HOA BẰNG GIẤY MỰC này, nhưng gói trọn lòng thành của những người hậu tiến trong sứ mạng đem An Bình và Thịnh Vượng về trên quê hương. Chúng tôi cũng hy vọng BỨC TƯỜNG ĐÁ HOA THÔ SƠ này sẽ là một hội chứng đầy vinh dự của một dân tộc bất khuất trước tòa án lương tri của nhân loại và không bao giờ phôi phai trong tâm khảm thế hệ trẻ để họ có thể ngước mặt, hãnh diện đi trên con đường cha, anh đã hiến thân.

ĐN

Saturday, April 9, 2011

Tháng Tư Quốc Hận 30-04-1975


Anh Hùng Tử Khí Hùng Bất Tử
Quốc Hận 36
30-04-2011

Tổ Quốc Ghi Ơn


Hát Cho Linh Hồn Anh



Lời nhạc: Ngân Giang
Ca sĩ: Giao Linh

Em đứng giữa khoảng trời bơ vơ,
hát bài ca tặng linh hồn các anh,
những người ngủ yên trong lòng đất.
Cho Việt Nam, vì Việt Nam này
mấy triệu người vẫn còn đang sống
Cho đất khô lên cây trổ lộc,
cho tóc em thơm hương cỏ dại,
cho mắt mẹ cười trong niềm tin.

Thương mấy đứa em còn ngây thơ,
thiếu phụ kia còn u uẩn tiếc thương,
vắng người đèn khuya thêm sầu héo
Sau mùa Thu là mùa Đông
trời gió lạnh lùng chỉ vài manh áo
Đôi cánh tay yêu thương nhỏ giọt,
anh có hay nhân gian lúc này
Em vẫn nguyện cầu cho linh hồn anh !

Trời mưa, mưa mãi ngàn năm,
nước sông vẫn chảy về biển khơi,
thì tình người Việt Nam sau đêm tối
sẽ rạng ngời dưới ánh mặt trời .
nhờ các anh, vì các anh,
những người đi làm lịch sử Việt Nam.

Em sẽ hát cho ngàn năm sau,
hát ủi an từng linh hồn các anh,
những người đã an thu ngàn giấc.
Đất của anh là của anh
Diện tích nhỏ hẹp chẳng người xâm chiếm
Đây núi sông quê ta hữu tình
Nhưng biết ai yêu thương lấy mình
Em vẫn nguyện cầu cho linh hồn anh.



Những cái đầu tôm trí thức thối



Alexandre Isaevich Solzenitsym

Nhà văn Alexandre Solzenitsym:
    "Khi thấy thằng cộng sản nói láo, ta phải đứng lên nói nó nói láo.

    Nếu ta không có can đảm nói nó nói láo, ta phải đứng lên ra đi không ở lại nghe nó nói láo.

    Nếu ta không can đảm bỏ đi mà phải ngồi lại nghe, ta sẽ không nói lại những lời nó nói láo với người khác"
    .

Thảm sát Mậu Thân, Huế 1968

Hôm qua đọc báo biết nhà văn Alexandre Solzenitsym qua đời, tôi buồn vì tiếc cho thế giới mất đi một nhà văn kiệt xuất. Ngoài ra, tôi bồi hồi thương cảm cho số phận của đất nước tôi vô cùng!!

Đất nước tôi còn bất hạnh, có lẻ bởi vì số đông những người Việt Nam lưu vong trên những xứ sở tự do, sống bằng cây bút, sống với văn học nghệ thuật còn thiếu một nhân cách can đảm như ông Alexandre Solzenitsym. Một nhân cách bất chấp mọi nguy hiểm để nói lên sự thật, nói lên cái sai trái, cái độc tài, cái giảo quyệt của chế độ Cộng sản. Một nhân cách bất chấp mọi quyền lực bè phái, dám bất bình vạch trần sự thật trước dư luận về một số người lưu vong hèn hạ vô ơn với ‘cái chính thể’ đã nuôi dưỡng họ được sống còn cho đến ngày hôm nay. Một nhân cách biết đau xót trước những khủng bố tù đày của những người đấu tranh không mệt mỏi cho một Việt Nam tự do dân chủ và nhân quyền.

Trước năm 1975, ông Mai thảo, một trong những nhà văn lớn trên đất nước tôi, một người suốt đời sống bằng chữ nghĩa. Chữ nghĩa của ông sặc mùi rượu mạnh đêm đêm phòng trà, chữ nghĩa của ông trau chuốt óng ả sống thời thượng nhảy đầm trên những xác chết của vô số người lính ngoài trận. Nửa đời còn lại, ông tiếp tục sống ngất ngưởng phong lưu tỵ nạn, chữ nghĩa của ông bây giờ nói lên khát vọng tự tôn:

"Ta thấy hình ta những miếu đền ... Đời ta sử chép cả nghìn chương ...."


Đọc những lời thơ thần thánh hóa một cách bệnh hoạn của một nhà văn già một đời nát rượu này, tôi thấy thương cho ông. Tôi tôn trọng những gì gọi là văn học, nhưng ca tụng những dòng thơ huyễn tưởng của ông thì không. Thế mà một số người lưu vong sống bằng chữ nghĩa, họ lãng quên rồi những người Việt Nam Cộng Hòa anh hùng đã chết thật anh hùng cho đất nước. Họ dấy động chữ nghĩa tâng bốc thơ ông là những dòng trác tuyệt, ông là bậc vĩ nhân, ông là cây đại thụ, là Nguyễn Du thời đại. Tôi ngán ngẫm vô cùng, mường tượng thấy trước mắt mình đang diễn lại hoạt cảnh điếu đóm xưng tụng, tự chia nhau chiếu trên chiếu dưới, tự phong mỗi người thống lãnh mỗi cõi Thái Sơn Bắc Đẩu như ngày xưa ở văn đàn nước tôi.

Có người cho ông Trịnh Công Sơn dùng chữ dễ dàng như lấy từ trong túi áo. Vâng đúng vậy, không ai phủ nhận điều này. Chữ nghĩa của ông đẹp lắm, vì những chữ nghĩa đó được cưu mang, được thấm đẫm bởi máu, nước mắt và mồ hôi của hàng triệu người đã cống hiến tuổi thanh xuân của mình cho đất nước để bảo vệ hai chữ Tự Do.

Sau năm 1975, ông sống hèn hơn tôi tưởng. Chữ nghĩa đẹp của ông sợ hãi ngó lơ trước hàng hàng lớp lớp xác người trôi dạt khắp biển Đông. Chữ nghĩa đẹp của ông sợ hãi ngó lơ trước hàng hàng lớp lớp những trại tập trung cải tạo. Chữ nghĩa đẹp của ông sợ hãi ngó lơ trước hàng hàng lớp lớp những thân phận tù đày khổ sai trên khắp cùng rừng núi. Mỗi ngày TCS nhâm nhi rượu Tây rượu Mỹ, TCS đem những chữ nghĩa đẹp của ông để ngất ngây say đắm ca ngợi cái xã hội ông đang sống mà mỗi ngày chung quanh TCS có hàng triệu người đói cơm thiếu mặc. TCS đem những chữ nghĩa đẹp của ông để thiết tha ca tụng cái xã hội ông đang sống mà mỗi ngày chung quanh TCS có hàng triệu người bị đòn thù bách hại.

Ông chết, bạn bè ông trong nước, người nặn tượng, kẻ vẽ tranh sùng bái ông (tôi cũng vẽ một bức, vẽ chính con người của ông: mặt mày lơ láo, tóc tay dựng đứng. Bức vẽ này tôi gởi về địa chỉ nhà ông).

Nực cười thay, tại hải ngoại có một số cây bút mà ngày trước họ đã sợ hãi trốn chạy chế độ phi nhân phi lý phi pháp qua đây sống kiếp lưu vong. Nghe TCS chết, họ vội vã vấy động chữ nghĩa khóc ông ...!? (tôi nghe ra những lời thống thiết trơ trẽn đó có khác gì với cái trơ trẽn của Tố Hữu khóc Stalin). Nước mắt tôi không đổ cho loại người như TCS, loại người có tấm lòng chỉ để ... gió thổi bay đi. Không bao giờ.

Tài hoa, họa sĩ bậc thầy mà sống vô hậu như các ông Đinh Cường và ông Trịnh Cung ... Ngày xưa, các ông ấy cùng với bọn Nguyễn Đắc Xuân, Hoàng Phủ Ngọc Tường thâm giao vô cùng trên mấy ngàn xác chết của dân Huế bị bọn Việt Cộng sát hại. Ngày nay, các ông ấy tiếp tục thản nhiên đàn đúm, làm ngơ trước những dòng nước mắt và trên những giải khăn tang của vô số đồng bào. Các ông ấy tiếp tục làm ngơ trước những nỗi gieo neo tận cùng nghèo khổ của hàng triệu dân lành.

Họ nghèo khổ tới nỗi những thanh niên thiếu nữ phải chấp nhận bán đi nhân phẩm của mình cho bọn cầm quyền để được đem qua những xứ sở lân cận để làm những nghề thật tủi nhục. Các ông ấy lặng thinh trước một xã hội suy đồi đạo đức một cách ghê sợ mà lịch sử nước nhà trước đây chưa hề xảy ra. Các ông lặng thinh trước một xã hội đầy rẫy bất công trong một chế độ độc tài tham nhũng thối nát, giàu nghèo vô cùng chênh lệch và biết bao tội ác thì có khác gì với đồng lõa. Các ông ơi, chiêm ngưỡng những ngòi bút cây cọ thui chột của các ông? Không có tôi đâu.

Đất nước Việt Nam của chúng ta. Một giải đất thật nhỏ bé thật thân thương mà các tiền nhân, những vị anh hùng của chúng ta suốt mấy ngàn năm nay đã đổ biết bao xương da máu thịt trong lửa đạn để bảo vệ giữ gìn. Giờ đây bọn CS Việt Nam cắt từng miếng đất, dâng từng hòn đảo cho ngoại bang. Sơn hà đang lâm nguy. Nước nhà đang nguy biến. Những người sống bằng chữ nghĩa lưu vong trên những mảnh đất tự do đâu hả? Họ sợ gì sao không dấy động chữ nghĩa lên chiến đấu bằng ngòi bút của mình? Dấy động chữ nghĩa lên kêu gọi lương tâm nhân loại. Dấy động chữ nghĩa lên đánh thức lòng yêu nước của người Việt Nam sống khắp nơi trên thế giới? Chữ nghĩa của họ đâu rồi? Có phải chữ nghĩa của họ bây giờ chỉ dùng để kêu gào cổ súy cõng rắn vô nhà? Có phải chữ nghĩa của họ bây giờ dùng để khích bác một cách ác độc ngu xuẩn làm thương tổn đến niềm tin về tôn giáo cao cả của mỗi người trong Cộng đồng? Có phải thái độ sống của họ là một thái độ không làm người tử tế? Có phải thái độ viết của họ là thái độ thiếu trung thực, gây rối, khiếp nhược, ích kỷ?

Tôi ước gì ở hải ngoại này có được thêm vài ông Nguyễn Hữu Nghĩa, Duyên Anh, Bùi Bảo Trúc, . v..v… Chắc chắn cộng đồng sẽ bớt những kẻ sống bằng chữ nghĩa, thiếu lòng tự trọng quên bước đi bằng hai chân để được sự ân sủng của bọn Cộng Sản Việt Nam cho phép rao bán thơ văn của mình. Bớt những loại sâu bọ lên làm người còn giấu mặt. Bớt những kẻ vô lại như bọn Phạm Duy như bọn Nguyễn Cao Kỳ ... Bùi duy Tâm.

Trong số các nhà văn nhà thơ, được mấy người có nhân cách đẹp không thèm tiếp Nguyễn Tuân như bà Nhã Ca? Nhưng có rất nhiều người như bà Mộng Tuyết.

Những người Việt Nam lưu vong sống bằng chữ nghĩa nhân cách lương tâm kiệt xuất? Có, nhưng hiếm. Những người lưu vong Việt Nam sống bằng chữ nghĩa lương tâm công chính? Có, ít lắm. Còn lại, một số họ sống cố tình lú lẩn quên rồi những oan nghiệt lầm than do hai chữ Cộng sản, hoặc không thể làm bộ si khờ, thì họ sống chúi đầu xuống đất. Có người, họ sống thật khéo, thật bảnh bao mũ ni che tai, sống cả nể, sống phất phơ như loài cỏ dại, tâm tư quan điểm của họ trôi nổi như lục bình. Có số, họ còn tự cho mình là cao cả, là phi chính trị, là đứng trên những thị phi, văn chương thơ phú của họ là châu là ngọc trau chuốt thật tròn trịa đổi màu lấp lánh vái lạy tôn tụng nhau, để tự choàng cho nhau những vòng nguyệt quế thối rữa.

Tôi mơ ước cái chết của nhà văn Nga vừa qua sẽ đánh động lương tri và sự chân thật của những người Việt Nam lưu vong sống bằng ngòi bút.