Thursday, March 17, 2011

Bức thư cảm động của một Cảnh sát Nhật gốc Việt

Hà Minh Thành
    Xin chào anh Đăng,
Xin được giới thiệu tôi tên là Hà Minh Thành. Qua anh Nguyễn Hữu Viện tôi mới được biết anh và trang tin của anh dù tôi làm việc cách chỗ của anh cũng không bao xa. Xin hân hạnh được làm quen với anh.

Hiện tại tôi đang được tăng phái công tác hỗ trợ cho cảnh sát tỉnh Fukushima, chỗ tôi đang làm cách nhà máy điện hạt nhân Fukushima 1 khoảng 25 km. Gọi là lên đây hỗ trợ giữ an ninh chứ mấy ngày nay chỉ đi nhặt xác người không thôi. Dân địa phương họ tự động thành lập các đội tự quản, tương trợ lẫn nhau. Giả sử có ai muốn ăn cắp ăn trộm cũng khó. Vấn đề an ninh không lo lắm. Người chết nhiều quá, tụi tôi chỉ còn lấy dấu tay, chụp hình và trùm mền lại rồi giao người đem đi thiêu. Ngày đầu còn mặc niệm, có cảnh sát tăng phái còn khóc nhưng bây giờ thì không còn thời gian để mà mặc niệm và khóc nữa. Hôm qua còn không có chỗ để mà thiêu họ nữa đó anh. Khủng khiếp.

Ký giả của Hoàn Cầu Thời Báo Trung Quốc Vương Hy Văn hôm qua theo tôi một ngày để lấy tin khi đi ngang qua một ngôi nhà bị sập mà tiền giấy có lẽ từ ngôi nhà đó trôi ướt nằm tứ tán cả bãi đất chắc cũng vài chục triệu yen nhưng mà chẳng ai thèm nhặt đã phải thốt lên:
- “50 năm nữa, kinh tế Trung Quốc chắc chắn sẽ đứng đầu thế giới, nhưng vĩnh viễn Trung Quốc không thể được gọi là cường quốc vì 50 năm nữa người Trung Quốc cũng chưa thể có trình độ dân trí và ý thức đạo đức công dân cao như người Nhật hiện tại. Tôi hổ thẹn mình là con cháu của Khổng Tử nhưng không hiểu cái đạo Nhân Nghĩa làm người bằng họ.”

Người Trung Quốc 50 năm nữa không bằng họ còn người Việt mình không biết bao nhiêu năm nữa mới có dân trí như vậy.
Mấy ngày nay tôi chứng kiến nhiều câu chuyện cảm động về tình người trong hoạn nạn lắm nhưng có một chuyện khiến tôi cảm động nhất đã khiến một người lớn như tôi từng có bằng Tiến sĩ công học ở Đại học Đông Bắc (Tohoku Dai) cũng phải hổ thẹn về một bài học làm người.

Câu chuyện tối hôm kia tôi được phái tới một trường tiểu học phụ giúp hội tự trị ở đó để phân phát thực phẩm cho các người bị nạn. Trong cái hàng rồng rắn những người xếp hàng tôi chú ý đến một đứa nhỏ chừng 9 tuổi, trên người chỉ có chiếc ao thun và quần đùi. Trời rất lạnh mà nó lại xếp hàng cuối cùng, tôi sợ đến phiên của nó thì chắc chẳng còn thức ăn. Nên mới lại hỏi thăm. Nó kể nó đang học ở trường trong giờ thể dục thì động đất và sóng thần đến, cha của nó làm việc gần đó đã chạy đến trường, từ ban công lầu 3 của trường nó nhìn thấy chiếc xe và cha nó bị nước cuốn trôi, 100% khả năng chắc là chết rồi. Hỏi mẹ nó đâu, nó nói nhà nó nằm ngay bờ biển, mẹ và em của nó chắc cũng không chạy kịp. Thằng nhỏ quay người lau vội dòng nước mắt khi nghe tôi hỏi đến thân nhân.

Nhìn thấy nó lạnh run lập cập tôi mới cởi cái áo khoác cảnh sát trùm lên người nó. Vô tình bao lương khô khẩu phần ăn tối của tôi bị rơi ra ngoài, tôi nhặt lên đưa cho nó và nói:

- “Đợi tới phiên của con chắc hết thức ăn, khẩu phần của chú đó, chú ăn rồi, con ăn đi cho đỡ đói”.

Thằng bé nhận túi lương khô của tôi, khom người cảm ơn. Tôi nghĩ bình thường tưởng nó sẽ ăn ngấu nghiến ngay lúc đó nhưng không phải, nó ôm bao lương khô đi thẳng lên chỗ những người đang phát thực phẩm và để bao lương khô vào thùng thực phẩm đang phân phát rồi lại quay lại xếp hàng. Tôi sửng sốt và ngạc nhiên vô cùng, mới hỏi nó tại sao con không ăn mà lại đem bỏ vào đó. Nỏ trả lời:

- “Bởi vì còn có nhiều người chắc đói hơn con. Bỏ vào đó để các cô chú phát chung cho công bằng chú ạ”.

Tôi nghe xong vội quay mặt đi chỗ khác để khóc và để nó và mọi người đang xếp hàng không nhìn thấy. Thật cảm động.

Không ngờ một đứa nhỏ 9 tuổi mới học lớp 3 đã có thể dạy một thằng có ăn có học từng có bằng tiến sĩ như tôi một bài học làm người trong lúc khốn khó nhất. Một bài học vô cùng cảm động về sự hy sinh.

Tôi nghĩ một dân tộc với những đứa trẻ 9 tuổi đã biết nhẫn nại, chịu gian khổ và chấp nhận hy sinh cho người khác chắc chắn là một dân tộc vĩ đại. Đất nước này giờ đây đang đứng ở trong những giờ phút nguy cấp nhất của sự điêu tàn, nhưng chắc chắn nó sẽ hồi sinh mạnh hơn nhờ những công dân biết hy sinh bản thân ngay từ tuổi niên thiếu.

Lên đây rồi bây giờ tôi mới thấm thía câu nói của vị thiền sư phụ của tôi ở Tokyo trước khi lâm chung dạy lại cho tôi đó là “Nhân sinh nhất mộng, bất luận kiến tâm, Tâm vô sở cầu thị Phật”. Cái sự hy sinh vì người một cách vô ngã của đứa nhỏ 9 tuổi khiến tôi ngộ ra được những điều cả cuộc đời bon chen của mình tôi chưa nhận thấy được. Tôi nhường khẩu phần ăn tối của tôi cho thằng bé để nhận của nó một lời cám ơn, còn nó cho đi cả buổi ăn tối của nó một cách vô tư không so đo dù nó đói còn thê thảm hơn tôi nhiều và chắc còn phải đói nhiều trong cả cuộc đời vì không còn gia đình nữa. Những công án thiền của Bích Nham Lục, Vô môn quan hoàn toàn vô nghĩa so với hành động của một đứa bé 9 tuổi. Xưa nay tôi không phục lắm người Nhật từ khi còn đi học, làm kỹ sư rồi làm cảnh sát thì phải luôn tiếp xúc với những người Nhật ở mặt trái của xã hội. Nhưng mà hành động của người dân Nhật trong vùng động đất bây giờ đã khiến tôi phục họ thật sự.

Tình hình quanh nhà máy điện hạt nhân vẫn còn an ninh, hiện tại tụi tôi đã được phát sẵn khẩu trang và đồng phục nylon. Ông Kan (Thủ tướng Nhật) sáng nay họp báo dự tính đến tình huống xấu nhất là bỏ cả vùng miền Đông. Tôi không phải chuyên ngành về nguyên tử lực như anh nên không hiểu lắm về tác hại của phóng xạ. Nhưng tôi nghĩ cũng đang nguy hiểm. Tụi TEPCO vụ này chủ quan quá. Anh Đăng nếu được nên sắp xếp cho vợ con về VN trước thì tốt nhất. Tôi sợ tới lúc xấu nhất không còn vé máy bay. Tôi thì bà xã người Nhật, con gái cũng mới ra trường y tá và cũng đang hoạt động cứu trợ thiện nguyện ngay tại Fukushima này. Tôi hỏi con gái tôi “Tình hình có vẻ nguy hiểm, con có muốn đi VN lánh nạn không”. Nhỏ con gái của tôi trả lời “Đi đâu bây giờ, xung quanh con với cha người ta chết với bị thương hàng hàng lớp lớp. Không lẽ bỏ chạy. Thôi kệ, tới đâu hay tới đó.” Tôi gọi điện thoại về hỏi bà vợ tôi tính sao, có cần chạy qua quê chồng trú tạm lánh nạn một mình không thì bà xã tôi nói với tôi rằng: người Nhật của họ thì 36 kế của Tôn Tử binh pháp họ chỉ dùng được tới cái kế 35. Cái chước cuối cùng “Tẩu vi thượng sách” không có chỗ dùng vì cái xứ đảo này không có chỗ nào để mà chạy nữa. Cùng lắm chịu chết thôi. Thôi thì tôi thân phận dính líu tới cái tổ quốc thứ hai này rồi. Vợ con gì cũng không chạy không lẽ một mình tôi bỏ nhiệm sở. Già rồi có hít chút phóng xạ vô nữa cũng chẳng sao cả. Mang cái ơn nghĩa với đất nước này cũng nhiều thôi thì bây giờ cùng đến lúc có cơ hội để trả ơn cho họ vậy.

Hy vọng không có gì xảy ra, khoảng 3 tuần nữa có thể trở về Saitama. Hy vọng được gặp anh Đăng nếu anh còn ở Nhật, anh em mình tâm sự nhiều hơn. Tôi năm nay 56 tuổi. Chắc cở tuổi của anh.
Chúc anh và gia quyến an toàn.

Hà Minh Thành


Vịt Kiều

Tống-Phước Hiến

Cuộc chiến-tranh vừa qua, nhiều người lầm tưởng đã kết thúc vào 30.4.1975 và bị đánh giá là cuộc nội-chiến Nam Bắc, mà Cầu Hiền-Lương vắt qua giòng sông Bến-Hải, trên Vĩ-tuyến 17 là biểu-tượng cho một giai-đoạn xót-xa của lịch-sử. Thật ra, cuộc chiến-tranh đó vẫn được tiếp-diễn, nhưng theo thế-trận khác và ý-nghĩa cũng được nhận-định lại đúng đắn hơn !

Sau 30.4.1975 Cộng-sản phơi bày chân-tướng là một lũ phỉ quyền tham ác lưu-manh; nên Người Quốc-Gia giành đoạt được chính-nghĩa và tiến-hành cuộc chiến-tranh giải-phóng Dân-tộc hầu có điều-kiện đưa đất-nước đến phồn thịnh, nhân-dân được tự do. Trận quyết đấu nầy, người Quốc-Gia đang thắng-thế, từng bước chứng-minh Cộng-sản Việt Nam là tội-phạm nhân-loại, là tội-đồ Dân-tộc. Nhưng bỗng nhiên hàng-ngũ chúng ta có hiện-tượng giao-động, địch biết tránh né, thoát hiễm. Thì ra, chúng ta đang bị một loại “nội thù” rất nguy-hiểm mà mọi người thường gọi bằng tên nghe khá hiền lành “Việt-kiều” !.

Tất-cả những người Việt Nam (VN), nếu không là bọn có quyền thế sống hoan-lạc trên nỗi thống-hận Dân-tộc, và nếu có điều-kiện đều phải đành lòng chấp-nhận gian-nan, nghiệt-ngã, nguy-hiểm, đau nhục để đào thoát ra đi. Sóng nước đại-dương, rừng sâu, hải tặc, thổ-phỉ ... không cản ngăn được ý chí. Họ đào thoát khỏi Cộng-sản dưới nhiều hình-thức như vượt biên, vượt biển, con lai, bảo-lãnh đoàn tụ, cựu tù nhân (H.O), Cựu nhân-viên Chính-phủ Hoa-Kỳ (U.11), thuyền-nhân hồi hương (ROVR); đào tỵ khi xuất ngoại như công-tác, biểu-diễn nghệ-thuật, thi đấu, công-nhân trong chương-trình"xuất-khẩu lao-động"; ngay cả những du-học-sinh hay du-lịch … v.v... phần đông trong thâm tâm họ cũng mơ ước cho toàn dân Việt Nam thoát khỏi ách nạn Cộng-sản.

Ðối với Việt-cộng (VC), những người hội đủ điều-kiện được tái định-cư ở nước ngoài khi trở về Việt Nam đều bị xếp vào loại người có danh xưng là “VIỆT-KIỀU” (VK).

Nếu lấy 30.4.1975 làm thời-điểm, thì trước đó đã có nhiều đợt người Việt Nam đến sinh sống tại nhiều nước khác với nhiều lý-do:

A. Tỵ-nạn do bị bức hại:

I. Thời nhà Lý có hai đợt ra đi của hai Thân Vương nhà Lý và cùng trôi giạt vào nước Cao-Ly (hay còn gọi là Triều-Tiên hoặc Ðại-Hàn):

1. - Ðại-Ðô-Ðốc Kiến-Hải-Vương Lý Dương-Côn cùng chiến thuyền binh-sĩ thuộc quyền, gia-nhân và gia-thuộc ra đi vì sợ bị phía bà Chiêu-Hiếu Thái-Hậu và Cảm-Thánh Hoàng-Hậu giết chết trong âm mưu tranh đoạt ngai vàng cho Hoàng-tử Thiên-Tộ (Tức vua Lý-Thần-Tôn).

2.-Các Ðô-Ðốc Kiến-Bình-Vương Lý-Long-Tường, Bình-Hải-Công Lý-Quang-Bật cùng hạm đội dưới quyền và khoảng 6.000 người vì tránh họa diệt tộc của Thái-Sư Trần-Thủ-Ðộ trong mưu-đồ tiếm-đoạt Vương quyền nhà Lý cho nhà Trần.

II/ Thời nhà Nguyễn cũng có nhiều đợt với nhiều lý-do, đa số cư ngụ tại Bangkok Thái-Lan:

1. -Nhóm cùng bôn tẩu theo Nguyễn-Ánh (tức vua Gia-Long), vào cuối Thế-kỹ thứ 18.
2. -Nhóm theo Thiên-chúa-giáo lánh-nạn sát đạo dưới thời Minh-Mạng, Thiệu-Trị (1820 –1847).
3. -Nhóm thuộc hạ của Cụ Phan-Ðình-Phùng trốn giặc Pháp vào khoảng 1895.
4.-Nhóm theo Cụ Phan-Bội-Châu (1908 – 1909).

B. Vì những lý-do khác:

Bị Thực-dân Pháp lưu-đày, ép buộc trong chương-trình mộ dân, gia-nhập Quân-đội Liên-hiệp Pháp, du-học và không trở về hoặc xuất bôn chiến-đấu giành chủ-quyền cho Tổ-Quốc. Phần đông lưu-trú tại Pháp hay các Quốc gia thuộc Pháp, hoặc Trung-Hoa, Cao-Mên. Ai-Lao. Ngoài ra còn có một số ít định-cư tại những Quốc-Gia khác vì nhiều lý-do.

Trước khi đất nước rơi vào tay Cộng-sản, những người có nguồn-gốc Việt Nam, đang sinh-sống ở nước ngoài được gọi là Kiều bào để phân-biệt những sắc dân khác trú ngụ trên lãnh-thổ Việt Nam như Ấn-kiều, Hoa-kiều, Pháp-kiều. Nên khi Cộng-sản gọi những người Việt Nam đang định-cư ở nước ngoài là VK đã hàm chứa ý-nghĩa những người nầy không còn là người Việt Nam. Số phận VK chơi-vơi giữa người Ngoại Quốc và người Việt Nam tùy theo từng trường-hợp, nhưng bao-giờ VK cũng bất-lợi kể cả trường-hợp so-sánh giữa VK và những người thuộc các sắc dân khác cùng vào lãnh-thổ Việt Nam trong cùng thời-gian và cùng có lý-do phạm pháp giống nhau.

C.- So-sánh giữa Việt-kiều và ngoại-kiều:

1. Giống nhau: Tất cả mọi ràng buộc về pháp-lý, hành-chánh, thuế khóa, kiểm-soát; những quy định gắt gao về giá trị kim ngạch hối xuất. Tóm lại không có sự khác biệt về phương-diện kiểm-soát quản lý và những gì thuộc về kinh-tế, tài chánh.

2. Khác nhau: Nếu vì bất cứ lý do gì có liên-quan đến pháp-lý thì ngoại kiều được chi-phối bởi luật-pháp và thói quen mà quốc-tế đã chuẩn-nhận. Nhưng trong trường-hợp nầy thì VK bị xem là " Công-dân Việt Nam”. Nghĩa là chúng thông-báo, hoặc xử phạt tùy theo ý chúng.

Chưa Quốc-gia nào có chính-sách kỳ-thị và ty-tiện với Kiều bào của mình như ngụy-quyền Cộng-sản Việt Nam. Dưới mắt chúng, VK là thành-phần nguy-hại cho sự tồn tại chế-độ chúng, mặc dầu VK cũng là con bò sữa giúp chúng hồi sức, đồng thời VK cũng là những kẻ vong thân, nên VK bị VC xem như là những kẻ nô-lệ dùng để kháng-cự và tấn-công các tổ-chức yêu nước chân chính. Tóm lại, Cộng-sản Việt Nam xem khinh, xử -dụng sai khiến VK nhưng lúc nào cũng rắp tâm hãm hại VK.

Khi nền kinh-tế kiệt quệ, Cộng-sản thử nghiệm chính-sách chiêu-dụ VK bằng nhiều hình-thức như: Gởi tiền, gởi quà, trở về thăm thân-nhân, du-lịch, hợp-tác, đầu tư làm ăn tại Việt Nam.

Có khá nhiều trường-hợp những Người Quốc-Gia chân-chính rất khổ tâm khi phải gởi tiền hay phải về Việt Nam vì tình-cảm, vì trách-nhiệm đối với thân-nhân, đồng-bào, đang lâm cảnh thiên-tai, lao đao cơ cực, hay đồng đội bị lăng nhục: xin được chia xẻ những hoàn cảnh cần có sự cảm-thông ấy. Ðồng thời cũng xin chân-thành nghiêng mình cảm tạ, ngưỡng-mộ những anh-hùng trở lại quê hương đối diện trực chiến với quân thù với quyết tâm lật đổ bạo-quyền Cộng-sản Việt Nam.

Ðối-tượng câu chuyện hôm nay là những VK trở về trên tư-thế của kẻ “hãnh-tiến “, loại "áo gấm về làng", những kẻ đi tìm hoan-lạc trên nỗi đau thương bất hạnh của đồng-bào, đồng đội, những kẻ ích-kỷ manh tâm đồng-lõa với Cộng-sản bất chấp lương-tâm, làm chậm hoãn ngày bạo quyền sập đổ. Hãy nhìn lại VK đã lưu lại dấu vết gì với đồng-bào, đồng đội trong nước:

D. Việt-kiều đã làm đồng-bào, đồng đội trong nước thêm tủi nhục, cơ cầu:

Một Mỹ-kim có giá-trị tương-đương khoảng trên 20.000 đồng VC nên VK tiêu xài hoang-phí làm ảnh-hưởng vật giá gia tăng trong khi tiền lương không gia tăng. Tầm cách biệt giữa người có hay không có thân nhân hoặc thành-phần sống bám theo ảnh-hưởng VK dài ra và cao thêm. Ðồng tiền ấy cũng xô đẩy những hạng người nầy với VC gần nhau hơn và từ dó, hình thành ra giai-cấp mới gọi là liên-minh thống-trị. Ðồng tiền VK cũng là nguyên-nhân chủ-yếu của các tệ-nạn hối-lộ tham nhũng, mãi-dâm, trộm cướp, cờ bạc dẫn đến bất công áp bức, và dĩ-nhiên nạn-nhân vẫn là lương dân nghèo khó.

E. Việt-kiều giúp cho VC chạy tội vi-phạm nhân-quyền:

Dù vô tình, thiển cận hay có toan tính, VK tung những thông-tin, những hình ảnh phiến diện, biện hộ cho Cộng-sản; làm lu mờ chính-nghĩa, làm hàng ngũ chống Cộng bị ngộ nhận, bị trở ngại. Dưới nhiều hình-thức như hợp-tác, đầu tư, cố-vấn, giao-lưu “văn-hóa, nghệ-thuật”..., và dù khoác chiếc áo “tình thương, cứu-trợ...”. VK vẫn là lực-lượng tiếp-sức hữu-hiệu cho bọn VC. Bởi vì chính bọn VC mới là kẻ được thụ-hưởng còn những người cùng khổ là đại đa-số người dân Việt Nam nghèo đói, khốn cùng chỉ được làm “vật nhân-danh”, thậm chí còn tủi nghèo cơ cực hơn, và bọn VC càng phè phỡn tàn ác hơn. Thế nhưng chưa bao giờ VK dám nhìn nhận sự ấu-trĩ, hèn nhát, phản-bội, và bất nhân của họ.

Tùy thuộc vào những gì VK có và những gì VC cần mà bọn chúng đổi thay sách lược. Sách lược hay chính sách là chiến-thuật. Chiến-lược là: trấn-lột là trả thù không bao giờ thay đổi ! Hãy đi ngược thời-gian để thêm lần nữa nhận-diện VC đổi thay về cái gọi là chính-sách đối với VK.

F. Việt-Kiều là Phản-Quốc:

Cộng-sản xem những người vượt biên, vượt-biển trốn chạy chúng là phản quốc, phản-động, phản bội, là cặn bã, là bọn quen ăn bám, là vong bản, dĩ điếm, lười biếng v.v... không một hình-dung-từ xấu xa nhơ bẩn nào mà VC không dùng để ám chỉ, mô tả những người nầy, và dĩ-nhiên VC cũng có chính-sách trả thù. Nếu không thoát được thì họ có thể bị bắn chết, bị hãm hiếp (nếu là nữ giới), bị lao tù đầy ải, tài sản bị tịch-thu. Bị gây muôn trùng khó khăn trong đời sống như thân-nhân bị giam giữ, bị điều-tra, vợ con, cha mẹ, anh chị em bị kềm chế quản-lý, bị kỳ thị ... Và cuối cùng chỉ có tiền và vàng mới may ra những áp-lực những khe khắc được nới lỏng, nhưng cái tội Phản-Quốc vẫn còn đó, chờ cơ-hội lên án và trừng phạt.

G. Việt-Kiều là khúc ruột nối dài:

Khi nền kinh-tế trì-trệ, tài sản Quốc gia bị VC đục khoét tham nhũng; lầm than, thống-hận vượt tràn qua sức chịu đựng toàn dân, hội đủ những điều-kiện làm cuộc bạo loạn. VC liền nhớ ra và cải danh bọn “Phản-Quốc” kia thành VK; rồi hóa thân cho VK thành “Khúc ruột nối dài”. Sau thời gian dè dặt thử-nghiệm, VC thấy rằng còn có thể khai-thác tận-dụng phần bên trong của cái khúc ruột nối dài nầy. Và từ đó, thượng tầng đảng Mafia đỏ hình thành bộ phận Kiều-Vụ (KV).Nhiệm-vụ chủ-yếu của KV là nghiên cứu tìm ra phương cách gom góp ngoại tệ, khả-năng, trí-tuệ của VK hầu giữ vững chiếc ghế quyền-lực, để túi tham được phồng thêm. Bộ-phận KV không những chiêu dụ VK về thăm, làm cái gọi là từ thiện mà còn về mua bán đầu tư, thực hiện chương-trình giao lưu làm nền tảng cho bọn tư-bản đỏ đi ra, bọn phản-bội đi vào. Chúng kết nạp bọn vong thân, bọn bất lương rồi tổ-chức những bọn nầy thành lực-lượng khuấy phá, tạo hỏa mù làm mờ đi chính-nghĩa, làm nản lòng Người tâm huyết.

Nhưng hạnh-phúc không bao giờ đến với kẻ phản-bội ! Không phải đó là lời răn đe mà còn là kinh-nghiệm, không những ở tình trường mà còn ở nhân-cách. Thật vậy, người Việt Nam định-cư nước ngoài tuy vì nhiều lý-do nhưng lại cùng một nguyên-nhân là kinh-tỡm Cộng-sản, họ cũng là chứng-nhân xác nhận bọn ngụy-quyền Cộng-sản Việt Nam là quân vô lại, bất-nhân, bạc-ác không đáng để được gọi là NGƯỜI nữa. Hầu hết, trước khi ra đi VK đều ít nhiều ấp ủ:

Một ước mơ: Cộng-sản phải đổ
Một hoài bão: Nhân-dân Việt Nam được sống đúng với giá-trị con NGƯỜI.

Thoát được xiềng ách Cộng-sản, họ sẽ thay mặt đồng bào, đồng đội còn lầm than cơ cực, còn bị kềm kẹp để tố cáo tội ác Cộng-sản Việt Nam trước lương-tâm nhân-loại. Ước-mơ và ý-chí của họ thật đáng yêu và đáng kính. Họ đã làm rúng động lương-tâm loài người, và Nhân-loại cũng đã nghiêng mình cảm phục những Người Tỵ-Nạn Cộng-Sản Việt Nam họ đã từng được: ”thế giới ngưỡng-mộ như những anh-hùng”.

Nhưng rồi vì một số trong những người Tỵ-nạn Cộng-sản Việt Nam năm xưa ấy đã nhẫn tâm trở giáo chém anh em cùng chung chí-hướng, họ phản-bội ngay cả ước mơ ban đầu của chính họ. Và chắc chắn rằng họ sẽ nhận lại hậu quả từ chính những người từng là đồng cảnh, cũng từng là đồng-tâm, đồng-bào, đồng đội và cũng chính ngay từ kẻ họ đang qùy gối cúi đấu. Sự phản-bội đã có hậu-quả xảy ra. Tương-quan giữa hậu-quả và nguyên-nhân là tỷ-lệ thuận.

H. Loại VK áo gấm về làng :

Mang tâm địa của kẻ hãnh-tiến nên chúng lấy sự đau xót, thương hận số phận bẽ bàng kém may mắn, hay sự mơ ước của những người vất vả nghèo khổ để tự mãn, để huênh-hoang, kiêu căng và thích thú. Chúng bất chấp đạo lý tối thiểu để thỏa mãn hoan-lạc dục vọng, chúng thú tính ngay cả những trẻ vị thành niên (lắm khi là con em của thân nhân, bè bạn, đồng đội năm xưa). Thế nhưng chúng cũng rất hèn hạ với bọn cán-bộ Cộng-sản để an toàn. Chính bọn VK nầy, phần đông đã cung-cấp tin-tức, vu khống người Việt hải-ngoại cho VC, biện-hộ và đồng-lõa sự tham bạo của VC với nhân-dân trong nước. Khi trở lại nơi định-cư, chúng rỉ tai tuyên-truyền, nghe ngóng để báo cáo. Bọn VK vô lại nầy tình-nguyện làm nô bộc không công, làm con chó giữ nhà và đánh cắp tài sản của người khác, có khi VK cống nạp hoặc hỏang sợ trước quyền lực mà cúi dầu phũ phục trước mũi giày Cộng-sản hoặc a tòng với cộng sản trong những mưu-đồ bất chính. Thời gian qua, một số trong bọn nầy đã bị VC cướp đoạt tài sản qua dàn dựng hoạt cảnh tai nạn lưu thông, du đảng xã hội đen; có tên bị thanh-toán bởi ghen tương.

K. Việt-Kiều nhân-danh tình thương:

`Tình thương và lòng nhân-ái, Quê-hương và Tổ-quốc luôn trên đầu môi chót lưỡi bọn VC, VK. Kẻ lưu-manh tàn bạo thường che giấu chân-tướng bằng mỹ ngữ. Nên nạn nhân thiên tai, người nghèo khổ tật nguyền, những đồng đội ngày xưa oanh liệt nay gãy cánh bất hạnh lại bị bọn VC liên minh với VK bất lương kinh-doanh. Lấy tình thương làm bình phong. Nếu bị vạch mặt, chúng sẽ lẩn trốn với tấm thẻ bài khẩu hiệu không cấm vận tình thương (nói theo ngôn ngữ của Nhật-Tiến). Có người còn tính đến cả chuyện xây nhà, xây trường học, đào giếng, trả tiền lương cho cô thầy giáo, mở trường dạy nghề, xóa đói giảm nghèo v..v... (như của Nguyễn xuân Bảo hay của Vũ thành An - nghe đến đây Cộng-sản vừa ngạc-nhiên vừa mừng!)

Ðây là trách-nhiệm của ngụy-quyền Cộng-sản, toàn dân Việt Nam trong và ngoài nước có nghĩa-vụ bắt buộc chúng phải trả lại quyền sống, quyền làm Người cho Dân Việt. Tại sao kinh-tế Quốc-doanh bao giờ cũng ghi nhận thua và ngân-sách Quốc-gia phải bù lỗ nhưng chúng không cho giải tư ? Bởi vì, toàn-bộ các công-ty Quốc-doanh phải đài thọ cho cá-nhân và toàn gia-đình của non 500 ủy-viên trung-ương đảng vừa hưởng bổng lộc suốt đời, vừa có tiền gởi ở ngoại quốc để thủ thân khi có biến động, vừa phải chi cấp cho khoảng 2.000 du học sinh là con cháu bọn cán-bộ. Theo sự tiết-lộ của "Tổng công-ty Xuất khẩu hải sản Miền Nam Seaprodex" (đơn-vị trực tiếp chi trả mọi chi-phí cho Mai-chí-Thọ, và tên Ðại-tá quản-gia của y, cho Vũ-đình-Liệu và một số quan chức đỏ khác) thì cứ 4 tháng 1 du học sinh (loại được du học do lý lịch) phải đóng cho trường học (College hay University) khoảng 1.500 USD học phí, tiền chi tiêu (ăn ở, xe cộ, bảo-hiểm ...) 1.500 USD nữa. Như thế, cứ mỗi 4 tháng, chỉ riêng cho con cháu bọn cán-bộ đang du học thì toàn dân Việt Nam phải móc ra khoảng 6 triệu USD. Có biết nỗi niềm nầy không hỡi phường bất lương.

J.-Việt-Kiều văn hóa, văn-nghệ:

Loại VK nầy trở về khúm núm bợ đỡ xin áo cơm (như Hương Lan, Hoài Linh, Lệ Thu, Chí Tài, Chế Linh, Phượng Mai, Ý Lan …). Nhưng áo cơm không đủ cho nô bộc, có đâu cho lũ phản trắc. Bọn nầy bị lừa, chưa về thì háo-hức, lúc về bị khó khăn và trở ra bị chê bai là hương sắc tàn phai, là rẻ tiền, là phản giáo dục, là phi nghệ thuật (xem Thời-luận số ra ngày 12 và 19/8/2000) và đương-nhiên loại VK nầy không tránh khỏi bị Người Việt Tỵ-nạn vốn là những khách hàng đang nuôi sống họ trách cứ hoặc tẩy chay.
    Chưa về, cứ tưởng mình ngon
    Về rồi cúi mặt như con chó hèn
Hay
    Ngậm đầy một miệng bẩn nhơ
    Nhổ ra e thẹn, nuốt vào thối tha
    Việt kiều về nước hát ca,
    Thân con chó ghẻ lê la gầm bàn.
Ước mong các ca-sĩ, các trung-tâm băng nhạc không dẫm lên nỗi đau của đồng bào dù nhìn với chiều hướng nào.

K. Việt-Kiều về hơp tác kinh-doanh:
Bọn nầy là những tên thương lái vô lương-tâm, chúng biết đồng-bào, đồng đội nghèo khó, cần tiền, phải nhẫn nại, chịu đựng, nên chúng móc ngoặc với bọn cường quyền chèn ép bóc lột hà hiếp đồng-bào. Những vụ làm sỉ nhục công-nhân Việt Nam như bắt quỳ, đánh giày lên đầu, phạt trừ lương ... những chủ VK nầy có thái-độ gì không ? Thưa không, rất rõ ràng là không !

Dưới mắt bọn VC thì VK phải là vật hy-sinh: Để bảo-vệ manh mối làm ăn, để tỏ thái-độ quyết-liệt với nhau khi nội-vụ bị phanh phui, để giữ bí mật lưu manh thương trường, lập tức Mafia VC xử tử VK để bịt đầu mối như vụ bà VK Nguyễn Thị Hiệp ở Canada, hay vụ tống vào tù để trấn lột như VK Trịnh-vĩnh-Bình ở Hòa-Lan với số vốn bị tước đoạt lên tới 20 hoặc 30 triệu Mỹ-kim; và VK Lưu-hùng-Sơn tức Sonny Lưu 55 tuổi trú tại vùng Little Sài-Gòn Nam California, Hoa-kỳ đang bị “rắc rối” vì mang số tiền 25 triệu đô-la về làm ăn và đang quỵ lụy khẩn cầu được bỏ của cứu lấy thân !

Thực tế người dân trong nước quá bi thương khốn cùng. Đồng-bào căm hận Việt-kiều đã đóng vai Việt-gian, đồng lõa với Việt-cộng, gieo bao đau thương tan tác thãm-nạn, nên trong nước có câu ca-dao mới như sau:

Việt-Gian, Việt Cộng, Việt-Kiều,
Ba thằng Việt ấy, tiêu-điều Việt Nam.

Hay

Việt-gian, Việt-cộng, Việt-kiều,
Ba thằng Việt ấy, đem bêu thằng nào ?
Việt-kiều, Việt-cộng, Việt-gian
Ba thằng giặc ấy, thằng nào cũng bêu !

Ðể chấm dứt câu chuyện trao đổi hôm nay, tôi xin lược trình bài phóng-sự của ký giả Xuân Mai báo áp phê số 4 tại Paris:

Ông Nguyễn Minh Tuyền, 59 tuổi, định-cư tại Pháp năm 1980 với lá đơn có lời lẽ chân thành thống-thiết như sau : "Nếu tôi ở lại, nhà cầm quyền CSVN sẽ bắt giam, đánh đập và bỏ tù tôi không có ngày ra. Vì lý-do nhân-đạo, tôi trân-trọng thỉnh-cầu nước Pháp vui lòng chấp-thuận cho tôi được tỵ-nạn chính-trị, sống tạm dung trên mảnh đất tự-do nầy, và tôi chỉ trở về xứ cũ, khi nào Quê-hương tôi không còn duy trì chế-độ Cộng-sản”. Nhưng ông Tuyền đã phản-bội tư-cách tỵ-nạn của ông liên-tục từ năm 1995 đến Tết Canh-Thìn 2.000 tới 7 lần (Chôn bà nội 3 lần, 2 lần chôn bố và 2 lần chôn mẹ mà không hề xin phép OFPRA (Office Francais de Protection des Réfugiés et Aptrides – Cơ-quan bảo-vệ những người tỵ-nạn và vô Tổ-quốc tại Pháp) hoặc giấy Sauf-Conduit (hộ-chiếu đặc-biệt) của Cảnh-sát địa phương. Ngày 26.7.2000 ông Tuyền và 544 người Việt khác được OFPRA gởi thư thông-báo rút lại thẻ tỵ-nạn với lý-do : "Ông tự-ý trở về xứ cũ, khi chế-độ độc-tài Cộng-sản chưa chấm dứt, nhưng không hỏi ý-kiến hoặc thông-báo cho cơ-quan chúng tôi biết, để bảo-vệ sinh mạng cho ông, tức là ông đã từ bỏ quyền tỵ-nạn chính-trị, không cần đến sự che chở của chúng tôi nữa. Chiếu theo đìều I khoản A-2 của Hiệp-định Genève ngày 28.7.1951, chúng tôi thu hồi lại thẻ tỵ-nạn. Ðồng thời cũng trình lên Cao-Ủy Tỵ-Nạn Liên-Hiệp-Quốc, kể từ hôm nay, OFPRA không còn chịu trách-nhiệm với ông, về tình-trạng cư-trú, xin việc làm, hưởng trợ -cấp xã-hội, theo diện tỵ-nạn chính-trị”. Ðược biết từ năm 1988 đến tháng 7 năm 2000, tổng số người Việt lâm vào tình-trạng tương-tự là 22.417 người. Theo lời ông M.Motu thì người tỵ-nạn có quyền trở về xứ cũ trong trường-hợp đặc-biệt như con cái, cha mẹ, anh chị em ruột bị bịnh nặng, đang hấp hối, chết ; trong các trường hợp đó người tỵ-nạn có thể đến Préfecture sở tại xin cấp Sauf-Conduit. Sẽ phạm luật nếu đến tòa Ðại-sứ VC xin visa trước khi có hộ-chiếu đặc-biệt. Tên trưởng-phòng cấp chiếu-khán VC rất đểu cán khi giải-thích vấn-đề nầy : "nhà nước Việt Nam rất có thiện-chí trong vấn đề hàng tháng cung cấp danh-sách ghi nhận tất-cả người Việt Nam mang Titre de Voyage (thẻ thông-hành) lên sứ-quán xin nhập cảnh cho Préfecture biết để Préfecture thông báo lại cho OFPRA. Chúng tôi hợp tác việc ấy với chính-phủ Pháp là nhằm mục-đích chứng-minh cho dư luận Quốc-tế thấy rằng, bọn Việt-kiều nầy lếu láo, chạy qua đây vì lý-do kinh-tế, kiếm việc làm, chớ không phải vì nhà nước chúng tôi đàn áp, bắt bớ, tra tấn, giam cầm, chà đạp nhân-quyền như bọn họ đã từng vu-khống”. Và một giới chức cao cấp trong bộ Ngoại-giao Pháp mạnh-mẽ phản-đối:

- Chính-phủ Pháp không bao giờ hại người vô tội như thế. Chính-phủ VC từ lâu, qua các trào Võ-văn-Sung, Mai-Văn-Bộ, Trịnh-ngọc-Thái, Nguyễn-chiến-Thắng và Nguyễn-mạnh-Dũng đã xem người Việt Nam là thành-phần cực-kỳ phản-động, cần phải triệt-hạ, khéo-léo áp-dụng chính-sách gậy ông đập lưng ông”.

- Dễ dãi trong việc cấp chiếu khán cho người Việt tỵ-nạn về thăm nhà, dù thừa biết rằng, họ không có quyền. Ðây là cách thức giúp người tỵ-nạn phạm pháp, để một ngày kia họ sẽ bị OFPRA rút thẻ ty-nạn.

- Sau khi cấp chiếu khán bừa- bãi, tòa đại-sứ lại ra thông-cáo cho Bộ Nội-Vụ Pháp biết rõ tên tuổi từng người xin cấp visa về Việt Nam.

- Một khi bị rút thẻ ty-nạn, họ bị mất luôn thẻ thường-trú (Carte de séjour). Muốn xin việc làm phải có thẻ Lao-động (Carte de travail). Nếu muốn cư-ngụ trên 3 năm phải trình Passport của CSVN. Như thế người tỵ-nạn đang được sống Tự-do, bỗng trở thành công-dân VC, đặt mình dưới sự kiểm-soát của CSVN cho đến mãn kiếp.

- Chính-phủ CSVN cũng phải hiểu rằng, tán trợ, hoặc giúp đỡ người phạm pháp, cũng phạm tội đồng-lõa. Cấp visa cho người tỵ-nạn tức là cố ý phạm luật bang giao giữa hai nước. Chúng tôi nghĩ, đã đến lúc nên đặt lại vấn-đề nầy với chính-phủ CSVN”.

Ðồng-bào trong Nước đã đầy ắp thống khổ và căm-hận. Chấm dứt ngay những con người manh-tâm mang "lòng Việt gian" trong chiếc áo VK. Những hình ảnh nêu trên chắc cũng đủ thức tỉnh lương tâm một số người, nếu có và còn.muốn trở thành VIỆT KIỀU.

Tống-Phước Hiến


ĐÁM TÒNG PHẠM VỚI TỘI ÁC CSVN - Nguyễn Phúc Liên

    ĐÁM TÒNG PHẠM VỚI TỘI ÁC CSVN: CẢN MŨI KỲ ĐÀ
Nguyễn Phúc Liên

CÁCH MẠNG QUẦN CHÚNG

Dưới chủ đề TRÁCH NHIỆM QUỐC NỘI DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN HIỆN HÀNH, chúng tôi đã viết được 10 Bài và sẽ còn viết tiếp nữa về cuộc NỔI DẬY của quần chúng. Từ năm 2006, trong khung cảnh Tiên trình Dân Chủ Hóa Việt Nam do những Trí thưc Dân chủ khởi xương, chúng tôi đã nhận định và xác tín rằng chỉ có quần chúng NỔI DẬY mới có thể dứt khoát lật đổ được Cơ Chế CSVN hiện hành và chúng tôi luôn nhấn mạnh rằng Trí thức Dân chủ phải đi với quần chúng nghèo mới có lực lượng nổi dậy.

Từ cuối năm 2010, việc tụt dốc Kinh tế VN và hố sâu Giầu—Nghèo mỗi ngày mỗi cách biệt thê thảm, chúng tôi thấy rằng quần chúng nghèo khổ, phải sống với BỤNG ĐÓI, là lực lượng chủ yếu đứng lên chấm dứt cái Cơ chế làm phát sinh lớp người Giầu nứt khố do Tham nhũng Lãng phí cướp bóc sức lao động của dân và khai thác tài sản quốc gia làm của riêng..

Chúng tôi khởi xướng viết về Chủ đề này trước khi có biến cố Cách Mạng Hoa Nhài từ Tunisie lan sang các nước khác Bắc Phi và Trung Đông. Điều đó có nghĩa là không phải vì Phong trào Bắc Phi và Trung Đông mà chúng ta bị ảnh hưởng tâm lý để nổi dậy tại Việt Nam. Việc quần chúng NỔI DẬY để chấm dứt Cơ chế CSVN là một ĐÒI HỎI phải làm vì tương lai phát triển đất nước. Trong số những Bài đã viết, chúng tôi có đề cập đến Cách Mạng Bắc Phi và Trung Đông như những kinh nghiệm mà chúng ta có thể áp dụng khi cuộc NỔI DẬY tại Việt Nam bùng nổ lên.

Ngay từ những Bài đầu, chúng tôi đã nói tại sao quần chúng phải nổi dậy, đòi hỏi của quần chúng rõ rệt gồm những gì và chỉ điểm đích danh kẻ thù mà quần chúng phải diệt trừ. Với Bài thứ 10 này, chúng tôi muốn nói đến những loại người sống giữa hàng ngũ của chúng ta, nhưng lén lút làm tay sai che chở cho kẻ thù của quần chúng. Loại người này là TÒNG PHẠM với kẻ thù mà quần chúng đã gọi đích danh để diệt trừ.

Nhắc lại Lý do đứng lên,
Mục đích đòi hỏi và đích danh Kẻ thù của quần chúng

LÝ DO CƠ BẢN của từng cá nhân đứng lên là cái BỤNG ĐÓI của họ. Cái bụng họ đói không phải là do sự lười biếng không muốn làm việc để kiếm đủ miếng cơm nuôi sống thân xác mình, nhưng bụng đói vì có những người giữ quyền hành đã cướp lấy sức làm việc vất vả của dân chúng để làm của riêng cho mình và sống sung sướng trong giầu có hoang phí. Việc BỤNG ĐÓI kêu lên để mong có miếng ăn là bản năng của mọi sinh vật. Đứa trẻ sơ sinh, khi bụng đói, cũng khóc la lên để mẹ nó biết mà cho bú. Quần chúng nghèo, khi bụng đói bởi chính những kẻ cầm quyền bóc lột, cũng đứng lên đòi hỏi miếng ăn, đó là việc đấu tranh tự nhiên mà không ai có quyền đàn áp kết tội. Chỉ những kẻ tệ hơn súc vật mới đàn áp kết tội những người nghèo yêu cầu có miếng ăn.

Chính vì vậy, trong nhiều bài viết trước đây, chúng tôi tha thiết mong mỏi những vị Trí thức Dân chủ hãy tôn trọng cái lý do chính yếu NỔI DẬY của quần chúng đói nghèo, chứ đừng nhào vô tuyên bố trống rỗng rằng quần chúng đứng lên đấu tranh trong Lãnh vực Chính trị (Lutte Politique) đòi những ý niệm Tư do, Dân chủ, Nhân quyền để những tên CSVN kém súc vật kia ngụy biện đàn áp, kết án dân nghèo nhân danh Điều 88. Xin cũng hiểu biết cho rõ rằng ngay cả để có thể thực hiện cụ thể Tự do, Dân chủ, Nhân quyền, cũng cần phải có trước tiên những điều kiện Kinh tế khả dĩ. “Có thực mới vực được Đạo“ !

MỤC ĐÍCH ĐÒI HỎI cụ thể và tiên quyết của quần chúng nghèo đứng lên trên đây tất nhiên là Dạ Dầy của mỗi cá nhân phải có miếng ăn. Phải nhấn mạnh đến Mục Đích tiên quyết này. Như ở đoạn trên đã nói, quần chúng đói bụng không phải là do họ lười biếng không chịu làm việc, nhưng là do kẻ cầm quyền ăn cướp sức làm việc quần quật của họ. Họ phải chống lại sự bóc lột bất công này để bảo vệ cái kết quả của sức lao động.

Khi nói đến LÝ DO và MỤC ĐÍCH của quần chúng nghèo đứng lên như trên, chúng ta có thể chỉ đích danh KẺ THÙ của quần chúng. Đó là đảng CSVN chủ trương và vẫn còn “kiên định“ lấy Độc tài Chính trị nắm Độc quyền Kinh tế. Đó là cái Cơ Chế phát sinh ra và nuôi dưỡng THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ làm cho quần chúng nghèo kiết xác và đảng CSVN giầu nứt khố.

Chỉ đích danh KẺ THÙ như vậy, thì cuộc NỔI DẬY của quần chúng nghèo tất nhiên là phải DỨT BỎ hẳn cái Cơ chế CSVN.

Có một số Trí thức Dân chủ muốn biện luận về thái độ đấu tranh: Bạo Động hay Bất Bạo Động? Chúng tôi không cần dài dòng về vấn đề này, mà chỉ nói ngay rằng Quần chúng NỔI DẬY không bao giờ muốn BẠO ĐỘNG, nghĩa là họ đấu tranh Bất Bạo Động. Chỉ có những kẻ cầm quyền dùng BẠO ĐỘNG, lấy võ lực ĐÀN ÁP cái Bất Bạo Động của quần chúng. Nếu kẻ cầm quyền không dùng Bạo Động đàn áp, thì quần chúng luôn luôn Bất Bạo Động. Việc quần chúng lấy sức mà chống lại sức Bạo Động của kẻ cầm quyền, đó là quyền TỰ VỆ chính đáng của quần chúng. Con chó khi mà người ta dùng gậy gộc đuổi nó vào chân tường, thì nó cũng phản ứng cắn lại, đó là quyền TỰ VỆ của mọi sinh vật.

Loại người sống giữa chúng ta, nhưng TÒNG PHẠM với KẺ THÙ của quần chúng

CSVN, với Cơ chế Độc tài Chính trị nắm Độc quyền Kinh tế, là KẺ THÙ của quần chúng nghèo khổ. Chúng ta chỉ đích danh kẻ thù đó rồi. Nhưng có một loại người sống giữa chúng ta, ẩn náu ở đũng quần, vạt áo của chính chúng ta, nhưng lại là TÒNG PHẠM với TỘI ÁC mà Kẻ Thù CSVN đang gây cho quần chúng. Loại người này không vô tình, nhưng hoàn toàn hữu ý làm tay sai cho KẺ THÙ mà đánh bóng cái Cơ chế CSVN hiện hành để cản ngăn việc quần chúng NỔI DẬY. Đám Tòng phạm này còn nguy hiểm hơn Kẻ thù bởi lẽ chúng ẩn hiện tranh tối tranh sáng để làm hoang mang quần chúng. Chỉ vì một vài mẩu bánh rơi rụng CSVN thẩy xuống cho mà hớp như đàn chó đói mà đám TÒNG PHẠM này luồn trôn CSVN để bao che cho KẺ THÙ tiếp tục gây tội ác.

Không cần dài dòng, mà chỉ cần nêu ra những loại luồn trôn này đã tòng phạm với tội ác CSVN trong nhiều năm trường :

1. Một số Trí thức Chính trị ở nước ngoài

Lịch sử đã chứng minh rành rành rằng CSVN đã phản bội lòng thành của phía Quốc gia để thanh toán mọi đối lập. Một số Trí thức Chính trị biết rõ sự phản bội này, nhưng vẫn ngoác mõm hô hào Hòa Giải Hòa Hợp nhằm CSVN thẩy xuống cho mấy mẩu bánh rơi rụng để hớp giống như đàn chó đói.

2. Đám môi giới kiếm Tiền Hoa hồng

Đám này thuộc đủ loại: thất nghiệp, về hưu muốn có tiền hoa hồng hoặc lui tới đi về Việt Nam với gái. Đó là những lý do cá nhân khiến họ phải luồn trôn đánh bóng Cơ chế CSVN hiện hành. Xin đừng nghĩ Nguyễn Cao Kỳ thay đổi lập trường mà hãy nhìn một vài cái lợi nào đó về hoa hồng để tên này có chi phí lui tới Việt Nam. Cũng có những người vẫn chống Cộng, nhưng chỉ vì cái Visa mà họ phải câm miệng như hến.

Những quan chức ở Việt Nam bầy vẽ ra những Dự án để có dịp Tham nhũng. Một số Việt kiều thất nghiệp, về hưu hay ham gái, về Việt Nam khoe khang làm vương làm tướng bên này, biết nhiều nguồn Tài chánh, nhiều Cơ xưởng máy móc. Một bên muốn có Dự án để ăn bẩn, một bên khoe khoang để mong có tiền hoa hồng và lấy cớ về Việt Nam.

Dần dần, CSVN quy tụ những người này để lập những “Nhân vật yêu nước “, “Hội doanh nhân“ để tuyên truyền lừa bịp đồng bào quốc nội, đánh bóng cho Cơ chế tại nước ngoài.

Tôi xin đưa ra một tỉ dụ tại Thụy sĩ: Nguyễn Thành Trung được coi như nhà Tài chánh yêu nước, hợp tác với Cơ chế CSVN và được Sứ quán CSVN khen tặng. Tôi biết Nguyễn Thành Trung từ thời còn sinh viên. Học xong muộn màng và có dịp may làm việc trong một Ngân Hàng, nhưng bị sa thải sau hơn một năm. Sống thất nghiệp đến nỗi không có tiền trả góp tiền mua Nhà. Nhà bị lấy lại. Anh chỉ biết lui tới Tòa Lãnh sự CSVN, đưa đón những quan chức Cộng sản sang đây. Anh dẫn đi một số hãng xưởng để xem những máy cũ. Quan chức từ Việt Nam muốn ăn bẩn, lại ham mua máy móc cũ cho Dự án, nhưng tính tiền cao lên để mua và Nhà Nước phải trả. Đó là cách ăn bẩn khi mua máy “second hand“. Khi đọc trong danh sách Hội doanh nhân yêu nước và được khen thưởng, tôi giật mình !

Những doanh nhân “yêu nước“ này biết rõ Cơ chế CSVN là thối nát, làm tội ác đối với Dân tộc, nhưng vẫn luồn trôn, tòng phạm với tội ác CSVN.

3. Một số Lãnh đạo Tôn giáo quốc doanh

Những ngợm Giáo gian quốc doanh này được CSVN cho những quyền lợi cá nhân ưu đãi và được CSVN dùng quyền lực xếp vào những chức vụ, một mặt làm chia rẽ giới Lãnh đạo Tôn giáo, một mặt cản ngăn Giáo dân trong việc làm nhiệm vụ Công dân cần thiết của mình. Thậm chí những ngợm Giáo gian quốc doanh này còn tổ chức những Đoàn thể Giáo dân để nhân danh Tôn giáo ủng hộ chính cái Cơ chế CSVN tham nhũng lãng phí.

a. Giáo Hội Phật Giáo VN

Giáo Hội Phật Giáo VN được Nhà Nước tạo ra để kềm chế những vị tu trì chân chính. Số lớn những Lãnh đạo ngợm này được CSVN cho những quyền lợi vật chất, thậm chí đàn bàn bà con gái phục vụ, để làm công việc buôn thần bán thánh, ủng hộ Cơ chế. Tôn giáo được sử dụng làm phương tiện che chở cho Cơ chế.

b. Hội Thánh Tin Lành Miền Nam

Hội Thánh Tin Lành Miền Nam được CSVN cho Giấy phép tại Đà Nẵng. Sau khi có Giấy phép, Hội Thánh được sử dụng như phương tiện ra ngoại quốc, nhất là Mỹ, để “giải độc“. Chính Mục sư Giáo Hội trưởng (hiện nay đã chết) đã dẫn một Phái đoàn sang Mỹ hồi ấy để nói về Tự do Tôn giáo tại Việt Nam. Tại trong nước, Hội Thánh Tin Lành Miền Nam đã được CSVN sử dụng để phá các Hội Thánh Tin Lành thuộc các Phái khác. Một số lớn Mục sư thuộc Hội Thánh Tin Lành Miền Nam được cho phép lui tới Hoa kỳ để làm tiền vì các Hội Thánh Tin Lành Hoa kỳ giầu có. Các Mục sư này tìm đủ mọi cách đưa những người thuộc gia đình sang Mỹ sống.

c. Giáo Hội Công Giáo Việt Nam

Giáo Hội Công Giáo Việt Nam không trở thành quốc doanh. Nhưng một số Giám mục đã làm tay sai cho CSVN để giữ “trật tự “ Giáo dân khỏi đòi hỏi Công lý đối với Cơ chế. Hãy kể ra điển hình những vụ đất đai Tòa Khâm sứ, xứ Thái Hà, Tam Tòa. Những Giám mục quốc doanh đã làm mất sự tôn kính của Giáo dân với chiêu bài “đối thoại “lừa bịp để loại trừ Đức TGM NGÔ QUANG KIỆT và dẹp Phong trào Giáo dân đứng lên hàng trăm ngàn người đòi CÔNG LÝ. Chúng tôi có thể kể đích danh những vị đó. Hồng y Phạm Minh Mẫn, Giám mục Nguyễn Văn Nhơn, Giám mục Võ Đức Minh… Những vị này làm tay sai cho CSVN, che chở cho một Cơ chế CSVN đầy tội ác đối với Dân tộc. TGM NGÔ QUANG KIỆT và Phong trào Giáo dân đòi CÔNG LÝ là một cơ hội hiếm có để Công Giáo góp phần với Dân tộc tiễu trừ quốc nạn CSVN. Giáo dân Công giáo chắc chắn không quên tội tòng phạm của những Giám mục này với tội ác CSVN.

Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Phúc Liên


TRUYỀN THỐNG CỘNG SẢN - Kiêm Ái




Kiêm Ái

Hồ Chí Minh, khi rước quân đội thực dân Pháp từ Hải Phòng lên Hà Nội để rồi Pháp chiếm luôn Hà Nội, đánh Quốc Dân Ðảng giúp Hồ Chí Minh, đã bị hầu hết dân trong nước phản đối, vì cái tội rước voi (Pháp) về dày mả tổ quá rõ ràng, nhưng Hồ Chí Minh đã tự bào chữa rằng: “Ta thà ăn cứt thằng Tây chứ không làm bạn với thằng Tàu”. Ý Hồ Chí Minh cho rằng Tàu là tên quỷ quyệt, là kẻ thù truyền kiếp của dân Việt Nam v.v… thì thà làm tôi thực dân Pháp còn hơn làm bạn với Tàu. Nhưng than ôi! Sau này, Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản của y chẳng những làm bạn với Tàu Cộng mà còn làm đầy tớ cho chúng nó. Nào là vâng lệnh Mao Trạch Ðông thực hiện Chiến Dịch Cải Cách Ruộng Ðất, giết đến 200 ngàn người Việt Nam vô tội, ngay sau đó đổ tội cho đàn em và giết đến khoảng 20 ngàn cán bộ đảng viên trong Chiến Dịch Sửa Sai. Một chiến dịch khủng khiếp như vậy mà Hồ Chí Minh phải vâng lời Mao Trạch Ðông mà làm, nếu không sẽ bị Mao Trạch Ðông “phê điểm” là thiếu kiên định lập trường! Lập trường gì thưa quý vị? Lập trường Tam Vô, lập trường giết người không gớm tay, không chớp mắt. Chỉ nguyên cái việc vâng lời ngoại bang mà giết hại dân lành với cái tội danh: địa chủ, một tội danh mà bây giờ bọn Cộng Sản của thế kỷ 21 này không có tên nào là không phạm.

Nghe lời ngoại bang, giết cho đủ số (chỉ tiêu), nếu thiếu thì đôn lên, tức là ban đầu chỉ đấu tố rồi xử tử những ai có ruộng mà không làm, chỉ mướn người làm hoặc cho người khác thuê gọi là tá điền. Sau khi bắt giết hết những người này, chưa đủ số lượng quy định, Hồ Chí Minh ra lệnh bắt những kẻ có một mẫu ruộng trở lên, dù cho thuê hay tự mình canh tác. Có những địa phương cũng chưa đủ, Hồ Già lại xuống lệnh ghép tội địa chủ những kẻ chỉ có năm ba sào ruộng. Sau khi đã giết phủ phê, chán chê rồi, Hồ Chí Minh sợ cán bộ và dân chúng nổi loạn, bèn đem Trường Chinh Ðặng Xuân Khu ra làm vật tế thần trong Chiến Dịch Sửa Sai. Hồ Chí Minh lên diễn đàn đóng kịch khóc như mưa, bảo rằng “Chú Ba (Trường Chinh) không cho Bác biết gì hết, Chú Ba tội nặng lắm”. Những giọt nước mắt và lời đổ tội cho Trường Chính của Hồ Chí Minh chứng tỏ hắn ta chỉ là một tên hèn hạ, khiếp nhược. Là lãnh đạo mà kẻ thân cận với mình làm một tội ác tày trời như vậy, kéo dài cả năm mà Hồ Chí Minh không biết họa là đui mù. Mà có đui mù thì cũng còn lỗ tai để nghe, tại sao không biết, khi việc xảy ra tại Hà Nội, tại Hải Phòng, tại các tỉnh xung quanh thủ đô Hà Nội? Phải chăng Hồ Chí Minh là “con vật không có lỗ tai”??. Sau khi phạm tội ác nói trên, -theo như ông Vũ Thư Hiên, con trai cụ Vũ Ðình Huỳnh được cụ Huỳnh tiết lộ cho biết- thì Hồ Chí Minh luôn luôn gọi Trung Cộng là thiên triều!

Chẳng những thế, ngày 04.9.1958, Chu Ân Lai vừa ra văn thư xác định lại lãnh hải của Tàu, mà mục đích là cướp của Việt Nam Hoàng Sa và Trường Sa, thì ngày 14.9.1058, Hồ Chí Minh đã ra lệnh cho Phạm Văn Ðồng viết thư trả lời là: “tôn trọng quyết định ấy… .”. Cái truyền thống “ăn c.” của Tàu Cộng được truyền mãi xuống các thế hệ Cộng Sản Việt Nam từ đó. Ðến bây giờ, tay chân, thuộc hạ của Hồ Chí Minh vẫn noi theo cái “truyền thống Cộng Sản .. Việt” đó để tiếp tục phục vụ Trung Cộng.

Ðứng về phương diện nòi giống, về truyền thống của người Việt Nam, và với những tội lỗi rước voi về dày mả tổ của đảng Cộng Sản kể từ Hồ Chí Minh, Phạm Văn Ðồng cho đến bây giờ, chúng ta phải gọi những tên này là gì? Gọi chúng là những con vật thì quá bất công cho những con vật mà gọi chúng là con người đã mất nhân tính thì cũng oan cho con người.

Trong khi đó, Lê Chí Quang, một thanh niên vừa mới tốt nghiệp cử nhân luật, do Ðại Học miền Bắc đào tạo, nhưng không theo truyền thống Cộng Sản đã dám viết bài khuyên Việt Cộng phải Cảnh Giác đối với Tàu Cộng. Lê Chí Quang quả thực là thanh niên mang dòng máu Việt kiên cường và biết yêu nước thương nòi. Thế là Lê Chí Quang phải ở tù!

Gần đây nhất, khi Việt Cộng để cho Trung Cộng tổ chức rước đuốc Olympic qua ngã Việt Nam, sinh viên học sinh biểu tình phản đối thì Việt Cộng cho công an đàn áp. Những tên công an này không phải là người Việt Nam!!. Những bà mẹ đẻ ra chúng, những ông cha đã nuôi dưỡng chúng phải mang tội với tổ tiên. Tại sao cũng ở trong đất nước, dưới sự giáo dục của Việt Cộng mà Lê Chí Quang biết bổn phận của một người Việt Nam, khuyên Việt Cộng phải cảnh giác với.. kẻ thù Bắc phương là Tàu Cộng mà những tên công an Việt Cộng lại đàn áp sinh viên chống Trung Cộng? Chỉ vì những sinh viên này bất bình trước hành động của Trung Cộng coi lãnh thổ Việt Nam như là của chúng?

Tại sao những tên chóp bu Việt Cộng lại hèn nhát đến quỵ lụy Trung Cộng hơn cả tổ tiên? - Truyền thống Cộng Sản. Nói rõ hơn là truyền thống Cộng Sản Việt Nam, truyền thống của tên đầu đàn Cộng Sản là Hồ Chí Minh truyền xuống. Cái truyền thống phản quốc, làm nhục ông bà cha mẹ. Tại sao tôi nói đó chỉ là truyền thống Cộng Sản Việt Nam? – Trước khi trả lời câu hỏi này, chúng ta phải trả lời câu hỏi tại sao cũng là Cộng Sản, cũng xưng tụng là “anh em đồng chí xã hội chủ nghĩa ruột thịt” mà Trung Cộng biết bành trướng lãnh thổ của chúng, còn bọn Việt Cộng lại đem lãnh thổ của cha ông dâng cho chúng? Làm Cộng Sản phản bội tổ quốc, giết hại đồng bào? Làm cái loại Cộng Sản đầy tớ!? Những người tự xưng hoặc hãnh diện mà khoe rằng mình là người Cộng Sản nên suy nghĩ lại, thà làm “đầu gà, còn hơn làm đít …voi” quý ông bà ạ! Quý vị muốn chối? Thác Bản Dốc, Suối Phi Khanh là những địa danh Việt Nam, bây giờ đã là của Trung Cộng. Tại sao công an Việt Nam lại đàn áp sinh viên biểu tình chống Trung Cộng?

Truyền thống Cộng Sản còn đáng ghê tởm hơn nữa khi có những người đã tự xưng mình phản tỉnh rồi, nghĩa là biết Cộng Sản phản dân hại nước rồi, quay trở lại với dân tộc, với bản chất con người, nhất là con người Việt Nam, thế mà “cái tật” Cộng Sản vẫn còn. Ông Tô Hải, một người mấy chục năm theo Việt Cộng, chấp nhận đã làm những điều gian ác, chấp nhận mình là một trong những “Thằng Hèn” nên đã đưa đất nước đến ngày hôm nay, ngồi bên bờ vực thẳm của diệt vong, thế nhưng, cái truyền thống Cộng Sản vẫn còn trong ‘xương tủy’, ông ta biết một bài tràng giang đại hải rồi đi đến kết luận: “Nên nhớ, Trung Quốc không bao giờ ngồi yên khi thấy ‘một phần lãnh thổ’ của họ có nguy cơ sụp đổ đâu. Nhân đây, tớ cũng xin nhắc lại một khẳng định thứ 2 của tớ “Chừng nào Trung Quốc chưa thay đổi thì Việt Nam cũng chưa có thay đổi”. Lê Chí Quang, Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Ðài là những người trẻ được đào tạo dưới chế độ Cộng Sản, thế mà họ có những hành vi của người Việt Nam truyền thống. Bao nhiêu ý chí, bao nhiêu lời khuyên mà Tô Hải đã nói với thanh niên trong bài viết này ai cũng tưởng để giúp thanh niên Việt Nam làm cách nào lật đổ chế độ Cộng Sản, nhưng rốt cuộc, với 2 câu nói trên đây, ai cũng biết bài viết chỉ với mục đích đầu hàng, quên đi Cuộc Cách Mạng Hoa Lài! Tại sao phải chờ Trung Quốc thay đổi? Tại sao lại chấp nhận Việt Nam là “một phần lãnh thổ” của Trung Quốc?

“Cũng là một thói quen xấu mà người Việt nói chung đã gần một thế kỷ nay là: bị cái chữ “SỢ” nó án ngữ trong đầu óc, tim, gan! Cái sợ này nó càng được bành trướng khi bộ máy đàn áp bằng võ lực cũng như đàn áp tư tưởng khổng lồ luôn không nhẹ tay với bất cứ ai, kể ca ông tùy viên chính trị của Ðại Sứ Quán Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ, đến dân biểu Loretta Sanchez…”. Ðọc cái đoạn này, chúng ta tự hỏi với sự kềm kẹp như vậy, với cái “thẳng tay đàn áp” như vậy, tại sao Tô Hải lại có thể phản tỉnh trong khi đang nằm trong lòng chế độ Cộng Sản? Tô Hải can đảm hơn người hay Tô Hải được lệnh phản tỉnh? Trong cái mà Tô Hải gọi là “bộ máy đàn áp” của Việt Cộng biết đâu có một vài bộ phận trong cái máy đó sẽ hỗ trợ cho cuộc cách mạng một khi nó được bùng nổ? Chắc chắn là quân đội Trung Cộng có trước quân đội Việt Cộng, thế mà khi vụ Thiên An Môn nổ ra đã có mấy sư đoàn từ chối đàn áp, cuối cùng Ðặng Tiểu Bình phải đưa một sư đoàn “không cha không mẹ” tức là con hoang về mới dẹp được sinh viên Thiên An Môn? Không lẽ quân đội Việt Cộng toàn là những đứa con hoang? Không lẽ quân đội Cộng Sản thua xa quân đội Ai Cập, Tunisia? Ðã có bao nhiêu tướng lãnh về hưu phản đối Việt Cộng đương quyền? Chẳng lẽ giữa người về hưu và người đương quyền có một lằn ranh? Người Việt Nam đã gần cả thế kỷ mang bệnh “SỢ” nay họ hết sợ và sắp sửa đứng lên thì Tô Hải, Nguyễn Minh Cần, Nguyễn Thượng Long và Nguyễn Cần tức Tú Gàn ngăn cản? “Vạn sự khởi đầu nan” nếu không khởi đầu thì làm sao kết thúc được?

Cái truyền thống Cộng Sản giúp cán bộ chỉ biết tuân lệnh cho đến nỗi trở thành những cái máy, không còn biết phân biệt phải trái cho đến nỗi Hồ Chí Minh bịp một cách trắng trợn rằng tội ác Cải Cách Ruộng Ðất là do Trường Chinh tự ý làm mà cũng tin, ban đầu thì phải tin sau đó là … tin luôn. Nhưng cũng có người phản tỉnh. Thế nhưng cũng có những Nguyễn Minh Cần, Tô Hải, Nguyễn Thượng Long và nhiều người nữa thoát khỏi cái truyền thống đó mà phản tỉnh, tại sao người Việt bị cái sợ thấm vào tim, óc cả thế kỷ lại không “được phép” hết sợ? Bằng chứng là họ không sợ và đứng lên thì những người can đảm như Tô Hải, Nguyễn Minh Cần …lại kéo xuống?

Không có cái gì mà không có ngoại lệ. Cái ngoại lệ giúp cho những kẻ suốt đời làm tôi mọi Cộng Sản như Tô Hải, đến cuối đời phản tỉnh. Cái ngoại lệ cũng giúp cho những người Việt Nam “sợ cả thế kỷ” nay nhờ cái gương của các dân tộc Tunisia, Ai Cập, Lybia mà vứt bỏ cái sợ để làm Cách Mạng Hoa Lài. Cái truyền thống Cộng Sản đã yên trí rằng khi nào Trung Quốc thay đổi thì Việt Nam mới thay đổi theo, nhưng văn hào Nguyễn Du đã từng nói “xưa nay nhân định thắng thiên cũng thường” huống gì là Tàu Cọng? Quân Mông Cổ chiến thắng cả hoàn cầu tại sao người Việt Nam lại thắng chúng? Tại sao lại chấp nhận dễ dàng rằng Việt Nam là một phần lãnh thổ của Trung Cộng? Nếu cha ông chúng ta cũng chấp nhận như vậy thì hôm nay còn 2 chữ Việt Nam hay không? Tại sao đã 52 năm rồi người Tây Tạng vẫn đấu tranh cho một Tây Tạng độc lập? Một thằng bé bị bỏ rơi từ khi mới lọt lòng mẹ, được một đạo sĩ ẵm lên núi nuôi. Không biết đến người nào khác ngoài sư phụ. Ðến năm 20 tuổi được vị đạo sĩ cho theo xuống núi, khi thấy một cô gái làm ruộng bên đường nó hỏi sư phụ “Cái gì đây?” Sư phụ trả lời đó là bó lúa. Ngần ngừ vài giây, chàng thanh niên liền xin phép sư phụ cho nó “theo bó lúa”. Bản năng con người đã giúp chàng thanh niên nhận biết “tên thật” của bó lúa.

Cái “ngoại lệ” bổ túc cho cái bản năng, làm sống lại cái bản năng, có như thế mới giúp cho Tô Hải và Nguyễn Minh Càn phản tỉnh tuy trước đó cái truyền thống Cộng Sản đã làm cho Tô Hải trở nên thằng hèn. Ðừng để người ta cho rằng cái truyền thống Cộng Sản trong Tô Hải chỉ giúp cho Tô Hải “ngụy phản tỉnh”. Nhưng kẻ viết bài này tin chắc rằng cuối cùng thì cái bản năng con người sẽ đánh bại cái truyền thống Cộng Sản.

Ở San Jose đây cũng có hiện tượng đó, một số người trẻ lớn lên, ăn học theo lối Mỹ, thế mà không hiểu sao chúng lại có một ngoại lệ là làm theo lối Cộng Sản. Chúng mời mọi người tức là không trừ ai đến dự một buổi họp, nhưng khi đến nơi thì chúng chỉ cho những kẻ thuộc về phe của chúng vào mà thôi. Ðã là phe của chúng rồi mà chỉ được vào trong với điều kiện không được dùng máy quay phim, chụp hình và cả thu băng. Không phải chúng sơ suất mà làm một lần, chúng còn lập lại một lần y chang như vậy nữa! Tô Hải thường hội họp với Cộng Sản chắc phải nhận biết đây là truyền thống Cộng Sản chứ? Thế nhưng chúng tôi vẫn “phấn đấu”, hy vọng chúng sẽ trở lại bản năng con người. Chúng tôi dùng tên thật, địa chỉ, và chính con người thật để nói cho chúng biết điều hay lẽ phải, nhưng chúng chỉ dùng những tên ma tuổi quỷ để đối phó lại, y như những tên du kích núp trong quần chúng mà “chiến đấu”. Chúng tôi phải vất vả, gian lao, thậm chí còn bị đồng hương do ảnh hưởng rỉ tai của chúng ghét bỏ chúng tôi, cho tờ báo chúng tôi là “tờ báo chửi”. Nhưng hôm nay, bộ mặt thật của chúng đã được phơi bày, rất hy vọng chúng sẽ trở lại bản năng của con người và bản chất của người Việt Nam. Những tướng lãnh hồi hưu, những cựu lãnh tụ Việt Cộng đã mạnh dạn đưa ra những tư tưởng, những phát biểu đúng đường lối của người Việt Nam chân chánh, chúng tôi hy vọng sẽ giúp được cho những lãnh đạo Việt Cộng, những tướng lãnh đương quyền trở về với bản năng con người và bản chất của người Việt Nam. Trong bài “Ðồng tiền đi trước” chúng tôi khuyên người Cộng Sản nên “phản tỉnh” hợp tác với dân chúng trước khi cuộc Cách Mạng Hoa Lài bùng nổ. Họ sẽ hợp tác với dân tộc khi dân tộc đứng lên lật đổ chế độ Cộng Sản, biến sự đàn áp thành sự kết hợp, biến con người đã mất nhân tính “đoàn tụ” với bản năng con người, bản chất người Việt. Mấy người đã nhận biết truyền thống Cộng Sản là tàn ác, là tội đồ của dân tộc mà trở về, dù có “ngụy hàng” thì cũng nên “chính hàng” cho phải đạo con người.

Kiêm Ái