Friday, February 18, 2011

The Bear Film by Jean Jacques Annaud


Việt Nam hãy học bài học Tunisia, Egypt
Free the people, Free yourself

"Those who make peaceful revolution impossible,
make violence inevitable." - John F. Kennedy


Peaceful Revolution Hopeless
Nonviolence Hopeless With Vietnam Communists
teolangthang

*****


Quý vị nghĩ sao sau khi xem xong đoạn phim trên,
hay là cúi xuống năn nỉ, chắp tay hiệp thông,
thắp nến cầu nguyện van xin?


Tự do không phải ngồi đó mà có,
phải trả giá bằng sự quyết tâm, bằng xương, bằng máu ...

teolangthang




Kết án đảng CSVN -- 6 Tội Phản Quốc

Việt Nam hãy học bài học Tunisia, Egypt
Free the people, Free yourself

"Those who make peaceful revolution impossible,
make violence inevitable." - John F. Kennedy


Peaceful Revolution Hopeless
Nonviolence Hopeless With Vietnam Communists
teolangthang

*****
Ủy Ban Luật Gia Việt Nam Bảo Vệ Dân Quyền
Công Bố Cáo Trạng

KẾT ÁN ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ

6 TỘI PHẢN BỘI TỔ QUỐC

Luật Sư Nguyễn Hữu Thống

Trước Tòa Án Quốc Dân và Tòa Án Lịch Sử, các Luật Gia Việt Nam công bố Cáo Trạng kết án Đảng Cộng Sản Việt Nam (ĐCSVN) về 6 tội phản bội Tổ Quốc theo trình tự như sau:

I. NĂM 2009, ĐCSVN TỪ BỎ 60% KHU VỰC THỀM LỤC ĐỊA MỞ RỘNG TẠI VÙNG BIỂN HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA.

Về mặt pháp lý, Chiếu Điều 76 Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, tại Biển Đông Nam Á hay Biển Đông, các quốc gia duyên hải được hưởng quy chế thềm lục địa pháp lý 200 hải lý chạy từ biển lãnh thổ ra khơi. Như vậy tối thiểu thềm lục địa của quốc gia duyên hải kéo dài từ đường cơ sở ven bờ (baselines) tới vùng hải phận 212 hải lý (trong đó có biển lãnh thổ 12 hải lý territorial sea)

Chiếu Điều 77 Luật Biển, Thềm Lục Địa thuộc chủ quyền tuyệt đối của quốc gia duyên hải. Mọi sự xâm chiếm của ngoại bang, dầu có võ trang hay không, đều vô giá trị và vô hiệu lực. Do đó dầu Trung Hoa đã chiếm đóng 13 đảo Hoàng Sa, và một số các đảo, cồn , đá, bãi tại Trường Sa, nhưng Việt Nam vẫn không mất chủ quyền lãnh thổ tại các quần đảo này.

Ngoài thềm lục địa pháp lý 200 hải lý các quốc gia duyên hải còn được hưởng quy chế thềm lục địa mở rộng (từ 200 đến 350 hải lý) nếu về mặt địa chất và địa hình, đáy biển là sự tiếp nối tự nhiên của lục địa từ đất liền ra ngoài biển. Đó là trường hợp của Việt Nam tại Biển Đông. Bản Phúc Trình của Tiến Sĩ Khoa Học Armand Krempt năm 1925 và bản Phúc Trình năm 1995 của các Luật Sư Covington và Burling cùng xác nhận điều đó.

Theo Họa Đồ Mercator lập hồi tháng 12-1995 thềm lục địa mở rộng của Việt Nam từ Bắc chí Nam trải dài trên 11 vĩ tuyến từ Quảng Trị (vĩ tuyến 17) xuống Nam Cà Mau (vĩ tuyến 7), hai điểm cực nam có tọa độ 6.48 Bắc và 5.18 Bắc.

Ngày 7-5-2009 Nhà Cầm Quyền Hà Nội đệ nạp Ủy Ban Định Ranh Thềm Lục Địa Liên Hiệp Quốc bản Phúc Trình kèm theo họa đồ và tọa độ ấn định giới tuyến Thềm Lục Địa Địa Chất hay Thềm Lục Địa Mở Rộng (TLĐMR) của Việt Nam (Extended Continental Shelf). Trong Phúc Trình này, bỗng dưng vô cớ, ĐCSVN tự ý thu hẹp thềm lục địa mở rộng chỉ còn 4 vĩ tuyến (từ Quảng Ngãi tại Vĩ Tuyến 15 xuống Bình Thuận tại Vĩ Tuyến 11). Và như vậy ĐCSVN đã từ bỏ 7 vĩ tuyến thềm lục địa mở rộng cả về phía Bắc và phía Nam:

1. Về phía bắc, ĐCSVN đã từ bỏ 3 vĩ tuyến TLĐMR (tại các vĩ tuyến từ 17, 16, 15, từ Quảng Trị xuống Quảng Ngãi). Đây là vùng biển tọa lạc 13 đảo Hoàng Sa: Đảo Trí Tôn tại vĩ độ 15.50, Đảo Hoàng Sa tại vĩ độ16.30, Đảo Phú Lâm tại vĩ độ 16.50, các Đảo Bắc và Đảo Cây tại vĩ độ 16.60. Kết quả là toàn thể quần đảo Hoàng Sa không còn nằm trên TLĐMR của Việt Nam về phía Bắc Quảng Ngãi. (Điểm 1 Họa Đồ có tọa độ 15.02 Bắc và 115 Đông).

Sự kiện này đi trái với Bản Phúc Trình năm 1925 của Tiến Sĩ Khoa Học Armand Krempt Giám Đốc Viện Hải Học Đông Dương.

Theo Phúc Trình Krempt quần đảo Hoàng Sa nằm trên Thềm Lục Địa Địa Chất hay Thềm Lục Địa Mở Rộng của Việt Nam. Vì quần đảo Hoàng Sa là một cao nguyên chìm dưới đáy biển Việt Nam. Về mặt địa chất, với đất đai, sinh thực vật, khí hậu v…v. .., các đảo Hoàng Sa thuộc cùng một loại địa chất như lục địa Việt Nam. Sau 2 năm nghiên cứu, đo đạc, vẽ các bản đồ về hải đảo và đáy biển, Tiến Sĩ Krempt lập phúc trình xác nhận rằng: "Về mặt địa chất, những đảo Hoàng Sa thuộc thành phần lãnh thổ của Việt Nam". (Geologiquement les Paracels font partie du Vietnam).

Hơn nữa, về mặt địa hình, đáy biển Hoàng Sa là sự tiếp nối tự nhiên của lục địa Việt Nam từ đất liền kéo dài ra ngoài biển. Nếu nước biển rút xuống khoảng 900m thì Quần Đảo Hoàng Sa sẽ biến thành môt hành lang chạy thoai thoải từ dãy Trường Sơn qua Cù Lao Ré đến các đảo Trí Tôn, Hoàng Sa, Phú Lâm, Đảo Bắc và Đảo Cây..

2. Về phía Nam Chính Phủ Việt Nam cũng chỉ vẽ Thềm Lục Địa Mở Rộng từ Quảng Ngãi xuống Bình Thuận (Điểm 45 Họa Đồ có tọa độ 10.79 Bắc và 112 Đông). Và như vậy Việt Nam đã mất 4 vĩ tuyến Thềm Lục Địa Mở Rộng từ vĩ tuyến 11 xuống vĩ tuyến 7 (từ Bình Thuận xuống Nam Cà Mau).

Hậu quả là tất cả các đảo lớn, các cồn và Bãi Tứ Chính tại vùng Biển Trường Sa, vì tọa lạc về phía nam vĩ tuyến 11, nên không còn nằm trên TLĐMR của Việt Nam: Như các đảo Trường Sa, Sinh Tồn, Nam Yết, Bình Nguyên (Flat Island), Thái Bình (Itu Aba), Loại Tá, Vĩnh Viễn (Nansha), Bến Lộc (West York), Thị Tứ, (cùng với Bãi Tứ Chính, và các cồn An Bang, Sơn Ca, và Song Tử Tây do Việt Nam chiếm cứ).

Như vậy theo Phúc Trình của Nhà Cầm Quyền Hà Nội, toàn thể các đảo, cồn, đá, bãi tại quần đảo Trường Sa đều tọa lạc ngoài khu vực Thềm Lục Địa Mở Rộng của Việt Nam, từ Điểm 1 tại Quảng Ngãi đến Điểm 45 tại Bình Thuận.

Sự kiện này đi trái với Bản Phúc Trình năm 1995 của các Luật Sư Covington và Burling theo đó Việt Nam có quyền được hưởng quy chế Thềm Lục Địa Mở Rộng (từ 200 đến 350 hải lý) tại vùng biển Trường Sa. Vì đáy biển Trường Sa là sự "tiếp nối tự nhiên của lục địa Việt Nam từ đất liền kéo rất xa ra ngoài biển khơi". (Vietnam is entitled to claim (more than 200 nautical miles) because the natural prolongation of the Vietnamese mainland extends considerably farther seaward than 200 nautical miles).

Trong mọi trường hợp, với Phúc Trình năm 2009, ĐCSVN đã phản bội Tổ Quốc bằng cách vô cớ và vô lý từ bỏ 7 vĩ tuyến (3 vĩ tuyến về phía Bắc và 4 vĩ tuyến về phía Nam). Đây là những vùng hải phận và thềm lục địa mở rộng của Việt Nam tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

II. TỘI CHUYỂN NHƯỢNG CÁC QUẦN ĐẢO HOÀNG SA TRƯỜNG SA CHO TRUNG CỘNG

Hơn 50 năm trước, năm 1958, theo chỉ thị của Hồ Chí Minh là Chủ Tịch Đảng và Chủ Tịch Nước, Phạm Văn Đồng gửi văn thư cho Chu Ân Lai để dâng cho Trung Cộng các quần đảo Hoàng SaTrường Sa, mặc dầu các quần đảo này thuộc chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam Cộng Hòa chiếu Điều 4 Hiệp Định Geneva ngày 20-7-1954:

1) Ngày 15-6-1956, Ung Văn Khiêm (ngoại trưởng) minh thị tuyên bố: "Hà Nội nhìn nhận chủ quyền của Trung Quốc tại Hoàng Sa và Trường Sa mà Trung Quốc gọi là Tây Sa và Nam Sa".

2) Ngày 14-9-1958 qua lời Phạm Văn Đồng, Hồ Chí Minh, đã hiến dâng cho Trung Cộng hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

3) Để biện minh cho lập trường bán nước Biển Đông của Hồ Chí Minh, sau khi Trung Cộng xâm chiếm Trường Sa hồi tháng 3-1988, báo Nhân Dân, cơ quan chính thức của Đảng Cộng Sản trong số ra ngày 26-4-1988 đã viết: "Trong cuộc chiến đấu chống kẻ thù xâm lược thì Việt Nam phải tranh thủ sự gắn bó của Trung Quốc, và ngăn chặn Hoa Kỳ sử dụng 2 quần đảo nói trên".

4) Và hồi tháng 5-1976, báo Saigon Giải Phóng trong bài bình luận việc Trung Cộng chiếm Hoàng Sa bằng võ lực hồi tháng giêng 1974, đã viết: "Trung Quốc vĩ đại đối với chúng ta không chỉ là người đồng chí, mà còn là người thầy tin cẩn đã cưu mang chúng ta nhiệt tình để chúng ta có ngày hôm nay. Vì vậy chủ quyền Hoàng Sa thuộc Việt Nam hay thuộc Trung Quốc cũng vậy thôi".

Từ 1956, mục tiêu chiến lược của Đảng Cộng Sản Việt Nam là "giải phóng Miền Nam" bằng võ lực. Để chống lại Việt Nam Cộng Hòa, Hoa Kỳ và Đồng Minh, Hà Nội hoàn toàn trông cậy vào sự cưu mang nhiệt tình của người thầy phương Bắc. Vì sau cái chết của Stalin năm 1953, Liên Xô chủ trương chung sống hòa bình với Tây Phương, trong khi Mao Trạch Đông vẫn mạnh miệng tuyên bố "sẽ giải phóng một ngàn triệu con người Á Châu khỏi ách Đế Quốc Tư Bản".

Mà muốn được cưu mang phải cam kết đền ơn trả nghĩa. Ngày 14-9-1958, qua Phạm Văn Đồng, Hồ Chí Minh, Chủ Tịch Đảng, Chủ Tịch Nước cam kết chuyển nhượng cho Trung Quốc các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Có 3 lý do được viện dẫn:

a) Vì Hoàng Sa, Trường Sa tọa lạc tại các vĩ tuyến 17-7 (Quảng Trị-Cà Mâu) nên thuộc hải phận Việt Nam Cộng Hòa. Đối với Hà Nội nhượng Hoàng Sa, Trường Sa cho Trung Quốc trong thời điểm này chỉ là bán da gấu! (không phải tài sản của mình).

b) Sau này do những tình cờ lịch sử, nếu Bắc Việt thôn tính được Miền Nam thì mấy quần đảo tại Biển Đông đâu có ăn nhằm gì so với toàn thể lãnh thổ Việt Nam?

c) Giả sử cuộc "giải phóng Miền Nam" không thành, thì việc Trung

Cộng chiếm Hoàng Sa Trường Sa thuộc lãnh hải Việt Nam Cộng Hòa sẽ có tác dụng làm suy yếu phe Quốc Gia về kinh tế, chính trị, chiến lược và an ninh quốc phòng.

III. TỘI NHƯỢNG ĐẤT BIÊN GIỚI CHO TRUNG CỘNG

Năm 1949, sau khi thôn tính lục địa Trung Hoa, mục tiêu chiến lược của Quốc Tế Cộng Sản là nhuộm đỏ hai bán đảo Đông Dương và Triều Tiên.

Qua năm sau, 1950, với sự yểm trợ của các chiến xa Liên Xô và đại pháo Trung Cộng, Bắc Hàn kéo quân xâm lăng Nam Hàn. Tuy nhiên âm mưu thôn tính không thành do sự phản kích của quân lực Hoa Kỳ và Liên Hiệp Quốc.

Từ 1951 cuộc chiến bất phân thắng bại đưa đến hòa đàm (vừa đánh vừa đàm). Hai năm sau Chiến Tranh Triều Tiên kết thúc bởi Hiệp Định Đình Chiến Bàn Môn Điếm tháng 7, 1953.

Thất bại trong chiến tranh Triều Tiên, Trung Cộng tập trung hỏa lực và kéo các đại pháo từ mặt trận Bắc Hàn xuống mặt trận Bắc Việt.

Để tiếp tế võ khí, quân trang, quân dụng, cung cấp cố vấn và cán bộ huấn luyện cho Bắc Việt, các xe vận tải và xe lửa Trung Cộng đã chạy sâu vào nội địa Việt Nam để lập các căn cứ chỉ huy, trung tâm huấn luyện, tiếp viện và chôn giấu võ khí. Thừa dịp này một số dân công và sắc dân thiểu số Trung Cộng kéo sang Việt Nam định cư lập bản bất hợp pháp để lấn chiếm đất đai.

Trong Chiến Tranh Đông Dương Thứ Hai khởi sự từ 1956, với các chiến dịch Tổng Công Kích, Tổng Khởi Nghĩa Tết Mậu Thân (1968) và Mùa Hè Đỏ Lửa (1972), Bắc Việt huy động toàn bộ các sư đoàn chính quy vào chiến trường Miền Nam. Thời gian này để bảo vệ an ninh quốc ngoại chống sự phản kích của quân lực Việt Nam Cộng Hòa và Hoa Kỳ (như trong Chiến Tranh Triều Tiên), Bắc Việt nhờ 300 ngàn binh sĩ Trung Cộng mặc quân phục Việt Nam đến trú đóng tại 6 tỉnh biên giới Bắc Việt. Trong dịp này các binh sĩ, dân công và sắc dân thiểu số Trung Hoa đã di chuyển những cột ranh mốc về phía nam dọc theo lằn biên giới để lấn chiếm đất đai.

Trong Chiến Tranh Đông Dương Thứ Ba khởi sự từ 1979, để giành giật ngôi vị bá quyền, Trung Cộng đem quân tàn phá 6 tỉnh biên giới Bắc Việt. Và khi rút lui đã gài mìn tại nhiều khu vực rộng tới vài chục cây số vuông để lấn chiếm đất đai.

Ngày nay, do đề nghị của Bắc Kinh, Hà Nội xin hợp thức hóa tình trạng đã rồi, nói là thể theo lời yêu cầu của các sắc dân thiểu số Trung Hoa đã định cư lập bản tại Việt Nam.

Năm 1999 họ ký Hiệp Ước Biên Giới Việt Trung để nhượng cho Trung Cộng hơn 800 km2 đất biên giới, trong đó có các quặng mỏ và các địa danh như Ải Nam Quan, Suối Phi Khanh tại Lạng Sơn và Thác Bản Giốc tại Cao Bằng...

IV. TỘI BÁN NƯỚC BIỂN ĐÔNG CHO TRUNG CỘNG

Kinh nghiệm cho biết các quốc gia láng giềng chỉ ký hiệp ước phân định lãnh thổ hay lãnh hải sau khi có chiến tranh võ trang, xung đột biên giới hay tranh chấp hải phận.

Trong cuốn "Biên Thùy Việt Nam"(Les Frontières du Vietnam), sử gia Pierre Bernard Lafont có viết bài "Biên Thùy Lãnh Hải của Việt Nam" (La Frontière Maritime du Vietnam). Theo tác giả, năm 1887, Việt Nam và Trung Hoa đã ký Hiệp Ước Bắc Kinh để phân ranh hải phận Vịnh Bắc Việt theo đường kinh tuyến 108 Greenwich Đông (105 Paris), chạy từ Trà Cổ Móng Cáy xuống vùng Cửa Vịnh (Quảng Bình, Quảng Trị). Đó là đường biên giới giữa Việt Nam và Trung Hoa tại Vịnh Bắc Việt. Vì đã có sự phân ranh Vịnh Bắc Việt theo Hiệp Ước Bắc Kinh 1887, nên "từ đó hai bên không cần ký kết một hiệp ước nào khác". Do những yếu tố địa lý đặc thù về mật độ dân số, số hải đảo, và chiều dài bờ biển, Việt Nam được 63% và Trung Hoa được 37% hải phận.

Năm 2000, mặc dầu không có chiến tranh võ trang, không có xung đột hải phận, bỗng dưng vô cớ Đảng Cộng Sản Việt Nam đã lén lút ký Hiệp Ước Vịnh Bắc Bộ để hủy bãi Hiệp Ước Bắc Kinh 1887.

Hiệp Ước Vịnh Bắc Bộ là một hiệp ước bất công, vi phạm pháp lý và vi phạm đạo lý.

Bất công và vi phạm pháp lý vì nó không tuân theo những tiêu chuẩn của Tòa Án Quốc Tế, theo đó sự phân ranh hải phận phải căn cứ vào các yếu tố địa lý, như số các hải đảo, mật độ dân số và chiều dài bờ biển. Ngày nay dân số Bắc Việt đông gấp 6 lần dân số đảo Hải Nam, và bờ biển Bắc Việt dài gấp 3 lần bờ đảo Hải Nam phía đối diện Việt Nam. Ngoài ra Việt Nam có hàng ngàn hòn đảo trong khi Hải Nam chỉ có 5 hay 6 hòn. Tại miền bờ biển hễ có đất thì có nước; có nhiều đất hơn thì được nhiều nước hơn; có nhiều dân hơn thì cần nhiều nước hơn. Vì vậy hải phận Việt Nam phải lớn hơn hải phận Trung Hoa (63% và 37% theo Hiệp Ước Bắc Kinh). Và cũng vì vậy vùng biển này có tên là Vịnh Bắc Việt (Không phải Vịnh Quảng Đông).

Ngày nay phe Cộng Sản viện dẫn đường trung tuyến để phân ranh hải phận với tỷ lệ lý thuyết 53% cho Việt Nam. Như vậy Việt Nam đã mất ít nhất 10% hải phận, khoảng 12.000 km2. Tuy nhiên trên thực tế phe Cộng Sản đã không áp dụng nghiêm chỉnh đường trung tuyến. Họ đưa ra 21 điểm tiêu chuẩn phân ranh Vịnh Bắc Việt theo đó Việt Nam chỉ còn 45% hải phận so với 55% của Trung Quốc. Và Việt Nam đã mất 21.000 km2 Biển Đông.

Bất công hơn nữa vì nó không căn cứ vào những điều kiện đặc thù để phân ranh Vịnh Bắc Việt. Tại vĩ tuyến 20 (Ninh Bình, Thanh Hóa), biển rộng 170 hải lý, theo đường trung tuyến Việt Nam được 85 hải lý để đánh cá và khai thác dầu khí (thay vì 200 hải lý theo Công Ước về Luật Biển). Trong khi đó, ngoài 85 hải lý về phía tây, đảo Hải Nam còn được thêm 200 hải lý về phía đông thông sang Thái Bình Dương tổng cộng là 285 hải lý.

Theo án lệ của Tòa Án Quốc Tế, hải đảo không thể đồng hóa hay được coi trọng như lục địa. Vậy mà với số dân chừng 7 triệu người, đảo Hải Nam, một tỉnh nhỏ nhất của Trung Quốc, đã được hưởng 285 hải lý để đánh cá và khai thác dầu khí, trong khi 45 triệu dân Bắc Việt chỉ được 85 hải lý. Đây rõ rệt là bất công quá đáng. Bị án ngữ bởi một hải đảo (Hải Nam) người dân Bắc Việt bỗng dưng mất đi 115 hải lý vùng đặc quyền kinh tế để đánh cá và thềm lục địa để khai thác dầu khí (chỉ còn 85 hải lý thay vì tối thiểu 200 hải lý).

Hơn nữa, Hiệp Ước này còn vi phạm đạo lý vì nó đi trái với những mục tiêu và tôn chỉ của Hiến Chương Liên Hiệp Quốc và Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền như Công Lý, Bình Đẳng, Hữu Nghị, không cưỡng ép, không thôn tính và không lấn chiếm.

V. TỘI DÂNG CÁC TÀI NGUYÊN VÀ NGUỒN LỢI THIÊN NHIÊN CHO TRUNG CỘNG

VI.

Cùng ngày với Hiệp Ước Vịnh Bắc Việt năm 2000, Đảng Cộng Sản Việt Nam còn ký Hiệp Ước Hợp Tác Nghề Cá và thiết lập Vùng Đánh Cá Chung với Trung Cộng.

Năm 2004, Quốc Hội Việt Nam phê chuẩn Hiệp Ước Vịnh Bắc Việt. Tuy nhiên, trái với Điều 84 Hiến Pháp, Hiệp Ước Đánh Cá không được Quồc Hội phê chuẩn, chỉ được Chính Phủ "phê duyệt".

Theo Hiệp Ước sau này, hai bên sẽ thiết lập một vùng đánh cá chung rộng 60 hải lý, mỗi bên 30 hải lý, từ đường trung tuyến biển sâu nhiều cá, khởi sự từ vĩ tuyến 20 (Ninh Bình, Thanh Hóa) đến vùng Cửa Vịnh tại vĩ tuyến 17 (Quảng Bình, Quảng Trị).

Tại Quảng Bình biển rộng 120 hải lý, theo đường trung tuyến Việt Nam được 60 hải lý. Trừ 30 hải lý cho vùng đánh cá chung, ngư dân chỉ còn 30 hải lý gần bờ ít cá. Trong khi đó Hải Nam được 290 hải lý để toàn quyền đánh cá.

Tại Ninh Bình, Thanh Hóa, biển rộng 170 hải lý, theo đường trung tuyến, Việt Nam được 85 hải lý. Trừ 30 hải lý cho vùng đánh cá chung, ngư dân Việt Nam chỉ còn 55 hải lý gần bờ. Trong khi đó Hải Nam được 315 hải lý.

Hơn nữa, theo nguyên tắc hùn hiệp, căn cứ vào số vốn, số tầu, số chuyên viên kỹ thuật gia và ngư dân chuyên nghiệp, Trung Cộng sẽ là chủ nhân ông được toàn quyền đánh cá ở cả hai vùng, vùng đánh cá chung và vùng hải phận Trung Hoa.

Ngày nay trên mặt đại dương, trong số 10 tầu đánh cá xuyên dương trọng tải trên 100 tấn, ít nhất có 4 tầu mang hiệu kỳ Trung Quốc. Các tầu đánh cá lớn này có trang bị các lưới cá dài với tầm hoạt động 60 dặm hay 50 hải lý. Do đó đoàn ngư thuyền Trung Quốc không cần ra khỏi khu vực đánh cá chung cũng vẫn có thể chăng lưới về phía tây sát bờ biển Việt Nam để đánh bắt hết tôm cá, hải sản, từ Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh tới Quảng Bình, Quảng Trị. Chăng lưới đánh cá tại khu vực Việt Nam là vi phạm hiệp ước.

Tuy nhiên các đội tuần cảnh duyên hải Việt Nam sẽ ngoảnh mặt làm ngơ. Là cơ quan kinh tài của Đảng, họ sẽ triệt để thi hành chính sách thực dụng làm giàu với bất cứ giá nào như cấu kết chia phần với ngoại bang mặc dầu mọi vi phạm luật pháp và vi phạm hiệp ước.

Trong cuộc hùn hiệp hợp tác này không có bình đẳng và đồng đẳng. Việt Nam chỉ là kẻ đánh ké, môi giới mại bản, giúp Trung Cộng mặc sức vơ vét tôm cá hải sản Biển Đông, để xin hoa hồng (giỏi lắm là 5%, vì Trung Cộng có 100% tầu, 100% lưới và 95% công nhân viên).

Rồi đây Trung Cộng sẽ công nhiên vi phạm Hiệp Ước Hợp Tác Đánh Cá cũng như họ đã thường xuyên vi phạm Công Ước về Luật Biển trong chính sách "tận thâu, vét sạch và cạn tầu ráo máng" và chính sách thực dụng mèo đen mèo trắng của Đặng Tiểu Bình, làm giàu là vinh quang, làm giàu với bất cứ giá nào. Ngày nay tại vùng duyên hải Trung Hoa, các tài nguyên, hải sản và nguồn lợi thiên nhiên như tôm cá, dầu khí đã cạn kiệt. Do nhu cầu kỹ nghệ và nạn nhân mãn (của 1 tỷ 380 triệu người) Trung Quốc đòi mở rộng khu vực đánh cá và khai thác dầu khí xuống Trung và Nam Việt trong vùng hải phận và Thềm Lục Địa riêng của Việt Nam. Đó là những tai họa xâm lăng nhỡn tiền.

VII. TỘI ĐỒNG LÕA CỐ SÁT CÓ DỰ MƯU

Do những hành vi và hiệp định nói trên ĐCSVN đã tạo thời cơ và giúp phương tiện cho bọn côn đồ Trung Cộng (giả danh hải tặc) để bắn giết các ngư dân Việt Nam bằng súng đạn. Đồng thời ủi các tàu hải quân đâm vào các tàu đánh cá Việt Nam khiến cho tàu bị đắm và người mất tích trong lòng đại dương. Trong những vụ giết người này bọn côn đồ Trung Cộng là những kẻ chánh phạm sát hại ngư dân. Và ĐCSVN là những kẻ đồng lõa cố sát có dự mưu bằng cách giúp phương tiện và tạo cơ hội cho kẻ chánh phạm tàn sát các ngư dân và đánh chìm các tàu đánh cá Việt Nam.

Những hành động tàn ác và phản bội nói trên cấu thành 6 tội Phản Quốc bằng cách "cấu kết với nước ngoài xâm phạm chủ quyền quốc gia và sự toàn vẹn lãnh thổ của Tổ Quốc. Đồng thời xâm phạm quyền của người dân được hưởng dụng đầy đủ những tài nguyên và nguồn lợi thiên nhiên của đất nước".

Theo chính sử Việt Nam, vào giữa thế kỷ 16, Mạc Đăng Dung dâng 5 động và 1 châu cho Nhà Minh. Do hành động nhượng đất này, từ hơn 4 thế kỷ nay, Mạc Đăng Dung bị Quốc Dân kết án về tội Phản Quốc, tên tuổi đề mạt của y bị di xú vạn niên.

Ngày nay phe lãnh đạo ĐCSVN, khởi sự từ Hồ Chí Minh, đã phạm 6 tội phản quốc với những hậu quả tai hại gấp trăm, gấp ngàn lần thời Mạc Đặng Dung.

Để hóa giải nạn nội xâm và thoát khỏi sự thống trị của Đế Quốc Bắc Phương, chúng ta chỉ còn một giải pháp duy nhất là kiên trì đấu tranh giải thể chế độ cộng sản để thiết lập chế độ dân chủ.

Cũng theo lịch sử Việt Nam, trong thế kỷ thứ 10, nhân dân ta đã kết hợp đấu tranh và đã 3 lần đánh thắng quân nhà Tống với các chiến công oanh liệt của Lê Đại Hành, Lý Thường Kiệt và Tôn Đản.

Và độc đáo hơn nữa, trong thế kỷ 13, dưới sự lãnh đạo của Trần Hưng Đạo, dân quân Đại Việt một lòng cũng đã 3 lần đánh thắng quân Nhà Nguyên. Đây là một trong những chiến công lừng lẫy nhất trong lich sử đấu tranh giải phóng dân tộc của loài người. Điều đáng lưu ý là thời đó dân tộc Việt Nam chỉ trông vào nội lực của chính mình mà không có sự yểm trợ của đồng minh.

Đó là hai bài học lịch sử của chúng ta hôm nay. Đó cũng là nguồn nuôi dưỡng Quyết Tâm và Niềm Tin của người Việt từ hơn một thiên niên kỷ.

Hôm nay Ủy Ban Luật Gia công bố Cáo Trạng kết án phe lãnh đạo ĐCSVN. Đồng thời để yểm trợ cuộc đấu tranh Giải Thể Cộng Sản và Xây Dựng Dân Chủ do các vị lãnh đạo tinh thần khởi xướng với sự kết hợp của các luật gia và mọi tầng lớp nhân dân trong và ngoài nước.
    Cầu Xin Anh Linh Các Bậc Tổ Phụ Lập Quốc
    Yểm Trợ Cuộc Đấu Tranh Lịch Sử Này
Hải Ngoại ngày 1-02-2011

Luật Sư Nguyễn Hữu Thống

Cố Vấn Sáng Lập Hội Luật Gia Việt Nam Tại California (1979)
Chủ Tịch Sáng Lập Ủy Luật Gia Bảo Vệ Dân Quyền (1990)
Cố Vấn Sáng Lập Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam (1997)



Wednesday, February 16, 2011

Nhục nhã Việt Nam kẻ cúi đầu nô lệ cộng sản !


Việt Nam hãy học bài học Tunisia, Egypt
Free the people, Free yourself

"Those who make peaceful revolution impossible,
make violence inevitable." - John F. Kennedy


Peaceful Revolution Hopeless
Nonviolence Hopeless With Vietnam Communists
teolangthang

*****
    Vinh quang Ai Cập,
    nhục nhã Việt Nam kẻ cúi đầu nô lệ cộng sản !
Sao Biển

Những gì dân chúng Ai Cập làm, người dân Việt Nam đã thực hiện nhưng Việt Nam có quá nhiều kẻ nô lệ chế độ cộng sản. Nhìn xem dân Việt qua vài tấm hình Ai Cập – Việt Nam.

1. Nói với người lính, công an

NhucNha1

Ai Cập ! Người lính Ai Cập lắng nghe tiếng nói, song hành với dân chúng phá tan chế độ Mubarak đã cai trị 30 năm qua. Người lính Ai Cập bảo vệ quyền lợi của người dân và cũng là quyền lợi của chính họ. Họ không đem súng ống bảo vệ quê hương để tàn sát đồng bào mình.

Thái Hà ! Người dân cũng đã tiến đến nói với người lính, công an Việt Nam hãy nhìn về quê hương và yêu thương đồng bào hãy giúp người dân Việt Nam không bị cướp mất quyền làm người. Người dân Thái Hà đang nói với người công an nhưng ai đã phá tan tiếng nói của họ ?

Ai đã bịt miệng tiếng nói người dân Thái Hà để người công an không còn nghe và trở thành những con dã thú sát hại dân Việt ?

Ai đã dùng quyền lực, quyền bính để đàn áp tiếng nói người dân ?

Ai đã loại trừ Đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt khi ngài cùng lên tiếng với người dân cho xóm làng, cho Việt Nam được có Công Lý ?

Những kẻ vì quyền lợi riêng tư, bán rẽ lương tâm đi làm nô lệ cho đảng cộng sản Việt Nam bán anh em, giáo dân, giáo hội Việt nam để người dân mất đi tất cả, mất nhà cửa, mất quyền làm người…

Hỡi anh công an hãy dùng sức mạnh, súng đạn bảo vệ người dân đừng che chở cho chế độ cộng sản mà anh cũng là một nạn nhân của chế độ !

2. Ánh sáng nguyện cầu

NhucNha2

Trong ánh sáng đèn đêm người dân Ai Cập cùng nhau ước mong, quyết chí loại trừ chế độ độc tài chỉ đem lại lo âu, sợ hãi trong đời sống.

Thái Hà, Đồng Chiêm, Tòa Khâm Sứ, Cồn Dầu…cũng đã đốt lên ánh sáng của những cây nến, nguyện cầu cho quê hương không còn chế độ cộng sản gian ác, không đọa đày dân lành. Những cây nến vội tắt !

Ông sư quốc doanh, giám mục quốc doanh, linh mục quốc doanh… đội lốt tôn giáo xây « lâu đài tôn giáo », đi tiên phong dâp tắt những ngọn nến, những tiếng nói oan ức của tín đồ, giáo dân để bảo vệ chế độ cộng sản. Giáo hội quốc doanh đã dựng lên những « hài kịch tôn giáo » đem đến thảm kịch cho tín đồ, giáo dân. Giáo hội quốc doanh tay trong tay với chế độ cộng sản, thản nhiên trước cảnh tàn sát, đánh đập, cướp bóc người dân vô tội…và thổi tắt cây nến Công Chính.

Những cây nến Việt Nam vẫn còn và sẽ đốt lên, đốt mãi, đốt cháy sáng Việt Nam để từng người dân nhìn thấy sự tàn ác, vô nhân đạo của chế độ cộng sản đang tàn phá quê hương Việt Nam.

Hỡi từng người dân Việt, cùng nhau thắp lên những cây nến cho Hòa Bình, cho Tự Do Việt Nam !

3. Những cánh tay đưa lên

NhucNha3

Những cánh tay vươn cao của mỗi người dân Ai Cập đã đem lại cho họ một ngày mai tươi sáng, tự do và được làm người giữa quê hương.

Giáo dân Cồn Dầu đã can đảm vươn tay để che chở một quan tài, bảo vệ nghĩa trang nơi yên nghĩ của cha ông từ hơn thế kỷ.

Dù bị đứng giữa hai áp lực, một bênh là chính quyền cộng sản Đà Nẵng với bạo lực và một bên bị quyền lực của giám mục giáo phận nhưng giáo dân Cồn Dầu vẫn nói lên tiếng nói người dân bị đàn áp.

Dù bị tra tấn, tù đày, dù đứng trước tòa án … giáo dân vẫn nói “chúng tôi không có tội”, có nghĩa là chính chế độ cộng sản mới là kẻ có tội.

Không những anh Nguyễn Thành Năm bị đánh cho đến chết nhưng có một em bé nằm trong bụng mẹ cũng đã bị công an Đà Nẵng đánh chết. Người đàn bà mang thai vô tội bị đánh đập, bị ở tù và em bé đau đớn nằm chết trong bụng mẹ. Em là người thứ hai bị đánh chết vì … em mang tội lỗi gì ?
    Em năm khóc theo vết thương da mẹ
    Em quặn đau theo tiếng mẹ kêu la
    Máu em đổ em vội kêu tiếng mẹ
    Em rợn người nằm chết giữa tù lao
Cồn Dầu, một làng nhỏ đã ghi lên những tội ác ghê rợn của chế độ cộng sản. Một chế độ được xây dựng bằng gian manh, cướp bóc gia tài người dân trong cổ quan tài, trong từng nấm mộ, trên xác người và ngay cả một em bé chưa được sinh ra nằm chết theo da thịt đau đớn của mẹ.

Những hình ảnh Cồn Dầu để lộ một loài dã thú như Nguyễn Bá Thanh thêm một vị giám mục giáo phận Châu Ngọc Tri cũng mang trong người một dòng máu lạnh, những kẻ tán tận lương tâm trên khổ đau đồng bào, dân tộc mình. Đứng trước cảnh đau thương Cồn Dầu, trước cảnh bào thai hét gầm trong bụng mẹ là con chiên là giáo dân của mình, ông giám mục vẫn bình thản nói «Ai buồn là việc của họ, tôi luôn luôn thanh thản và an bình».

Vinh Quang Ai Cập, nhục nhã Việt Nam kẻ cúi đầu nô lệ cộng sản !

Việt nam sẽ phải chịu nhục hình, đọa đày đến khi nào ? Hỡi người dân Việt hãy tay nắm tay kết thành «vòng tay Việt Nam» cùng bóp chết chế độ cộng sản cho thế hệ hôm nay và ngày mai hãnh diện ngước mặt làm người Việt Nam. !

Ngày 15 tháng 2 năm 2011

Sao Biển


Tuesday, February 15, 2011

ƯỚC MƠ VIỆT NAM - Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất


Việt Nam hãy học bài học Tunisia, Egypt
Free the people, Free yourself

"Those who make peaceful revolution impossible,
make violence inevitable." - John F. Kennedy


Peaceful Revolution Hopeless
Nonviolence Hopeless With Vietnam Communists
teolangthang

****
    ƯỚC MƠ VIỆT NAM
Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất

Tổng Thống Ai Cập Hosni Mubarak đã nhượng bộ trước áp lực của dân chúng và đã từ chức, hay bị hạ bệ cũng thế. Báo Mỹ có anh rờ mu rùa đoán quẻ: tiếp theo là nhà vua Abdulla của Jordan. Cuộc cách mạng nhân quyền tại nhiều nước Bắc Phi khởi đầu từ Tunisia lan sang Ai Cập, và rồi tiếp theo đến quốc gia nào nữa chưa biết. Không biết có nên nói cách mạng là một loại bệnh truyền nhiễm hay lây không, nhưng thực tế đang chứng minh, những chế độ có cùng hoàn cảnh và cùng điều kiện thì số phận xẩy ra cũng giống nhau. Thanh niên Mohamed Bouazizi chỉ là giọt nước làm tràn cái ly nước đã cấn miệng để việc phải đến xẩy đến bắt đầu từ Tunisia.

Mohamed Bouazizi, 26 tuổi, là một thanh niên thất nghiệp kinh niên. Anh phải lao vào cuộc sống để nuôi gia đình gồm 8 miệng ăn bằng một cái nghề chẳng mấy danh giá, nghề đẩy xe rau bán dạo trên đường phố Sidi Bouzid (thành phố Sidi Bouzid cách thủ đô Tunis 300 km về phía nam.) Cái nghề hèn mọn này ấy vậy mà cũng cần phải có license. Nhưng anh thì lại không có, và anh đã hành nghề này được 7 năm. Ngày 17-12-2010, một nữ cảnh sát viên chộp được anh chàng bán chui, tịch thu cả xe cùng với rau trái. Anh dốc túi đóng 10 dinars tiền phạt (tương đương một ngày lương 7 dollars). Bị cảnh sát phạt đối với anh là chuyện cơm bữa. Nhưng vấn đề lần này có khác. Em cớm thoi vào mặt Bouazizi một cú đấm nổ đom đóm mắt, và còn nhục mạ cả người cha đã quá cố của anh. Chàng trai Bouazizi tội nghiệp không còn cách phản ứng nào khác hơn là bắt chước dân oan VN, tìm đến cửa quan để khiếu kiện. Nhưng tình trạng cũng chẳng khá gì VN. Chẳng có ông quan nào chịu tiếp anh. Bouazizi bỏ đi, và lập tức chỉ trong vòng khoảng một giờ đồng hồ, anh trở lại tòa Thị Chính với một bình xăng và tự thiệu ngay tại chỗ.

Biến cố tự thiêu của Bouazizi mau chóng đưa đến những cuộc xuống đường của dân chúng để phản đối chính quyền. Bị cảnh sát đàn áp, những cuộc biểu tình ôn hòa đã biến thành bạo động: đốt xe, phá cửa tiệm, liệng gạch đá vào cảnh sát v.v. Bouazizi được đưa vào nhà thương gần Tunis. Trong một cố gắng làm nguôi sự nổi giận của quần chúng, Tổng Thống Zine el Abidine Ben Ali đã vô nhà thương thăm Bouazizi. Nhưng mọi cố gắng trở thành vô ích vì anh không thể sống nổi.

Việc tự thiêu của Bouazizi đã làm cho cả nước Tunisia nhập cuộc. Ngày 22-12-2010, một thanh niên khác, Lahseen Naji trèo cột điện để điện giật chết. Ramzi Al-Abboudi tự tử. Cả hai cái chết đều do nguyên nhân thất nghiệp, nợ nần và đói. Ngày 6-1, tám ngàn luật sư tuyên bố đình công để hưởng ứng các cuộc xuống đường của dân chúng. Ít có ai ngờ cuộc cách mạng nhân quyền tại Tunisia đem lại thành quả nhanh đến thế. Sau cái chết của Bouazizi, chỉ mười ngày sau (15-1-2011), Tổng Thống Ben Ali đã phải cuốn gói đào tẩu để tránh sự trả thù của dân chúng sau 23 năm cầm quyền. Nay đến lượt tổng thống Hosni Mubarak của Ai Cập.

Theo các phân tích quốc tế thì có 3 nguyên nhân chính yếu dẫn đến cuộc cách mạng nhân quyền tại Bắc Phi là sự nghèo đói, tình trạng tham nhũng thối nát (corruption), và nhân quyền bị tước đoạt. Những tệ trạng này là căn bệnh kinh niên tại bất cứ một quốc gia Hồi Giáo nào, mức độ hơn kém tùy ở mỗi chế độ. Công bình mà nói thì Tunisia chưa phải là nước đứng trên “đỉnh cao chói lọi” của các tệ nạn. Là một quốc gia mà Hồi Giáo chiếm tới 99% dân số, nhưng Tunisia không áp dụng luật Sharia để cai trị. Hiến Pháp Tunisia vẫn thừa nhận quyền tự do tôn giáo và các quyền công dân khác. Các giáo sĩ đạo Hồi cũng không có ảnh hưởng nhiều trong nền chính trị Tunisia. Tổ chức Muslim Brotherhood hoạt động không đáng kể. Về kinh tế, GDP tính theo đầu người của Tunisia được kể là cao nhất trong khu vực với 9.100 dollars năm 2009. Tunisia được coi là nước giầu có và ổn định nhất trong vùng. Không ai nói tại Tunisia người dân không bị đàn áp, nhưng cuộc sống của người dân Tunisia còn dễ thở hơn so với các nước Hồi Giáo khác áp dụng luật Sharia Law. Cho nên chế độ của TT Ben Ali chưa nên được giám định là con bệnh phải đưa vô nhà xác sớm nhất. Thế nhưng thực tế xẩy ra là chế độ này dẫn đầu đi đến việc cáo chung.

Chúng ta thử làm sơ một cuộc so sánh khác với VN xem sao có lẽ cũng không phải là điều vô ích. Về kinh tế, VN là một quốc gia rất giầu tài nguyên nhưng lại là nước nghèo vào hàng nhất nhì trong khu vực. So với Tunisia thì VN chạy marathon nhiều năm vẫn chưa bắt kịp. GDP của VN tính theo đầu người là 1168 dollars cho năm 2009. Trung bình người dân nghèo VN chỉ kiếm được trên dưới có một dollar một ngày. Không có quốc gia nào, ngoài VN, cha mẹ nghèo đến nỗi phải bán con gái sang các nước láng giềng làm nô lệ tình dục để kiếm sống. Hình thức buôn dân này được công an ngấm ngầm bảo vệ. Người dân VN bị đàn áp và bịt miệng hơn dân chúng Tunisia nhiều. Những vụ điển hình xẩy ra không thiếu, người viết kể ra sợ dài dòng. Tại VN, cũng có tự thiêu để chống đối như bà Nguyễn Thị Thu ở Đồng Tháp. Người dân Tunisia chỉ bị cảnh sát thoi vô mặt chứ chưa bị giết vô tội vạ như người dân VN bị công an vô cớ đánh chết. Về vấn đề tham nhũng thối nát thì Tunisia lại càng không thể so sánh được với VN. Vụ hãng tầu Vinashin là một thí dụ cụ thể và gần đây nhất. Quan chức nhà nước tham ô, ăn cắp bạc tỷ chứ không phải bạc triệu (dollars). Triệu bạc chỉ để mua một con bài trong sòng bạc của quan lớn. Kinh điển CS dậy rằng: đâu có bất công, ở đó có đấu tranh. Bất công càng nhiều, đấu tranh càng quyết liệt. Những yếu tố trên đây tưởng đã quá đủ để làm nên một cuộc Cánh Mạng tại VN. Thế nhưng VN vẫn không có cách mạng. Tại sao? Và tại sao người VN chỉ dám nhìn Ai Cập, Tunisia mà mơ ước: bao giờ đến lượt đất nước mình? Câu hỏi chính xác là, cuộc cách mạng nhân quyền ở vào thời đại này đúng ra phải xẩy ra tại VN (hay các nước CS khác) mới hợp lý, chứ tại sao lại xẩy ra ở Tunisia? Câu trả lời sẽ dễ dàng tìm được qua sự phân tích trung thực các dữ kiện và đối chiếu giữa VN với Tunisia và Ai Cập.

Nhìn tổng quát, chúng ta thấy có 3 đặc điểm nổi bật trong các cuộc xuống đường tại hai quốc gia Bắc Phi. Thứ nhất là tính tự phát của cách mạng. Thứ hai là xác định mục tiêu tối hậu. Và thức ba là tinh thân tự chủ của người dân.

1. Tính tự phát của cách mạng - Biến cố Tunisia là một cuộc cách mạng tự phát. Nói cách khác, cuộc xuống đường tự động của quần chúng không có đảng phái hay phong trào nào lãnh đạo, không có lãnh tụ chính trị cầm đầu, nhất là không một kế hoạch nào được chuẩn bị từ trước. Người dân Tunisia nghèo đói và thất nghiệp vốn nuôi căm thù chính quyền độc tài tham nhũng của TT Ben Ali từ lâu. Khi có động cơ thúc đẩy, họ xuống đường đòi quyền sống là chuyện tự nhiên. Việc tự thiêu của thanh niên Bouazizi chỉ là giọt nước làm tràn cái ly đã cấn miệng. Trùm CS Nga là Lenin nói: cách mạng là một biến cố tự phát, nó không do người ta hoạch định sẵn. Lenin nói đúng vì hắn đã có kinh nghiệm bản thân. Hai cuộc Cách Mạng Nga tháng 2 và tháng 10-1917 xẩy ra, Lenin vẫn còn ở Tây Âu, chưa về đến Nga. Biến cố gọi là Cách Mạng tháng 8 của VGCS cũng thế, nó không do VGCS khởi động. Sự thực là dân chúng Hànội xuống đường để ủng hộ Chính Phủ Trần Trọng Kim. Phải nói là VGCS đã cướp công cuộc biểu tình ngày 19-8-1945 tại Hànội.

2. Mục tiêu xác định - Cuộc xuống đường tại Tunisia cho thấy yếu tố quyết định làm nên cuộc cách mạng là mục tiêu được xác định dứt khoát. Đó là lật đổ chính quyền độc tài thối nát của TT Ben Ali. Ngay từ đầu, cả hai chính phủ Pháp và Hoa Kỳ đều ngạc nhiên và bối rối, bởi vì Ben Ali được cả Mỹ và Pháp ủng hộ. Đến khi ý thức được rằng ý dân thật là ý Trời thì Tổng Thống Obama đành phải ngả theo chiều gió, lên tiếng vớt vát kêu gọi bất bạo động để tìm giải pháp ôn hòa cho vấn đề. Nhưng Ben Ali đã chuồn trước khi tìm ra được giải pháp. Cách Mạng vì thế thành công một cách dễ dàng. Mục tiêu của cuộc xuống đường tại Ai Cập cũng thế: TT Hosni Mubarak phải ra đi, và Mubarak đã phải ra đi như cách mạng đòi hỏi. Như thế, cách mạng trước hết là phải lật đổ chính quyền. Mục tiêu này là dứt khoạt và tối hậu. Một đòi hỏi phụ thuộc là cần phải có tinh thần can đảm. Người dân Tunisia và Ai Cập thật can đảm. Mặc dầu bị đàn áp, những người xuống đường vẫn hát hò: Ben Ali must go. Hosni Mubarak must go. We are not afraid. We are afraid only of God (Ben Ali phải cút. Mubarak phải cút. Chúng ta không sợ ai cả, chỉ sợ Chúa thôi).

3. Tinh thần tự chủ - Khi thấy không thể cứu nổi Ben Ali, ngoại trưởng Mỹ, bà Hillary Clinton, đưa ra đề nghị phương pháp chuyển quyền hòa bình. Người ta hiểu rằng dụng ý của bà chỉ là thành lập một chính quyền Ben Ali không có Ben Ali để duy trì quyền lợi của Mỹ. Vì thế, dân chúng Tunisia gạt phăng. Họ đòi: Ben Ali phải từ chức và đảng Tập Hợp Dân Chủ Hiến Định RCD (Rassemblement Constitutionel Democratique)) của ông phải bị giải tán. Trong khi chính phủ Obama hoảng sợ trước tình hình xẩy ra tại Tunisia thì Phó TT Joe Biden lại phạm phải một sai lầm nghiêm trọng. Ông tuyên bố khi đề cập đến Ai Cập: Mubarak không phải là độc tài (Mubarak is not dictator). Thấy ông phó Tổng Thống của mình quá lố bịch, Obama và cả Clinton phải chữa lửa bằng cách chỉ kết án bạo lực và hỗ trợ tinh thần cho quyền phản đối của ngưòi dân Ai Cập. Cả hai kêu gọi Mubarak và nhân dân Ai Cập nên tìm phương sách chuyển quyền êm thắm. Ý muốn của Mỹ lại một lần nữa thất bại vì bị nhân dân Ai Cập bác bỏ. Sự thất bại này một lần nữa chứng minh chính sách thất nhân tâm xưa nay của Hoa Kỳ là hậu thuẫn độc tài để giết chết tinh thần độc lập tự chủ của người dân các nước vì quyền lợi của nước Mỹ.

Mặc dù tình hình VN đã chín mùi cho một cuộc cách mạng nhân quyền, nhưng cho đến nay vấn đề chỉ là sự trông đợi, nói đúng hơn là ước mơ của mọi người. Lý do là vì những yếu tố cần thiết cho cuộc cách mạng đã bị làm biến dạng hoặc thui chột cả. Nguyên nhân gây ra tình trạng này là vì VN có quá nhiều cuộc xuống đường, thật có, dổm càng không thiếu:
    - Dân chúng Bắc Giang phản đối công an vô cớ đánh chết người.

    - Giáo dân Thái Hà đốt nến cầu nguyện.

    - Việt tân tặng áo thung ngoài bờ hồ Hoàn Kiếm.

    - HT Quảng Độ đóng cửa nằm nhà ngài bảo ngài biểu tình tại gia.

    - Lm Nguyễn Văn Lý che dù ngồi bên bờ sông ngắm nước chảy hoa trôi. Vân vân và vân vân.
Tất cả đều mang danh xuống đường đấu tranh cả. Nhưng nên phân biệt mục tiêu của các cuộc xuống đường này. Dân Bắc Giang đòi công lý cho một nạn nhân bị công an vô cớ đánh chết. Giáo dân Thái Hà đòi lại đất đai cho nhà thờ. Việt Tân diễn trò sơn đông mãi võ để quảng cáo thuốc tễ bà Lang Trọc. HT Quảng Độ thực hành xuống đường theo lối nhà Phật: sắc tất thị không, không tất thị sắc. Lm Nguyễn Văn Lý nhất quyết ôm mộng Gandhi, vì xuống đường ồn ào làm xáo trộn thì thà để CS cai trị còn hơn. Nếu VGCS là đế quốc Anh thì Lm Lý đã là Gandhi rồi. Nhưng rất tiếc, VGCS lại là mafia cộng sản.

Như đã thấy, những cách xuống đường trên và khác nữa đều thiếu một điểm cốt lõi là đòi hỏi lật đổ chính quyền. Vì thế đã không có cách mạng tại VN. Nhân dân Tunisia và Ai Cập liều chết, họ mới làm nên cách mạng. Người VN biện bạch bất cứ cách nào để che dấu sự sợ hãi thì không thể có cách mạng. Nói như cha Lý, biểu tình mà gây ra xáo trộn thì thà để CS cai trị còn hơn, là không tưởng. Không có hoa hồng nào không có gai. Cũng không có cuộc cách mạng nào không gây ra bất ổn cả. Những cuộc xuống đường của giáo dân do giáo sĩ lãnh đạo, mục tiêu đòi nhà đất là chính đáng, có thể biện minh được vì lý do đạo không làm chính trị. Nhưng không thiếu những vụ xuống đường bịp của Việt Tân hay của dân chủ cuội chỉ có mục đích quảng cáo tên tuổi và làm lợi cho VGCS là chuyện đáng phải lên án. Tuy nhiên, những cuộc xuống đường dù chính đáng hay bịp bợm thì vì nhiều quá mà không đem lại kết quả, chúng trở thành nhàm và làm giảm lòng tin nơi quần chúng. Hệ quả là cuộc xuống đường làm cách mạng để dứt điểm VGCS trong tương lai sẽ khó có cơ may xẩy ra hơn.

Đặc điểm thứ ba của cuộc cách mạng Tunisia và Ai Cập là tinh thần tự chủ của người dân. Người VN cần suy nghĩ nhiều về điểm này. Đất nước bị VGCS thống trị, lại đang đứng trước một đe dọa mất về tay Tầu. Làm thế nào để cứu nước. Nhiều người ở hải ngoại và bọn dân chủ cuội trong nước công khai cổ võ ý kiến phải dựa vào Mỹ để chống cộng. Thấy hải quân Mỹ ghé chiến hạm vào cảng VN thôi thì họ đã nhẩy tưng tưng rồi. Thấy bà Hillary Clinton đến Saigon tuyên bố vài câu nhăng nhít họ lại càng tràn trề hy vọng hơn. Đây là biểu hiện tinh thần vọng ngoại rõ ràng. Nhiều người trước kia tin rằng Mỹ chẳng bao giờ bỏ miền Nam. Bây giờ lại cho rằng Mỹ muốn giúp họ đánh CS và chống Tầu. Thật là hoang đường. Họ không hiểu rằng, Mỹ đánh giặc là đánh cho nước Mỹ chứ không đánh cho ai hết. Và, chính sách đối ngoại của Mỹ là nuôi đầy tớ để sai khiến, chứ không tìm bạn bè là nhân dân các nước.

Như vậy, VN có nên dựa vào Mỹ để chống VGCS và chống Tầu không? Câu trả lời là nên và còn cần thiết nữa. Tuy nhiên, cách dựa như thế nào mới là vấn đề phải đặt ra. Có bao giờ chúng ta tự hỏi xem tại sao sau thế chiến II người Nhật “say No” (đọc Japan that can say no (to America) của Shintaro Ishihara) với Hoa Kỳ chẳng sao mà vẫn phát triển được nước Nhật, trong khi TT Ngô Đình Diệm “say No” với Mỹ lại bị Mỹ giết để trao miền Nam cho VGCS không? Cả hai chính phủ Nhật Bản và TT Diệm đều hiểu rất thấu đáo rằng nước Mỹ rất cần Nhật và cũng rất cần VN để chận ảnh hưởng Tầu. Nhưng cùng một lời nói, mà kết quả khác nhau là vì tư thế của người nói khác nhau. Mỹ không làm gì Nhật được vì người Nhật có tư cách và người Nhật không phản lại người Nhật. Mỹ giết TT Diệm và xóa bản đồ VNCH vì người VN phản lại người VN và năng đầu óc vọng ngoại. VGCS vì bản chất tôi đòi và bán nước nên được Mỹ thuê mướn làm đầy tớ là thích hợp. Với những người VN yêu nước, điều thực sự quan trọng là phải hiểu rằng VN cần Mỹ chẳng khác gì Mỹ cần VN. Biết dựa vào cái thế tất yếu này, chúng ta mới có thể tìm ra phương cách làm thế nào cho nước Mỹ giúp nhân dân VN như một người bạn chứ không phải giúp kẻ thù của chúng ta như tên đầy tớ.

Những cuộc cách mạng nhân quyền tại Bắc Phi khiến cả thế giới vui mừng, nhưng cũng làm cho nhiều chính quyền lo sợ. Mỹ lo sợ vì mất công toi nuôi đầy tớ ở khắp nơi. Tầu, VN lo sợ vì nạn cháy rừng có thể sẽ lan mau chóng nhờ xuôi gió. Để đề phòng, nghe đâu VGCS đang tính đến chuyện tăng tỷ lệ vô quốc hội của chúng cho những thành phần không CS. Dù thế nào đi nữa thì vấn đề vẫn còn đó.

Giấc Mơ VN:diệt VGCS, chống Tầu xâm lược, chỉ trở thành hiện thực nếu nhân dân VN làm được hai việc sau đây.
    Một là thuyết phục được Hoa Kỳ từ bỏ chính sách nuôi đầy tớ vì nó đã lỗi thời.
    Hai là can đảm xuống đường với đòi hỏi dứt khoát là “Communist Party must go” (đảng VGCS phải ra đi).
Việc thứ nhất không khó vì buộc được VGCS phải ra đi rồi thì do phải cần đến VN như đã nói trên, Hoa Kỳ phải giúp chính quyền kế tiếp, và đó cũng là đường lối ngoại giao phù thịnh cố hữu của nước Mỹ.

Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất