Monday, May 10, 2010

Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy & Linh Mục Cao văn Luận: Bí Ẩn 30.4.1975 - Phạm Trần Hoàng Việt

Phạm Trần Hoàng Việt

1. Mở đầu

Đối với đa số người Việt đã từng sống trải qua, ngày 30.04.1975 là một biến cố đau thương nhất của một đời người. Cố Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy - một bình luận gia am tường mọi biến chuyển quốc tế, từng nổi tiếng với những bài nhận định thời cuộc "Tình hình thế giới trong tháng vừa qua" đăng tải trên nhiều tờ báo tại Âu Mỹ - đã đề cập công khai trực tiếp hoặc kín đáo gián tiếp trả lời những câu hỏi về biến cố lịch sử đặc biệt nêu trên.

Từ hồi còn là sinh viên, chúng tôi được tiếp xúc với Giáo sư Huy và đã may mắn có nhiều dịp hàn huyên đối thoại ghi nhận được những chi tiết rất đặc biệt. Sau khi Giáo sư Huy qua đời vào ngày 28.07.1990, chúng tôi đã đảm trách nối tiếp Giáo sư Huy hàng tháng viết bài nhận định thời cuộc "Tình hình thế giới trong tháng vừa qua" kéo dài trên 5 năm trên nguyệt san Tự Do Dân Bản tại Hoa Kỳ. Nhân dịp đó, chúng tôi đã phải nghiên cứu các sáng tác của cố Giáo sư để nắm vững thêm mọi vấn đề. Nhờ vậy, chúng tôi mới cảm nhận và thấy được tầm kiến thức rất uyên bác, rất đa diện của Giáo sư Huy mà hiếm ai cùng thời có được (xin xem thêm phần phụ lục phía dưới về tiểu sử). Nổi bật nhứt là những viễn kiến và phân tích độc đáo về các biến cố lịch sử trên thế giới.

2. Ai đã gây ra thảm họa 30.04.1975?

Câu hỏi lịch sử này cũng đã được bàn cãi sôi nổi từ 35 năm qua và chưa đi đến một kết luận nào hữu lý để được mọi khuynh hướng chấp thuận. Điển hình nhứt là ngay trong dịp Hội Thảo "Việt Nam, 35 Năm Nhìn Lại" (“Vietnam – a 35 Year Retrospective Conference”) tại Washington D.C. vào ngày 9.4.2010 vừa qua quy tụ gần 200 nhân vật với thành phần nổi tiếng như cựu Đại sứ Bùi Diễm, cựu Đại tá không quân Hoa Kỳ Tiến sĩ Stephen Randolph, Trung tá biệt cách dù Nguyễn Văn Lân, Thứ trưởng John Negroponte, Sử gia Dale Andrade, Tiến sĩ John Carland, Cựu Bộ trưởng Hoàng Đức Nhã, Đại tá Trần Minh Công, Đại tá Hoàng Ngọc Lung ... cũng không đưa ra được câu trả lời thỏa mãn cho sự thắc mắc: Ai đã gây ra thảm họa 30.04.1975?

Nhìn trở lại, người ta có thể thấy rõ ràng trong thời gian đầu ngay sau 30.04.1975, phần lớn các khuynh hướng, từ chính trị đến tôn giáo, đều tìm cách đổ trách nhiệm lẫn cho nhau về tội đã làm mất miền Nam. Chỉ có Giáo sư Huy là sớm thấy rõ nguyên nhân chính nào đã khiến xảy ra thảm họa 30.04.1975. Trong dịp tái ngộ cùng Giáo sư Huy vào năm 1982, chúng tôi có hỏi đến vấn đề nhức nhối này và được Giáo sư Huy trả lời cho biết nguyên nhân chính là Hoa Kỳ đã có kế hoạch giải kết (bỏ mọi cam kết bảo vệ miền Nam!) để từng bước rời bỏ miền Nam VNCH. Tuy nhiên thảm họa 30.04.1975 xảy ra bất ngờ hơn mọi người đã dự đoán bởi vì vụ xì căng đan Watergate dẫn tới sự từ chức của Tổng Thống Nixon vào ngày 9.8.1974 đã làm tê liệt mọi cố gắng để cứu vãng tình thế.

Về thế lực nào ở Hoa Kỳ đứng sau kế hoạch bỏ rơi miền Nam, Giáo sư Huy cho biết trên chính trường Mỹ có hai sắc tộc nổi bật nhứt. Đó là sắc tộc gốc Ái Nhĩ Lan (Ireland) và sắc tộc gốc Do Thái.

- Trong dòng lịch sử, Cộng Đồng Người Mỹ gốc Ái Nhĩ Lan đã rất nhiều lần thắng cử chức vụ Tổng Thống.

- Bên cạnh đó Cộng Đồng Người Mỹ gốc Do Thái chủ trương nắm giữ các cơ cấu quan trọng trong guồng máy điều khiển đất nước Hoa Kỳ. Họ gài được nhiều nhân sự vào bên hành pháp cũng như lập pháp. Trong các bộ quan trọng nhứt như ngoại giao, quốc phòng và tài chánh thường thấy đa số có nhân viên gốc Do Thái và nhiều lần cấp bộ trưởng cũng do người Mỹ gốc Do Thái nắm giữ. Trong Thượng Viện và Hạ Viện có khá nhiều nghị sĩ và dân biểu gốc Do Thái trong cả hai chính đảng. Vì vậy, thế lực của Cộng Đồng Người Mỹ gốc Do Thái rất lớn và đã khiến cho chánh sách đối ngoại của Hoa Kỳ luôn luôn binh vực quyền lợi của Do Thái.

Tham dự Hòa đàm Paris, Giáo sư Huy nhận xét rằng Kissinger (một người Mỹ gốc Do Thái lúc đó còn làm Cố Vấn An Ninh cho Tổng Thống Nixon) có thái độ đáng ngờ là cương quyết muốn thỏa hiệp riêng ("đi đêm"!) với CSVN bất cứ giá nào để quân đội Hoa Kỳ rời bỏ miền Nam, dù biết rằng sau đó miền Nam sẽ lọt vào tay Hà Nội. Theo kinh nghiệm chính trị thì các chính trị gia gốc Do Thái đều hành động có chủ đích với kế hoạch rõ rệt. Như vậy đằng sau Kissinger ắt phải là chủ trương của thế lực Do Thái.

Thế lực Do Thái này phải hiểu là không phải chỉ thuần túy Cộng Đồng Người Mỹ gốc Do Thái, mà là sắc dân Do Thái trải dài trên thế giới từ Tel Aviv đến Washington D.C., Paris, London, Berlin, Moscow ... với tổng số 13,1 triệu người, trong đó 5,4 triệu tại quốc gia Do Thái, 5,3 triệu tại Hoa Kỳ và 2,4 triệu rải rác tại 30 quốc gia khác. Thế lực này được điều khiển hữu hiệu từ Tel Aviv với 2 bộ phận đắc lực gồm cơ quan tình báo Mossad và Nghị Viện Do Thái Thế Giới (- World Jewish Congress - từ năm 2007 đứng đầu là nhà tỷ phú nổi tiếng Ronald Stephen Lauder người Mỹ gốc Do Thái). Ngoài ra, Giáo sư Huy còn chỉ dẩn cho chúng tôi nhận biết được dân gốc Do Thái đặc biệt thường với mũi to loại diều hâu, điển hình như Ngoại trưởng Kissinger hoặc Nữ Ngoại trưởng Albright.

Những tiết lộ tế nhị của Giáo Sư Huy hoàn toàn phù hợp với nhận định của Linh Mục Cao văn Luận (1908 - 1986) nhân dịp tái bản tác phẩm Bên Giòng Lịch Sử cũng cho rằng thế lực dân Mỹ gốc Do Thái chủ trương Hoa Kỳ phải rút quân ra khỏi Việt Nam. Riêng dư luận báo chí quốc tế đã sớm nhìn thấy rõ Hoa Kỳ muốn rút lui bỏ rơi miền Nam từ khi bắt đầu chánh sách Việt Nam Hóa Chiến Tranh sau biến cố Tết Mậu Thân 1968 (mà họ phân tích là nhằm thay đổi màu da tử sĩ!), nhứt là hòa đàm Paris (mà họ nhận định là nhằm bảo đảm Mỹ rút quân được an toàn!).

Như vậy thảm họa 30.04.1975 đã xảy ra, nguyên nhân chính là Hoa Kỳ có chính sách bỏ rơi miền Nam VNCH và thế lực Do Thái thúc đẩy chính sách đó được thực hiện qua Kissinger.

3. Tại sao thế lực Do Thái muốn Hoa Kỳ bỏ rơi miền Nam?

a. Thế lực Do Thái tại Hoa Kỳ

Đối với chúng tôi quả thực hoàn toàn mới mẻ và đầy ngạc nhiên khi được Giáo sư Huy vào năm 1982 cho biết đến vai trò thực sự của người Mỹ gốc Ái Nhĩ Lan và gốc Do Thái trên chính trường Hoa Kỳ. Sau này sinh hoạt lâu năm tại Âu châu và Hoa Kỳ và qua nghiên cứu, chúng tôi công nhận thấy Giáo sư Huy hoàn toàn đúng.

Điển hình là cho đến nay có ít nhứt 23 Tổng Thống Hoa Kỳ gốc Ái Nhĩ Lan (xem website: http://en.wikipedia .org/wiki/ List_of_Irish_ Americans) mà trong đó có Tổng Thống Washington và những Tổng Thống gần đây như Clinton, Reagan, Kennedy và kể cả Tổng Thống Obama (bên ngoại gốc Ái Nhĩ Lan)

Cũng như hiện nay tại quốc hội có 15 Thượng Nghị Sĩ Hoa Kỳ gốc Do Thái và 33 Dân Biểu Liên Bang gốc Do Thái (xem website: http://en.wikipedia .org/wiki/List_of_Jewish_ American_ politicians#List). Thực sự nếu nghiên cứu sâu rộng thì sẽ thấy thế lực Do Thái tại Mỹ còn lớn hơn nhiều. Họ thành công trong việc gài được những nhân sự cấp lãnh đạo ở các bộ phận yết hầu của Hoa Kỳ. Thí dụ điển hình gần đây như:

- trong Thượng Viện và Hạ Viện hiện nay với tổng số 48 nghị sĩ và dân biểu gốc Do Thái (so sánh chỉ có 1 dân biểu gốc Việt Nam là ông Cao Quang Ánh!).

- Trong Bộ Ngoại Giao có Bộ trưởng Henry Kissinger dưới thời TT Nixon và Bộ trưởng Madeleine Albright dưới thời TT Clinton ...

- Trong Bộ Quốc Phòng có Bộ trưởng James Schlesinger dưới thời TT Nixon và thời TT Ford.

- Trong Bộ Tài Chánh có Bộ trưởng Larry Summer và Bộ trưởng Robert Rubin dưới thời TT Clinton.

- Trong CIA có Tổng giám đốc John M. Deutch dưới thời TT Reagan.

- Trong Ngân Hàng Trung Ương (Fed) cầm đầu bởi Tiến sĩ Alan Greenspan từ 1987 đến 2006 và Giáo sư Ben Bernanke từ 2006 đến nay.

Họ còn chủ động nắm những lãnh vực ngân hàng, thị trường chứng khoán, báo chí, truyền thanh, truyền hình, và điện ảnh ...

Đặc biệt, ngành truyền thông, quan trong nhứt là điện ảnh Hollywood, nằm trong tay thế lực Do Thái. Tại Hollywood đa số nhân sự từ đạo diễn đến diễn viên đều có gốc Do Thái, nổi tiếng nhứt như Steven Spielberg, Liz Taylor, Kirk Douglas, Michael Douglas, Harrison Ford ... (xem website: http://en.wikipedia .org/wiki/ List_of_Jewish_ American_ entertainers). Họ biết rõ rằng nắm được truyền thông trong tay là hướng dẫn được dư luận quần chúng trong mục tiêu phục vụ quyền lợi cho nguời Do Thái. Họ còn điều khiển một phần lớn các viện nghiên cứu chiến lược nhằm đưa ra những đề nghị cho chính sách tương lai cho chánh phủ Mỹ và dĩ nhiên phải phù hợp với quyền lợi của người Do Thái.

Ngoài ra tại các cường quốc Âu Châu, thế lực Do Thái có ảnh hưởng tuy âm thầm nhưng cũng mạnh mẽ lắm. Điển hình nhứt là Tổng Thống Sarkozy (Pháp) & Thủ Tướng Đức Schmidt (Đức) đều gốc Do Thái nên không bao giờ lên tiếng thực sự chống lại những vi phạm cam kết của Do Thái tại Trung Đông. Chính vì vậy đa số thành viên Liên Hiệp Quốc đã cho rằng thế lực Do Thái có ảnh hưởng quá lớn đến chính sách và biểu quyết về Trung Đông của các cường quốc Âu Mỹ.

b. Tại sao thế lực Do Thái muốn Hoa Kỳ phủi tay bỏ miền Nam?

Muốn biết rõ, chúng ta phải tìm hiểu lịch sử mất nước và dựng lại nước của người Do Thái. Vào năm 135 dân tộc Do Thái chính thức bị mất nước và phải lưu vong khắp nơi vì đế quốc La Mã. Thảm họa mất nước đó thường được dư luận Thiên Chúa Giáo cho là sự trừng phạt dân Do Thái đã đóng đinh giết Chúa Jesus và kẻ phản bội Judas chính là một người Do Thái. Chính vì chuyện này đã làm cho dân Do Thái bị kỳ thị trên bước đường lưu vong. Nhưng cũng chính vì có niềm tin mãnh liệt vào Do Thái Giáo, họ đã đoàn kết nhau lại dưới sự lãnh đạo của học giả Theodor Herzl trong đại hội thế giới đầu tiên tại Basel (Thụy sĩ) vào năm 1897. Từ đó, từng đợt một họ lén lút trở về quê hương Palestine. Thế Chiến thứ 2 và với sự yểm trợ tích cực của Hoa Kỳ đã tạo cơ hội ngàn năm một thuở để họ dựng lại đất nước vào ngày 14.5.1948 sau gần 2,000 năm lưu vong. Chỉ 11 phút sau đó Tổng Thống Hoa Kỳ đã lên tiếng công nhân quốc gia mới này, bất chấp mọi chống đối của thế giới Ả Rập và đã yểm trợ hữu hiệu cho Do Thái chống lại cuộc tấn công ngay sau đó của các quốc gia Ả Rập láng giềng và trong các cuộc chiến xảy ra sau này.

Như vậy, Do Thái còn tồn tại đến ngày nay là nhờ Hoa Kỳ làm "lá bùa hộ mạng". Nhiều nghị quyết tại Liên Hiệp Quốc kết án Do Thái vi phạm cam kết tại Trung Đông chỉ vì duy nhứt Hoa Kỳ dùng quyền phủ quyết (veto) nên đành phải bỏ đi. Trong quá khứ, Hoa Kỳ từng giải kết (phản bội!) bỏ rơi đồng minh như Lào, Cam Bốt, Việt Nam, Đài Loan ... , nhưng luôn luôn "sống chết" hết lòng với Do Thái, mặc dù quốc gia nhỏ bé này không mang lại lợi ích gì về tài nguyên hoặc vị trí chiến lược cho Hoa Kỳ, mà trái lại chính vì Do Thái, Hoa Kỳ còn gây rất nhiều hiềm khích (mang họa vào thân!) với thế giới Hồi Giáo dân số rất đông đảo (1,3 tỷ) và rất quan trọng về năng lượng dầu hỏa . Tất cả cho thấy rõ ràng vì thế lực Do Thái nắm giữ được các bộ phận huyết mạch tại Mỹ nên chính sách của Hoa Kỳ phải luôn luôn không được đi trái ngược lại với quyền lợi của quốc gia Do Thái.

Từ đó, chúng ta mới hiểu rõ tại sao thế lực Do Thái muốn Hoa Kỳ phủi tay bỏ miền Nam Việt Nam. Đó là vì họ sợ Hoa Kỳ sa lầy và sự tốn kém khổng lồ tại chiến trường Việt Nam có thể đưa tới hậu quả Hoa Kỳ không còn khả năng giúp đỡ một cách hiệu lực nước Do Thái tồn tại như trong quá khứ Hoa Kỳ đã từng làm. Cho nên họ chủ trương Hoa Kỳ phải giải kết bỏ rơi miền Nam để trở về chuyên tâm lo cho Do Thái. Để thực hiện mục tiêu này họ đã có kế hoạch rõ ràng từng bước một.

c. Kế hoạch Do Thái thúc đẩy Hoa Kỳ bỏ rơi miền Nam.

Khởi đầu giải quyết cuộc chiến Quốc Cộng tại Lào vào đầu thập niên 1960, ông Ngô Đình Nhu đã ngạc nhiên và bất mãn thấy thái độ nhượng bộ quá mức của ông Averell Harriman (đặc trách bộ phận Viễn Đông của Bộ Ngoại Giao Mỹ) trong lúc đàm phán. Nên biết ông Averell Harriman (1891 - 1986) là một nhà tư bản lớn nổi tiếng gốc Do Thái và cũng là một đảng viên cấp lãnh đạo của đảng Dân Chủ ở Mỹ. Rõ ràng phía thế lực Do Thái muốn ngăn chận không cho Hoa Kỳ can thiệp với nhiều tốn kém ở Viễn Đông. Sự nhượng bộ rút lui này đã khiến lực lượng CSVN kiểm soát được phần lớn các địa điểm chiến lược tại Lào và thiết lập đường mòn Hồ Chí Minh vận chuyển nhân lực và võ khí vào để đánh chiếm miền Nam vào 30.4.1975.

Từ khi nhậm chức, Tổng Thống Johnson (dân Texas!) cùng ban tham mưu luôn cứng rắn chủ chiến và không muốn Hoa Kỳ bị thua trận đầu tiên trong nhiệm kỳ của mình. Thế lực Do Thái lúc đó không có ảnh hưởng nhiều trong chánh phủ Tổng Thống Johnson để xoay đổi từ bên trong chính sách can thiệp quân sự của Tổng Thống Johnson, cho nên họ phải chờ đợi cơ hội thuận tiện để tấn công từ bên ngoài dư luận quần chúng.

Đó là lúc cuộc chiến Việt Nam bùng nổ lớn bắt đầu từ cuối năm 1964 trở đi với các trận đánh dữ dội tại Bình Giã, Đồng Xoài, Đức Cơ ... bắt đầu gây tử thương nhiều quân nhân Mỹ. Những hình ảnh quan tài phủ quốc kỳ kèm theo sau hình ảnh dã man và bất lợi ( thổi phồng vụ Mỹ Lai & vụ Tướng Nguyễn Ngọc Loan! ) của chiến tranh được hệ thống truyền thông Hoa Kỳ -đa số gốc Do Thái quản trị- khai thác triệt để ngày đêm tạo một phong trào phản chiến lớn mạnh chưa từng thấy trên thế giới, không những tại Hoa Kỳ mà còn lan rộng khắp nơi trên nhiều quốc gia khác.

Tướng độc nhãn Moshe Dayan -Bộ trưởng Quốc phòng của Do Thái- đột ngột tự qua Việt Nam 3 ngày (từ 25 tới 27 tháng 7 năm 1966) và cho báo chí chụp bức hình biểu diễn đang đi hành quân với lực lượng Hải Quân Mỹ. Sau chuyến "hành quân" chớp nhoáng đó, Tướng độc nhởn Moshe Dayan viết ngay đề nghị Mỹ nên rút quân ra khỏi Việt Nam vì không thể thắng cuộc chiến này được (rất là vô lý vì thực sự hiện diện xem xét chiến trường VN chỉ có 1 ngày , mà dám đưa ngay đề nghị khủng khiếp như vậy !). Dĩ nhiên lời đề nghị chủ bại này càng được thổi phồng bởi phong trào phản chiến và làm mất uy tín Tổng Thống Johnson. Tiếc thay sau này và mới năm ngoái đây, vẫn còn có những ký giả và bình luận gia Việt Nam ca ngợi những phân tích và đề nghị của ông tướng một mắt này, mà không hiểu đó chính là một trong những thủ phạm đã góp phần "khai tử" miền Nam!

Phong trào phản chiến càng lên cao và đã khiến Tổng Thống Johnson vào tháng 3 năm 1968 phải quyết định không ra tái ứng cử. Sự xáo trộn tranh chấp kịch liệt trong đảng Dân Chủ đã tạo cơ hội hiếm có để cho ứng cử viên của đảng Cộng Hòa nắm chắc sự thắng cử. Vì vậy thế lực Do Thái đã gài được Kissinger từ năm 1957 làm cố vấn cho Nelson A. Rockefeller (Thống đốc New York) đang vận động ra tranh cử làm ứng cử viên Tổng Thống của đảng Cộng Hòa. Nhưng không ngờ Nixon thành công hơn và cuối cùng thăng cử làm Tổng Thống. Thấy vậy, Kissinger bèn trở cờ đầu quân theo Nixon và được trọng dụng làm Cố vấn An ninh.

Thế lực Do Thái còn đưa được thêm nhân sự gốc Do Thái vào trong guồng máy cầm quyền Mỹ. Đáng kể nhứt là Bộ trưởng Quốc phòng James Schlesinger, Cố vấn đặc trách Nội vụ John Ehrlichmann (1925 - 1999)... Với những chức vụ then chốt này, họ đã thành công bày mưu cho Nixon bỏ rơi miền Nam. Bắt đầu với chương trình Việt Nam Hóa Chiến Tranh sau biến cố Tết Mậu Thân 1968 để từng bước giảm con số lính Mỹ tử vong và bớt dần sự hiện diện của Hoa Kỳ tại miền Nam.

Đến năm 1971, Kissinger bí mật qua Trung Hoa tìm cách tái bang giao với chính quyền Bắc Kinh và đưa đến thỏa hiệp Thượng Hải 1972 giữa Mao Trạch Đông và Nixon. Trên bề mặt, thỏa hiệp này chỉ công nhận một nước Trung Hoa cho thấy Hoa Kỳ bỏ rơi Đài Loan trên chính trường thế giới, nhưng bên trong thực tế Kissinger nhằm sửa soạn sự rút lui an toàn cho quân đội Mỹ ra khỏi miền Nam với sự bảo đảm của Trung Cộng.

Quả nhiên, chỉ sau đó chưa đầy một năm, Kissinger đã dùng đủ mọi mánh khóe, kể cả đe dọa tánh mạng các cấp lãnh đạo VNCH, thành công trong việc ép buộc VNCH ký kết Hiệp Định Paris vào ngày 27.1.1973 để quân đội Hoa Kỳ được an toàn rời khỏi miền Nam. Phía dư luận báo chí quốc tế đã sớm thấy rõ âm mưu của Kissinger và đã ví bản hiệp định này giống như tờ khai tử cho miền Nam Việt Nam.

Chính ngay Kissinger cũng đã tiết lộ bề trái của bản hiệp định cho Cố vấn đặc trách Nội vụ John Ehrlichmann của T.T Nixon như sau:

"Tôi nghĩ rằng nếu họ (chánh phủ VNCH) may mắn thì được 1 năm rưỡi mới mất". Tương tự, Kissinger đã trấn an T.T Nixon là:

“Hoa Kỳ phải tìm ra một công thức nào đó để làm cho yên bề mọi chuyện trong một hay hai năm sau, sau đó thì …chẳng ai cần đếch gì nữa . Vì lúc ấy, Việt nam sẽ chỉ còn là bãi hoang vắng”.

Bởi vậy thảm họa 30.4.1975 xảy ra là điều tất nhiên đúng như tính toán dự trù của Kissinger và thế lực Do Thái.

Chỉ sau Hiệp Định Paris khoảng 9 tháng, cuộc chiến Jom Kippur vào ngày 6.10.1973 giữa Do Thái và các quốc gia Ả Rập láng giềng xảy ra. Lần đầu tiên trong lịch sử tái lập quốc, Do Thái bị thua trận và mất một số lớn phần đất chiếm đóng trước đây. Đáng lẽ Do Thái còn có thể bị thua nặng nề hơn nữa, nhưng giờ chót nhờ có Kissinger thuyết phục được Nixon nỗ lực can thiệp giúp Do Thái nên tình thế không còn bi đát nhiều. Tuy nhiên, sau đó Tướng độc nhỡn Moshe Dayan phải từ chức Bộ trưởng Quốc phòng vì chịu trách nhiệm bị thua trận.

4. Kết luận

Biến cố thua trận lần đầu tiên Jom Kippur năm 1973 cho thấy thế lực Do Thái nhìn rất xa và rất có lý với nỗi lo sợ Hoa Kỳ vì bị sa lầy ở chiến trường Việt Nam nên không còn có thể chuyên tâm giúp cho Do Thái thắng trận như trước đây. Cho nên không gì ngạc nhiên khi thế lực Do Thái phải vận dụng toàn diện từ trong lẫn ngoài để thúc đẩy và buộc giới lãnh đạo Hoa Kỳ phải bỏ rơi miền Nam.

Bí ẩn về lý do và động lực thúc đẩy Hoa Kỳ phải rút quân bỏ rơi miến Nam được che dấu tinh vi không đưa ra dư luận nổi , bởi vì phần lớn hệ thống truyền thống báo chí quan trọng nằm trong tay thế lực Do Thái hoặc bị họ ảnh hưởng kiểm soát không cho phép làm hoặc sợ bị mang tiếng bài Do Thái Anti-Semitism). Cho nên đến 35 năm sau dư luận vẫn còn bị xí gạt.

Điển hình , về phía dư luận ngoại quốc vẫn còn có những học giả (thí dụ: Tiến sĩ Stephen Randolph trong Hội Thảo "Việt Nam, 35 Năm Nhìn Lại" (“Vietnam – a 35 Year Retrospective Conference”) tại Washington D.C. vào ngày 9.4.2010) lầm lẫn hoặc cố tình cho rằng Hoa Kỳ vào năm 1972 muốn tái lập bang giao với Trung Cộng nên phải rút quân ra khỏi miền Nam (chịu thua !) vì đang câu con cá to hơn (“has bigger fish to fry”). Thực tế Hoa Kỳ đã có kế hoạch bỏ rơi miền Nam từ khi Kissinger bước vào Tòa Bạch Ốc năm 1969 với gia tăng Việt Nam Hóa Chiến Tranh.
Về phía Cộng Sản Bắc Việt , ngoại trừ lợi thế sẵn có của đường lối độc tài cuồng tín trong chiến tranh dám vô nhân đạo dùng chiến thuật biển người hy sinh "nướng quân" hàng loạt trên chiến trường (theo nhận xét của Tướng Westmoreland !), họ không ngờ có được sự giúp đỡ hữu hiệu của thế lực Do Thái tạo ra phong trào phản chiến đưa tới tình trạng "Đồng Minh tháo chạy" từ ngữ theo Tiến sĩ Nguyễn Tiến Đức !) bỏ rơi VNCH. Thực tế , nếu không có sự phản bội của thế lực Do Thái qua sự nắm quyền của ê kíp Kissinger thì chưa chắc gì Cộng Sản Bắc Việt sớm thắng trận . Như vậy miền Nam chỉ cần cầm cự được vài năm cho đến khi Tổng Thống Reagan nắm quyền và với tài lãnh đạo xuất sắc cương quyết nổi tiếng của ông này chắc chắn miền Nam sẽ được yểm trợ đầy đủ (đã xảy ra như vậy tại Nam Mỹ và A Phú Hản !) để không thể dể dàng rơi vào tay cộng sản như đã xảy ra trong ngày 30.4.1975.

Đa số người Việt chúng ta đều có tâm tình thiện cảm với dân tộc Do Thái (một phần bị ảnh hưởng qua tác phẩm lừng danh "Về miền đất hứa / Exodus" của tác giả Leon Uris) vì ngưỡng mộ tinh thần đoàn kết và chiến đấu dũng cảm của họ sau 2000 năm lưu vong đã thành công trở về tái dựng lại quốc gia Do Thái nhỏ bé bất chấp trước mọi đe dọa của Khối Ả Rập khổng lồ. Cũng trong cảm tình nồng nàn đó , Học giả Nguyễn Hiến Lê vào năm 1968 mang sức ra viết tác phẩm "Bài học Israel (Do Thái)" . Nhưng thực tế chính trị cho thấy tham vọng thủ đoạn của Do Thái sau khi tái lập quốc , nên chính ông đã không ngần ngại lên tiếng chỉ trích nặng nề. Đó cũng là tâm trạng của chúng tôi khi biết qua Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy và Linh mục Cao Văn Luận khám phá ra mưu sâu của thế lực Do Thái khiến xảy ra thảm họa 30.4.1975 cho quê hương Việt Nam và dẩn tới hiểm họa mất nước vào tay Trung Cộng.

Chúng tôi tin rằng Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy và Linh mục Cao Văn Luận đã đi bước tiên phong đầu tiên tiết lộ những bí ẩn về thảm họa 30.4.1975 và trong tương lai sẽ được giới truyền thông báo chí chú tâm nghiên cứu khai triển tích cực để lịch sử Việt Nam và thế giới mai sau không còn bị sai lầm nữa. Mong thay !

Phạm Trần Hoàng Việt
(Tháng Tư Đen 2010)

Phụ đính

Tiểu Sử Cố Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy
Sanh vào ngày 2 tháng 11 năm 1924, quê tại Mỹ Lộc, quận Tân Uyên, tỉnh Biên Hòa.
Văn bằng:
§ 1963: Tiến Sĩ Chánh Trị Học, Trường Đại Học Luật Khoa & Kinh Tế Paris. Luận án: “Đề tài người ưu tú trong tư tưởng chánh trị Trung Quốc cổ thời”
§ 1960: Cao Học Chánh Trị, Trường Đại Học Luật Khoa & Kinh Tế Paris.
§ 1959: Cử Nhơn Luật Khoa và Kinh Tế, Viện Đại Học Paris.
§ Tốt nghiệp Viện Nghiên Cứu Chánh Trị Đại Học Paris.
§ Tự học thi đậu bằng Tú Tài.
§ Học sinh trường Pétrus Trương Vĩnh Ký, thi đậu bằng Trung Học. Một trong học sinh đậu xuất sắc nhứt tại Đông Dương (xem phim tài liệu về Thân Thế & Sự Nghiệp Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy / Câu Lạc Bộ Đằng Phương thực hiện năm 2007).
Chức vụ:
Trong Ngành Giảng Huấn:
§ Từ 1976: Phụ Khảo tại Trường Đại Học Luật Khoa Harvard (Hoa Kỳ).
§ 1965-1975: Giáo Sư Chánh Trị Học và Luật Hiến Pháp ở Học Viện Quốc Gia Hành Chánh tại Sài Gòn, Trường Đại Học Luật Khoa và Khoa Học Xã Hội tại Cần Thơ, Trường Đại Học Sư Phạm tại Sài Gòn, Trường Đại Học Luật Khoa tại Huế. Ngoài ra còn giảng dạy tại các Trường Đại Học Đà Lạt, Vạn Hạnh, Minh Đức, Minh Trí... và ở Trường Cao Đẳng Quốc Phòng, Trường Chỉ Huy Tham Mưu Cao Cấp, Trường Đại Học Chiến Tranh Chánh Trị.
§ 1967-1968: Khoa Trưởng Luật Khoa và Khoa Học Xã Hội tại Cần Thơ.

Trong Chánh Quyền:
§ 1973 và 1968-1970: Nhơn viên phái đoàn tham dự thương thuyết Hòa Đàm Paris.
§ 1967: Hội Viên Hội Đồng Dân Quân.
§ 1964: Đổng Lý Văn Phòng Phủ Phó Thủ Tướng Đặc Trách Bình Định.

Hoạt Động Chánh Trị:
§ Từ 1986: Hội Viên Ủy Ban Danh Dự của Ủy Ban Quốc Tế Yểm Trợ VN Tự Dọ
§ Từ 1981: Chủ Tịch Ủy Ban Chấp Hành Trung Ương Liên Minh Dân Chủ Việt Nam.
§ 1973-1975: Đồng Chủ Tịch Liên Minh Quốc Gia Dân Chủ Xã Hội (gồm 6 đảng).
§ 1969-1975: Tổng Thơ Ký Phong Trào Quốc Gia Cấp Tiến.
§ 1964-1990: Thành lập đảng Tân Đại Việt và là lãnh đạo đảng cho đến năm 1990.
§ 1945-1964: Đảng viên Đại Việt Quốc Dân Đảng và tham dự Ủy Ban Chấp Hành Trung Ương năm 1948.

Tưởng Lục:
§ WHO'S WHO đông bộ Hoa Kỳ, ấn bản lần thứ 18, 1981-1982.
§ Giải thưởng của Viện Đại Học Paris trao luận án Tiến sĩ xuất sắc nhất trong năm.

Chuyên Môn:
§ Luật Hiến Pháp, Tư Tưởng Chánh Trị, Định Chế Chánh Trị, Bang Giao Quốc Tế.
§ Thông thạo ngôn ngữ Việt, Pháp, Anh và Hán văn.

Tác phẩm:
§ Tiếng Việt:
1. HỒN VIỆT, thơ, Sài Gòn, 1950, tái bản ở Paris năm 1984.
2. QUỐC TRIỀU HÌNH LUẬT (Quyển A), Việt Publisher, Canada, 1990.
3. DÂN TỘC SINH TỒN, chủ thuyết của Đại Việt Quốc Dân Đảng, được bổ túc, phong phú hóa và thâu nhận các nguyên tắc tự do dân chủ, (2 quyển), Sài Gòn, 1964.
4. DÂN TỘC HAY GIAI CẤP ?
5. BIỆN CHỨNG DUY XẠO LUẬN (Trào phúng).
6. CÁC ẨN SỐ CHÁNH TRỊ TRONG TIỂU THUYẾT VÕ HIỆP KIM DUNG, Thanh Phương Thư Quán, San Jose, Hoa Kỳ, 1986.
7. HÀN PHI TỬ: bản dịch ra Việt ngữ tác phẩm của Hàn Phi, nhà lý thuyết trứ danh của học phái Pháp Gia Trung Quốc, (2 quyển), Lửa Thiêng, Sài Gòn, 1974.
8. LỊCH SỬ CÁC HỌC THUYẾT CHÁNH TRỊ, Cấp Tiến, Sài Gòn, 1970-1971.
9. ĐỀ TÀI NGƯỜI ƯU TÚ TRONG TƯ TƯỞNG CHÁNH TRỊ TRUNG QUỐC CỔ THỜI, bản dịch Luận án Tiến sĩ viết bằng tiếng Pháp, Cấp Tiến, Sài Gòn, 1969.
10. Tên Họ Người Việt Nam . Mekong-Tỵnạn, California, USA
- Cùng viết với Gs Trần Minh Xuân (2 cuốn 11 và 12 trong danh sách này):
11. Hiệu đính và chú thích LỤC SÚC TRANH CÔNG. Đi tìm tác giả và dụng ý chánh trị trong tác phẩm. Mekong-Tỵnạn, California, USA, 1991.
12. HỒ CHÍ MINH: TỘI PHẠM NHƠN QUYỀN VIỆT NAM. Mekong-Tỵnạn, USA, 1992.

§ Tiếng Pháp:
13. POUR UNE NOUVELLE STRATÉGIE DE DÉFENSE DU MONDE LIBRE CONTRE L'EXPANSION COMMUNISTE, Alliance Pour La Démocratie Au Vietnam, Paris, 1985.
§ Tiếng Anh:
14. THE LÊ CODE: LAW IN TRADITIONAL VIETNAM, bản dịch ra tiếng Anh và chú thích bộ QUỐC TRIỀU HÌNH LUẬT, tục danh LUẬT HỒNG ĐỨC của nhà Lê (1428-1788), Ohio University Press, Hoa Kỳ, 1987 - cùng viết với Gs Tạ Văn Tài và Gs Trần Văn Liêm -
15. A NEW STRATEGY TO DEFEND THE FREE WORLD AGAINST COMMUNIST EXPANSION, Alliance For Democracy In Vietnam, 1985.
16. PERESTROIKA OR THE REVENGE OF MARXISM OVER LENINISM, Việt Publisher, Canada, 1990.
Cùng viết với Gs Stephen B. Young (2 cuốn 17 và 18 trong danh sách này)
17. UNDERSTANDING VIETNAM, do T.D.T. Thomason xuất bản, The Displaced Persons Center Information Service, Bussum, The Netherlands.
18. THE TRADITION OF HUMAN RIGHTS IN CHINA AND VIETNAM, Yale Southeast Asia Studies, The LẠC VIỆT Series, New Haven, CT, USA, 1990.

Bài Đăng Báo:
§ Tiếng Việt:
- 1947-1990: Bài nhận định Tình Hình Thế Giới Trong Tháng Vừa Qua cùng nhiều bài báo về văn hóa & chánh trị Việt Nam trên nhiều tờ báo tiếng Việt ở trong và ngoài nước, như TỰ DO DÂN BẢN, ĐƯỜNG MỚI, MEKONG-TỴNẠN, SAIGON, THẰNG MÕ, HỒN VIÊT, HƯỚNG VIỆT, DIỄN ĐÀN VIỆT NAM, CẤP TIẾN, DÂN QUYỀN, LỬA THIÊNG, QUỐC PHÒNG, ĐUỐC VIỆT, THANH NIÊN ...

§ Tiếng Pháp:
- LA FRANCE ET LE VIETNAMIEN PARTISAN DE LA DÉMOCRATIE LIBÉRALE, trong ĐƯỜNG MỚI, Pháp Quốc, số 4, 1985.
- LE CODE DES LÊ, nhận xét về bản dịch bộ luật nhà Lê ra tiếng Pháp của Ông Deloustal và về niên biểu ấn hành của bộ luật này, trong BULLETIN DE L'ÉCOLE FRANCAISE D'EXTRÊME ORIENT, Quyển LXVII, Pháp Quốc, 1980.

§ Tiếng Anh:
- Cùng viết với Gs Tạ Văn Tài: THE VIETNAMESE LEGAL TEXTS, trong THE LAW OF SOUTH-EAST ASIA, Quyển 1, THE PRE-MODERN TEXTS, do M.B. Hooker xuất bản, Butterworth & Co, 1986.
- LIMITS ON STATE POWER IN TRADITIONAL CHINA AND VIETNAM, trong THE VIETNAM FORUM, Ban Nghiên Cứu Đông Nam Á Châu của Đại Học Yale, Hoa Kỳ, số 6, Hè-Thu 1985.
- THE MING CODE IN VIETNAMESE LEGAL HISTORY: ITS INFLUENCE ON THE VIETNAMESE CODES AND OTHER LEGAL DOCUMENTS, trong MING STUDIES, số 19, Thu 1984.
- ON THE PROCESS OF CODIFICATION OF THE NATIONAL DYNASTÝS PENAL LAWS, trong THE VIETNAM FORUM, Ban Nghiên Cứu Đông Nam Á Châu của Đại Học Yale, Hoa Kỳ, số 1, Đông-Xuân 1983.
- THE PENAL CODE OF VIETNAM'S LÊ DYNASTY, trong STATE AND LAW IN EAST ASIA, để kỹ niệm ngày Ông Karl Bunger trí sĩ, do Dieter Eikemeier và Herber Franke xuất bản, Otto Harrassowitz, Weisbaden, 1981.

Thuyết Trình:
· VAI TRÒ HỒ CHÍ MINH TRONG DIỄN TIẾN CỦA TÌNH TRẠNG NHƠN QUYỀN TẠI VIỆT NAM, HỘI THẢO VỀ ĐỀ TÀI “CON NGƯỜI VÀ DI SẢN CỦA HỒ CHÍ MINH” tại Điện Luxembourg (Trụ sở Thượng Nghị Viện Pháp), trong 2 ngày 25 và 26-5-1990.
· CHÁNH SÁCH QUỐC PHÒNG CỦA CỘNG SẢN VIỆT NAM tại Đại Học Không Quân Hoa Kỳ, Colorado Springs, ngày 11-4-1988.
· KINH NGHIỆM CỦA HOA KỲ TẠI VIỆT NAM , Đại Học Không Quân Hoa Kỳ, Colorado Springs, ngày 12-4-1988.
· CỘNG SẢN VIỆT NAM VÀ NỀN AN NINH Á CHÂU tại Đại Học Monash, Melbourne, Úc Đại Lợi, ngày 17-9-1987.
· LIÊN MINH LIÊN SÔ - CỘNG SẢN VIỆT NAM VÀ NỀN AN NINH CỦA ĐÔNG NAM Á CHÂU, Hội Thảo Bàn Tròn do Hội Đồng An Ninh Quốc Tế tổ chức ở Bangkok từ ngày 6 đến 8-7-1986.
· TRẬN CHIẾN ĐẤU CUỐI CÙNG VÀ SỰ SỤP ĐỔ CỦA MIỀN NAM VIỆT NAM: 1973-1975, Hội Thảo do Đại Học Glassboro tổ chức trong ngày 7 và 8-4-1986.
· VIỆT NAM DƯỚI ÁCH CỘNG SẢN, Hội Thảo tại Đại Học Harvard, ngày 23-11-1981, sau được Đại Học George Mason đăng trong bài nghiên cứu về VN.
· THỰC TRẠNG Ở VIỆT NAM VÀ CÁC NƯỚC ĐÔNG DƯƠNG VÀ GIẢI PHÁP CHO CÁC VẤN ĐỀ DO CÁC NƯỚC ẤY GÂY RA, Đại Học Minnesota, 3-10-1981.
· NGUYÊN NHƠN VÀ HẬU QUẢ CỦA VIỆC MIỀN NAM VIỆT NAM SỤP ĐỔ NĂM 1975, tại Đại Học Washington ở Seattle, 1980.

Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy qua đời vào ngày 28-7-1990 tại Paris hưởng thọ 66 tuổi, mang lại tiếc thương vô vàng cho mọi người mến mộ. Không những cho riêng người Việt, mà ngay cho cả người ngoại quốc. Có lẻ lần đầu tiên một người Việt Nam qua đời , được chính Tổng Thống Hoa Kỳ đương nhiệm - ông George Bush - chia buồn và lên tiếng ca ngợi là một nhân vật tận tụy phụng sự cho dân tộc Việt với tấm gương sáng ngời cho thế hệ mai sau (xem: Nhà Chí Sĩ Thời Đại: Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy / Câu Lạc Bộ Đằng Phương xuất bản năm 2003 / trang 11).



Sunday, May 9, 2010

Ý kiến về cái gọi là "Lời xin lỗi chân thành, món nợ 35 năm đến hồi phải trả!" - conbenho Nguyễn Hoài Trang






Những cực hình man rợ hành hạ giết dân dã man tàn bạo của tập đòan THÚ VẬT csVN

và còn hàng triệu những TỘI ÁC vô tiền khóang hậu của tập đòan ÁC THÚ csVN đã gây ra và vẫn còn đang tiếp tục gây ra trên Đất Nước VN đọa đày hàng ngày, hàng giờ ..

Ai dám nói lũ Bán Nước Diệt Chủng csVN chỉ còn "nợ Dân Tộc VN một lời xin lỗi " dù đó là cái gọi là "lời xin lỗi chân thành" ???

***


Hôm nay, nhân đọc bài viết: "Nhắn anh Bùi Tín: Món Nợ Không Thể Trả " của GS Trần Đình Ngọc trả lời bài viết "Lời xin lỗi chân thành, món nợ 35 năm đến hồi phải trả!" của Bùi Tín, cbQR xin được "post" lại bài thơ con cóc, ngày 18-02-2010 dưới đây thay vài suy nghĩ thô thiển và còn nhiều thiếu sót về cái gọi là "Lời xin lỗi chân thành, món nợ 35 năm đến hồi phải trả !" của tập đoàn chó má CƯỚP NƯỚC, DIỆT CHỦNG, PHẢN QUỐC, BÁN NƯỚC csVN mà bè lũ cò mồi chó ghẻ trong và ngòai nước đã và đang mớm để rửa tội cho lũ chó má csVN cũng như muốn duy trì cái chế độ xuống hàng chó ngựa của chúng.

Hãy nhìn vào những gì bè lũ chó má csVN đã và đang làm suốt 35 năm qua từ sau ngày chúng chiếm tòan cõi Giang Sơn Việt. Hãy sáng suốt để nhìn cho ra lý do tại sao lũ chó ghẻ trong và ngoài nước vẫn cố tình rửa mặt cho lũ TỘI ĐỒ DÂN TỘC csVN.


    "Một lời xin lỗi" CÓ, KHÔNG, ÍCH gì ???

    Thật quá ngây thơ quá dại khờ
    Còn nằm trong mộng ngủ trong mơ
    Còn tin Việt cộng còn o bế
    Còn cố bao che lũ giặc hồ

    Đảng CƯỚP Việt gian, đảng TỘI ĐỒ
    Giết Dân BÁN NƯỚC đại tham ô
    Thờ tàu, đội hán, vô Tông Tổ
    Bán nước buôn nòi thật nhuốc nhơ

    TỘI ÁC Việt gian đã để mồ
    Vẫn còn có kẻ muốn bưng bô
    Quốc dân cả nước còn chưa xử
    Ai dám thứ tha lũ ÁC ĐỒ ?

    TỘI BÁN NƯỚC BUÔN NÒI DIỆT CHỦNG
    "Sai lầm" chi với lũ phi nhân
    Đừng ba hoa giở trò ma cạo
    "Xin lỗi" Quốc Dân để cố quyền

    Bọn khốn kiếp chưa hề biết lỗi
    Lũ cò mồi đã dọn đường hưu
    Cả tay sai bắt bè bê đội
    Cùng hứng tung :"ai chả lỗi lầm" !

    Sai lầm chi cả trăm năm
    Hành hạ, giết chóc, tuyệt mầm Dân Nam
    Vô loài độc ác dã man
    Trên đời chỉ có Việt gian đảng hồ

    Chúng sống khỏe, Dân chết mòn
    Diệt chủng kiểu mới là đòn chúng đi
    Tinh vi rất mực tinh vi
    Chúng còn cai trị, Dân thì diệt vong

    Dân Việt phải nhớ nằm lòng
    Cộng phỉ không phải con Rồng cháu Tiên
    Cộng đảng BÁN NƯỚC GIỮ QUYỀN
    Bám đôn đế Mỹ, lòn trôn chuột tàu

    MẤT DẠY là lũ quy đầu
    Tiếp tay cộng đảng mưu cầu lợi danh
    Mớm cho lũ giặc lưu manh
    "Một Lời xin lỗi Quốc dân đồng bào" !?

    Đúng là cái bọn hưu, ngao
    Ngây ngô ngờ nghệch khác nào nai tơ
    Giặc BÁN NƯỚC, giặc GIẾT DÂN
    Hủy diệt Văn Hóa, Nhục lăng Ông Bà

    Nhục Quốc Thể, Nhơ Nước Nhà
    Mầm non đất nước nhiễm tà, lai căng
    Sa đọa, nhục thể, loạn cuồng
    Ăn chơi hưởng thụ như loài THÚ TÂN

    Bán trôn, bán miệng, bán tâm
    Nhầy nhụa ngụp lặn hoa trăng kiếp LỪA
    Nhục nhằn dưới bóng "thiền" đưa
    Của loài quỷ đỏ không chừa mưu ma

    Còn đâu rường cột Quốc Gia
    Chống giặc cứu nước giữ nhà Việt Nam ???

    Biển Đông loan máu Lạc Hồng
    Tàu giết dân Việt, đảng câm miệng chồn

    Bán nước đảng ngậm bồ hòn
    Từ trên xuống dưới lòn trôn thằng tàu

    NHỤC thay hai chữ "sĩ phu"
    Từ nam chí bắc ngục tù lương tri
    Ngày xưa đứng "dậy mà đi"
    Giết dân hại nước chỉ vì "lầm ta"
    Ngày nay đã thấy rõ ra
    Cộng đảng BÁN NƯỚC lại là "lầm tôi"
    Thương thay cái lũ cò mồi
    Chờ lời "xin lỗi" của loài dã nhân

    Thương thay một lũ "sĩ" đần
    Thậm thò thậm thụt chia phần đảng gian

    TỘI ÁC Việt cộng đã làm
    Uất ngập Non Thái Hờn tràn Biển Đông
    Ố khí bao phủ Núi Sông
    "Một lời xin lỗi" CÓ, KHÔNG, ÍCH gì ???

    Thương thay "hữu trí" vô tri
    Vô tình , hữu ý duy trì đảng gian
    Bám quyền lực, giữ ngai vàng
    Đua nhau BÁN NƯỚC BUÔN DÂN, TỘI ĐỒ .

    Thương thay một lũ vong nô
    Ngàn năm chữ NHỤC trên mồ: Việt gian .

    Quốc dân Việt hãy đứng lên
    Trị tội cộng đảng Việt gian TỘI ĐỒ
    Quốc dân Việt hãy đứng lên
    Diệt Cộng Cứu Nước Xây Nền Tự Do.
(Soi Dòng Sông Chữ Thấy Mù Tâm .. )



Ghi vội cảm nghĩ khi đọc một vài bài viết cũng như nghe một vài kẻ "sĩ" đợi, "sĩ" đờ .."sĩ" chờ tập đoàn THÚ VẬT csVN nói lời "xin lỗi" dân tộc Việt Nam, thay vì phải kêu gọi Quốc dân đồng bào cùng đứng lên lật đổ lũ ÁC THÚ csVN này để tự giải thóat kiếp nô lệ cho mình và giữ gìn toàn vẹn Lãnh Thổ Giang Sơn Việt, rửa NHỤC cho Dân Tộc Việt và xây dựng lại một Nước Việt, không có lũ bán nước hại nòi làm nhơ danh người Việt là lũ THÚ VẬT csVN ..) .

Chân thành cám ơn Quý Anh Chị ghé thăm "conbenho Nguyễn Hoài Trang Blog" .
Xin được lắng nghe những ý kiến đóng góp chia sẻ của quý Anh Chị trực tiếp tại Diễn Đàn Paltalk: 1Latdo Tapdoan Vietgian CSVN Phanquoc Bannuoc .

Kính chúc Sức Khỏe Quý Anh Chị .

conbenho
Tiểu Muội quantu
Nguyễn Hoài Trang
10052010
______________
CSVN CƯỚP NƯỚC, Diệt Chủng, Phản Quốc, BÁN NƯỚC
Diệt Cộng Cứu Nước

Friday, May 7, 2010

Xin Nói Chuyện Với Đức Ông Cao Minh Dung - Nguyễn Phúc Liên

Gioan Nguyễn Phúc Liên
    Kính gửi

    Đức Ông Francesco CAO MINH DUNG,
    Thánh Bộ Ngọai Giao Vatican
    VATICAN (Roma)

    Trọng kính Đức Ông,
Con là Gioan Nguyễn Phúc Liên, 71 tuổi, Quốc tịch Việt Nam, hiện cư ngụ tại địa chỉ: 22 Rue du Prieure, 1202 GENEVA, Switzerland. Con là cựu Chủng sinh và trước đây học một năm cùng lớp Ban Triết học với Đức Ông Nguyễn Văn Phương cũng như với Linh mục Phan Khắc Từ. Xin Đức Ông cứ hỏi Đức Ông Nguyễn Văn Phương để biết thêm Lý Lịch của con.

Trong những tuần gần đây, con rất quan tâm đến việc âm mưu thay thế Đức TGM Ngô Quang Kiệt tại Hà Nội bằng Giám mục Nguyễn Văn Nhơn. Theo những tin tức từ Việt Nam, thì việc thay thế này là do sự cố vấn của Đức Ông theo chiều hướng Cộng sản Việt Nam muốn như vậy.

Con nhận được một Bản Tin từ một Linh mục trọng tuổi từ Huế và con đã phổ biến trên các Diễn Đàn Internet nhiều lần. Linh mục đưa tin sẵn sàng đưa tên tuổi để chịu trách nhiệm về Bản Tin. Đồng thời, trong Bản Tin có nêu tên Cha Giải, Thầy dậy của Đức Ông. Con sẵn sàng yêu cầu Cha Giải khẳng định về tin tức này có xác thực hay không.

Theo Bản Tin, thì Đức Ông thân với CSVN và đã bầy tỏ ý kiến là loại Đức TGM Ngô Quang Kiệt ra khỏi địa bàn Hà Nội theo như lời luôn luôn đòi hỏi của Nguyễn Thế Thảo, Chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân Thành phố Hà Nội.

Đối với con, điều quan trọng là Cộng sản Việt Nam chủ ý phá tan Tinh thần của Giáo dân, Linh mục và Nam Nữ Tu sĩ của Tổng Giáo phận Hà Nội đã can đảm cùng nhau đứng lên từ biến cố Tòa Khâm sứ, Xứ Thái Hà, Tam Tòa và Đồng Chiêm. Đức TGM Ngô Quang Kiệt nhận thấy tinh thần đó là chính đáng, nên Ngài đã đứng mũi chịu sào với việc Giáo dân, Linh mục, Nam Nữ Tu sĩ cùng đòi hỏi CÔNG LÝ ĐỂ CÓ HÒA BÌNH thực sự. Đây không những là niềm hãnh diện cho người Công Giáo, mà còn là việc đóng góp với cố gắng của Dân Tộc trong việc chống BẤT CÔNG, đòi CÔNG LÝ.

Con xin đăng Bản Tin nhận được nguyên văn như sau về Đức Ông: (Bản Tin trên chuyển sang UNICODE do Nguyễn Phúc Liên để độc giả dễ đọc)
    «Anh ....... thân mến,

    Xin cảm ơn Anh đã hồi âm. Chúng tôi sẽ cầu nguyện theo ý của Anh.

    Về Dức Ông Dung (dưới tôi 6 lớp) thì quả thật từ lâu chúng tôi đã rất thất vo.ng. Bản thân cũng như gia đình Dung rất được CS o bế và ngược lại Dung cũng rất thân thiết với cán bộ CS. Mỗi lần về Huế (đặc biệt qua hai đám tang thân mẫu và thân phụ), Dung bao giờ cũng gặp mặt, tặng quà (hàng triệu đồng) cho mấy tên Công an tôn giáo (như trung tá Phạm Đức Thuận và trung tá Nguyễn Hồng Lam ...). Lần đám tang thân mẫu của Dung, Đức Cha Thể ban đầu không muốn chủ sự lễ an táng (như ý Dung mời), nhưng khi nghe Dung nói là chính quyền và công an tôn giáo tỉnh đã đến phân ưu, Đức Cha liền thay đổi thái độ, nhân làm chủ tế.

    Lần Dung về Hà Nội ngày 15-02-2009 cùng với Đức Ông Parolin và Đức Ông Nguyễn Văn Phương, chúng tôi đã nghe rằng Dung có lập trường đẩy Đức Cha Kiệt khỏi Hà Nộị Lần đó phái đoàn không ở Tòa Giám mục mà ở nhà khách chính phủ, và CS đã cho xe vào Huế chở mấy em của Dung ra Hà Nội cho Dung gặp, ở lại nhà khách chính phủ cùng với Dung.

    Mỗi lần về Huế, Dung chỉ gặp Đức Cha Thể và gặp những cha nào có lập trường thỏa hiệp với CS thôi, không bao giờ gặp cha Giải (thầy dạy), cha Lý và ..... (cùng cha bảo trợ, cùng giáo xứ, cùng chủng viện). Thậm chí hôm đám tang thân phụ (ông Cao Minh Hiếu), Dung cũng không mời cha Giải và ...... đồng tế vì sợ liên lụỵ
    ……….

    (Tôi, Nguyễn Phúc Liên, cắt đi hai hàng của Bản Tin quá tế nhị chưa tiện đưa lên Diễn Đàn lúc này. Xin xem thêm CHÚ THÍCH)
    ............ .

    Tôi đồng ý với Anh là một nhân viên ngoại giao của Tòa Thánh phải luôn giữ lập trường trung lập. (đặc biệt là khi liên hệ mới một chính quyền gian trá như CS), và nên để một chức sắc nước ngoài phụ trách Việt Nam thì tốt hơn».
CHÚ THÍCH (của Nguyễn Phúc Liên về hai dòng cắt đi trong Bản Tin):

Hai dòng này liên hệ đến vấn đề đàn bà liên quan đến một người rất thân của Đức Ông Cao Minh Dung. Đây là phạm vi mà Công sản xử dụng như một chìa khóa bắt ép đối thủ phải chấp nhận những điều kiện. Vấn đề này liên hệ đến Linh mục Đỗ Thành Châu (đang sống ở Hoa kỳ). Chúng tôi muốn liên lạc với Cha Đỗ Thanh Châu để chính Ngài khẳng định hay liên lạc với Đức Ông Cao Minh Dung thì tốt hơn.

Theo Bản Tin này, thì Đức Ông chơi thân với CSVN, đồng thời lại thay thế Đức Ông Nguyễn Văn Phương trong nhiệm vụ cố vấn Vatican về bổ nhiệm và thuyên chuyển Giám mục ở Việt Nam.

Vì tha thiết bảo vệ Tinh thần can đảm đứng lên đòi CÔNG LÝ ĐỂ CÓ HÒA BÌNH của Giáo dân, Linh mục, Nam Nữ Tu sĩ Tổng Giáo phận Hà Nội mà Đức TGM Ngô Quang Kiệt đã cùng họ đứng mũi chịu sào, nên con thấy việc Đức Ông cố vấn Vatican bổ nhiệm về Hà Nội Gm Nguyễn Văn Nhơn, một người đã tích cực cùng với Lm Phan Khắc Từ, Lm Nguyễn Tấn Khóa ca tụng Pháp Lệnh Tín Ngưỡng Tôn Giáo, là việc làm hại cho Tinh thần người Công Giáo đã vì ĐỨC TIN và LƯƠNG TÂM mà đứng lên.

Trong Phúc Âm, Chúa Giêsu đã nói:
    «Vậy anh em đừng sợ người ta. Thật ra, không có gì che dấu mà không được tỏ lộ, không có gì bí mật, mà người ta sẽ không biết. Điều Thầy nói với anh em lúc đêm hôm, thì hãy nói ra giữa ban ngày; và điều anh em nghe rỉ tai, thì hãy lên mái nhà mà rao giảng.» (Mt.10, 26-27).
Trong lời hát Lễ Mồ, khi người ta chết, có câu: «Quidquid latet apparebit» (Điều gì giấu diếm thì sẽ hiện ra).

Theo tinh thần ấy, con muốn đề nghị được ĐỐI THOẠI với Đức Ông về một số điểm ẩn hiện để cho được minh bạch trước ánh sáng:

1. Đức Ông có chủ trương loại bỏ TGM Ngô Quang Kiệt ra khỏi địa bàn Hà Nội hay không? Vì sao?

2. Đức Ông góp ý với Vatican cho việc bổ nhiệm Giám mục Nguyễn Văn Nhơn về thay thế Đức TGM Ngô Quang Kiệ phải không ?

3. Nếu Gm Nguyễn Văn Nhơn chiều theo ý Pharisiêu CSVN mà làm hại Tinh thần đòi CÔNG LÝ ĐỂ CÓ HÒA BÌNH của Giáo dân, Linh mục, Nam Nữ Tu sĩ dựa trên căn bản ĐỨC TIN và LƯƠNG TÂM Công giáo, thì Đức Ông có góp ý với Vatican đưa TGM Ngô Quang Kiệ trở lại Hà Nội hay không ?

4. Người ta cũng đồn rằng Đức Ông đang vận động để khi đặt quan hệ Ngoại giao giữa Hà Nội và Vatican, thì Đức Ông sẽ về Hà Nội làm Khâm sứ Tòa Thánh cho trọn bộ quốc doanh từ Hà Nội—Huế--Sài gòn. Tin đồn này có nền tảng hay không ?

Con xin được thảo luận, đối thọai với Đức Ông trong tinh thần sự thật đơn sơ như con trẻ mà Chúa Giêsu của chúng ta khuyên trong Phúc Âm.

Trọng kính Đức Ông,

Con: Gioan Nguyễn Phúc Liên

22 Rue du Prieure

1202 GENEVA

Tel. : 0041 22 731 82 66 0041 22 731 82 66 hoặc 0041 22 738 28 08 0041 22 738 28 08

Mobiles : 0041 79 766 65 83 0041 79 766 65 83 hoặc 0041 79 766 65 72 0041 79 766 65 72

E-Mail : drlienwimimpact@yahoo.com hoặc wimimpactdrlien@yahoo.com

Chú Thích: Lá Thư này sẽ được gửi bằng TỐC HÀNH và BẢO ĐẢM qua DHL để có bằng chứng chính Đức Ông đã ký tên nhận được (REGISTERED EXPRESS DHL LETTER).


Thursday, May 6, 2010

Nhắn anh Bùi Tín: Món Nợ Không Thể Trả - GS Trần Đình Ngọc

GS Trần Đình Ngọc

Thưa anh Bùi Tín,

Sau đây là những gì tôi suy nghĩ sau khi đọc bài: “Lời xin lỗi chân thành, món nợ 35 năm đến hồi phải trả” của anh.

Trước hết, tôi phải nói với anh điều này. Vài người bạn già (cỡ anh với tôi) bảo tôi khi tôi do dự nửa muốn nửa không viết bài này, rằng Bùi Tín đã đi theo Hồ chí Minh rất lâu, gần suốt cuộc đời, đã được thăng đến Thượng Tá, Phó Tổng biên tập báo Quân đội Nhân dân, được tín nhiệm cho ra ngoại quốc làm một kẻ trá hàng (ý kiến của họ) hòng giúp đảng CS Việt nhiều chuyện quan trọng. Thân phụ anh Bùi Tín là ông quan Thượng Thư Bộ Lại Bùi bằng Đoàn khi xưa hết lòng với Pháp thực dân từng báo cáo cho Pháp giết cơ man là người chống Pháp giành Độc lập cho Việt Nam, rồi cộng tác với Hồ, nếu Hồ giết Phạm Quỳnh (cùng con cả là Phạm Giao, để Trần huy Liệu cướp vợ Phạm Giao, chơi chán đưa ra Hà Nội giao cho Hồ vì Hồ rất thích chị hoa khôi Đồng Khánh này); giết Ngô đình Khôi (và con trưởng), thì không cách chi Hồ dung thứ Bùi bằng Đoàn, một Việt gian cỡ bự. Nếu Hồ làm phước, lại cho Bùi làm hai nhiệm kỳ Chủ tịch Quốc Hội của CS Việt gian thì chắc là phải có dấu hỏi đặt ở ngay sau. Những vụ này, anh và nhiều người khác rành hơn tôi vì khi HCM cướp công toàn dân ngày Tổng khởi nghĩa 19-8-1945, tôi mới 13 tuổi đầu. Nhờ bố tôi soi sáng cho tôi biết từ ngày ấy nếu không tôi cũng ân hận ngàn đời vì đi theo HCM buôn dân bán nước.

Với cái cốt lõi của anh như thế, người Quốc gia trông mong gì sự hồi tâm phản tỉnh của Bùi Tín để mà thảo luận? Ở đây tôi không muốn nêu lại những gì anh đã viết trong mấy cuốn sách vô giá trị, viết theo cảm tính của anh như Mặt thật, Hoa xuyên tuyết, Mây mù thế kỷ (mà tôi chưa đọc, chỉ coi vài trích đoạn trên báo, Net) một mặt anh khinh bỉ Quân lực Việt Nam Cộng hòa và chính quyền Vì dân, từ Dân, do Dân hoàn toàn Dân chủ, Tự Do của miền Nam, nhất là Tổng Thống Ngô dình Diệm, một lãnh tụ Quốc gia yêu nước thương dân khác hẳn cáo Hồ mà anh vẫn đội lên đầu mà không vạch ra những sai lầm chết người, những tàn ác dã man giết cả thảy 10 triệu đồng bào Việt, máu chảy thành sông, xương chất cao như núi Ba Vì của giặc Hồ, hàng triệu người thân của nạn nhân còn sống nhưng cũng như đã chết, hàng núi của cải, tài sản vừa bị thiêu rụi trong chiến tranh do giặc Hồ gây ra, vừa bị bóc lột chiếm đoạt ngang nhiên do cán bộ tham nhũng, độc ác của giặc Hồ lấy cớ là “giải phóng” và “cách mạng” lột hết của Nhân dân chỉ còn cái khố, đến nỗi ai nhìn vào xã hội VN ngày nay cũng đau xót, dù là người ngoại quốc không chút máu mủ với dân tộc Việt Nam.

Nhưng tôi nghĩ chúng ta, những người Việt Nam sinh trưởng trên giải đất hình chữ S, có quyền đồng đều, tôi xin nhắc lại là đồng đều, trên mảnh đất ông cha chúng ta đã bao đời đổ xương máu, mồ hôi lập nên, chúng ta không nói ra những sai quấy, bạo hành của nhóm người cầm quyền - cả đôi bên - thì ai nói đây? Và tại sao chúng ta phải tránh né? Nếu chúng ta không nói ra những sự thật lịch sử thì chỉ năm, mười năm sau con cháu chúng ta sẽ không còn biết đâu là sự thật lịch sử nữa.

Thêm vào đó, người CS chuyên môn sửa lịch sử theo ý họ, họ bất kể sự di hại thế nào nhưng phải làm sao “thần thánh hóa” những gì thuộc về họ và “tồi tệ hóa” những gì của đối phương. Chắc anh không lạ khi xưa cán bộ CS tuyên truyền ở miền Bắc: Tàu bay của Mỹ là tầu bay giấy, xe tăng bằng cạc-tông. Mất mùa là tại thiên tai. Được mùa là tại thiên tài đảng ta v.v… Sơ qua thế đủ biết người CS nghĩ và làm như thế nào.

Nhưng thế giới ngày nay, mọi người rất ghét sự trí trá, gian dối, bịp lừa. Một đứa trẻ ở Âu châu hay ở Hoa Kỳ đã bị cho là nói dối thì không đứa trẻ nào chơi với nó nữa. Thày cô khinh nó và cha mẹ anh chị em nó cũng khinh nó. Đứa trẻ sẽ cô độc do chính sự gian dối của nó gây ra. Ngược lại, những đứa trẻ thành thực không nói dối là những đứa trẻ ai cũng yêu mến, ai cũng tin tưởng, chúng nói cái chi là người ta tin ngay. Tôi xin anh, với lương tâm một nhà báo, anh đừng nên phát ngôn điều gì mà lương tâm anh thấy xấu hổ. Anh viết rằng dù thế nào ông Hồ chí Minh cũng là một anh hùng dân tộc đã giải phóng dân tộc khỏi ách đô hộ của ngoại bang. Xin anh trả lời cho tôi những câu hỏi sau đây:

1. Nước Việt Nam có cần một cuộc chiến tranh tiêu thổ và ý thức hệ mà HCM gây ra không? Một cuộc chiến tranh, trước sau chết 10 triệu người!

Theo tài liệu trong các Thư viện quốc tế, các nước châu Á Thái bình dương, sau thế chiến II, không phải chiến tranh mà giành được độc lập, tự chủ:

- Malaysia không phải đánh nhau, chính phủ Anh trả độc lập cho nước này năm 1957.

- Phi luật Tân, Hoa Kỳ trả độc lập năm 1946.

- Syria và Liban, do Pháp trả độc lập năm 1946.

- VN, Ai lao và Cao miên do Pháp trả độc lập bằng Sắc lệnh của Tổng thống Pháp Vincent Auriole năm 1949 tức chỉ hơn 2 năm sau khi Hồ Chí Minh (HCM) tuyên chiến với Pháp ngày 19-12-1946. Cuộc chiến 1945-1954 gây thương vong cho cả triệu nhân mạng đôi bên Pháp và Việt Minh mà lẽ ra tránh được.

- Hai nước Ấn và Pakistan do Anh trả độc lập năm 1947.

- Miến (Myanmar) , Sri Lanka, Palestine, 3 nước này đều thuộc Anh đô hộ và Anh đã trả độc lập năm 1948.

- Indonesia do Hà lan trả độc lập năm 1949.

- Nhiều nước ở châu Phi, Mỹ latinh cũng đều như vậy, họ được độc lập mà không tốn một giọt máu, một viên đạn, trong khi VN chết trước sau 10 triệu người (4 cuộc chiến), tài sản nhân dân mồ hôi nước mắt nhiều triệu đời người thiêu ra tro!

- Đó là công lao lớn nhất của Hồ chí Minh và đảng CS đã làm cho dân tộc!!!

Xin anh Bùi Tín trả lời chính xác và công bình câu hỏi này.

Nếu không có HCM, (nước ta quá vô phước có y) cựu hoàng Bảo đại, vốn được người Pháp tín nhiệm, cũng sẽ được Pháp trả Độc lập qua tay Bảo Đại và cái dịch CS, vốn là cái mà toàn dân ghét, sẽ không có người du nhập vào đất nước khốn khổ của chúng ta như mọi người thấy từ 65 năm nay.

Không gây chiến tranh ắt không có Điện biên Phủ, sau đó sẽ không có cuộc cưỡng chiếm miền Nam VN, không có hơn 1 triệu tù cải tạo, không có hơn nửa triệu đồng bào liều thân ra đi vì trốn giặc Hồ và làm mồi cho cá biển Đông, tôi với anh cũng không phải lưu vong nơi xứ người, đất nước không phải là một cái thùng rác như hiện nay, nửa triệu phụ nữ không phải làm đĩ bán trôn nuôi miệng, nạn Hán hóa không đè nặng lên con tim mỗi người VN như hiện tại và VN không phải là một trong 10 nước nghèo đói, khốn khổ, vô văn hóa, văn minh nhất hành tinh!

Mà HCM được cái gì? Chẳng qua y được mấy chục con đàn bà để chơi cho thỏa, nay cũng chết tan xác rồi! Còn dân tộc thì khốn nạn! Xú danh của y lưu truyền đến muôn đời! Y thực là quá dại! Hãy coi dân nguyền rủa Lê Chiêu Thống ra sao thì HCM cũng bị y như thế! Anh chống mắt mà coi!

(Cũng nói thêm: 1989-1991 Đế quốc Liên Sô tan rã, 22 QG bỏ chủ nghĩa CS là:

Đông Âu: Ba lan, Hung, Tiệp, Đông Đức, Albanie, Bulgarie, Roumanie và 15 nước thuộc Liên bang Sô Viết. Xương máu tốn rất ít, chỉ mấy lãnh tụ CS bị đền tội, dân chúng sung sướng, kết quả thu được là vô giá)

Vì sao HCM phải gây ra chiến tranh?

- Vì Hồ phải tuân lệnh Liên Xô và Trung cộng, làm tên xung kích cho quốc tế CS đệ tam..

- Vì có chiến tranh mới đẻ ra “cách mạng” theo chủ thuyết của Lenin; “cách mạng” mới đẻ ra đấu tranh giai cấp, đấu tranh giai cấp mới dễ dàng thực thi chủ nghĩa cộng sản, văn hoa hóa nó gọi là xã hội chủ nghĩa để người ta không nhờm gớm.

- Xã hội Chủ Nghĩa hay Cộng sản chủ nghĩa do Liên Xô và Trung cộng muốn xích hóa cả toàn cầu, Việt Nam là cái nôi, quân đội Nhân dân Việt Nam là lính đánh thuê, xung kích quân đi tiên phong, Trung cộng yểm trợ mọi mặt để “xuất khẩu” chủ nghĩa này đi khắp vùng Đông Nam Á châu và thế giới. Xã hội chủ nghĩa cũng chủ trương bần cùng hóa nhân dân vì nhân dân có đói nghèo thì:

- Mới có sẵn lính để trường chinh chết cho chủ nghĩa CS.

- Vì CS còn cần rất nhiều thanh niên chết cho lá cờ Đỏ (Đỏ một sao vàng cũng được vì cùng anh em với Đỏ 5 sao vàng, 1 lớn bốn nhỏ, hay Đỏ với búa liềm). HCM mơ tưởng một đại đồng thế giới không còn biên giới tổ quốc, tổ cò chi cả mà chỉ còn một QG CS cho toàn cầu, lãnh tụ CS, trong có Hồ, cai trị.

- Cán bộ CS được phép bóc lột công khai dân chúng để làm giầu, cán bộ cần phải giầu từ đời cha tới đời con và cha truyền con nối mới trung thành với đảng, bảo vệ đảng vì bảo vệ đảng là bảo vệ tài sản của chính cán bộ và con cháu cán bộ. Cán bộ được ưu đãi vì cán bộ trung thành với đảng, dân bị cán bộ bóc lột công khai có đảng chống lưng nên dân càng ngày càng nghèo, dân hết đường thì dân sẽ xung phong ôm bom lao vào xe tăng địch nhiều hơn. Cán bộ và con cháu cán bộ quá giầu, càng giầu càng sợ chết nên phải sống để hưởng! Tâm lý này thông thường không có gì khó hiểu cả.Vì vậy đừng ngạc nhiên khi thấy dân trong nước càng ngày càng nghèo và những vụ cướp đất, cướp ruộng, cướp nhà của dân do cán bộ gây ra càng ngày càng nhiều.

2. Cuộc cải cách ruộng đất (1950-1956).

Anh Bùi Tín viết nhiều nhưng thức giả miền Nam và cá nhân chúng tôi nghĩ anh chỉ đánh VGCS qua loa, phủi bụi, lấy lệ. Anh bỏ đi những sự thật lịch sử cực dữ tợn và dã man để chạy tội cho HCM và đảng CS. Khi chúng tôi nêu những điều đó ra thì anh lại bảo: ”Tôi, tức Bùi Tín, đã đứng về phía người Quốc gia nhưng người QG xô tôi trở lại với CS”.

Thực ra chúng tôi không xô anh trở lại hàng ngũ VC, trái lại chúng tôi rất mừng đã có thêm một người bạn, một chiến hữu chống VGCS đắc lực nhưng những hàng chữ của anh, kiểu nửa nạc nửa mỡ, nửa chân trong chân ngoài người nào đọc cũng thấy hoặc là anh trá hàng, hoặc là anh chưa phản tỉnh thật sự về với chính nghĩa dân tộc. Lời bàn ở đầu bài này của mấy ông bạn già của tôi chính là từ những bài viết của anh.

Người Quốc gia từ sau 1945 bị HCM và đảng VM giết hại quá nhiều, họ muốn đánh lại VM như hai khu tự vệ Bùi Chu Phát Diệm nhưng lực họ còn kém trong khi VM được CS quốc tế yểm trợ, nhất là Liên Xô và Trung cộng, họ phải nhờ vào lực lượng Pháp ở Việt Nam để sống còn và tổ chức quân đội để chống VM. Họ không có cách nào khác hơn vì họ biết rõ HCM là cộng sản đệ tam quốc tế. Chính bố tôi đã bảo tôi việc này khi bố con tôi đi coi người Hải Phòng đón tiếp HCM xuống Cảng (khoảng 21-8-1945) để hiệu triệu dân Cảng cùng VM chống Pháp.

Trở lại với Cải Cách Ruộng Đất, anh hãy đọc lại những tài liệu đứng đắn về cuộc Cải Cách Ruộng Đất trong 5, 6 năm trời ở miền Bắc và Bắc Trung Việt. Là một cấp lớn trong QĐ và làm báo như anh, không thể nào anh không biết.

Tại sao phải giết cả nửa triệu nông dân bị qui chụp là địa chủ, phú nông? Nhiều tài liệu nói rằng đó là lệnh từ Moscow và Beijing, phải giết 5% nông dân Bắc Việt cho đủ số nên có nhiều người không phải là địa chủ, phú nông, cường hào, ác bá cũng bị “kích” lên để giết cho đủ số lượng ấn định. Nhiều người có công với HCM và kháng chiến chống Pháp như bà Nguyễn thị Năm (Cát hanh Long, chính tôi đã lui tới nhà bà ở đường Cầu Đất - Paul Doumer - Hải phòng, một tiệm buôn bán sắt rất lớn, chơi với cháu của bà thời gian 1943-1946). Bà đã ủng hộ cho Việt Minh (VM) dịp tuần lễ vàng cả tấn vàng, đã dâng hàng nghìn mẫu ruộng nhưng HCM vẫn đem ra bắn đầu tiên trong đợt I CCRĐ.

Nửa triệu nông dân, cả những người đã có công với VM, đang làm chức việc Hành kháng tỉnh, huyện, xã và công an đã bị nhục hình, chôn sống chỉ để chìa đầu lên, cho trâu cày vào đầu cho chết chậm, bị chặt đầu, bị bắn trong khi họ không có tội gì, hay chỉ có tội đi theo kháng chiến, nhường cơm sẻ áo cho lính ông Hồ, cho con trai con gái thoát ly gia đình phục vụ trong các đoàn thanh niên xung phong, phụ nữ cứu quốc. Có người trước khi bị bắn còn hô: “HCM muôn năm, VN độc lập muôn năm!”

Thế là nghĩa làm sao, anh Bùi Tín? Con người, lại là đồng bào, mà đối xử với nhau ác độc hơn chó sói, beo, hùm, sư tử như vậy có nên được gọi là người hay không? (Nhà văn Dương thu Hương dám viết cả cuốn sách tôn vinh HCM như một vĩ nhân thế giới và dân tộc!!. Tôi thật phục sự can đảm và trơ trẽn của chị!)

Toàn dân tin theo HCM từ ngày 19-8-1945 mà chỉ dăm năm sau, ông ta đang tâm giết 5% theo lệnh quan thầy để làm cuộc “cách mạng”. “Cách mạng” này là cách mạng gì vậy anh Bùi Tín, không giết sống 5% nông dân vô tội này thì cuộc “cách mạng” Liên xô không thành được sao? Máu của người VN sao đổ dễ dàng quá thế? Ở Hoa Kỳ, người ta rất khó lòng và tốn kém để giết một con chó già nuôi lâu ngày, nay bệnh hoạn không thể sống được nữa. Trẻ con người lớn trong gia đình rất đau đớn khi phải giao nó cho thú y sĩ chích thuốc ngủ, có đứa trẻ khóc thương nó cả tháng! Thế mà ở VN, HCM giết cả triệu người đồng chủng dễ dàng hơn người Hoa Kỳ giết một con chó! Quả là một bậc vĩ nhân có một không hai!

Polpot giết gần 2 triệu người Cam bốt chắc cũng chỉ ác độc dã man đến thế! Mà tại sao phải giết? Giết người Việt chỉ vì phải theo lệnh quan thầy là Liên Xô và Trung cộng, giết như thế để làm gì? Xin anh trả lời cho biết. Anh có biết Luật pháp Anh-Mỹ-Pháp, khi giết một người thì phải giả tử nghĩa là lên ghế điện ra sao không?

Ngoài nửa triệu nạn nhân, còn cả triệu thân nhân vợ con, chồng con, cháu chắt cũng bị giết từ từ vì phong tỏa kinh tế họ, vì những đau thương tinh thần không có bút nào để tả. Vợ nhà thơ Hữu Loan là một thí dụ điển hình. Cuốn sách nhỏ: ”Ba người khác” của Nhà văn Tô Hoài chính là một nhân chứng sống dù nó chỉ nói lên được một phần nghìn những sự thực. Đội xuống thôn ấp kiếm rễ, chuỗi tố cáo địa chủ để giết người vô tội nhưng chính các đội là những ổ dâm đãng, bậy bạ, tạo ra những lý do không-có-lý-do để giết người bằng được theo lệnh trên. Trường Chinh, TBT đảng đã nhẫn tâm giết cả cha mẹ dù hai ông bà này chưa bao giờ là địa chủ. Tội ác của HCM và đảng CS lấy bút nào mà tả cho hết được? Một lời xin lỗi với anh là đủ?

Rồi sau đó, nỗi ai oán của nhân dân ngùn ngụt bay lên làm mờ cả nhật nguyệt, HCM hèn nhát cho Trường Chinh ra nhận tội có sai lầm trong CCRĐ, nói rằng chính sách thì không sai lầm nhưng cán bộ tắc trách.

Giết nửa triệu người vô tội, đày đọa cả triệu toàn đàn bà con nít vô tội mà khi phát giác chỉ có một lời xin lỗi? Tôi nghĩ chỉ có chế độ của HCM mới có. Và ngày nay, anh Bùi Tín, anh lại bắt chước cái mửng đó để bảo VGCS xin lỗi nhân dân vì món nợ đã đến ngày phải trả! Người miền Nam rất lạ cho cái sự suy nghĩ nhảm nhí của anh, đã làm đến Thượng tá và Phó TBT báo Quân đội nhân dân.

Một bọn cướp đột nhập vào nhà anh, lấy thí dụ, giết mấy đứa con anh, cướp của, phóng hỏa đốt nhà anh khiến vợ chồng anh dở sống dở chết, nay có người bắt bọn cướp xin lỗi vợ chồng anh. Anh nghĩ được không, anh tha tội cho chúng không? Đây không phải là một gia đình bị chết mà 10 triệu người bị chết thảm thương, thân nhân còn sống nay vẫn chưa quên được những mất mát đau đớn đó!

Hitler là một nhà độc tài khát máu Đức đã làm mưa làm gió từ 1940-1945 ở Âu châu, một tay y giết không ít hơn hàng chục triệu người Âu châu nhưng y chỉ giết những giống người không phải người Nhật nhĩ Man (Đức). Trái lại, y rất trân trọng và bao bọc ngưòi Đức.

Còn HCM, y chỉ giết người Việt Nam nhưng sợ và quỳ mọp trước ngoại bang. Chửi Mỹ tàn tệ vậy vì lúc đó Liên Xô và Trung cộng ghét Mỹ nhưng nay lại nịnh bợ o bế Mỹ hơn ai hết!

29-4-2010
GS Trần Đình Ngọc
(cựu Dân Biểu VNCH)
----------------------------

Bài 2

Anh Bùi Tín,

Ở bài I, tôi đã đưa ra những câu hỏi để anh trả lời:

- Ông Hồ chí Minh có cần gây ra một cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn, bì oa chử nhục để phục vụ tham vọng của hai đế quốc Cộng sản Liên Xô và Trung cộng là xích hóa toàn cầu không? Một học sinh VN lớp 6 có ý thức cũng trả lời là Không. Hoàn toàn Không!

Vì sao? Vì nếu không tốn một giọt máu, một viên đạn mà cũng có Độc lập, tự do, hạnh phúc thì ăn cái gì mà ngu đến nỗi phải đem hàng triệu quân đi “nướng” chứ? Một mạng người cũng là quí, nó không quí với Hồ chí Minh (HCM) và đảng Cộng sản Việt mình nhưng rất quí cho chính đương sự và gia đình đương sự. HCM có hiểu được điều đó không? Xua dân vào chỗ chết thì dễ muôn vạn lần hơn là chính mình xung phong vào chỗ chết! HCM đã bao giờ sẵn sàng ôm bom làm gương chưa hay chỉ xúi trẻ ăn cứt gà, xua chó vào bụi rậm? Võ nguyên Giáp và các tướng của y cũng như thế! Anh đã từng đi lính đánh thuê cho HCM và Quốc tế CS, lên tới chức Thượng tá ắt anh quá rõ!

Một thí dụ rất tầm thường. Đứa trẻ phá cái tổ chim bắt ba con chim con. Vì còn quá nhỏ, ba con con này chỉ vài ba ngày thiếu bố mẹ, thiếu ăn thiếu uống là chết. Hai con bố mẹ đứng trên cành, cạnh cái tổ, kêu lên những tiếng nhớ thương thảm thiết rồi người ta khám phá ra chúng tuyệt thực và chết ở góc vườn. Loài vật còn thế huống chi người. Quen dã man với đồng chủng, HCM không hề biết đến nỗi đau xót của người thân khi nhìn thấy cha mẹ, ông bà, con cháu mình bị chôn sống và bị hành hình. Chắc anh Bùi Tín, với chức nghiệp là nhà báo và Phó tổng biên tập, hẳn đã nhìn thấy những cảnh thực đấu tố CCRĐ, Hồ đang đứng nhìn cảnh đấu tố với con mắt ngạo mạn, thỏa mãn và chính tay y xúc đất lấp huyệt chôn sống nông dân vô tội, hầu như 100% là những nông dân đã hoan hô y như một vị đại anh hùng dân tộc ngày 19-8-1945 và phất cao lá cờ máu của y, thề chết cho y và đảng Việt Minh!

Tại sao lại phải giết người? Và những cái chết đau thương đó đã mang lại đất biển để mở mang bờ cõi, vàng bạc châu báu, danh dự tiếng tăm hay những lợi lộc lớn lao gì cho đất nước chúng ta, cho cuộc đổi đời mạt rệp mà HCM và thủ hạ cường điệu là cuộc “cách mạng”?

Không mang lại cái gì hết hay chỉ mang những đau thương, tang tóc cho cả triệu gia đình, mang sự căm hờn, chia rẽ vì bọn sát nhân, thủ hạ của Hồ như những đội trưởng Bối (Tô Hoài), đội trưởng Đình, đội trưởng Cự, nữ đội trưởng du kích kiêm nhân tình của Bối, Đình, Cự như cái Duyên, cháu rễ chuỗi như cái Đơm nhờ được dịp chó nhảy bàn độc, làm mưa làm gió, làm ông trời (nhất đội nhì trời) trong các thôn ấp tha hồ dâm loạn, cướp của giết người. Đó là một phía của sân khấu và phía kia là hàng trăm nông dân, già có, trẻ có đau thương ngơ ngác, hoang mang, không thể hiểu được vì sao mà lại có cái cuộc “cách mạng” đất lở trời long quá vô lý này?

Vô lý hiển nhiên là những kẻ bị giết chẳng phạm một tội gì đối với chính phủ, nhà nước và nhân dân cả! Còn những địa chủ bị mang ra bắn, như địa chủ Thìn, như cha mẹ của thằng đại bất hiếu Tổng bí thư Trường Chinh? Nào những người này giầu có gì! Cha mẹ của Trường Chinh Đặng xuân Khu đang ở Hành Thiện, Xuân Trường, Nam định, đã già, chỉ có mấy sào ruộng cho cấy rẽ lấy thóc ăn bị chính thằng con khốn nạn quy chụp là địa chủ cho đội giết. Giả sử họ giầu thực nhưng giầu bằng cách làm ăn lương thiện, không tham nhũng hối lộ, bóc lột dân nghèo thì cái giầu ấy sao lại bị qui kết thành tội được? Giầu như những lãnh đạo đảng VC hiện nay, hàng vài tỉ đôla mỗi tên, mới là giầu ăn cắp của dân, nếu những địa chủ thời đó bị bắn một lần thì bọn Tư bản Đỏ ngày nay đáng bị bắn một ngàn lần! Tôi nói như thế anh thấy đúng hay sai, anh Bùi Tín?

Địa chủ Thìn trong “Ba người khác” một nhân vật tượng trưng của Tô Hoài cho hàng trăm ngàn địa chủ thực khác ở ngoài đời, chỉ đủ bát ăn nhưng không còn ai nữa thì bắt buộc rễ, chuỗi thôn Chuôm là anh Diệc và con gái anh ta là cái Đơm (một trong những nữ hộ lý hay nhân tình của các đội Bối, đội Cự và đội Đình) phải tố và kích lão Thìn lên thành địa chủ để mà giết. Giết để có cái báo cáo lên huyện, báo cáo về Trung ương! Đội không báo cáo được thì mất chức hoặc là bị đưa ra đấu tố và bị giết, chết thay cho địa ác. Muốn đàng nào?

Diệc không phải ai xa lạ mà chính là con rể lão Thìn và cái Đơm là cháu gọi lão Thìn bằng ông ngoại. Đây là nguyên văn một đoạn ngắn trong Ba Người Khác, tôi đây là Tô Hoài:

Lão Thìn lả người, lăn quay ra giữa bãi. Đống văn tự, giấy tờ, sổ sách chữ Tây, chữ ta trong nhà lão khuân ra đốt, khói um lên, tàn than lả tả bay như đàn bướm đen. Nhưng tiếng quát xô lên: Không cho nó nằm! Nó nằm sập gụ cả đời rồi! Bắt nó đứng! Bắt nó. Địa chủ Thìn bị xốc lên, trói hẳn vào cái cọc đã chôn sẵn. Đầu lão ngật đi. Chốc chốc lại ỉa tháo ra cái quần đã tụt vòng hẳn xuống hai ống chân bằng cái ống nứa.

… Giữa những tiếng lao nhao hô đả đảo, bác Diệc run run bước lên. Mặt tái ngoét như con gà cắt tiết. Tổ dân quân mấy xóm dàn hàng ngang. Đơm khoác súng, đứng hàng đầu. Duyên mặt đỏ hây, cúp mắt nhìn xuống hai đầu vú đương cương cong tớn. Thấy thế tôi mới nhớ vẫn Duyên ấy. Đơm thì nước mắt ròng ròng nhìn lên tôi. Có phải những giọt nước mắt nói: ông em ngày trước đấy.

Bác Diệc chỉ tay vào địa chủ Thìn:

Tao thù mày! Tao thù …
Rồi khóc rống lên, chạy xuống …

Chỉ một cảnh ngắn cho thấy cái man rợ không bút nào tả xiết của HCM. Diệc phải đấu tố bố vợ, người đã giúp đỡ Diệc rất nhiều lại gả con gái cho. Cố gắng lắm mới nói được: Tao thù mày, tao thù mày rồi khóc rống lên, chạy xuống. Khóc rống vì cái lương tâm ông trời phú cho chưa ngủ hoàn toàn như đám đội, còn nghĩ ta đang làm điều quá sai quấy. Cái Đơm phải theo đội để đấu tố ông ngoại nhưng nước mắt ròng ròng. Có còn hoạt cảnh nào của nhân gian nói lên được cái đểu cáng, phi đạo đức, phi luân lý và mọi rợ hơn những cảnh đấu tố CCRĐ này?

HCM cắm đầu làm theo lệnh Liên Xô và Trung cộng nhưng không hề nghĩ đến nỗi đau xót cùng cực của nhân dân. Có lẽ Hồ chí Minh muốn tập tành cho mọi người dân Việt, giới làm báo như anh thì càng thấm nhuần, là học tập thói man rợ giết người và đày đọa người càng độc ác càng được bình nghị là xuất sắc. Đến nỗi có những đứa con gái phải tập chửi bố nó cho nhuyễn, vu vạ cho bố nó đã ngủ với nó bao nhiêu lần để được đội cấp cho mẫu ruộng nhất đẳng điền của làng như nữ đội trưởng du kích Duyên.

Nguyễn văn Đô, tên thực việc thực, bí thư huyện ủy Ô Cầu Giấy ngoại thành Hà Nội, ngay đợt CCRĐ đầu, bị đứa con gái lên tố là bị cha hiếp 177 lần. Đô trả lời: Thưa bà, bà còn quên, tôi đã hiếp mẹ bà để đẻ ra bà đấy!

Những chuyện ấy chỉ có trong Xã hội chủ nghĩa man rợ của HCM, không đâu khác, và chỉ nghĩ tới, là con người, ai cũng ói đến mật xanh mật vàng. Luân lý, đạo đức hàng ngàn năm do ông cha tập thành cho dân tộc ta nay bị HCM và đảng Việt cộng phá tan tành. Con người không còn là con người mà đã trở thành những con thú, thua con thú!

Trở lại với các nước Á Phi tôi nêu ra ở trên đều được các đế quốc đã đô hộ họ là Anh, Pháp, Mỹ, Hà lan, Tây ban Nha v.v… trả Độc lập tự chủ toàn vẹn lãnh thổ không tốn một giọt máu, lại được mời vào các Khối Thị trường chung hay Thịnh vượng chung do các nước lớn này đứng đầu. Như nước Việt Nam sau khi được trao trả Độc lập vào năm 1949 bằng Sắc lệnh, Tổng Thống Pháp Vincent Auriole cũng mời Việt Nam gia nhập Khối Đông Dương do Pháp đứng đầu.

Đó không phải là cái may của dân tộc nhưng là một xu thế chính trị thời đại sau Thế chiến II. Chế độ thực dân đế quốc đã cáo chung, các quốc gia dân tộc đều được bình đẳng với nhau (Hội nghị Bandung).

Nếu những cuộc đấu tranh đòi Độc lập ấy, không phải gây chiến tranh, tiết kiệm được một mạng người, dù chỉ một mạng thôi, cũng là quí. Trong trường hợp nước Việt Nam, HCM và đảng VC có thể tiết kiệm được nhiều triệu nhân mạng cho dân ta. Đáng tiếc cho Hồ chí Minh và đảng Việt Minh và thương thay cho những đồng bào Việt miền Bắc mê lầm nghe theo HCM cũng như những đồng bào kém may mắn miền Nam, vì phải chống lại sự xâm lược thô bạo từ miền Bắc mà phải chết ! Trong số này có những người thân trong gia đình và bè bạn của tôi!

Một cơ hội nghìn năm một thuở như ngày 19-8-1945, nếu là người có thực tâm yêu nước, không xung phong làm tay sai cho đế quốc CS, HCM có thể làm cho nước ta ngày nay không thua gì Hoa Lục khiến Mao trạch Đông và nhiều lãnh tụ châu Á phải nể vì, đất nước phú cường, nhân dân hạnh phúc không thua gì các nước Âu châu và Mỹ châu. Nhưng tiếc thay Hồ đã quá mê muội với chủ nghĩa hoang tưởng Marx-Engels, không còn nhìn thấy gì khác, lại sẵn tính ích kỷ, máu tham, ham hưởng thụ, chỉ muốn vơ vào cho cá nhân mình và đảng của mình, cam tâm làm nô lệ cho những thế lực CS quốc tế mà nước VN bị trầm luân trong chế độ lỗi thời, đưa con người xuống tận cùng của đống xình, phí phạm biết bao nhiêu tâm lực, tài hoa, tim óc, của cải của nhân dân!.

Giải Pháp Cho Cả Hai Miền Đều Phồn Vinh thực sự

Sau Hiệp định Genève 20-7-1954, nếu HCM và đảng VC chỉ lo phát triển kinh tế cho miền Bắc, không quấy rối miền Nam thì cả hai miền đua nhau tiến bộ về các mặt Kinh tế, Nông nghiệp, Giáo dục, Y tế, Xã hội, Giao thương, Ngoại giao và nhiều mặt khác. Không cần phải suy nghĩ nhiều, người ta cũng thấy một tương lai huy hoàng mở ra cho nước Việt Nam. Khi chính mình cố gắng vươn lên thì các nước đàn anh của đôi bên sẽ không ngại ngùng viện trợ. Công ăn việc làm nhiều, dân giầu nước mạnh, trẻ em nào cũng được cắp sách đến trường vì miễn học phí (trong Nam trường công đã miễn từ 1954) các trường Cao đẳng và Đại học đào tạo chuyên viên cho các ngành. Tương lai huy hoàng chắc chắn mở ra với nước Việt Nam mà người chết vì chiến tranh, nhà bị thiêu hủy vì chiến tranh như trước 5-1954 không còn nữa.

Trước 30-4-1975, Sàigòn đã làm được xe hơi LaDalat, mọi cơ phận do VNCH sản xuất ngoại trừ cái máy của Pháp. Nhưng với cái đà ấy, chắc chẳng bao lâu kỹ sư Sàigòn cũng sẽ chế ra được máy và hộp số xe hơi cho các loại xe hạng nhẹ.

HCM và đảng CS chỉ cần làm như thế và để yên cho VNCH sống, là đủ cho nước mạnh dân giầu. Mười triệu người không phải chết oan ức như đã thấy mà không chừng ngày nay, nước VN đã có trên trăm triệu dân, cả hai miền thái bình an lạc, hạnh phúc biết là bao nhiêu! Điều ấy không phải là mơ ước viển vông mà toàn dân ta có thể thực hiện được miễn là HCM không quá tham lam, dã man độc ác giết người như ngoé và cúi đầu làm tay sai cho Quốc tế Cộng sản!

Trong khi XHCNVN chưa làm được một con đinh ốc (báo Tuổi Trẻ trong nước) thì ngày nay, theo tài liệu IMF, nước CHXHCN Việt Nam thua Singapore 197 năm nếu Singapore cứ đứng ở đó không tiến thêm; Việt Nam thua Malaysia, thua Thái Lan có ít cũng dăm chục năm, thua Đài Loan, Nam Hàn cả trăm năm. Mã và Thái, ngay cả Đại Hàn, trước năm 1975, vẫn đứng sau Việt Nam Cộng hòa trên nhiều phương diện. Lao công Đại Hàn sang Saìgòn làm công rất nhiều, chính tôi đã có nhà cho họ mướn. Việt Nam ngày nay chỉ hơn Lào nhưng thua cả Căm bốt. Căm bốt có bầu cử dân chủ từ cấp xã trở lên và người dân Căm bốt vẫn dễ thở hơn ở VN nhiều!

Vụ Thảm Sát Tết Mậu Thân

Anh Bùi Tín, trong bài này, mục đích của tôi là nêu lên những biến cố quan trọng đã xẩy ra tại nước ta (mà không đi ngay vào bài viết của anh) là để anh và toàn dân thấy lời đề nghị một lời xin lỗi của anh là thiếu suy nghĩ và nhảm nhí, đứa con nít không chấp nhận được.

Vụ tổng tấn công tết Mậu Thân (1968) sáng sớm mồng một Tết là do chính Hồ chí Minh ngồi ở Hà Nội điều khiển bằng đọc một bài thơ làm hiệu lệnh khai hỏa trên vô tuyến. Hồ ký HĐ hưu chiến 3 ngày để đôi bên ăn Tết theo truyền thống. VNCH tin thật cho quân sĩ về quê ăn Tết với gia đình. Hồ xảo trá thừa cơ đánh úp vào đúng ngày giờ thiêng liêng dân tộc đón năm mới, đón ông bà về vui Xuân với con cháu. Thực không ai có thể tin được Vẹm!

Dân miền Nam chết khoảng 12 ngàn, kể cả 7 ngàn dân Huế vô tội bị chôn sống (sau khi ăn một cán cuốc vào sọ) nhưng đám lính non choẹt 14, 15 tuổi của HCM, lính sinh Bắc tử Nam của HCM thì bị quân đội Mỹ và QLVNCH giết trong những cuộc phản công cũng cả trăm ngàn tên, xác phơi đầy đồng, đầy đường, đầy xung quanh vòng rào kẽm gai các đồn bót. Đám thiếu niên vị thành niên này nào có biết chủ nghĩa CS là cái gì mà bị ép buộc cầm súng đánh biển người hi sinh một cách lãng nhách. Mỗi đêm một đại đội VC bơi qua sông Thạch Hãn đánh Quảng Trị nhưng lúc về chỉ còn dăm ba tên, có khi không còn tên nào! Đó là chính tài liệu của VC báo cáo đấy!

Tin tình báo VNCH nói HCM muốn mượn tay quân sĩ miền Nam và quân đội Mỹ giết đám lính này vì hết cơm gạo nuôi. Có những gia đình cả ba, bốn người con trai và ông bố đã chết vì bị ép đi lính sinh Bắc tử Nam cho Hồ. Bà mẹ còn lại được lãnh một bằng ban khen gia đình liệt sĩ! Có những làng ở Bắc Việt sau chiến tranh không còn một người đàn ông, khi có ông già bà cả chết không có người khiêng hòm. Có một số nhỏ đàn ông còn lại nhưng vì quá nghèo, họ đã phải đi xa, vào rừng vào rú kiếm ăn.

Nhiều làng ở Bắc Việt, toàn thể đàn bà đã trở thành góa phụ, nhiều phụ nữ đi hộ lý “để các anh lên tinh thần mà xung phong đánh biển người” vì nghe theo những lời tâng bốc đường mật của cán bộ tuyên truyền. Chính sách cai trị bằng công an và hộ khẩu cực độc ác đã giết tất cả những ý chí không muốn cộng tác, du con người, kể cả công an, cán bộ, vào đường cùng. Buộc phải nghe theo và dua nịnh để sống hay là chết, chết cả gia đình. Đã rất nhiều gia đình chết hết không còn một ai. Những Nguyễn mạnh Tường, Dương quỳnh Hoa, Nguyễn hữu Thọ nói lời ân hận vào phút chót nhưng tiếng nói bị dập liền! Dân tộc VN chưa từng bao giờ có kinh nghiệm về một bọn cai trị độc ác và tàn bạo như VGCS, ngay cả giặc Minh khi xưa và giặc Pháp. Và chính anh, anh Bùi Tín, anh cũng đang phải dua nịnh để sống đấy! Nhiều bọn khác cũng đang phải dua nịnh, kể cả các Nhà Văn, Nhà thơ, Bình luận gia, Khoa học gia. Tất nhiên cũng có một số dua nịnh vì kiếm ăn, chức tước, bọn này (như bọn Chuột kiều hải ngoại) thì quốc dân đã nhổ bọt vào mặt chúng từ lâu rồi!

Sau chiến tranh, cha mẹ, anh chị em những phụ nữ đáng thương đi hộ lý đã chết hết cả, họ phải sống một cuộc đời cô độc, nghèo đói, buồn thảm như những cái xác còn thở. Độc lập, tự do, hạnh phúc là chôn sống, là giết chóc, thù hận, căm hờn, trả thù tàn ác hay sao? Những ngôn từ ấy, ngay từ 1945, chỉ là những cái bánh vẽ khổng lồ cho tới ngày nay vẫn còn dùng chiêu bài để bịp. Những tội ác tày trời ấy, một lời xin lỗi là đủ sao, anh Bùi Tín?

Anh đã sống ở Pháp nhiều năm, ắt anh nhìn thấy các sắc dân Âu châu người ta sống, cũng như tôi đã thấy các sắc dân sống ở Hoa Kỳ. Tôi hỏi thật anh, có người dân châu Âu nào sống khổ, bất công, mất hết tự do, dân quyền, tủi nhục, cay đắng, nghèo đói, thất học, bị bóc lột, bị chà đạp danh dự như người Việt Nam suốt 65 năm nay trong chế độ CS của HCM hay không? Xin anh thành thật trả lời! Cũng là một con người sao dân người ta sung sướng thế mà người Việt Nam đau khổ lầm than quá thế? Mà lên được Sao Hỏa, Mặt Trăng gì cho cam! Đất nước chìm xuống đáy địa ngục và nay đang thấy trước mắt nạn “Tây Tạng hóa” không xa!

Cũng nói thêm, 21 năm miền Nam từ 1954-1975 của hai nền đệ nhất và đệ nhị VNCH, dù không ngày nào là không bị Vẹm quấy phá từ 1956, cột điện Đa Nhim bị giật mìn hàng đêm, chế độ của VNCH đã tạo ra một thiên đàng hạ giới cho dân miền Nam. Có Dân chủ, tự do, nhân quyền, dân chúng no cơm ấm áo, trẻ em học hành đầy đủ, chỉ Singapore và Nam Hàn ngày nay mới so sánh được. Dĩ nhiên vẫn còn những lạm quyền, tham nhũng, hối lộ (ngay Mỹ, Pháp, Nga, Ukraine, Anh, Tây ban Nha, Nhật ngày nay vẫn còn có những tệ trạng này) nhưng chỉ là quá nhỏ so với CHXHCNVN từ 1975 đến nay. Không lãnh đạo miền Nam nào có đến vài triệu đô la, dù là của chính họ và gia đình làm ra. Ông Ngô đình Diệm tài sản chưa tới 3,000 đô. Dăm bộ quần áo, cái khăn xếp, đôi giầy, cái vali, tất cả chỉ đáng giá vài ba trăm. Ông Diệm luôn luôn không có tiền bỏ túi để tiêu vặt, theo những người thân cận của ông cho biết. Ông Nguyễn văn Thiệu đào thoát ra ngoại quốc không có tiền, bà Thiệu hiện còn sống ở Nam Cali, có thể đến hỏi bà ấy là biết một phần. Nguyễn cao Kỳ phải đi vay nợ ở Mỹ, nhiều tướng lãnh khác nghèo đi làm lao công, gác dan kiếm sống ở Mỹ, ở Âu châu; một số những người này có thể xà xẻo trong số 16 tấn vàng dự trữ trong Ngân Khố VNCH nhưng họ đã không tơ hào một mảy.

Mười sáu tấn vàng y đó, anh biết quá rõ, đã chia chác cho các chóp bu lãnh đạo VC từ Lê Duẩn, Trường Chinh, Đỗ Mười, Lê đức Anh, Võ văn Kiệt, Võ nguyên Giáp trở xuống mỗi tên bao nhiêu nghìn lạng? Những phần chia ấy đã góp không nhỏ vào tài sản mấy tỉ đô la của họ hiện nay. Cũng còn thêm một sự thật cần được bạch hóa. Tướng Dương văn Minh sau khi được bầu làm Tổng Thống VNCH, ngày 30-4-1975 DVM ký một Sự vụ lệnh cho Dân biểu Trần cảnh Chung sang Tổng Ngân Khố Sàigòn ra lệnh cho Thống đốc Uyển và Phó Thủ tướng Nguyễn văn Hảo phải giao 16 tấn vàng này cho Chung để anh ta đem xuống con tầu Việt Nam Thương Tín đem ra ngoại quốc. Ý của DVM là giữ cho miền Nam hay muốn cướp số tiền đó cho riêng mình, chưa ai rõ. Nhưng giới hữu trách ở Tổng Ngân Khố Sàigòn không giao cho Chung và Chung phải ra tay không. Vì thế 16 tấn vàng này mới lọt vào tay Lê Duẩn và đồng bọn! Mười sáu tấn vàng ấy, kẻ thủ đắc, chỉ là niềm ô nhục muôn đời mà thôi!

Tôi xin nhắc lại: HCM muốn cán bộ giầu để trung thành và bảo vệ đảng (vì bảo vệ đảng là bảo vệ tài sản của chính mình). Dân phải nghèo mạt rệp, càng đói khổ càng tốt để có thêm nhiều kẻ ôm bom lao vào xe tăng địch. Đó là lý thuyết cơ bản bất biến của đảng VC. Sông Hồng hà có thể cạn, núi Ba vì có thể lở, nhưng nguyên tắc bất di bất dịch ấy là muôn đời!

Không người Việt nào không khốn nạn vì Hồ chí Minh

Có thể nói ba bốn thế hệ nay, không một người Việt nào không chịu ảnh hưởng ít hoặc nhiều chết chóc, tang tóc, đau thương, tàn phá do chiến tranh gây ra bởi giặc Hồ. Anh với tôi đang lưu vong ở nước ngoài cũng là do giặc Hồ. Ba triệu đồng bào đang tị nạn CS ở hải ngoại cũng là do giặc Hồ. Những người bạn đồng đội của tôi đã chết, bỏ lại vợ con thê lương tang tóc nghèo đói bệnh hoạn, cúi mặt một đời cũng là do giặc Hồ! Một bà lão già như mẹ tôi ở ngoài Bắc bị cản trở và bị công an nhốt khi bà trốn từ làng quê lên Hà Nội (cuối năm 1954) để vào Nam với tôi. Bà không được đi nên đã khóc nhiều năm lòa cả mắt vì thương nhớ tôi, cho tới lúc gần chết còn khóc, anh chị tôi nói lại vậy, cũng là nạn nhân của giặc Hồ.

Nền Tư Pháp, Y tế, Giáo dục, Đạo lý, Luân lý ở nước ta ngày nay có đi xuống tới đáy đống xình không? Bọn tham quan cửa quyền, công an nhũng nhiễu dân đen coi dân như trâu ngựa vậy thì dân oan ức biết kêu vào đâu?

Những người bị chúng bắt tù cũng bị chúng chích thuốc, hành hạ, bỏ đói, tra tấn, mua chuộc, làm cho họ mất trí khôn không còn là con người nữa. Sau khi ra tù, những người này có thể điên loạn, nói những điều mâu thuẫn với chính mình trước kia. Vẹm không từ một thủ đoạn tàn ác, đẩu cáng nào để giết dần những người phản đối chúng. Có những kẻ vô liêm sỉ hung hăng ở hải ngoại nhưng giả sử chúng bị Vẹm tù đầy vài tuần là biết ngay sự thực!

Những lời hứa của HCM, những bản Hiến pháp 1986, 1992 của Nhà nước Xã nghĩa rốt lại chỉ là những mảnh giấy lộn dùng trong nhà vệ sinh sao? Có Nhà nước nào, lãnh tụ nào hứa một đàng, làm một nẻo như nhà cầm quyền của HCM?

Lính của Nguỵ quyền Việt gian Cộng Sản chết bao nhiêu?

Nếu anh Bùi Tín không tin con số những người chết, xin anh đọc mấy dòng này, tác giả là Ký giả Xuân Hồng, đài BBC. Sau đây là bài viết của Ký giả Xuân Hồng:

Nhưng con số thiệt hại về nhân mạng của miền Bắc là bao nhiêu?

Tên trá hàng Bùi Tín, trong một tác phẩm tuyên truyền hạng bét, văn chương sọt rác, (Mây mù thế kỷ, Hoa xuyên tuyết ...) đãviết:

“Lê Duẫn từng khoe: Tôi gặp ông Mao, tôi nói thẳng rằng Trung Quốc chi viện cho chúng tôi thì chúng tôi thắng Mỹ với những hi sinh thấp hơn, còn như Trung Quốc không chi viện, thì chúng tôi sẽ phải hi sinh thêm 1 đến 2 triệu người, chúng tôi không sợ và cuối cùng chúng tôivẫnthắng!!!”.

Kinh khiếp thay đồng chí Lê Duẫn, tổng bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam quang vinh. Xem vài triệu mạng sống của đồng bào, đồng chí, bộ đội, thanh niên xung phong ... như số lẻ, như mấy xu trong túi quần, có móc ra vất đi cũng khôngbậntâm.

Nhưng câu nói trên của Lê Duẫn đã bị bóp méo, cắt xén phần quan trọng nhất. Đó là con số nhân mạng “đã” thiệt hại là bao nhiêu triệu?

“Đồng chí” Bảy Vân, vợ Lê Duẫn, trong cuộc phỏng vấn ngày 23 tháng 12 năm 2008, đã trả lời Xuân Hồng, phóng viên đài BBC rằng:

- Anh Ba (Duẫn) nói với lãnh đạo Trung Quốc rằng: Chúng tôi đã hi sinh 10 triệu người rồi, nếu Trung Quốc chi viện cho chúng tôi thì chúng tôi thắng Mỹ với những hi sinh thấp hơn, còn như Trung Quốc không chi viện, chúng tôi dù phải hi sinh vài triệu người nữa, chúng tôi vẫn thắng Mỹ”.

Tôi (Dép Râu) lại xin lạc đề vài câu nữa. Ông Xuân Hồng đài BBC hỏi bà Bảy Vân, đại ý rằng, có nên tiếp tục “xã hội chủ nghĩa không? Đồng chí Bảy Vân kính mến trả lời rằng:

- Phải tiếp tục con đường xã hội chủ nghĩa, vì chênh lệch giàu nghèo ngày càng lớn”.

Tại sao ông Xuân Hồng không hỏi tiếp:

- Thế giai cấp giàu là những người nào? Còn bọn nghèo khổ là những ai?”. Giai cấp giàu là đảng viên (riêng đồng chí Bảy Vân “phải” chui rúc trong “túp lều” giá trên hai triệu đô la Mỹ), còn giai cấp nghèo là lũ dân đen mà các đồng chí đảng viên đang ngồi trên đầu đó!

Như thế, trong chiến tranh chống Mỹ, phải trên mười triệu người dân vô tội miền Bắc Việt Nam đã bị đảng ta đẩy vào Trường Sơn cho B52 dội bom. Một con số khủng khiếp. Lê Duẫn đem số lẻ vài triệu (bổ sung) vào Nam không phải để đánh nhau, mà để cho B52 dội bom, số sống sót mới thực sự đối diện với quân miền Nam mà đánh nhau.

Vẫn lời Xuân Hồng:Bạn muốn biết con số đó khủng khiếp đến bực nào thì thử rải mười triệu xác chết lên một nghìn cây số từ Bắc vô Nam, trên đường mòn Hồ Chí Minh (con đường Bác đi là con đường bi đát). Mỗi cây số có bao nhiêu xác bộ đội nhân dân anh hùng? Mười nghìn xác rải trên 1km. Mỗi mét 10 xác bộ đội. (Bài của Dép Râu - trích Huyết Hoa).

Ý kiến của Bút Xuân: Sau chiến tranh, nhiều báo Trung cộng đăng rằng tổng số chết trong các cuộc chiến tại VN là 14 triệu người. Tiếc rằng BX đã lưu giữ trong Computer nhưng bị tin tặc nuốt mất.

Hơn một triệu quân, cán, chánh VNCH bị đi tù cải tạo, bỏ thây hàng trăm ngàn trong các trại tù.

Mời anh Bùi Tín và quý bạn đọc bài “Hậu quả của việc Hoa Kỳ bỏ rơi Đông Dương” của Giáo Sư Robert F. Turner, trích đoạn sau đây. GS Turner hiện thuộc Trung Tâm An ninh Luật pháp Quốc gia, Đại học Luật Khoa Virginia, Hoa Kỳ. (Toàn bài tại: bacaytruc.com)

“Ông bạn Giáo sư R.J. Rummel của tôi (một người từng được tuyển liên tiếp cho giải Nobel Hoà Bình) ước lượng là tổng số người bị giết sau khi miền Nam được "giải phóng" lên tới 643 ngàn.

- Khoảng 100 ngàn bị xử tử qua quít ngay sau khi Cộng sản nắm quyền. Qua quít vì cũng chẳng có một hình thức tạm bợ về "tiến trình hợp pháp" hay một toà án.

- Giáo sư Rummel cho là 400 ngàn là "thuyền nhân" bị chết ngoài biển cả khi muốn thoát khỏi chế độ độc tài và đàn áp đã trùm lên quê hương. Cao ủy Tỵ nạn của Liên hiệp quốc thì cho là một phần ba những người vượt biên bằng thuyền đã chết ngoài biển - một số là vì tầu quá đông người bị chìm, hoặc chết vì đói, vì khát, nhiều người tử nạn sau thì bị hải tặc cướp bóc và cưỡng hiếp. Cao ủy cũng tường trình rằng có khoảng 840 ngàn người tới được Hong Kong hay các nước không Cộng sản ở Đông Nam Á. Nếu áp dụng tỷ số "chết một phần ba" cho con số này thì ta đoán là có một triệu 300 ngàn người vượt biên bằng thuyền và khoảng 420 ngàn người đã chết trên đường tìm tự do. Con số không xa với ước lượng của Giáo sư Rummel.

- Giáo sư Lewia Sorley, tác giả cuốn sách có giá trị của một dấu mốc là "A Better War" - một Cuộc Chiến Khá Hơn - mà tôi ân cần giới thiệu đến quý vị, cho rằng có chừng 250 ngàn sĩ quan và binh lính của miền Nam cũ đã chết trong các "Trại Cải Tạo" do chế độ Cộng sản lập ra.

- Khoảng một triệu rưởi người dân miền Nam bị đẩy vào các khu "Kinh Tế Mới" để sống trong những điều kiện nghiệt ngã và chừng 48 ngàn đã chết tại đấy. Tôi biết rằng rất đông người trong cộng đồng này có thể kể lại những kinh nghiệm thật về "Trại Cải Tạo" và khu "Kinh Tế Mới" và khuyên các sinh viên ở đây nên tìm ra họ, ghi nhận câu chuyện của họ để làm chứng liệu cho lịch sử.

Vợ con của họ sau 3 đợt đổi tiền bị bóc lột sạch rồi bị ném lên vùng Kinh tế mới sơn lam chướng khí, không lều trại, không thực phẩm, không nước uống, không nông cụ để cho chết từ từ. Một số không thể sống được ở VN nên phải dâng nhà đất, có kẻ phải dâng cả thân thể mình và con gái cho cán bộ để liều chết ra đi tìm tự do. (ngưng trích)

Kết quả là chỉ 2/3 đến được bến bờ tự do còn 1/3 làm mồi cho hải tặc, cho cá hay beo sấu, thổ phỉ trong những khu rừng già biên giới Cam bốt, Việt, Lào, Thái. Một phần ba ấy khoảng 600,000-800, 000 người Việt mà sau đó có nhiều bia dựng ở các trại tỵ nạn Đông Nam Á, nhà cầm quyền VGCS đã nhẫn tâm liên lạc với các CP liên hệ để phá bỏ. Ai cũng nhìn thấy ngay sự đối xử quá dã man của VGCS ngay cả với những người đã chết!

Nhân chứng sống về hải tặc và chết đói chết khát giữa biển thì rất nhiều. Chỉ xin kể vài trường hợp: Vợ chồng anh Hoa Ph. làm nghề gửi tiền, đang ở Nam Cali. Chiếc tầu có anh chị đã hết thực phẩm và nước uống. Rất nhiều người trên tầu đã chết. Bữa đó có một đứa trẻ chết, anh Hoa Ph. đòi xẻ đứa bé ra ăn nhưng cha mẹ nó nhất định không chịu vì thương con. Vài ngày sau mới có tầu ngoại quốc cứu. Cha mẹ đứa trẻ vẫn còn giận vợ chồng Hoa Ph. đến bây giờ!

Chiếc tầu khác chở gần 300 người đa số thuộc dân Ngã Ba Ông Tạ. Tầu lạc vào một đảo san hô rồi chết máy. Người ta ăn thịt những kẻ chết để mong sống nhưng chết gần hết, còn được ba người sống sót vì tầu ngoại quốc cứu đưa vào HongKong, sang Mỹ kể lại, hiện còn sống ở Nam Cali.

Dù chết như thế chứ chết nữa, dân VN không muốn sống với Hồ tàn bạo!

Làm nhà cai trị mà để dân khinh bỉ như thế, than ôi là “cách mạng” với “giải phóng”!

Vụ Hoàng Sa - Trường Sa

Ngày 17-1-1974, hải quân Việt Nam Cộng hòa đang canh giữ Hoàng Sa thì đột nhiên một hạm đội hải quân của Trung cộng, với tầu chiến và hỏa lực gấp 4 lần Hải quân VNCH, đến tấn công thình lình dù hải quân VNCH ra hiệu không được tiến thêm vào vùng lãnh hải của VNCH nhưng hải quân Trung cộng đã có định kiến và ỷ sức mạnh cứ tiến bừa và khai hỏa. Hải quân VNCH chiến đấu dũng mãnh để đuổi kẻ thù ra khỏi lãnh hải của mình, cương quyết bảo vệ từng tấc biển, tấc đất của tiền nhân đã giao lại và QLVNCH đã canh giữ từ 20 năm nay, trước đó Pháp cai trị VN nên thuộc quyền trông coi và bảo vệ của Pháp.

Trung tá Ngụy văn Thà và 58 chiến sĩ Hải quân đã anh dũng hi sinh cho tổ quốc cùng với chiến hạm HQ 10 bị địch đánh đắm giữa biển Đông.

Những ngày đó, tôi (BX) đang là Dân Biểu Chủ tịch Ủy ban Phát triển Nông Thôn Hạ Nghị Viện, Quốc hội VNCH được cấp báo ngay, nhiều đồng viện và tôi đã lên Diễn Đàn HNV ngày hôm sau để tố cáo với quốc tế sự xâm lăng thô bạo của Trung cộng vào đảo Hoàng Sa. Hoàng Sa và Trường Sa vốn là quần đảo của Việt Nam hàng ngàn năm nay. Quân dân tại Sàigòn và nhiều thành phố lớn miền Nam đã tổ chức biểu tình phản đối Trung cộng, đòi Trung cộng phải rút ra khỏi Hoàng Sa. Hành pháp VNCH, TT Nguyễn văn Thiệu, cũng lớn tiếng phản đối cuộc xâm lăng của Trung cộng và đòi QLVNCH phải đi chiếm lại.

Chỉ có Đài phát thanh Hà Nội là còn ra rả: “Chẳng thà Hoàng Sa vào tay đàn anh là đồng chí Trung cộng còn hơn để cho Mỹ-Ngụy xài!”

Đó là lòng yêu nước của HCM!

Hải quân VNCH dù không đối địch nổi với Hải quân Trung cộng nhiều hơn 4 lần nhưng đã hi sinh đến người chiến sĩ cuối cùng có mặt trên biển thời gian đó để bảo vệ lãnh thổ và lãnh hải của cha ông để lại. Sự hi sinh này sẽ là mẫu gương quả cảm cho thanh niên các thế hệ hiện tại và sau này để giữ nước khỏi sa vào tay ngoại bang. Nhà thơ Trần mạnh Hảo, Hà Nội, tác giả tiểu thuyết đối kháng “Ly Thân”, đã làm thơ vinh danh các Chiến sĩ Hải quân VNCH.

Ngày nay Trung cộng xây sân bay trên hai đảo Hoàng Sa và Trường Sa, tổ chức thành nơi du lịch, cho xây tượng đài, cho quân đến canh giữ như hai đảo ấy là đất hương hỏa của họ!. Đề nghị một lời xin lỗi của anh Bùi Tín nó chỉ chứng tỏ cái đầu óc của anh có lẽ đã quá già hoặc là bị tâm thần, hết biết đúng sai!

Ngoài Hoàng Sa và Trường Sa, nước Việt Nam còn bị mất hàng nghìn km2 ở biên giới với người Tàu, mất ải Nam quan, mất 1/3 Bản Giốc, hồi chiến tranh Việt-Trung mất núi Lão Sơn, mất rất nhiều bản thượng giáp giới giữa đôi bên do họ bị mua chuộc bởi Trung cộng và do chính sách của HCM đối xử tồi tệ dã man với dân thiểu số.

Cũng cần nói lại việc Phạm văn Đồng, theo lệnh của HCM, ngày 14-9-58 đã gửi công hàm cho Tổng lý quốc vụ viện Chu ân Lai công nhận chủ quyền của Trung cộng ở 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa để đổi lấy vũ khí dùng xâm lược VNCH. Các Hiệp định bí mật năm 1999 và 2000 cắt đất dâng biển cho Trung Cộng để dựa hơi bảo vệ chế độ bạo tàn và thối nát.

Khi dân chúng và học sinh, Sinh viên biểu tình phản đối Trung cộng chiếm Hoàng Sa và Trường Sa thì công an bạo quyền Vẹm dùng vòi rồng xịt nước, còng 8, chó săn, roi điện và xe xúc đàn áp thẳng tay, vứt họ lên xe chở ra bỏ ngoài cánh đồng. Lãnh thổ, lãnh hải bị xâm chiêm, người dân biểu tình phản đối và đòi lại, lẽ ra phải khuyến khích người dân, VGCS lại cho công an dẹp những tấm lòng yêu nước. Nếu không phải là tay sai của HCM đã bán nước cho Trung cộng thì không ai có thể hiểu nổi vụ việc này.

Tôi chợt nhớ hồi năm 1946, một chị nông dân làng tôi đi chợ mua một quả gấc, vài củ cải trắng và một mớ rau cải bắp già (xanh đậm). Về dọc đường, công an và du kích xã khám thấy 3 thứ này trong cái thúng nhỏ đậy cái vỉ. Thế là chúng lôi chị này vào trụ sở công an đánh thừa sống thiếu chết, bắt phải khai là dùng ba thứ đó như mầu cờ tam tài của Pháp để báo cho máy bay Pháp đến bỏ bom trụ sở xã! Chị bị đánh xẩy thai và khoảng tháng sau thì chết bỏ lại chồng và hai con thơ!

Những vụ án mạng VM giết người hiền lương như thế kể có nhiều trăm ngàn nhưng không ai giải quyết những nỗi oan khuất ấy cho gia đình nạn nhân. HCM phóng tay cho đám thủ hạ giết người vô tội! Anh Bùi Tín nên đưa những vụ việc oan ức thấu trời xanh của người dân này vào trong những đề nghị “xin lỗi” rất sáng giá của anh!

(còn tiếp)

GS Trần Đình Ngọc
(cựu Dân Biểu VNCH)
-------------------------------------
    Lời xin lỗi chân thành, món nợ 35 năm đến hồi phải trả!
Bùi Tín

Ngày 30 tháng 4 lại đến. Tuần trước, tại cuộc họp Đông Nam Á (ASEAN), ông Nguyễn Tấn Dũng nhân danh chủ tịch luân lưu của khối này đã lên tiếng yêu cầu nhóm quân phiệt cầm quyền ở Miến Điện cần thực hiện ngay hòa hợp dân tộc và để cho mọi đảng chính trị tham gia cuộc bầu cử sắp đến.

Ở hải ngoại và trong nước, nhiều bà con ta kháo nhau theo câu nói dân gian: ông Nguyễn Tấn Dũng và nhóm cầm quyền hãy sờ lên gáy mình đã! Nói người hãy nghĩ đến ta.

Vì trong những năm từ 1968 đến 1973, tại cuộc hội đàm Paris, đại diện đảng CS không ngừng nói đến “hòa hợp hòa giải dân tộc“, “hóa giải thù hận”, “Bắc Nam là con dân một nước, sẽ sát cánh dựng xây đất nước”. Dân ta nghe bùi tai, hy vọng.

35 năm nay, lời hứa hòa hợp hòa giải dân tộc ấy vẫn còn là món nợ lưu cữu, món nợ toàn dân, dân ta ở miền Nam cũng như dân ta ở miền Bắc.

Mà đâu chỉ có một món quịt “hòa hợp và hòa giải dân tộc”. Còn món nợ đày đọa người thua trận, bỏ tù hàng chục vạn sỹ quan viên chức cũ không hề xét xử, làm cho biết bao người bị chết oan uổng trong tù, bao nhiêu gia đình tan vỡ, ly tán, dẫn đến 2 triệu dân bỏ nước do bị phân biệt đối xử, bao nhiêu sinh mạng chết trên biển cả, mà vẫn cứ ba hoa lấy được là chính sách sau 30 tháng tư của họ là khoan hồng và nhân đạo!

Món nợ gây chết chóc, đau thương tang tóc cho hàng triệu gia đình, hàng triệu con người như vậy là không sao làm sống lại, hồi phục được. Mọi người yêu cầu nhà cầm quyền cộng sản công khai thành khẩn xin lỗi toàn dân, và từ đó làm một số việc cần thiết phải đạo nhằm xoa dịu những đau thương chồng chất của đồng bào ta, như cùng toàn dân tổ chức một cuộc cầu nguyện, cầu siêu trong toàn quốc để tưởng nhớ chiến sỹ và đồng bào cả nước đả bỏ mình trong thời chiến, không phân biệt thuộc phiá nào; sửa sang mọi nghĩa trang, không phân biệt người chết từng thuộc bên nào; từ nay chủ trương không dung từ “ngụy quân, ngụy quyền”trong các văn kiện, sách giáo khoa; quan tâm đến nạn nhân chiến tranh, thương binh thuộc cả các bên tham chiến…

Lẽ ra những việc này được đưa ra ngay sau khi chiến tranh kết thúc thì đẹp đẽ, xúc động bao nhiêu, nhưng chậm còn hơn không. Cuộc họp Quốc hội sắp tới có ai nêu lên được vấn đề này không ?
Đã đến lúc cần làm rồi. Một lời xin lỗi quá ư là cần rồi, không thể để chậm thêm một tháng, thêm một năm nữa.

Nhật Hoàng đã xin lỗi nhân dân Triều Tiên, Trung Quốc, Đông Nam Á về tội ác chiến tranh của quân Nhật trong Thế chiến II. Giáo Hoàng đã xin lỗi toàn thế giới vì đã cộng tác với tên phát xít Hitler. Tổng thống Nga đã xin lỗi nhân dân Balan về cuộc tàn sát hơn 20 ngàn sỹ quan Ba Lan trong khu rừng Katyn năm 1939 theo lệnh của Stalin.

Xin lỗi là một nếp xử sự văn minh. Đi đường đụng phải người khác đã cần xin lỗi, huống gì là gây chết, đau thương cho hàng triệu triệu con người. Huống gì xin lỗi ở nước ta lúc này là đạo lý, là hàn gắn chia rẽ dân tộc, là kêu gọi, đề xướng thương yêu thật lòng trên tình anh chị em ruột thịt, bỏ qua cho nhau những sai lầm trong quá khứ, để cùng nhau cố kết dân tộc trước đại họa của kẻ bành trướng ngoại xâm. Hòa hợp dân tộc là nước cờ chính trị thông minh, tuyệt vời để nhân lên nội lực dân tộc về sức người, sức của, kiến thức, kinh nghiệm… nhằm xây dựng Tổ quốc phồn vinh cho toàn dân mau chung hưởng.

Tình hình quả đã chín, vì lòng dân đang đòi hỏi cấp bách. Có bao nhiêu là chỉ dấu cho thấy lòng dân trong nước đã động, và động mạnh. Luật sư Cù Huy Hà Vũ lên tiếng yêu cầu toàn dân ghi công hơn 70 binh sỹ hải quân Việt nam Cộng hòa đã hy sinh cuối năm 1974 để bảo vệ đảo Trường Sa trước quân xâm lược Trung quốc, sau khi ông đưa đơn kiện thủ tướng Nguyễn tấn Dũng về sai lầm ra quyết định khai thác quy mô lớn mỏ bôxít khi chưa có ý kiến của quốc hội, theo dụ dỗ của bọn bành trướng, gây thảm họa cho đất nước.

Về quần đảo Hoàng Sa bị đánh chiếm 36 năm trước, không còn người Việt chân chính nào có thể chấp nhận lời giải thích hồi ấy của cơ quan tuyên giáo trung ương Cộng sản: “Các đồng chí yên tâm. Hoàng Sa trong tay Quân Giải Phóng Trung quốc anh em của ta là tin đáng mừng. Còn hơn là nằm trong tay bọn Mỹ - Ngụy, kẻ thù không đội trời chung của chúng ta”. Não trạng của lãnh đạo CS hồi ấy là thế! Lãnh đạo thời nay vẫn như thế. Nhưng nhân dân lúc này đã mở mắt không còn chịu nổi nữa.

Hồi ấy, ở mọi cơ quan chính quyền, từ xã lên huyện tỉnh, lên đến trung ương đều phải treo ảnh Mác, Lênin, Stalin, Mao to đùng, trên cao nhất. Hàng dưới, nhỏ hơn mới là ảnh ông Hồ.

Cán bộ đi Moscow, Bắc Kinh được lãnh đạo, tuyên huấn đảng huênh hoang bảo là được đi “Thủ đô phe ta » đấy! Một thời ấu trĩ, lầm lẫn. Nay lãnh đạo vẫn giữ kiểu não trạng ấy đối với Bắc Kinh, nhưng người dân và cả đảng viên CS ở cơ sở bịt mũi, không ngửi được!

Nhận thức của người dân thường thời mở cửa hội nhập thay đổi nhanh, mạnh, sâu, trước cả lãnh đạo. Đó là cái linh tính bén nhạy tinh tế của quần chúng, không diễn giải được mà sâu đậm vô cùng.

Nhân dịp 30-4 năm nay, nhà thơ - chiến sỹ Nguyễn Thái Sơn đưa ra một trường ca bi hùng « Chiến tranh – Chín khúc tưởng niệm » nói lên số phận bi đát của dân ta, phụ nữ ta, trai tráng ta ở cả 2 miền bị xô đẩy vào cuộc nội chiến đẫm máu dai dẳng. Anh em ruột thịt mà giết nhau hăng say, có khi thích thú « như mở hội », bên kia chết càng nhiều thì bên này được phong anh hùng, khoe trên mặt báo, tới tấp được huân chương. Nhìn lại cả một thời lầm lỡ, ngu dại, bị một học thuyết bất nhân thúc đầy, sùng bái bạo lực, kích động căm thù giai cấp, cổ vũ nội chiến dân tộc.

Nhà thơ viết về cái chết của người lính của cả 2 bên:

không ai từ cõi sinh chìm vào cõi tử
dễ như người lính
nhanh như người lính
nhiều như người lính
đương nhiên
mặc nhiên
tất nhiên
hồn nhiên như lính
từ nòng súng người lính bên kia sang trái tim người lính bên này
đạn bay chỉ mấy phần nghìn giây

Nhà thơ đau xót trước thảm cảnh hai bên đều là người Việt, nói tiếng Việt:

Người Việt thắng trận huy hoàng
bại trận
cũng là người Việt
Người chết dù phía nào Mẹ Việt nam vẫn phải nhận nỗi đau chết chóc!
Năm Nhâm Tý bảy hai
máu binh sỹ Sài Gòn
máu quân Giải phóng
đỏ sông Thạch Hãn
ướt sũng gạch vụn cổ thành

Trường ca Chín Khúc Tưởng Niệm là lời kêu gọi tha thiết hãy nhận ra bi kịch của chiến tranh quân ta giết quân mình, nội bộ anh em chém giết nhau, nội bộ dân tộc hận thù nhau, mãi không hòa giải, vậy để đến bao giờ nữa mới nhìn nhận ra nhau là anh em ruột thịt?

Người lãnh đạo phải nhìn xa trông rộng, có viễn kiến, việc tốt mà khó cũng quyết tâm vượt khó mà làm, thuyết phục người chưa thông suốt. Kẻ không chịu thông suốt chỉ vì vị kỷ lại càng cần thuyết phục.

Cần thấy cái đạo lý gắn bó dân tộc là thiêng liêng, cái lợi ích hòa hợp dân tộc là lợi ích cực kỳ lớn lao bền vững, toàn xã hội được lợi về mọi mặt, là một cuộc thay đổi tận gốc lịch sử, nội lực dân tộc trong ngoài nước bật dậy, sỹ nông công thương binh khoác vai nhau, kinh thượng chan hòa, lương Giáo, Phật, Cao đài, Hòa hảo chung lòng yêu nước làm việc thiện, đẩy lùi điều ác, lòng tham, thói vị kỷ, tệ tham nhũng.

Lãnh đạo hãy lắng nghe và hãy suy nghĩ, bàn luận cho sâu, đắn đo cho chin, cân nhắc cho đến nơi đến chốn. Đừng vội chủ quan, chớ theo nếp bịt tai, bịt mắt, vội chụp mũ là những ý xây dựng trên đây là do động cơ bất mãn, bị kẻ phản động xui dại, bị đế quốc lợi dụng…

Hãy chịu nghe Ts Đỗ Xuân Thọ đề nghị từ bỏ học thuyết Mác Lênin, trong khi mấy hôm nay ông Tô Huy Rứa cầm đầu cơ quan Tuyên giáo của đảng lại tỏ quyết tâm theo và bảo vệ tư tưởng Lênin đến cùng.

Lãnh đạo là có tư tưởng chiến lược, như ông Đặng Quốc Bảo từng chỉ ra, phải có tư duy đột phá, có ý chí đổi thay, xoay chuyển thời cuộc. Hãy chọn mặt gửi vàng, hỏi ý kiến những người cao kiến, vô tư, mà xã hội đang lắng nghe, quý trọng, tạo nên một Diên Hồng mới. Tôi xin đề xuất:

Các ông Hoàng Tụy, Nguyễn Quang A, Nguyễn Trọng Vĩnh, Nguyễn Hữu An, Đồng Sỹ Nguyên, Nguyễn Văn Cương, Đặng Quốc Bảo, Hoàng Minh Thảo, Nguyên Ngọc, Đỗ Xuân Thọ, Cù Huy Hà Vũ, Phạm Đình Trọng, Nguyễn Đông Hải, Nguyễn Thành Sơn, Nguyễn Thái Sơn, Trần Lâm, Trần Đình Triển, Phạm Viết Đào, Nguyễn Huệ Chi, Phạm Toàn, Hồ Ngọc Đại, Nguyễn Trung, Hà Văn Thịnh.

Xin đề xuất chỉ nên trao đổi trước hết 2 vấn đề then chốt:

1. Có nên thực hiện Hòa giải và Hòa hợp dân tộc một cách trọn vẹn không ? Sẽ có lợi những gì? Lãnh đạo, nhà nước nên làm những việc gì? Cộng đồng trong và ngoài nước nên làm những việc gì? Cứ để như hiện nay có nên không?

2. Có nên thực hiện đa nguyên đa đảng không ? cứ duy trì độc đảng như hiện nay là tốt? Nên chuyển từ độc đảng lên đa đảng sao cho ổn định, có trật tự, trong luật pháp, không rơi vào hỗn loạn hay nội chiến. Nên lập đảng mới ra sao? Vị thế của đảng CS? Kinh nghiệm của các nước đã chuyển từ một đảng lên nhiều đảng, ta nên học những điều gì?

Mở đầu mọi sự là yêu cầu lãnh đạo hãy cố gắng, thay mặt cho các lớp lãnh đạo cũ tỏ một lời xin lỗi chân thành đến nhân cả nước, đặc biệt là đồng bào miền Nam, các thành viên của chính quyền, đảng phái và quân đội Việt Nam Cộng hòa về sự đối xử quá đáng 35 năm trước.

Bùi Tín