Monday, April 12, 2010

Tại Sao ? - Ngô Minh Hằng

    Tại Sao ?

    Tại sao mà phải vượt biên
    Qua bao nỗi chết, đến miền Tự Do ?
    Phải vì bè lũ giặc Hồ
    Giết dân, bán nước, cơ đồ phá tan
    Làm đời khốn khó lầm than
    Làm người cay đắng gian nan ngục tù ...
    Bắt đầu từ một Mùa Thu
    Hiền Lương, rồi lại Tháng Tư kinh hoàng ?
    Đầy trời ngất lửa hờn oan
    Thương đau từ Bắc chí Nam, mọi miền ...
    Nước người, cuộc sống tạm yên
    Tại sao đổi trắng thay đen, cớ gì ???

    Ngày xưa bỏ nước mà đi
    Phải do Cộng sản ? Phải vì Tự Do ?
    Hay vì cần ấm cần no
    Miếng cơm manh áo làm cho mình hèn ?
    Nên giờ phản bội anh em
    Lằn ranh Quốc - Cộng nhá nhem, mập mờ ?
    Mặc cho nước đợi dân chờ
    Quê hương, nguồn cội, cõi bờ, phản luôn !
    Tiếp tay nghị quyết bất lương
    Đạp lên thống khổ, đau thương sơn hà ...
    Phải vì sức mạnh đô la
    Danh hư, vị huyễn nên ra tội tình ?
    Nhục không ? kìa giống nòi khinh
    Thẹn không ? mình phản chính mình ... hỡi ơi !
    Đã hơn ba chục năm trời
    Quê thời cộng xé, dân thời cộng băm
    Đớn hèn, cúi mặt lặng câm
    Thì thôi. Sao lại nẩy mầm đảo điên ???

    Ngày mà bỏ nước, vượt biên
    Bao nhiêu người thốt lời nguyền, nhớ không ?
    Nam Kha chưa đượm giấc nồng
    Mà người vội đổi thay lòng. Tại sao ?
    Tháng Tư quên những nghẹn ngào
    Quên oan khiên, triệu đồng bào chết đau
    Quên ai đem súng Nga, Tàu
    Giết ai vì nước, tuyến đầu, giữ quê
    Sao người vuốt mặt, quên thề
    Để lao vào những cơn mê mọn hèn
    Một khi nai đã chịu đèn
    Làm sao phân biệt trắng đen những màu
    Giúp cho quỉ kế tằm dâu
    Cộng kia nhờ đó, vết dầu, loang nhanh
    Phải vì lợi, phải vì danh
    Quên tay Việt cộng vẫn tanh máu người ?
    Quên ngày cuồng nộ biển khơi
    Quên ta Tị Nạn, quên đời Quốc Vong ?
    Và quên xương máu Lạc Hồng
    Cộng chia, cộng cắt biếu không cho Tàu ...

    Trả lời đi. Trả lời mau
    Tại sao bội phản cho đau muôn lòng ...
    Trả lời núi, trả lời sông
    Tại sao phản bội giống dòng Việt Nam ???

    Ngô Minh Hằng



Kẻ Tám Lang. Người Nửa Cân - Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất





Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất

Chuyện vừa mới xẩy ra khơi dậy trong dư luận sự bất bình trong cộng đồng tỵ nạn người Công Giáo VN tại hải ngoại là việc Hồng Y Phạm Minh Mẫn sang chủ tọa đại lễ kính Lòng Thương Xót Chúa do linh mục Trường Luân, dòng Chứa Cứu Thế, tổ chức tại đại học Long Beach ngày Chúa Nhật 11-4-2010. Tôi thật sự tin rằng HY Mẫn sẽ không có mặt trong buổi đại lễ này vì cha Trường Luân đã thông báo như thế. Lý do khác nữa là vì ông Hồng Y còn mặt mũi nào mà dám xuất hiện trước cộng đồng giáo dân tỵ nạn. Ê chề trong những lần xuất hiện trước đây chưa đủ sao! Tin tức phổ biến. Dư luận phản đối. Rồi đính chính. Rồi xác nhận. Rồi nghi ngờ và chờ đợi. Cuối cùng câu trả lời là sự tin tưởng của tôi đã sai. HY Phạm Minh Mẫn đã có mặt tại đại học Long Beach chủ sự đại lễ kính Lòng Thương Xót Chúa.

Có một nhận định khá kỳ thú là, nếu đem so sánh và đối chiếu chủ trương và hành động của ông HY Phạm Minh Mẫn từ trước tới nay với chủ trương và đường lối của đảng VGCS, chúng ta thấy, nói theo cách cân đo của VN ta, sẽ là kẻ tám lạng, người nửa cân. Tám lạng là nửa cân, và nửa cân cũng là tám lạng, hai bên cân bằng về trọng lượng, ý nói không có gì khác biệt nhau.

Hiện nay, người đứng đầu Giáo Hội Công Giáo Việt Nam là Hồng Y Phạm Minh Mẫn. Ông cai quản tổng giáo phận Saigon mà danh xưng chính thức trên các văn kiện ông ký có đóng ấn là tổng giáo phận Thành Phố Hồ Chí Minh. Xem ra ông khoái cái tên Hồ Chí Minh hơn cái tên Saigon . Nhiều Hồng Y trong Giáo Hội Công Giáo nổi tiếng, được người đời ca tụng, hoặc do lòng đạo đức, hoặc do tài năng, hay những công trình trí tuê lưu lại cho hậu thế. Điều trớ trêu là HY Phạm Minh Mẫn không được biết đến nhiều đối với giáo dân VN do bất cứ một đặc điểm nào nói trên như nhiều vị Hồng Y khác, mà lại nổi tiếng nhờ vào các lời tuyên bố rất đẹp lòng đảng, và hơn nữa, vào nhiều hoạt động mục vụ mang đậm tính công cụ của ông. Hai lời tuyên bố nhớ đời của ông luôn được đồng hương tỵ nạn tại hải ngoại nhắc tới là:

- Lá cờ vàng là biểu tượng của một thói đời mang tính đối kháng. Nó làm tắc nghẽn con đường hiệp thông của tuổi trẻ VN. Và,

- Tôi bảo họ, các bạn đang ở đây, các bạn không còn là người tỵ nạn nữa.

Về các hoạt động gọi là Mục Vụ Di Dân của ông Hồng Y, đáng lưu ý nhất là việc ông cùng với viên chính ủy của TGP Saigon là Lm Huỳnh Công Minh và 2 giám mục khác nữa, thân hành sang Tầu vào tháng 9-2007 theo lời mời của Bộ Ngoại Giao Tầu cộng, để dụ dỗ Giáo Hội hầm trú tại đây quy phục CS Tầu, hợp tác với giáo hội quốc doanh của CS thành một cơ cấu thống nhất theo mô hình Giáo Hội VN mà ông đang là chủ soái. Phái đoàn của ông Hồng Y chỉ được báo chí nói sơ qua, vì mục đích của chuyến đi được coi là bí mật. Vả lại nó cũng chẳng mang lại kết quả gì, nên đã bị chìm vào quên lãng. Tháng 7 năm 2008 là thời gian ông gây ra nhiều biến cố nhất trên con đường Mục Vụ Di Dân của ông, và cũng là thời gian ông bị con chiên tại hải ngoại tẩy chay và xua đuổi nhiều nhất. Từ Sydney, Úc Châu, sang đến San Jose, Portland, Seattle, Missouri, Hoa Kỳ, đâu đâu giáo dân cũng long trọng đem lá Cờ Vàng ra đón rước ông Hồng Y, nhưng chỗ nào ông cũng phải lẩn như chuột.

Lần này ông HY Phạm Minh Mẫn sang Mỹ chủ tọa đại lễ kính Lòng Thương Xót Chúa do linh mục Trường Luân dòng Chúa Cứu Thế tổ chức. Nói rằng ông Hồng Y sang Mỹ là do Đức Hồng Y Mahony mời, nhưng đấy chỉ là protocol, một thủ tục nghi lễ không thể thiếu trên cấp lãnh đạo, đạo cũng như đời. Lm Trường Luân, trưởng ban tổ chức, mới thực sự là người đứng ra mời HY Phạm Minh Mẫn. Một sự trùng hợp hơi kỳ lạ là sự xuất hiện của HY Mẫn xẩy ra vào đúng lúc Trung Tâm CGVN tại Nam Cali dàn dựng vở chèo Hội Đồng Liên Tôn đoàn kết cộng đồng đàng sau cái gọi là Cộng Đồng Nguyễn Tấn Lạc của Việt Tân. Hai việc này có vẻ như mang âm hưởng của hai giọng tenor và soprano rất thuần thục và điêu luyện, cùng cất lên trong một bài hợp xướng.

Giáo dân hải ngoại rất cần đến lòng thương xót Chúa. Nhờ lòng thương xót của Chúa, họ vẫn có đủ cơm ăn, áo mặc, nhà ở, việc làm, con cái đi học, nhất là không bị đàn áp, bóc lột. So với giáo dân tỵ nạn thì giáo dân Thái Hà, Đồng Chiêm v.v. còn phải cần đến lòng thương xót của Chúa hơn gấp bội. Cha Trường Luân, xuất thân từ dòng Chúa Cứu Thế, tại sao không về VN mở lễ cầu xin Lòng Thương Xót Chúa cho giáo dân đáng thương của giáo xứ Thái Hà là xứ đạo thuộc dòng Chúa Cứu Thế cai quản, mà lại mở lễ ở bên Mỹ và mời HY Mẫn sang chủ sự? Về phần HY Phạm Minh Mẫn, tại sao khi giáo dân Thái Hà, Đồng Chiêm v.v... bị đàn áp thì HY Mẫn không đến đó mà cầu xin lòng thương xót của Chúa cho họ, mà phải lặn lội qua Mỹ cầu cho những người đã được hưởng lòng thương xót của Chúa dồi dào hơn những người ở trong nước quá nhiều rồi. Có phải cả hai đều là những chuyện nghịch lý không? Tại sao?

Vấn đề nên đặt ra ỏ đây là tại sao lại cứ phải HY Phạm Minh Mẫn mà không phải một vị nào khác? Như chúng ta đã thấy, tại Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới ở Sydney, HY Phạm Minh Mẫn. Tại Đại Hội Thánh Mẫu Missouri , HY Phạm Minh Mẫn. Tại lễ khánh thành thánh đường Đức Mẹ Lavang Portland, HY Phạm Minh Mẫn. Tại nhiều events khác nữa của người công giáo tỵ nạn, cũng là HY Phạm Minh Mẫn. Và lần này đây, tại đại lễ kính Lòng Thương Xót Chúa, lại cũng vẫn là HY Phạm Minh Mẫn. Câu hỏi là, bộ trong số các vị lãnh đạo của Giáo Hội CGVN không còn ai khác hơn hay sao, chẳng hạn Đức TGM Ngô Quang Kiệt, Đức Giám Mục Cao Đình Thuyên v.v. Mấy hôm trước đây, TGM Ngô Quang Kiệt còn ở Roma, ngài được mời chủ tọa đại lễ kính Lòng Thương Xót Chúa có phải tiện và hợp lý hơn không. Hội Đồng Giám Mục VN không thiếu các vị chân tu, đức hạnh, có tinh thần yêu nước nồng nàn . Mời HY Pham Minh Mẫn làm chi cho phiền phức và sinh chuyện? Sự việc dẫn đến nghi ngờ là có phải người ta đang cố tình chính trị hóa các sinh hoạt tôn giáo cho một mưu đồ nào đó không? Có phải đang có một bàn tay bí mật nào đó đạo diễn cho diễn viên HY Phạm Minh Mẫn trong tấn tuồng lôi kéo khối người công giáo tỵ nạn đi vào quĩ đạo thần phục bọn VGCS không? Mặc dầu chỉ là một nghi vấn, nhưng là một nghi vấn rất có sức thuyết phục. Ai là đạo diễn thì khó mà biết chắc được. Nhưng biết được những linh mục nào ở hải ngoại đứng ra mời hay môi giới cho HY Phạm Minh Mẫn đóng vai tuồng của ông, thì tất sẽ biết kẻ đạo diễn là ai. Những vị này nói chung, và Lm Trường Luân nói riêng không thể nào không biết HY Phạm Minh Mẫn là người thế nào.

Riêng đối với đại đa số con chiên thì họ đã biết, và biết rất rõ HY Phạm Minh Mẫn là ai. Con chiên đã biết gì, và hiểu sao khi giám mục Phạm Minh Mẫn cúi đầu chấp nhận những điều kiện bất lợi cho Giáo Hội để về cai quản TGP Saigon, trong khi Đức Cha Huỳnh Văn Nghi, người được Tòa Thánh chính thức bổ nhiệm, đã cương quyết từ chối, vì không chịu chấp nhận bất cứ một điều kiên nào của VGCS. Con chiên hiểu rằng khi Tòa Thánh chỉ định một người vào chức vụ cai quản một giáo phận, vị đó tất phải có đủ đức hạnh, khôn ngoan, can đảm, và khả năng lãnh đạo. Một giáo dân bình thường thôi cũng cảm thấy hổ thẹn khi GM Phạm Minh Mẫn nhẩy ra nhận lãnh chức TGM Saigon thay đức cha Huỳnh Văn Nghi, khi Đức Cha Nghi, người được chỉ định chính thức vẫn còn đó. Nếu đức cha Huỳnh Văn Nghi lãnh đạo TGP Saigon thì chính ủy Huỳnh Công Minh chắc chắn phải bay chức tổng đại diện TGP, vì hắn một là cán bộ đảng viên CS. Cũng vậy, tên linh mục CS Phan Khắc Từ đã bị tống cổ khỏi nhà thờ Vườn Xoài vì hắn là đảng viên CS, lại có vợ con đùm đề. Còn nhiều tên CS khác nữa khoác áo linh mục trong giáo phận, thao túng mọi sinh hoạt của giáo phận bấy lâu nay, được HY Pham Minh Mẫn bao che do điều kiện của VGCS đặt ra cho ông. Chịu nhượng bộ những đòi hỏi của VGCS, HY Phạm Minh Mẫn đã trở thành một công cụ để chúng sai khiến. Ông đã tự biến thành một thứ chó câm (danh từ của Đức GH Benedicto XVI) trước các vấn đề hết sức tang thương của cả xã hội và Giáo Hội VN hiện nay. Một kẻ vô học cũng biết uống nước phải nhớ nguồn. Ông HY Phạm Minh Mẫn sinh ra, lớn lên, được học hành, và hưởng thụ những biệt đãi dưới Lá Cờ Vàng 3 Sọc Đỏ, nhưng khi được VGCS tín dụng, ông đã nhẫn tâm nói lá Cờ Vàng là biểu tượng của một thói đời mang tính đối kháng. Người dân VN yêu lá Quốc Kỳ là một cái “thói”? Thói gì? Chống đối những bất công trong xã hội là một thói đời? Chống đối bọn bán nước cho ngoại bang cũng là thói đời? Người công giáo tỵ nạn chúng tôi tin rằng yêu lá Quốc Kỳ là yêu Tổ Quốc. Một ông Hồng Y Giáo Chủ lại không hiểu điều đó. Ông bảo đó là một thói đời. Có khác gì ông chửi bổn đạo tỵ nạn chúng tôi tiêm nhiễm phải một thứ thói hư tật xấu của xã hội. Câu nói của ông Hồng Y, “Thói đối kháng” là một câu chủi rủa quá nặng nề đối với con chiên bổn đạo. Họ phải giải thích làm sao với những anh chị em khác tôn giáo của họ đây? Kẻ vô học chắc cũng không ăn nói quá lỗ mãng, đối xử quá sức tàn tệ như thế.

Từ những điểm nêu trên, ta có thể đi đến kết luận về HY Phạm Minh Mẫn rằng, ông chẳng khác gì bọn VGCS, cũng là kẻ tám lạng, người nửa cân thôi. Đây nhá, với bọn VGCS, để giữ vững quyền lực và tiền bạc ăn cướp được, chúng đã cả dám bán đất, bán biển, bán hải đảo cho Tầu cộng, hình như còn muốn bán luôn nước cho Mỹ nữa. Còn HY Phạm Minh Mẫn, để được lên làm Hồng Y giáo chủ, ông đã ra tay hủy diệt Lá Cờ Vàng, tức là hủy diệt lòng yêu nước của giáo dân, Và đã phải chấp nhận chịu làm kiếp “chó câm” (xin nhắc lại, tiếng của Đức GH Benedicto XVI) trước các vấn đề trọng đại của Giáo Hội và của đất nước. Hủy cái gì thì hủy, nhưng hủy diệt lòng yêu nước của người dân, thì đất nước sẽ phải đời đời kiếp kiếp làm nô lệ thôi. Một ngàn phần trăm chắc chắn như thế. Khi người dân đã mất sạch lòng yêu nước, thì biển, đảo, đất đai không bao giờ còn trông mong lấy lại được. Điều kiện gì thì điều kiên, chấp nhận điều kiện không được nói đụng chạm đến chế độ, phải lưu dụng bọn linh mục quốc doanh, thì đạo Công Giáo đã mất đi cái bản sắc của mình là một tinh thần bác ái cao cả: giải thoát người bị áp bức, bênh vực kẻ cô thế, giúp đỡ kẻ nghèo hèn, chống đàn áp bất công, rao giảng chân lý v.v... Mất đi những thứ đó mà chỉ còn giữ lại cái xác là những ngôi nhà thờ nguy nga, những lễ lạt linh đình, những rước xách rầm rộ v.v... thì đạo còn có nghĩa lý gì. Lối giữ đạo này thật khác xa với cách thức Chúa Giêsu đã dậy để tôn kính Thiên Chúa. Ngài nói: “Nhưng giờ đã đến -và chính là lúc này đây- giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật, vì Chúa Cha tìm đến những ai thờ phượng Người phải thờ phượng trong thần khí và sự thật.” (Ga 4, 24)

Tóm lại, xin được thu gọn cái nửa cân và cái tám lạng như thế này cho dễ thấy:

- VGCS: - mất đất, mất đảo, mất biển của Tổ Quốc

- để giữ đảng.

- HY Phạm Minh Mẫn: - mất tinh thần yêu nước của người dân, mất đi bản sắc của

một tôn giáo.

- được làm Hồng Y Tổng Giám Mục Saigon.

Trong các nhà thờ VN, giáo dân vẫn thường hát rằng: Đâu có tình yêu thương, ở đấy có Đức Chúa Trời. Đại lễ kính Lòng Thương Xót Chúa của cha Trường Luân mời HY Phạm Minh Mẫn đến chủ tọa bị cộng đồng giáo dân tỵ nạn phản đối. Sự thể không thể chối cãi là cuộc đại lễ trở thành mất hòa khí, không có tình yêu thương giữa các người con cái Chúa. Như vậy thì liệu ở đấy có Đức Chúa Trời không? Cái nguyên nhân gây ra bất hòa không phải do giáo dân, mà là do HY Phạm Minh Mẫn. Sự xuất hiện trong buổi lễ của ông Hồng Y là một thách đố hết sức kiêu căng. Ông Hồng Y biết sẽ có sự chống đối của giáo dân. Ông vẫn tới tức là ông đã đạp lên dư luận mà đi. Người tín hữu khó tin được một chủ chăn hiền lành và nhân từ lại hành sử như thế.

Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất


Saturday, April 10, 2010

Cờ Bay - Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa Tái Chiếm Quảng Trị 1972







Chữ Quốc Ngữ Được Công Giáo Khai Sinh Năm 1651 - Trần Văn Cảnh


Alexandre de Rhodes

Gs Trần Văn Cảnh

Năm 1651 cho xuất bản hai cuốn sách quốc ngữ đầu tiên: cuốn «Tự điển việt bồ latinh» và cuốn giáo lý công giáo «Phép giảng tám ngày», cha Đắc Lộ, dòng Tên, đã khai sinh ra chữ quốc ngữ. Nhưng góp phần vào công việc này, có sự đóng góp của nhiều giáo sỹ và giáo dân khác. Lại có cả phần đóng góp của Thánh bộ Truyền giáo ở Giáo triều Rôma nữa. Đó là lý do tại sao chúng tôi đã dùng tựa đề «Chữ quốc ngữ đã được Công Giáo khai sinh năm 1651».

1. Cuốn «Tự điển việt bồ latinh», có tên bằng tiếng latinh là «Dictionarivm annamiticvm, lvsitanvm, et latinvm, ope Sacrae Congregationis de Propaganda Fide in lvcem editvm. Ab Alexandro de Rhodes è Societate Iesv, ejusdemque Sacrae Congregationis Missionario Apostolico, Roma, 1651, in-4°,

Cha Đắc Lộ cho biết sở dĩ ngài soạn được cuốn từ điển này là vì thứ nhất ngài đã lưu trú 12 năm cả ở Đàng Trong lẫn Đàng Ngoài. Thứ hai ngài đã học tiếng Việt, nhất là về thanh và âm, với một cậu bé việt nam 13 tuổi. Thứ ba ngài cũng đã học tiếng việt với cha Francois de Pina người Bồ, là người ngoại quốc thứ nhất rất thông thạo tiếng Đàng Trong, người thứ nhất giảng mà không cần thông dịch viên. Thứ bốn ngài đã xử dụng từ điển Việt Bồ của cha Gaspar d’Amaral và từ điển Bồ Việt của cha Antonio Barbosa, cả hai đều là người Bồ.

Đỗ Quang Chính đã mô tả như sau: «Cuốn tự điển được soạn bằng ba thứ chữ Việt-Bồ-La (mà tên sách chỉ đề bằng chữ Latinh, rõ rệt hướng tới độc giả giáo sỹ truyền giáo âu châu), với hai mục đích đã được tác giả ghi rõ: thứ nhất, giúp các nhà truyền giáo học tiếng Việt, để có thể truyền giáo; thứ hai, chiều theo ý muốn của một số vị Hồng y ở La Mã, thêm chữ La tinh vào, để người Việt Nam có thể học thêm La ngữ.

Cuốn tự điển gồm ba phần chính:

- Lingvae Anmiticae seu Tvnchinensis brevis declaratio, 31 trang, từ trang 1 đến 31, được sắp lên đầu cuốn tự điển va được đánh số tách biệt với cuốn tự điển. Ðây là cuốn ngữ pháp Việt Nam, nhưng soạn thảo bằng La ngữ, với mục đích cho người Tây phương học. Tuy sách vắn, nhưng tác giả cũng chia ra 8 chương rõ rệt, không kể Lời Nói Ðầu:

Chương I: Chữ và vần trong tiếng Việt (De literis et syllabis quibus haec lingua constat). Chương II: Dấu nhấn và các dấu (De Accentibus et aliis signis in vocalibus). Chương III: Danh Từ (De Pronominibus).
Chương IV: Ðại danh từ (De Pronominibus).
Chương V: Các đại danh từ khác (De aliis Pronominibus).
Chương VI: Ðộng từ (De Verbis).
Chương VII: Những phần bất biến (De reliquis orationis partibus indecli nabilibus).
Chương chót: Cú pháp (Praecepta quaedam ad syntaxim pertinentia).

- Dictionarivm Ananmiticvm seu Tunchinense cum Lusitana, et Latina declaratione. Phần này không đánh số trang nhưng ghi theo cột chữ (mỗi trang có hai cột chữ). Từ đầu đến cuối là 900 cột, từ mẫu tự nọ sang mẫu tự kia thường để cách một trang trắng, có khi hai trang trắng. Một điều khác đặc biệt với tự điển Việt Nam ngày này, Ðắc Lộ thêm mẫu tự /b sau mẫu tự b. Thực ra đó là một số chữ thuộc mẫu v bây giờ.

Ví dụ: /bá (vá: vá áo), /bã (vã: vã nhau, tát nhau), /bạch (vạch: vạch tai ra mà nghe), /bậy (vậy: ấy vậy), /bán (ván: đỗ, đậu ván), /bỗ (vỗ: vỗ tay), /bỏ (vỏ: vỏ gươm), /bua (vua: vua chúa), /bú (vú) . Mẫu tự /b này chiếm 10 cột, tức 5 trang giấy.

- Index Latini sermonis là phần thứ ba cuốn tự điển. Trong phần này, tác giả liệt kê chữ La tinh có ghi trong phần hai và bên cạnh mỗi chữ có đề số cột, với mục đích để người học tiếng Việt, nếu đã biết La tinh, thì dò theo phần này để tìm chữ Việt ở phần kia. Trong phần này không đánh số trang, cũng không ghi số cột (mỗi trang có hai cột chữ). Chúng tôi đếm được 350 cột tức 175 trang. (Đỗ Quang Chính, Lịch sử chữ quốc ngữ 1620-1659, Ra khơi: Sài gòn 1972, tr. 84-86)

2. Cuốn giáo lý «Phép giảng tám ngày» có tên bằng tiếng latinh và tiếng việt như sau: «Cathechismvs pro iis, qui volunt suscipere Baptismvm, in Octo dies diuisus. Phép giảng tám ngày cho kẻ muốn chiụ phép rửa tội, ma /beào (8) đạo thánh đức Chúa trời. Ope Sacrae Congregationis de Propaganda Fide in lucem editus. Ab Alexandro de Rhodes è Societate Iesv, ejusdemque Sacrae Congregationis Missionario Apostolico, Roma, 1651, in-4°. (Hình chụp sách chính bản, lưu trữ tại Thư Viện Á châu, Hội Thừa sai Hải Ngoại Paris)

«Ðây là một cuốn giáo lý mà tác giả muốn viết cho những người dậy giáo lý dùng. Cuốn sách được viết bằng hai thứ tiếng: La tinh và Việt Nam. Trên mỗi trang sách chia làm hai, có một gạch đôi từ trên xuống dưới: bên tay trái của người đọc sách là chữ La tinh (chữ xiên), bên tay phải là chữ Việt (chữ đứng). Ðể độc giả dễ dàng đối chiếu hai thứ chữ, Ðắc Lộ đặt ở đầu mỗi ý tưởng chính mẫu tự abc ... cho hai phần La Việt, rồi chính giữa trang sách cũng đặt mẫu tự abc ... cho hai phần La Việt song song. Cuốn sách có 319 trang, không đề Lời tựa. Sau trang bìa và trang ghi ngày được phép in sách, là đến phần chính ngay.

Viết sách này, tác giả không chia ra từng chương, mà lại chia theo từng ngày học, có tính cách sư phạm, và như chúng ta đã biết là sách được chia ra Tám ngày. (Đỗ Quang Chính, Ibid., tr. 86)

3. Cha Đắc Lộ đã học tiếng việt và cho in hai sách trên thế nào ?. Ở một chỗ khác, trong một bài tường thuật ngắn, cha Đắc Lộ đã vắn tắt mô tả những bước đầu truyền giáo của ngài từ năm 1624 tại Việt Nam, việc học tiếng việt và việc xuất bản hai tập sách trên. Ngài nhắc lại việc cần thiết phải chuyên cần học tập tiếng việt nếu muốn truyền giáo hiệu quả, ngài cũng nhắc đến việc ngài học tiếng việt với một cậu bé việt nam và việc in sách tự điển, ngữ pháp và giáo lý. Ngài viết: Vì Nhật Bản vẫn thi hành chính sách bế quan tỏa cảng, nên bề trên tin rằng Chúa cho phép sự ác đó để mở cửa cho Đàng Trong nhận Phúc âm.

Thế là năm 1624, bề trên phái cha Mathêu Mattos, trước kia ở Rôma làm quản thủ các tỉnh dòng, đến thăm việc truyền giáo ở Đàng Trong, cùng với năm bạn đồng sự người Âu, trong số đó tôi hân hạnh là người thứ năm và một người Nhật thông thạo chữ Hán.

Chúng tôi khởi hành từ Macao vào tháng 10 năm 1624 và sau mười chín ngày thì tới Đàng Trong, tất cả đều hồ hởi bởi hoạt động tốt. Ở đó chúng tôi gặp cha Pina, ngài rất thông tạo tiếng xứ này, một thứ tiếng khác hẳn tiếng Tàu. Tiếng mới này còn thông dụng ở Đàng Ngoài, ở Cao Bằng, ở Đàng Trong và người ta còn nghe và hiểu ở ba xứ lân bang khác. Đối với tôi, thú thật vừa tới Đàng Trong và nghe dân xứ này nói, nhất là phụ nữ, tôi tưởng như nghe chim hót và tôi không bao giờ mong có thể học được.

Hết các tiếng đều độc vận và chỉ phân biệt ý do nhiều giọng nói khác nhau. Một chữ như “đại” chẳng hạn, có tới hai mươi ba nghĩa hoàn toàn khác nhau, do cách đọc khác nhau, vì thế khi nói thì như ca như hát. Tôi đã đề cập tới nhiều hơn trong cuốn Lịch sử Đàng Ngoài. Căn cứ vào đó thì thấy học thứ ngôn ngữ này không phải là dễ.

Vì thế mà tôi thấy cha Fernandez và cha Buzomi phải dùng thông ngôn để giảng, chỉ có cha Francois de Pina không cần thông ngôn vì nói rất thạo. Tôi nhận thấy bài ngài giảng có ích nhiều hơn bài các vị khác. Điều này khiến tôi tận tuỵ học hỏi, tuy vất vả, thế nhưng khó ít mà lợi nhiều. Tôi liền chuyên chú vào việc. Mỗi ngày tôi học một bài và siêng năng như khi xưa vùi đầu vào khoa thần học ở Rôma. Chúa đã cho tôi trong bốn tháng tôi đủ khả năng để ngồi tòa giải tội và trong sáu tháng tôi đã giảng được bằng ngôn ngữ Đàng Trong và cứ thế tôi tiếp tục trong nhiều năm. Tôi khuyên tất cả các vị nhiệt tâm muốn tới những tỉnh dòng chúng tôi để chinh phục các linh hồn, thì nên chuyên cần ngay từ buổi đầu. Tôi cả quyết rằng hiệu quả của việc trình bày các mầu nhiệm trong ngôn ngữ của họ thì vô cùng lớn lao hơn khi giảng bằng thông ngôn: thông ngôn chỉ nói điều mình dịch chứ không sao nói với hiệu lực của lời từ miệng nhà truyền đạo có Thánh Thần ban sinh khí.

Người giúp tôi đắc lực là một cậu bé người xứ này. Trong ba tuần lễ đã dạy tôi các dấu khác nhau và cách đọc hết các tiếng. Cậu không hiểu tiếng tôi mà tôi thì chưa biết tiếng cậu, thế nhưng, cậu có trí thông minh biết những điều tôi muốn nói. Và thực thế, cũng trong ba tuần lễ, cậu học các chữ của chúng ta, học viết và học giúp lễ nữa. Tôi sửng sốt thấy trí thông minh của cậu bé và trí nhớ chắc chắn của cậu. Từ đó cậu đã làm thầy giảng giúp các cha. Cậu đã là một dụng cụ rất tốt để tôn thờ Chúa trong giáo đoàn và cả ở nước Lào, nơi cậu hoạt động trong nhiều năm với thành quả mỹ mãn, cậu rất mến thương tôi nên đã muốn lấy tên tôi.

Từ ngày tôi trở về Au Châu, tôi đã cho in ở Rôma, nhờ các vị ở bộ Truyền giáo, một tự vị tiếng Đàng Trong, Latinh và tiếng Bồ, một cuốn ngữ pháp và một cuốn giáo lý, trong đó tôi bàn giải về phương pháp chúng tôi dùng để trình bày mầu nhiệm đạo thánh cho lương dân. Việc này sẽ có ích cho những người ao ước tới giúp việc giảng Chúa Kitô bằng ngôn ngữ tới nay chỉ dùng để sùng bái quỷ ma. (ALEXANDRE DE RHODES, HÀNH TRÌNH VÀ TRUYỀN GIÁO, chương 3, do Nguyễn Khắc Xuyên dịch). (http://www.dunglac.org/index.php?m=module3&v=chapter&ib=136&ict=319)

4. Ai là tác giả của hai tác phẩm này ?

Vì tên tác giả đề ngoài sách chỉ có tên cha Đắc Lộ, thông thường chúng ta vẫn hiểu rằng đó là tác phẩm của riêng cha Đắc Lộ. Cách hiểu này không đúng với sự thực. Về cuốn từ điển, thì chính cha Đắc Lộ đã nói rõ trong lời tựa nói với độc giả rằng ngài đã thực hiện dựa trên căn bản của cuốn từ điển Việt - Bồ do linh mục Gaspar do Amaral soạn và từ điển Bồ Việt của Antonio Barbosa, cả hai đều là người Bồ.

Và một cách tổng quát, trong một nghiên cứu mới đây, cha Jacques ROLAND đã đưa ra một trả lời thực tế như sau: «Về hai tác phẩm viết bằng tiếng Việt Nam do Bộ Truyền Bá Ðức Tin xuất bản, hẳn không có vấn đề bán ra cho dân chúng; mục đích duy nhất là phục vụ công cuộc truyền giáo. Do sự kiện Rhodes là người duy nhất ở Roma biết đến ngôn ngữ ấy, thì ông cần đích thân bảo chứng cho các tác phẩm liên hệ, mang lấy trách nhiệm tối hậu trước các vị bề trên của mình và trước Toà Thánh. Sự kiện tên ông xuất hiện trên bìa sách không nhất thiết minh chứng rằng ông là "tác gia" duy nhất của nó và ngay cả là người biên tập chính. Chúng tôi nghĩ rằng đây là lối mang trách nhiệm mà linh mục Rhodes đã thực hiện, chứ không phải là nêu lên tư cách tác giả văn chương theo nghĩa chính xác như chúng ta hiểu; những vị có thể làm điêu này y như cương vị của ông, hoặc có thể cùng làm việc này với ông, thì lại ở xa mút tại một nơi khác.

Còn cuốn giáo lý, có lẽ phải dành tư thế tác giả cho ông trong việc biên tập dứt điểm bản văn được in ra, và chắc chắn hơn nữa là bản văn la tinh được ông minh nhiên nói đến. Nhưng cũng chính Rhodes đã ghi rằng, trong trường hợp này đây là "phương pháp mà chúng tôi đã dùng để trình bày các màu nhiệm của chúng ta cho người ngoại quốc". Như thế rõ rệt nó được định vị trong một công trình tập thể». (http://www.bbc.co.uk/vietnamese/specials/1232_jacques_roland/page7.shtml)

5. Các giai đoạn thành hình chữ quốc ngữ trước khi hai sách trên được xuất bản.

Trong tác phẩm nghiên cứu rất nghiêm chỉnh về «Lịch sử chữ quốc ngữ 1620-1659», Linh mục Đỗ Quang Chính, dòng Tên, đã mở đầu chương 2, bàn về «Sơ lược giai đoạn thành hình chữ quốc ngữ (1620-1648) bằng lời xác định tổng quát rằng: «Chữ Việt ngày nay là một thứ chữ đã được nhiều linh mục Dòng Tên ở Việt Nam (với sự cộng tác âm thầm của một số Thầy giảng Việt Nam) vào thế kỷ 17 sáng tạo ra. Nói một cách tổng quát thì họ đã dùng mẫu tự La tinh, rồi dựa vào phần nào của chữ Bồ Đào Nha, Ý và mấy dấu Hy Lạp, để làm thành chữ mà chúng ta đang dùng». (Đỗ Quang Chính, Ibid., tr. 19-76)

Dựa vào những tài liệu gốc, viết tay, tìm được trong các văn khố, cha Chính đã phát hiện ra hai yếu tố căn bản phân chia sự biến chuyển trong tiến trình thành hình của chữ quốc ngữ 1620-1648. Rồi tựa vào đó, cha đã nêu ra hai giai đoạn thành hình của chữ quốc ngữ trước ngày hai cuốn sách của cha Đắc Lộ được phổ biến năm 1651. Hai giai đoạn đó là: Giai đoạn sơ khởi chữ quốc ngữ 1621-1626 với các đặc tính chung là «hầu hết các chữ còn viết liền và chưa thấy đánh dấu vào những chữ đó», và giai đoạn hai 1631-1648 mà hai đặc tính chung là «Chữ quốc ngữ đã được viết khá đúng về hai phương diện: cách ngữ và dấu».

51. Giai Ðoạn Sơ Khởi (1620-1626)

Các nhà truyền giáo Âu Châu đã đến Hà Tiên và Thừa Thiên từ giữa thế kỷ 16. «Sang đến đầu thế kỷ 17, các nhà truyền giáo dòng Tên gồm người Âu châu và một số ít người Trung hoa, Nhật bản, mới chính thức đến truyền bá Phúc âm ở Việt Nam, và hoạt động của các ông đã được ghi lại khá đầy đủ.

Ngày 06.01.1615, ba tu sĩ Dòng Tên là hai lm Francesco Buzomi (Ý), Diego Carvalho (Bồ Đào Nha) và thầy Antonio Dias (Bồ Đào Nha), đáp tầu buôn Bồ Đào Nha từ Áo Môn đi Đàng Trong, và tới Cửa Hàn ngày 18.01.1615. Sau đó mấy tháng các ông đến ở Hội An …

Ba nhà truyền giáo mà chúng ta vừa nói, đến Hội An với mục đích đầu tiên là giúp đỡ giáo hữu Nhật về mặt tôn giáo, và nhờ người Nhật làm thông ngôn để tiếp xúc với người Việt Nam. Sau năm 1615, nhiều tu sĩ Dòng Tên khác không những đến truyền giáo ở Đàng Trong mà cả Đàng Ngoài nữa, nhưng đa số là người Bồ Đào Nha.

Các nhà truyền giáo tới Việt Nam thời ấy đều phải học tiếng Việt mới có thể tiếp xúc với người Việt Nam. Theo chúng tôi biết thì Lm Francisco de Pina là người Âu châu đầu tiên nói thạo tiếng Việt. Pina sinh năm 1585 ở Bồ Đào Nha, ông tới Đàng Trong năm 1617. Lúc đầu sống ở Hội An, sang năm 1618 ông ở tại Nước Mặn với Buzomi và Borri. Hai năm sau, ông trở lại Hội An, rồi năm 1623, Pina đến ở tại Thanh Chiêm, thủ phủ Quảng Nam Dinh. Pina chết đuối ở bờ bể Quảng Nam ngày 15.12.1625.

Nhờ biết tiếng Việt, nên ngay từ năm 1620, các tu sĩ Dòng Tên tại Hội An đã soạn thảo một sách giáo lý bằng «chữ Đàng Trong», tức là chữ Nôm. Cuốn sách này vì soạn bằng chữ Nôm, nên chắc chắn phải có sự công tác của người Việt.

Nhưng chúng tôi tưởng cuốn sách này cũng được viết bằng chữ Việt mới nửa (chữ quốc ngữ ngày nay), mà người có công soạn thảo là Lm Francisco de Pina, ví lúc đó chỉ có ông là người Âu châu thạo tiếng Việt nhất ….

Theo sự nhận xét của chúng tôi thì vào năm 1620 dù Lm Pina đã nói được tiếng Việt, nhưng khó lòng mà phân biệt được lối cách ngữ như chúng ta đang dùng ngày nay. Dựa vào những tài liệu viết tay năm 1621-1626, chúng tôi tôi biết được hầu hết các chữ còn viết liền và chưa thấy đánh dấu vào những chữ đó. Chính dựa theo hai đặc điểm này mà chúng tôi cho là giai đoạn sơ khởi chữ quốc ngữ. (Đỗ Quang Chính, Ibid., tr. 20-24)

Bảy tài liệu viết tay đả được trình bày. Đó là những tài liệu của : Joao Roiz năm 1621, Gaspar Luis năm 1521, Cristoforo Borri năm 1621, Đắc Lộ năm 1625, Gaspar Luis năm 1626, Antonio de Fontes năm 1626 và Francesco Buzomi năm 1626. Trong những tài liệu này, các chữ thường được viết liền và không có đánh dấu.

Thí dụ:
    - Annam = An Nam
    - Unsai = Ông Sãi
    - Ungue = Ông Nghè
    - Bafu = Bà Phủ
    - doij = đói
    - scin mocaij = xin một cái
    - Sayc Chiu = Sách chữ
    - Tuijciam, Biet = Tôi chẳng biết
52. Giai Ðoạn Hai (1631-1648)

Sang giai đoạn hai 1631-1648, 11 tài-liệu viết tay đã được nhắc đến.
    * Năm tài liệu của cha Đắc Lộ, viết vào tháng 1.1631, tháng 5.1631, năm 1636, năm 1644 và năm 1647
    * Hai tài liệu của Gaspar d’Amaral năm 1632 và năm 1637
    * Hai tài liệu về biên-bản hội-nghị viết tay năm 1645 của 35 linh mục Dòng Tên tại Macao để xác nhận mô thức rửa tội bằng tiếng Việt Nam : năm 1645 và 1648.
Mười một tài liệu này cho thấy chiều hướng mới trong cách viết chữ Quốc Ngữ. Các chữ được viết cách ra và đã được bỏ dấu.

Nhiều chữ nhìn tương tự như chữ quốc ngữ ngày nay, nhưng có lối đánh vần và bỏ dấu hơi khác.
    · Thính hoa: Thanh Hóa
    · Ong bà phủ: Ông bà Phủ
    · Huỵen: huyện
    · Sãy: sãi
    - Chua thanh đô (Chúa Thanh đô, Thanh đô vương Trịnh Tráng)
    - Chua cả (Chúa Cả, tước hiệu dành cho Trịnh Tạc)
    - Đức Chuá Blờy sinh ra chín đớng thiên thần la cuôn cuốc Đức Chuá Blờy (Đức Chúa Trời sinh ra chín đấng thiên thần là quân quốc Đức Chúa Trời)

Nhiều chữ được viết như chữ quốc ngữ ngày nay.

Thí dụ như:
    · Nghệ An
    · Bố Chính
    - Kẻ chợ
    - đàng ngoài
    - một nam, một nữ
(Đỗ Quang Chính, Ibid. tr. 20-76)

LỜI KẾT

Với hai cuốn sách Tự điển Việt Bồ Latinh và Giáo lý ấn hành năm 1651, cha Đắc Lộ đã chấm dứt thời gian thai nghén và đã làm khai sinh cho chữ quốc ngữ. Dĩ nhiên cha không phải là người duy nhất mà chỉ là một trong nhiều người đã góp phần thành lập chữ quốc ngữ. Nhưng cha là người có công rất nhiều trong việc soạn thảo và xuất bản hai cuốn sách này. Viết «Lời giới thiệu» cho tập khảo cứu «Lịch sử chữ quốc ngữ 1620-1659» của Đỗ Quang Chính, giáo sư sử học Nguyễn Thế Anh đã nhận định một cách chính đáng rằng: «Để thực hiện công cuộc truyền đạo của họ tại Đại Việt, các giáo sĩ Dòng Tên ngay từ khoảng đầu thế kỷ thứ XVII đã cố gắng tạo nên một lối chữ viết căn cứ trên mẫu tự la tinh, nhờ đó có thể diễn tả ngôn ngữ Việt. Từ những sự dò dẫm phiên âm các nhân danh và địa danh lúc ban đầu, cho đến lúc Đắc Lộ cho xuất bản hai sách quốc ngữ đầu tiên vào năm 1651, các cố gắng tập thể của các nhà truyền đạo Tây Phương cho phép thành lập chữ viết của chúng ta ngày nay». (Đỗ Quang Chính, sđd, Lời giới thiệu, tr. 5)

Góp phần sáng tạo chữ quốc ngữ và cho ấn hành hai tác phẩm tiếng việt đầu tiên, cha Đắc Lộ cũng như các giáo sĩ Dòng Tên chỉ nhắm có hai mục đích: thứ nhất, giúp các nhà truyền giáo học tiếng Việt, để có thể truyền giáo; thứ hai, để giúp người Việt Nam có thể học thêm La ngữ.

Trong mục tiêu thứ hai, chữ quốc ngữ đã được đưa vào chương trình đào tạo các tín hữu việt nam ưu tú, để đào tạo họ thành thầy giảng và thành linh mục (thời Thừa Sai Hải Ngoại Paris, từ 1666). Đó là lý do khiến, ngay từ buổi đầu, một số tín hữu việt nam đã thông thạo chữ quốc ngữ và đã viết được những tác phẩm giá trị, như tập «Lịch sử nước Annam» của thầy giảng Bento Thiện, viết tay năm 1659.

Sau cha Đắc Lộ, nhiều giáo sĩ Âu châu tiếp tục công việc nghiên cứu chữ quốc ngữ: Trong lãnh vực tự điển, có rất nhiều tác giả, trong đó phải kể đến Đức cha Bá Đa Lộc (Pierre Pigneaux, évêque d’Adran ; Vocabularium Anamitico-Latinum - Pondichéry, 1772. - [70]-729 p.; 35 cm.); Đức cha Taberd Từ (Jean-Louis Taberd ; Dictionarium latino-anamiticum;– Se-rampore: ex Typis J. C. Marshman, 1838. - LXXXVIII-708- VIII-135 p.; 28 cm.),…

Trong lãnh vực sách quốc ngữ với những tác phẩm của cha Philipphê Bỉnh, của cố Pierre Cadro Lương, … chữ quốc ngữ đã mở đầu một nền văn học công giáo.

Chẳng bao lâu sau đó, những nhà văn quốc ngữ đã xuất hiện, như Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của. Rồi sự ra đời vào năm 1865 của tờ báo quốc ngữ đầu tiên ở Nam kỳ, tờ «Gia định báo»; Từ 1905, chữ quốc ngữ lại được các nho gia cách mạng trong phong trào duy tân Đông Kinh Nghĩa Thục, như Lương Văn Can, Nguyễn Quyền, Phan Chu Trinh,… cổ võ và truyền bá. Chẳng bao lâu sau, chữ quốc ngữ đi vào học trình các trường sư phạm, đại học, thông ngôn. Năm 1907, Đông Cổ Tùng Báo ra đời với chủ bút Nguyễn Văn Vĩnh. Nhiều báo khác tiếp theo, như Đông Dương tạp chí với Nguyễn Văn Vĩnh, Nam Phong tạp chí với Phạm Quỳnh ?.... Các nhà in được thiết lập, hội dịch sách ra đời,… Công việc biên khảo và phê bình phát triển,…Các ký sự, tiểu thuyết mới xuất hiện,… Thơ mới ra đời, .. Tự Lực Văn Đoàn,… cả một nền văn học mới đã được chữ quốc ngữ mở ra, mang theo một nền văn hóa mới, đặt căn bản trên tự do và trách nhiệm cá nhân, hướng về tương lai, dựa vào khoa học khách quan, xây dựng quốc gia trên nền tảng công ích, lương thiện, sự thật và công bình. (Xin xem Phạm Thế Ngũ, Việt Nam Văn Học Sử giản ước tân biên, tập 3: Văn học hiện đại 1862-1945).

Chuẩn bị năm thánh 2010, để «Nhìn lại quãng đường lịch sử gần 500 năm truyền giáo qua 3 thời kỳ: 126 năm Bảo Hộ (1533-1659), 300 năm Tông Toà (1659-1960), đặc biệt là 50 năm Chánh Toà (1960-2010)», mọi thành phần Dân Chúa chung lòng chung sức với hàng Giáo phẩm xây dựng một Giáo Hội hiệp thông, Giáo Hội tham gia, và Giáo Hội vì loài người, nhằm tạo thuận lợi cho việc thi hành cách có hiệu quả hơn sứ vụ yêu thương và phục vụ của Chúa Kitô, trong cộng đồng dân tộc cũng như cộng đồng thế giới hôm nay.

Vào Việt Nam từ 1533, công giáo đã mang Tin Mừng cho người Việt Nam. Khai sinh ra chữ quốc ngữ vào năm 1651, công giáo đã đưa ra những đóng góp tạo hình quan trọng của mình vào văn hóa việt nam.

Paris, ngày 01 tháng 04 năm 2009
Xem lại ngày 10 tháng 01 năm 2010

Trần Văn Cảnh