Thursday, February 11, 2010

Dân Việt dưới sự lãnh đạo của tà quyền csVN của đỉnh cao loài khỉ

    Thân cò 76 tuổi mò cua băắắt ốốc trong bùn dơ biển lạnh ở Nha Trang

Đêm mùa đông rét như cắt da cắt thịt, cụ Phạm Đoàn, 76 tuổi, thôn Quảng Hội, xã Vạn Thắng, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa, cơ thể chỉ như da bọc xương, thức dậy từ 1 giờ khuya, lọ mọ xuống ngâm mình dưới biển mò cua bắt ốc kiếm gạo ăn qua ngày.

“Con nước vừa rồi không kiếm đủ gạo, phải mượn hàng xóm 20.000 đồng đắp đổi thêm. Bây giờ phải ráng mò cua ốc kiếm tiền trả nợ, mua gạo, nếu dư dành mua hộp bánh cúng ông bà mấy ngày tết” – cụ Đoàn nói

“Nước biển cạn lúc nào là dậy đi lúc đó. Mùa đông nước thường cạn về khuya: 12 giờ đêm, 1 giờ, 2 giờ … Mắt mũi tui lòa nhòa hết rồi, đi ban đêm không thấy gì hết, phải nhờ mấy đứa trẻ đi trước dẫn đường. Qua mấy cái dây neo ghe, mấy đứa phải hô: “Coi chừng dây neo”, rồi đạp chân xuống cho tui bước qua. Trời tối như mực, đêm nào cũng vấp đá, vấp dây ngã nhào cổ” – cụ Đoàn kể về con đường đi hành nghề vô vùng gian khổ của mình.

Dù kiếm ăn đêm dọc bờ biển nhưng điều rất nguy hiểm là cụ không biết bơi. Cụ cho biết nhiều lần sém chết trong đêm tối.

Cụ Đoàn kể: “Có lúc đang mò cua ốc tui bị những con sóng to xô ngã, nước “đè” lên cả đầu. Tui phải dùng hai tay bấu xuống đất, sợ nước kéo ra ngoài sâu. Còn lội đi bị sụp hầm, sụp hố nước sâu uống nước no cả bụng thì xảy ra như cơm bữa. Sợ nhất là mấy ghe giã cào vào bờ lúc 2-3 giờ sáng, cứ đẩy thúng chai đi ào ào va vô người mình lúc nào không hay”.


Cụ vừa từ dưới biển lên, người run lẩy bẩy


Chân bị miểng chai cắt máu chảy nhiều, cụ phải nhai thuốc lá đắp cầm máu


Cụ đang xem cân số ốc, sò vừa mò được

Từ 1 giờ sáng đến gần 11 giờ trưa trong bụng không có hột cơm, ngâm mình trong giá rét … nhưng chỉ bán được 17.000 đồng. Giá trị cả ngày lam lũ chỉ thu được 10.000-20.000 đồng, gặp lúc sóng to gió lớn chỉ được 5.000-7.000 đồng


Hải Luận (Tuổi Trẻ)

Tini Trần, nữ phóng viên chiến trường Iraq, Afghanistan - Huy Phương

Huy Phương

Tini Trần là một cô bé Việt Nam đến Hoa Kỳ vào đầu tháng 5, năm 1975, lúc cô chỉ mới ba tuổi rưỡi, ngày nay đã trở thành một người nổi tiếng trong ngành truyền thông Hoa Kỳ vì hiện nay cô là thông tín viên của hãng Thông Tấn AP (Associated Press) tại Bắc Kinh. Cái tên Trần Thiên Hương do cha mẹ cô đặt ngày nay đã không còn ai gọi đến, nhưng trong làng ký giả quốc tế, không ai không biết tới cô gái Việt Nam nhỏ con, gan lì đang nhận một nhiệm vụ khá quan trọng tại Ðông Nam Á. Không những cô phụ trách cho hãng thông tấn Hoa Kỳ lớn nhất tại Trung Cộng mà còn hiện diện khắp nơi, từ Ấn Ðộ, Singapore, Thái Lan, Pakistan, Mã Lai đến Afganistan, Kuwait và tại Iraq trong những ngày Hoa Kỳ mở trận chiên tấn công vào cứ điểm Falluja, Baghdad, để đem về những nguồn tin xác thật, ghi nhận tại chỗ rất giá trị. Bài của Tini Trần thường trực hiện diện trên những tờ báo lớn của nước Mỹ như Washington Post, Wall Street Journal, San Jose Mercury News, Los Angeles Times, Baltimore Sun, Chicago Tribune, Houston Chronicle, Sacramento Bees ... và hằng trăm tờ báo khác trên khắp lục địa Hoa Kỳ.

Liệt kê các giải thưởng về báo chí (Journalist Awards) của ký giả Tini Trần:

* 2005: Associated Press Managing Editors Award - Deadline Reporting AP staff coverage of Asian tsunami

* 2000: - National Headliners Award
- 1st Place Coverage of a Major News Event AP coverage of 25th Anniversary of Fall of Saigon, “Vietnam Legacy”

- Associated Press Managing Editors Award - Enterprise Reporting AP coverage of 25th Anniversary of Fall of Saigon, “Vietnam Legacy”

* 1999: Los Angeles Times - Top of the Times Award Beat Coverage & Investigative Reporting

* 1995: - Associated Press Managing Editors Award, 1st Place Non-Deadline Writing “Return to Vietnam” Series, The Tennessean

- Asian American Journalists Association Award

- 2nd Place Asian American Issues “Return to Vietnam” Series, The Tennessean

- Green Eyeshade Investigative Awards, Finalist


Thân phụ của Tini Trần là Bác Sĩ Trần Văn Thuần, bác sĩ y khoa hành nghề tại Houston và mẹ là Công Huyền Tôn Nữ Mỹ Chương, bà du học ở từ năm 1963, và về nước năm 1968. Tini Trần sinh tại Saigon vào tháng 6, năm 1971, và cuối tháng 4, năm 1975, theo gia đình được di tản ra Ðệ Thất Hạm Ðội, đến Subic Bay rời đi Guam và được đưa về định cư tại Alabama. Tini Trần đã học qua nhiều trường trung, tiểu học tại các tiểu bang, Mississsipi và Texas. Lúc thân phụ của Tini đưa gia đình về định cư và mở phòng mạch tại , sau do Tini bắt đầu theo học đại học, ngành báo chí tại University of Texas tai Austin. Tuy vậy khi thấy Tini thích ngành báo chí thì gia đình nghĩ rằng đây chỉ là một sở thích nhất thời của cô nên khuyến khích Tini hoc thêm ngành luật hành chánh cũng tại đại học này.

Tini Trần tốt nghiệp cử nhân báo chí ưu hạng vào mùa Thu năm 1994, sau đó cô được tuyển dụng ngay cho tờ báo Tennessian tại tiểu bang Tennessee, xuất bản tại thủ phủ Nashville. Nhân tháng 5, năm 1995 là tháng kỷ niệm miền Nam rơi vào tay Cộng Sản Bắc Việt, ban biên tập tờ báo nay cử cô đi Việt Nam cùng với phóng viên ảnh Nancy Rhoda để làm một thiên phóng sự tại Việt Nam sau hai mươi năm Saigon sụp đổ.

Bài báo “Return to Việt Nam” dài 43 trang của cô đã làm chấn động báo giới tại Hoa Kỳ và được nhiều tờ báo mua đăng lại. Có thể nói là chưa có một phóng viên Mỹ nào đi sát thực tế, và có khả năng viết về những vấn đề sâu kín mà ngay chính quyền Cộng Sản Việt Nam lúc bấy giờ cũng không muốn các phóng viên ngoại quốc tò mò để mắt tới. Trong khi chính phủ Việt Nam muốn nói đến thành tích dân sinh thì cặp mắt của Tini Trần và ống kính của phóng viên ảnh đã đi vào những xóm lao động, những bệnh viện, những sinh hoạt của đám trẻ nghèo khó bên những đống rác lớn của Saigon. Lúc bấy giờ Việt Nam chưa cởi mở đến độ cho một phóng viên báo Mỹ đến “thăm dân cho biết sự tình” mà chỉ muốn báo chí nói lên những thành tích và chủ trương của chính phủ, do đó Tini Trần và phóng viên ảnh đã đóng vai một Việt Kiều và du khách để đi đây đó và quan sát tận nơi để hoàn thành một bài viết giá trị, một mẫu mực khó tìm của lối viết phóng sự.

Trong giới truyền thông Hoa Kỳ cũng có lối chào mời “mua đào bán kép” như trong giới cải lương ở quê nhà, do đó mà sau bài phóng sự “Return to Việt Nam” này, Tini Trần đã được nhiều tờ báo mời hợp tác với mức thù lao hứa hẹn rất cao, nhất là hai tờ báo xuất bản trong hai địa phương có nhiều người Việt định cư nhất là tờ Los Angeles Times và tờ San Jose Mercury News. Trong thời gian này, Tini Trần thú nhận là tiếng Việt của mình còn yếu nên có thể gặp phải những trở ngại trong khi di làm phóng sự về sinh hoạt cộng đồng Việt Nam tại địa phương, nên cuối cùng Tini đã chọn tờ San Jose Mercury News vì tại Bắc Cali này, Tini Trần có gia đình bà ngoại và các dì, cậu ... có thể cố vấn cho Tini những vấn đề Việt Nam mà cô chưa hiểu một cách sâu sắc. Mặc đầu đã biết Tini Trần về cộng tác với Mercury, Los Angeles Times đã “chiêu dụ” bằng cách mời cô tham quan các cơ sở của tờ báo trong một tuần và lo tất cả chi phí cho cô tại Los Angeles, đồng thời cũng hứa hẹn một mức lương cao hơn tờ Mercury. Tini Trần đã chấp nhận lời mời xuống Nam Cali thăm viếng cơ sở của tờ Los nhưng cuối cùng vẫn giữ ý định ở lại San Jose.

Cộng tác với San Jose Mercury hai năm, Tini Trần đòi hỏi tờ báo này phải để cho cô sang Việt Nam, nhưng vì tờ báo chưa đáp ứng nhu cầu của cô, nên Tini Trần về cộng tác với Los Angeles Times vì chủ biên của tờ này hứa cho cô đi làm phóng sự tại Việt Nam ba tháng. Trong thời gian làm tại Los Angeles, vào cuối năm 1999, Tini Trần cũng đã lăn lộn với nhóm phóng viên của tờ L.A. Times tại khu phố Bolsa để theo dõi và tường thuật vụ Trần Trường và bài tường thuật này đã được một giải thưởng báo chí

Phải nói là năm 1995 sau khi về Việt Nam và hoàn tất phóng sự “Return to Viet Nam,” Tini Trần đã thấy rõ đời sống của dân chúng, phong cảnh cũng như văn hóa Việt Nam Việt Nam, cô yêu thật sự quê hương mình, nơi mà cô đã theo cha mẹ bỏ ra đi từ lúc mới lên ba. Tini Trần đã đạt được hai mơ ước của mình, một là trở thành một người phóng viên báo chí và hai là được làm việc ngay trên quê hương Việt Nam. Làm việc ở đâu cô cũng muốn nhận những công việc tại Việt Nam, do đó khi hãng thông tấn AP mời cô về cộng tác và đưa cô về Việt Nam làm việc, cô không ngần ngại nhận lời và đã ở đó trong một thời gian dài 5 năm. Ngoài khả năng về nghề nghiệp, Tini Trần là một phóng viên năng nổ, không ngại khó khăn, luôn luôn hoàn thành nhu cầu của hãng đặt ra và cô có những nhận xét được công nhận là sâu sắc. Ban Giám Ðốc AP tại New York rất biết tới khả năng của cô và muốn đề bạt cô lên những chức vụ cao hơn và muốn đưa cô đi làm Trưởng Văn Phòng ở các nước khác.

Chỉ vài tháng sau, Tini Trần trở thành Trưởng Văn Phòng AP tại Việt Nam.

Tini Trần quan niệm đây là quê hương mình, đồng bào mình, được sống, hiểu và phục vụ quê hương là điều tốt nhất. Chính trong thời gian làm việc và sinh sống tại Việt Nam, Tini Trần được học hỏi và thông cảm thêm về con người và đời sống Việt Nam, bổ khuyết cho những gì thiếu sót khi cô rời Việt Nam ra đi lúc còn quá nhỏ. Dù thế nào, thì phương tiện sinh sống ở Việt Nam, nhất là tại Hà nội không tốt bằng tại Mỹ, nhưng cô không hề muốn rời nhiệm sở, xa những công việc hằng ngày của một phóng viên mà cô đã yêu thích.

Vào cuối tháng 2, năm 2003, Tini được New York biệt phái sang Kuwait trong khi chờ đợi Mỹ sẽ tấn công vào Iraq. Bốn tuần trong lửa đạn, giao tranh và khủng bố đã làm cho bố mẹ và gia đình cô rất lo lắng. Ðến tháng 3, Tini loan báo cho gia đình biết là cô phải ở lại trận địa lâu hơn vì Hoa Kỳ sắp tấn công vào cứ điểm Falluja. Trong thời điểm này vô số bài viết của Tini Trần đã được chuyển đi và trở thành những tin chiến sự hàng đầu trên các báo chí Hoa Kỳ. Sau bốn tháng ở Baghdad, cô đã sang Jordan và báo tin về nhà cho biết cô đã hoàn tất nhiệm vụ, nghỉ ngơi ở Siri Lanka và sắp trở về Hà Nội. Chỉ trong thời gian 4 năm, người phóng viên AP tên Tini Trần đã làm nhiệm vụ tại 22 quốc gia.

Trong cuộc đời làm phóng viên tại Việt Nam, Tini Trần đã tiếp xúc nhiều với cảnh nghèo khó của quê nhà, trẻ em thiếu ăn, đi học không có giày mang, trời lạnh không có đủ áo ấm. Tini thương Việt Nam là thương nỗi nghèo khó, bất hạnh đó và luôn luôn khuyến khích các em cô, hai gái một trai đã tốt nghiệp đại học tại Mỹ, ráng dành thời gian tham gia các công tác thiện nguyện để giúp đồng bào nghèo khổ ở Việt Nam. Do đó các em Tini Trần đã tham gia các tổ chức N.G.O. (Non-goverment-organization) và về nước giúp đồng bào nghèo. Quan điểm của Tini Trần là Việt Nam cần phát triển giáo dục và cải tiến xã hội để nâng cao kiến thức và đời sống của dân chúng.

Cuộc đời của một phóng viên thường trú tại một quốc gia và đôi khi lại trở thành một phóng viên chiến trường bất đắc dĩ như trong nhiều lần cô đã dến Baghdad đầy lửa đạn. Từ năm 2003 đến năm 2005 Tini đã đi Iraq 5 lần, cô luôn luôn xông xáo, năng nổ đi lại và người ta ít gặp cô ở văn phòng, mặc dù chức vụ của cô là Văn Phòng Trưởng AP tại Việt Nam.

Mùa Thu 2006, Tini đã trở về Mỹ, theo một học bổng Fellowship ở Harvard. Ðể có thể hoạt động cho AP, Tini đã phải theo học tiếng Mandarine 6 tháng tại Mỹ và 3 tháng tại Ðài Loan trước khi đi nhận nhiệm sở mới.

Ngày 19 tháng 9, năm 2009 vừa qua, cô Tini Trần đã lập gia đình với Edward Wong, hiện là thông tín viên của tờ New York Times tại Bắc Kinh. Wong cũng tốt nghiệp báo chí tại Ðại Học California, Berkerley, và có mặt tại Iraq từ những năm 2003 với vai trò phóng viên báo chí. Tin mới nhất cho biết, Tini Trần đang được AP biệt phái qua Kabul để làm phóng sự tại chiến trường Afganistan, trong dịp Tổng Thống Obama cho tăng quân đến chiến trường này.

Huy Phương


Đồng Chiêm, Đồng Chí, Đồng Đạo, Đồng Bào ! - Đinh Xuân Minh

Lm Gioan Baotixita Đinh Xuân Minh (Đức Quốc)

1. Đồng chiêm

Đồng chiêm? Danh từ xem ra lạ, và không biết nguồn gốc hai chữ Đồng Chiêm lấy từ đâu? Và tại sao lại đặt tên một vùng hẻo lánh với cái tên là Đồng chiêm? Và ý nghĩa Đồng Chiêm là gì?.

Đồng là đồng thanh, đồng nhất, đồng ý, đồng lòng, đồng là chung v.v. Nói chung, chữ Đồng nói lên ý nghĩa sự hàng loạt và lên một của một tập thể đông. Thế còn chữ Chiêm? Chiêm ngắm, chiêm ngưỡng, chiêm niệm. Chiêm là nhìn, là suy tư.

Hay ý nghĩa danh từ Đồng chiêm là cánh Đồng Chiêm, loại lúa Chiêm, thóc Chiêm, loại hoa qủa sinh không đúng mùa?

Qua sự kiện đang xẩy ra ở giáo xứ Đồng chiêm, khi mọi người giáo dân trong xứ, đặc biệt là giới phụ nữ và giới trẻ, (Đúng là giặc đỏ đến nhà, đà bà cũng phải đánh!) thì chúng tôi thiết nghĩ rằng, hai chữ Đồng chiêm, phải là ý nghĩa của sự chiêm nghiệm, chiêm niệm, chiêm ngắm, chiêm ngưỡng (Thánh giá, suy tôn Thánh giá). Thánh giá là biểu tượng cứu rỗi. Trong Cựu ước đã nói về biểu tượng nàỵ „Ai bị rắn cắn, ngước nhìn rắn do Moisen làm bằng đồng, sẽ được cứu rỗi“. (Sách Dân số 21, 6-9).

Trong Tân Ước, chính Đức Giêsu cũng đã tiên ứng về chính mình với Nikodemus: „Như Moisen đã giương cao con rắn trong sa mạc, thì Con người cũng phải bị giương cao như vậy, ngõ hầu kẻ nào tin trông cậy vào Ngài, sẽ được sự sống đời đời. Vì Thiên Chúa đã yêu mến thế gian như thế đó, đến nỗi đã thí ban Người Con Một, ngõ hầu phàm ai tin vào Ngài thì khỏi phải hư đi, nhưng được có sự sống đời đờị“ (Gioan 3, 14-15).

Ai là con rắn được giương caỏ Đó là cái chết của Đức Giêsu trên thập giá. Cái cắn con rắn làm chết người. Nhưng, cái chết của Thiên Chúa thì ban lại sự sống. Ngước nhìn Thánh giá, tuyên tương Thánh giá, chiêm niệm Thánh giá, ban lại cho chúng ta ơn cứu rỗi trần gian. Đơn thuần, đây không là cây Thập tự, song đây là Thánh giá. Vì, chính quân dữ đã đóng đinh thân thể của Ngài vào cây Thập tự. Vì thế, sẽ không còn cây thập tự lẻ loi, song là Thánh giá, vì Thập tự và thân thể Chúa đã đóng chặt thành một.

Sự gian ác, giả dối gian manh và tính lươn lẹo của tập đoàn tay sai Hán Cộng, thật cực kỳ độc hại chết người, không khác gì cái cắn của con rắn. Ai không biết khôn ngoan né tránh và xua đuổi nó, có ngày chết người với loại Mãng xà này.

Khi chúng ta hướng về Thánh giá, chiêm ngưỡng Thánh giá, suy tôn thánh giá, là chúng ta được cứu rỗi, sẽ thoát khỏi con “mãng xà Việt Cộng” cắn.

Thiên Chúa chịu bị đóng đinh bên tay trái và tay phải đễ mỗi khi chúng ta làm dấu thánh giá, chúng ta ban phép lành cho mọi người anh em có lòng thiện ngay. Thánh giá treo khắp nơi, (trong nhà thờ, trong nhà, treo trên cổ, trên Núi chẻ ...), đấy là dấu chỉ để Thiên Chúa ban sức mạnh cho chúng ta vác thánh giá với Ngài, mà không sợ phải trốn tránh. Thánh giá Chúa đem nghị lực cho chúng ta, khi chúng ta tuyên dương và suy tôn Thánh giá.

Thánh giá Chúa giải thoát chúng ta khỏi mọi tội lỗi và giải thoát chúng ta khỏi mọi sự gian dữ. Vì vậy, chúng ta đừng bao giờ xa lìa Thánh giá!

2. Đồng chí

Thú thật, lúc còn nhỏ, khi Việt Cộng chưa xâm chiếm trọn vẹn được miền Nam, mỗi khi có những phim chiếu về Việt Cộng đội nói cối, mà nghe hai chữ Đồng chí, thì thật tình, lòng tôi cảm thấy bực bội rất khó chịu. Cứ nghe đến hai danh từ này, là tôi thấy ghê tởm rợn tóc gáy. Và cứ hễ nhìn đến nón cối là tôi cảm thấy kinh dị, và nghĩ đến bản tính rừng rú của người đội nó.

Có lẽ, từ ngày Việt Cộng xâm nhập vào miền Nam và áp đặt chủ nghĩa bất nhân trên toàn quốc, thì xem ra, danh từ Đồng chí có lẽ nghe cũng bớt đau cái lỗ nhĩ. Có lẽ thế chăng?! Và có lẽ, cũng từ đó, cái nón cối cũng đã bớt đi cái biểu tượng gian ác và bản tính quê mùa cục mịch của nó?

Mặc dù, những người quốc gia sinh hoạt trong đảng phái, tuy nhiên, họ cũng ít gọi nhau bằng đồng chí. Ngược lại, Việt Cộng, những kẻ phản bội đồng bào, phản đồng loại, phản tình đồng quê hương, thì gọi với nhau bằng đồng chí, theo nghĩa tiêu cực, như cơm bữa. Rất vô tư!

Đồng là đồng nhất, đồng tâm. Chí là chí hướng, bền bỉ theo đuổi một mục đích. Nuôi chí lớn. Có chí thì nên. Thế những Đồng chí việt Cộng đeo đuổi mục đích gì?

Mục đích “Giải phóng”? Thưa không! Đồng chí Việt Cộng chỉ làm tay sai cho Tầu Cộng và phục vụ đường lối bành trướng Chủ Thuyết Thế Giới Đại Đồng của Liên Xô?

Từ khi có sự hiện diện Cộng sản trên quê hương Việt Nam, cách nay 80 năm, đến nay, Cộng sản đã gieo bao nhiêu sự đau thương chết chót, gieo bao nhiêu cảnh đau buồn ly hương. Đồng bào dân tộc bị chia rẽ. Từ ngày có sự hiện diện Cộng sản, toàn thể đồng bào bị ách nặng: Nạn Đồng Chí Việt Cộng, quàng vào cổ.

Qua những sự kiện xẩy ra tại Thái Hà, Tam tòa, giáo xứ Thủ Thiêm, Đồng Chiêm, Loan Lý, tu viện Bát Nhã, và mới đây tại Cồn Dầu (Đã Nẵng), thì chúng ta phải gọi nhóm Đồng chí này là Đồng bọn, đồng bọn với bọn côn đồ du đãng, đồng bọn cùng với thành phần xã hội đen. Giặc đỏ Cộng sản Việt Nam, cùng với côn đồ và xã hội đen là đồng bọn cá mè một lứa!

“Đồng bọn” này, đã không một lần từ bỏ manh thú dã man để đàn áp người chân chính. Qủa thật, họ là một mối nguy cực kỳ nguy hại cho nền an ninh hòa bình, và phát triển đạo đức tôn giáo bền vững, để thành hình nền tảng cơ sở nhân bản cho dân tộc. Chế độ này, chúng tôi hay còn gọi là loại chế độ thổ tả.

Chính vì cái tình và cái tính “đồng chí” này của tà quyền Việt Cộng, đã và đang gây ra không biết bao nhiêu “bệnh dịch hạch” cho đồng bào: hận thù, chém giết, xảo trá gian manh, độc ác.. Chỉ có thuốc “dân chủ tự do đa nguyên”, mới thật sự trị hết loại dịch này!

3. Đồng bào

“Đồng” là cùng, “bào” là bào thai. Truyền thống khai sinh dân tộc Việt Nam được dựa qua sự tích mẹ Âu Cơ, đẻ ra trăm trứng. Dân tộc Việt Nam thuộc dòng dõi Tiên rồng, cùng một “bào thai”. Từ khi, Cộng sản đặt chủ nghĩa phản bội dân tộc trên quê hương Việt Nam, thì cảnh nồi da xáo thịt trải qua bao năm tháng không nguôi, do chủ mưu tay sai Cộng Sản Việt Nam. Họ làm chư hầu cho Cộng sản quốc tế, và tiếp tay cho “chủ nghĩa đại đồng” của Trung Cộng và Liên Xô.

Thủ Tướng Việt cộng Phạm Văn ĐỒNG, ngày 14/09/1958, ký công văn bán hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa cho Tầu cộng. Bán đất nhượng biển, để mua vũ khí giết người anh em cùng “đồng bào”. Chiến tranh huynh đệ, từ năm 1960-1975, cũng do Việt Cộng gây ra, mặc dù đã có những Hiệp ước ký năm 1954, 1973 v.v.. Và những sự đàn áp hiện nay của Cộng Sản Việt Nam đối với các nhà đấu tranh dân chủ, tạo sự bất ổn xã hội, cũng do tập đoàn tay sai Hán Cộng gây ra, chỉ vì “đồng bọn” này đã làm tay sai thật sự cho Tầu cộng, phản bội đồng bào.

Chống đối lại cảnh đàn áp của Việt Cộng là tạo sức mạnh đoàn kết của đồng đạo, tạo thế và lực, ngang hàng với đồng bọn Việt Cộng. Nếu, chúng ta không can đảm phản cự, thì chúng ta sẽ mãi là người qụy lụy và gián tiếp, tiếp tay cho sự dữ tung hoành.

Trong Cựu ước cũng nói đến cảnh tượng anh em giết nhau, đó là câu truyện hai anh em Cain và Abel. (Sách Sáng Thế 4, 1-9)

Nội dung câu truyện như sau:

Cain và Abel, hai anh em cùng dâng của lễ cho Chúa. Nhưng Chúa chỉ nhận của lễ người em là Abel, vì người anh ăn ở không tốt lành. Cain ganh tị với em, và đã ra tay giết người em, khi Cain rủ em ra đồng.

“Thiên Chúa hỏi Cain: “Abel, em ngươi đâủ” Nó thưa: “Tôi không biết! Tôi có phải là người canh giữ em tôi ư?”. Người phán: “Ngươi đã làm gì? Tiếng máu của em người từ đất kêu oán lên Ta. Bây giờ người hãy là đồ chúc dữ và bật khỏi mặt đất mầu mỡ đã há miệng hớp lấy từ tay ngươi máu, em ngươi. Ngươi có canh tác đất đai, đất đai sẽ chẳng còn cho người sức lực của nó. Ngươi sẽ vất vơ vất vưởng chạy rong trên đất”.

Vì tính kêu ngạo, vì tính ganh tị, vì chống lại Thiên Chúa, đã gây lên cảnh anh em giết lẫn nhau. Trong tình huống hiện nay tại Việt Nam. Ai là người anh giết người em? Cain là ai? Và Abel là ai? Trải dài qua lịch sử cận đại Việt Nam, Cộng sản Việt Nam chính là Cain. Trước sự kiện Đồng Chiêm, Tam tòa, Thái Hà, Tòa Khâm Sứ, Chùa Bát Nhã, Việt Cộng thể hiện tâm gian của người anh hiểm độc.

Việt Cộng có kình địch với Thiên Chúa không? Khi con người đả kích và nhục mạ Thiên chúa, người ta đi đến kình địch với nhau. Tội gian ác càng ngày càng thêm khốc liệt. Có nghĩa, người “anh” càng ngày càng tạo ra cái “nghiệp” phải trả sau này.

Những sự kiện Việt cộng đã và đang hành xử đối với đồng bào, đối với những dân quân cán chính của quân đội Việt Nam Cộng Hòa, đối với công viên chức của Chính Phủ Miền Nam, đã chứng minh hùng hồn: Việt Cộng là kẻ giết người, là hiện thân hình ảnh của người anh, giết người em, vì ganh tị, vì tự hào, vì chối bỏ Thượng đế, vì bản tính hiềm tị, xảo quyệt gian manh. Huynh đệ cùng “đồng bào” giết nhau. Cảnh nồi da xáo thịt!

Vì quyền lực đang nằm trong tay người “anh”, nên đồng bọn Cộng Sản tha hồ rảnh tay giết và đánh đập người “em”, mà không có quyền lực nào kiểm soát và ngăn cản. Huyết thù đang xẩy ra hiện nay tại Việt nam không có Tư pháp hay tòa kiện. Vì thế, “đồng bào” là tập thể to lớn nhất, là Tòa Án Công Lý vĩ đại nhất, hãy đứng ra dẹp cảnh nồi da sáo thịt này, và “xử lý” người “anh”!
Cũng chính vì vậy, mỗi anh Công An, mỗi anh Bộ Đội: Một, họ là kẻ tòng phạm giết người; Hai, họ là thủ phạm tay sai giết đồng bào, vì guồng máy Cộng sản đang tạo mọi sự thuận lợi cho họ cơ hội giết anh em, mà những anh công an bộ đội không sợ nhúng máu.

Mỗi anh bộ đội, mỗi anh công an là một “Natural born killers”? Bản tính thiên nhiên của họ sinh ra để giết người, hãm hại chính đồng bào mình? Họ mang mần mống tị hiềm ganh ghét chém giết?
Con cái của Cain bị phạt sống một cuộc sống lang thang, kẻ bị chúc dữ. Kẻ giết người bị nguyền rủa.
Chúng tôi mượn câu Kinh thánh, đặt vấn đề với tà quyền Cộng Sản Việt Nam: “Hỡi Cain, Abel, em người đâủ” Vâng, đúng vậy! Hỡi những kẻ giết người! Abel: những anh em đồng bào chân chính, em ngươi đâủ”. Ai đã ra lệnh ám hại đồng bào? Ai ra lệnh bắt tù, và đánh đập các chiến sĩ anh dũng đấu tranh cho Công lý và Hòa bình? Ai? Ai là tay sai cho Tàu Cộng?

Dân tộc Việt Nam như đang bị chia đôi: người “anh” ở miền Bắc, người “em” người Nam. “Anh” giết “em”. Người anh ác tâm giết người em thiện tâm. Người anh thủ đoạn gian manh giết người em tốt bụng thật thà. Người anh tham vọng, tham lam giết người em hiền lành đơn sơ chất phát. Cũng vì vậy, sự dữ đang tràn lan trên khắp nẻo đường quê hương Việt Nam. Nếu đồng đạo không cùng chung tay dẹp loạn giặc đỏ, thì tương lai dân tộc Việt nam chỉ tồn tại những người “anh” hung hăng khát máu.

“Hỡi cain, Abel, em ngươi đâủ”. Mượn câu hỏi trách cứ này trong Kinh Thánh, chúng ta quy trách mọi tội cho tập đoàn tay sai Hán ngụy cộng sản Việt Nam. Vì sao chúng ta quy tội này cho Việt Cộng?

Vì, khi Việt Cộng làm tay sai cho Tầu Cộng ám hại đồng bào, thì họ được hưởng lộc và quyền lợi. Vừa hạ được đối thủ, vừa có uy quyền lại giầu có, như xưa Việt Minh bắt tay với Pháp để tiêu diệt các đảng phái Quốc gia, củng cố nội bộ.

Khi kẻ vừa đói, vừa khát máu, thì khó kiềm chế ác ý và dã tâm của chúng được.
Một khi bọn chủ mưu đã nhúng ta vào máu, thì bọn giết người cũng không ngần ngại đổ máu thêm, để đạt tới hành động của quân giết người khát máu.

Chừng nào chưa có được những tòa án công minh chính đại, dưới thể chế tự do dân chủ đa nguyên thật sự, thì tập đoàn tay sai Hán Cộng vẫn còn áp dụng phương thức bắt bớ, đầu độc hay giết người để khủng bố đồng bào.

Trong Kinh Thánh đã nói lên sự nguyền rủa cho những kẻ khát máu. Các ngươi đã làm những gì vậỷ!!! Từ dưới đất, tiếng máu của hàng bao trăm ngàn đồng bào, và ngay tại cố đô Huế, đang kêu lên Ta. Giờ đây, các ngươi bị nguyền rủa bởi chính đất đã từng há miệng hút máu đồng bào, do tay các ngươi đổ ra. Từ nay, các ngươi có làm điều gì cũng bị thất bại. Các ngươi sẽ phải lang thanh phiêu bạc trên mặt đất. Các ngươi lúc nào cũng sẽ phải sa sấm nét mặt. Vì các người đã hành động không tốt, thì tội lỗi đang nằm phục của, nó thèm các ngươi.

4. Kết luận

Đất nước chúng ta đã rơi vào tay Tầu Cộng, vì tập đoàn tay sai Cộng sản Hà Nội đã nhượng bán. Muốn dẹp tan giặc cờ đỏ này, mọi tôn giáo phải biết đồng tâm, đồng lực, đồng giáo, hiệp thông với Đồng chiêm, kháng cự lại Đồng chí, phản lại văn kiện của Phạm Văn Đồng, thủ tướng Việt Cộng, để mọi người chúng ta là đồng bào thân thương với nhau.

Chúng tôi rất tâm đắc với cư sĩ Hứa Phi, Ngài thay mặt ban đại diện Khối Nhơn Sanh Đạo Cao Đài Tây Ninh, hôm thứ sáu, ngày 29-01-2010, viết lên ý nguyện Hiệp Thông với Tòa Tổng Giám Mục Hà Nội: “Ban Hồng Ân cho tất cả anh em chúng ta đồng một Đức tin, đồng một mục đích, đồng nhìn nhau trong tình cốt nhục Thiêng liêng của Ngài, đề đem đến cho thế gian niềm an vui và hạnh phúc”.

Vâng, nếu tất cả mọi người thiện tâm thiện trí đều quyết đồng tâm, đồng giáo, đồng lòng, cùng chung lòng với giáo dân Đồng Chiêm, chắc chắn chúng ta sẽ dẹp tan được giặc cờ đỏ: đồng chí Việt Cộng.

Lm Gioan Baotixita Đinh Xuân Minh
(Frankfurt, thứ ba, ngày 9 tháng 02 năm 2010)


Wednesday, February 10, 2010

Kẻ Sĩ và Bồi Bút ! - Lê TamAnh

Lê Tam Anh

Khi chúng ta nói đến hai chữ Sĩ khí, có nghĩa là nhắc nhở nhau hãy quay nhìn lại mình trước khi hành động về một vấn đề gì đó hay dấn thân vào một phong trào, một đảng phái ... mà theo chủ quan, đó là lý tưởng hoặc ít ra đó là con đường đúng đắn của kẻ sĩ! Theo chủ quan, theo cái nhìn với góc cạnh từ hai mắt mình, từ sự suy nghĩ của mình đôi khi chưa phải là chín chắn khi chính mình chưa kinh qua những kinh nghiệm.

Mỗi khi mùa xuân về, mỗi khi hoa đào nở, gió xuân làm lòng người dịu lại những trăn trở theo cuộc sống; thì chúng ta, ai cũng nhớ đến bài thơ “Ông Đồ” của Vũ Đình Liên. Bài thơ giản dị và trong sáng, không có những từ ngữ đổm dáng hay văn vẻ, nhưng nó làm cho mọi người cảm thấy bùi ngùi tiếc thương một thời đã qua. Hình dáng một ông đồ mặc áo dài khăn đóng, trải chiếc chiếu hoa củ kỷ bên đường phố đông người. Ông Đồ ngồi chờ khách thuê viết đôi câu liễn treo trong nhà nhân dịp tết. Ông đồ viết chữ đẹp như phượng múa rồng bay ... Nhưng người thuê viết chẳng đọc được, chẳng hiểu được nữa những nét chấm phá tuyệt vời ấy. Đôi khi theo thói quen, họ thuê ông viết đôi câu đối mà không biết nghĩa những chữ đó ra thế nào, có thể đem về treo trên tường, nghĩ rằng nó là vật kỷ niệm mà thôi. Rồi mỗi năm khách dần thưa, người ta qua đường thờ ơ với một ông Đồ già, hình bóng một quá khứ đã qua, không thể nào có thể níu kéo lại ...!

Tôi nhớ lúc trọ học ở Bồng Sơn, thuộc quận Hoài Nhơn, trong gia đình Bác Tám Thơm. Hồi đó là năm 1958, Bác Tám khoảng chừng 60 tuổi, để râu dài, trông như một cụ đồ nho, nhưng bác Tám không biết một chữ nho nào, kể cả chữ quốc ngữ. Nhưng bác luôn luôn tôn thờ chữ “thánh hiền”. Tôi còn nhớ, lịch treo tường có in hai loại chữ Việt và Hán văn ghi ngày tháng dương và âm lịch. có lần tôi xé tờ lịch, vò tròn vứt vào thùng rác. Bác Tám nghiêm sắc mặt, vừa cuối xuống lượm tờ lịch vừa nói với tôi: “Chữ Thánh Hiền không được vò xé, chỉ nên đốt hay để chỗ tôn kính!”. Thế đấy, những người trong thời trước chúng ta một vài thập niên, dầu họ không được học, hay đọc chữ “thánh hiền”, họ đều có chung một tư tưởng tôn thờ chữ nghĩa. Mà theo họ, chữ nghĩa ấy là linh hồn của Tam Cương, Ngũ Thường, Tam Tùng Tứ Đức. Dầu sao thì thời đại củ đã lùi xa, nhưng cũng ít ai quay lưng lại với chính quá khứ của mình bằng nhà thơ Vũ Đình Liên cùng một vài văn thi sĩ thời tiền chiến sau đó theo “cách mạng”.

Trở lại mùa xuân với bóng dáng ông Đồ già trong thơ Vũ Đình Liên, không ai trong chúng ta phủ nhận một hình ảnh của thời gian giao thoa giữa hai nền văn học. Cái mới của văn minh Âu Châu đã đánh bại một nền móng văn hóa bao đời ngự trị trên quê hương Việt. Bài thơ “ông Đồ” đã phản ảnh bao sự giằng co, bao hoài niệm và tiếc thương, giống như ta thường tiếc thương mối tình đầu đã qua trong đời!
    Mỗi năm hoa đào nở,
    Lại thấy ông đồ già
    Bày mực tàu giấy đỏ,
    Bên phố đông người qua.

    Bao nhiêu người thuê viết
    Tấm tắc ngợi khen tài
    Hoa tay thảo những nét,
    Như phượng múa rồng bay.

    Nhưng mỗi năm một vắng,
    Người thuê viết nơi đâu?
    Giấy đỏ buồn không thắm
    Mực đọng trong nghiên sầu.

    Ông đồ vẫn ngồi đấy
    Qua đường không ai hay
    Lá vàng rơi trên giấy
    Ngoài trời mưa bụi bay.

    Hôm nay đào lại nở,
    Không thấy ông đồ xưa,
    Những người muôn năm củ,
    Hồn ở đâu bây giờ?
Bài thơ không những đã được mọi người khen tặng, nó còn được hân hạnh làm bài giảng văn và học thuộc lòng trong các lớp trung học thời Việt Nam Cộng Hòa. Bài thơ và tên tuổi tác giả được liên tục nhắc đi nhắc lại mỗi khi mùa xuân trở về với mọi người, nhắc nhở một quá khứ đầy hoài niệm và mang biết bao lịch sử trong văn hóa dân tộc Việt. Nhưng chưa có ai trong chúng ta, trước đây biết nhiều về cuộc đời và sự nghiệp tác giả bài thơ “ông Đồ”, hay có thể cố tình không nói đến. Vì thế người đời sau ít biết rỏ về Vũ Đình Liên, một người Cộng Sản, một bồi bút rất có uy tín trong Đảng và trong nền văn học vô sản tại Việt Nam.

Vũ Đình Liên, sinh năm 1913 tại phố Hàng Bạc Hà Nội. Sau khi đậu tú tài ở trường Pháp Collège de protectorat ( Trường Bảo hộ tại Thụy Khuê, chính là Trường Bưởi, sau đổi thành Chu Văn An). Ông ta ghi danh học Luật một vài năm rồi bỏ ngang để dạy học tư và làm báo. Năm 1946, Vũ Đình Liên theo kháng chiến trong Hội Văn Nghệ Cứu Quốc Liên Khu 3, gia nhập vào Đảng Cộng Sản năm 1951, dạy học và biên soạn sách giáo khoa cho chế độ!

Bài thơ “Ông Đồ” được Vũ Đình Liên sáng tác vào năm 1937, đăng trên báo Tinh Hoa. Ngoài ra ông còn những bài thơ khác nữa nhưng không nổi tiếng. Vì bài Ông Đồ làm cho tiếng tăm Vũ Đình Liên được vào danh sách những văn thi nhân có hạng, nên khi trở thành Đảng viên Cộng Sản, ông tiếp tục lấy hơi hám bài thơ nầy làm sườn cho ý tưởng ca tụng “Đảng và Bác” một cách rất ư là ngây ngô và nịnh hót! Ta hãy xem bài thơ sau đây, họ Vũ dựa vào bài “ông Đồ” để diễn tả “tấm lòng” theo đảng trung thành của mình như thế nào:

Bài thơ “Thủy Chung” sáng tác năm 1977, Tết Đinh Tỵ:
    Năm nay đào nỡ rộ,
    Mừng hội Đảng, Hội Dân,
    Bút ông đồ lại họa
    Những nét chữ đẹp, thân.

    Cờ biển ngập phố phường,
    Cành đào bay thắm đỏ,
    Như cả ngàn hoa xuân,
    Nét hoa trên mỗi chữ.

    Thấy trong lòng say sưa,
    Dừng chân không muốn bước,
    Nghe đọc những vần thơ
    Ngợi khen những nét bút.

    Xuân Cộng Hòa Xã Hội
    Mai đào tươi thắm hoa
    Một nguồn hạnh phúc mới
    Trào ngọn bút dòng thơ ...!
Đây là bài thơ tiêu biểu của một bồi bút, nó phản ảnh không biện bác được rằng, Vũ Đình Liên, trước sau cũng chẳng giữ được tiết tháo “kẻ sĩ”như Trần Dần. Nhà thơ họ Trần đã để lại cho đời mấy câu thơ ngắn cho một giai đoạn bị tù đày, trả giá mấy vần thơ:
    “Tôi bước đi, không thấy phố, không thấy nhà,
    Chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ...!”

    Trần Dần
Chưa hết, Vũ Đình Liên dựa vào thể thơ năm chữ đã thành công trong bài Ông Đồ, sáng tác nhại theo như thế rất nhiều bài có phong cách tương tự nhưng ý và mục đích ca tụng Đảng cùng với “bác” một cách không ngượng ngập gì cả. Sau đây là bài ca tụng đầy tính “nâng bi” một cách trân tráo của nhà thơ, mà, những người chống Cộng, chống sự kèm kẹp thô bạo của tập đoàn Cộng Sản trong nước, vẫn hàng năm nhắc đến tác giả, nhắc đến bài thơ Ông Đồ mà không nhắc đến những bài khác mang tính “cách mạng cao” là một thiếu sót. Bài “Mùa Xuân Cộng Sản” dưới đây là một trong những bài mà Vũ Đình Liên làm theo thể thơ năm chữ nhại theo bài Ông Đồ:
    Một cây đào muôn thuở,
    Năm bốn mùa nở hoa
    Một ông đồ bất tử
    Tay với bút không già.

    Hoa tươi màu sông núi,
    Chữ thắm tình quê hương
    Cành đào và câu đối
    Ngàn đời Tết Việt Nam

    Nghiên bút xưa vẫn đợi
    Tự ngàn năm bài thơ
    Tự ngàn năm câu đối,
    Đảng sáng tác bây giờ

    Nghệ sĩ với ông đồ
    Tình nước non vô tận
    Như Đảng với bác Hồ
    Hương đất trời Cộng Sản

    Năm nay đào lại nỡ
    Vui người mới hồn xưa
    Một mùa xuân bất tử
    Tươi nét lụa lời ca!
Trong bài thơ nầy, chúng ta thấy Vũ Đình Liên không còn là một thi sĩ, tác giả bài thơ ông Đồ ngày nào, không còn là một văn nhân đầy sĩ khí như Trần Dần, Phan Khôi. Mà hóa thân thành bồi bút ca tụng một chế độ khát máu nhất, tàn bạo nhất trên Thế giới. Những chữ “ muôn thuở, “ngàn đời” “vô tận”... làm cho ta cảm thấy xót xa và thương cho chữ nghĩa Việt Nam. Người thi sĩ cảm nhận cái ý nghĩa, cái hay của đất trời, cảm hoài một vài ý thơ và sáng tác. Mỗi bài thơ là mang một nét gì khác với bài trước, là xuất thần với ý thơ. Nhưng Vũ Đình Liên không những đã nghèo nàn ý thơ, nghèo nàn sáng tác mà còn “ôm” lấy cả thể điệu, cả hình dáng Ông Đồ để làm nhân chứng tiêu biểu cho chính mình! Dĩ nhiên khi bài thơ Ông Đồ nổi tiếng thì hoàn cảnh và không gian thời gian khác với “ông Đồ” trở về làm “cách mạng”.Theo họ Vũ, ông Đồ của bài thơ làm cho tên tuổi của mình nổi tiếng khác với ông Đồ “phục vụ Đảng”, đó là ông Đồ mới(?).

Nhưng không phải một mình họ Vũ, tác giả bài thơ Ông Đồ được Đảng “lột xác” mà rất nhiều nhà văn nhà thơ tiền chiến cũng bị rơi vào hoàn cảnh như thế. Nào là Hoài Thanh, Lưu Trọng Lư, Nguyễn Công Hoan, Hoàng Xuân Nhị, Huy Cận, Chế Lan Viên...

Bồi bút thứ thiệt, trùm lên tất cả các bồi bút xưa nay, không ai qua mặt được Tố Hữu với những bài thơ ca tụng Cộng Sản quốc tế và tự nhận làm đệ tử trung thành. Ta hảy xem những đoạn thơ sau đây chứng minh tên đồ đệ họ Hồ phóng bút làm dơ bẩn văn thơ Việt như thế nào:

Ca tụng Lenin, cho học sinh cấp tiểu học:

... Ông Lenin ở nước Nga,
Mà em đã biết rất là Việt Nam...!


Khi nghe Stalin chết:

... Ông Stalin ơi! ông Stalin
Trời ơi ông chết đất trời có hay,

... Thương cha thương mẹ thương chồng
Thương mình thương một, thương ông thương mười...!


Ta hãy nghe Xuân Diệu ca tụng:

Mổi lần tranh đấu gay go,
Chúng con lại được Bác Hồ tới thăm.
Nghe lời Bác dạy khuyên răn

Chúng con ước muốn theo chân của người.


Trong chiến dịch hô hào đấu tố, Xuân Diệu cao giọng:

Thắp đuốc cho sáng khắp đường
Thắp đuốc cho sáng đình làng đêm nay
Lôi cổ bọn nó ra đây,
Bắt quỳ gục xuống, đọa dày chết thôi.


Khi từ trại tập trung về, kẻ viết bài nầy bị tống ra khỏi thành phố, đến ở vùng Đồng Nai làm rẫy. Hàng xóm là một anh cựu Trung Sĩ đang làm khuân vác. Chiều xuống là anh từ nơi làm việc về nhà say lý túy. Vừa đi anh ta vừa hát nghêu ngao những bài hát xen với thơ “tiền chiến”. Tuy say nhưng anh ta vẫn cố tình kéo dài “nhại” những câu thơ Xuân Diệu, cố cho bàng dân thiên hạ nghe chơi:
    “... Con nai vàng không còn ngơ ngác nữa em ơi!
    Nó đã thành trâu chạy húc người...”
Có hôm anh chàng gõ cửa nhà người viết bài nầy, tay cầm chai rượu, hai mắt đỏ bừng, hét vào tai tôi: “Con nai hay con trâu? Tôi cười đáp: “ con nai!” anh chàng ôm lấy tôi, đưa chai rượu bắt tôi tu một hốp, rồi nói: “Trâu cũng có sừng, nai cũng có sừng ... Mỗi con ngu một cách ... xin đừng bỏ nhau!”... Anh Trung Sĩ của chúng ta đó, kẽ sĩ thời nay có bằng một góc hay không?

Xem thế chúng ta mới hiểu rằng, muốn làm “kẻ sĩ” cho đúng nghĩa chắc chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Mà nghĩ cho cùng, Trong khung cảnh bị “cải tạo tư tưởng” bị chỉ đạo sáng tác và chế độ “tem phiếu”, thì làm sao kẻ sĩ có thể ngồi xem vợ con chết đói, khư khư giử tiếng tăm cho một ảo tưởng của Khổng Giáo để lại, có mấy ai trọn tình trọn nghĩa? Nhưng để làm gì nhĩ!

Ngày nay, khi người ta đã thoát khỏi cái cảnh kèm kẹp, ra hải ngoại làm thơ, viết văn; trong khung cảnh tự do như thế, lại có những nhà văn nhà thơ “thiết tha” tình nguyện làm “bồi bút” mới là chuyện lạ. Xem thế, chúng ta sẽ chẳng có thể nào phân biệt được là, trong hoàn cảnh nào thì người nghệ sĩ biến thành “bồi bút” và trong trường hợp nào thì họ có thể thực hiện đúng“ sĩ khí” để được tiếng thơm muôn đời!

Lê Tam Anh