"Một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác. Ta cũng để lời nhắn nhủ đó như một lời di chúc cho muôn đời con cháu." (Di Chúc của Vua Trần Nhân Tôn).
Sắp sửa đến Tết Canh Dần 2010, bà con ta người gốc Huế lại phải chuẩn bị đốt nén nhang trước bàn thờ người trong thân tộc của mình đã bị thảm sát oan uổng dịp Tết Mậu Thân năm 1968. Các nạn nhân bị chết đau đớn, tức tưởi đó là cha mẹ, ông bà, cô dì, chú bác, cậu mợ cũng như anh chị em ruột thịt, cùng bà con khác trong dòng họ nội ngoại của mình. Người viết bài này gốc gác ở đất Bắc, nên không có một bà con thân tộc nào, cũng như bạn hữu thân thiết nào mà nằm trong danh sách các nạn nhân đó. Dầu vậy, tôi cũng xin được chia sẻ với nỗi đau đớn khôn nguôi của các gia đình nạn nhân trong dịp tưởng nhớ vào năm thứ 42 này (1968 – 2010).
Và bài viết này được viết ra, không hề để bày tỏ sự giận dữ hận thù nào của bản thân mình đối với các người đã gây ra bao nhiêu cái chết tức tưởi đau đớn nói trên. Mà dù là một luật gia, tôi cũng không muốn đặt vấn đề thảm sát này trong góc độ pháp lý, cụ thể như vận động tổ chức một phiên tòa xét xử tội ác này theo luật hình sự quốc tế, như đã có một vài người đã gợi ý từ it lâu nay, với lý do rằng: đây là một thứ tội chống nhân loại, tôi diệt chủng (crime against humanity, genocide), nên không thể để cho chìm xuồng với nguyên tắc “thời hiệu - tố quyền bị triệt tiêu” (statute of limitations). Bởi lý do thực tế là việc vận động như vậy sẽ rất khó có kết quả. Ngay cái phiên tòa để xử tội “diệt chủng của Khmer Đỏ ở Cambodia”, dù đã khởi sự từ mấy năm nay, thì cũng chưa thấy tiến triển ra làm sao cả.
Vậy thì đúng như tiêu đề của bài viết, đây là một “vấn đề Lương tâm” đặt ra cho toàn thể dân tộc Việt nam chúng ta. Nói cho rõ hơn, thì là cần phải tiến hành một cuộc “cật vấn lương tâm” (examen de conscience như người Pháp thường nói), để suy xét, tra vấn tận đáy lòng của mỗi người về cái “tội ác tày trời” trong vụ thảm sát đến trên 6,000 người dân vô tội hồi Tết Mậu Thân năm 1968 ở Huế đó.
A. Tóm lược nội vụ
Đã có quá nhiều sách báo viết về chuyện này, từ phiá các nhà báo, nhà nghiên cứu, cũng như những chứng từ cuả người trong gia đình các nạn nhân, cuả cơ quan nhà nước cuả Việt nam Cộng hoà, cuả người Mỹ thuộc đơn vị quân sự hay dân sự. Tất cả đều “chúng khẩu đồng từ”, đưa ra các số liệu chính xác về sự tàn bạo trong các vụ “giết người hàng loạt” do quân đội và cán bộ cộng sản gây ra trong thời gian 26 ngày chiếm đóng thành phố Huế vào dịp Tết đó. Xin chỉ ghi lại thật ngắn gọn như sau:
1. Thành phần đội quân cộng sản tiến đánh và chiếm giữ thành phố Huế gồm khoảng trên dưới 10,000 người với quân tại địa phương và bộ đội chính quy từ ngoài Bắc vào. Số cán bộ nòng cốt nằm vùng sẵn tại Huế được ước lượng vào khoảng 200 người.
2. Việc thanh toán các nạn nhân được tiến hành giai đoạn đầu ngay sau khi phe cộng sản chiếm giữ được thành phố, họ đã ra lệnh xử tử hình các nhân viên của Việt nam Cộng hòa theo danh sách “Sổ đen” đã lập sẵn. Có chừng vài ba trăm người bị thanh toán trong đợt này, ngay tại khu vực xung quanh nội thành của Huế.
3. Trong giai đoạn sau cùng, sau khi quân cộng sản phải rút lui khỏi thành phố, thì có đến nhiều ngàn người “bị giết tập thể” và được chôn vùi tại nhiều nơi hẻo lánh cách xa thành phố Huế đến 20-30 cây số. Xác các nạn nhân chỉ được tìm thấy sau nhiều tháng vào cuối năm 1968 hay năm 1969.
massacre1s4 - Tổng số người bị giết và mất tích là trên 6,000. Mà cho đến năm 1975, thì thân nhân mới chỉ nhận diện được cỡ 3,000 tử thi. Dĩ nhiên là có một số người bị thiệt mạng vì lý do chiến trận do bị bom đạn lạc. Nhưng đa số là do bị cán bộ cộng sản ra tay giết chết rất tàn ác dã man, cốt ý nhằm “để phi tang”, vì các cán bộ này đã bị lộ diện trong thời gian công khai ra mặt nắm giữ quyền sinh sát tại Huế.
B. Vấn đề quy trách nhiệm về cuộc thảm sát này.
Theo nguyên tắc “tội quy vu trưởng”, thì giới lãnh đạo chóp bu của đảng cộng sản ở Hanoi phải chịu trách nhiệm chính yếu về cuộc thảm sát này, bởi lý do là chính họ đã ra lệnh và chỉ huy toàn bộ chiến dịch “Tổng Tấn công và Tổng Nổi dậy” này. Người đứng đầu hồi đó là Tổng Bí thư Lê Duẫn, rồi phải kể đến Bộ trưởng Quốc phòng Võ Nguyên Giáp, Bí thư Trung Ương Cục Miền Nam Phạm Hùng v.v…
Tiếp theo là trách nhiệm của Ban Chỉ huy chiến dịch tại địa phương, những người này đều do Hà nội trực tiếp sắp đặt, cắt cử. Hai cán bộ cao cấp phụ trách chỉ huy mặt trận ở Huế là Lê Chưởng và Lê Tư Minh.
Sau cùng là trách nhiệm của những cán bộ cộng sản “nằm vùng” sẵn tại địa phương. Họ có chừng vài trăm người, mà đã trực tiếp ra tay sát hại đồng bào mà cũng là đồng hương xứ Huế của chính họ. Hoàng Phủ Ngọc Phan và Nguyễn Đắc Xuân, Tống Hoàng Nguyên, Nguyễn Đình Bảy Khiêm v.v… là những người nòng cốt đi săn lùng những nạn nhân để thanh toán.
Vụ việc thảm sát này quá trầm trọng, chắc chắn là giới lãnh đạo ở thượng tầng của đảng cộng sản ở Hà nội đã phải bàn bạc, thảo luận và đưa ra kết luận về nội vụ. Nhưng vì lý do chiến tranh vẫn tiếp diễn, cho nên họ không hề chính thức công bố về chuyện này. Mà cả cho đến nay, sau trên 40 năm, chưa bao giờ giới lãnh đạo cộng sản chịu lên tiếng “nhận trách nhiệm về vụ thảm sát này”. Do đó, ta cũng đừng mong rằng sẽ có người trong hàng ngũ lãnh đạo mà vì bị lương tâm dày vò, thôi thúc, nên sẽ tự nguyện đúng ra tiết lộ “bí mật của đảng cộng sản” liên hệ đến vụ thảm sát này. Dầu vậy, đối với mấy trăm ngàn người dân tại Huế nói riêng, cũng như mấy chục triệu đồng bào ở Miền Nam Việt nam nói chung, thì cái tội ác tày trời này sẽ không bao giờ mà đảng cộng sản lại có thể xóa bỏ hết dấu tích đi được. Bởi vì rằng: “Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ“ đấy thôi!
Chúng ta đã có quá đày đủ chứng từ cuả các thân nhân có người nhà bị thảm sát, và cuả một số người may mắn thoát chết vì trốn thoát được trước khi bị thủ tiêu. Nhưng chúng ta chưa có được bao nhiêu chứng từ cuả những người đã tham dự, đã nhúng tay vào cuộc thảm sát này. Trong số trên 10,000 bộ đội, cán bộ, nhất là cán bộ điạ phương, thì ít nhất phải có đến 70% tức là cỡ 7,000 người lúc đó đang ở tuổi trên dưới 20. Đến nay vào năm 2010, thì số người này đã vào lưá tuổi 60 và đã giải ngũ hay về hưu cả rồi. Như vậy, số người mà còn sống sót của đội ngũ chiếm đóng Huế năm 1968 đó, thì hiện nay phải có cả đến hàng ngàn người. Mong rằng ta sẽ thâu thập thêm được chứng từ cuả chính các người “đã trực tiếp hay gián tiếp dính tay vào máu” đó, để có thêm được chứng cứ bổ túc vào hồ sơ cuả vụ thảm sát ghê rợn này.
C. Vấn đề Lương tâm cuả toàn thể Dân tộc chúng ta.
Như đã viết ở trên, tác giả bài viết này không nhằm đặt vấn đề trên phương diện pháp lý. Mà đây là vấn đề của lương tâm, của đạo lý làm người. Dân tộc Việt nam chúng ta vốn từ xa xưa đã có một truyền thống nhân đạo và nhân ái rất tốt đẹp vững chắc, con người luôn sống thuận thảo, hòa nhã với nhau trong các làng mạc, thôn ấp theo khuôn khổ đạo đức từ bi của tôn giáo, thông qua các vị tu sĩ, các bậc tôn trưởng, các vị sĩ phu quân tử trong mỗi một cộng đồng điạ phương. Ấy thế mà chỉ vì do cái “chủ trương cách mạng bạo lực sắt máu cuả đảng cộng sản du nhập từ nước ngoài vào”, cho nên đã xảy ra cuộc “anh em coi nhau như kẻ thù, để mà ra tay tàn sát không một chút xót thương đối với mấy ngàn thường dân vô tội” ở một thành phố nổi tiếng là một cố đô đã bao nhiêu năm trước. Đó quả thật là một điều khủng khiếp quá sức, đến độ lương tâm cuả bất kỳ người Việt nam nào mà lại không động lòng xót thương và ray rứt thắc mắc, dày vò trước sự thể “anh em một nhà mà thù hận, chém giết nhau quá man rợ” đến thế!.
Và cho đến nay, đã trên 40 năm sau khi sự việc thảm sát xảy ra, giới lãnh đạo cộng sản vẫn một mực ngoan cố, vẫn tìm mọi cách để giấu nhẹm và né tránh cái trách nhiệm cuả mình trong vụ phát động cuộc chém giết này. Thế thì toàn thể dân tộc chúng ta phải cùng hợp lại với nhau để mà “đồng lòng lên tiếng đòi hỏi đảng cộng sản phải công khai đứng ra nhìn nhận cái lỗi lầm, cái sai trái cuả mình trong cuộc thảm sát này”. Đồng thời họ cũng phải có “lời xin lỗi chân thành đối với vong linh cuả những nạn nhân đã bị họ ra tay tàn sát vào dịp Tết Mậu Thân năm 1968 oan nghiệt” đó.
Nhân dân Việt nam chúng ta kiên quyết đòi hỏi giới lãnh đạo đảng cộng sản hiện nay ở Hanoi phải “làm điều tối thiểu là phải nhận cái tội lỗi tày trời đó”. Nhất quyết chúng ta không thể dung tha cho cái thái độ ngạo mạn, ngang ngược như thế này mãi mãi được nưã. Và chúng ta cũng tiếp tục lên án cái đảng và nhà nước cộng sản hiện vẫn đang tiếp tục sử dụng thủ đoạn côn đồ để hành hung các tu sĩ và tín đồ các tôn giáo tại các điạ phương, cụ thể như ở Đồng Chiêm, ở Cồn Dầu, ở Lâm Đồng, ở Cao nguyên Trung phần v.v…
Trong niềm tưởng nhớ và xót thương vô hạn đối với bao nhiêu nạn nhân vô tôi đã bị cán bộ cộng sản tàn sát cực kỳ dã man hồi Tết Mậu Thân năm 1968 tại cố đô Huế, chúng ta cùng hiệp nhau cất lên “tiếng nói lương tâm của tập thể Dân tộc Việt nam mình” để đòi hỏi đảng cộng sản phải hành xử thích đáng hầu chuộc lại được “cái tội lỗi Trời không dung, Đất không tha này”.
D. Kinh nghiệm cuả “Uỷ Ban Sự Thật và Hoà Giải” ở Nam Phi.
Sau khi chế độ Kỳ thị chủng tộc Apartheid chấm dứt ở Nam Phi, thì Tổng Thống Nelson Mandela đã phát động một chiến dịch nhằm hàn gắn những đổ vỡ, hận thù trong xã hội do sự tàn bạo độc ác cuả giời cầm quyền da trắng đã gây ra bao nhiêu tội ác khủng khiếp đối với đa số người da đen trong nước, bằng cách thiết lập “Uỷ Ban Sự Thật và Hoà Giải” nhằm công khai hoá những sự vi phạm về tự do và nhân phẩm, nhân quyền đối với người dân, để rồi tìm cách xoá bỏ loại trừ hết được những sự chia rẽ, hiềm khích thù hận trong nội bộ cuả đại gia đình dân tộc. Nhờ có chiến dịch này, mà Nam Phi đã tránh được các vụ đổ máu do những vụ ân oán trả thù lẫn nhau, giưã người da đen đa số hiện đang nắm giữ quyền bính và người da trắng thiểu số mà nay đã mất hết quyền hành để mà làm mưa làm gió, tác oai tác quái như thời còn chế độ Apartheid.
Uỷ Ban này cũng được thiết lập tại nhiều quốc gia khác nưã, cụ thể như ở Nam Hàn, ở Maroc, ở các nước Châu Mỹ La tinh v.v… Thiết tưởng dân tộc Việt nam chúng ta cũng có thể rút kinh nghiệm cuả người tại Nam Phi và tại các nước khác, để tìm cách hàn gắn lại sự đổ vỡ hận thù đã do người cộng sản gây ra từ bao nhiêu năm nay vậy.
Lịch sử về nô lệ có trước thời trung cổ, đầu tiên ở đảo Sizilien miền Nam Ý (136-132 trước Công nguyên) nô lệ trao đổi với Đế Quốc La Mã có các danh từ “Eunus, Antiochos“…. Những cuộc chiến đẩm máu trong lịch sử thế giới thường xảy ra. Phe chiến thắng chiếm đoạt tài sản và sinh mạng kẻ bại trận, kể cả đàn bà, trẻ em đều bị bắt làm nô lệ. Giới quý tộc bỏ tiền mua người nghèo về phục vụ. Cách đây hơn 100 năm ở Việt Nam những Điạ chủ giàu có, muốn bảo vệ gia trang, mua hay mướn những người Thượng phục vụ, gác nhà.
Tác phẩm Geschichte der Sklaverei/ History of Slave “Lịch sử nô lệ“ tác giả Sunsanne Everett mô tả cuộc đời người nô lệ thời Trung cổ, từ Á sang Âu đã có phong trào mua bán nô lệ, các dịch vụ chở nô lệ bằng tàu buồm hay áp giải vượt sa mạc Sahara. Trung Hoa có hàng triệu cô gái bị bán làm nô lệ.
Giáo chủ Hồi Giáo Mohammed (570-†632) cầm đầu giáo quyền năm 630 đánh chiếm Mecca. Những người chống đối (Do Thái giáo, Thiên chúa giáo) đều bị tiêu diệt, hàng ngàn đàn ông bị chém đầu, đàn bà bị bắt bán làm nô lệ! Trận chiến thành Troy, Hy lạp (Greeks) xua quân đánh chiếm thành Troy cuả Thổ Nhĩ Kỳ tiếp thu chiến lợi phẩm và bắt những người đẹp như: Briseis, Tecmessa và Chryseis.
Thổ Nhĩ Kỳ (Turkey) từng có chợ nô lệ Sandal Bedesten, tiểu vương Mehmet xây cất từ năm 1461 tại Istanbul. Chợ nô lệ người Hoà Lan tổ chức ở New Amsterdam (ngày nay là New York). Những thương thuyền lớn người Anh, Bồ Đồ Nha, Tây Ban Nha mua người da đen, thổ dân ở Phi Châu (Neger) làm nô lệ, vì giống người nầy đời sống kém văn minh nhưng có sức mạnh.
Thị trường mua bán thời đó phần lớn ở Hoa Kỳ cần người làm việc tại các đồn điền, nông trại, trồng miá, hái bông vải, kéo xe, đào mỏ. Thương thuyền Âu Châu chở vũ khí, máy móc, rượu, hàng hoá biến chế rẻ tiền bán cho Phi Châu, và ngược lại mua “người“ từ Phi Châu bán cho Hoa Kỳ, và mua của Hoa Kỳ nguyên liệu hàng hóa, bông vải, đường, caffe …
Kiếp người nô lệ khổ đau, bị cưỡng ép lao động như trâu bò kéo cày, bị đánh đập, hành hạ, nếu chống lại chủ thì bị xiềng xích, đóng gông. Người bỏ tiền mua nô lệ dùng thỏi thép nung đỏ, đóng dấu trên lưng họ để nhận dạng nếu bỏ trốn.
Đức giáo Hoàng Greogor I (540-†604) đã từng kêu gọi Thế giới ngưng mua bán nô lệ, phải tôn trọng phẩm giá con người mà Thượng Đế đã tạo dựng, không phân biệt màu da sắc tộc dù Đức Giáo Hoàng kêu gọi nhưng chưa đánh động được lương tâm của thế giới vì con người đầy tham vọng và quyền lực. Từ Thế kỷ 16 đến Thế kỷ 18 hơn 15 triệu người Phi Châu bị bắt bán làm nô lệ, dù ông William Lloyd Garrion từng đứng lên đòi giải phóng cho người da đen. Hiệp Hội chống lại chế độ nô lệ “Anti Slavery Society“ trên báo (The Genius of Universal Emancipation) đấu tranh giải phóng nô lệ.
Thế Kỷ thứ 18 đế quốc Anh chiến thắng Tây Ban Nha, Hiệp Ước Asiento năm 1713 Anh Quốc độc quyền mua bán nô lệ, mỗi năm 5,000 người ở Trung và Bắc Mỹ là các nước thuộc điạ của Tây Ban Nha.
Chấm dứt nô lệ ở Âu Châu
Trải qua những biến đổi lịch sử từ 01.01.1807 Anh Quốc cấm mua bán nô lệ, nếu thương thuyền vi phạm bị phạt tiền vạ 100 Bảng Anh và bỏ tù. Đại Hội Quốc Tế ở Wien / Vienna 1815 (Áo) các quốc gia phải bỏ chế độ nô lệ: Bồ Đồ Nha / Portugal năm 1817, Pháp và Hòa lan năm 1818. Ba Tây / Brasilien 1826 được độc lập và chấm dứt nô lệ. Ở Âu Châu năm 1820 việc buôn bán nô lệ cáo chung. Hiến pháp Đức ghi đìều 1 đoạn 1 “nhân phẩm con người bất khả xâm phạm“. Chỉ còn ở Hoa Kỳ kéo dài một thời gian, nội chiến Hoa Kỳ máu của những người nô lệ đổ nhiều và từ đó chế độ nô lệ cũng được giải phóng ở nhiều tiểu bang.
Năm 1860 Abraham Lincoln (1809 -†1865), được bầu làm Tổng Thống thứ 16 Hoa Kỳ, từ năm 1862 người nô lệ được giải phóng ở các thành phố phiá Đông, đến năm 1867 theo điều 13 Hiến Pháp Hoa Kỳ từ ngày 18.12.1865 chấm đứt chế độ nô lệ. Tổng thống Lincoln từng nói: “Vì không muốn làm một kẻ nô lệ nên tôi cũng sẽ không làm chủ nô lệ. Điều này diễn đạt ý tưởng của tôi về Dân Chủ. Bất cứ điều gì khác hơn thế, dù khác ít hay khác nhiều, đều chẳng phải là dân chủ”. Lần đầu tại New Orleans người nô lệ được tham gia bỏ phiếu. Năm 1965 mục sư Tin lành Martin Luther King (1929 -†1968) người nhận giải Nobel hòa bình năm 1964. tiếp tục đấu tranh cho sự bình đẳng của người da đen ở các tiểu bang Montgomery, Alabana …
Thời đại văn minh tiến bộ, chế độ nô lệ không còn phổ biến như xưa, Quyền lực không còn là phương tiện tuyệt đối bắt người làm nô lệ, nhưng thế lực đồng tiền vẫn là phương tiện vô biên cho đến nay. Dựa trên một số tài liệu, thì việc buôn người là một kỷ nghệ trị giá lên đến 40 tỷ đô la? Chợ nô lệ được trá hình dưới nhiều hình thức khác nhau, bọn gian thương khai thác triệt để, là món hàng không vốn, đắc giá nhất bởi vậy nạn buôn người và nô lệ vẫn tồn tại ở thế kỷ thứ 21.
Công Ước Genève ngày 25.09.1926 về việc ngăn cấm, phòng ngừa và trừng phạt mọi hình thức mua bán nô lệ. Từ trước đến nay thế giới đã có hàng chục Công ước, Hiệp định bổ túc cấm nạn mua bán, khai thác nô lệ trong các lãnh vực cưỡng bức trẻ em lao động, mại dâm vv… Thời đệ nhị thế chiến, quân đội Nhật Bản đã bắt đàn bà Đại Hàn làm nô lệ sinh lý. Mặc dù chính phủ Nhật đã xin lỗi Đại Hàn, nhưng vết mực đen đau thương cho thân phận đàn bà Đại Hàn còn sống sót khó có thể phôi pha.
Theo tổ chức Quốc Tế Di Dân trụ sở tại Genève cho biết hàng năm có khoảng từ 250.000 đến 300.000 trẻ em đàn bà từ khối Sô Viết bị bán qua các nước Tây Âu. Quỹ Bảo Trợ Nhi Đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF) tổng kết hàng năm trên thế giới đến 2 triệu trẻ em bị mua bán về tình dục, riêng các nước Á Châu (Campuchia, Lào, Miến Điện, Thái lan và Việt Nam) người Việt chiếm một phân nửa? buôn bán phụ nữ, trẻ em để phục vụ cho ngành mại dâm dưới nhiều hình thức khác nhau. Nếu muốn hạn chế, kiểm soát chặt chẻ ngăn chận buôn bán người, phải cần sự hợp tác của nhiều quốc gia trên thế giới.
Nô lệ mới
Việt Nam trải qua nhiều khổ đau vì chiến tranh tàn phá. Năm 1945 gần triệu người miền Bắc chết đói, nhưng không có người Việt nào rời bỏ quê hương. Năm 1975 người ta vui mừng thống nhất đất nước, chấm dứt chiến tranh đem lại thanh bình cho dân tộc. Niềm vui chưa trọn hàng trăm ngàn quan chức chế độ VNCH bị bắt tập trung cải tạo, những năm dài trên cao nguyên núi rừng từ Nam ra Bắc, đời sống trong các trại cải tạo đọa đày giống như người dưới thời nô lệ! Những tù nhân chính trị may mắn còn sống, từ năm 1990 được chính phủ Hoa Kỳ nhận qua chương trình H.O. (Humanitarian Operations), “tù nhân nô lệ” được giải phóng. Tổng Thống Lyndon Bainer Johnson (1908-†1973) năm 1965 nhắc lại thời kỳ còn nô lệ ở Hoa Kỳ “tự do chưa đủ vết thương nô lệ từ trăm năm qua chưa thể lành được“
Hòa bình hơn 3 thập niên, tưởng đất nước yên vui “đổi mới“ kinh tế phát triển thì xã hội phải văn minh, tốt đẹp hơn, nhưng nhìn lại thân phận đàn bà Việt Nam trở thành món hàng giải trí rẻ tiền cho thiên hạ. Dù với hình thức kết hôn, nhưng thực tế đàn bà VN bị bán cho những đàn ông ngoại quốc dốt nát, ít học, bệnh hoạn nhiều bài báo đã viết về trường hợp nầy. Những đàn ông ở xứ họ không thể tìm ra vợ hoặc muốn tìm người giúp việc nên họ để dành tiền, vàng sang Việt Nam tìm đàn bà. Xã hội Trung Hoa còn ảnh hưởng phong kiến trọng Nam hơn Nữ, sinh con gái họ đã vứt ra đường như con vật chả ai để ý tới (tuần báo Stern của Đức đã lên án và chụp hình hài nhi là con gái bị bỏ bên đường), gây ra nạn trai thừa gái thiếu, nên họ đổ xô đi tìm vợ VN
Thận phận đàn bà Việt Nam
Trường hợp rao bán phụ nữ Việt Nam trên Internet của ebay Taiwan gây dư luận về việc buôn người bất hợp pháp vi phạm nhân quyền, phẩm giá phụ nữ Việt Nam bị tổn thương. Tin này gây dư luận ở Đài Loan. Các Hội Nữ Quyền ở Mỹ, Úc và người Việt Nam tỵ nạn đều phản đối, nhưng Hội Phụ Nữ Việt Nam ở quốc nội vẫn im lặng?
Gia đình và xã Hội
Sài Gòn hiện nay là thành phố đông dân hơn 8 triệu người. Dù số thống kê chưa chính xác, nhưng người ta ước tính trong số 8 triệu người Sài Gòn có hơn 1 triệu người từ các vùng quê nghèo đến Sài Gòn mưu sinh. Trong số dân nhập cư này, đa phần là phụ nữ, họ vào Sài Gòn với giấc mơ đổi đời, nhiều người mưu sinh bằng những việc lương thiện, đánh đổi mồ hôi để kiếm ăn hàng ngày, cũng nhiều người bị đưa đẩy vào đường tội lỗi. Những tệ hại và khốn nạn với dịch vụ “chợ buôn người“ dưới dạng “lấy chồng ngoại quốc“. Ở Singapore mấy thiếu nữ Việt Nam ngồi trong những phòng kính để khách qua lại lựa chọn như một món hàng ở khu thương mãi.
Thân phận gái quê lên thành phố cũng nhiều đắng cay, vì nhẹ dạ bị dụ dỗ bán qua biên giới Trung Hoa, Campuchia, Lào, Thái để làm việc. Nhưng thực tế phần lớn họ bị lừa, buộc nạn nhân phải làm việc trong các động mại dâm. Đời sống lặng lẽ như những chiếc bóng, những chiếc bóng chờ một ngày trôi qua khi màn đêm buông xuống ra đường sống kiếp phù du…
Hơn 100 ngàn phụ nữ Việt nam làm dâu xứ người, có bao nhiêu người hạnh phúc? ngôn ngữ phong tục là bức tường ngăn cách! nhiều cô bị bỏ đói, đánh đập, phục vụ sinh lý cho cả gia đình, sống bơ vơ xứ người phải bán mình như nàng Kiều! làm việc nhà từ sáng đến tối như người nô lệ. Chúng ta phải chạnh lòng và tủi nhục cho thân phận đàn bà Việt Nam xấu số, mời theo dõi phóng sự tại Đài loan:
Một số phụ nữ Việt lấy chồng Hàn Quốc đã tự tử, hoặc bị đánh tới chết mà nhiều vụ được kể trên báo chí đã gây xúc động cho dư luận mấy năm qua. Theo một bản tin của báo Anh ngữ Korea Herald ngày 23 tháng 12 năm 2009, chỉ kể từ tháng 11, 2006 là thời gian cơ quan này được thành lập cho đến hết tháng 10, 2009 tin trên tường thuật, 40.4% các người gọi cầu cứu là phụ nữ Việt Nam (28,417 lần gọi). Các quốc gia trên thế giới xuất cảng máy móc, hàng hoá. Sau năm 1975 nhà cầm quyền Việt nam “xuất khẩu lao động“ sang các nước thuộc khối Xã Hội Chủ Nghiã Đông Âu để trả nợ chiến tranh. Nhưng chủ trương đó đến nay không ngừng mà còn tiếp tục xuất cảng người ra các vùng Đông Nam Á như Đại Hàn, Mã Lai, Nhật Bản, Singapore, Hồng kông, Nam Dương và cả các nước Á Rập.
Việt nam với tài nguyên giàu có “rừng vàng bể bạc“, không thiếu nhân tài, giới trẻ góp sức phát triển xây dựng một nước hùng mạnh, phú cường, không thua gì Nhật hay Đại Hàn, nhưng tiếc thay nhà nước không chú trọng đến việc khai thác nhân tài. Người Việt phải đi lao động xứ người thật khổ, làm những việc mà người bản xứ chê, bị kỳ thị, cô lập, đánh đập, trường hợp một số người lao động tại Mã Lai gặp khó khăn, không rành ngoại ngữ, họ lảnh lương không đúng hợp đồng, lý do là phía Việt Nam xuất khẩu lao động chỉ tìm cách đưa nhiều người sang để kiếm tiền, mà không chú ý tới các điều kiện lao động Theo Cục quản lý Lao động ngoài nước của CSVN, hiện có hơn 500 ngàn người Việt đang lao động tại hơn 30 quốc gia trên thế giới. Ở một số nước mới có người Việt lao động bắt đầu từ năm 2005 như Đài Loan, Nhật Bản, Đại Hàn và Mã Lai thì ngoại tệ chủ yếu tập trung chuyển về những khu vực nông thôn. Đây là những thị trường “xuất cảng lao động” lớn của VN. Năm 2010 sẽ có đến 85.000 người chính thức đi lao động. Tâm sự của một công nhân làm việc ở Malaysia:
“Do là các công ty của mình ở nhà, cứ đưa đẩy người sang để mà lấy phần trăm, cứ đưa người sang ào ào nhưng công việc lại chẳng đâu vào đâu cả. Bức tranh lộn xộn về lao động xuất khẩu Việt Nam, không chỉ tại Malaysia mà còn ở nhiều nước khác, cho thấy sự phối hợp và quản lý của các cơ quan chủ quản là rất yếu, nếu không muốn nói tới tình trạng đem con bỏ chợ. Thế cho nên những người lao động Việt Nam, vỡ mộng làm giàu nơi xứ người, giờ đây không biết bấu víu vào đâu … „
Ngoại tệ chuyển về VN hàng năm tăng liên tục và tăng rõ rệt trong 10 năm qua. Năm 2000 được 1 tỷ USD, năm 2001 tăng lên 1.5 tỷ USD, năm 2002 lên hơn 2 tỷ USD, năm 2003 2.6 tỷ USD, năm 2004 3.8 tỷ USD, năm 2005 lên gần 4 tỷ USD, năm 2006 nhảy vọt lên 5.2 tỷ USD, năm 2007 lên trên 6 tỷ USD và năm 2008 đạt kỷ lục 7.2 tỷ USD. cuối tháng 12 năm 2009 lượng kiều hối chuyển về VN chỉ được 6.283 tỉ USD, giảm 12,8% so với năm 2008.
Nhìn lại 19 năm qua, từ khi những đồng tiền đầu tiên của Việt kiều được gửi về VN qua đường chính thức kể từ năm 1991, đến nay con số này đã vượt quá 30 tỷ USD chiếm hơn 70% số vốn Đầu Tư Trực Tiếp Nước Ngoài (FDI – Foreign Direct Investment) tính từ năm 1988 và cao gấp rưỡi nguồn vốn Viện Trợ Phát Triển Kinh Tế (ODA – Official Development Assistance) được giải ngân từ năm 1993. (Năm hết Tết đến tính sổ kiều hối với CSVN – Trần Việt Trình)
Đời sống Việt nam ngày nay đua theo vật chất, nguời có quyền lực thì giàu sang, các đại gia, công tử tiền tiêu không hết thành phố Hà Nội, Saigon không thiếu các loại xe đắt giá nhất thế giới như: Rolls Royce, Mercedes, BMW… người nghèo thì nghèo tận cùng xã hội, nghèo rớt mồng tơi! Thế hệ trẻ không nhìn thấy tương lại, nhiều gia đình muốn con mình ra nước ngoài làm việc, mong thu nhập cao hơn để giúp gia đình theo kinh tế thị trường. Bọn buôn người nhờ thế lực bao che, tổ chức đưa người ra nước ngoài.
Tại các nước Đông Âu (trước kia thuộc khối xã hội chủ nghiã) đã từ bỏ thiên đường cộng sản, nhưng lề lối làm việc còn ảnh hưởng dưới thời cộng sản, kẻ hở luật pháp chưa được tôn trọng, nhiều đường giây buôn người. Nhiều người ở quê nhà tưởng sang xứ người dễ làm giàu, nhờ bản tính cần mẫn siêng năng! bán tài sản ruộng vườn để đủ tiền nợp cho các dịch vụ ra nước ngoài làm việc, đến Nga và từ đó sang Ba lan, Tiệp Khắc hy vọng tìm đời sống như ước mơ. Đến nơi những gì hưá hẹn trở thành hư ảo, đứng trước hoàn cảnh nan giải tiến thối lưỡng nan, bị đem con bỏ chợ “hết xôi rồi việc“ tiền đã bỏ tuí bọn buôn người lẫn trốn. Nhiều người bơ vơ không giấy tờ hợp pháp phải sống chui rúc làm đủ các thứ việc, đồng lương bị bóc lột, trở thành nô lệ kêu trời không thấu. Mùa đông ở Âu Châu giá lạnh nhưng ở cảng Calais các khu rừng Téteghem, Grande Synthe, Angres bên Pháp có nhiều người Việt Nam sống bất hợp pháp chịu cảnh đói khổ mong tìm một nơi nương tựa có việc làm gởi tiền về trả nợ bên quê nhà ….
Theo loạt bài phóng sự “người rừng“ của ông Huỳnh Tân đăng trang http://thongtinberlin.de/diendan/latnguaconbai,authuanvietnam.htm. Mùa đông năm nay khá lạnh đôi khi nhiệt độ -20 độ C. Chúng ta phải thông cảm nỗi khổ của những người lẫn trốn trong rừng vì đói lạnh, thiếu vệ sinh lo sợ bị ức hiếp. Họ là nạn nhân bị các tổ chức buôn người hứa hẹn tìm kiếm công ăn việc làm, với lương cao 5000€ hàng tháng, (chú thích: tiền lương nầy chỉ những người tốt nghiệp đại học làm lâu năm chưa trừ thuế, lao động VN không rành ngôn ngữ, không nghề nghiệp không có giấy phép làm việc, nếu người ta thuê làm lậu thuế tốt bụng lắm họ trả tối đa 5€ một giờ). Những người sống ở các khu rừng biên giới Pháp, chờ cơ hội để nhảy xe tải sang Anh tìm việc! Sau cơn khủng hoảng kinh tế không riêng gì ở Anh mà các quốc gia khác cũng không tránh được nạn thất nghiệp gia tăng. Nếu may mắn vào được nước Anh không phải dễ tìm được việc làm hợp pháp! Tương lai là những ngày dài đen tối, tâm sự của “người rừng“ được gởi gắm qua những dòng thơ buồn man mác, đọc hết bài thơ dài tôi không thể cầm được nước mắt:
…………………. Anh ra đi gánh nợ em mang Lúc chia tay anh qúa vội vàng Không cùng em tâm sự lời sau trước Và nơi đây anh sống xa đất nước Nỡ lòng nào không thương vợ nhớ con Muốn quay về nhưng cách trở núi non Đường xa lắm em ơi xa ngàn dặm ……… Thơ trích từ: “Người Việt chui lủi giữa rừng nước Pháp”cuả Nhà báo Võ Trung Dung tại Paris.
Họ là nạn nhân có thể chết đói, chết lạnh giữa xã hội văn minh dư thừa vật chất!
Người Việt ở Campuchia
Nội chiến Kampuchia năm 1975, Khmer đỏ do Pol Pot lãnh đạo (thân Trung Quốc) chiến thắng, giết hàng triệu người vô tội phơi xương trắng ruộng đồng. Năm 1979 chính quyến CSVN đưa quân đội giúp Heng Samrin chống lại Pol Pot & đóng quân cho đến 1989. Trong thời gian trên nhiều người Việt được sự bảo trợ của quân đội sang lập nghiệp, tại Phnom Penh và các thành phố, làng mạc khác. Ngày nay nhiều du khách Tây Phương đến thăm Angkor kỳ quan thế giới tráng lệ. Xứ Chùa Tháp nhưng đời sống hổn độn, đạo đức suy đồi, ở đâu cũng có quán bia ôm, những động mại dâm ở Svay Pak là những em gái vị thành niên phần lớn người Việt Nam đến từ các tỉnh phiá nam. Tệ nạn mại dâm do tổ chức buôn người về vùng quê Việt Nam dụ dỗ con gái nhà nghèo sang Campuchia làm việc có nhiều tiền hơn, đến nơi bị bán trinh cho người Tàu và buộc làm việc tiếp khách mua vui, công việc kinh tởm, không đạo đức vi phạm nhân quyền. Trường hợp cô Sina Vann tên thật là Nguyễn Thị Bích, quê ở Cần Thơ. Năm mười ba tuổi, Nguyễn Thị Bích bị một bà hàng xóm gạt dẫn sang Kampuchia, bán vào động mãi dâm. Cô được tổ chức Somaly Mam Foundation cứu thoát. Tháng Mười năm 2009, Sina Vann đến Hoa Kỳ để nhận giải thưởng Frederick Douglas vì nổ lực tự phục hồi bản thân và quyết tâm chống nạn buôn người mà cô từng là nạn nhân.
Đần năm 2010 hãng AAP (Australian Assciated Press) cho biết tổ chức The Grey Mann trụ sở ở Brisbane đã cứu thoát được 2 em bé Việt Nam bị bắt làm nô lệ tình dục, không biết còn bao nhiêu trẻ em đang phải sống kiếp người nô lệ của điạ ngục trần gian. Chúng ta nếu có dịp trở về thăm Singapore, Indonesia, Malaysia phải chạnh lòng ngao ngán thấy những cô gái Việt Nam trẻ đẹp ăn mặc hở hang đứng đường làm nghề buôn hương bán phấn. Họ đến đây trong những hoàn cảnh khác nhau, tìm chồng ngoại quốc vì hoàn cảnh gia đình nhiều cô tuổi vị thành niên bị bọn buôn người lừa dối, hứa hẹn giúp cho đi học nghề, nhưng thật ra đến nơi bị khống chế bởi bọn má mì và du đảng ép buộc làm nghề “đi khách“.
Nhìn lại lịch sử Việt nam qua các Triều đại các đấng nữ nhi như hai chị em Bà Trưng bà Triệu, Cô Giang, Cô Bắc đã làm vang danh lịch sử giống nòi. Ngày nay đàn bà Việt Nam phải bán thân khắp nơi làm nô lệ! Trẻ thơ Việt Nam bị đọa đày, ai là người quan tâm khi đang còn mãi mê, sa đoạ, vơ vét cho đầy túi tham hãy thức tỉnh nhân tâm giải phóng cho tuổi thơ Việt Nam! chấm dứt vi phạm nhân quyền cựu Tổng thống George.W. Bush đã tuyên bố:
“Chúng ta phải chứng tỏ sức mạnh mới trong việc chống lại một tệ nạn cũ. Gần 2 thế kỷ sau khi dẹp bỏ nạn mua bán nô lệ, và hơn một thế kỷ sau khi chế độ nô lệ bị chính thức khai tử ở các cứ địa cuối cùng của nó, không thể để cho nạn mua bán người vì bất cứ mục đích nào nẩy nở trong thời đại của chúng ta”.
Là người Việt ở khắp nơi trên thế giới cũng như trong nước, chúng ta phải làm gì cho một dân tộc sớm thoát khỏi cảnh nghèo đói lạc hậu? chấm dứt trình trạng buôn người “nô lệ”. Năm mới Canh Dần hy vọng ánh sáng đến đẩy lui bóng tối đang bao phủ quê hương nước Việt.
Nguyễn Quý Đại Tài liệu tham khảo Geschicthte der Sklaverei tác giả Susanne Evertt NxB Becchtermünz Hình đời nô lệ trên Internet
Trong suốt chiều dài lịch sử hào hùng của dân tộc Việt Nam, hàng hàng lớp lớp các thế hệ tiền nhân cống hiến cuộc đời, mạng sống của mình cho sự nghiệp cứu nước và dựng nước. Giải giang sơn gấm vóc mà chúng ta có được ngày hôm nay đã nhuộm thắm mồ hôi, xương máu của biết bao công dân Việt Nam đầy lòng ái quốc. Trong trách nhiệm của một con dân Việt Nam, trong sự biết ơn và trân quý những hy sinh xương máu của tổ tiên, tôi tự cho mình có bổn phận phải tiếp nối truyền thống bảo vệ và gìn giữ đất nước. Sự gìn giữ và bảo vệ không chỉ đơn thuần ở từng mét vuông lãnh thổ mà còn là danh dự và niềm tự hào của dân tộc Việt Nam. Sự gìn giữ và bảo vệ này nằm trong tinh thần Tổ Quốc trên hết, đứng trên mọi bất đồng về ý thức hệ, chính kiến, tổ chức và đảng phái. Cách đây đúng 50 năm, vào ngày 14 tháng 9 năm 1958, ông Phạm Văn Đồng đã đại diện đảng Cộng sản Việt Nam ký bản công hàm chấp nhận và tán thành bản Tuyên bố của đảng Cộng sản Trung Quốc về bề rộng lãnh hải của Trung Quốc trong đó bao gồm các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, vốn tự nghìn đời thuộc vào lãnh thổ Việt Nam. Đây là một hành động cúi đầu bán nước của đảng cầm quyền CSVN đối với ngoại bang, chưa kể là ông cựu thủ tướng Phạm Văn Đồng vào thời điểm đó không có thẩm quyền ấy, vì 2 đảo Trường Sa và Hoàng Sa lúc ấy thuộc về quyền trách nhiệm sở hữu của miền Nam Việt Nam Cộng Hòa. Nhân dân Việt Nam chưa bao giờ và sẽ không bao giờ chấp nhận sự dâng hiến này của đảng CSVN. Hoàng Sa và Trường Sa muôn đời vẫn là lãnh thổ của Việt Nam.
50 năm trôi qua, mối nhục mất đất mất biển lại bị tiếp nối bởi nhiều sự dâng hiến khác, vì quyền lợi riêng tư, của thiểu số cầm quyền. Điển hình là Hiệp định về biên giới trên đất liền Việt Nam-Trung quốc vào ngày 30-12-1999 và Hiệp định phân định lãnh hải Việt Nam-Trung quốc ngày 25-12-2000. 789 cây số vuông dọc biên giới Trung Việt, trong đó có thác Bản Giốc và Ải Nam Quan cùng một phần lãnh hải của dân tộc, lại bị dâng hiến cho ngoại bang. Thêm một lần nữa, độc lập của Việt Nam lại bị xâm phạm, danh dự của dân tộc Việt Nam lại bị chà đạp. Trong khi đó, mọi tiếng nói, hành động bày tỏ quan điểm của công dân Việt Nam về Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam, mọi thái độ thể hiện lòng yêu nước và bảo vệ sự vẹn toàn của lãnh thổ cha ông của người dân đã bị thẳng tay đàn áp, bắt bớ hoặc giam cầm.
50 năm trôi qua nhưng chúng ta không thể quên. Vì một phần thân thể của đất mẹ vẫn còn bị cắt đứt. Chúng ta không thể cúi đầu. Vì danh dự và tự hào dân tộc vẫn là một vết nhục chưa được xóa nhòa. Chúng ta không thể im lặng. Vì im lặng là đồng ý với hành động bán nước. Chúng ta không thể buông xuôi. Vì mọi sự thờ ơ và buông xuôi sẽ dẫn đến những hành động bán nước tiếp diễn trong tương lai. Chúng ta, không những phải nỗ lực lấy lại những gì đã mất, mà còn phải ngăn chận những gì sẽ mất trong tương lai. Một người, chúng ta sẽ không thành công. Một ngày, một tháng, một năm là quá ngắn để đạt được mục đích. Nhưng với nhiều công dân Việt Nam, bằng trách nhiệm, lương tâm và lòng yêu nước, bằng chiều dài cuộc sống của chúng ta, chúng ta sẽ thành công trong việc tiếp nối sự nghiệp cứu nước và giữ nước của tiền nhân.
Trong sự ý thức về trách nhiệm của một công dân Việt Nam, trong tinh thần Tổ Quốc trên hết, tôi quyết định sẽ tọa kháng ngay trước nhà của tôi khởi từ ngày 14 tháng 9 năm 2008 trở đi để phản đối hành động bán nước, dâng hiến Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc cách đây 50 năm. Lý do tôi phải chọn hình thức đấu tranh này là vì tôi đã từng nộp đơn xin phép nhà nước để được biểu tình, để được làm theo đúng pháp luật quy định của nhà nước, hầu không bị công an vô cớ đàn áp và vu khống như những lần tham dự biểu tình trước, nhưng đơn xin phép của tôi cũng đã bị bác bỏ, và bản thân tôi lại bị hành hung. Tôi khiếu tố và đơn khiếu tố ấy cũng bị tòa từ chối không giải quyết. Tôi không còn lựa chọn nào khác trừ phương thức đấu tranh tọa kháng ngay tại nhà tôi để thể hiện quyền bày tỏ thái độ của tôi, một quyền mà chính hiến pháp nhà nước trong điều khoản 69 cũng đã ghi rõ. Và lần này, nếu nhà nước đàn áp, sách nhiễu hay xử dụng bạo lực với tôi, hay thậm chí án tù với tôi, thì ít ra tôi cũng đã thể hiện qua chính sự an nguy của tôi cho cả thế giới được biết sự thật của đất nước này là không hề có tự do ngôn luận, cho dù là ngay tại chính nhà mình sở hữu.
Tôi cũng tọa kháng để phản đối mọi hành động khiếp nhược của nhà nước này trước ngoại bang phương bắc nhưng lại hung hãn đàn áp mọi tiếng nói, mọi thái độ bày tỏ lòng yêu nước của công dân Việt Nam. Đây chỉ là một việc làm nhỏ bé mà cá nhân tôi có thể làm được trong lúc này. Nhưng dù là một hành động nhỏ bé, nhưng với tinh thần đất nước là của chung, tôi xin kính khẩn kêu gọi mọi tầng lớp công dân Việt Nam, quý bác, quý chú đã từng hy sinh cuộc đời của mình cho nền độc lập của đất nước, các anh chị và các bạn trẻ đang mong ước đất nước Việt Nam sẽ ngẩng cao đầu với cộng đồng nhân loại, hãy cùng với tôi bày tỏ thái độ và lòng yêu nước của mình ngay tại chính nhà của quý vị, bất cứ ngày nào khởi từ ngày 14 tháng 9 này trở đi, nếu như quý vị cũng như chúng tôi bị ngăn cấm, không thể đến được nơi biểu tình ở Hà Nội vào 14/09 trước sứ quán Trung Quốc.
Mục đích duy nhất của hành động tọa kháng của tôi là bày tỏ lòng yêu nước và nhắc nhở cho chính tôi và đồng bào của tôi về mối nhục mất đất, mất biển và tôi mong mỏi được sự hỗ trợ và đồng thuận của nhiều người qua những hành động cụ thể. Nếu tôi bị bắt giam thì chắc chắn "tội" của tôi và đó là là tội duy nhất của tôi, là đã dám công khai bày tỏ lòng yêu nước của mình. Và nếu vì yêu nước mà bị giam cầm thì tôi rất sẵn sàng và hãnh diện đón nhận bản án tù ấy bất cứ lúc nào. Và nếu như tôi bị bắt giam trước khi tôi có cơ hội toạ kháng tại nhà như ước muốn, thì tôi sẽ tọa kháng phản đối trong nhà tù. Đối với tôi những khó khăn này rất là nhỏ bé so với những hy sinh của các bậc tiền nhân, của các vị cha chú đi trước tôi đã trải qua trong sự nghiệp bảo vệ đất nước.
Kính mong,
Ngày 13 tháng 09 năm 2008 Công dân Phạm Thanh Nghiên 17 Phường Lưu 2, Phường Đông Hải, Quận Hải An, Hải Phòng
Sáu Điều Tâm Niệm Của Người Lính Việt Nam Cộng Hòa
Là Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa,
Điều 1: Tôi nguyện chấp nhận mọi hy sinh gian khổ để chiến đấu bảo vệ cho sự sống còn của Tổ Quốc, của gia đình và của chính bản thân tôi.
Điều 2: Tôi tuyệt đối chấp hành các mệnh lệnh của cấp chỉ huy, đề cao cảnh giác trước mọi âm mưu tuyên truyền chia rẽ của giặc cộng.
Điều 3: Tôi luôn kính già, thương trẻ, đứng đắn với phụ nữ và giúp đỡ đồng bào.
Điều 4: Tôi luôn tâm niệm hành động làm mất lòng dân là xua dân về phía giặc cộng, là tự sát.
Điều 5: Tôi luôn đối xử tử tế với tù hàng binh địch (VC), không ngược đãi đánh đập họ, không đụng đến của riêng họ, để thêm bạn bớt thù.
Điều 6: Thực hiện các điều trên là tôi tích cực xây dựng tự do cho đất nước, đem lại hạnh phúc cho toàn dân, tôi sẽ được đền bù bằng sự cảm mến và biết ơn của Đồng Bào.
Di chúc của Vua Trần Nhân Tôn
"Các người chớ quên, chính nước lớn mới làm những điều bậy bạ, trái đạo. Vì rằng họ cho mình cái quyền nói một đường làm một nẻo. Cho nên cái họa lâu đời của ta là họa Trung Hoa.
Chớ coi thường chuyện vụn vặt xảy ra trên biên ải. Các việc trên, khiến ta nghĩ tới chuyện khác lớn hơn. Tức là họ không tôn trọng biên giới quy ước. Cứ luôn luôn đặt ra những cái cớ để tranh chấp. Không thôn tính được ta, thì gậm nhấm ta. Họ gậm nhấm đất đai của ta, lâu dần họ sẽ biến giang san của ta từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích. Vậy nên các người phải nhớ lời ta dặn:
"Một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác".
Ta cũng để lời nhắn nhủ đó như một lời di chúc cho muôn đời con cháu".
Lý Thường Kiệt
Tiếng Hán: 南國山河
南 國 山 河 南 帝 居
截 然 定 分 在 天 書
如 何 逆 虜 來 侵 犯
汝 等 行 看 取 敗 虛
Tiếng Hán Việt
Nam quốc sơn hà Nam đế cư, Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư
Trần Hưng Đạo
"Nếu bệ hạ muốn hàng, trước hết hãy chém đầu hạ thần"
Phan Bội Châu
SỐNG "Sống tủi làm chi đứng chật trời Sống nhìn thế giới hổ chăng ai Sống làm nô lệ cho người khiến Sống chịu ngu si để chúng cười Sống tưởng công danh, không tưởng nước Sống lo phú quý chẳng lo đời, Sống mà như thế đừng nên sống! Sống tủi làm chi đứng chật trời?
CHẾT Chết mà vì nước, chết vì dân, Chết đấng nam nhi trả nợ trần. Chết buổi Đông Chu, hồn thất quốc, Chết đời Tây Hán lúc tam phân Chết như Hưng Đạo, hồn thành thánh Chết tựa Trưng Vương, phách hóa thần Chết cụ Tây Hồ danh chẳng chết Chết mà vì nước, chết vì dân"
Đại Kỳ Việt Nam Cộng Hòa, Một Bảo Vật Lịch Sử
Công hàm bán nước của tập đoàn việt gian cộng sản Việt Nam ngày 14 tháng 09 năm 1958