Friday, August 21, 2009

Về nước mua ... nhà - đi Mỹ tậu ... cửa - Nguyễn Thị Lan Anh

Nguyễn Thị Lan Anh

Nhiều năm nay cái cảnh Việt kiều về nước mua nhà khá rộn rịp và mấy năm gần đây có cảnh ngược chiều: nhiều người giàu trong nưóc qua Mỹ tậu … cửa. Chuyện Việt kiều về nước mua nhà đẻ ra bao cảnh vui buồn trái ngang rách nát tâm can người trong cuộc. Và cảnh người trong nước qua Mỹ mua nhà cũng không đơn giản như người ta tưởng. Cái cảnh bánh ít bánh quy khiến nhiều người tưởng là biết rồi khổ lắm nói mãi, nhưng vẫn chưa tìm ra câu trả lời.

Về nước mua nhà

Về mặt lý thuyết, nhà nước Việt Nam đã công nhân hơn ba triệu người Việt ở nước ngoài là ‘máu của máu Việt Nam, thịt của thịt Việt Nam ‘khá lâm li cảm động’. Nhưng cho phép ‘máu thịt’ nọ trở về Việt Nam mua nhà thì .... Tính sơ sơ từ năm 2005 đến nay, chung quanh chủ đề cho Việt kiều sở hữu nhà ở Việt Nam, các bộ xây dựng, bộ công an, bộ tài nguyên môi trường, bộ kế hoạch đầu tư, ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố và cả quốc hội đã ‘vô tình’ làm tan vỡ khá nhiều giấc mơ của những người trong cuộc.

Còn nhớ, trong một phiên họp Quốc hội ngày 24 tháng 10 năm 2005, khi bàn về Luật Nhà ở, đại biểu Phạm Phương Thảo của đoàn thành phố HCM đã nói ‘nếu chúng ta tạo điều kiện cho 100.000 người Việt Nam ở nước ngoài về VN mua nhà. Mỗi căn nhà khoảng 50.000 USD thì chúng ta sẽ có khoảng 5 tỷ đô la rót vào thị trường bất động sản. Rất có lợi trong phát triển nhà ở và các mặt khác’. Nhưng ở thời điểm đó, cũng theo bà Thảo, vì những trói buộc về thủ tục, khiến Sài Gòn, địa phương được tiếng năng động nhất nước, chỉ mới bán được cho Việt kiều có 60 căn nhà. Một chị bạn của kẻ viết bài, đang định cư ở bang New South Wales (Úc), chua chát nhận xét ‘Khi cần kêu gọi đóng góp tiền bạc cứu trợ người ta gọi tụi này là con một mẹ, là khúc ruột tổ quốc. Nhưng đụng chuyện thì lập tức khúc ruột nọ bị săm soi, nghi kỵ không khác khúc ruột.. thừa’!

Nói thế e hơi bị … nai vàng ngơ ngác. Vì phàm đã là người Việt, không ít thì nhiều, ai cũng có ‘gien’ xoay trở, tháo vát. Chuyện nhà cửa ở Việt Nam, không cho mua chính thức thì họ huy động bà con giòng họ đứng tên mua giùm, mặc cho chuyện mua giùm này có thể đẻ ra bao cảnh huynh đệ tương tàn, cười ra nước mắt. Như ông Nam Trần ở bang Montana (Mỹ). Bực mình vì lần nào về Việt Nam ở khách sạn cũng bị quấy rầy, mất đồ lặt vặt ông Trần nhờ bạn chí thân đứng tên mua giùm căn nhà nhỏ trong khu yên tĩnh quận Bình Thạnh giá 50.000 đôla. Đầu năm 2009, bạn gọi sang cho hay nhà thuộc khu vực sắp bị giải tỏa, nên bán ‘chạy giải tỏa’ gấp, nếu không để đến lúc bị giải tỏa, người ta chỉ đền 10.000 đôla là cao. Bán cho ai?

Cho … tao! Thăm dò một kênh thông tin khác, ông Nam được biết ‘khu vực đó chả giải tỏa gì hết. Nó lừa mày thì có’.

Chị em cô Sáu Trâm ở bang Utah (Mỹ) lại khác. Họ không mua nhà mà có sẵn nhà ở Sài Gòn rồi nhưng nhờ người cháu coi chừng giùm từ nhiều năm nay. Từ chỗ ‘coi chừng giùm’, anh ta tìm cách nhập hộ khẩu vô đó. ‘Bây giờ, tụi này muốn bán nhà, nó không đồng ý nếu không được chia một phần ba tiền bán nhà. Thưa kiện thì đâu có ở Việt Nam mà theo kiện. Mướn luật sư, họ ‘vẽ’ một chặp cũng gần bằng tiền thằng cháu đòi chia. Mệt mỏi quá!’

Hai cảnh khổ trên, cùng nhiều nỗi niềm khác, đã được đưa ra thảo luận tại phiên họp lấy ý kiến đóng góp cho dự thảo ‘Luật sửa đổi- bổ sung điều 126 Luật Nhà ở và điều 121 Luật Đất đai’ ngày18/2/2009 của Ủy Ban Kinh tế Quốc hội, và phiên họp Quốc hội vào trung tuần tháng 5 năm 2009, cuối cùng đi tới quyết định ‘đẹp như mơ’: Sớm nhất là từ ngày 1/9 trở đi, bất cứ ai còn giữ quốc tịch Việt Nam, có gốc Việt Nam, đang tạm trú hợp pháp từ ba tháng ở Việt Nam đều có thể mua một căn nhà để ở, thay vì phải thuộc nhóm đối tượng người về đầu tư trực tiếp, người có công với cách mạng, nhà khoa học, nhà văn hóa, người kết hôn với người trong nước, người có kỹ năng đặc biệt … như trước. Khi đã có nhà, họ có quyền tặng, thế chấp, cho thuê, bán đi mua lại nhà khác, ủy quyền coi chừng giùm.

Trong thực tế, tới đầu tháng 8 này, thị trường nhà đất cho Việt kiều chưa có dấu hiệu nóng lên. Các sàn giao dịch bất động sản vẫn ‘điện nước chập chờn’, chưa xuất hiện ‘làn sóng Việt kiều đổ xô về mua hết nhà ngon’ như các thầy bói mù dự báo. Những dự án xây khu đô thị, xây chung cư cao cấp ở các quận 1, quận 3, quận 10, Tân Bình, Thủ Đức, quận 2, quận 9 theo mô hình khu đô thị Phú Mỹ Hưng quận 7 đang hết sức ì ạch. Nhiều sạp bán thuốc lá, vé số, xe ôm dọc đường Trường Sơn, Hoàng Văn Thụ, Hai Bà Trưng, Xô Viết Nghệ Tĩnh, Kha Vạn Cân chuyên sống bằng nghề cò mua bán, sang nhượng nhà cũng than ‘bảng treo tuần này sang tháng nọ chẳng ma nào tới hỏi’.

Một ‘thầy bói sáng’ là Thứ trưởng Bộ Xây dựng, ông Nguyễn Trần Nam, từ năm 2008, khi trả lời phỏng vấn báo điện tử Vietnamnet.vn, đã nói ‘số lượng bà con Việt kiều có nhu cầu và đủ điều kiện sở hữu nhà tại Việt Nam không lớn, do vậy dự báo cũng không tác động nhiều tới việc tăng quỹ nhà cho đối tượng này’. Lời ‘thầy bói sáng’ Nam xem ra hơi bị ... đúng trong bối cảnh nền kinh tế Mỹ lâm vào suy thoái khủng hoảng, đẩy gần 10% người dân Mỹ lâm cảnh thất nghiệp. Tiền mua nhà không trả được, nhà bị ngân hàng xiết, công nợ bủa vây.Trong tình cảnh ‘sáng’ như đêm ba mươi đó, hỏi mấy ai hăm hở về Việt Nam mua nhà!

Không hiểu vậy, cô Hồng Đào, có phòng mạch ở quận Thủ Đức, tức tối phân bua với kẻ viết bài ‘em bảo tụi nhỏ bán cái nhà bên đó đi, bỏ rẻ cũng ba trăm ngàn đô, về đây mua nhà một trăm ngàn đô thôi. Còn hai trăm ngàn, đổi ra tiền Việt, gửi ngân hàng lấy lãi ăn ở không đi chơi mà tụi nó không chịu nghe’. Cô bác sĩ này biết đâu, tiểu bang Cali nơi con cô sinh sống, nhà bị ngân hàng phát mãi nhiều, giá chỉ bằng 70%, thậm chí 50% giá gốc, nhưng lượng tiêu thụ vẫn không cao. Mọi thị trường vay vốn, trả nợ, sản xuất, tiêu thụ ở đó đều kẹt cứng. Đám con cô, làm gì không biết tính toán như mẹ, hoặc hơn mẹ. Nhưng họ không giải thích, chắc vì nghĩ mẹ ‘không ở trong chăn nên không biết chăn có rận’, có nói cũng không hiểu.

... đi Mỹ tậu … cửa

Kịch bản ‘Việt kiều ào về nước mua nhà’ còn chưa đâu ra đâu, thì một kịch bản tương tự nhưng theo chiều ngược lại đã âm thầm khởi động từ nhiều tháng qua. Ông Thịnh, Trưởng văn phòng đại diện của công ty P. giải thích ‘đồng tiền nhàn rỗi gửi ngân hàng lời quá ít. Đầu tư vào thị trường chứng khoán, địa ốc thì bấp bênh, phập phù. Dồn lo cho con du học là tốt nhất. Bốn năm đại học nước ngoài, nếu ở trọ sẽ mất khá tiền. Nhân lúc nhà bên đó đang rẻ, mua cho tụi nó ở’. Ngành du lịch Việt Nam đang làm ăn ế ẩm, chớp ngay tâm lý đối tượng này, mau mắn thiết kế những tour đi Mỹ, Úc, Canada vừa du lịch, thăm thân nhân, vừa kết hợp ‘săn’ nhà đẹp, giá rẻ (trên dưới hai ngàn rưởi đô la/người cho một tuần bay dọc bờ đông hoặc bờ tây nước Mỹ). Một trong những công ty du lịch ‘mát tay’ nhất là công ty du lịch Hoàn Mỹ vì thành tích ‘làm mai’ cho ít nhất 20 khách Sài Gòn mua được nhà ở Mỹ.

Nhà ở Mỹ, trong tâm trí người ‘bên này’ đồng nghĩa với thiên đường hạ giới. Nói của đáng tội, xưa chỉ biết mùi nhà tập thể, nhà ống, nhà ổ chuột, nhà đá nhà đạp (đá hay đạp một cái là ... sập), nay thêm được nhà chung cư cao tầng, nhưng về cơ bản, vẫn rất chật chội, thiếu cây xanh, thiếu vệ sinh, thiếu an toàn. Nghe nói nhà ‘bên đó’ rộng trăm mét vuông, nằm giữa hoa lá cỏ cây, có tiện nghi cao cấp mà rẻ hơn ‘bên đây’, nên nhiều người vẫn hào hứng sang Mỹ ‘săn’ nhà dù biết cúm H1N1 đang hoành hành dữ dội. Bà Đỗ Thị Loan, Tổng thư ký Hiệp hội bất động sản TPHCM (Horea), trong phiên hội thảo ngày 31 tháng 7 vừa qua tại Sài Gòn về đề tài ‘Mua nhà và đầu tư bất động sản tại Mỹ’ do Horea tổ chức, đã thổi bùng giấc mơ nhà Mỹ trong cử tọa hơn bao giờ hết khi kể trong chuyến công tác Mỹ, bà có thăm dự án nhà ở Virginia, Washington DC, thấy những căn biệt thự rất đẹp, có kiến trúc kiểu Ý, Pháp rộng gần 200m2 sàn, giá chỉ 100.000 đôla. Nếu lấy chuẩn nhà cùng cỡ, cùng kiểu ở khu Phú Mỹ Hưng quận 7 để so, thì thấy nhà bên Mỹ rẻ gấp vài lần. Giá bán trung bình một căn nhà, chỉ khoảng 181.000 đôla.

Dịch săn nhà giá rẻ ở Mỹ, cứ thế một đồn mười, mười đồn trăm khiến nhiều người ngỡ rất đơn giản và ngon ăn.Vài bà mau mắn gọi điện ra lệnh ‘Nhà mày bên đây, tao lo. Bây giờ tao mua nhà bên đó, giao mày lo lại. Cần bao nhiêu cứ xuất. Có gì cấn trừ sau’ nghe dễ như mua con cá lá rau! Hỏi họ cấn trừ bằng tiền Việt hay tiền Mỹ trong thời điểm tiền Mỹ quá cao so với tiền Việt hiện nay. Cấn trừ cách nào khi nhà nước không cho bọc theo mình 7,000 đôla một lần xuất ngoại, chuyển ngân chính thức để mua nhà nước ngoài càng không cho. Cấn ‘lậu’ thì dễ nhưng lỡ xui mất hết thì kiện đâu, ai xử? Họ ngồi ngây ra không trả lời được. Người khác, không ngồi ngây thì lại chết đứng như Từ Hải. Đó là anh Tuấn Minh, chủ một cửa hàng chế biến hàng mỹ nghệ ở Bình Dương. Anh này chửi rống thằng em ba ngày ba đêm liền (chắc bên Massachusetts chú em cũng điếc tai) vì tội lúc đầu không đá động gì đến những khoản bảo hiểm, tiền thuê đất, thuế lợi tức, phí bảo trì đồ đạc, vườn tược chỉ nói có tiền nhà. Chừng xong xuôi mới lòi thêm bao nhiêu khoản chi. Tính sơ sơ, để ‘nuôi’cái xác nhà, mất thêm gần chục ngàn đôla một năm nữa. Hỏi nó, nó bảo ‘lúc đầu giấu không nói vì sợ anh ngán, không chịu mua. Bây giờ anh mua rồi, nói đâu có muộn’.

Bên đây … bên đó ... khổ chẳng giống nhau

Thế mới biết, cùng là khổ vì mua nhà, nhưng ‘bên đây’ và ‘bên đó’ khổ chẳng giống nhau. ‘Bên đó’ về Việt Nam khổ vì luật một đằng, hiểu và vận dụng một nẻo. Còn bên đây sang Mỹ khổ vì sự quá kỹ lưỡng, quá chi li của luật. Lớ ngớ không biết luật tiểu bang, luật liên bang, lại quen xài luật miệng, luật rừng là ‘từ thua tới thua’. Chưa kể chi phí đi lại, tiền thuê tư vấn, thời gian chờ đợi, thương thảo. Cuối cùng, nhà rẻ mấy cũng thành mắc.

Ngồi giữa Sài Gòn những ngày đầu tháng Tám, mưa sập sùi mùi mẫn, nghe ‘nước vỗ long bong dưới mái nhà’, kẻ viết bài sực nhớ ra một điều quan trọng, vội mách nhỏ các vị ‘bên đó’. Các vị còn tính mua nhà Sài Gòn nữa không? Nếu còn thì ngoài việc dọ giá cả, tìm hiểu lai lịch chủ nhà, tiền sử ngôi nhà, xem bản đồ quy hoạch để biết nhà định mua có vướng giải tỏa đền bù không thì các vị nên kíp tranh thủ lúc đại hồng thủy này, về tận nơi xem ‘căn nhà yêu vấu’ có chết đuối dưới ba tấc nước chưa. Thực tế từng có khối chung cư hiện đại, biệt thự xinh xắn thuộc khu vực sang trọng, yên tĩnh, mùa khô không sao, nhưng sang mùa mưa thì tường thấm nhà nứt, hầm để xe thành hồ bơi, hẻm vào nhà thành suối dữ. Chưa kể nước rút đi, để lại rác rến các loại tặng chủ nhà. Chuyện này là thực đấy, không dám đùa đâu!

Nguyễn Thị Lan Anh


Sư Đoàn Nhảy Dù Việt Nam - MX520

SƯ ÐOÀN NHẢY DÙ VIỆT NAM
và CUỘC HÀNH QUÂN LAM SƠN 719

Bản dịch: MX 520

Ghi chú: Trước đây đã có nhiều nguời viết về cuộc hành quân Lam Sơn 719 tấn công vào các mật khu của Cộng sản Bắc Việt đặt trên đất Hạ Lào do QLVNCH hoạch định và thi hành với các đại đơn vị thuộc QĐ 1, được tăng cuờng bằng 2 SĐ Tổng trừ bị Nhảy Dù và TQLC. Những bài viết ấy , phần vì quá sơ luợc, phần vì thiếu nhiều chi tiết chính xác từ những cấp chỉ huy, thế nên gần 30 năm qua cuộc hành quân Lam Sơn 719 vẫn còn là một đề tài gây nhiều chú ý và tranh cãi. Trung tuớng Hoa Kỳ hồi hưu James B. Vaught, lúc ấy tham dự cuộc hành quân LS 719 trong cuơng vị Cố vấn truởng SĐ ND. Sau khi rời VN, Tuớng Vaught về phục vụ tại Bộ Tư Lệnh HQ Đặc biệt Hoa Kỳ (gồm các Lực lượng phản ứng chớp nhoáng như LLĐB, Delta, Thám Sát, Nguời Nhái-Navy Seal). Ông từng chỉ huy cuộc đột kích Operation Eagle Claws, giải cứu con tin Mỹ bị Iran cầm tù năm 1978 –tuy bị bỏ dở nửa chừng- và các chức vụ liên quan đến hoạt động chiến tranh đặc biệt ngoài quy uớc tại nhiều mặt trận khác như Bosnia, Kosovo và Iraq. Xin giới thiệu bài viết ngắn sau đây của tuớng Vaught để biết cái nhìn “chính xác” của 1 sĩ quan cao cấp Mỹ về khả năng, tinh thần chiến đấu của SĐ Nhảy Dù, nói riêng và QLVNCH, nói chung lúc đó.

Đại Tá James B. Vaught gắn huy chuơng cho quân nhân Nhảy Dù VN
sau hành quân Lam Sơn 719
“Mục đích của cuộc hành quân Lam Sơn 719 là cắt đứt đường mòn Hồ Chí Minh nằm trên đất Lào, về phiá Tây Nam căn cứ Khe Sanh, gần đoạn giao lộ với QL 9 cũng như nhằm phá huỷ, tịch thu các kho tiếp liệu quan trọng của địch đặt trong khu vực này. Các đơn vị tham dự cuộc hành quân này gồm SĐ 1BB, SĐ TQLC và SĐ ND. Trong những ngaỳ đầu của cuộc hành quân, các chiến binh Mũ Đỏ được 1 Lữ đoàn Kỵ binh tăng phái đã nhanh chóng tiến vào đất Lào lập các căn cứ hoả lực để yểm trợ cho các đơn vị bộ chiến khi họ băng về phiá Tây với nhiệm vụ cắt đứt con đường mòn HCM”

Tôi là Cố Vấn Trưởng của Sư đoàn Nhảy Dù Việt-nam Cộng Hoà (trưởng toán CV 162). Toán của chúng tôi có thể nói là 1 toán CV danh tiếng (xem lại danh sách những cựu CV trong toán 162 là thấy ngay nhiều nguời sau này lên Tướng. Chẳng hạn như Tướng Lindsay (chú thích: ĐT James J. Lindsay, nguyên Tư Lệnh Bộ TL HQ/ĐB Hoa Kỳ), Tướng Sandy Meloy (nguyên TL/SĐ82ND) hay Tướng Leroy Suddath (nguyên Tư lệnh LLĐB) và còn nhiều, nhiều người nữa … (Hình như tôi là CVT/SĐ duy nhất lên Tướng), trong khi có rất nhiều vị khác từng là Cố vấn cấp Tiểu đoàn hay Lữ đoàn NDVN sau này cũng trở thành các vị sĩ quan chỉ huy cao cấp của Quân lực Hoa Kỳ. Toán CV 162 là 1 đơn vị ngoại hạng.

Quay lại với chuyện HQ/ Lam Sơn 719, lúc đó chiến dịch đang tiến hành và đây là cuộc hành quân quy mô đầu tiên tôi can dự. Sau cuộc họp với các CV khác, tôi bắt đầu bàn định kế hoạch để đưa SĐ Nhảy Dù trở lại với tính năng hành quân tác chiến chuyên nghiệp vì lúc ấy SĐ Dù bị chôn chân nằm yên tại các căn cứ hoả lực, không có chút di động nào! Vì vậy tôi lên gặp vị Tư lệnh Sư Đoàn và tha thiết đề nghị là phải có một khái niệm chiến thuật để điều động con cái ra khỏi những căn cứ hoả lực đó. Sau một chút suy nghĩ, ông gật đầu chấp thuận và thế là chúng tôi bắt tay vào việc ngay. Ngay sau khi tôi nhậm chức Cố Vấn Trưởng, trong suốt thời gian còn lại của cuộc hành quân Lam Sơn 719, SĐ Dù không bị mất một khí tài quan trọng nào, đơn vị thực sự vào cuộc chiến đấu và đã chiến đấu vô cùng anh dũng .

Trong vòng 8 tới 10 ngày sau đó, SĐ Dù bắt đầu cuộc triệt thoái có quy cũ khỏi đất Lào rất thành công. Một trong những quyết định chúng tôi buộc phải làm lúc đó để có thể thay thế cho 1 Chiến đoàn hỗn hợp BB-TG đang bị Cộng quân bao vây là cho B-52 ném bom rải thảm ở khoảng cách tuyến quân bạn chỉ chừng từ 400 đến 500 mét! Dĩ nhiên là 1 cuộc ném bom ở độ gần như vậy chỉ có thể tiến hành nếu được sự chấp thuận của vị Tư lệnh SĐNhảy Dù! Và đó là 1 trong những thách thức đầu tiên tôi phải đối diện: làm sao thuyết phục được ông chấp nhận mối hiểm nguy như vậy cho con cái ông để đồng ý cho ném bom ở độ gần chết người đó.

Trong 2 tuần lễ cùng với SĐND Việt Nam trên đất Lào tôi đã gọi đâu chừng 412 trận ném bom như thế đấy! Nếu chưa chứng kiến một trận ném bom rải thảm của B-52 thì không tài nào tuởng tuợng được mức độ tàn phá kinh hoàng của nó, nhưng đó là cách phải làm để giúp các đơn vị trên mặt trận trong tình thế đó sống còn, để phá vỡ vòng vây của địch quân đang thắt chặt chung quanh hầu họ có thể rút ra an toàn. Nếu dựa vào báo cáo tại chỗ của các binh sĩ kèm theo uớc tính hết sức khiêm tốn, chúng tôi đã hạ ít nhất 2-ngàn Cộng quân ngay chung quanh căn cứ!

Chúng tôi mở một cuộc hành quân phối hợp nhịp nhàng giữa Bộ binh, Không quân và Pháo binh để vào được bên trong căn cứ thay thế cho đơn vị bị bao vây. Trong khi B-52 ném bom ở khoảng cách chính xác từ 200 đến 300 mét bên ngoài căn cứ, thì 1 hợp đoàn 16 chiến đấu cơ oanh kích vào đám Cộng quân đào hào bao vây căn cứ và cùng lúc 1 hợp đoàn trực thăng 20 chiếc đổ 2 Đại đội Nhảy Dù xuống, rồi bốc thuơng binh và xác binh sĩ tử thuơng bay ra. Cứ thế các chuyến trực thăng đổ quân, bốc thuơng binh liên tục trong lúc trận chiến vẫn tiếp diễn. Hãy tuởng tuợng, căn cứ có 4 mặt thì 1 bên B-52 ném bom ngăn chặn, 1 mặt thì phi cơ phản lực oanh tạc, 1 mặt thì pháo binh bắn chặn, chỉ còn đúng 1 mặt trống dành cho trực thăng bay vào rồi cất cánh quay đầu bay ra … Ấy thế mà chúng tôi không mất 1 trực thăng nào mới tài! Có 2 hay 3 chiếc bị trúng đạn địch nhưng không hề hấn gì vẫn cứ tiếp tục bay 4, 5 chuyến cho đến khi chúng tôi đổ được toàn bộ Nhảy Dù vào căn cứ, bốc hết thuơng binh và tử sĩ ra , đổ đầy xăng cho các chiến xa và … a lê hấp, đánh tiếp! Đó là 1 thí dụ tiêu biểu cho kết quả mỹ mãn nhờ vào sự phối hợp ăn ý giữa Không quân, Bộ binh, Trực thăng và các đơn vị yểm trợ hoả lực.

Chiến xa CSBV bị Nhảy Dù VN bắn cháy tại Hạ Lào
Xong nhiệm vụ này (đó là ngày thứ nhì tôi có mặt tại chiến truờng) Tướng Đống trong buổi họp tham mưu đã nói với với toàn bộ các đơn vị trưởng trong SĐ Nhảy Dù của ông rằng: “Từ nay, tôi được phép đề nghị các quyết định hành quân chiến thuật cần thiết và mọi nguời phải tuyệt đối thi hành như đó là lệnh của ông”. Và thế là kể từ ngày đó tôi không bao giờ phải băn khoăn lưỡng lự gì cả. Luôn luôn khi nào tính xong một kế hoạch, tôi đều lên trình Tướng Đống để xin ông chấp thuận nhưng không bao giờ ông phản đối bất cứ một đề nghị nào của tôi đưa ra. Và từ ngày đó SĐ Nhảy Dù liên tiếp đi từ thành công này đến thắng lợi khác.

Trong vòng 3, 4 ngày chúng tôi đưa được toàn bộ các đơn vị chiến thuật của SĐ Dù ra khỏi các căn cứ hoả lực để mở những cuộc hành quân lùng địch trong rừng. Phải thú thật tôi không bao giờ thích thú với quan niệm đóng quân trong các căn cứ hoả lực bởi vì một khi đóng quân trong căn cứ là vừa mất đi khả năng di động mà lại còn trở thành mục tiêu cho địch quân tấn công. Tôi quan niệm rằng trong cuộc chiến Việt nam, giữ cho các đơn vị luôn luôn ở thế di động là kế hoạch tốt nhất.

Tôi có thể tự tin mà nói rằng: “Việc chôn chân trong căn cứ hoả lực và di động bên ngoài, thì chẳng khác gì nhau ngoài một bên là tha hồ ăn pháo, trở thành mục tiêu cho địch bao vây và tấn công để bị tiêu hao dần. Cộng quân Bắc Việt đã tập trung đại pháo bắn xối xả vào các căn cứ hoả lực bất cứ lúc nào chúng muốn, và tha hồ nhắm bắn trực thăng tiếp tế, tải thuơng … Rõ ràng là không thể nằm bẹp trong căn cứ hoả lực được, chiến thuật đó chẳng có giá trị gì hết. Vì vậy tôi chủ trương là phải kéo hết ra khỏi các căn cứ hoả lực kiểu đó. Khi đề nghị lên thì các quan ở phía sau nói, “Ê coi chừng gặp nạn, nhưng muốn ra thì cứ ra và chờ thảm họa tới!”. Nói thế mà cũng nói được! Thảm họa là thế nào khi mà mọi trách nhiệm giao phó chúng tôi đều chu toàn và có mức thiệt hại không đáng kể trong khi chúng tôi đập bọn Cộng tơi tả khắp nơi? Và thế là Nhảy Dù kéo ra khỏi các căn cứ hoả lực để nhận nhiệm vụ đoạn hậu.

Thế nhưng ở trên kia, bất ngờ họ ra lệnh kết thúc cuộc hành quân Lam Sơn 719 chỉ vì nó không đem lại kết quả như họ đã tính. Cuộc hành quân này được mở ra không ngoài mục đích nhảy vào Hạ Lào, cắt ngang con đường HCM một cái rồi kéo về! Theo ý kiến cá nhân tôi thì đáng lẽ quân ta phải đánh vào đó, phá huỷ đường HCM rồi ở lại! Giá như cuộc hành quân tổng hợp được bàn định kỹ lưỡng cẩn thận ngay từ đầu thì điều đó là khả năng hoàn toàn có thể thực hiện. Đáng tiếc là tất cả những đơn vị khác đều được lệnh rút về. Nhảy Dù cũng phải về và thi hành xuất sắc nhiệm vụ đoạn hậu, SĐ chúng tôi về trong tình thế tuơng đối bảo toàn.

Chiến xa CSBV bị Nhảy Dù VN bắt sống tại Hạ Lào
Thế nhưng khi chúng tôi kéo về đến con sông chạy dọc biên giới Lào Việt , dọc theo QL 9, Bộ chỉ huy của Chiến đoàn 1 TG -từng có 1, 2 TĐ Dù tăng phái trong suốt cuộc hành quân- nằm trong phạm vi điều động của SĐ Dù báo cáo rằng “phải tính chuyện bỏ xe đi bộ vì phần hết xăng, phần sông lớn không thấy có nhánh nhỏ nào khả dĩ chiến xa có thể băng qua được“.

Tôi bác bỏ lập tức yêu cầu này, ra lệnh cho họ phân tán chiến xa, bố trí đội hình tác chiến và phòng thủ chờ lệnh. Ngay lập tức tôi liên lạc với SĐ 101 Nhảy Dù Hoa Kỳ, xin họ yểm trợ, tập trung tất cả những chiếc UH-1 có thể điều động được để bốc những thùng 55-gallons xăng lên tiếp tế cho chiến xa. Tôi còn kiếm được 1 Chinook và 1 trực thăng cẩu lên vùng. Đồng thời tôi xin SĐ 101 cho 1 trung đội Thám sát không kỵ giúp tôi thám sát 1 trong 2 nhánh sông mà tôi nhìn thấy trên tấm bản đồ cũ thời Pháp mang theo, để xác định nơi nào chiến xa có thể băng qua. Viên Trung đội trưởng Thám sát báo cáo rằng chiến xa có thể vuợt qua ở 1 nhánh sông với điều kiện phải có được xe ủi để san bằng 1 bờ sông cao gần 10 thuớc!

Và thế là chúng tôi cho viên ĐĐT Công binh Dù dẫn quân tới đó ngay, rồi cũng không nhớ là tôi bốc đâu ra được 4 xe ủi, tất cả xúm vào làm việc cật lực, vừa dùng mìn, vừa xe ủi, san bằng bờ sông cao để chiến xa có thể lội qua. Cùng lúc, trực thăng liên tục ném xuống những thùng xăng 55-gallons cho chiến xa để họ châm đầy bình! Sau khi đổ đầy xăng, đoàn chiến xa lập đội hình di chuyển, bắt đầu khởi hành lúc 11 giờ đêm và qua sông an toàn, đem về trọn vẹn Chiến đoàn gồm khoảng 360 chiến xa và M-113 cùng với lực lượng bộ binh tùng thiết! Đó là 1 bằng chứng hiển nhiên cho việc điều quân có tính toán, có ý chí và có sự phối hợp nhịp nhàng ăn ý. Đó cũng chính là 1 thành quả tuyệt vời khác trong cuộc hành quân Lam Sơn 719 mà ít ai biết hoặc nhắc đến.

Sau khi hoàn tất nhiệm vụ trong cuộc hành quân Lam Sơn 719, chúng tôi được lệnh đưa 1 LĐ Dù lên mặt trận Dak To tăng cuờng cho 1 đơn vị VN bị địch quân tràn ngập. Nhảy Dù VN đụng địch trên các cao điểm, đánh bật chúng ra khỏi các vị trí đã chiếm được của quân VNCH, bắn hạ chừng 600 Cộng quân (chưa kể số địch chết vì không quân, pháo binh). Ngày hôm sau, trong khi báo chí Mỹ vẫn đang tràn ngập những bài vở, hình ảnh chê bai đơn vị thiện chiến nhất của VNCH là Sư đoàn Dù bị tơi tả thế nào tại Hạ Lào trong cuộc hành quân LS 719 và nay đã mất hết khả năng chiến đấu, tôi gọi điện thoại thẳng về Bộ Chỉ huy MACV ở Sàigòn cho họ biết “Chúng tôi vừa chiếm xong các mục tiêu chỉ định ở Dak To, chung quanh chúng tôi vẫn còn la liệt hơn 600 xác Cộng quân chưa thu dọn. Xin làm ơn gửi ngay ra đây mấy thằng nhà báo vừa nói là SĐ Nhảy Dù mất hết sức chiến đấu cho chúng nó xem tận mắt”! Cũng có vài nguời ra thật và họ thấy tận mắt kết quả chứng minh khả năng chiến đấu tuyệt vời của các quân nhân Mũ Đỏ thế nào!

Chúng tôi đóng ở Dak To đâu chừng 3, 4 ngày, củng cố các vị trí đã lấy lại xong bàn giao cho đơn vị khác rồi lên đường ra Huế. Nằm duỡng quân khoảng 1 tuần toàn LĐ Dù lên phi cơ về Sàigòn. Đây là lúc Sư Đoàn Dù tái bổ sung nhân lực, quân trang, vũ khí, rồi huấn luyện bổ túc để lấy lại phong độ của Sư đoàn thiện chiến lừng danh Mũ Đỏ. Sau khoảng trong vòng 6 tới 8 tuần lễ, SĐ Nhảy Dù Việt nam hoàn toàn hồi phục tư thế và khả năng sẵn sàng chiến đấu tại bất cứ nơi nào, với quân số khoảng 12-ngàn nguời.

Nhờ mối giao tình, tôi vận động được một số trợ giúp đáng kể từ phía phòng 5, BTL/MACV để cải tiến và tân trang Quân Y viện của SĐ, lập thêm 1 khu doanh trại mới cho binh sĩ. Nhờ đó mối quan hệ giữa toán Cố vấn 162 với BTL cùng toàn thể quân nhân SĐ Dù trở nên gắn bó, khắng khít hơn.

Sau các trận Lam Sơn 719 và Dak To, vào lúc đó SĐ Nhảy Dù luôn luôn có 1 Lữ đoàn ứng chiến để sẵn sàng nhận lệnh hành quân bất cứ lúc nào. Từ đó cho đến khi nổ ra trận Tổng công kích của Cộng quân hồi mùa hè 1972 (Easter Offensive), Nhảy Dù liên tục được lệnh gửi các đơn vị, có khi chỉ cấp Tiều đoàn để giải toả hoặc tái chiếm 1 vị trí nào đó thuộc trách nhiệm của lực lượng Bô binh hay Địa phuơng đã bị Cộng quân tập trung tràn ngập. Và lần nào Nhảy Dù cũng thành công xuất sắc.

Qua kinh nghiệm chiến đấu bên cạnh các quân nhân Sư đoàn Nhảy Dù Việt Nam, tôi luôn luôn dành sự kính trọng vô biên đối với những thành tích của các chiến binh Mũ Đỏ. Và với tôi, tất cả các cấp chỉ huy Nhảy Dù Việt Nam đều là những sĩ quan thuợng thặng!

Nói thêm về Toán Cố Vấn 162: Toán 162 là 1 trong vài toán Cố Vấn đông nhất quân đội Hoa Kỳ tăng phái hoạt động bên cạnh các đơn vị QLVNCH. Tổng cộng trong vòng 11 năm, tính từ đầu đến khi Mỹ rút hết quân khỏi miền Nam Việt nam đã có hơn 1200 quân nhân Mỹ các cấp phục vụ trong toán Cố vấn 162. Muốn phục vụ trong toán 162 bắt buộc phải thuộc Lực lượng Nhảy dù Hoa Kỳ, phần lớn xuất thân từ các SĐ 11, 82 hay 101 Nhảy Dù Hoa Kỳ. Họ hãnh diện với tên gọi “Red Hat” như danh xưng “Mũ Đỏ” của chiến binh Nhảy Dù VNCH. Bên cạnh đó cũng có các Sĩ quan tiền sát không quân (forward air ontrollers) và họ rất hãnh diện với danh xưng Red Markers!

Tổng cộng đã có 34 quân nhân Nhảy dù Mỹ và 3 Tiền sát viên Không quân Mỹ hy sinh tại mặt trận trong lúc phục vụ duới hiệu kỳ của Toán CV 162 cạnh Sư đoàn Nhảy Dù Việt nam. Và đây là con số tổn thất cao nhất trong tất cả các toán Cố vấn Mỹ ở Việt Nam

Một điểm hãnh diện cho những cựu CV Nhảy Dù Hoa Kỳ là trong số những cựu CV cho Nhảy Dù Việt nam sau này có tới 34 vị lên Tướng. Có thể đơn cử vài vị Tướng nổi tiếng như các Tướng Pete Dawkins, Norman Schwarzkopf, Barry McCaffrey, James Lindsey, Jim Vaught, Joe Kinzer, John LeMoyne, Guy Meloy và Herb Lloy. Về phần hàng Hã sĩ quan, cựu thành viên Toán CV 162 sau này có 78 nguời lên tới chức Thuợng Sĩ Thuờng Vụ (Sergeants Major). Toán 162 cũng vinh dự từng nhận 1 Huy chuơng Danh Dự (Medal of Honor) cùng rất nhiều huy chuơng Anh dũng (Distinguished Service Crosses). Hàng năm các Red Hats Hoa Kỳ vẫn tề tựu về họp mặt với Mũ Đỏ Việt Nam trong 1 ngày hội ngộ, và đặc biệt nhất, năm 2006, tại Viện Bảo Tàng Nhảy Dù Hoa Kỳ đã khánh thành khu tưởng niệm riêng để vinh danh các chiến binh Nhảy Dù Việt nam Cộng hoà!

James B.Vaught
Cố Vấn Trưởng
Sư Ðoàn Nhảy Dù VNCH

Tháng 8-2009

Thursday, August 20, 2009

Bốn (4) Linh Mục Quốc Doanh Ở SàiGòn - Văn Hoàng

Văn Hoàng

Sau năm 1975, trong hàng ngũ linh mục tu sĩ công giáo ở miền Nam xuất hiện một số người tham gia cộng tác hết mình với chánh quyền cộng sản. Trong số này, nổi bật nhất thì có 4 ông linh mục, mà giáo dân gán cho cái biệt danh không được thiện cảm cho lắm: “Tứ Nhân Bang = Bè lũ 4 tên: Minh, Cần, Từ, Bích“. Đó là các linh mục Hùynh Công Minh, Trương Bá Cần, Phan Khắc Từ và Vương Đình Bích. Cả bốn ông đều tích cực, hồ hởi đi theo đường lối của đảng cộng sản. Họ điều khiển tờ tuần báo lấy tên là “Công giáo và Dân tộc”, hoàn toàn với giọng điệu của cán bộ cộng sản. Và lèo lái tổ chức có danh xưng là: Uỷ Ban Đoàn Kết Công Giáo Yêu Nước phận cuả Mặt Trận Tổ Quốc, cơ sở ngoại vi cuả đảng cộng sản.

1. Đầu tiên xin nói về linh mục Huỳnh Công Minh:

Năm 1976, linh mục Huỳnh Công Minh được đưa ra làm Đại biểu Quốc hội, coi như là một đại diện của giới công giáo. Và tại diễn đàn quốc hội năm 1976 đó, ông dõng dạc tuyên bố như sau: “Con người mới, xã hội mới mà mọi người đều mơ ước, mà mọi người tin vào Chúa Kitô mãi mơ ước, con người mới đó, xã hội mới đó không thể có được, không bao giờ có được, nếu không có Đảng Lao Động Việt nam, đội tiền phong của giai cấp công nhân,lãnh đạo và tổ chức … Phần tôi, tôi nguyện suốt đời phục vụ cho Đảng”. (Trích Bản tin ngày 07/07/1976 của Thông Tấn Xã Việt nam).

Năm 2009, tức là 33 năm sau khi tuyên bố như trên, thì trong một buổi tọa đàm vào ngày 20-21 Tháng Ba 2009 với chủ đề “Đặc điểm tư duy và lối sống của người Việt trước yêu cầu hội nhập quốc tế” tại Câu lạc bộ Nguyễn Văn Bình (cư xá Phục Hưng cũ), khi được cử tọa hỏi về lới tuyên bố này, linh mục Minh đã phải giải thích quanh co cốt ý làm giảm nhẹ đi cái lập trường ”kiên định tin tưởng vào đảng cộng sản” như thế đó. Và cuối cùng, thì ông kết luận bằng một câu xanh rờn như sau, đó là “Nếu như hôm nay, tôi không nói như vậy“!

Linh mục Huỳnh Công Minh hiện vẫn giữ chức vụ Tổng Đại Diện Giáo phận Saigon, kèm sát với Hồng Y Phạm Minh Mẫn. Ông còn có một biệt danh khác nữa, đó là “Linh mục Chính ủy”, điều này ngụ ý nói: ông Minh được đảng cộng sản cài vào vị trí lãnh đạo chính trị tại Tòa Giám mục Saigon từ rất lâu ngay dưới thời của Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Bình.

Để cho được công bằng, thiết nghĩ cũng cần ghi thêm là mới đây trên đài BBC, linh mục Minh đã lần đầu tiên công khai phê phán sự sai trái của nhà nước cộng sản trong vụ đàn áp giáo dân và tu sĩ ở Tam Toà Đồng Hới vào hồi tháng Bảy vừa đây. Gió đã bắt đầu đổi chiều rồi chăng?

Tiếp theo, chúng tôi sẽ lần lượt cung cấp thông tin về ba ông linh mục quốc doanh còn lại: Trương Bá Cần (vừa mất vào tháng Bảy tại Saigon), Phan Khắc Từ (có vợ là cán bộ mà vẫn ngang nhiên làm cha sở Họ Đạo Vườn Xoài), Vuơng Đình Bích (người tố cáo sự lũng đọan của Phan Khắc Từ vào năm 1999).

2. Linh mục Trương Bá Cần (1930-2009)

Linh mục Trương Bá Cần là chủ biên của tờ tuần báo “Công giáo và Dân tộc” là loại báo quốc doanh dành cho tín đồ công giáo, cũng giống như tờ “Giác ngộ” dành cho tín đồ Phật giáo vậy. Ông qua đời vừa mới đây ở Sàigòn, nên người viết phải tự chế không muốn đi sâu vào cuộc đời riêng tư của cá nhân ông. Và xin cầu cho ông được an nghỉ nơi cõi Vĩnh Hằng (RIP).

Tuy nhiên vì ông là một nhân vật công cộng (public figure), nên công chúng phải được quyền biết đến và phê phán về các hành động công khai của ông. Như chính ông viết trong cuốn “Hồi ký: “50 Năm Nhìn Lại: 1958 – 2008” (tức là viết về Đời Linh mục cuả ông) xuất bản năm 2008 tại Saigon, tên của ông là Trần Bá Cường với người anh là Trần Bá Đường. Ông tu học từ nhỏ tại chủng viện của giáo phận Vinh, và từ 1953, được giáo hội gửi đi du học tại Pháp. Nhưng từ khi ở Pháp về nước năm 1963, thì ông lấy tên là Trương Bá Cần. Ông có tác phẩm “Nguyễn Trường Tộ: Con người và Di thảo” xuất bản năm 1988 tại Saigon, mà được nhiều người đánh giá là một công trình sưu khảo có giá trị khoa học, xứng đáng với một nhà sử học được đào tạo vững vàng tại Đại học Sorbonne thuộc lọai hàng đầu của nước Pháp.

Nhưng ông bị đa số người công giáo chê bai về vai trò ông xúi giục một số người trẻ công giáo tụ tập đến Tòa Khâm sứ Tòa Thánh tại đường Hai Bà Trưng Saigon để dùng cả bạo hành làm áp lực bắt buộc vị Khâm sứ Henri Lemaitre phải rời bỏ Việt nam. Trong dịp này, có người còn kéo tay Khâm sứ, giật áo và hô to câu: “Va t’en !” (Cút đi!). Chính Linh mục Chân Tín đã phải lắc đầu khi mô tả lại sự kiện này với một người bạn, ngay sau khi chuyện quá khích này xảy ra. Ông còn nói: Tôi không thể chấp nhận lối nói của cha Cần khi ông ta phát biểu một cách hàm hồ quá khích như: “Bộ mặt nhơ nhuốc của Giáo hội công giáo”. Cũng liên hệ tới vụ này, còn có một chuyện thật bi thảm khác nữa. Đó là vụ một đoàn giáo dân từ giáo xứ Bùi Phát quận 3, khi hay tin Vị Khâm sứ bị hành hung, thì đã kéo nhau đến để tìm cách “cứu nguy, giải vây”, nhưng đoàn người lại bị chặn lại tại đầu cầu Trương Minh Giảng, và rồi vì có sự xô xát làm sao đó mà rút cục có một người bị bộ đội bắn chết. Rồi sau đó một vị linh mục tên là Định ở giáo xứ Bùi Phát bị bắt đi tù một thời gian.

Còn về sự điều hành của tờ “Công giáo và Dân tộc”, thì ông Nguyễn Văn Chín là một trong những cộng tác viên đầu tiên, đã phải thốt ra: ”Tôi không thể chấp nhận cái lề lối “Giáo sĩ trị” do linh mục Cần thực hiện nơi tòa sọan của tờ báo. Do đó mà tôi phải rút ra khỏi tòa báo sau một năm cộng tác và sinh họat tại đó”. Về mặt nội dung của tờ báo, thì sự đánh giá tổng quát có phần phức tạp hơn, thiết tưởng nên dành vào một dịp khác thì mới có thể phân tích chi tiết thỏa đáng được. Nói chung thì cái mục nhận định ký tên:
Người Tín Hữu” do chính linh mục Cần phụ trách, đã gây phản ứng bất bình nơi nhiều giáo dân, mà ông lại cho họ là thành phần còn đầu óc bảo thủ, chưa được tiến bộ, chưa có sự “giác ngộ cách mạng”!

Ông Cần là người có trình độ lý luận sắc bén nhất trong số các linh mục quốc doanh và cũng gây khó khăn phiền muộn nhất cho giáo hội công giáo Việt nam sau 1975. Cụ thể là trong chuyện giáo dân ở Hanoi nổi lên tranh đấu trong vụ cơ sở tòa Khâm sứ và giáo xứ Thái Hà năm 2008 vừa qua, thì linh mục Cần dù đã già yếu rồi, mà vẫn có giọng điệu ngang bướng, đi ngược lại với lập trường của đại đa số quần chúng giáo dân trong nam cũng như ngoài bắc. Và gần đây, với vụ đàn áp tàn bạo đối với giáo dân và linh mục tại Tam Tòa Đông Hới thuộc giáo phận Vinh vốn là quê hương bản quán của linh mục Cần, thì có người tò mò hỏi là: “Nếu mà ông Cần vẫn còn sống, không biết ông ấy có còn tiếp tục đứng về phía nhà nước cộng sản để chống lại chính đồng hương và đồng đạo cuả ông nữa chăng?”

Điều lý thú hơn cả là quan điểm đối lập gay gắt giữa linh mục Trương Bá Cần với cựu linh mục Nguyễn Ngọc Lan là hai người bạn cùng học một thời với nhau tại Đại học Sorbonne bên Pháp hồi thập niên 50-60. Sau 1975, thì hai ông bạn này càng ngày càng khác biệt về lập trường đối với chế độ cộng sản, ông Cần thì vẫn một mực hợp tác, thỏa hiệp với nhà nước cộng sản, còn ông Lan thì luôn sát cánh với linh mục Chân Tín trong việc công khai phê phán, đối lập với chính sách của Hanoi đối với các Tôn giáo, đặc biệt là đối với giới công giáo như trong vụ Phong Thánh Tử Đạo vào năm 1988. Ông Lan đã viết nhiều bài phê phán nặng nề đối với ông Cần, nhưng ông Cần đã một mực né tránh, không bao giờ công khai đối đáp lại với ông Lan cả.

Trong cuốn Hồi ký xuất bản năm 2008 được coi là tác phẩm cuối đời cuả ông, linh mục Cần vẫn bảo lưu lập trường đi theo với cộng sản mà ông gọi là tiến bộ cuả mình. Vì thế, người ta không lấy làm lạ là trong dịp tang lễ cuả ông vào giữa tháng Bảy 2009 vừa qua, giới lãnh đạo cộng sản đã hết lòng ca tụng công lao cuả ông đối với sự nghiệp cách mạng do đảng cộng sản chủ trương dẫn đầu. Và các báo chí với cơ quan truyền thông cuả nhà nước cộng sản đã không tiếc lời đề cao vai trò quan trọng cuả ông đối với dân tộc và đất nước Việt nam.Họ còn nhắc lại việc “ông cha Cần bênh vực mấy sinh viên tranh đấu chế tạo bom xăng dùng để đốt xe của cảnh sát tại cơ sở Thanh Cần do ông quản lý vào hồi trước 1975 nữa”.

3. Linh mục Phan Khắc Từ

Linh mục Phan Khắc Từ thật là người năng động xông xáo và rất tháo vát. Ngay từ trước năm 1975, ông nổi tiếng là một linh mục mà đi làm công nhân sở Vệ sinh thành phố Saigon, nên mới có biệt danh “Ông linh mục hốt rác Phan Khắc Từ”. Năm 1969, dịp ông Hồ Chí Minh mất ở ngoài Hanoi, thì linh mục Từ lại tổ chức lễ truy điệu “trong vòng thân mật” tại Saigon.

Sau 1975, thì sự nghiệp chính trị của ông lên cao như diều gặp gió. Ông điều hành “Ủy Ban Đòan Kết Công giáo” nằm trong hệ thống của Mặt trận Tổ quốc, tức là cơ sở ngoại vi của đảng cộng sản, rồi được cất nhắc lên làm đại biểu Quốc hội một thời gian dài. Và đặc biệt ông còn được giáo quyền bổ nhiệm làm chánh xứ Vườn Xoài, thay thế linh mục Trần Viết Thọ là người trước đây đã bảo trợ cho ông hồi ông còn là một chủng sinh đi tập sự tại giáo xứ đó. Giữ chức vụ chánh xứ một thời gian, ông được nhà nước, đặc biệt là ông Mai Chí Thọ là một lãnh đạo cao cấp ở Saigon nâng đỡ ưu đãi trong việc xây cất thánh đường của giáo xứ mà suốt bao nhiêu năm linh mục Thọ, người đàn anh và là tiền nhiệm của ông, đã không làm sao hoàn thành được. Vì thế uy tín của ông đối với giáo dân đã lên rất cao.

Giữa lúc sự nghiệp chính trị và tôn giáo của ông đang rạng rỡ sáng chói như vậy, thì đùng một cái chuyện linh mục mà lại có vợ có con của ông lại vỡ lở ra, khiến cho giáo dân thật là bối rối thất vọng, chán chường. Sự việc như sau: Vào năm 1986-87, bà vợ của ông đã tổ chức Lễ Thôi nôi được kể là tươm tất cho đứa con trai của ông bà, trong dịp đó một số cán bộ đồng chí thân thiết được mời tham dự. Sau đó thì mấy người này mới tiết lộ ra cho nhiều bạn hữu khác, và cứ thế cái tin “linh mục Từ có vợ có con” đã loan truyền cùng khắp Saigon. Đến nỗi chính các linh mục Chân Tín, Nguyễn Viết Khai và cả giáo sư Nguyễn Ngọc Lan cũng đều đích thân được mấy người cán bộ mà có tham dự lễ thôi nôi đó xác nhận là: ông linh mục Từ đã có vợ có con công khai đàng hoàng.

Và chi tiết về gia cảnh của ông được tiết lộ như sau. Bà vợ của ông trước kia là một sinh viên tranh đấu, gốc ở tỉnh Bến Tre, tên là Ngô Thị Thanh Thủy. Bà Thủy là một đảng viên với bí danh Tư Liên, đã có thời làm Bí thư Quận đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tại Quận Bình Thạnh. Sau này bà Thủy về làm Cửa hàng trưởng Nhà hàng nổi tại Bến Tân cảng gần khu cầu Bình Lợi. Mà cho đến nay năm 2009, linh mục Từ vẫn tiếp tục làm chánh xứ Họ đạo Vườn Xoài, mặc dầu đã có vợ có con đến cả gần 30 năm rồi.

Sự việc này khiến cho mọi giáo dân đều khó chịu, bất bình. Có dư luận cho rằng: “Ông Từ đã có ý định xin cởi áo, từ bỏ chức vụ linh mục, như trường hợp của các cựu linh mục Nguyễn Ngọc Lan, Nguyễn Nghị mà sau 1975 đã chính thức xin với giáo quyền cho họ được công khai rời bỏ chức vụ linh mục và hòan tục trở về cương vị của một người giáo dân bình thường. Nhưng ông Từ lại không được các giới chức lãnh đạo của đảng cộng sản chấp thuận. Do đó mà ông vẫn phải đóng cả hai vai trò “vừa làm linh mục, vừa làm chồng làm cha“. Điều này khiến ông cứ phải đóng kịch với lối sống giả dối hai mặt, lừa dối đối với tòan thể cộng đồng giáo dân. Sự việc trớ trêu này đã được chính một cán bộ đảng viên ở Saigon phê phán như sau: “Lãnh đạo đảng mà cứ duy trì cái tình trạng “hai mặt” như thế này, thì về lâu về dài sẽ tai hại vô cùng, khiến làm mất hết uy tín của đảng đối với quần chúng giáo dân. Bên Tin lành hay bên Chính thống giáo, thì vị mục sư hay linh mục mà có vợ con là chuyện bình thường. Nhưng bên Công giáo, cho đến nay người ta vẫn chưa chấp nhận cho linh mục lại có vợ có con. Nay đảng để cho cứ kéo dài tình trạng này, thì đảng đã “xử ép, chơi cha” đối với cả khối công giáo vậy đó. Thật là lợi bất cập hại …”

Ông linh mục hốt rác này hiện đang để lại cho giáo hội công giáo cũng như cho cả đảng cộng sản của ông một “đống rác đày đồ phế thải cặn bã” mà không biết bao giờ mới dọn dẹp sạch sẽ đi được?

Trên đây là chuyện thật “trăm phần trăm”. Quý bạn đọc có thấy là nó có thể được xếp vào loại “chuyện cười ra nước mắt” được chăng?

4. Linh mục Vương Đình Bích

Linh mục Vương Đình Bích là người đã từng tu học ở bên Âu châu, thuộc tu hội Dòng Đức Mẹ Người Nghèo. Trước năm 1975, có thời ông lái xe xích lô máy để làm kế sinh nhai và sống trong một khu lao động tại miệt Cầu Kinh Thanh Đa.Sau 1975, Ông sát cánh với linh mục Trương Bá Cần trong việc quản lý tờ báo Công giáo và Dân tộc.Và là một thành viên cốt cán cuả Uỷ Ban Đoàn Kết Công Giáo Yêu Nước.

Trong một văn thư gửi đến nhiều nơi vào năm 1998-99, ông Bích xác nhận rành rọt như sau: “Đảng cộng sản đã gây dựng 4 người chúng tôi làm đầu não mọi hoạt động của đảng trong giới Công giáo” (tức là 4 ông Minh, Cần, Từ, Bích mà giáo dân đã mỉa mai gọi là “Tứ Nhân Bang” theo lối nói ở Trung Cộng để chỉ bè lũ của Giang Thanh, Vương Hồng Văn … sau khi Mao Trạch Đông từ trần). Cũng trong văn bản này, linh mục Bích hạch hỏi, tố giác linh mục Phan Khắc Từ về những lem nhem tiền bạc, về chuyện vợ con. Ông còn ghi rõ số tiền do bên nước ngoài tài trợ lên đến 150,000 mỹ kim và nhiều khoản vay nợ khác cho cơ sở “Công giáo và Dân tộc” đã do ông Từ quản lý chi tiêu rất tuỳ tiện, không minh bạch rõ ràng với sổ sách ở đâu cả. Vụ tố giác này đã gây chấn động trong hàng ngũ mấy ông linh mục quốc doanh, phơi bày trước công chúng sự bất hoà mâu thuẫn trong nôị bộ cuả Uỷ Ban Đoàn Kết Công Giáo Yêu Nước, vốn là một tổ chức ngoại vi cuả đảng cộng sản nhằm khống chế khối giáo dân, đặc biệt ở Saigon.

Kết cục, hình như ông Bích có vẻ “yếu thế” hơn so với ông Từ, nên sau này không thấy tên tuổi của ông còn được nhắc đến như là một uỷ viên cuả Mặt Trận Tổ Quốc cấp Thành phố Saigon hay cấp Trung ương toàn quốc nữa. Thay vào đó, người ta chỉ thấy tên cuả các linh mục Thiện Cẩm, Nguyễn Tấn Khoá, Trương Bá Cần và cả Phan Khắc Từ … trong danh sách Ban Chủ Tịch Đoàn cuả Mặt Trận Tổ Quốc, cũng như trong UBĐKCG mà thôi.

Về danh xưng cuả Uỷ Ban Đoàn Kết Công Giáo lúc đầu thì được ghi đầy đủ là: “Uỷ Ban Đoàn Kết Công Giáo Yêu Nước”, sau này mới bỏ chữ Yêu Nước đi, nên có người như giáo sư Nguyễn Ngọc Lan mới nhại là UBĐKCG “Không Yêu Nước” nữa ! Bây giờ, thì giáo dân lại còn mỉa mai gọi đó là một “Đàn Két”, vì chỉ có việc lặp đi lặp lại cái giọng điệu tuyên truyền một chiều cuả đảng cộng sản mà thôi.

Mới đây thông tin trên internet có cho biết là: Vào cuối năm 2008, linh mục Vương Đình Bích có cho ra một cuốn sách nhan đề là “Đức Giêsu Trước Khi Có Kitô giáo”, nhưng người viết chưa được đọc, nên chưa biết được nội dung ra sao. Có vẻ như ông đã trở về với lối sống tu hành, nhiều hơn là bươn chải bon chen với chuyện chính trị sôi nổi như vào thời kỳ sau 1975.

Để tóm lược lại:

Nói vắn tắt lại, thì người cộng sản luôn luôn dùng thủ đoạn “Củi đậu nấu đậu”, tức là lôi cuốn dụ giỗ chính các tín đồ, tu sĩ của mỗi tôn giáo để hợp tác với đảng trong việc khống chế tôn giáo của mình. Loại người này luôn luôn bị quần chúng nghi kỵ khinh bỉ và gọi là “Phật giáo quốc doanh”,” Công giáo quốc doanh” v.v… Loạt bài này chỉ nói riêng về “Tứ Nhân Bang” điển hình trong số linh mục quốc doanh đã và đang gây khó khăn xáo trộn trong hàng ngũ công giáo ở Saigon mà thôi. Trong số cả hàng chục ngàn linh mục và tu sĩ nam nữ trên toàn quốc của giáo hội công giáo Việt nam hiện nay, thì có không tới 100 người được coi là “tu sĩ quốc doanh” chính hiệu như bốn vị trong “Nhóm Tứ Nhân Bang” nói trên. Như vậy, có thể nói là tuyệt đại bộ phận giáo dân và tu sĩ đã không hề thoả hiệp hợp tác với đảng cộng sản, mặc dầu họ luôn luôn bị sức ép của nhóm quốc doanh này.

Nhân tiện cũng nên nhắc lại là Hanoi đã cử nhiều viên chức ngành công an tôn giáo đi học tập kinh nghiệm về đàn áp tôn giáo tại Trung quốc, Liên Xô và các nước Đông Âu, ngay từ các thập niên 1950-60 trở đi nữa.

Lịch sử sau này sẽ công minh xét đoán về những sự lũng đoạn phá hoại, gây phân hóa chia rẽ tê liệt trong hàng ngũ các cộng đồng tôn giáo dưới chế độ cộng sản ở Việt nam từ trên nưả thế kỷ nay vậy.

Văn Hoàng
Texas, Tháng Tám 2009


Cộng Sản Và Chủ Trương Tiêu Diệt Văn Hóa - Gs Nguyễn Thiên Thụ


Gs Nguyễn Thiên Thụ


Chính sách chuyên chính vô sản đã xuống tận các ngành nghề và thôn xã. Kinh tế, chính trị, khoa học đã đối diện với bộ mặt kinh khủng của nó. Văn hóa là mặt trận bị cộng sản vây đánh hội đồng mặc dù chúng nó không có kiến thức văn học nghệ thuật nhưng quỷ vương đã cho chúng làm công an văn hóa. Trong TUYÊN NGÔN CỘNG SẢN (TNCS), chính Marx đã ra chỉ thị cho vô sản lật đổ thượng tầng kiến trúc cũ, đoạn tuyệt với truyền thống văn hóa cũ.

Giai cấp vô sản, tầng lớp ở bên dưới nhất của xã hội hiện tại, không thể vùng dậy, vươn mình lên nếu không làm nổ tung toàn bộ cái thượng tầng kiến trúc bao gồm những tầng lớp cấu thành xã hội (TUYÊN NGÔN CỘNG SẢN I ,15)

Cách mạng cộng sản chủ nghĩa là sự đoạn tuyệt triệt để nhất với những quan hệ sở hữu kế thừa của quá khứ; không có gì đáng ngạc nhiên khi thấy rằng trong tiến trình phát triển của nó, nó đoạn tuyệt một cách triệt để nhất với những tư tưởng kế thừa của quá khứ (TUYÊN NGÔN CỘNG SẢN II, 5)

Chỉ thị của Marx chỉ trong mấy dòng ngắn ngọn nhưng đã gây ra bao cảnh tàn phá đau thương, gây thiệt hại cho đời sống tinh thần và vật chất của quốc gia và xã hội. Đó là tội ác vi phạm nhân quyền và tàn phá tài sản nhân loại.Ông mù quáng, không thấy khoa học tự nhiên và khoa học nhân văn là sự kế thừa của nhân loại. Những khoa học và triết học La, Hy, Ấn, Hoa đã làm nền tảng cho văn minh nhân loại ngày nay. Ông quên rẳng tư tưởng của ông cũng chỉ là tiếp thu tư tưởng của cách mạng Pháp, kinh tế Anh và triết học Đức.

Về triết học, ông không thể phủ nhận Hegel mặc dù có nhiều điểm ông khác Hegel. Ông cho rằng thuyết duy vật của ông đúng nhất, còn các thuyết duy tâm là sai cho nên tất cả tư tưởng, tín ngưỡng ngoài Marx là lạc hậu, phản khoa học, cần diệt trừ. Ông chủ trương phủ định của phủ định, cái mới tốt hơn cái cũ và diệt trừ cái cũ.Ông còn nói "Tôn giáo là thuốc phiện". Theo ông, các đệ tử của ông đốt sách, phá chùa chiền, nhà thờ, cấm dân chúng thờ cúng tổ tiên, cấm các phong tục tập quán, luân lý đạo đức cũ, bỏ tù hay giết hại những ai làm thơ, viết truyện, viết biên khảo hay phát biểu tư tưởng ra ngoài khuôn khổ Marx. Bởi vậy mà cộng sản muốn hủy bỏ gia đình, bắt trẻ con hoan hô lãnh tụ thay vì dạy trẻ yêu cha me, tổ tiên.

Truyền thống của ta là trẻ kính già, con cái hiếu thảo với cha mẹ. Hồ Chí Minh tuân theo Marx, trong nước không phân biệt già trẻ, cha con cứ gọi nhau bằng đồng chí, anh em, chỉ riêng ông Hồ thì gọi là bác. Khẩu hiệu của Hồ là "trung với đảng, hiếu với dân". Chúng còn tàn ác hơn, bắt con tố cha, vợ tố chồng, học trò theo dõi thầy, phá hủy truyền thống tốt đẹp của nhân dân ta.
Việc cải cách ruộng đất, đánh tư sản, triệt hạ tôn giáo ở Nga, ngoài mục đích hủy bỏ tư hữu, trừng phạt " kẻ dị giáo", bọn bóc lột, phản động, tâm ý Lenin là nhắm vào ruộng đất và tiền bạc của Chính thống giáo, một kho tiền bạc mà Lenin nghĩ là có thể giúp ông trang trải ngân sách thiếu hụt của nền kinh tế khập khểnh lúc ban đầu. Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh phát động cải cách ruộng đất, đánh tư sản, triệt hạ tôn giáo cũng là muốn tóm thâu vàng bạc của dân chúng để làm tài sản cho họ.

Con người sống với quá khứ, hiện tại và tương lai. Cộng sản cắt bỏ quá khứ chỉ nói đến lich sử hiện tại có mặt cộng sản và ra sức tô son chuốt phấn cho họ như Hồ Chí Minh đề cao cộng sản Việt Nam, nói xấu Quốc Dân đảng, Đại Việt, và trong xã hội và trường học, cộng sản Việt Nam chỉ đề cao Hồ Chí Minh, Tố Hữu . Họ bắt văn nghệ sĩ phải ca tụng họ cho dù đảng ăn cắp, phản dân, hại nước.

Cách mạng là thay cũ đổi mới nhưng phải phân biệt tốt xấu, đúng sai. Mạnh tử dạy " Tận tín thư bất như vô thư". Descartes nói rằng phải suy nghĩ và kiểm nghiệm trước khi tin tưởng. Đó là những thái độ của trí thức và khoa học. Còn mỗi người có một lối suy nghĩ riêng, không nên rút phép thông công hay đưa lên giàn hỏa như hành động của nhà thờ trung cổ.

Chủ thuyết của Marx coi nhân dân là kẻ thù ( công nhân, vô sản chỉ là bù nhìn) cho nên bị nhân dân chống đối.Chủ thuyết đấu tranh giai cấp chỉ đưa đến độc tài chuyên chế .

Chủ thuyết cách mạng triệt để của Marx là thái quá. Chúng ta phải công nhận xã hội nào thì có nền thượng tầng kiến trúc nấy. Nền kinh tế tư bản đã đưa ra nhiều công cụ sản xuất mới, nhiều khám phá mới, và nhiều tư tưởng mới. Nhưng trong khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, những tư tưởng xưa, những vốn liếng cũ vẫn được giữ lại như các tôn giáo như Phật giáo, Thiên chúa giáo, Tin Lành giáo, Hồi giáo, Khổng giáo vẫn còn tồn tại mặc dầu có nhiều thay đổi. Người ta xây dựng cái mới trên cái cũ chứ không phá hoại tất cả cái cũ.

Thái độ tự tôn của Marx cho rằng ông đúng nhất, ông miệt thị các nhà xã hội và các đảng vô sản, đảng xã hội và đảng công sản đương thời. Thái độ kiêu căng, khinh mạn đó ông đã thừa hưởng ở Hegel. Thái độ hung hãn, coi khinh thiên hạ của ông đã truyền lại cho đời sau tính độc tài tư tưởng, và chính sách vô sản chuyên chính của Lenin, Stalin, Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh đưa đến việc bỏ tù và tàn sát hàng trăm triệu người.

Chính sách phá hủy thượng tầng kiến trúc xã hội đã gây nhiều tai hại như một cơn sóng thần tàn phá của cải vật chất và đời sống tinh thần của nhân loại.Nó dẫn đến nhiều tệ hại:

- Lãnh tụ kiêu căng, cho mình là tài giỏi nhất, đảng do họ lãnh đạo là bách chiến bách thắng. Trong khi lãnh tụ kiêu căng thì đưa đến bọn thủ hạ ninh hót, dối trá.

- Chủ trương độc đảng, họ cho rằng chỉ có chủ nghĩa cộng sản là tốt, ai không theo cộng sản thì bị bách hại, những ai kể cả đảng viên có ý kiến khác lãnh tụï là bị trừng phạt như vụ Nhân Văn Giai Phẩm, Trần Độ, Nguyễn Văn Trấn, Nguyễn Hộ, Trần Xuân Bách, Nguyễn Kiến Giang. . .

- Vì chủ trương phá hủy pháp luật cho nên họ khinh thường pháp luật, ra tay chém giết hay bỏ tù tùy thích và lấy cắp tài sản quốc gia tùy thích.

- Chủ trương “tôn giáo là thuốc phiện” đưa đến việc ngăn cấm tự do tôn giáo, phá hủy chùa chiền, đền đài. Nay cộng sản tu tạo đền đài, chùa chiền không phải tôn trọng tín ngưỡng và văn hóa cũ, chẳng qua là muốn lấy tiền của UNESCO và phát triển ngành du lịch, đồng thời lấy tiền những người tham quan, sùng bái, hành hương, lễ hội bỏ túi.

- Độc quyền tư tưởng Marx đưa đến việc suy tôn lãnh tụ, ca tụng đảng dù đảng xấu xa, và bóp nghẹt sáng tác văn học, nghệ thuật và khám phá khoa học. Cũng vì muc tiêu tuyên truyền, cộng sản đã xuyên tác lịch sử, ca tụng người giả việc giả, làm cho nhân dân và học sinh, sinh viên chán văn học nghệ thuật cộng sản, dẫn đến việc giáo dục và văn học, nghệ thuật suy đồi.

Viết "Tuyên ngôn của đảng cộng sản", "Tư Bản luận", Marx có dụng tâm chính trị chứ không thuần triết lý.Ông thấy thời bấy giờ cách mạng kỹ nghệ đang lên, ông muốn dùng giai cấp vô sản với hứa hẹn xóa bỏ bóc lột, tịch thu tư liệu sản xuất giao cho công nhân làm chủ, để cho họ theo mình. Ông cũng mơ ước xóa bỏ giai cấp tư sản thì nhân loại tiến bộ và hoà bình nhưng ông đã lầm. Cuối cùng thì tư sản cũng như vô sản và toàn dân đều trở thành nô lệ của cộng sản. Chỉ có bọn cộng sản là có lợi trong việc chiếm hữu toàn thể tài sản quốc gia và làm chủ đất nước. Chủ nghĩa Marx là một giấc mộng hão huyền và cũng là một sự dối trá lớn nhất của thế kỷ XX đã làm cho hàng trăm triệu người chết, là một thiêt hại gần gấp đôi hai cuộc thế chiến vừa qua!.

Gs Nguyễn Thiên Thụ