Friday, July 17, 2009

Trung Quốc Mở Hồ Sơ Bí Sử - Hoàng Tranh

    Trung Quốc Mở Hồ Sơ Bí Sử:
    Ông Hồ Cưới Vợ Quảng Châu
Quảng Tây (VNN) - Cộng Sản Tàu chơi xấu Cộng Sản Việt: Bắc Kinh đã lẳng lặng lột mặt nạ "độc thân cứu nước" của ông Hồ, và cho biết ông Hồ cũng giàu thủ đoạn chinh phục phụ nữ bất kể mẹ vợ tương lai cản trở, và khi thấy cần đi thì lập tức bỏ vợ ra đi. Bản tin VNN như sau.

Một tác phẩm mới xuất bản của nhà sử học Hoàng Tranh, Viện Phó Viện Khoa Học Xã hội Quảng Tây, đã tiết lộ là Hồ Chí Minh có một người vợ tại Trung quốc, trái ngược hẳn với những tuyên truyền của đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn cho là họ Hồ sống độc thân để lo cho đất nước.
Nguồn tin từ Quảng Tây cho biết trong tác phẩm có tựa đề là "Hồ Chí Minh với Trung quốc" do nhà xuất bản Tân Tinh ở Nam Ninh phát hành, đã tiết lộ những chi tiết này như sau: Hồ Chí Minh vào thời kỳ những năm đầu của thế kỷ 20 khi trốn sang Quảng Châu Trung quốc để hoạt động cho đảng Cộng sản, vào tháng 10 năm 1926 đã lấy một cô gái Quảng Châu tên là Tăng Tuyết Minh làm vợ.

Hai người đã cử hành hôn lễ, sau khi cưới đã chung sống với nhau hơn nửa năm. Vào tháng 5 năm 1927, sau khi rời Quảng Châu, Hồ Chí Minh đã mất liên lạc với vợ và từ đó không hề gặp lại nữa.
Tác phẩm này tiết lộ là Tăng Tuyết Minh, người vợ Trung Quốc của Hồ Chí Minh, quê ở huyện Mai tỉnh Quảng Đông, sinh tháng 10 năm 1905 ở thành phố Quảng Châu. Tăng Tuyết Minh là con út, bởi vậy những người quen biết Tăng Tuyết Minh thường gọi cô là "cô Mười".

Vào tháng 11 năm 1924, Hồ Chí Minh từ Mạc Tư Khoa đến Quảng Châu, lấy tên là Lý Thụy, làm việc tại phòng phiên dịch của cố vấn Borodin, thuộc Hội Lao Liên của Tôn Trung Sơn, trú ngụ tại nhà hàng của ông Bào tại quảng trường Đông Hiệu. Trong thời gian này, Hồ Chí Minh đã gia nhập một tổ chức Tâm Tâm Xã với âm mưu biến tổ chức này theo Cộng sản.

Bà mẹ Tăng Tuyết Minh ngay từ đầu không đồng ý cuộc hôn nhân này vì thấy Hồ Chí Minh là một tên có vẻ gian xảo. Thế nhưng họ Hồ đã dùng mọi thủ đoạn để chinh phục cô gái họ Tăng, và đám cưới hai người đã được cử hành vào tháng 10 năm 1926. Lúc ấy Hồ Chí Minh 36 tuổi, còn Tăng Tuyết Minh 21.

Địa điểm tổ chức hôn lễ là nhà hàng Thái Bình trước Ty Tài Chính ở trung tâm thành phố. Thế nhưng chẳng bao lâu sau, ngày 12 tháng 4 năm 1927 khi Tưởng Giới Thạch chính thức chống Cộng sản, Hồ Chí Minh đã rời Quảng Châu và bỏ lại cô vợ trẻ khiến cho cô phải trở về sống với mẹ.
Trong suốt thời gian này họ Hồ chỉ liên lạc 2 lần bằng thư nhưng không kết quả. Lá thơ này bị mật thám Đông Dương chặn được ngày 14 tháng 8 năm 1928, hiện còn tàng trữ tại bảo tàng viện Aix En Provence tại Pháp và được xác nhận là bút tích của họ Hồ.

Tất cả những điều này đã bị nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam phủ nhận, và tác phẩm "Hồ Chí Minh tại Trung quốc" bị cấm xuất bản và dịch lại tại Việt Nam.
_____________________________________

    Tăng Tuyết Minh, người vợ Trung Quốc của Nguyễn Ái Quốc
Hoàng Tranh

Lời toà soạn: Toàn văn bài này, Hồ Chí Minh với người vợ Trung Quốc Tăng Tuyết Minh, đã đăng trên số tháng 11-2001 của tạp chí Ðông Nam Á tung hoành (Dọc ngang Ðông Nam Á), xuất bản tại Nam Ninh. Tác giả Hoàng Tranh (Huang Zheng) là nhà sử học, viện phó Viện Khoa học Xã hội Quảng Tây, tác giả cuốn Hồ Chí Minh với Trung Quốc (Nhà xuất bản Tân Tinh, Nam Ninh 1990). Bản dịch của Minh Thắng. Theo thông tin từ Hà Nội, một tạp chí sử học có ý đăng bài này, nhưng đã bị chặn lại. Ðoạn chữ thẳng cuối bài là tóm tắt của Diễn Ðàn.

"Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sống độc thân suốt thời gian dài lâu nhưng hoàn toàn không phải Người suốt đời không lấy vợ. Thực ra, Hồ Chí Minh từng có một giai đoạn sống trong hôn nhân chính thức. Ðó là vào thời kì những năm 20 đầu thế kỉ XX khi người tiến hành công tác cách mạng tại Quảng Châu, Trung Quốc. Nói cụ thể là vào tháng 10 năm 1926, Hồ Chí Minh từng lấy cô gái Quảng Châu Tăng Tuyết Minh làm vợ, đã cử hành hôn lễ, sau khi cưới đã chung sống với nhau hơn nửa năm. Vào tháng 5 năm 1927, sau khi rời Quảng Châu, Hồ Chí Minh đã mất liên lạc với vợ và từ đó không thể gặp lại nữa. Từ đó, đôi tình nhân ấy, người không bao giờ đi bước nữa, người không một lần nào nữa cưới vợ, mỗi người một phương trời, đều sống độc thân cho đến khi từ biệt cõi đời này."

"Tăng Tuyết Minh, người vợ Trung Quốc của Hồ Chí Minh, quê ở huyện Mai tỉnh Quảng Ðông, sinh tháng 10 năm 1905 ở thành phố Quảng Châu. Thân phụ của Tuyết Minh là Tăng Khai Hoa, thời trẻ một mình đến Ðàn Hương Sơn (Hono-lulu) lúc đầu làm công, sau buôn bán; khi tích luỹ được ít vốn liếng, trở về nước tiếp tục buôn bán, gia cảnh khấm khá, vui vẻ. Người vợ đầu của ông Tăng Khai Hoa họ Phan, sinh được hai trai một gái. Sau khi bà Phan bị bệnh mất, ông lấy bà vợ kế họ Lương là người huyện Thuận Ðức sinh được 7 cô con gái nữa. Tăng Tuyết Minh là con út, bởi vậy những người quen biết Tăng Tuyết Minh thường gọi cô là "cô Mười". Khi cô 10 tuổi thì người cha qua đời, để lại một chút bất động sản. Bà Lương thị cùng Tuyết Minh sống qua ngày nhờ vào tiền thuê nhà, gia cảnh không được như trước. Năm 1918, mới 13 tuổi, Tuyết Minh đã bắt đầu theo chị là Tăng Tuyết Thanh, một y sĩ sản khoa, học việc hộ lí và đỡ đẻ. Ðầu năm 1923, người chị ấy đưa Tăng Tuyết Minh đến Phiên Ngu để học Cao đẳng tiểu học. Nửa năm sau, Tăng Tuyết Thanh chẳng may lìa đời, Tăng Tuyết Minh mất đi nguồn chu cấp, ngay tháng 7 năm ấy phải vào trường Hộ sinh Quảng Châu học tập. Tháng 6 năm 1925, Tăng Tuyết Minh tốt nghiệp trường trợ sản, được ông hiệu trưởng giới thiệu đến trạm y tế La Tú Vân làm nữ hộ sinh. Chính thời gian này Tăng Tuyết Minh làm quen với Hồ Chí Minh lúc ấy đang tiến hành công tác cách mạng ở Quảng Châu."
" (...) Tháng 11 năm 1924, Hồ Chí Minh từ Mạc Tư Khoa đến Quảng Châu, lấy tên là Lý Thuỵ, làm việc tại phòng phiên dịch của cố vấn Borodin, thuộc Hội Lao Liên của Tôn Trung Sơn, trú ngụ tại nhà hàng của ông Bào tại quảng trường Ðông Hiệu. Sau những giờ làm công tác phiên dịch, Hồ Chí Minh dành nhiều thì giờ và tâm sức vào công việc liên kết và tổ chức các chiến sĩ cách mạng Việt Nam, sáng lập tổ chức cách mạng Việt Nam, huấn luyện cán bộ cách mạng Việt Nam trong công tác. Trong thời gian ấy, những thanh niên cách mạng Việt Nam đến Quảng Châu trước như Hồ Tùng Mậu, Lâm Ðức Thụ đều trở thành trợ thủ đắc lực cho Người. Lâm Ðức Thụ cùng người vợ Trung Quốc của ông là Lương Huệ Quần chính là ông mối bà mối cho cuộc hôn nhân của Hồ Chí Minh và Tăng Tuyết Minh."

"Lâm Ðức Thụ vốn tên là Nguyễn Công Viễn, người huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình, Việt Nam, sinh năm 1890 (cùng tuổi với Hồ Chí Minh). Hồ Chí Minh cùng với gia đình Lâm Ðức Thụ có thể nói là chỗ giao hảo nhiều đời. Hai người quen biết nhau từ thuở thiếu thời, lại cùng chí hướng. Năm 1911, Hồ Chí Minh đến châu Âu tìm chân lí cách mạng, gần như đồng thời, hưởng ứng lời hiệu triệu của nhà chí sĩ chống Pháp lão thành Phan Bội Châu, Lâm Ðức Thụ muốn Ðông du qua Nhật, nhưng khi nổ ra Cách mạng Tân Hợi, Phan Bội Châu tới Trung Quốc, sáng lập Việt Nam Quang phục hội ở Quảng Châu, Lâm Ðức Thụ theo Phan Bội Châu đến Quảng Châu và gia nhập hội đó. Ðầu năm 1922, một số thanh niên nhiệt huyết trong Việt Nam Quang phục hội cảm thấy thất vọng về cánh già bảo thủ nên đã li khai Quang phục hội để lập ra một đoàn thể cấp tiến hơn là Tâm tâm xã. Sau khi đến Quảng Châu, Hồ Chí Minh rất nhanh chóng liên hệ được với Tâm tâm xã và quyết định cải tạo tổ chức này thành một tổ chức cách mạng chân chính của giai cấp vô sản Việt Nam. Hồ Chí Minh vốn quen biết Lâm Ðức Thụ từ trước nên ở Quảng Châu Người coi Lâm là cốt cán có thể tin cậy.

"Lâm Ðức Thụ hoạt động ở Quảng Châu một thời gian khá lâu. Ở đây ông đã lấy cô gái Trung Quốc Lương Huệ Quần làm vợ. Mẹ của Lương Huệ Quần là một thầy thuốc đã mở tại thành phố Quảng Châu một dịch vụ y tế. Lương Huệ Quần có làm công tác y tá tại đó. Năm 1925, Tăng Tuyết Minh tốt nghiệp trường Bảo sinh trợ sản, qua sự giới thiệu của ông hiệu trưởng đã tới cơ sở dịch vụ y tế của mẹ Lương Huệ Quần làm cô đỡ nên đã nhanh chóng quen biết với Lương Huệ Quần và trở nên thân thiết. Lương Huệ Quần lớn hơn Tăng Tuyết Minh 3 tuổi nên cô thường gọi là " chị Quần ", hai cô đối xử với nhau như chị em ruột.

"Lâm Ðức Thụ sau năm 1927 đã từng bước phản bội, li khai hàng ngũ cách mạng Việt Nam làm không ít điều nguy hại cho sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Nhưng tại thời điểm mấy năm Hồ Chí Minh mới đến Quảng Châu thì ông ta cũng là một thanh niên cách mạng hăng hái có triển vọng. Hồ Chí Minh chẳng những được Lâm Ðức Thụ phối hợp và chi viện trong công tác mà còn được Lâm giúp đỡ cả về mặt kinh tế. Hồ Chí Minh thậm chí đã đem cả chuyện trăm năm của mình phó thác cho Lâm Ðức Thụ. Mùa hè năm 1926, Hồ Chí Minh đề xuất với Lâm Ðức Thụ rằng do việc công quá bận rộn, anh cũng muốn tìm một cô gái Trung Quốc để tiện trong cuộc sống nơi cư trú có người chăm sóc. Lâm Ðức Thụ cùng với vợ là Lương Huệ Quần bàn bạc thấy Tăng Tuyết Minh là đối tượng thich hợp bèn giới thiệu cho Tăng Tuyết Minh và Hồ Chí Minh làm quen với nhau. Hồ Chí Minh sau khi gặp mặt Tăng Tuyết Minh đã rất có cảm tình với cô gái Quảng Châu có gương mặt trái xoan, da trắng nõn điềm đạm, đoan trang, thông minh, sáng dạ, vì vậy sau giờ làm thường hẹn gặp và trò chuyện với cô. Nơi gặp gỡ thường là nhà Lương Huệ Quần. Cảm tình của đôi bên ngày càng sâu sắc, nhanh chóng đi đến trao đổi về hôn lễ. Thời gian này Hồ Chí Minh thường đưa Tăng Tuyết Minh đến nhà hàng của ông Bào để gặp phu nhân họ Bào và tranh thủ ý kiến của bà về việc hôn nhân của họ. Phu nhân họ Bào nhiệt liệt tán thành việc kết hôn của họ. Thế nhưng bà mẹ Tăng Tuyết Minh ngay từ đầu không đồng ý cuộc hôn nhân này vì thấy Hồ Chí Minh là một nhà cách mạng phiêu lưu bạt xứ, ở không định nơi, con gái lấy người như vậy rồi sẽ khổ đau một đời. Ðúng vào lúc ấy người anh hai của Tăng Tuyết Minh là Tăng Cẩm Tương, sau một thời gian sang Mỹ học tập đã trở về Quảng Châu. Anh gặp Hồ Chí Minh, dùng tiếng Anh trò chuyện, thấy Hồ Chí Minh có học vấn rất tốt, lão luyện và cẩn trọng, lại tâm huyết với sự nghiệp, vì thế anh đã thuyết phục bà mẹ đồng ý với cuộc hôn nhân này."

"Hồ Chí Minh gặp Tăng Tuyết Minh luôn luôn. Một mặt, cố nhiên, anh thích tính giản dị, đoan trang, thông minh, chăm chỉ của cô gái ; mặt khác anh cũng cảm thấy cô còn non nớt, cần phải giác ngộ chân lí cách mạng hơn, hiểu đời hơn nữa và nâng cao năng lực hoạt động hơn. Vì vậy anh động viên Tuyết Minh thôi việc nữ hộ sinh ở cơ sở dịch vụ y tế và tham gia học tập ở một lớp huấn luyện vận động phụ nữ. Lúc ấy Ban phụ vận của Trung ương Quốc dân đảng Trung Quốc do Hà Hương Nghi chủ trì, đang dự định mở một cơ sở huấn luyện vận động phụ nữ tại Quảng Châu nhằm bồi dưỡng cán bộ phụ nữ trong nước. Hồ Chí Minh thông qua sự quen biết trực tiếp với các vị Chu Ân Lai, Ðặng Dĩnh Siêu, Lí Phú Xuân, Thái Sướng, xin được hai suất cho Tăng Tuyết Minh và Lương Huệ Quần cùng vào học lớp huấn luyện vận động phụ nữ. Kì ấy, lớp khai giảng ngày 16 tháng 9 năm 1926 và kết thúc vào ngày 16 tháng 3 năm 1927, thời gian học tập là nửa năm. Quảng Châu thời ấy là trung tâm của cách mạng Trung Quốc. Trong quá trình lớp huấn luyện phụ vận tiến hành, người ta chẳng những đã mời không ít các đồng chí có trách nhiệm của Ðảng cộng sản Trung Quốc đến giảng mà còn tổ chức cho học viên tham gia các hoạt động xã hội. Nhờ được học tập, quả nhiên Tăng Tuyết Minh tiến bộ rất nhanh, trong khoá học, được bạn đồng học là Trịnh Phúc Như giới thiệu, cô đã gia nhập Ðoàn Thanh niên xã hội chủ nghĩa."

Tăng Tuyết Minh thập niên 1920
(thời điểm kết hôn: 1926
"Do Hồ Chí Minh lại thúc giục nên hôn lễ của hai người đã được cử hành vào tháng 10 năm 1926. Lúc ấy Hồ Chí Minh 36 tuổi, còn Tăng Tuyết Minh 21. Ðịa điểm tổ chức hôn lễ là nhà hàng Thái Bình trước Ty Tài chính ở trung tâm thành phố. Ðó cũng là địa điểm mà một năm trước đấy Chu Ân Lai và Ðặng Dĩnh Siêu mời khách đến dự lễ kết hôn của mình. Tham dự hôn lễ có phu nhân Bào La Ðình, Thái Sướng, Ðặng Dĩnh Siêu và một bộ phận học viên khoá huấn luyện phụ vận. Phu nhân họ Bào tặng một lẵng hoa tươi. Mấy ngày đầu sau lễ cưới, Hồ Chí Minh và Tăng Tuyết Minh tạm trú trong Tổng bộ Thanh niên cách mạng đồng chí hội, vốn là nơi nghỉ ngơi của Hồ Chí Minh. Lúc ấy, Hồ Chí Minh đang chủ trì khoá huấn luyện chính trị đặc biệt thứ III của Việt Nam, do học viên khá đông nên địa điểm học tập đã chuyển từ Tổng bộ Thanh niên cách mạng đồng chí hội đến phố Nhân Hưng ở đường Ðông Cao. Mấy ngày sau Hồ Chí Minh và Tăng Tuyết Minh dọn đến trú ngụ ở quán của ông Bào, lúc đầu dùng bếp tập thể, sau tự nấu nướng. Hồ Chí Minh bận rộn công tác, mọi việc nhà đều do Tăng Tuyết Minh quán xuyến. Cô chăm sóc chu đáo mọi sự ăn uống, sinh hoạt thường ngày của Hồ Chí Minh, giúp cho anh từ tuổi 21 đã xa nhà bôn tẩu, làm "kẻ phiêu diêu" góc bể chân trời, thì nay sau 15 năm lại có được cảm giác ấm áp "ở nhà mình". Hồ Chí Minh rất mãn nguyện về cô vợ Trung Quốc của mình. Sau ngày cưới, Hồ Chí Minh từng nhiều lần đàm đạo với Lâm Ðức Thụ, Lương Huệ Quần về vợ mình, đều nói rõ điều đó."

Uyên ương chia lìa đôi ngả

"Thế nhưng phúc chẳng dài lâu. Ngày 12 tháng 4 năm 1927, mới nửa năm sau khi Hồ Chí Minh với Tăng Tuyết Minh kết hôn, Tưởng Giới Thạch phản bội cách mạng, phát động cuộc chính biến phản cách mạng tại Thượng Hải, tình thế ở Quảng Châu cũng chuyển biến theo. Trước đó, chính phủ Quốc dân đã rời tới Vũ Hán. Trụ sở của đoàn cố vấn Lao Liên cũng rời tới Vũ Hán. Và tất nhiên, Hồ Chí Minh cũng phải chuyển đến Vũ Hán. Trung tuần tháng 5, Hồ Chí Minh lưu luyến chia tay với Tăng Tuyết Minh, trước lúc lên đường dặn đi dặn lại Tăng Tuyết Minh: "Em phải bảo trọng, đợi tin tức của anh; ổn định nơi chốn một chút là anh đón em ngay". Thế rồi, Hồ Chí Minh rời Quảng Châu, chuyển đến Vũ Hán, rồi lại chuyển đến Thượng Hải, đi đường Hải Sâm Uy, khoảng giữa tháng 6 năm 1927 đến Mạc Tư Khoa. Sau đó, Hồ Chí Minh lại vội vàng đến Ðức, Pháp, Bỉ, Thuỵ Sĩ, Italia ... tạm ngừng công tác, cuối cùng, tháng 8 năm 1929, đến Thái Lan.

"Do Tưởng Giới Thạc phản bội, thành Quảng Châu rơi vào giữa một cuộc khủng bố trắng. Sau khi chia tay với Hồ Chí Minh, Tăng Tuyết Minh một mình về sống với mẹ và những người thân. Trong hai năm, từ tháng 7 năm 1927 đến tháng 6 năm 1929, Tăng Tuyết Minh vào trường Anh văn Kiêm Bá và trường Trung học nữ sinh Tân Á học tập. Thời gian đầu, cô còn giữ được liên hệ với một số đồng chí cách mạng quen biết ở cơ sở huấn luyện phụ vận. Về sau do Quốc dân đảng ngày càng đàn áp tàn bạo các đảng viên cộng sản, các đồng chí mà Tăng Tuyết Minh quen biết đều rời Quảng Châu, mối liên hệ về tổ chức của cô với đoàn viên Ðoàn Thanh niên xã hội chủ nghĩa Trung Quốc cũng bị gián đoạn. Tháng 7 năm 1929, Tăng Tuyết Minh rời Quảng Châu, về quê nhà của mẹ ở Thuận Ðức, làm nữ hộ sinh tại một trạm y tế tư ở thị trấn Lặc Lưu. Ðầu năm 1930, cô lại chuyển đến làm nữ hộ sinh ở y xá Quần An của Dư Gia Viên, thị trấn Lạc Tòng, huyện Thuận Ðức.

"Thời gian này, Hồ Chí Minh có hai lần nhờ người mang thư và gửi thư liên hệ với Tăng Tuyết Minh, nhưng đều không kết quả. [...] Sau khi đến Thái Lan, Người lấy tên là Ðào Cửu, tiến hành công tác tuyên truyền và tổ chức cách mạng trên đất Thái Lan. [...] đã hơn một năm Hồ Chí Minh li biệt với Tăng Tuyết Minh, nhớ nhung da diết. Nơi đây cách Trung Quốc tương đối gần, nhờ người chuyển thư cũng tiện, bèn cầm bút viết thư cho Tăng Tuyết Minh. Hồ Chí Minh cũng nghĩ đến thời cuộc biến loạn, tình huống thiên biến vạn hoá, thư có đến được tay vợ hay không, thật khó dự đoán. Vì vậy, anh quyết định dùng lời lẽ ngắn gọn, hàm súc viết một bức thư ngắn, bảo cho biết mình vẫn bình an và thăm hỏi người thân. Nội dung bức thư đó như sau: " Từ ngày chia tay với em, đã hơn một năm trôi qua. Nhớ thương khắc khoải, chẳng nói cũng hiểu. Nay mượn cánh hồng, gửi mấy dòng thư để em yên tâm, đó là điều anh mong mỏi, và cầu cho nhạc mẫu vạn phúc. Anh trai vụng về, Thuỵ".

Phiên âm

Dữ muội tương biệt,
Chuyển thuấn niên dư,
Hoài niệm tình thâm,
Bất ngôn tự hiểu.
Tư nhân hồng tiện,
Dao ký thốn tiên,
Tỷ muội an tâm,
Thị ngã ngưỡng (*) vọng.
Tinh thỉnh Nhạc mẫu vạn phúc.

Chuyết huynh: Thuỵ

Cùng em xa cách
Ðã hơn một năm
Thương nhớ tình thâm
Không nói cũng rõ.
Cánh hồng thuận gió
Vắn tắt vài dòng
Ðể em an lòng
Ấy anh ngưỡng vọng.
Và xin kính chúcNhạc mẫu vạn phúc.

Anh ngu vụng: Thuỵ

(Bản dịch của N.H.Thành)


Thư của Nguyễn ái Quốc (Lý Thuỵ) gửi Tăng Tuyết Minh, bị Mật thám Ðông Dương chặn được ngày 14.08.1928, hiện tàng trữ tại C.A.O.M. (Aix en Pro-vence). Xuất xứ: Daniel Hémery, HOCHIMINH De L'Indochine au Vietnam, Gallimard, Paris 1990, tr.145.

* Sau khi do dự giữa sở và ngưỡng, ông Nguyễn Hữu Thành đã chọn phiên âm là ngưỡng. Ba nhà Hán học khác thì cả quyết là sở và cho biết đó là tự dạng cổ. Bất luận thế nào, sở vọng hay ngưỡng vọng ở đây đều nói lên ý ước mong [chú thích của Diễn Ðàn] " [...] Không rõ người mang thư sơ suất, hay là anh ta vốn dĩ không thể tin cậy, mà bức thư đó đã nhanh chóng lọt vào tay cơ quan mật thám Pháp ở Ðông Dương, cuối cùng thành vật lưu trữ tại Cục hồ sơ can án quốc gia của nước Pháp. Năm 1990, trong dịp kỉ niệm 100 năm sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Gallimard ở Pháp đã cho ra mắt bạn đọc cuốn sách Hồ Chí Minh - từ Ðông Dương đến Việt Nam, giữa tranh ảnh minh hoạ trong sách có bản in chụp bức thư bằng Trung văn nói trên của Hồ Chí Minh gửi cho vợ, với những dòng thuyết minh: “Thư của Nguyễn ái Quốc (tức Hồ Chí Minh) viết cho vợ. Chuyển tới cơ quan đặc vụ Ðông Dương ngày 14 tháng 8 năm 1928”. [...] Một tác giả tên là Bùi Ðình Kế trên báo Nhân Dân của Việt Nam, số ra ngày 19 tháng 5 năm 1991 đã dẫn lại bức thư đó trong bài nhan đề Về một tài liệu liên quan sinh hoạt cá nhân của Nguyễn Ái Quốc. Bài báo đã phân tích và phỏng đoán bức thư đó liệu có phải của Hồ Chí Minh hay không. Tuy nhiên, đã không đưa ra được kết luận rõ ràng. Thực ra, bức thư đó chính xác là do Hồ Chí Minh viết. Một là, đối chiếu với những thư cảo Trung văn của Hồ Chí Minh thì bức thư đó hoàn toàn ăn khớp với bút tích của người. Hai là, lúc Hồ Chí Minh viết bức thư đó cách thời điểm chia tay với Tăng Tuyết Minh đúng là hơn một năm như nói ở trong thư. Ba là, tên kí dưới thư thuỴ đúng là bí danh Hồ Chí Minh dùng trong thời gian ở Quảng Châu. Bốn là, Tăng Tuyết Minh từ nhỏ mất cha, chỉ có mẹ lúc ấy còn sống, và Hồ Chí Minh nắm rõ điều đó, nên trong thư chỉ vấn an nhạc mẫu. Căn cứ những điều trên, bức thư đó do Hồ Chí Minh viết, không còn nghi ngờ gì nữa. Thư viết xong đã rơi vào tay mật thám Pháp, đó là điều Hồ Chí Minh đã không thể lường trước được.

"Lúc ấy, Hồ Chí Minh công tác ở Thái Lan đến tận tháng 11 năm 1929. Sau đó, Người được Quốc tế Cộng sản cử đến Hương Cảng, triệu tập hội nghị thống nhất ba tổ chức cộng sản thành một đảng cộng sản. " Hội nghị thống nhất " đã khai mạc tại Hương Cảng ngày 3 tháng 2 năm 1930, chính thức tuyên bố thành lập Ðảng Cộng sản Việt Nam. Sau hội nghị, tháng 3 năm đó Hồ Chí Minh trở lại Thái Lan, tháng 4 lại đến Hương Cảng. Sau, nhiều lần lại từ Hương Cảng đến Thượng Hải, tiến hành công tác tuyên truyền và tổ chức cách mạng trong Việt kiều tại tô giới Pháp ở Thượng Hải. Lúc ấy, các đảng viên cộng sản Việt Nam Hồ Tùng Mậu, Nguyễn Lương Bằng... cũng đang hoạt động trong Việt kiều ở Thượng Hải. Ðầu tháng 5 năm 1930, Hồ Chí Minh lại viết một bức thư nữa từ Thượng Hải gửi Tăng Tuyết Minh. Bức thư này gửi qua Quảng Châu cho Tăng Tuyết Minh lúc ấy đang làm nữ hộ sinh ở cơ sở dịch vụ y tế tại Gia Dư Viên, thị trấn Lặc Lưu, huyện Thuận Ðức. Nội dung yêu cầu Tăng Tuyết Minh mau mau đến Thượng Hải đoàn tụ. Trong thư có hẹn kì hạn và nói rõ nếu quá hạn đó mà Tăng Tuyết Minh không đến sẽ đành một mình xuất ngoại. Thế nhưng, với cả bức thư này nữa, cũng đã xảy ra chuyện ngoài ý muốn, Tăng Tuyết Minh cũng không sao nhận được. Tài liệu hồi ức do Tăng Tuyết Minh viết cũng như lời kể lại của bà qua thư từ trao đổi với tác giả bài này đều nói tới hoàn cảnh của sự cố này.

"Hoá ra, tháng 7 năm 1929 Tăng Tuyết Minh sau khi đã rời Quảng Châu, làm nữ hộ sinh ở trạm y tế của bác sĩ Dư Bác Văn mới mở ra ở thị trấn Lặc Lưu, huyện Thuận Ðức, đến cuối năm. Ðầu năm sau, cô lại chuyển đến làm nữ hộ sinh tại y xá Quần An của Sa Khiếu ở thị trấn Lạc Tòng cũng huyện Thuận Ðức. Bức thư của Hồ Chí Minh chuyển đến cho trạm y tế của Dư Bác Văn ở thị trấn Lặc Lưu thì lúc ấy Tăng Tuyết Minh đã rời đi rồi. Trưởng trạm y tế Dư Bác Văn chẳng những không kịp thời chuyển thư đến Tăng Tuyết Minh mà ngược lại còn tự ý mở thư trước mặt vợ mình, lại còn gọi thêm cả nữ y sĩ Hoàng Nhã Hồng, xem trộm nội dung thư, sau đó đem đốt đi. Nửa năm sau khi xảy ra chuyện đó, Tăng Tuyết Minh trở lại Quảng Châu thăm mẹ và nhận lời mời đến dự lễ khai trương cơ sở y tế tại nhà một bạn đồng học cũ. Tại đây cô bất ngờ gặp laại nữ y sĩ HoàngNhã Hồng, người đã từng làm việc cùng tại thị trấn Lặc Lưu, huyện Thuận Ðức. Nữ y sĩ đó đã đem toàn bộ sự việc tuôn ra hết ngọn ngành. Lúc ấy so với thời hạn Hồ Chí Minh hẹn gặp nhau ở Thượng Hải thì đã qua nửa năm. Tăng Tuyết Minh chỉ còn biết kêu khổ khôn nguôi, nuốt nước mắt vào lòng. Như vậy con người kia đã gieo tại hoạ khiến Tăng Tuyết Minh mất đi cơ hội được trở lại bên chồng, cũng gây cho cô một bi kịch suốt đời trong tương lai.

"Ðến cuối năm 1931, rốt cuộc Tăng Tuyết Minh cũng có được một cơ hội gặp Hồ Chí Minh nhưng lại là tại toà án của nhà đương cục Anh ở Hương Cảng xét xử Hồ Chí Minh. Tăng Tuyết Minh chỉ có thể nhìn thấy Hồ Chí Minh từ rất xa, còn Hồ Chí Minh thì hoàn toàn không biết vợ mình có mặt tại toà. Cuối những năm 20 - đầu 30 hoàn cảnh của các nhà cách mạng Việt Nam hoạt động tại Hương Cảng rất tồi tệ. Trong hàng ngũ cách mạng có kẻ phản bội, các cơ sở bí mật bị phá hoại, chính quyền thực dân Pháp và nhà đương cục Anh ở Hương Cảng cấu kết với nhau bắt bớ các chiến sĩ cách mạng. Hồ Tùng Mậu bị các nhà đương cục Anh bắt rồi giao cho mật thám Pháp " dẫn độ " về Việt Nam giam cầm. Hồ Chí Minh cũng bị các nhà đương cục Anh bắt ngày 5-6-1931, lí do là làm tay sai cho hội Lao Liên, âm mưu tiến hành hoạt động phá hoại tại Hương Cảng. Sau khi Hồ Chí Minh bị bắt, Quốc tế Cộng sản thông qua hội Chữ thập đỏ quốc tế kêu gọi cứu giúp. Tổ chức đó lại mời một luật sư tiến bộ người Anh ở Hương Cảng là ông Loseby bào chữa cho Hồ Chí Minh. Sau vài tháng bị giam giữ, Hồ Chí Minh bị đưa ra xét xử. Lần này đến Hương Cảng, Người lấy bí danh là Tống Văn Sơ. Nhưng sau khi bị bắt nhà đương cục Anh đã phát hiện đó chính là Lý Thuỵ, cũng tức là Nguyễn Ái Quốc. Lúc ấy rất nhiều báo Hương Cảng đưa tin. Cùng thời gian này, thân mẫu Tăng Tuyết Minh đang bị bệnh. Cô cùng mẹ đến Hương Cảng trú tại cơ sở chữa bệnh của anh cả là Tăng Cẩm Nguyên. Ðọc được tin toà sẽ xét xử chồng mình là Lý Thuỵ liền nhờ bạn bè cũ cùng đến toà. Người đến dự thính xét xử rất đông. Tăng Tuyết Minh phải ngồi nghe cách xa phòng xử án. Nhìn thấy hình dáng tiều tuỵ của người chồng xa cách đã năm năm mà lòng khôn ngăn trăm mối ngổn ngang. Nhưng do khoảng cach khá xa, lại giữa toà ánm vợ chồng chẳng những vô phương trò chuyện mà Hồ Chí Minh thậm chí chắc chắn không hề biết Tăng Tuyết Minh đang ở trước mắt mình. Tăng Tuyết Minh muốn đến thăm nom nhưng có lời truyền ra rằng đây là một trọng phạm chính trị không được phép thăm hỏi, gặp gỡ. Tăng Tuyết Minh hỏi dò nhiều nơi và biết được rằng hội Hồng thập tự quốc tế và luật sư Loseby đang tìm cách cứu Hồ Chí Minh, tình cảnh có lẽ cũng sẽ chuyển biến, đành cùng thân mẫu trở về Quảng Châu, lòng hoang mang không biết làm sao.

"Tháng 2 năm 1932, thân mẫu Lương thị của Tăng Tuyết Minh bệnh nặng qua đời, hưởng thọ 76 tuổi. Tăng Tuyết Minh chuyển đến công tác ở y xá Quần An ở huyện Ðông Hoàn, vốn là cơ cấu phân chi của y xá Quần An huyện Thuận Ðức, vẫn làm nữ hộ sinh. Lúc này, cha mẹ cô đều đã mất, anh em đông nhưng người thì đi xa, người thì chết sớm, Tăng Tuyết Minh côi cút độc thân, thật là buồn khổ. Năm 1943, sau tiết xuân, thầy giáo cũ là Trương Tố Hoa mở tại đường Long Tân ở Quảng Châu một phòng chẩn trị, có lời mời Tăng Tuyết Minh đến giúp sức. Cô bèn xin thôi việc ở Ðông Hoàn, đến phòng chẩn trị của Trương Tố Hoa làm nữ hộ sinh và làm việc ở đó cho đến tận ngày (Trung Quốc) giải phóng. Sau khi nước Trung Quốc mới được thành lập, chính phủ tiến hành cải tạo và chỉnh đốn các cơ sở kinh tế tư nhân, thành lập các trạm vệ sinh bảo vệ sức khoẻ tại các khu. Tăng Tuyết Minh hưởng ứng lời kêu gọi của chính phủ, đã đến công tác tại trạm số 8 ở khu vực phía Tây. Về sau trạm này đổi gọi là Viện Vệ sinh Kim Hoa (nay là Viện Y học Trung y khu Lệ Loan). Tăng Tuyết Minh công tác ở đó, hành nghề nữ hộ sinh đến tận năm 1977 khi về hưu."
Thế là từ sau lần trông thoáng thấy chồng ở Hương Cảng, không bao giờ Tăng Tuyết Minh gặp lại Nguyễn Ái Quốc nữa. Theo tác giả Hoàng Tranh, tháng 5-1950, thấy hình Chủ tịch Hồ Chí Minh đăng trên Nhân dân Nhật báo cùng với tóm tắt tiểu sử, bà tin chắc Hồ Chí Minh chính là chồng mình, nhất là sau khi tìm mua được cuốn Truyện Hồ Chí Minh (nhà xuất bản Tân Hoa). Bà đã " báo cáo với tổ chức ”, đồng thời gửi mấy bức thư cho chủ tịch Hồ Chí Minh thông qua đại sứ Việt Nam tại Bắc Kinh là Hoàng Văn Hoan. Những bức thư ấy “ đều như đá chìm biển khơi (...) thậm chí chúng có được gửi ra khỏi Quảng Châu hay không là điều còn đáng hoài nghi ". Tuy nhiên, một cán bộ lãnh đạo Quảng Châu đã tới gặp Tăng Tuyết Minh, trao cho bà lá thư của bà Thái Sướng (một trong những người đã tới dự tiệc cưới năm 1926 cùng với bà Ðặng Dĩnh Siêu, vợ của Chu Ân Lai) " chứng thực Hồ Chí Minh chính là Lý Thuỵ cũng tức là chồng Tăng Tuyết Minh ". Cán bộ này cũng " giải thích (...) lí do tại sao không tiện liên lạc với Chủ tịch Hồ Chí Minh, hy vọng Tăng Tuyết Minh hiểu và lượng thứ việc này, yên tâm công tác ". Vẫn theo sử gia Hoàng Tranh thì về phần mình, Hồ Chí Minh đã " từng thông qua Tổng lãnh sự Việt Nam tại Quảng Châu dò tìm tăm tích của Tăng Tuyết Minh, năm 1960 lại nhờ Bí thư Trung Nam cục Ðào Chú dò tìm dấu vết của bà " song " việc trên đương nhiên không thể có bất kì kết quả gì " vì " điều này vào thời ấy hoàn toàn không kì lạ ".
Bà Tăng Tuyết Minh đã " yên tâm công tác ” cho đến năm 1977 mới về hưu, sau 52 năm tận tuỵ với nghề nữ hộ sinh. Theo Hoàng Tranh, gia đình bà theo đạo Công giáo từ đời ông nội, và bà " thường xuyên đi lễ ở giáo đường ". Bà " có thói quen ăn uống đạm bạc, không dùng cá thịt ", cuộc sống " vô cùng giản dị ", " luôn vui vẻ giúp người"...

"11 giờ 15 phút ngày 14 tháng 11 năm 1991, sau 86 năm trải qua con đường đầy lận đận long đong, tại nơi cư ngụ [687 đường Long Tân Ðông, Quảng Châu], cụ bà Tăng Tuyết Minh đã bình yên nhắm mắt, thanh thản trút hơi thở cuối cùng ".

Hoàng Tranh

Thursday, July 16, 2009

Lời phản đối của ông Võ văn Ái về bài viết vu cáo vô bằng và bất lương của bà Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

THÔNG CÁO BÁO CHÍ LÀM TẠI PARIS NGÀY 16.7.2009

Trả lời bài viết vu cáo vô bằng và bất lương của bà Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

Ghi chú của Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế: Trong thời gian mấy tháng qua, bỗng dưng một số bài đưa lên mạng Internet trực chỉ vu cáo, mạ lỵ Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ. Bằng những bài viết khác nhau, dưới những tên hiệu khác nhau, nhưng sự vu hãm như cùng một lò đúc. Không trao đổi hay thảo luận ý kiến, mà chỉ chửi cãi bằng ngôn ngữ đầu đường xó chợ nhằm mạ lỵ hình dung Hòa thượng, hoặc quy chụp Hòa thượng cùng toàn bộ hàng giáo phẩm Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất hòa đồng với Cộng sản, nếu không là Cộng sản.

Sống trong những nước văn minh, dân chủ Tây phương, lượng thông tin cập nhật từng giây, thế mà có những kẻ đem tấm hình chụp Hòa thượng Thích Quảng Độ ngày ra tù tháng 9 năm 1998 để nhạo báng Hòa thượng đi tu mà vẫn để râu tóc. Trong khi ấy, những hình chụp Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ mấy năm qua của các hãng thông tấn quốc tế được đăng tải trên báo chí quốc tế, như Mỹ liên xã AP, Pháp tấn xã AFP, Anh tấn xã Reuters, Đài truyền hình Trung Đông Al Jazeera đến phỏng vấn và quay hình ngài tại Thanh Minh Thiền viện ở Saigon, thì rõ như ban ngày, dung mạo Ngài vẫn là dung mạo của chư Tăng không râu tóc.

Ở đây chúng tôi chẳng cần biện minh như đã im lặng nhiều tháng qua. Hôm nay sở dĩ viết ra là cốt vạch trần “Chiến dịch Goebbels” đang hoành hành trong Cộng đồng Người Việt hải ngoại. Ông trùm Tuyên truyền Phát xít Đức Quốc Xã Goebbels từng nói: “Phải lập đi nói lại hoài một lời nói láo, thì lời nói láo mới trở thành sự thật” (Mann müss eine Lüge nur oft genug wiederholen, und sie wird zur Wahrheit). Câu nói tương đồng với lời viết của Hitler trong sách Mein Kampf (Tôi chiến đấu): “Lời nói láo lập lại mười lần vẫn là lời nói láo, nhưng lập lại mười nghìn lần sẽ thành sự thật” ! Hiện nay “Chiến dịch Goebbels” đang được vài cá nhân và mấy Trang điện tử thực hiện đối với Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ trong nhiều tháng vừa qua. Đặc biệt kể từ ngày ngài tung “Lời Kêu gọi Tháng 5 Bất Tuân Dân sự - Biểu tình Tại Gia”. Một Lời Kêu gọi cụ thể và có hiệu quả Diên Hồng, khiến con cháu Bác Hồ và con cháu Bác Mao hoảng hốt như đứng trên đống lửa, nên đã phản ứng thô lỗ, điên cuồng từ trong nước ra tới hải ngoại.

Về chuyện Râu tóc mà những con cháu Goebbels kia đang châm biếm, do chúng cố tình bịt mắt trước hai sự kiện tối hậu. Một là Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế tiếp tục sử dụng bức hình Hòa thượng Thích Quảng Độ năm 1998, là cốt tố cáo chế độ tù ngục tại Việt Nam Cộng sản. Trong tù Hòa thượng không có cả phương tiện cạo râu cắt tóc. Ra tù thì chỉ là động thái đi từ nhà tù nhỏ sang nhà tù lớn. Hiện nay Hòa thượng vẫn bị quản chế tại Thanh Minh Thiền viện theo Pháp lệnh 44 thay cho Nghị định 39/CP trước kia. Thứ hai là nói tới giới luật Phật chế, thì những kẻ con cháu Goebbels kia lại càng mù tịt.

Ngoài ý nghĩa biểu tượng kỷ nguyên tù ngục, qua một bức chân dung, khó cho những đầu óc thiển cận hiểu thấu, bọn chúng chẳng biết gì về giới luật Phật chế vừa nhân đạo vừa linh hoạt, không bất nhân, sắt máu như luật phát xít hay luật cộng sản. Đành rằng chư Tăng Ni phải hàng tháng cạo đầu khi Bố tát. Nhưng Phật cho phép được miễn, khi chư Tăng lâm vào nạn xứ (tù đày là một nạn xứ) hay khi du hành giữa biển cả, rừng sâu.

Bài của “Chiến dịch Goebbels” vừa được đăng trên Trang điện tử TinParis có tên “Hòa thượng Thích Quảng Độ có phải là một “Nhà Chống Cộng” hay không ?” do bà Hàn Giang Trần Lệ Tuyền vẽ rắn thêm chân.

Nhận thấy sự vu cáo vô bằng và bất lương của bà Hàn Giang Trần Lệ Tuyền, nên ông Võ Văn Ái đã có bài hồi đáp gửi tới TinParis yêu cầu đính chính theo luật báo chí của nước Pháp văn minh. Nguyên văn bài viết như sau:


Paris, ngày 13.7.2009

Kính gửi Ông Hứa Vạn Thọ

Chủ nhiệm Trang Điện tử TinParis

Thưa Ông,

Xin cám ơn ông đã gửi về địa chỉ chúng tôi bài viết của bà Hàn giang Trần Lệ Tuyền dưới tiêu đề “Hòa thượng Thích Quảng Độ có phải là một “Nhà đấu tranh Chống Cộng” hay không ?” mà ông đăng tải trên Trang điện tử TinParis.

Bài viết nhằm vu cáo vô bằng hơn là thông tin hay nghiêm chỉnh thảo luận. Nên tôi xin gửi đến ông bài tôi chứng minh sự vu cáo vô bằng của bà Trần Lệ Tuyền.

Xin ông cho đăng bài sau đây của tôi để rộng đường dư luận và tránh cho độc giả không bị đánh lừa hay hoang mang vì chỉ nghe được một tiếng chuông trước một vấn đề trọng đại trong những vấn đề trọng đại của đất nước hôm nay : Phật giáo Việt Nam.

Trân trọng.

Võ Văn Ái

Phát ngôn nhân Viện Hóa Đạo, GHPGVNTN
------------ --------- ---------

Trả lời bài viết vu cáo vô bằng và bất lương của bà Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

Hôm 10.7 vừa qua tôi được ông Hứa Vạn Thọ, Chủ nhiệm Trang Điện tử TinParis, gửi cho xem bài viết của bà Hàn Giang Trần Lệ Tuyền dưới nhan đề: “Hòa thượng Thích Quảng Độ có phải là một “Nhà Chống Cộng” hay không ?”.

Bài viết dài hơn 9 trang, khổ A4, chuyện nọ nối sang chuyện kia, không đầu không đuôi, quanh co khúc mắc. Người đọc có cảm tưởng nghe một người đàn bà mất gà nghi cho nhà hàng xóm đánh cắp, nên đứng ở bờ dậu văng tục giờ này sang giờ khác.

Suốt bài bà Lệ Tuyền chỉ lan man viết điều bà muốn nói, chẳng băn khoăn đến sự thật và lịch sử. Điều bà muốn nói là điều bà đeo đuổi nhiều năm, lập đi nói lại qua nhiều bài báo, nhưng chẳng đưa ra chứng cớ xác đáng: Tố khổ Hòa thượng Thích Quảng Độ và chư Tăng Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất là Cộng sản.

Hôm nay tôi chứng minh tính chất vu cáo vô bằng và bất lương qua bài viết cuối của bà Lệ Tuyền. Một bài viết dài dòng, quanh co, khúc mắc. Nhưng luận điệu chủ yếu kê dựa vào các lời trích, mà bà Lệ Tuyền khổ công tìm tòi trong tạp chí Quê Mẹ xuất bản tại Paris qua hai số 108 phát hành tháng 3 năm 1990 và 147 phát hành tháng 9-10 năm 1998.

Bà rất tự tin khi viết như đinh đóng cột: “Để mọi người đều biết một cách rõ ràng hơn, thì không gì bằng những bài viết của chính các sư sãi Ấn Quang đã được đăng tải trên báo Quê Mẹ của ông Võ Văn Ái” (…) “Nên nhớ, những dòng mà tôi đã trích ở trên đây, là đã đăng trên báo Quê Mẹ chứ không phải do tôi tự ý viết ra hay “suy diễn” như một số người đã nói”.

Sợ độc giả không hiểu những đoạn trích từ tạp chí Quê Mẹ của bà, hoặc giả bà quá tương đắc với những trích đoạn mà bà xem như “chiến lợi phẩm” thu đạt trong cuộc chiến ảo lúc nằm mơ. Nên bà Lệ Tuyền lập lại tới hai lần các trích đoạn rút từ tạp chí Quê Mẹ, một lần ở đầu bài và lần sau ở cuối bài.

Bài hồi đáp này tôi không đi sâu vào các đoạn viết dài dòng nhưng hoang tưởng của bà Lệ Tuyền. Tôi chỉ vạch trần sự bịp bợm cùng những vu cao vô bằng và bất lương của bà Lệ Tuyền qua các đoạn bà trích từ tạp chí Quê Mẹ. Làm như vậy độc giả có thể kiểm chứng khi lật tìm các số báo Quê Mẹ rồi so sánh điều tôi phát hiện với điều bà Lệ Tuyển “suy diễn”. Dù bà Lệ Tuyền cố tín viết rằng:

“Nên nhớ, những dòng mà tôi đã trích ở trên đây, là đã đăng trên báo Quê Mẹ chứ không phải do tôi tự ý viết ra hay “suy diễn” như một số người đã nói”.

Điều thứ nhất, dù là kẻ thù chăng nữa, người có văn hóa khi tranh luận luôn giữ lễ độ khi nhắc đến tên của người hay tổ chức mình phê phán. Hòa thượng Thích Quảng Độ và chúng tôi thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN), một giáo hội dân lập và truyền thống có 2000 năm lịch sử Việt. Chỉ có những người Cộng sản Hà Nội, thông qua 700 tờ báo và các cơ quan truyền thông đại chúng, mới gọi xách mé “Phật giáo Ấn Quang”, “Giáo hội Ấn Quang”. Tôi lấy làm lạ cho một số người ở hải ngoại “tự gọi là Chống Cộng” như bà Lệ Tuyền lại rất thích kiểu nói xách mé, vô giáo dục của Cộng sản gọi GHPGVNTN là “Phật giáo Ấn Quang”, “Giáo hội Ấn Quang”.

Điều thứ hai, bà Lệ Tuyền viết:

“Vậy, nhân đây, tôi xin trích nguyên văn một trong «Năm yêu sách của Phật giáo tại Việt Nam, do Thượng tọa Thích Thanh Từ, Tổng thư ký Hội đồng trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo THỐNG NHẤT (sic, chúng tôi nhấn mạnh), trong tháng 2 năm 1990, đã đưa ra năm yêu sách đối với Ban chấp hành Trung ương đảng cộng sản tại Hà Nội». Và sau đó, đã được đăng trên báo Quê Mẹ số 108, tháng 03 năm 1990, nơi trang số 21 như sau:

« Yêu sách thứ năm: Phải nhớ ơn các nhà tu hành, các tín đồ Phật giáo Việt Nam Thống Nhất (sic, 4 chữ « Phật giáo Việt Nam Thống nhất » không có trong tạp chí Quê Mẹ, chúng tôi chú) đã góp công lao vào công cuộc tranh đấu thống nhất đất nước trước đây ».

“Đến đây, tôi xin quý độc giả cùng suy nghĩ: Nếu không phải là một thành viên trong Ban chấp hành Trung ương đảng cộng sản, mà chỉ là một « Tăng sĩ » hay một người dân bình thường thì «HT» Thích Thanh Từ có được « đưa ra Năm yêu sách đối với Ban chấp hành Trung ương đảng cộng sản tại Hà Nội » hay không ??? Nên nhớ, « Hòa thượng » Thích Thanh Từ là một « Tăng sĩ » kỳ cựu của Phật giáo Thống Nhất (Ấn Quang ). Để giải đáp, chúng ta chỉ cần hai chữ « đưa ra » thì đã rõ”. (*)

Sự vu cáo vô bằng và bất lương của bà Lệ Tuyền là không trích nguyên văn theo tạp chí Quê Mẹ. Trái lại, thêm thắt chỗ này chỗ kia cho phù hợp với ý đồ bất lương của bà. Ngoài ra, bà cố ý bóp méo sự thật. Bà Lệ Tuyền lạm dụng chữ “Nên nhớ” để khẳng định ý đồ, nhưng bà không có trí nhớ. Không có trí nhớ vì bà thiếu hiểu biết và không có kiến thức. Ví dụ, Hòa thượng Thích Thanh Từ chưa từng giữ bất cứ chức vụ gì trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất trước cũng như sau 1975. Thế nhưng bà Lệ Tuyền vẫn coi trời bằng vung để khẳng định vô bằng : “Nên nhớ, « Hòa thượng » Thích Thanh Từ là một « Tăng sĩ » kỳ cựu của Phật giáo Thống Nhất (Ấn Quang )”.

Câu thứ 3 trong đoạn đầu mà bà Lệ Tuyền trích từ tạp chí Quê Mẹ số 108, phát hành tại Paris tháng 3.1990, trang 21, bà viết: « Năm yêu sách của Phật giáo tại Việt Nam , do Thượng tọa Thích Thanh Từ, Tổng thư ký Hội đồng trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo THỐNG NHẤT (sic), trong tháng 2 năm 1990, đã đưa ra năm yêu sách đối với Ban chấp hành Trung ương đảng cộng sản tại Hà Nội ».

Vào đọc tạp chí Quê Mẹ, thì không hề có chữ “Giáo hội Phật giáo Thống Nhất”. Trái lại, tạp chí Quê Mẹ in rõ “Giáo hội Phật giáo Việt Nam”. Nguyên văn trên Quê Mẹ viết rằng :

“Thượng tọa Thích Thanh Từ, Phó Tổng Thư ký Hội đồng Trị sự Trung ương GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM, trong tháng 2.1990, đã đưa ra 5 yêu sách đối với Ban Chấp hành Trung ương đảng Cộng sản tại Hà Nội”.

Hóa ra đọc mà không hiểu, hay hiểu méo theo ý đồ lừa gạt, bà Lệ Tuyền không biết rằng tư liệu in ở Quê Mẹ số 108, trang 21, là tư liệu của “Giáo hội Phật giáo Việt Nam”, tức Giáo hội Phật giáo Nhà nước, Giáo hội Quốc doanh do Đảng hình thành năm 1981 làm công cụ chính trị cho đảng Cộng sản. Chứ không phải Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất đã và đang bị Cộng sản đàn áp trắng trợn.

Cũng thế, câu Yêu sách thứ năm, tạp chí Quê Mẹ viết theo Thượng tọa Thích Thanh Từ trích từ báo chí Cộng sản : « Yêu sách thứ năm : Phải nhớ ơn các nhà tu hành, các tín đồ đã góp công lao vào công cuộc tranh đấu thống nhất đất nước trước đây ». Khi trích lại, bà Lệ Tuyền tự ý thêm 4 chữ « Giáo hội Việt Nam Thống nhất » sau chữ « tín đồ » nhằm vu oan giá họa !

Tạp chí Quê Mẹ cho in bài này để chứng minh rằng, đấy, các Sư quốc doanh trong Giáo hội Quốc doanh mà còn phải than phiền như thế. Cốt vạch trần một chế độ độc tài toàn trị khiến giới tay chân khuyển mã còn không chịu nỗi. Trong số bào này nhan nhản những bài vạch trần như thế : Hội nghị Trung ương Đảng 8, Khi trái núi lớn đẻ ra con chuột chù vừa hôi vừa thối (tr. 8) – Thi sĩ Hoàng Cầm lên tiếng (tr.11) – Bà Nguyễn Đình Chi thành viên Mặt trận Giải phóng miền Nam kêu gọi cho Dân chủ đa nguyên (tr.15) – Huỳnh Tấn Mẫm trả lại thẻ đảng (tr.19) – Nguyễn Văn Linh chống những người Kháng chiến cũ (tr.22) – Đường Sơn Quán, thế giới Nhất dạ đế vương của cán bộ CS (tr.30), v.v… và v.v…

Thứ ba, bà Lệ Tuyền trích 3 câu trong cuộc phỏng vấn Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ để “khẳng định” Hòa thượng Thích Quảng Độ “hòa đồng với Nhà nước”. Xin đọc đọan bà Lệ Tuyền trích dẫn :

“Thích Quảng Độ: Đúng rồi. Bởi vì từ đầu mình phải xét. Cái gì nó có cái dĩ nhiên. Khi hợp tác, phải hai bên cùng có lợi thì mình mới làm được chứ ? Việc làm ăn ngoài đời cũng thế … ».

“Võ Văn ái: Vâng ạ. Cái gì cũng phải đồng đẳng và bình đẳng chứ …

“Thích Quảng Độ : Đúng. Đồng đẳng ! Mà ít nhất là hai bên cùng có lợi. Ông lợi cái này, tôi được lợi cái kia. Cũng như mình hợp tác trao đổi để cùng làm, đằng này họ thu lợi tất (cười).

“Võ Văn Ái: Dạ, tham quá thì …

“Thích Quảng Độ : Tôi mới nói rằng là … Các vị Sư miền Bắc được vào Quốc Hội, nào Phó Chủ tịch Quốc hội, nào Dân biểu v…v… ». (*)

Sự vu cáo vô bằng và bất lương của bà Lệ Tuyền là trích 10 câu phỏng vấn không đầu không đuôi để quy chụp Hòa thượng Thích Quảng Độ “hòa đồng với Nhà nước” trong một bài phỏng vấn dài 9 trang !

Trên tạp chí Quê Mẹ số 147, phát hành tháng 9-10 năm 1998, tôi làm cuộc phỏng vấn Hòa thượng Thích Quảng Độ hôm Hòa thượng về tới Saigon sau cuộc đặc xá ngày 2.9.1998 nhờ áp lực quốc tế và LHQ.

Điều bình thường ai cũng hiểu, trừ bà Lệ Tuyền, là chẳng ai dại gì đổ gan đổ ruột về những vấn đề chiến thuật, chiến lược hay lập trường đấu tranh qua cuộc phỏng vấn điện thoại viễn liên tại một nước độc tài toàn trị Cộng sản. Hơn nữa, cuộc phỏng vấn người mới ra tù sau những năm bị giam cầm đằng đẵng, hẳn nhiên chuyện chính yếu và nhân đạo là vấn an sức khỏe hay hỏi thăm cảm tưởng. Có đề cập chi khác phải “ý tại ngôn ngoại”, mà kẻ có trí khi đọc sẽ nhận ra ngay - gọi là đọc giữa hai hàng chữ. Bài phỏng vấn này lúc ấy đã được độc giả Quê Mẹ trong toàn thế giới rất hoan nghênh khi họ nhận ra ý vị khí khái giữa hàng chữ và con người bất khuất Thích Quảng Độ. Có đâu bất nhân như bà Lệ Tuyền chăm chăm soi mói theo hậu ý thủ sẵn để hàm huyết phún nhân.

Bà Lệ Tuyền cần biết điều sơ đẳng, rằng Hòa thượng Thích Quảng Độ là một nhà lãnh đạo tôn giáo. Tôn giáo có ngôn ngữ và phong thái tôn giáo. Hòa thượng không là cán bộ chính trị chuyên hô hào, sách động. Huống chi qua cuộc phỏng vấn dài 9 trang, Hòa thượng Thích Quảng Độ khai triển những đoạn dài kêu gọi người hải ngoại “Phải tiếp tục góp phần thêm nữa, để làm sao hy vọng đất nước mình và dân tộc mình một ngày không xa cũng hưởng được đủ mọi cái quyền như các dân tộc văn minh”. Hòa thượng cũng nhắc đến cuốn sách đã đem lại cho ngài 5 năm tù tội, sách “Nhận định về những sai lầm tai hại của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Dân tộc và Phật giáo”(**). Cuốn sách quyết liệt này không có chỗ đứng cho một mảy may nghi ngờ về lập trường dân tộc của bậc cao tăng Phật giáo trước ý thức hệ ngu dân và ngoại lai Cộng sản. Hòa thượng thẳng thắn tố cáo “Giáo hội Nhà nước” ra đời năm 1981: “Cái việc thống nhất Phật giáo là cái việc của Giáo hội chứ, của Phật giáo chứ. Thế mà ông Bí thư Đảng ủy của Nhà nước đứng ra tổ chức thống nhất Phật giáo thì còn ra cái gì ! » (…) “Người nào đã được Nhà nước tin tưởng, thì dân không tin tưởng nữa !”. Miêu tả chuyện ngoài Bắc, Hòa thượng nói: “Bây giờ anh thấy ở miền Bắc nó nguy như thế này. Đấy, 40 năm họ o ép nhé ! Cũng như một hòn đá đè lên nấm cỏ. Họ tưởng là chết rồi, nhưng mà nó không chết. Rồi lật lên, nới nó ra, cái đám cỏ nó lên rất mau. Cũng như tín ngưỡng 40 năm bị ép. Bây giờ họ nới ra một tí, thì bị ôi đủ thứ. Đồng bóng này ! Chứ thực ra Chính pháp họ không hiểu. Đưa cả cá thịt đến chùa. Lễ thì giết cả gà lợn hết cả trong chùa thì còn cái gì đây ? (…) “Đảng Cộng sản phải nắm độc quyền, không chia sẻ cho ai”. Khi được hỏi Hòa thượng có bị Cộng sản áp lực phải bỏ nước ra đi như họ đã áp lực hai ông Đoàn Viết Hoạt và Nguyễn Đan Quế, Hòa thượng đoan quyết: “Chẳng thà tôi cứ ở trong tù thôi, còn về mà đi nước ngoài… Cũng như con cá phải có nước, bỏ vứt nó lên cạn, nó sống làm sao? Đi đâu có được, mà đây là cái Đất tổ tiên ông bà, cha mẹ của tôi đẻ ra ở đây, tôi phải sống ở đây”.

Đại loại những ý chí kiên cường và dân tộc như thế sao bà Lệ Tuyền không trích ? Lại đi trích mười câu không đầu không đuôi ? Câu Hòa thượng khái quát sự việc “đôi bên cùng có lợi” là nhắc tới nguyên lý tương sinh trong xã hội loài người. Có chi không phải ? Có chi tội lỗi ? Có chi liên quan tới Cộng sản hay theo Cộng sản ? Vợ chồng cưới nhau, hai bên cùng chia sớt tình yêu. Thương gia hùn hạp làm ăn, hai bên cùng có lợi. Đảng phái liên minh nhau, hai bên không thất thế. Hai quốc gia thương thảo hợp tác, hai bên cùng có lợi, v.v…

Tại sao trích mười câu rồi quy chụp Hòa thượng Thích Quảng Độ “hòa đồng với nhà nước”, mà những ai đọc 9 trang phỏng vấn không thể đi tới kết luận ấu trĩ như thế? Tại sao, nếu không là sự bất lương !

Thứ tư, bà Lệ Tuyền trích tạp chí Quê Mẹ nhưng lại thêm một bớt hai nhắm mục tiêu vu cáo và tố khổ. Bà khẳng định vô bằng : “Qua những lời của chính Thích Minh Châu và ông Võ Văn Ái đã đăng trên báo Quê Mẹ ; thì nó cũng cho mọi người thấy được mối giao kết khắng khít, chặt chẽ giữa bộ ba Thích Quảng Độ-Thích Minh Châu-Võ Văn Ái”. Câu viết của bà Lệ Tuyền tuy không giải thích, nhưng nhiều người đều hiểu Hòa thượng Thích Minh Châu “là Cộng sản”. Từ đó sự “khắng khít” giữa “bộ ba Thích Quảng Độ-Thích Minh Châu-Võ Văn Ái” hẳn phải là cái khắng khít Cộng sản. Còn chối cãi vào đâu được ?! Thế nhưng tự nội không hề có Tăng sĩ Thích Minh Châu qua cuộc phỏng vấn.

Than ôi, đây là chỗ Trời bất dung kẻ gian.

Bà Lệ Tuyền “trích” từ tạp chí Quê Mẹ số 147, phát hành tại Paris tháng 9-10 năm 1998, như sau:

“Đoạn nầy Võ Văn ái đã nói chuyện trực tiếp với Thích Minh Châu (tức thầy Thanh Minh):

“Võ Văn Ái: Xin cho con đãnh lễ Thầy Thanh Minh (tức Thích Minh Châu).

Thích Quảng Độ: Thôi trước khi dứt lời, thì nói chuyện trực tiếp với Thầy Thanh Minh ( tức Thích Minh Châu) chút nhé. Thôi, chào anh Ái, và nhớ gửi lời cảm tạ tới các bạn nhé. Rất mong một ngày không xa sẽ được gặp nhau.

“Võ Văn Ái: Dạ, con cũng tin như vậy. A-lô ?

“Thích Minh Châu: A di Đà Phật !

« Võ Văn Ái: A Di Đà Phật. Dạ, bạch Thầy.

“Thích Minh Châu: Cảm ơn ông. Làm sao ông cố xin giấy phép về thăm quê hương ? Bây giờ đi bao nhiêu chục năm rồi, quên hết cả tiếng Việt, quên hết cả nơi quê hương là làm sao?

“Võ Văn Ái: Dạ, quên thì không quên đâu, bạch Thầy. Chúng con nhớ nước, nhớ đạo lắm, chỉ mong được một ngày bước chân về đất nước mà thôi…

“Thích Minh Châu : Tôi chỉ mong làm sao tất cả người Hồng Bàng cùng hợp tác với nhau, để trước là đảnh lễ Tổ Hồng Bàng, sau là lễ Tổ tiên ông bà và sau là lễ Phật. Bởi mình là người Phật tử, thì bao giờ cũng có hai trách nhiệm, một là Đạo, hai là Đời. Nhưng mà dù sao, Tổ quốc (XÃ HỘI CHỦ NGHĨA (sic, chúng tôi nhấn mạnh), vì Thích Minh Châu là đảng viên cộng sản cao cấp) có trước, thì mình phải làm cái bổn phận của người con của Tổ quốc trước, rồi làm đệ tử của Phật sau. Có phải thế không ?

“Võ Văn ái: Dạ, con xin ghi lời …

“Thích Minh Châu: Quý vị cố về thăm Tổ quốc đi.

“Võ Văn Ái: Dạ, chúng con sẽ thực hiện điều đó …

“Thích Minh Châu: Cầu Phật cho ông và gia quyến được an lành …

“Võ Văn Ái: Con xin cảm ơn Thầy, bao nhiêu năm đã lo cho Hòa thượng Quảng Độ. Chúng con xin ghi ơn tạc dạ.

“Thích Minh Châu : Anh em chúng tôi bao giờ vẫn son sắt với nhau. Dù một tấc đạ, không bao giờ rời nhau ».

“Võ Văn Ái: Xin kính Thầy. A di Đà Phật ». (*)

Sự bất lương thứ nhất của bà Lệ Tuyền là tuy trích tạp chí Quê Mẹ, nhưng lại sửa đổi theo ý mình nhằm vu cáo Hòa thượng Thích Quảng Độ. Tạp chí Quê Mẹ số 147, trang 15, là phần cuối cuộc phỏng vấn Hòa thượng Thích Quảng Độ trao máy nói cho Hòa thượng Thích Thanh Minh để tôi, Võ Văn Ái, vấn an. Thế nhưng bà Lệ Tuyền làm nhà ảo thuật biến Hòa thượng Thích Thanh Minh thành Thích Minh Châu.

Và khi Hòa thượng Thích Thanh Minh động viên tôi rằng: “Tôi chỉ mong làm sao tất cả người Hồng Bàng cùng hợp tác với nhau, để trước là đảnh lễ Tổ Hồng Bàng, sau là lễ Tổ tiên ông bà và sau là lễ Phật. Bởi mình là người Phật tử, thì bao giờ cũng có hai trách nhiệm, một là Đạo, hai là Đời. Nhưng mà dù sao, Tổ quốc có trước, thì mình phải làm cái bổn phận của người con của Tổ quốc trước, rồi làm đệ tử của Phật sau. Có phải thế không ?”, thì bà Lệ Tuyền tán tận lương tâm viết thêm chữ “XÃ HỘI CHỦ NGHĨA” sau chữ Tổ quốc để quy chụp “yếu tố Cộng sản” cho Hòa thượng Thích Thanh Minh. Tuy không xác nhận qua lời, nhưng câu động viên trên đây của Hòa thượng Thích Thanh Minh phân rõ trắng đen giữa Tổ quốc của Tổ Hồng Bàng với đảng cầm quyền Cộng sản phi Việt và phi dân tộc.

Nói cho rõ một lần, Hòa thượng Thích Thanh Minh là Hòa thượng Thích Thanh Minh. Chẳng dính dấp gì đến Hòa thượng Thích Minh Châu. Lấy cớ gì và rút tài liệu ở đâu để cả gan viết rằng : ““Đoạn nầy Võ Văn ái đã nói chuyện trực tiếp với Thích Minh Châu (tức thầy Thanh Minh)” ?

Hòa thượng Thích Thanh Minh, trú trì Thanh Minh Thiền viện ở đường Trần Huy Liệu, quận Phú Nhuận, Saigon. Hòa thượng ở đây từ trước 1975. Thời gian Hòa thượng Thích Quảng Độ bị bắt năm 1977, sau đó đưa ra lưu đày tỉnh Thái Bình, rồi giữa thập niên 90 Hòa thượng bị giam ở trại Ba Sao và nhà tù Thanh Liệt, thì Hòa thượng Thích Thanh Minh là người thường xuyên đi thăm nuôi Hòa thượng Thích Quảng Độ trong bấy nhiêu năm trời. Hòa thượng Thích Thanh Minh người Bắc. Tờ bìa tạp chí Quê Mẹ số 147 mà bà Lệ Tuyền trích dẫn có đăng tấm hình đồng bào Phật tử và hai Hòa thượng Thích Thanh Minh và Thích Đức Nhuận ra phi trường Tân Sơn Nhất đón Hòa thượng Thích Quảng Độ. Hãy nhìn và so với hình Hòa thượng Thích Minh Châu xem có là một người như bà Lệ Tuyền vu khoát không !

Trong khi ấy, Hòa thượng Thích Minh Châu, người Trung, giữ chức vụ cao trong Giáo hội Phật giáo Nhà nước và từng là Đại biểu Quốc hội Cộng sản. Hòa thượng chưa bao giờ cư ngụ hay bước chân tới Thanh Minh Thiền viện. Ngày 17.9.1981, nhân danh Chánh thư ký “Ban Vận động Thống nhất Phật giáo Việt Nam” do Đảng Cộng sản chủ trì, Hòa thượng Thích Minh Châu viết Biên bản Ban Vận động Thống nhất Phật giáo Việt Nam dài 3 trang mà phần kết luận tố cáo Hòa thượng Thích Quảng Độ như sau:

“Thượng Tọa Quảng Ðộ đã lạm dụng chức vụ Tổng Thư Ký Viện Hóa Ðạo để hành động thao túng, lạm quyền, vi lệnh hạ nhục Hòa Thượng Thích Trí Thủ, Viện Trưởng Viện Hóa Ðạo, đồng thời là Trưởng Ban Vận Ðộng Thống Nhất Phật Giáo Việt Nam.

“Hành động đó của Thượng Tọa Quảng Ðộ không còn thuộc phạm vi nội bộ Viện Hóa Ðạo, mà nhằm mục đích triệt hạ uy tín toàn Ban Vận Ðộng Thống Nhất Phật Giáo Việt Nam phá hoại công cuộc thống nhất Phật Giáo, phản lại nguyện vọng tha thiết của tuyệt đại đa số Tăng Ni và đồng bào Phật tử cả nước, ngang nhiên thách thức với Chánh phủ và Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam, đã và đang khuyến khích giúp đỡ công cuộc thống nhất Phật Giáo cả nước.

“Hội nghị nhất trí quyết nghị:

“Yêu cầu Trung Ương các tổ chức, Giáo Hội, Hệ phái Phật Giáo, Ban Chỉ Ðạo Viện Hóa Ðạo Giáo Hội Phật Giáo Việt nam Thống Nhất, cần có thái độ thích đáng đối với Thượng Tọa Quảng Ðộ để giữ gìn kỹ cương trong Ðạo và bổn phận người công dân trong nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam”.

Vì đòi hỏi « thái độ thích đáng » nơi biên bản này, mà Ủy ban Nhân dân TP Hồ Chí Minh ra Quyết định ký ngày 24.2.1982 lưu đày Hòa thượng Thích Quảng Độ về nguyên quán tỉnh Thái Bình ở miền Bắc và Hòa thượng Thích Huyền Quang về Quảng Ngãi.

Thế thì làm sao bà Lệ Tuyền có thể tán tậm lương tâm viết như Kinh Thánh rằng: “Nên nhớ, những dòng mà tôi đã trích ở trên đây, là đã đăng trên báo Quê Mẹ chứ không phải do tôi tự ý viết ra hay “suy diễn” như một số người đã nói”.

Qua ba minh chứng trình bày trên đây về sự kiện bà Lệ Tuyền dối gạt người hiền lương ở hải ngoại, khi bà chẳng còn chút lương tri vu cáo vô bằng và bất lương từ chính những dòng viết của bà, mà bà bảo “trích” từ tạp chí Quê Mẹ. Thử hỏi người lương thiện còn dám tin vào những diễn ngôn qua các bài viết mấy năm qua của bà Hàn Giang Trần Lệ Tuyền nữa không ?

Người Việt dân tộc bất đồng với chủ nghĩa Mác-Lê ngoại lai, và chống đối đảng Cộng sản, vì sau 64 năm có chính quyền đảng Cộng sản chỉ đem lại nghèo đói, mất tự do cho quần chúng và điêu linh cho đất nước. Vì đảng Cộng sản đồng nghĩa với thảm sát người hiền lương và dối gạt đồng bào. Chúng ta chống là chống sự thảm sát và dối gạt.

Nay bà Hàn Giang Trần Lệ Tuyền viết hàng chục bài vu cáo vô bằng Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ và hàng giáo phẩm Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, dù bà ta chưa xác nhận căn cước Cộng sản của bà chăng nữa, thì người Việt dân tộc nói chung và người Phật tử nói riêng cũng không thể tin và nể trọng bà nếu không nói là quyết liệt lên tiếng chống đối sự giảo hoạt và gian dối của bà Hàn Giang Trần Lệ Tuyền.

Võ Văn Ái
Phát ngôn nhân Viện Hóa Đạo

Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất
------------ --------- ----
(*) Trích nguyên cách viết pha nhiều màu sắc và nhấn đậm trong bài viết của bà Hàn Giang Trần Lệ Tuyền đăng trên Trang điện tử TinParis.

(**) Sách do Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế và Quê Mẹ xuất bản tại Paris 1995, tái bản 3 lần.



Phim sự thật về hồ chí minh - Lm Nguyễn Hữu Lễ

Sự Thật về Hồ Chí Minh

Chủ trương thực hiện
PHONG TRÀO QUỐC DÂN ĐÒI TRẢ TÊN SÀI GÒN
P.O Box 6005, Torrance, CA 90504, USA
Source: http://www.youtube.com/user/ThanhNienCoVang

Kính thưa quý vị và các bạn

Linh Mục Nguyễn Hữu Lễ đã cho phép đưa Phim Sự Thật Về hồ chí minh lên Internet.
Xin click vào LINK dưới để xem phim và tiếp tay phổ biến rộng rãi …
























Wednesday, July 15, 2009

Chứng Minh Thủ Đoạn của CSVN - Bút Sử


"OSS và HỒ CHÍ MINH" là cuốn sách cộng sản cho ra vào tháng 11/2007 tại Việt Nam. Ngoài cái tựa nổi bật còn kèm theo phụ đề: ĐỒNG MINH BẤT NGỜ TRONG CUỘC CHIẾN CHỐNG PHÁT XÍT NHẬT, TƯ LIỆU MỚI CỦA MỸ LẦN ĐẦU TIÊN ĐƯỢC CÔNG BỐ TẠI VIỆT NAM, TÁC GIẢ DIXEE R. BARTHOLOMEW FEIS, NHÀ XUẤT BẢN THẾ GIỚI.

Ở đây người viết bài này chỉ chứng minh một thủ đoạn trong rất nhiều điều sai trái ngụy tạo trong cuốn sách. Không khó để hiểu là vào thời điểm cộng sản Việt Nam đang cần Mỹ vào Việt Nam làm kinh tế thì lại có trò "thân thiện" với Mỹ, bớt những hô hào "chống Mỹ cứu nước," và nếu một người Mỹ phản chiến viết sách biện hộ cho Hồ Chí Minh là một vũ khí cộng sản Việt Nam không thể bỏ qua. Hơn nữa,chưa chắc người dịch sách trình bày đúng quan điểm và tinh thần của tác giả, và kinh nghiệm cho thấy cộng sản hướng dẫn người đọc theo khía cạnh tuyên truyền một chiều, xuyên tạc lịch sử. Ông William Duiker, tác giả "Hồ Chí Minh" cũng là một nhân vật mà có người cho rằng ông viết có lợi cho Hồ, vì Duiker, khi viết sách, cũng lấy tài liệu của cộng sản, ngay cả của chính Trần Dân Tiên, bút danh của ông Hồ. Cộng sản không dám dịch sách của Duiker, bởi vì nếu dịch không đúng hay cố ý chuệch hướng thì có lẽ sẽ rất phiền về phương diện pháp lý. Duiker không phải là một nhân vật thân cộng hay phản chiến. Ngoài những điểm có lợi, trong sách ông đã đưa ra nhiều chi tiết mà cộng sản cho là bất lợi cho Đảng. Dẫn chứng như tác giả hỏi Nông Đức Mạnh có phải là con của Hồ Chí Minh không thì ông Mạnh trả lời "không", nhưng mẹ là người Tày phục vụ cho Hồ nhiều năm vào đầu thập niên 40. Câu trả lời này người ta tự hiểu ra Mạnh chính là con của bà Nông Thị Ngác (Trưng), một nữ cán bộ thân cận nhất của Hồ Chí Minh, gần đến mức mỗi ngày "chú Thu cháu Trưng" gặp nhau để học tập.

Trở lại với cuốn "OSS và HỒ CHÍ MINH." Hình trên, trang 360, phần dưới ghi: "khi kết thúc "nghi lễ" chào đón phái đoàn của Patti, quốc ca của Mỹ và Việt Nam vang lên, những lá cờ của Quân Đồng Minh tung bay sát cạnh quốc kỳ mới của Việt Nam. Võ Nguyên Giáp đứng giữa trong bộ quần áo trắng, dẫn giải cho Patti đứng bên phải ông rằng ông sẽ nhớ mãi giây phút này vì lần đầu tiên lá cờ của Việt Nam được treo lên và bài quốc ca nổi lên trong một nghi lễ quốc tế."

Trong "Why Vietnam," 1980, tác giả Archimedes Patti đã trình bày rõ ràng, chứng minh bằng hình ảnh là: Ngày 26 tháng 08, 1945 (sau khi cướp chính quyền Trần Trọng Kim 19/08/1945) Việt Minh tổ chức buổi lễ "nghênh tiếp phái bộ OSS..." nhưng ông Patti, trưởng cơ quan tình báo Hoa Kỳ tại Đông Dương, được lệnh không ra mặt. Sau đó Võ Nguyên Giáp được Hồ Chí Minh chỉ thị kéo một phái đoàn đến ngay văn phòng của ông Patti tại Hà Nội. Họ mang theo cờ Mỹ, kèn trống trổ bài quốc ca Hoa Kỳ. Buộc lòng ông Patti phải thay lễ phục ra chào. Patti bị cộng sản chụp hình. Tấm hình này được ông Hồ đem ra cho dân chúng xem như một bằng chứng Hoa Kỳ đã ủng hộ cái chính phủ ăn cướp "Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa" Sách ghi trên: quốc ca Mỹ và Việt Nam vang lên...lá cờ của Quân Đồng Minh (chữ Hoa) tung bay sát cạnh quốc kỳ mới của Việt Nam. Nhưng tại sao trong hình này không thấy cờ Mỹ và cờ gọi là "quốc kỳ mới của Việt Nam"? Chỉ thấy Võ Nguyên Giáp và phái đoàn Việt Minh đứng cạnh ông Patti.

Đây là một hình ảnh lịch sử để thêm phần chứng minh tội đồ dân tộc Hồ Chí Minh. Hình dưới đây, trong "Why Vietnam" trang 234, cũng ngay tại quang cảnh này, cũng ngay giờ phút chào cờ này lại có lá cờ Mỹ. Phải chăng hình này do người của OSS chụp nên có tính trung thực hơn. Người ta thấy rõ ràng chỉ có một lá cờ Mỹ được một người trong bộ đồ trắng cầm vươn lên.

Tác giả ghi dưới hình: Ngày 26/08/1945, Hà Nội. Hồ Chí Minh gửi một phái đoàn chính thức dẫn đầu bởi Võ Nguyên Giáp để nghênh tiếp nhân viên OSS tại Hà Nội. Trong khi giàn nhạc trổi bài quốc ca Mỹ, ông Giáp và phái đoàn của ông hiệp cùng tác giả (Patti) và nhóm OSS nghiêm chào cờ Mỹ.

Ông Patti đã không hề nhắc tới cờ Việt Nam, bởi vì có đâu mà nói. Tài liệu (Ban Giảng Huấn Việt Tộc, cơ sở Paris) cho thấy ngay ngày 02/09/1945 khi Hồ Chí Minh ra mắt tại Ba Đình, Việt Minh cũng treo cờ vàng ba sọc đỏ -cờ Quẻ Ly. Một số cờ đỏ sao vàng rải rác dựng lên trong đám đông. Đến 10 ngày sau, tức sau khi Hồ biết chắc Mỹ không công nhận chính phủ vừa thành lập, cờ đỏ cộng sản mới xuất hiện công khai hơn.

Trở về ngày Nhật chính thức đầu hàng đồng minh ngày 16/08/1945, sau hai trái bom nguyên tử. Hôm sau, ngày 17/08/1945, tại Nhà Hát Lớn Hà Nội có cuộc mít tinh của Tổng Hội Công Chức đòi Nhật trả độc lập thật sự. Trong khi các diễn giả hô hào dân chúng, các phần tử Việt Minh hạ cờ chính phủ Trần Trọng Kim. Hai ngày sau, 19/08/1945, cũng tại công trường Nhà Hát Lớn, một cuộc biểu tình lớn hơn được Việt Minh tổ chức và từ từ chiếm cứ các công sở (dựa theo tài liệu trong cuốn Sử Địa 12ab, Ban Giáo Sư Sử Địa, nhà xuất bản Trường Thi, Saigon, 1973).

Sau đó Việt Minh và các phe nhóm Quốc Gia hợp tác nhau, nên chắc chắn ông Hồ không dám lộ hẳn bộ mặt cộng sản. Ngày 30/08/1945, Việt Minh tổ chức một cuộc biểu tình nữa để chống Pháp (đang nịnh Mỹ mà), hình ảnh trong "Why Vietnam" không thấy biểu tượng cộng sản, chỉ thấy vài hình vẽ cờ đỏ sao vàng trên biểu ngữ rất khiêm tốn. Nên ghi nhận rằng Việt Minh gồm nhiều thành phần, trong đó không ít người dấn thân làm cách mạng vì yêu nước thật sự, ngây thơ, không hiểu cộng sản là gì, lại bị mạng lưới tuyên truyền của cộng sản tung tin Liên Hiệp Quốc đã nhìn nhận nền độc lập của Việt Nam do Việt Minh lãnh đạo...

Nhưng dưới cái nhìn của chính trị gia Mỹ, giai đoạn này không thể lầm lẫn cho rằng vai trò Hồ Chí Minh là người quốc gia yêu nước được. Thậm chí, đang làm việc lãnh lương của OSS, Hồ Chí Minh còn có nhiệm vụ quan trọng hơn là mỗi ngày tập họp cán bộ để huấn luyện đường lối cộng sản quốc tế. Mỹ còn quay cả hình ảnh Hồ và cán bộ tập dợt mỗi sáng khởi đầu bằng bài "Quốc Tế Ca" của cộng sản, vừa ca vừa vươn tay đầy khí thế sắc máu. Trong quang cảnh rừng, buổi tập họp nào cũng có treo 2 hình: một bên là tướng Mỹ Chennauld và một bên là cờ đỏ sao vàng (sic). Nhưng ngay ngày 02/09/1945, tại Ba Đình thì lại khác. Trong các tài liệu, cũng như video của Mỹ quay quang cảnh ngày 2/9/1945 không thấy một hình ảnh nào về lá cờ đỏ sao vàng trên sân khấu mà chỉ thấy rãi rác cờ đỏ được dưng quanh đám đông bên cạnh nhiều biểu ngữ tiếng Anh, tiếng Việt.

Điều đó cũng để nói lên tại sao cộng sản chỉ mang cờ Mỹ đến tại trụ sở OSS của ông Patti ngày 26/08/1945? Bởi vì nếu mang theo cờ đỏ sao vàng thì chắc chắn lòi mặt cộng sản cả đám thì làm sao dám yêu cầu Mỹ công nhận chính phủ vừa ăn cướp (Người viết không quá lạm dụng danh từ khi dùng hai chữ "ăn cướp" bởi vì chính trong nhiều sách báo của cộng sản Việt Nam họ cũng hãnh diện viết rằng "ta cướp chính quyền.") Nếu đã có cờ đỏ hiện diện tại đó thì Việt Minh không thể vô ý chụp mà thiếu lá cờ đại diện của họ. Chắc chắn cộng sản có trong tay cuốn "Why Vietnam" của Patti, nhưng họ lờ đi về tấm hình chỉ có lá cờ Mỹ này.

Người Mỹ ngay lúc dùng Hồ Chí Minh chưa phải quan tâm đương đầu trực diện với cộng sản vì còn bận chuyện hậuThế Chiến Thứ Hai và đương đầu với làn sóng đỏ của Stalin đang lan rộng ở Âu Châu. OSS thừa biết Hồ Chí Minh chính là quốc tế cộng sản Nguyễn Ái Quốc, nhưng vẫn sử dụng trong vai trò liên lạc qua lại giữa ranh giới Tàu Việt khi đang đối đầu với Nhật. Tài liệu cho thấy khi Hồ được OSS mướn dưới tên Hoo Chi Ming, được OSS đặt bí danh là Lucius, đứng hạng thứ 13 trong danh sách. Sự kiện này cho thấy sự tầm thường của vai trò Lucius.

Dixee Feis là ai? Một người chưa hề được giới truyền thông báo chí người Mỹ đề cập. Cuốn sách này lại chưa bao giờ được công chúng nhắc đến. Một cái tựa thôi đã thấy quá sai rồi, chắc chắn giới trí thức Mỹ không hề quan tâm. Hai chữ "đồng minh" không thể dùng bừa bãi được. Một người cộng sản ẩn danh được Mỹ dùng làm chuyện lặt vặt trong công tác liên lạc mà lại gọi là "đồng minh" thì thật là hết ý! Súng đạn đâu để Việt Minh chống Nhật? OSS còn phải huấn luyện Hồ Chí Minh và cán bộ Việt Minh cách dùng lựu đạn, cung cấp cho Việt Minh một số vũ khí khi cần, ngay cả một viên thuốc trị bệnh thổ tả Hồ cũng không có, OSS cũng phải cho để cấp cứu cho ông ta...

Thật ra, năm cuối năm 2007 vừa qua, cộng sản cho ra cuốn "OSS và HỒ CHÍ MINH" cho rằng "OSS là một đồng minh bất ngờ" cũng là sự lập lại cái dỏm của thời 1945 khi ông Hồ quá muốn Mỹ chấp nhận "Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa." Tài liệu từ ông Patti cho biết, ngày 26/08/1945 tại trước "phủ chủ tịch", Việt Minh tập họp dân Hà Nội với biểu ngữ to có các chữ như "nghênh tiếp phái bộ đồng minh Hoa Kỳ." Patti đã cảnh báo là ông ta và nhân viên OSS không phải là "phái bộ đồng minh" gì cả, và ông yêu cầu gỡ ngay biểu ngữ ấy xuống, nhưng không hứa rõ ràng là có ra dự hay không. Sau đó vì đoàn người đợi lâu quá không thấy Patti đến nên Hồ Chí Minh ra lệnh cho phái đoàn hướng dẫn đám đông tới ngay nhà thiếu tá tình báo Patti, như hình ảnh chúng tôi trình bày trên.

Câu hỏi là: lý do gì ngày nay cộng sản gieo vào đầu người dân cái "thân thiện" giữa Mỹ và cộng sản Việt Nam? Ngày xưa thì muốn Mỹ công nhận chính thức nên phải quỳ lụy bằng mọi cách. Ngày nay có khác gì không? Từng phái đoàn, từng nhân vật lãnh đạo như Phan Văn Khải, Vũ Khoan, Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Minh Triết ... qua Mỹ khúm núm cầu cạnh. Mỹ về Việt Nam thì Đảng mới có tiền dollars vào túi đều đều, còn về chính trị thì có phải muốn cho người dân cảm thấy Mỹ đã "nhận" "Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam?"

Một thứ tiểu xảo mà cộng sản hay dùng qua phương pháp ông Hồ dạy "cứ nói láo, nói láo mãi rồi cũng có người tin là như vậy." Họ muốn người dân phải tin là cộng sản có công đánh Nhật. Thật ra thì cộng sản có công cướp chính quyền mà công này họ đã và đang hô hào. Nếu Mỹ không thả hai trái bom nguyên tử tại Nhật để buộc Nhật đầu hàng thì cộng sản làm sao có cơ hội cướp chính quyền? Một sự thật hiển nhiên là vậy. Thế mà khi ông Nguyễn Chí Thiện, thời là một trí thức trẻ, dạy học trò là Việt Minh không có công đánh Nhật gì cả thì ngay tức khắc ông bị Đảng bỏ tù. Cái tù này làm thêm động lực cho sự tố giác tội ác cộng sản trong hàng trăm bài thơ đầy khí phách.

Ngoài bìa cuốn sách ghi: "TƯ LIỆU MỚI CỦA MỸ LẦN ĐẦU TIÊN ĐƯỢC CÔNG BỐ TẠI VIỆT NAM." Thật là quá trớn, xem thường sự hiểu biết của người đọc. Đây là "tư liệu" thì cũng không sai, một cuốn sách do một Mỹ cộng hay thân cộng viết cho phe cộng sản, nhưng thủ đoạn ở chỗ là làm cho tuổi trẻ thiếu kiến thức hiểu như "tài liệu của Mỹ." Chữ "Mỹ" đây được xem như "chính phủ" hay "dân chúng" nói chung. Tại quốc gia tự do dân chủ Hoa Kỳ, Đảng Cộng Sản Mỹ vẫn hoạt động đấy chứ, nhưng có bao nhiêu người ủng hộ? Có chăng nhóm họ chỉ dám lên website trình bày lung tung về thuyết Marx Lenin, những tin tức có nội dung đánh phá các chính đảng tại Hoa Kỳ. Tháng 12/ 2006, trong website của Đảng Cộng Sản Hoa Kỳ, có đăng hình ông đảng trưởng Sam Webb đến Việt Nam gặp Nông Đức Mạnh. Ông cộng sản Mỹ này được hướng dẫn tới thăm học sinh của một trường học tại Hà Nội. Các em học sinh chạy ồ ạt ra chào mừng. Thật là một cảnh đời bi đát của thế kỷ 21! Có đời nào những hãng thông tấn Hoa Kỳ hay thế giới làm tin về chuyện cộng sản Mỹ này? Cuốn sách của Dixee Bartholomew Feis chẳng qua chỉ đóng một vai trò nhỏ hẹp để cộng sản Việt Nam sử dụng làm vũ khí tuyên truyền.

Phải nói cộng sản không ngại dùng tiền cho công tác tuyên truyền. Những thành phần được cộng sản trả tiền làm những nhiệm vụ được giao phó, hay cộng sản viết hết và một người khác chỉ cần đứng tên tác giả. Tại thủ đô tỵ nạn Little Saigon cũng không thiếu những Việt gian, họ lấy tiền của cộng sản chi ra làm việc phá hoại cộng đồng, gây chia rẽ. Trong các tổ chức tôn giáo cũng có cộng sản gài vào mang bộ mặt quốc gia nhưng làm toàn chuyện phá hoại. Kế hoạch tuyên truyền từ trong ra ngoài nước, đánh phá những người đấu tranh, ru ngủ, kêu gọi người về làm kinh doanh, v.v.. đều nằm trong nghị quyết 36 của Đảng.

Ngày xưa, trước khi ra mắt ngày 2/9/1945, Hồ Chí Minh dùng tấm hình tướng Mỹ Chennauld (Hồ yêu cầu Chennauld ký tên sau tấm hình) đem phổ biến rằng Mỹ hậu thuẫn Việt Minh để lấy thêm lòng ủng hộ trong dân chúng, bởi vì lúc này Mỹ là số một, là hàng đầu trong phe đồng minh thắng phe phát xít, lại có thế lực và giàu có.Thế nên, ngày 02/09/1945, dân Hà Nội cứ tưởng Mỹ cùng phe Việt Minh nên ra đông chào đón. Nhiều người còn chưa biết Hồ Chí Minh là ai, ngay cả những người Pháp chưa ra khỏi Việt Nam cũng có mặt trong ngày này; họ phải dùng ống dòm nhìn lên sân khấu xem Hồ Chí Minh là ai, cuối cùng nhận ra chính là quốc tế cộng sản Nguyễn Ái Quốc.

Nếu Mỹ không nhận thì còn ai? Phe cộng sản thì sao? Nga đang lo chuyện bành trướng tại Đông Âu, Tàu thì do Tưởng Giới Thạch. Không nước nào cả, tất cả coi như kiệt quệ sau chiến tranh, còn về mặt chính trị thì nhiều nơi chưa ổn định. Nơi không ổn định nổi bật là Pháp, quốc hội thay như thay áo. Ngay lúc bị Hoa Kỳ không nhìn nhận, Hồ nhanh tay làm ra kế hoạch đem Pháp (Pháp cộng sản) về Việt Nam để công nhận và cùng hợp tác với ông ta. Khi chính trường thay đổi - Pháp đã thay đổi quốc hội bằng một đảng không thân cộng- Pháp thẳng tay trừng trị Hồ với sự hỗ trợ của Hoa Kỳ. Chính vì ông Hồ mang Pháp về qua Hiệp Định Sơ Bộ 06/03/1946 để Pháp có cớ đánh lại phe quốc gia, và khi bị Pháp bỏ rơi thì ông ta lại hô hào toàn dân chống Pháp.

Người ta đã bị mắc mưu họ Hồ. Bài học đó đến nay có nên đem ra cho thế hệ con em suy ngẫm khi toàn dân đang bị chi phối bởi một hệ thống độc tài toàn trị, mà lãnh đạo đảng tôn thờ là Hồ Chí Minh. Nay cộng sản đem Mỹ vào để cứu nền kinh tế què quặt, đồng thời hô hào chiêu bài "chống Mỹ cứu nước," chiêu bài "da cam" để mong có chút "chính nghĩa" trong cuộc chiến tranh tương tàn giết hại đồng loại để phục vụ cho tập đoàn quốc tế cộng sản...Đồng thời, mâu thuẫn chồng chất mâu thuẫn phát ra từ nội tâm của Đảng. Tấm hình trong cuốn "OSS và HỒ CHÍ MINH" và những lời ghi chú nịnh bợ nói lên bản chất bất di dịch của Đảng Cộng Sản Việt Nam và theo gương lãnh đạo Hồ Chí Minh. Hiện tại cũng vậy, còn ai ngoài Hoa Kỳ cho tiền nuôi tấm thân của Đảng? Ngày trước, ông Hồ cho người dân có cảm tưởng Hoa Kỳ "cùng phe" để trấn an lòng dân để ủng hộ ông thêm, nhưng rồi sau đó lãnh quả đấm nặng nề làm hơn 600 ngàn bộ đội mất mạng trong chiến tranh mà miền Nam là tiền đồn chống cộng, một miền Nam nhỏ bé được đồng minh Hoa Kỳ hỗ trợ đối đầu lại cộng sản miền Bắc xâm lăng, và phải nói cả khối cộng sản quốc tế sừng sỏ. Ngày nay, hậu trường của cái sân khấu "thân thiện" này có hậu quả gì?

Bây giờ Đảng cũng đang muốn "gần" Mỹ như cách vá víu kiểu "kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa", cho thêm cái đuôi lòng thòng sau lưng để có đà mà dựa. Tiền thì phải dolllar, xe hơi thì phải của Nhật, Mỹ...nhưng miệng phải hô hào chủ nghĩa Marx Lenin, Hồ Chí Minh, và tiến tới độc đảng với người anh em Trung Cộng. Ngày ngày cả khối tay sai múa men với bao nhiêu mỹ từ cao đẹp trong cái dối lòng được bao bọc bởi Đảng. Loạn cả!

Nhưng rồi cái thân "đu giây" của Đảng kéo dài được bao lâu? Đu sao cho khéo, không thì bị đàn anh vĩ đại môi hở răng lạnh Trung Cộng cho một bài học đắng cay như 1979. Hay rồi cộng sản Việt Nam không xa sẽ bị lệ thuộc hoàn toàn vào Trung Cộng, còn tệ hơn Tây Tạng hiện nay?

Chủ trương lừa lọc, bất chấp dư luận, dùng thủ đoạn để mị dân miễn sao đạt được mục đích mà người cộng sản đã và đang thực hiện nhiều năm qua là hiểm họa vô cùng sâu rộng cho tương lai dân tộc. Tuổi trẻ là những thành phần lãnh đạo đất nước lại bị nhồi nhét những điều sai lầm, không tưởng. Đất nước Việt Nam sẽ đi về đâu?

Bút Sử 08/08